Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Ngày 30 tháng 4: “Tăng gia là tay phải, tiết kiệm là tay trái…”

Thứ năm, 30/04/2009, 04:10 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 88 năm, ngày 30-4-1921, báo cáo của mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc nhận được nhiều bản của tờ báo cánh tả “Libertaire” và tờ “La Revue Communiste” (Tạp chí Cộng sản). Cũng theo báo cáo của mật thám, ngày 30-4-1922 Nguyễn Ái Quốc tham dự một cuộc biểu tình của cộng sản tại vùng Clichy (Pháp).

Ngày 30-4-1947, trên Chiến khu Việt Bắc, Bác tham dự một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ. Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến thuật lại: “Gần tối, lúc chúng mình đang ăn cơm thì Hồ Chủ tịch đến trong bộ áo quần bí mật của Cụ. Lần này thì lưng mang một gùi, vai mang súng, mình mặc bộ quần áo mầu nâu, đội mũ như bộ đội, mặt che đậy hết nửa, mới trông như người đi săn trong rừng sâu, không ai tài nào nhận ra được. Bắt tay vui vẻ với tất cả mọi người, rồi giản dị hơn ai hết, Cụ bảo thêm một chén một đũa để Cụ cùng ngồi ăn trong lúc mâm cơm đã gần tàn… 7 giờ tối, bắt đầu hội đồng. Ai nấy ngồi xếp ve quanh mấy chiếc chiếu trải dài… Hội đồng hôm nay có 2 tin buồn: cái chết của Cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng) và Nam (Hoàng Hữu Nam). Cụ nói qua lịch sử chiến đấu của hai chiến sĩ trong chánh phủ sau khi tất cả đều mặc niệm một phút… Cụ Chủ tịch nói với một giọng đau đớn như Cụ đã mất một người anh và một người con… Sau đó Cụ báo cáo tình hình chánh trị chung ngoài nước và trong nước…”. Đến 3 giờ khuya, cuộc họp mới kết thúc.

Ngày 30-4-1949, nhân Ngày Quốc tế Lao động, Bác viết thư chào mừng với đầu đề “Nhiệm vụ chính trong giai đoạn mới”, trong đó xác định: “Ở các nước, ngày này là ngày riêng của lao động, kiểm điểm lực lượng của mình, để đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp. Ở nước ta, bất kỳ già, trẻ, trai, gái, sĩ, nông, công, thương, binh, toàn dân đều phải đoàn kết thành một khối, toàn dân đều ra sức lao động, nhằm một mục đích: giết giặc cứu nước. Ngày 1-5 là ngày lễ của toàn thể đồng bào ta…”.

Ngày 30-4-1964, nói chuyện với Đại hội Liên hoan Phụ nữ “5 tốt”, Bác khẳng định: “Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”. Phân tích những nội dung của “5 tốt”, Bác nhấn mạnh: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”.

Về nội dung “gia đình”, Bác đưa ra quan niệm: “Gia là nhà, đình là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp hòi trong cái nhà, cái sân. Nghĩa là chỉ lo cho cha mẹ, vợ con trong nhà mình ấm no, yên ổn, ngoài ra ai nghèo khổ mặc ai. Như thế là ích kỷ, là không tốt. Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Ví dụ những người cùng lao động trong một nhà máy, một cơ quan, trong một hợp tác xã… đều phải đoàn kết và thương yêu nhau như là anh em trong một gia đình. Ta có câu hát: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng””.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Nỗi ám ảnh của phi công Ngụy

Một loại tên lửa vác vai, Liên Xô trước đây đặt tên là 9K32 Strela-2 (có nghĩa là Mũi tên), Mỹ gọi là SA-7, còn Nato đặt tên là Grail (Mài giũa ?). Quân đội Việt Nam ta gọi là A -72.

Loại này dài 1.4m, đường kính 70mm. Nó nặng 9,97kg, khi bắn vác trên vai, tầm bắn A-72 là 500 đến 5500m. Áp dụng nguyên lý đầu dò tầm nhiệt, A-72 bám theo luồng khí xả của động cơ máy bay hoặc sức nóng của động cơ trực thăng mà bám, nổ tung.

Tính đến cuối năm 1974, quân đội VNCH (Ngụy) được Mỹ viện trợ, đã xây dựng được 6 sư đoàn không quân hỗn hợp với tổng số quân lên tới 62.583 tên, trong đó có 6.788 phi công; tổng số máy bay lên tới 1.850 chiếc (tăng 652 chiếc), trong đó có 260 máy bay chiến đấu. Chất lượng máy bay cũng cải tiến (thay F.5A bằng F.5 E). Có thể nói đó là lực lượng không quân đông và mạnh.

Để đánh trả máy bay địch, A-72 xuất hiện năm 1972, trong chiến dịch Quảng Trị. Tiếp những năm sau đó A-72 đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng của Quân giải phóng, đặc biệt trong việc chống máy bay cường kích và trực thăng của Mỹ, Ngụy.

Một khẩu đội SA-7 của nước ngoài đang bắt mục tiêu

Trong hồi ký của mình, các phi công Ngụy sau 1975 di tản sang Mỹ, Úc, Pháp đều kể chuyện, nhắc tới “ tên lửa tầm nhiệt SA-7A” với thái độ lo ngại, đáng nể.

Tác giả Huỳnh Hữu Nghị, một phi đội trưởng không quân Phi đoàn 213 Ngụy, trong bài “Những trận đánh không tên trong quân sử” viết: “ Pháo binh phòng không của địch quân dày đặc như cây rừng, gồm đủ các loại từ trung liên Tiệp Khắc đến RPD , tới 12ly 8, cao xạ 20, 37, 57, 83ly rồi tên lửa cá nhân SA-7, nhằm ngăn chặn không quân VNCH. Phi cơ trực thăng, vận tải, ném bom, bất cứ loại nào, vào vòng lưới lửa không tan thây cũng nát cánh”… Trong vòng tử địa, chúng tôi nghĩ đến vệt khói xanh của SA-7 nhanh như cắt từ rừng núi âm u phóng lên phi cơ…Chúng tôi bay thấp trên giải mù sương, tránh được tầm ngắm của cao xạ, tuy dễ hứng đạn vũ khí nhẹ, nhưng còn hơn bị lãnh hỏa tiễn SA-7A
Trong bài “Vĩnh biệt Nha Trang” tác giả Vĩnh Hiếu, một sĩ quan không quân Ngụy viết: Tháng 3-1975, tại khu vực đèo Ma-đrăk, phi công Huỳnh Râu điện cho (tổ bay): Hãy tác xạ vào đám rừng bên sườn đồi, đừng vào gần. Coi chừng SA-7! Nghe vậy, tất cả các giác quan của tôi bừng dậy như chạm vào luồng điện. Cách đây 2 tuần, một chiếc của Phi đoàn 219 King Bee vừa lãnh một trái SA-7, loại sát thủ của trực thăng.

Ở bài khác, Vĩnh Hiếu viết: Khoảng 10 giờ sáng (ngày 29-4-1975) Phi đoàn 215 lệnh cất cánh 3 trực thăng võ trang bay vòng quanh phi trường…trước đó 1giờ, một chiếc gunship AC-119 bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 bắn rớt, chứng tỏ địch quân đã tiến sát thủ đô, làm chủ chiến trường…

Theo thống kê của Steven Zaloga trên tạp chí JIR số 4-1994 thì ở Việt Nam từ 1972 đến 1975 đã có 528 tên lửa A-72 được phóng đi, bắn rơi 45 máy bay các loại, đạt tỉ lệ diệt mục tiêu: 8,5%; trong đó xác suất diệt máy bay lên thẳng đạt tới 28,8% (15 máy bay/52 tên lửa).

Là vũ khí Liên Xô viện trợ, tên lửa A-72 ( SA-7) trong tay các xạ thủ Việt Nam đã phát huy cao kết quả tác chiến. Phải kể đến tên lửa A-72 của Binh đoàn Hương Giang tham gia chiến dịch cuối cùng, tháng 4-1975, bằng một phát đạn A.72, đồng chí Lê Đại Cương bắn rơi tại chỗ một máy bay phản lực F.5E bổ nhào ném bom, bảo vệ đội hình của Binh đoàn tiếp tục tiến xuống phía Nam.

Xạ thủ Nguyễn Văn Thoa, quê thôn Cao Xá, xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), biên chế vào đại đội 3, tiểu đoàn chủ lực 172 Phòng không – Không quân, với tên lửa vác vai A72 và đôi chân trần, một mình anh đã bắn rơi 13 chiếc máy bay địch, trong đó có chiếc máy bay cuối cùng của Mỹ – Ngụy bị lực lượng ta bắn hạ.

DB
qdnd.vn

Chủ động tạo thế, kết hợp tiến công và nổi dậy

QĐND – Sau khi thất bại ở Tây Nguyên, địch co cụm lập “lá chắn” ở Phan Rang nhằm bảo vệ Sài Gòn từ xa. Để bảo đảm chỉ huy, điều hành thống nhất, hiệu quả, kịp thời xử lý các tình huống mới, Bộ tư lệnh Khu 6 phối hợp với Tỉnh ủy Bình Thuận thành lập Ban chỉ huy giải phóng tỉnh Bình Thuận. Ban chỉ huy giải phóng phát động mở đợt hoạt động cao điểm kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang, binh vận, địch vận… tạo thế vững chắc cho đại quân ta tiến công vào tuyến phòng thủ Phan Rang.

Trung đoàn Xe tăng 203 (Quân đoàn 2) tiến công đánh chiếm Tòa hành chính tỉnh Bình Thuận. Ảnh tư liệu.

Theo kế hoạch, ngày 7-4-1975, ta gấp rút cơ động Trung đoàn 812 (Khu 6) tổ chức tiến công Chi khu Thiện Giáo (Ma Lâm), giải phóng hành lang chiến dịch dọc Quốc lộ 8, chia cắt Quốc lộ 1A. Bộ đội cùng du kích các huyện bẻ gãy nhiều đợt phản kích quy mô lớn của địch, chốt giữ vững chắc các mục tiêu, mở toang cánh cửa tiến công từ hướng bắc thị xã. Các đoàn thể đẩy mạnh công tác binh vận, địch vận làm tan ngũ, rã ngũ nhiều đơn vị của địch; giành quyền làm chủ chính quyền ở nhiều khu vực nông thôn…

Bằng thế trận đã được chuẩn bị sẵn, vững chắc, sáng 14-4-1975, Quân đoàn 2 và Sư đoàn 3 mở chiến dịch binh chủng hợp thành quy mô lớn tiến công từ nhiều hướng kết hợp vu hồi, thọc sâu vào tuyến phòng thủ ở phía Bắc Phan Rang, vây chặt các cánh quân địch tại Bà Râu, Du Long, Suối Đá. Ngày 16-4-1975, ta đánh bật các đợt phản kích của địch tại đèo Ngoạn Mục, phá vỡ tuyến phòng thủ Kiền Kiền – Ba Tháp, áp sát sân bay Thành Sơn, thọc sâu giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn

Ngày 29 tháng 4 – “Con Rồng cháu Tiên quyết không làm nô lệ”

Thứ tư, 29/04/2009, 01:14 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 63 năm, ngày 29-4-1946, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc được Hội giúp binh sĩ bị nạn tại Huế mời ra làm Chủ tịch Danh dự và các bộ trưởng làm hội viên danh dự. Bác đã đề nghị Chính phủ nên đáp lại bằng việc ra thông tư cho các địa phương nên có hình thức tỏ lòng biết ơn đối với các chiến sĩ.

Hội đồng Chính phủ còn bàn đến vấn đề tha chính trị phạm, việc thu hoạch vụ chiêm, chống phá rừng và đề nghị Chủ tịch nước ra lời kêu gọi công nhân Việt Nam nhân ngày Quốc tế Lao động. Cùng ngày, Bác đã ký sắc lệnh về ngày 1-5 nghỉ có lương đối với tất cả công nhân làm việc trong các doanh nghiệp công và tư.

Ngày 29-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư đến đồng bào cả nước sau ngày cụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng tạ thế với lời đánh giá: “Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập… Chúng ta thương tiếc cụ. Nhưng chúng ta không nên thương tiếc bằng cách than khóc rầu rĩ. Chúng ta thương tiếc cụ bằng cách càng đoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến; bằng cách theo gương dũng cảm, nối chí quật cuờng của cụ; bằng cách hoàn thành sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà cụ đã ra sức theo đuổi suốt đời. Chúng ta phải đồng thanh thề trước tiên linh của cụ Huỳnh rằng: Đồng bào Việt Nam quyết theo gương kiên quyết của cụ. Con Rồng cháu Tiên quyết không làm nô lệ…”.

Ngày 29-4-1952, với bút danh Đ.X, Bác viết bài “Bọn đế quốc đường cùng” đăng trên Báo Cứu Quốc, điểm lại các cuộc chiến đấu chống đế quốc trên thế giới để đi đến nhận định: “Mấy năm trước đây, các ông đế quốc Mỹ, Anh, Pháp đều “thở ra sét, hét ra lửa”, ai dám động đến. Song các dân tộc xưa kia chịu làm trâu ngựa, nay đã hóa ra sư tử, hùm thiêng”.

Ngày 29-4-1961, Bác Hồ được Đại hội Mặt trận Tổ quốc lần thứ 2 bầu làm Chủ tịch Danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ngày 29-4-1966, chiếc máy bay thứ 1.000 của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc thuộc về chiến công của quân dân tỉnh Bắc Thái. Cũng vào dịp này, trong cuộc trả lời phỏng vấn của nhà báo Australia – William Burchett: “Người Mỹ nói họ sẽ thắng trong cuộc chiến tranh ở miền Nam bằng cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không bao giờ! Chúng tôi sẽ chiến đấu 10, 15, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Sự nghiệp của chúng tôi là chính nghĩa, chúng tôi có sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Chúng tôi sẽ thắng lợi!”.

Cùng ngày, phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị thảo luận về tình hình cách mạng miền Nam, Bác đưa ra nhận định: “Nửa nước nông nghiệp lạc hậu mà thắng tên đế quốc mạnh nhất thì ta thật tự hào, tương lai thật sáng sủa”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 28 tháng 4: “Đã bầu thì phải thật xứng đáng”

Thứ ba, 28/04/2009, 01:54 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 81 năm, ngày 28-4-1928, Nguyễn Ái Quốc nhận được hồi âm lá thư ngày 17-4 báo tin rằng Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản đã chấp nhận đề nghị trở về nước và quyết định gửi một số tiền đi đường cùng tiền trợ cấp 3 tháng đầu tiên.

Ngày 28-4-1946, Bác cùng Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến cùng một số vị trong Chính phủ về thị sát đê điều vùng Thái Bình và dự lễ khánh thành đê Mỹ Lộc và Hưng Nhân.

Ngày 28-4-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Hội nghị kinh tế và Hội đồng Chính phủ bàn về ngân sách trên tinh thần biên chế mới. Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi: “Hồ Chủ tịch động viên tinh thần đồng thời đả thông tư tưởng ráo riết thì ngân sách mới được thông qua… Đồng thời với việc xét ngân sách 1951, còn trình bày chính sách thuế nông nghiệp mới, tuyên bố bỏ chế độ thuế cũ, thủ tiêu tất cả các loại đóng góp lẻ tẻ, lặt vặt ở địa phương, thống nhất tập trung vào một thứ thuế: nông nghiệp”.

Ngày 28-4-1959, dự Hội nghị 16 Ban Chấp hành Trung ương bàn về hợp tác hóa miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu nhấn mạnh phải chú trọng vấn đề dân chủ, trình độ văn hóa ở mỗi nơi sao cho hợp lý. Theo Bác, vấn đề chính là phải củng cố chính quyền và tổ chức Đảng ở cơ sở cho mạnh, phải có chính sách ưu tiên đối với cán bộ Đảng, Đoàn, quân sự và các ngành đang công tác ở miền núi.

Ngày 28-4-1960, Bác họp Hội đồng Chính phủ bàn về vấn đề lương bổng và thảo luận về thiết kế Nhà Quốc hội (do Trung Quốc thực hiện, vì nhiều lý do công trình này sau đó không thực hiện). Cùng ngày, Bác đến nói chuyện với Hội nghị bàn về công tác vùng cao do Ủy ban Dân tộc Trung ương triệu tập với lời căn dặn: “Phải làm tốt công tác vận động định canh định cư vùng cao, phải nắm nguyên tắc tự nguyện không gò ép, không tham nhiều, không nóng vội, làm nơi nào phải tốt nơi đó”. Cũng trong ngày 28-4-1960, Bác ký sắc lệnh ban hành Luật Nghĩa vụ Quân sự.

Ngày 28-4-1961, Báo Nhân Dân đăng bài “Guồng máy nông nghiệp” của Bác (ký tên T.L), trong đó đưa ra quan điểm: “Nông nghiệp cũng có guồng máy của nó. Từ lúc chọn giống cho đến ngày đưa thóc vào kho, mọi công việc phải ăn khớp, nhịp nhàng với nhau. Muốn cho guồng máy nông nghiệp chạy thật đều, thật tốt, cần thực hiện 3 khâu: Cán bộ quản trị phải thật sự dân chủ, chí công vô tư – Đảng viên và đoàn viên thanh niên phải gương mẫu trong mọi việc – Tất cả xã viên phải nhất trí, làm tròn nghĩa vụ của người chủ, thực hiện đúng khẩu hiệu “Cần kiệm xây dựng hợp tác xã”.

Ngày 28-4-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị bàn về việc chuẩn bị Đại hội Liên hoan Anh hùng chiến sĩ thi đua. Bàn về tiêu chuẩn anh hùng, Bác đưa ra ý kiến để thảo luận: “Trước hết, quân đội nhất định phải có anh hùng. Lúc kháng chiến có anh hùng, sao nay lại không có anh hùng? Có phải không có chiến tranh thì quân đội không có anh hùng?… Đã bầu thì phải thật xứng đáng”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 27 tháng 4: “Đạo đức của quân nhân là: trí, nhân, tín, dũng, liêm”

Thứ hai, 27/04/2009, 03:42 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 64 năm, tối ngày 27-4-1945, Hồ Chí Minh gặp Thiếu tá Archimed Patty, người đứng đầu đơn vị tình báo chiến lược Mỹ OSS tại Côn Minh (Trung Quốc).

Cuộc gặp diễn ra tại một quán trà trong một ngôi làng gần tỉnh Tĩnh Tây. Bác đã cung cấp cho phía Mỹ tình hình về nạn đói đang diễn ra ở miền Bắc Việt Nam, về ý đồ của Pháp và Trung Quốc đối với Đông Dương, bày tỏ rằng Việt Minh sẵn sàng hợp tác với người Mỹ khi nào thấy thích hợp và thông báo đang chuẩn bị thành lập một Chính phủ Việt Nam dân chủ độc lập.

Những ấn tượng đầu tiên về Hồ Chí Minh được A.Patty viết lại trong hồi ức: “Con người mảnh khảnh, nhỏ bé và kỳ lạ ấy gặp tôi với nụ cười niềm nở. Ông Hồ không yêu cầu gì cả, ông chỉ trình bày cho tôi nghe giá trị tiềm tàng của tổ chức quân sự, chính trị của mình”.

Chỉ một năm sau, ngày 27-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phái viên của Đài Vô tuyến điện Paris đến xin được thu thanh ý kiến và 3 bài hát: “Tiến quân ca”, “Diệt phát xít” và “Hồ Chí Minh muôn năm” để gửi về Pháp. Lúc chia tay, Bác nói: “Tôi gửi lời chào thân ái dân tộc Pháp. Mặc dầu có những trở lực hiện thời, tôi tin rằng sự hợp tác dân tộc Pháp và Việt sẽ đi đến kết quả vì hai dân tộc cùng theo đuổi lý tưởng chung: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.

Ngày 27-4-1949, Bác viết thư gửi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn nhân lễ tốt nghiệp khóa 4, căn dặn: “Các chú học rồi. Bây giờ phải hành. Trong lúc hành, phải học thêm mãi. Nhiệm vụ của các chú là: Giúp đẩy mạnh cuộc cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Mong các chú hăng hái thi đua làm tròn nhiệm vụ. Và muốn làm tròn nhiệm vụ thì ngoài kỹ thuật, còn phải giữ vững đạo đức của quân nhân là: trí, nhân, tín, dũng, liêm”.

Ngày 27-4-1962, đến thăm Trường Mẫu giáo Sao Sáng ở phố Nguyễn Thượng Hiền (Hà Nội), Bác động viên: “Công tác mẫu giáo còn mới mẻ và nhiều khó khăn… Sau này lớn lên, các cháu trở thành người như thế nào đều có công của các cô mẫu giáo dạy cháu đầu tiên”.

Ngày 27-4-1964, trong thư gửi giáo viên và học sinh Trường phổ thông cấp III Đức Thọ, Hà Tĩnh nhân dịp nhà trường được mang tên “Trần Phú”, Bác động viên: “Đó là một vinh dự lớn cho nhà trường. Đồng chí Trần Phú là một người con ưu tú của Đảng và nhân dân, đã oanh liệt hy sinh cho cách mạng”.

Trong sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” (ký T.Lan), Bác viết: “Đồng chí Trần Phú là một trong những thanh niên đầu tiên sang học ở Ban huấn luyện chính trị tại Quảng Châu rồi tham gia Hội Thanh niên cách mạng đồng chí và được giới thiệu đi học ở Mátxcơva một thời gian. Vào khoảng tháng 4-1930, đồng chí Trần Phú trở lại Trung Quốc gặp Bác bàn bạc công việc Đảng rồi về nước hoạt động. Tháng 10-1930, Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất chính thức bầu đồng chí làm Tổng bí thư đầu tiên của Đảng. Là người rất thông minh, hăng hái và cần cù, đồng chí Trần Phú làm được nhiều việc quan trọng cho Đảng, tuy chỉ hoạt động được non một năm”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 26 tháng 4: “Dân như nước, quân như cá”

Chủ nhật, 26/04/2009, 01:15 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 63 năm, ngày 26-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo với Hội đồng Chính phủ về cuộc tiếp xúc với tướng Juin, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp. Juin lúc này vừa từ Trung Quốc đến Việt Nam nhằm tiếp tục gây sức ép buộc quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng phải nhanh chóng rút quân và trao lại quyền kiểm soát cho Pháp ở Hà Nội. Dịp này, Bác cũng thông tin về tình hình đoàn Quốc hội ta mới đến Pháp và cuộc Hội nghị trù bị vừa bắt đầu ở Đà Lạt.

Ngày 26-4-1951, Bác đến dự Hội nghị kiểm thảo Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, một chiến dịch quân sự diễn ra dọc đường 18 (Phả Lại – Uông Bí) đạt hiệu quả không cao. Bác nhắc nhở:  “Tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng. Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất. Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc… Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được. Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ tổng tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng…

Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân… Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội… Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc được… Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí giúp cho quân đội ta trở nên quân đội tất thắng”.

Trước đó, khi cùng Bộ Chính trị nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày kế hoạch kiểm thảo và tự phê bình về Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Bác căn dặn: “Tự phê bình là cần, nhưng tự phê bình phải tăng cường đoàn kết, rút ra được bài học kinh nghiệm, xây dựng được lòng tin vào chiến dịch sau”.

Tháng 4-1952, Bác đến thăm và giải đáp thắc mắc cho cán bộ lớp đảng ủy, liên chi về vấn đề quan hệ trong và ngoài Đảng. Kết luận, Bác nhắc nhở: “Đảng viên lập trường phải vững. Lập trường giúp thành tâm, thành ý phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Tư tưởng trong sạch, tất cả đều giải quyết được, đó là chìa khóa”.

Ngày 26-4-1960, nhận được bức thư của một nữ công dân Liên Xô, chị Ekaterina Iosipdovna, chúc mừng ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3 gửi tới “vợ đồng chí Hồ Chí Minh”, Bác đã thân mật viết thư cảm ơn, trong đó có đoạn: “Tôi chưa có gia đình riêng. Gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”.

Ngày 26-4-1962, nhân dự phiên bế mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa II, Bác gặp đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang nhờ chuyển lụa tặng tới cụ Thào Mì Chúa, người H’Mông thọ tới 150 tuổi.

Ngày 26-4-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Bộ Chính trị bàn về Đại hội tuyên dương anh hùng chiến sĩ thi đua và bàn về cách đánh Mỹ, đã đưa ra quan điểm: “Trong cuộc chiến này, Mỹ sẽ bị thua thiệt nhiều và phải rút hết quân, ta sẵn sàng cho họ rút có thể diện”.

D.T.Qvà nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 25 tháng 4: “Trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô tận”

Thứ bảy, 25/04/2009, 00:56 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 81 năm, ngày 25-4-1928, Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định để Nguyễn Ái Quốc trở về nước hoạt động. Biên bản của Ban thư ký Quốc tế Cộng sản ghi rõ: “Theo nguyện vọng của đồng chí, đồng chí có thể trở về Đông Dương; chi phí chuyến đi cũng như thời gian ba tháng lưu trú do Đảng Cộng sản Pháp chịu”.

Ngày 25-4-1959, sau khi dự phiên họp của Hội nghị Trung ương 16 khóa II bàn về hợp tác hóa ở miền núi, Bác đến thăm Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Hà Nội và“nhân danh một đảng viên ở Hà Nội, tôi phát biểu một số ý kiến với hội nghị: Thủ đô Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một thủ đô xã hội chủ nghĩa… Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các đảng bộ khác”.

Cũng trong tháng 4-1959, Bác đến dự triển lãm Hậu cần của quân đội và ghi vào sổ cảm tưởng: “Đó là một bước tiến đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật, như một đóa hoa báo hiệu mùa xuân. Nhưng nó chứng tỏ rằng trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận. Lãnh đạo phải khéo khuyến khích, giúp đỡ, hướng dẫn, vun trồng thì trí tuệ và sáng kiến ấy sẽ không ngừng nở hoa, kết quả…”.

Ngày 25-4-1961, phát biểu tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc lần thứ II, Bác chỉ rõ: “Nhân dân ta đoàn kết nhất trí, mọi người hiểu rõ mình là người chủ nước nhà và quyết tâm làm tròn nghĩa vụ của người chủ, thì khó khăn gì chúng ta cũng vượt qua được và chúng ta nhất định sẽ giành được thắng lợi nhiều hơn nữa và to lớn hơn nữa”.Kết thúc bài nói, Bác cũng nhắc lại câu khẩu hiệu mà lần đầu cách đó 10 năm (1951) Bác đã phát biểu tại Đại hội hợp nhất Mặt trận Việt Minh – Liên Việt: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

Ngày 25-4-1963, phát biểu tại cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về lương thực và khắc phục tình trạng thiếu đói của nông dân, Bác chỉ thị: “Phải có kế hoạch giải quyết tạm thời, trước mắt và kế hoạch dài hạn. Năm nào cũng khó khăn, bấp bênh về lương thực. Bằng cách nào thì ta phải bàn, nhưng xã hội chủ nghĩa mà thế này thì không được, không làm cho dân phấn khởi… Cho nên lâu dài chỉ còn 2 cách là tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”. Chính tại cuộc họp này, Bác đã giao nhiệm vụ cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm “Tổng tư lệnh cứu đói” và “có quyền động viên bất kỳ ai, từ tôi trở đi”.

Ngày 25-4-1964, Báo Nhân Dân công bố bài phỏng vấn của Bác trả lời nhà báo Australia W.Burchett, trong đó khẳng định: “Nếu chính phủ Mỹ đã tôn trọng cam kết của mình là sẽ không dùng sức mạnh hay đe dọa bằng sức mạnh thì đã không có chiến tranh ở Việt Nam… Nhưng chúng tôi phân biệt nhân dân Mỹ với đế quốc Mỹ. Chúng tôi muốn có những quan hệ anh em với nhân dân Mỹ mà chúng tôi rất kính trọng vì nhân dân Mỹ là một dân tộc tài năng, đã có nhiều cống hiến cho khoa học và nhất là gần đây đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam”. 

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

“Tương kế, tựu kế” bắt biệt kích

QĐND – Tháng 3-1967, tin trinh sát kỹ thuật mật cho biết, một toán biệt kích địch đóng giả bộ đội ta nhảy dù xuống bản Choi, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) để điều tra các mục tiêu quân sự, chỉ điểm cho máy bay đánh phá trên tuyến đường 20 Quyết Thắng; bắt cóc cán bộ, nhân dân rồi gọi máy bay để bốc vào Nam…

Lực lượng Công an vũ trang truy bắt tóm gọn toán biệt kích địch trên vùng biên giới Con Cuông (Nghệ An). Ảnh tư liệu.

Ban chỉ huy Đồn Công an nhân dân vũ trang (CAVT) Cà Roòng (CAVT Quảng Bình) dựa vào quần chúng triển khai trinh sát toàn tuyến biên giới, điều tra quy luật hoạt động của địch; gấp rút xây dựng kế hoạch, bí mật phối hợp cùng dân quân xã chia thành bốn mũi, tạo thành thế gọng kìm chốt chặn, vây chặt trong, ngoài biên giới với phương châm “truy đến cùng, bắt và diệt đến hết”. Mặc dù địa bàn rộng, ngút ngàn núi đá nhưng có sự tham gia của dân quân xã, thông thạo địa hình nên lực lượng truy kích đã nhanh chóng phát hiện những dấu hiệu lạ… nhanh chóng bắt tại chỗ ba tên là nhân viên truyền tin, ẩn nấp tại một khe suối, “tương kế, tựu kế” ta dùng toán này “nhử mồi” tóm gọn 12 tên còn lại.

Một trận khác, tháng 2-1968, toán biệt kích 12 tên nhảy dù xuống địa bàn bản Bãi Đáp, sát biên giới, nấp trong các lèn đá… Thông tin có biệt kích nhảy dù được quần chúng báo về, ngay lập tức Ban chỉ huy Đồn CAVT Cà Roòng huy động cán bộ, chiến sĩ kết hợp với trung đội dân quân xã chia thành 4 mũi truy lùng, phát hiện biệt kích ẩn nấp tại điểm cao 1.800, “tương kế, tựu kế” ta nghi binh tung tin không phát hiện thấy gì và rút quân, song bí mật mai phục, bất ngờ áp sát và bắt sống hai tên ngày hôm sau. Trực thăng địch đến giải cứu toán biệt kích, quần lượn trong khu vực nhưng không dám xuống vì sợ ta bắn hạ. Ta tiếp tục khép chặt vòng vây, trừng trị tiêu diệt những tên ngoan cố nhất, bắt gọn những tên còn lại.

Trần Văn Toản
qdnd.vn

Linh hoạt, sáng tạo truy kích địch rút chạy

Kỷ niệm 38 năm Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng (3-1975/3-2013)

QĐND – Sau khi thất thủ Buôn Ma Thuột, ngày 14-3-1975, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu lệnh rút quân khỏi Kon Tum, Gia Lai về Nha Trang-Cam Ranh, nhằm tăng cường lực lượng trấn giữ vùng đồng bằng ven biển Khu 5. Theo dõi chặt chẽ và sớm dự đoán tình huống địch rút khỏi Tây Nguyên khi bị ta đánh mạnh, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Bộ tư lệnh chiến dịch tập trung lực lượng mở cuộc truy kích lớn đánh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy, tạo điều kiện cho các chiến trường đẩy mạnh tiến công, giành thắng lợi lớn.

Trận đánh quân địch rút chạy trên Đường số 7 diễn ra từ ngày 17 đến 24-3-1975 thể hiện trình độ về nghệ thuật nắm thời cơ, sử dụng lực lượng và cách đánh trong Chiến dịch Tây Nguyên.

Trước hết là nắm chắc tình hình địch để hạ quyết tâm đánh tiêu diệt. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột và bao vây chia cắt trên hai Đường số 21 và 19, trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch rút chạy từ Tây Nguyên theo Đường số 7 về đồng bằng Khu 5. Đêm 16-3-1975, Bộ tư lệnh chiến dịch họp bàn và xác định: Đúng như dự kiến của ta, địch rút chạy khỏi Tây Nguyên là thời cơ rất thuận lợi để ta mở cuộc truy kích tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch, vì khi rút chạy, đội hình của chúng lộn xộn, chỉ huy rối loạn, tinh thần quân lính hoang mang, sức chiến đấu giảm sút.

Đội hình Quân đoàn 2 ngụy quyền Sài Gòn rút chạy khỏi Tây Nguyên ngày 16-3-1975. Ảnh tư liệu.

Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320A được tăng cường Trung đoàn Bộ binh 95B, Tiểu đoàn 1 xe tăng thuộc Trung đoàn 273, Trung đoàn Cao xạ 593, Trung đoàn Pháo binh 675 gấp rút triển khai lực lượng truy kích đánh địch rút chạy. Để hiệp đồng với đòn tiến công tiêu diệt quân địch rút chạy, các đơn vị của Sư đoàn 320A cùng lực lượng tăng cường trên các hướng và LLVT địa phương các tỉnh Đắc Lắc, Phú Yên tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch ở các khu vực được giao.

Căn cứ vào phương án tiến công Cheo Reo đã chuẩn bị, Sư đoàn 320A chọn khu vực chủ yếu để tiêu diệt địch trên Đường số 7 là đoạn Mỹ Trạch – cầu Ia Nu và khu vực quyết chiến ở thị xã Cheo Reo. Cách đánh được xác định là nhanh chóng cơ động lực lượng chốt kịp thời ngăn chặn địch, tập trung binh hỏa lực, hiệp đồng chặt chẽ trên các hướng, các lực lượng; thường xuyên bám sát, liên tục tiến công tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy. Theo phương án tác chiến, Sư đoàn 320A cơ động triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa, chuẩn bị chiến đấu.

Sau khi hình thành thế bao vây, tổ chức lực lượng chốt chặn nhiều tầng trên Đường số 7 và đẩy lùi các đợt phản kích của địch, ngày 18-3-1975, ta sử dụng pháo binh và các loại hỏa lực bắn chế áp chi viện cho bộ binh Trung đoàn 48 tiến công các vị trí địch. Một ngày sau, ta đánh chiếm thị xã Cheo Reo, trong khi đó, Trung đoàn 9 tiến công đánh chiếm Phú Thiện và phối hợp với Trung đoàn 48 tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch rút chạy xuống phía Nam Cheo Reo. Tiếp đó, Bộ tư lệnh chiến dịch tập trung lực lượng chủ lực hình thành thế bao vây chặt, tiến công mãnh liệt từ bên sườn và phía sau đội hình rút chạy của địch trên Đường số 7. Trên đường truy kích, ta tiến công giải phóng quận lỵ Phú Túc và tiêu diệt địch ở Ca Lúi. Phát hiện địch rút chạy đang co cụm lớn ở quận lỵ Củng Sơn (Phú Yên), Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 320A phối hợp với Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên đánh chia cắt quân địch rút chạy.

Trong quá trình chiến đấu, bộ đội ta thay đổi kịp thời phương pháp tiến công, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu, dùng hỏa lực pháo binh bắn phá mãnh liệt vào các vị trí địch. Mặc dù địch tập trung hỏa lực của không quân, pháo binh đánh phá ngăn chặn và bộ binh phản kích quyết liệt cũng không cản được sức tiến công của ta. Nắm chắc thời cơ đánh địch, ngày 24-3, ta gấp rút đưa một đại đội vượt sông chốt chặn địch, đồng thời từ hai hướng tây và tây bắc, bộ đội ta tiến công dồn dập đánh chiếm Tịnh Sơn, Hòn Một rồi phát triển đánh chiếm quận lỵ Hòn Ngang và các mục tiêu khác, tiêu diệt toàn bộ quân địch co cụm ở Củng Sơn, kết thúc thắng lợi trận truy kích quân địch rút chạy trên Đường số 7.

Trận đánh thắng lợi đánh dấu sự trưởng thành về trình độ nghệ thuật nắm thời cơ, kịp thời tổ chức sử dụng lực lượng, hình thành thế trận đánh địch, đồng thời thể hiện trình độ tổ chức, chỉ huy và tinh thần chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cán bộ, chiến sĩ ta. Khi nắm được ý định địch rút quân, ta đã tổ chức lực lượng bao vây, chia cắt, thay đổi phương pháp tiến công, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng và sử dụng hỏa lực hợp lý, tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy. Thắng lợi của trận đánh tiêu diệt địch rút chạy trên Đường số 7 từ Cheo Reo đến Củng Sơn là trận đánh then chốt thứ 3 và cũng là trận then chốt kết thúc Chiến dịch Tây Nguyên. Đây là thắng lợi có ý nghĩa to lớn, đập tan ý định rời bỏ Tây Nguyên về co cụm ở vùng đồng bằng Khu 5, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định cho quân và dân ta phát triển cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuâm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP
qdnd.vn

“Trận Bạch Đằng” trên sông Thu Bồn

Ông cha ta đánh giặc

QĐND – Căn cứ Nông Sơn-Trung Phước nằm trên địa bàn huyện Quế Sơn (Quảng Nam) được Quân đội ngụy Sài Gòn xây dựng thành khu phòng thủ kiên cố vững chắc. Địch đóng quân ở đây luôn huênh hoang rằng: “Khi nào nước sông Thu Bồn chảy ngược thì Việt cộng mới tấn công nổi Trung-Sơn”. Riêng ở Nông Sơn, địch bố trí 9 lớp rào thép gai, mìn và 41 lô cốt với nhiều hầm ngầm, một trận địa pháo 105mm và một tiểu đoàn biệt động đồn trú. Ngoài khu phòng thủ căn cứ Nông Sơn còn có 11 cứ điểm ngoại vi, mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 trung đội lính bảo an, dân vệ chiếm giữ các điểm cao từ Khương Quế, Phường Rạnh đến Khương Bình, Ninh Hòa, Trung Phước.

Sư đoàn 2 và các Trung đoàn Pháo binh 572, cao xạ 573 (Khu 5) được giao nhiệm vụ tiến công căn cứ Nông Sơn-Trung Phước. Theo kế hoạch, giờ nổ súng tiến công vào lúc 0 giờ 15 phút ngày 18-7-1974. Đại đội 2 của Tiểu đoàn Công binh 18 (Sư đoàn 2) nổ súng đánh địch trên chốt Cà Tang làm hiệu lệnh cho cả chiến trường.

Đến giờ nổ súng, Đại đội 15 công binh của Trung đoàn Ba Gia (Sư đoàn 2) cơ động, sử dụng cầu phao đưa mũi thọc sâu của trung đoàn vượt qua sông Thu Bồn đánh vào căn cứ Nông Sơn. Khi đơn vị vượt qua sông, đại đội công binh tháo dỡ cầu phao rồi dùng dây cáp bện bằng thép gai giăng chìm dưới nước qua sông, phục kích địch rút lui bằng đường sông.

Quả nhiên khi bị ta đánh mạnh, địch từ căn cứ Nông Sơn dùng ca-nô tháo chạy theo sông Thu Bồn. Dây cáp cuốn thép gai giăng qua sông vướng vào chân vịt ca-nô khiến địch không thể cơ động được. Lập tức các trận địa hỏa lực đại liên của Đại đội Công binh 15 bố trí sẵn bên bờ nam sông nhả đạn, nhấn chìm đội hình ca-nô của địch xuống sông. Trận đánh khiến địch kinh hoàng và được ví như “Trận Bạch Đằng” trên sông Thu Bồn ở Quảng Nam.

HƯƠNG NGÂN
qdnd.vn

Tiến công chốt điểm kiên cố, hỏa lực mạnh

QĐND – Chốt điểm Núi Lỡ, thuộc huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam) do quân Pháp xây dựng từ trước năm 1954. Sau khi quân đội Sài Gòn tiếp quản, chúng đã củng cố lại hết sức kiên cố với 5 hàng rào kẽm gai, gài pháo sáng, lựu đạn sát thương, mìn chống bộ binh… Địch bố trí khoảng 200 tên chốt giữ và có sự chi viện, hỗ trợ của pháo binh từ các nơi khác đến rất chặt chẽ.

Chốt điểm Núi Lỡ án ngữ phía tây nam và khống chế toàn bộ trung tâm huyện Đại Lộc. Vì vậy, Tiểu đoàn 2 (V25) đặc công Quảng-Đà được giao nhiệm vụ tập kích, tiêu diệt chốt điểm Núi Lỡ.

Đêm 29-10-1965, Tiểu đoàn 2 hành quân cơ động xuống vùng B huyện Đại Lộc và tiếp cận mục tiêu. Đại đội 3 là đại đội chủ công của tiểu đoàn bí mật khóa từng quả mìn, chốt từng quả lựu đạn, cắt từng lớp rào đưa từng người, từng tổ áp sát từng lô cốt địch.

Đúng 24 giờ đêm 29-10-1965, tất cả đơn vị đồng loạt nổ súng. Bộ đội ta dùng thủ pháo, lựu đạn tiêu diệt lô cốt sở chỉ huy địch, phối hợp cùng tổ hỏa lực tiêu diệt gọn một đại đội bảo an. Sau 25 phút chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn trận địa và rút về hậu cứ an toàn.

Đây là trận đánh rất khẩn trương, tiến công kiên quyết của bộ đội đặc công địa phương. Trận đánh có ý nghĩa quan trọng, cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân Đại Lộc, rút ra kinh nghiệm chiến đấu tiến công các chốt điểm kiên cố của địch.

NGUYỄN VĂN CHUNG
qdnd.vn