Tag Archive | Chính trị – Xã hội

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG : Chương 6

CHUYỂN CUỘC TIẾN CÔNG THÀNH TỔNG TIẾN CÔNG

Chiến dịch Tây Nguyên phát triển thắng lợi.

Đúng như phán đoán của Bộ Tổng tư lệnh, trong hai ngày 12 và 13-3, địch đổ quân xuống đông Buôn Ma Thuột, Phước An và tây sân bay Hoà Bình. Chúng sa ngay vào một cái bẫy đã giăng sẵn. Các trung đoàn 45, 44, Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23 nguỵ cùng với tàn quân của Liên đoàn biệt động số 21 lần lượt bị tiêu diệt. Số còn lại chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, xe cộ và quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột bị đập tan.

Cũng đúng như dự đoán, ngày 16-3, địch bỏ Kon Tum, và 17-3, bỏ Pleiku, theo đường số 7 rút chạy về hướng ven biển. Theo tin trinh sát, đường số 7 bị bỏ từ lâu, cầu hỏng, phà qua sông không có. Được tin quân địch rút chạy theo con đường ấy, anh Văn Tiến Dũng kiên quyết ra lệnh cho Sư đoàn 320 chặn ngay đường rút lui của địch, lệnh cho Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên huy động thêm xe bọc thép, xe vận tải, thêm pháo và vật chất để bảo đảm cho Sư đoàn 320 khẩn trương truy kích địch. Giao nhiệm vụ cho đồng chí Kim Tuấn. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, anh Dũng đã nghiêm khắc nhấn mạnh: “Lúc này do dù một chút, sơ hở một chút là hỏng việc. Nếu để địch chạy thoát là một tội lớn”.

Sau khi nhận mệnh lệnh, Sư đoàn 320 tích cực, khẩn trương vượt mọi khó khăn, cấp tốc hành quân trong đêm 16-3. Mờ sáng hôm sau, một đơn vị đã nhanh chóng băng rừng ra cắt đường số 7, chặn địch ở đông Phú Bổn, tiêu diệt địch và đánh xuống Củng Sơn. Trong lúc đó, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tiến ra cắt cầu Sơn Hoà và cùng Sư đoàn 320 tiến công giải phóng Củng Sơn.

Quân địch hoàn toàn tan rã. Ta tìêu diệt và bắt sống gần 6.000 tên, thu hàng trăm khẩu pháo các loại, xe tăng, xe công binh, xe vận tải.

Báo chí và đài phát thanh phương Tây đổ thêm chất xúc tác vào quá trình sụp đổ của nguỵ quân, nguỵ quyền. Đài BBC tường thuật chi tiết cuộc rút chạy, tô đậm hình ảnh thảm bại với những cảnh rùng rợn ở Pleiku, Kon Tum và trên đường số 7. Đài Tiếng nói Hoa Kỳ loan tin Quốc hội Mỹ bác bỏ viện trợ thêm về quân sự cho nguỵ quyền Sài Gòn với đa số áp đảo: 49 phiếu thuận trên 189 phiếu chống tại Hạ nghị viện, và 6 phiếu thuận trên 36 phiếu chống tại Thượng nghị viện.

Đã đến lúc phải chạy đua với thời gian.

Bộ Chính trị quyết định sẽ họp vào ngày 18-3. Tôi chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị tình hình và đề xuất ý kiến.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn biệt động quân 14 chuyển ra Quang Trị thay thế Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ chuyển phần lớn vào Đà Nẵng. Hiện tượng này giúp tôi khẳng định thêm một nhận xét đang hình thành trong suy nghĩ từ sau chiến thắng Buôn Ma Thuột: qua cuộc đọ sức lớn đầu tiên ở Tây Nguyên và những diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ quân nguỵ còn yếu hơn nhiều so với sự đánh giá của ta trước lúc mở cuộc tiến công. Chúng không hy vọng giữ được Trị – Thiên. Có thể chúng sẽ tập trung lực lượng về giữ Đà Nẵng, nơi có vị trí chiến lược quân sự xung yếu. Như vậy, khả năng phát triển tiến công của ta rất lớn. Kế hoạch hai năm có thể rút ngắn. Giải phóng miền Nam có thể sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Quảng Trị – Thừa Thiên.

Tôi đem những suy nghĩ của mình trao đổi với các anh Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Cao Văn Khánh, Lê Hữu Đức và một số đồng chí khác trong Bộ Tổng Tham mưu. Các anh rất đồng tình.

Tôi định đi ngay vào Vĩnh Linh, ở đó sẽ mời anh Lê Tự Đồng, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên ra bàn chủ trương và kế hoạch tác chiến. Trực thăng đã sẵn sàng. Thế nhưng cân nhắc kỹ, thấy rằng trong lúc tình hình các chiến trường phát triển nhanh quá, tôi cần có mặt tại Tổng hành dinh; hơn nữa, mặc dù đi bằng máy bay, nhưng tính toán thời gian không kịp về họp Bộ Chính trị, lại vừa có tin địch rút Pleiku – Kon Tum, nên cuối cùng tôi quyết định không đi nữa. Thay vào đó tôi điện ngay cho Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II: “Đã có khả năng chuyển sang kế hoạch thời cơ (1), tổ chức thực hiện giải phóng Huế. Tình hình phát triển nhanh và thời cơ lớn đang đến sớm hơn ta dự kiến.

Địch đang phải đối phó với nam Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ và bắt đầu co cụm chiến lược. Trị – Thiên cần đẩy mạnh hoạt động về mọi mặt. Cụ thể là đẩy mạnh tiến công của chủ lực từ phía tây, thực hành chia cắt chiến lược giữa Huế – Đà Nẵng, mạnh dạn đưa lực lượng xuống đồng bằng phát động quần chúng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, áp sát các tuyến ngăn chặn của địch, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích ở đồng bằng với tiến công của chủ lực từ phía tây xuống”.

Đồng thời, tôi chuẩn y kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị tổ chức những trận địa pháo tầm xa khống chế đường số 1 từ Trị – Thiên trở vào, ngăn chặn địch chuyển quân. Để thực hiện nhiệm vụ này, một đoàn cán bộ pháo binh được cử vào Trị – Thiên tăng cường cho các đơn vị tại chỗ, đánh địch dọc đường số 1 từ Quảng Trị đến Thừa Thiên.

***

Hạ tuần tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng. Hơn 10 vạn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu Hơn 60 vạn dân thuộc các dân tộc Tây Nguyên được giải phóng. Hệ thống bố trí chiến lược của Mỹ – nguỵ ở miền Nam đứng trước nguy cơ bị chia cắt hắn làm đôi Tuyến phòng ngự của địch dọc ven biên miền Trung bị uy hiếp trực tiếp. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên và bước phát triển của nó đánh dấu một bước suy sụp mới của Mỹ – nguỵ, một bước ngoặt trong quá trình phát triển của cục diện quân sự và chính trị ở miền Nam.

Ngày 18-3-1975, tại “Nhà con rồng”, Bộ Chính trị và Quân uy Trung ương họp. Đồng chí Cục trưởng Tác chiến báo cáo tổng hợp tình hình chiến sự từ khi chiến dịch mở màn. Mọi người vui mừng thấy cuộc tiến công phát triển nhanh hơn dự kiến.
Trên cơ sở những suy nghĩ về khả năng phát triển của cách mạng miền Nam từ sau trận Buôn Ma Thuột, tổng hợp những ý kiến đã trao đổi tập thể, tôi phát biểu:
– Tình hình đang chuyển biến rất nhanh. Mở đầu tiến công mới 10 ngày, đã tiêu diệt đại bộ phận Quân đoàn II nguỵ, giải phóng Tây Nguyên. Đã xuất hiện hành động co cụm lớn của địch. Quân nguỵ suy yếu rõ rệt. Lực lượng so sánh đã thay đổi. Do nguỵ suy sụp nhanh, Mỹ cũng không dám liều lĩnh, ít khả năng can thiệp trở lại.
Ta đang sung sức, lực lượng tập trung, khí thế mạnh mẽ. Quân uỷ Trung ương đề nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975, không chờ đến năm 1976.
Để thực hiện quyết tâm ấy, kiến nghị của Quân uỷ Trung ương là: Hướng chiến lược chủ yếu là Sài Gòn.
Trước mắt, Trị – Thiên – Đà Nẵng là hướng chiến lược quan trọng. Khẩn trương tiến công giải phóng Huế – Đà Nẵng, giải phóng đồng bằng Khu 5. Tạo cho được bất ngờ về hướng tiến công, về thời gian, về lực lượng. Cần nhanh chóng đưa các sư đoàn ở mặt trận Tây Nguyên vào hướng Sài Gòn, tăng cường cho B2 thêm hai trung đoàn xe tăng, hai trung đoàn pháo và ba trung đoàn cao xạ Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II khẩn trương thực hiện kế hoạch thời cơ như Bộ đã chỉ thị. Cho ngay Quân đoàn I lên đường. Hoạt động của các hướng tiến công đồng thời hay trước, sau đều phải rất linh hoạt, nhằm bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch. Trước mắt, phải đập tan âm mưu co cụm lớn của địch, tạo biến động trong cục diện chiến lược. Phương châm tác chiến chiến lược là “táo bạo, bât ngờ, kip thời, chắc thắng”, Đồng bằng sông Cửu Long đánh mạnh, tích cực phá “bình định”, giành đất, giành dân. Thành lập thêm các tiểu đoàn của huyện, tỉnh, khẩn trương huấn luyện để tác chiến và bổ sung cho các chiến trường.

Hội nghị thảọ luận sôi nổi.

Đánh giá khả năng can thiệp trở lại của Mỹ, anh Lê Đức Thọ phân tích những khó khăn Mỹ đang gặp phải, sự suy sụp nhanh chóng của nguỵ, đi đến khẳng định Mỹ không còn khả năng trở lại can thiệp. Anh tán thành đề nghị của Quân uỷ Trung ương: “Như anh Văn nói, ta có cơ sở để dứt điểm trong năm 1975. Vấn đề là tổ chức, là hậu cần, là cán bộ”.

Anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng và các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt phát biểu ý kiến, phân tích thêm về thế đi xuống của địch, về cách đánh chiến lược của ta. Tất cả đều thống nhất: ta đang đứng trước thời cơ chưa từng có, và đồng ý với kiến nghị của Quân uỷ Trung ương cần giành thắng lợi hoàn toàn trong năm 1975, kiên quyết nắm bắt thời cơ, thắng càng nhanh càng tốt.

Hội nghị cũng quan tâm đến tình hình Nam Bộ. Theo báo cáo của B2, bắt đầu từ ngày N (10-3-1975) tích cực phối hợp với Tây Nguyên, toàn chiến trường đồng loạt tiến công và nổi dậy. Từ Khu 6 đến Cà Mau, kể cả vùng ven các đô thị, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phối hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân, giành thắng lợi giòn giã. Ở khu vực Sài Gòn – Gia Định, lực lượng của thành đội và các đội đặc công, biệt động bắt đầu hoạt động mạnh. Ở đồng bằng sông Cửu Long, quân và dân ta sôi nổi đánh phá kế hoạch “bình định” của địch, đạt nhiều kết quả.

Hội nghị làm việc khẩn trương, hào hứng, phấn khởi, kể cả trong giờ nghỉ. Đồng chí Bí thư thứ nhất khẳng định địch đã bị mấy cái bất ngờ: bất ngờ vì không phá được Hiệp định Paris mà còn bị ta kiên quyết đánh lại; bất ngờ về kế hoạch và quy mô tác chiến của ta; bất ngờ về hướng tiến công chiến lược; bất ngờ trước sự suy yếu của chúng. Về bước phát triển tiếp theo, đồng chí nêu ý kiến phải đánh cho địch suy yếu ngay trong quá trình co cụm, ngay khi chúng còn bị phân tán trên các hướng Khu 5, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Phải tạo được ba quả đấm: chủ lực, nông thôn và đô thị. Đánh Sài Gòn là khó, phải tạo được bất ngờ, phải sử dụng nhiều sư đoàn chủ lực để tiêu diệt quân chủ lực địch. Đồng chí không quên nhắc đến mũi tiến công binh vận, phải tạo cho được binh biến.

Bộ Chính trị hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch hai năm (1975-1976) ngay trong năm 1975. Phương hướng tiến công chiến lược chủ yếu được xác định là Sài Gòn. Trước mắt, nhanh chóng tiến công tiêu diệt bằng được toàn bộ lực lượng địch trong Vùng I chiến thuật, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, giải phóng Huế – Đà Nẵng. Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết tâm chiến lược ấy.

Một lần nữa, tư duy quân sự khoa học của Bộ thống soái tối cao đưa đến một quyết định chiến lược dũng cảm và chính xác. Trong tình hình quân ta đánh mạnh, đẩy địch vào thế bị động, thất bại, liên tiếp phạm sai lầm về chiến lược và suy sụp nhanh chóng, thế chiến tranh nhân dân của ta mạnh lên toàn diện từng giờ, từng phút, thì thời gian ấn định trong kế hoạch hai năm không còn phù hợp nữa. Lợi dụng thời cơ, đẩy mạnh tiến công trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng là một vấn đề đã trở thàhh truyền thống của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Hội nghị Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương ngày 18-3 đã quyết định rất kịp thời, khẩn trương chuyển hẳn sang phương án thời cơ.

***

Ngay chiều hôm ấy, tôi vào Ninh Bình trực tiếp giao nhiệm vụ cho Quân đoàn I. Cùng đi có đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng và đồng chí Lê Quang Hoà, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Hai bên đường số 1, cảnh lao động san xuất rộn rã, tấp nập.

Nông dân chăm bón ruộng đồng, góp sức cùng tiền tuyến đánh giặc, hứa hẹn một vụ Xuân – Hè thắng lợi.

Công nhân ra sức sửa chữả cầu đường, khôi phục các nhà máy bị tàn phá trong chiến tranh phá hoại. Bức tranh lao động trong khí thế tổng tiến công phản ánh đặc điểm của chiến tranh nhân dân Việt Nam, như hai câu thơ đã trở thành quen thuộc:

“Rộn ràng thay cảnh quê hương

Nửa công trường, nửa chiến trường xôn xao”

(Thơ Tố Hữu)

Các đồng chí Nguyễn Hoà, Tư lệnh và Hoàng Minh Thi, Chính uỷ Quân đoàn I đón đoàn tại Sở chỉ huy. Tôi ngạc nhiên khi nghe báo cáo một số đơn vị trong quân đoàn đang bận đi đắp đê. Việc sử dụng lực lượng dự bị chiến lược của Bộ trong lúc này như vậy là không đúng.

Hơn nữa, qua việc này, có thể thấy không phải mọi người, mọi cấp đều đã quán triệt tinh thần các Nghị quyết và quyết tâm của lãnh đạo tối cao.

Tôi ra lệnh cho quân đoàn kiểm tra mọi mặt chuẩn bị lên đường chiến đấu, để lại Sư đoàn 308 sẵn sàng ứng phó với tình huống địch phản ứng quân sự đối với miền Bắc, điều ngay các đơn vị đang đắp đê về. Bộ sẽ tăng cường hoả lực cho quân đoàn. Quân đoàn I là quả đấm chủ lực mạnh, gồm những đơn vị có bề dày truyền thống, sẽ góp phần cùng các đơn vị chủ lực khác của Bộ và các quân khu, quyết định chiến trường trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh.

Về kế hoạch hành quân, phải bảo đảm tuyệt đối bí mật, tổ chức kiểm tra đôn đốc, bảo đảm bộ đội đi nhanh đến đủ, có lệnh là tác chiến được ngay.

Sau đó, tôi và anh Tấn đến các đơn vị trực tiếp động viên cán bộ, chiến sĩ trước giờ xuất trận. Cảnh quan hùng vĩ của vùng Tam Điệp lịch sử, nơi quân đoàn đóng quân gợi nhớ cuộc hành quân thần tốc của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ 200 năm trước. Tôi truyền đạt quyết tâm của Đảng, nêu rõ vinh dự và trách nhiệm của mỗi người, mỗi đơn vị trong thời điểm lịch sử này.

Toàn quân đoàn sôi nổi chuẩn bị ra quân trong khí thế quyết chiến quyết thắng. Hầu như không có biểu hiện tiêu cực. Chỉ có một thắc mắc phổ biến trong cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 308 là phải ở lại bảo vệ hậu phương, không được sát cánh cùng quân và dân miền Nam trực tiếp lập công trong thời cơ nghìn năm có một.

Sau khi trao đổi với anh Tấn, tôi điện cho Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II truyền đạt quyết tâm của Bộ Chính trị, ra lệnh khẩn trương chuyển sang kế hoạch thời cơ.

Cũng trong chuyến đi này, tôi điện trìệu tập đồng chí Đàm Quang Trung, Tư lệnh Quân khu IV, ra tại Sở chỉ huy Quân đoàn I để làm việc. Trong khi nghe báo cáo tình hình, tôi hỏi kỹ và kiểm tra mức độ quán triệt quyết tâm của Đảng trong bộ đội và nhân dân ở Quân khu IV, và giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Quân khu IV chuyển các lực lượng vũ trang và nhân dân từ Thanh Hoá đến Quảng Trị vào tư thế sẵn sàng chiến đấu cao, ra sức chi viện sức người, sức của cho miền Nam trong cuộc Tổng tiến công chiến lược. Vốn là một trong những trung đội trưởng rồi đại đội trưởng của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân từ những ngày đầu gian khổ, đồng chí Tư lệnh Quân khu IV phấn khởi đón nhận nhiệm vụ mới, hứa quyết tâm hoàn thành vượt mức, xứng đáng là quân khu hậu phương tiếp giáp trực tiếp với miền Nam. Đồng chí Đàm Quang Trung nay không còn nữa, nhưng thái độ sôi nổi, nhiệt tình của đồng chí còn đọng mãi trong tôi.

***

Vừa về tới Tổng hành dinh, tôi gửi ngay cho anh Văn Tiến Dũng một bức điện mà nội dung đã hình thành sẵn trong đầu từ trên đường đi, thông báo nhận định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương về thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của ta, về ý đồ co cụm chiến lược của địch, âm mưu của chúng tập trung lực lượng tạo thế bố trí phòng ngự ở vùng Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, trước mắt có thể ở Đà Nẵng và Cam Ranh, hy vọng nấn ná chờ một giải pháp chính trị hoặc giải pháp chia cắt một phần lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Vì vậy, ta cần tranh thủ thời gian cao độ, khẩn trương hành động hết sức bất ngờ, hết sức táo bạo, đồng thời bảo đảm chắc thắng. Theo tinh thần đó, Bộ Chính trị đã cân nhắc mọi mặt và hạ quyết tâm thực hiện Phương án 1. Đây là phương án đã dự kiến từ trước, đưa phần lớn lực lượng ở Tây Nguyên phát triển vào hướng chủ yếu là miền Đông Nam Bộ, đồng thời mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng Khu 5 với lực lượng hiện có của Quân khu 5, có thể tăng cường Sư đoàn 968 và binh khí kỹ thuật. Bức điện cũng thông báo: anh Tấn sẽ gặp anh Dũng, anh Năm Công và các anh ở B2 ra đế báo cáo cụ thể quyết tâm mới của Bộ Chính trị và góp thêm ý kiến để xây dựng kế hoạch thực hiện!(2)

***

Sáng 20-3 có tin do Trung đoàn kỹ thuật 75, vừa thu được: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 19-3, Thiệu gửi cho Ngô Quang Trưởng bức điện nội dung như sau: “Vì eo hẹp về phương tiện không – hải quân, chỉ cho phép yểm trợ được một enclave (3). Vậy hãy mener(4) trì hoãn chiến về tuyến Hải Vân”. Thế là địch đã quyết định bỏ Trị – Thiên – Huế để về giữ Đà Nẵng.

Cục Tác chiến báo cáo: ngày 19-3, quân ta tiến công giải phóng thị xã và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Tuyến phòng thủ phía bắc của địch bị phá vỡ một mảng lớn.

Địch co về giữ phòng tuyến sông Mỹ Chánh. Sau khi trao đổi với các anh Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, tôi hạ quyết tâm mở trận tiến công lớn, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế. Tôi chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu đôn đốc Quân khu Trị – Thiên gấp rút đưa lực lượng xuống đồng bằng, lệnh cho Quân đoàn II nhanh chóng cắt đứt đường số 1, không cho địch rút về co cụm ở Đà Nẵng. Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II phải khẩn trương đánh chặn, chia cắt, tiêu diệt cho được toàn bộ Sư đoàn 1 nguỵ và các lực lượng khác, thu toàn bộ trang bị của chúng, giải phóng hoàn toàn Trị – Thiên – Huế, chiếm lĩnh đèo Hải Vân. Tiểu đoàn 5 hải quân rải mìn và đưa lực lượng xuống bịt cửa Thuận An.

Phải bao vây đánh mạnh trên tất cả các hướng, không cho địch rút chạy.

Chiến trường Trị – Thiên – Huế tương đối gần, nên việc liên lạc với Tổng hành dinh có nhiều thuận lợi. Một đường điện thoại hữu tuyến nối liền Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh với Quân đoàn II và Quân khu IV. Tôi và các đồng chí Tổng Tham mưu phó, Cục trưởng Tác chiến thường trực tiếp nói chuyện với các anh ở chiến trường mỗi ngày ít nhất hai lần. Nhiều trường hợp, Bộ ra lệnh bằng điện thoại.

Ngày 22-3, anh Lê Tự Đồng, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên và anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn II báo cáo đã đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 1, bao vây Huế. Đường số 1 đã bị cắt đứt giữa Huế và Đà Nẵng. Hàng trăm xe cơ giới đang trên đường rút chạy về Đà Nẵng bị ùn lại. Pháo tầm xa của ta bắt đầu bắn phá sân bay Phú Bài. Quân địch không còn con đường nào khác là rút chạy ra biển theo hướng cửa Thuận An và cửa Tư Hiền.

Quân uỷ Trung ương điện tối khẩn cho anh Nguyễn Hữu An: “Quân đoàn điều ngay lực lượng ra bịt cửa Thuận. Ký tên: Văn”.

Mệnh lệnh được thi hành tức khắc. Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 324 cấp tốc hành quân ra chặn địch. Sự xuất hiện của quân chủ lực ở đây có tác dụng rất lớn về chiến thuật cũng như về tâm lý. Hàng chục ngàn quân nguỵ cùng với hàng trăm xe tăng, xe bọc thép nhanh chóng bị tiêu diệt và tan rã. Cảnh thảm bại trên đường số 7 ở Tây Nguyên, một lần nữa lại diễn ra trên đường từ Huế xuống cửa Thuận An. Thành phố Huế trở nên hỗn loạn. Đã xảy ra nhiều vụ cướp phá do tàn quân nguỵ chạy loạn gây ra. Triệu chứng tan rã lớn trong lực lượng địch ở Thừa Thiên – Huế xuất hiện.

Trước tình hình ấy, Quân uỷ điện cho anh Văn Tiến Dũng về hướng phát triển của chiến dịch Tây Nguyên:

… “Địch bộc lộ ý định rút lui chiến lược lớn về giữ Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Đang rút bỏ Huế, khả năng rút Đà Nẵng. Bộ Chính trị quyết định hành động táo bạo, bất ngờ, nhanh chóng thực hiện quyết tâm chiến lược ở hướng trọng điểm. Tôi đã bàn với anh Lê Đức Thọ, đã hỏi ý kiến anh Ba, rất nhất trí với kế hoạch phát triển và sử dụng lực lượng trong điện của anh.

Động viên cán bộ, chiến sĩ có quyết tâm thật lớn, truy kích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng các tỉnh ven biển, kể cả Nha Trang và Cam Ranh. Cần tăng cường cán bộ và trang bị, nhanh chóng phát triển các lực lượng tại chỗ, tập trung lực lượng lại càng sớm càng tốt, khẩn trương triển khai tiến công ở hướng trọng điểm. Ký tên: Chiến”.

Ngày 15-3-1975, theo đề nghị của Tổng cục Chính trị, Bộ Chính trị điện gửi Trung ương Cục, Khu uỷ Trị Thiên và Khu 5: “Kết hợp chặt chẽ binh, địch vận với tác chiến tiêu diệt và làm tan rã lớn quân nguỵ, tạo ra những vụ đầu hàng tập thể lớn, khoét sâu mâu thuẫn, phân hoá cao độ hàng ngũ địch, tập trung mũi nhọn đánh đổ Thiệu. Nắm và khai thác những nhóm, cá nhân sĩ quan tiến bộ phục vụ cho yêu cầu quân sự, chính trị, binh địch vận”.

***

Theo lời khai của tù binh và các tư liệu được công bố sau này, tình hình nội bộ nguỵ lúc này thực sự là một màn kịch mang tính bi hài.

Trước thảm hoạ ở Tây Nguyên và nguy cơ Huế, Đà Nẵng bị uy hiếp, ngày 18-3, Nguyễn Văn Thiệu triệu tập các cố vấn thân cận ra Đà Nẵng họp cấp tốc, nói là để bàn giải quyết vấn đề người tị nạn. Thực ra, cuộc họp đã chuyển sang đối phó với vấn đề khủng khiếp hơn: nên bỏ hay nên giữ Quân khu I.

Nghe Ngô Quang Trưởng báo cáo cuộc tiến công của “Việt cộng” vào Huế và Đà Nẵng sắp nổ ra, cử toạ đều sởn tóc gáy! Đất đã nóng bỏng dưới chân. Thế là sau những lời hứa hẹn chung chung, Thiệu cùng “êkíp” vội vã chuồn ngay, nói là vào Sài Gòn để bàn bạc cho được an toàn.

Cuộc họp lại tiếp tục tại dinh Độc Lập. Trần Thiện Khiêm nêu ý kiến: khó có thể giữ Huế và Đà Nẵng cùng một lúc. Tốt hơn hết là bỏ một trong hai. Trần Văn Hương cho rằng không thể giữ cả Huế và Đà Nẵng vì quá tốn kém. Còn Ngô Quang Trưởng thì đề nghị: vì đường số 1 đã bị cắt, không thể khai thông được, cần tổ chức ba điểm phòng thủ để cầm cự với “Việt cộng” là Huế, Đà Nẵng và Chu Lai.

Kế hoạch của Trưởng được Thiệu chấp nhận, vì không có cách nào khác. Trưởng bay về Sở chỉ huy Quân khu I.

Hôm sau, 20-3, Trưởng ra Huế. Đài phát thanh Huế đưa tin: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh phòng thủ thành phố Huế bằng mọi giá”. Trưởng cũng thề thốt: “Tôi sẽ chết với cố đô xưa. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vào được Huế”. Y không quên họp các nhân sĩ để trấn an dư luận. Và y điện xin Bộ Tổng Tham mưu nguỵ triển khai Lữ đoàn không quân số 1.

Mọi việc hoàn tất đúng theo bài bản.

Thế nhưng, khi vừa đặt chân xuống Đà Nẵng, Trưởng không tin ở mắt mình nữa khi đọc bức điện của Cao Văn Viên chuyển lệnh của tổng thống: “Quân đoàn I triển khai lực lượng để phòng thủ Đà Nẵng mà thôi. Lữ đoàn không quân số 1 đã được lệnh chuyển vào Sài Gòn?”

Choáng váng và thất vọng, Trưởng gọi điện cho Viên đề nghị giải thích, thì được trả lời vắn tắt: “Hỏi Tổng thống Thiệu”. Hoang mang cực độ, Trưởng mở đài. Sài Gòn vẫn ra rả phát đi tin tổng thống kêu gọi “giữ Huế bằng mọi giá!”. Lúc này, các viên chức nguỵ quyền không ai còn bụng dạ nào chạy đến đài Sài Gòn để thay đổi nội dung!

***

Những ngày này, tôi ở luôn tại Tổng hành dinh, không về nhà riêng, dù hai nơi chỉ cách nhau vài trăm mét. Trong phòng làm việc, các đồng chí công vụ đã kê thêm một chiếc giường con. Ngoài các tấm bản đồ treo trên tường, tôi đặt thêm một tấm bản đồ quân sự miền Nam ngay dưới tấm kính. rộng trên mặt bàn để tiện theo dõi, suy nghĩ.

Các buổi sáng, nhất là lúc tình hình chiến sự khẩn trương, các đồng chí trong Bộ Chính trị thường vào Tổng hành dinh nghe tình hình và trao đổi ý kiến. Lúc này, tin tức báo về dồn dập. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, tình hình đã thay đổi. Cục Tác chiến phải tăng thêm một bản thông báo hàng ngày nữa để Bộ Chính trị nắm tình hình chiến sự được kịp thời và suy nghĩ về những bước tiếp theo. Báo cáo từ Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II đẩy các mũi tên đỏ trên bản đồ áp sát Huế. Pháo tầm xa của quân ta đã rót đạn vào sân bay Phú Bài và cửa Thuận An. Ở Quân khu 5, Sư đoàn 2 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt các quận lỵ Tiên Phước, Trà My, mở rộng căn cứ ở miền tây Quảng Đà. Theo kế hoạch, sư đoàn sẽ tiến về giải phóng toàn tỉnh Quảng Ngãi, hoặc nếu có thời cơ sẽ đánh xuống Tam Kỳ, phối hợp với chủ lực của Bộ tiến công thẳng vào Đà Nẵng từ phía nam lên.

Ngày 24-3-1975, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp. Điểm lại tình hình từ cuộc họp ngày 18-3, hội nghị mừng thấy tình hình các mặt trận đang phát triển tốt. Thay mặt Bộ Tổng Tham mưu, anh Lê Trọng Tấn báo cáo: ở chiến trường Trị – Thiên ta sẽ dứt điểm nhanh. Quân địch đang rút chạy về co cụm ở Đà Nẵng.

Trong tháng 4, ta cần nhanh chóng tiến công Đà Nẵng, diệt từ hai đến ba sư đoàn địch, không cho chúng thực hiện ý đồ rút về tăng cường cho Sài Gòn.

Anh Tấn báo cáo xong, tôi phát biểu về tình hình Đà Nẵng và nêu ra các bước tiếp theo.

Tôi nói:

– Theo tin nhận được, địch kêu gọi “tử thủ” Đà Nẵng, chúng có ý định thực hiện co cụm lớn, tăng cường căn cứ quân sự liên hợp này hòng ngăn chặn, làm chậm bước tiến của quân ta, tranh thủ thời gian củng cố các tuyến phía nam của chúng, trông chờ sự can thiệp của Mỹ. Thế nhưng ngay từ bây giờ, ta cần dự kiến trước những chuyển biến mới, địch có thể rút chạy khỏi Đà Nẵng. Nếu chúng thoát được vào phía nam thì cuộc Tổng tiến công của ta ở chiến trường trọng điểm sẽ gặp khó khăn. Vậy ta cần nhanh chóng đánh chiếm Đà Nẵng, tiêu diệt sinh lực của địch ở đây, tạo thuận lợi phát triển tiến công trong các bước sau. Chúng có thể “tử thủ”, cũng có thể rút, rút nhanh hay rút chậm, nhưng ta thì phải chuẩn bị đánh trong tình huống địch rút nhanh, nhất thiết phải đánh nhanh. Không chờ giải phóng xong Huế, mà ngay từ bây giờ, phải bắt đầu mở cuộc tiến công vào Đà Nẵng. Nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao, cho xe tăng thọc sâu ngay, tận dụng tối đa khả năng của pháo binh để tiến công Đà Nẵng.

Hướng Sài Gòn, trước đây ta dự tính dùng bảy sư đoàn, vậy mà nay đã có chín sư đoàn. Sau Đà Nẵng, có thể lên tới 15 sư đoàn. Nếu ta chiếm được Đà Nẵng trong tháng 4, tinh thần quân nguỵ sẽ suy sụp lớn. Như vậy, ta phải đặt yêu cầu cao hơn, giải phóng Sài Gòn trong tháng 5, trước mùa mưa. Để chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng, đi đôi với việc tập trung cao độ lực lượng từ phía bắc đánh xuống, B2 phải cắt đường số 4, cô lập Sài Gòn và gây sức ép mạnh từ phía tây nam. Ở hướng tây bắc, cần tập trung lực lượng mạnh hơn, hết sức tranh thủ thời gian, hành động khẩn trương hơn, tốc độ phát triển nhanh hờn.

Sau giờ nghỉ, mọi người đều thấy phải đánh nhanh, thắng nhanh. Mới có một tuần lễ mà thế và lực của ta và của địch đã khác hẳn. Phải nghĩ đến tiến công Sài Gòn từ bây giờ, kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, thực hiện một bước nhảy vọt về chiến lược.

Không khí phấn khởi bao trùm phòng họp. Bộ Chính trị khẳng định thời cơ chiến lược lớn đã tới. Chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này, kể từ 20 năm qua. Cách mạng miền Nam đã có những bước nhảy vọt, nhưng đây là bước nhảy vọt lớn có ý nghĩa quyết định. Hội nghị dự kiến có thể giành toàn thắng sớm hơn nhiều so với kế hoạch trước. Kéo dài sẽ không có lợi, mùa mưa đã tới gần.

Bộ Chính trị khẳng định: “Cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên. Thời cơ chiến lược mới đã đến”. Một quyết tâm được quyết nghị: Nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ thời gian cao độ, tập trung nỗ lực của cả nước, tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí, kỹ thuật và vật chất vào phương hướng chủ yếu, hành động nhanh chóng, táo bạo, bất ngờ đánh cho địch không kịp trở tay, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Trước mắt kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Huế, Đà Nẵng và tiếp theo là trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Quyết tâm đã hạ. Phương hướng đã rõ.

Trong không khí phấn khởi, quyết tâm, thay mặt Quân uỷ Trung ương, tôi đứng lên bảo đảm bộ đội ta nhất định tiêu diệt căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng, và đề nghị mở mặt trận Quảng Đà, cử Bộ Tư lệnh mặt trận do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, đồng chí Chu Huy Mân làm Chính uỷ. Đề nghị trên được Hội nghị nhất trí tán thành. Bộ Chính trị cũng quyết định thành lập Quân đoàn III gồm các đơn vị vừa tác chiến ở Tây Nguyên; Tư lệnh là đồng chí Vũ Lăng, Chính uỷ là đồng chí Đặng Vũ Hiệp.

Hội nghị kết thúc. Vừa lúc đó, có tin quân ta đã tiến vào thành phố Huế hồi 10 giờ 30 phút ngày 25-3-1975.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng vũ trang Quân khu Trị – Thiên và bộ đội Quân đoàn II từ ba hướng đồng loạt tiến công, vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, hình thành nhiều mũi bao vây Huế. Ở hướng nam, Quân đoàn II kịp thời chuyển hướng tiến công, nhanh chóng thọc sâu cắt đường số 1, đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc, triệt đường rút lui của địch về Đà Nẵng. Sư đoàn 1, sư đoàn mạnh nhất của quân nguỵ, bị đánh thiệt hại nặng. Từ hướng bắc, quân ta tiến về cửa Thuận An. Một lực lượng địa phương tiến ra chặn cửa Tư Hiền. Những cánh quân khác của ta, từ hướng tây qua đường số 1, vượt sông Tả Trạch, nhanh chóng bao vây địch. Đêm 24-3, pháo binh ta bắn mạnh vào Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn I nguỵ ở Mang Cá, bắn chặn mãnh liệt cửa Thuận An và cửa Tư Hiền.

Sáng 25-3, quân ta tiến công khu cảng Tân Mỹ – Thuận An, tiêu diệt và đánh tan rã toàn bộ các lực lượng địch rút chạy đang dồn tắc ở đây. Các mũi tiến công khác của quân chủ lực, quân địa phương tiến vào thành phố. Phối hợp với quần chúng nổi dậy, ngày 26-3, quân ta giải phóng hoàn toàn cố đô Huế. Lá cờ cách mạng nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng năm cánh tung bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn.

Thắng lợi nhanh, gọn của trận Trị – Thiên – Huế, trận then chốt tiêu diệt và làm tan rã Sư đoàn 1 từng được coi là sư đoàn thiện chiến của quân nguỵ, giải phóng cố đô, là một chiến thắng vang dội, giáng một đòn nặng vào âm mưu co cụm chiến lược của địch ở vùng ven biển miền Trung, uy hiếp nghiêm trọng Đà Nẵng, đẩy quân nguỵ vào thế nguy khốn, suy sụp không gì cứu vãn nổi.

Quân uỷ Trung ương gửi điện khen bộ đội Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II:

“Việc đánh chiếm và giải phóng thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và chính trị rất lớn. Chiến công đó làm cho nhân dân cả nước nức lòng phấn khởi, làm cho địch suy yếu thêm một bước mới hết sức nghiêm trọng. Các đồng chí đã góp phần làm rạng rỡ truyền thống đấu tranh anh dũng của quân và dân cả nước ta”.

***

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, ngày 26-3, Bộ Tổng tư lệnh cử anh Giáp Văn Cương làm phải viên của Bộ vào hướng Đà Nẵng trước để chuẩn bị. Tôi triệu tập các đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận Quảng Đà vừa được chỉ định, Nguyễn Bá Phát, Tư lệnh Hải quân, Cao Văn Khánh, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phan Bình, Cục trưởng Quân báo, Lê Hữu Đức, Cục trưởng Tác chiến và một số đồng chí khác bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng.

Vốn là một cán bộ chỉ huy giàu kinh nghiệm, anh Tấn đã chuẩn bị sẵn một phương án tác chiến.

Vào cuộc họp, tôi hỏi:

– Đánh Đà Nẵng, có thể diễn ra một trong hai tình huống: một là địch rút chạy, hai là chúng co cụm, “tử thủ”. Vậy ta nên đánh như thế nào?

Anh Tấn trả lời:

– Hiện nay, địch bố trí phòng ngự chuẩn bị “tử thủ” ở đây. Ta phải tổ chức hiệp đồng binh chủng để tiến công, bảo đảm chắc thắng. Cần có năm ngày để họp đảng uỷ, tập kết bộ đội và tổ chức hiệp đồng binh chủng, chuẩn bị chiến đấu.

Anh Tấn trải lên bàn một tấm bản đồ lớn, trên đó đã lên kế hoạch tiến công theo phương án chuẩn bị năm ngày, với những mũi tên rất to màu đỏ thể hiện các hướng tiến công, những trận địa hoả lực được khoanh từng cụm hướng vào các mục tiêu quân sự trong thành phố và vùng lân cận.

Trong khi mọi người đứng quanh bản đồ sôi nổi mạn đàm, trao đổi, tôi lại suy nghĩ khác hẳn. Địch kêu gọi “tử thủ”, nhưng tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch rút vẫn tồn tại. Vậy phải có phương án đánh thật nhanh, thực hiện đúng phương châm “khẩn trương, táo bạo, bất ngờ”.

Tôi quay sang anh Tống Trần Thuật, Cục phó Cục Quân báo.

Nếu địch rút Đà Nẵng thì nhanh nhất có thể rút trong mấy ngày? Các đồng chí nghiên cứu kỹ đêm nay, sáng mai báo cáo sớm.

6 giờ sáng ngày 27-3, mọi người đã có mặt tại Sở chỉ huy.

Anh Thuật báo cáo:

– Địch có thể rút nhanh nhất là trong ba ngày.

Còn anh Nguyễn Thanh, Trưởng phòng nghiên cứu địch tình, lại nói:

– Độ bốn, năm ngày ạ?

Không thể đồng ý với đề nghị của anh Tấn chuẩn bị chiến đấu năm ngày cũng như cách tính toán của anh Thanh, tôi phân tích ngắn, gọn, nêu rõ trong tình huống địch “tử thủ”, ta có thể chuẩn bị năm ngày, bảy ngày hoặc hơn nữa. Nhưng phải dự kiến tình hình đột biến, cần có kế hoạch đánh thật nhanh. Tôi chỉ thị làm kế hoạch đánh địch theo tình huống chúng rút trong ba ngay.

Anh Tấn vẫn giữ ý kiến, và trình bày:

– Đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp.

Tôi nói, giọng có phần gay gắt:

– Tư lệnh mặt trận là anh nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh: Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị ba ngày. Nếu chuẩn bị năm ngày, địch rút mất cả thì sao? Huế đã giải phóng rồi. Mặc dầu pháo binh và hải quân địch có thể bắn phá, cứ cho bộ đội hành quân theo đường số 1 tiến công thẳng vào Đà Nẵng. Từ phía nam cũng theo đường số 1 tiến công lên. Không họp đảng uỷ, chỉ trao đổi bằng điện.

Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi tỏ ra không bằng lòng với anh Lê Trọng Tấn, một trong những tư lệnh xuất sắc nhất của quân đội ta mà tôi luôn quý mến.

Anh Tấn không phát biểu thêm, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Sau này, anh đã đến gặp tôi, thân tình, cởi mở nhắc lại cuộc tranh cãi về phương án năm ngày và phương án ba ngày, rồi vui vẻ nhận khuyết điểm. Đúng là một con người trung thực, thẳng thắn, cương trực, đáng quý biết bao!

Tiếp đó, Thường trực Quân uỷ Trung ương gặp và giao nhiệm vụ cho Tư lệnh mặt trận Quảng Đà. Nhân danh Bí thư Quân uỷ, tôi chỉ thị: chiến tranh đã chuyển sang giai đoạn phát triển nhảy vọt. Bố trí của địch ở Đà Nẵng tuy chưa đảo lộn, mặc dù chúng kêu gọi “tử thủ”, nhưng tinh thần quân lính đang suy sụp, cần nắm vững phương châm: “táo bạo, bất ngờ, kip thời, chắc thắng”, khẩn trương tiến công, bao vây tiêu diệt địch, khống chế sân bay, hải cảng, chú ý làm tốt việc tiếp quản thành phố một triệu dân này, thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh và chính sách chiến lợi phẩm. Nhanh chóng tổ chức tăng cường lực lượng phát triển vào phía nam.

Tôi nhắc anh Tấn báo cáo đều đặn về Bộ, và chúc anh giành thắng lợi lớn.

Ngay lập tức, anh Tấn cấp tốc lên đường. Đi bằng máy bay lên thẳng vào Gio Linh, từ đó đi ô tô theo đường Trường Sơn đến Sở Chỉ huy Quân đoàn II, anh và các đồng chí cùng đi vào đặt sở chỉ huy ở phía tây Đà Nẵng.

Anh Chu Huy Mân lúc này đang ở Quảng Ngãi. Tôi điện cho anh Mân (đồng điện anh Võ Chí Công) thông báo quyết định của Bộ Chính trị thành lập mặt trận Quảng Đà, cử Bộ Tư lẹnh mặt trận. Anh Mân, Chính uỷ của mặt trận, giao lại nhiệm vụ đánh các mục tiêu ở Quân khu 5 cho bộ đội địa phương giải quyết, nhanh chóng tập trung bộ đội chủ lực theo đường số 1 đánh thẳng vào Đà Nẵng nhanh nhất, kịp thời nhất, tảo bạo nhất nhất, tôi đã có điện từ sau ngày địch rút Pleiku.

Tư lệnh và chính uỷ Mặt trận Quảng Đà làm việc với nhau bằng điện đài. Bộ Tổng Tham mưu được lệnh triển khai phương tiện thông tin liên lạc bám sát từng bước các lực lượng đã được điều động về mặt trận giúp Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà lãnh đạo, chỉ huy các hướng.

Trong bức điện số 1 ĐBTK đánh đi hồi 8 giờ 30 phút ngày 26-3 gửi anh Chu Huy Mân, anh Lê Trọng Tấn viết:

“Đánh Đà Nẵng nên:

– Hướng An (5) sẽ tiến công phía bắc và tây bắc theo đường số 1 qua đường 14.

– 711(6) từ tây nam lên, trước mắt diệt Lữ 369.

Đề nghị anh chuẩn bị cho Sư 2 và Lữ 52 đánh theo đường số 1 về Mỹ Khê (đông Đà Nẵng) bịt đường rút lui bằng đường thuỷ của địch”.

Điện trả lời của anh Mân viết:

“1. Nhất trí với ý định của “cậu Vũ”. (7)

2. Chúng tôi đã chuẩn bị cho Sư 2 và Lữ 52 tiến công từ hướng nam ra, đánh chủ yếu theo hướng núi Quế ra Vĩnh Điện, cánh thứ yếu theo đường Đèo Le qua núi Mạc ra đường 100 để phối hợp với lực lượng “cậu Vũ” từ ngoài đánh vào tiêu diệt địch ở Đà Nẵng.

3. Đang tích cực chuẩn bị, chậm nhất là 29-3 có một trận địa pháo có thể bắn vào núi Quế”.

Ngày hôm sau, 27-3, anh Tấn điện cho anh Mân:

“Phúc điện số 320 hồi 16 giờ của anh.

1. Hoàn toàn đồng ý về hướng tiến công, mục tiêu tiến công của Sư 2 và Lữ 52.

2. Lực lượng của An và một số sư của Hoà (8) tiến công theo hai trục:

– Mũi thứ nhất theo đường 14, Mũi Trâu, Lệ Mỹ vào sân bay chính.

– Mũi thứ hai từ Lăng Cô đến Hải Vân, Liên Chiểu, Nam ô. Đồng thời có đánh từ Lộc Mỹ lên đỉnh đèo Hải Vân diệt Lữ 258.

3. Lực lượng của 711 tiến công Trung đoàn 57 ở Đại Lộc và vòng đằng sau Lữ 369.

4. Pháo binh triển khai được một trận địa ở Mũi Trâu bắn vào sân bay chính, cảng Sơn Trà và tàu biển. Đề nghị cho triển khai nhanh một trận địa pháo nòng dài bắn vào sân bay Nước Mặn, nếu có pháo 85 càng tốt để đánh tàu biển bốc quân ở Mỹ Khê”.

Trong thời gian này, Thường vụ Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 họp mở rộng dưới sự chủ toạ của anh Võ Chí Công, quyết định phấn đấu trong thời gian ngắn giải phóng hoàn toàn địa bàn quân khu.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là tập trung toàn bộ lực lượng đẩy mạnh tốc độ tiến công tiêu diệt Sư đoàn 2 nguỵ, giải phóng thị xã Tam Kỳ và tỉnh Quảng Ngãi, tạo thế chia cắt và cô lập hoàn toàn quân địch, tạo bàn đạp vững chắc cho trận tiến công quyết định tiêu diệt tập đoàn phòng ngự cuối cùng của Quân đoàn I nguỵ ở Đà Nẵng.

***

Sau hội nghị ngày 25-3-1975, anh Lê Đức Thọ đề nghị và được Bộ Chính trị đồng ý vào chiến trường B2 cùng các anh Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

Anh Thọ lên đường vào ngày 28-3. Bằng mọi phương tiện máy bay, ô tô, kể cả xe ôm, anh khẩn trương vào chiến trường càng nhanh càng tốt. Trước lúc anh lên đường, tôi tranh thủ trao đổi về phương án thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng hoàn toàn mièn Nam trước khi mùa mưa tới.

Bộ Chính trị cũng quyết định thành lập Hội đồng chi viện miền Nam do anh Phạm Vàn Đồng làm Chủ tịch.

Hơn hai mươi năm trước đây, anh Đồng cũng đã chủ trì một hội đồng như vậy, huy động lực lượng cả nước chi viện chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi lịch sử.

Sù kiện ấy nay được lặp lại ở một trình độ cao hơn: động viên và tổ chúc sức mạnh to lớn của toàn dân, dốc sức của, sức người của hậu phương lớn miền Bắc khẩn trương chi viện tiền tuyến lớn miền Nam trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh, giành thắng lợi trọn vẹn.

18 giờ ngày 25-3-1975, Quân uỷ Trung ương gửi điện cho anh Trần Văn Trà và Quân uỷ miền Nam, đồng gửi anh Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục:

“Trên thực tế, cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta bắt đầu với chiến thắng Tây Nguyên và các chiến trường khác. Cuộc chiến đấu đã vào giai đoạn phát triển nhảy vọt như đã thông báo. Chiến thắng trên chiến trường Huế – Đà Nẵng và Nam Bộ làm cho địch suy sụp nhanh, tạo bước phát triển mới về quân sự, chính trị, đặc biệt trên chiến trường trọng điểm sẽ sớm hơn nhiều so với dự kiến của ta. Thời cơ lớn về chiến lược đã đến. Cần tranh thủ thời gian cao độ, tập trung lực lượng vào hướng trọng điểm, hành động táo bạo, bất ngờ, hoàn thành càng sớm càng tốt quyết tâm chiến lược lớn mà Bộ Chính trị đã đề ra.

Đã có chỉ thị cho anh Tuấn. Tình hình rất mới, trong cán bộ ta, nhiều khi nhận thức chưa chuyển biến kịp yêu cầu. Cần làm cho các cấp thông suốt hơn, tập trung lực lượng vào các mục tiêu chủ yếu. Thực hiện chiến lược ba quả đấm. Ký tên: Văn”.

19 giờ, Quân uỷ điện gửi anh Văn Tiến Dũng: “Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương vừa họp đánh giá tình hình, nhận định: chiến dịch B3 đạì thắng, cuộc Tổng tiến công chiến lược đã bắt đầu. Đây là bước ngoặt trong cục diện quân sự và chính trị ở miền Nam. Chiến tranh cách mạng đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Tình hình ở trọng điểm sẽ có bước phát triển mới nhanh hơn dự kiến nhiều, nhất là trong trường hợp ta tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở Huế và Đà Nẵng, đồng bàng sông Cửu Long. Thời cơ chiến lược lớn đã đến.

Cần nhanh chóng tập trung lực lượng vào phương hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, hoàn thành nhiệm vụ ở trọng điểm càng sớm càng tốt, có thể sớm hơn rất nhiều so với kế hoạch. Thời tiết đang tốt, kéo dài không có lợi. Bộ Chính trị quyét định:

a) Nhanh chóng tập trung ba sư đoàn chủ lực, các đơn vị binh khí, kỹ thuật chủ yếu về địa bàn Buôn Ma Thuột, sẵn sàng cơ động vào hướng trọng điểm, b) Giải phóng Bình Định (hướng đường 19) phát triển xuống Phú Yên, Khánh Hoà, Nha Tlang, Cam Ranh. Hướng đường số 7 chỉ dùng lực lượng địa phương phát triển xuống Tuy Hoà. Hướng đường 21, phát triển ra phía đông, tuỳ theo khả năng, nếu có thuận lợi mới thì xuống Nha Trang, Cam Ranh.

Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định mở mặt trận Đà Nẵng, thành lập Bộ Tư lệnh Quảng Đà.

Đã thành lập Hội đồng chi viện miền Nam do anh Tô(10) làm chủ tịch. Chúc anh Đinh (2) chóng hồi phục. Ký tên: Văn”.

***

Trở lại với chiến trường Đà Nẵng.

Trong buổi giao ban tối hôm ấy, tôi thấy cần tận dụng mọi lực lượng tiến công địch. Sư đoàn 304 sau khi đánh xong Thượng Đức, lực lượng bị tiêu hao, đang củng cố ở đây. Tôi điện trực tiếp cho sư đoàn: “Sư đoàn 304 phải bằng mọi cách tiến vào giải phóng Đà Nẵng. Lúc này mọi sự chậm trễ đều có tội”.

Bức điện vừa chuyển xong, tôi gọi dây nói chỉ thị cho anh Cao Văn Khánh điện ngay cho Quân đoàn II sau khi tiêu diệt các bộ phận địch còn chống cự, nhanh chóng tập trung lực lượng vào tiến công Đà Nẵng. Tôi cũng yêu cầu theo dõi, kiểm tra cuộc hành quân của Quân đoàn I (trừ Sư đoàn 308). Việc sử dụng Sư đoàn 308 ở lại miền Bắc làm nhiệm vụ dự bị chiến lược có gây thắc mắc trong các chiến sĩ Quân tiên phong. Ngày 26-3, đồng chí Hoàng Kim, Chính uỷ sư đoàn lên Bộ đề đạt nguyện vọng của sư đoàn xin được đi chiến đấu. Hiểu rõ tâm trạng của anh em 308, tôi thân mật căn dặn:

– Sư đoàn đang làm một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Hãy giài thích cho anh em hiểu thế nào là một sư đoàn cận vệ của cách mạng trong lúc này. Hãy chuẩn bị thật tốt để sẵn sàng hoàn thành bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần đến. Sư đoàn 308 đang phụ trách một hướng trọng yếu của trận quyết chiến chiến lược đó.

Tiếp theo Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên, trận Huế – Đà Nẵng là đòn tiến công chiến lược lớn thứ hai của ta đánh vào quân nguỵ. Huế đã giải phóng xong. Còn lại mục tiêu chủ yếu: Đà Nẵng.

Đà Nẵng là thành phố lớn thứ hai ở miền Nam Việt Nam. Đây là một căn cứ quân sự liên hợp rất mạnh, nơi đặt Sở chỉ huy của Vùng I chiến thuật, của Quân đoàn I nguỵ. Sân bay Đà Nẵng là một căn cứ không quân lớn. Đà Nẵng còn là một hải cảng có ý nghĩa quân sự và kinh tế quan trọng. Tháng 3-1965, những đơn vị đầu tiên của Mỹ đã đổ bộ vào Đà Nẵng, mở đầu thời kỳ Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” xâm lược miền Nam.

Tại đây, địch hiện có khoảng 10 vạn tên, trong đó có 15 tiểu đoàn chủ lực thuộc Sư đoàn 3 bộ binh, Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến và tàn quân của các sư đoàn 1, 2 của Liên đoàn biệt động quân, cùng với hàng chục tiểu đoàn bảo an, hàng trăm trung đội dân vệ, phòng vệ dân sự và 5.000 cảnh sát; Sư đoàn 1 không quân với 373 máy bay các loại, 7 tiểu đoàn pháo binh, Thiết đoàn 11 kỵ binh, một lực lượng hải quân nguỵ đóng ở quân cảng Đà Nẵng và vùng biển phụ cận.

Sau khi mất Huế, Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Ngô Quang Trưởng cố thủ Đà Nẵng bằng mọi giá, hòng chặn bước tiến của quân ta, hy vọng biến nơi đây thành bãi đổ bộ khi quân Mỹ quay lại ứng cứu. Tất nhiên, đối với Trưởng, mệnh lệnh “tử thủ” của Thiệu lần này không còn thiêng như trước nữa!

Từ đầu tháng 3-1975, trên chiến trường Khu 5, quân ta bắt đầu hoạt động có tác dụng kiềm chế, nghi binh: tiến công kho đạn Sủng Mây, đánh bãi xe Xuân Thiều, phá cầu Trắng ở gần Đà Nẵng. Sang trung tuần tháng 3, chấp hành lệnh của Bộ, Thường vụ Khu uỷ và Đảng uỷ Quân khu 5 chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt Sư đoàn 2 nguỵ, giải phóng toàn tỉnh Quảng Ngãi, giải phóng đại bộ phận nồng thôn tỉnh Quảng Đà. Các lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 5 dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của các anh Võ Chí Công, Chu Huy Mân đẩy mạnh tiến công và nổi dậy ở phía bắc quân khu, nhanh chóng tiến xuống đường số 1, khẩn trương chuẩn bị phát triển theo hướng từ Quảng Ngãi đến Đà Nẵng.

Trước sức uy hiếp của quân ta, địch rút khỏi Sơn Hà, Trà Bồng. Vùng giáp ranh của tỉnh Quảng Ngãi hoàn toàn giải phóng. Nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, phối hợp với bộ đội giải phóng thị xã Quảng Ngãi, thị xã Tam Kỳ, căn cứ Tuần Dưỡng, đánh chiếm căn cứ Chu Lai, tiêu diệt Sư đoàn 2 nguỵ, mở rộng vùng giải phóng ở tỉnh Quảng Đà, tạo điều kiện thuận lợi uy hiếp Đà Nẵng từ phía nam.

Ngày 27-3, ở phía bắc Đà Nẵng, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Quân đoàn II và một sư của Quân đoàn I phát triển tiến công trên hai hướng: từ đèo Mũi Trâu theo đường 14 tiến xuống phía tây bắc; từ Phú Lộc, theo đường số 1 đánh chiếm Thừa Lưu, Cầu Hai, Lăng Cô, đèo Hải Vân, áp sát thành phố từ phía bắc. Riêng Sư đoàn 304 được lệnh trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh và của quân đoàn khẩn trương chuyển sang tiến công Đà Nẵng từ hướng tây nam.

Cùng thời gian này, theo lệnh của Bộ, Sư đoàn 2, các lực lượng pháo binh, cao xạ, tăng, thiết giáp của Quân khu 5 dưới sự chỉ huy trực tiếp của anh Chu Huy Mân, bỏ qua các mục tiêu dọc đường, tiến thẳng về Đà Nẵng.

Pháo binh của quân ta bắt đầu nã đạn, khống chế hai cảng và sân bay.

Trước tình hình nguy khốn, Ngô Quang Trưởng huỷ bỏ kế hoạch rút Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến về Sài Gòn, thu thập binh lính cố thủ Đà Nẵng. Nhưng quá muộn! Đà Nẵng đã rơi vào tình trạng hỗn loạn. Tuy quân số địch còn đông, nhưng binh lính đã mất tinh thần. Tân binh đào ngũ từng mảng. Bọn chỉ huy hốt hoảng, chỉ lo đưa vợ con tìm đường trốn chạy. Hàng vạn dân từ Huế ào vào càng làm cho thành phố hỗn loạn thêm.

Sau khi nghe Cục Quân báo báo cáo tình hình mới nhất, tôi điện tiếp cho Quân đoàn II: “Địch ở Đà Nẵng đang rối loạn. Canh sát thôi làm việc. Chúng đã ra lệnh rút trung đoàn ở núi Quế và phá công sự. Cần nhanh chóng tiến đánh Đà Nẵng. Nếu có hiện tượng địch rút thì phải lập tức đánh tràn tới. Nếu chúng co cụm và cố thủ thì bao vây thật chặt, đánh ghìm chân không cho rút. Đồng thời tập trung lực lượng theo hướng đường 14 và đường 1, tiêu diệt địch, chiếm khu vực tây và tây bắc thành phố, thọc sâu vào cầu Trịnh Minh Thế, chặn đường rút của địch qua bán đảo Sơn Trà. Ký tên: Văn”.

Cũng trong ngày 27-3, đồng chí Bí thư thứ nhất điện cho các anh Võ Chí Công và Chu Huy Mân:… “Chiến thắng oanh liệt ở Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên đã tạo ra thời cơ giải phóng Đà Nẵng. Ta phải tập trung lực lượng từ hai phía, từ Thừa Thiên – Huế đánh vào và từ Nam – Ngãi đánh ra, nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch ở Đà Nẵng, không cho chúng rút chạy để co cụm về giữ Sài Gòn.

Trong lúc này, thời gian là lực lượng. Phải hành động hết sức táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay.

Các anh cần sử dụng ngay lực lượng của quân khu và của tỉnh đánh thẳng vào Đà Nẵng. Phải có biện pháp đặc biệt để hành quân nhanh nhất, kịp thời khống chế, chiếm lĩnh các sân bay, bến cảng, bao vây, chia cắt để tiêu diệt địch.

Phải nhanh chóng phát động quần chúng vũ trang nổi dậy, đập tan các lực lượng kìm kẹp ở cơ sở, chiếm lĩnh các công sở, kho tàng, nhà máy, thành lập chính quyền cách mạng và sáp vào vận động binh sĩ địch bỏ súng đầu hàng, làm tan rã các đơn vị quân nguỵ.

Các binh đoàn chủ lực phía Bắc đã có kế hoạch hành quân nhanh nhất để kịp thời hiệp đồng với cánh quân phía nam. Các anh hành động ngay, không chậm trễ.

Ký tên: Ba” (11)

Các chỉ thị, mệnh lệnh trên đây đều được chấp hành triệt để và nhanh chóng.

Tại Tổng hành dinh, các cán bộ tác chiến, quân báo, thông tin, cơ yếu. làm việc suốt ngày đêm. Tin chiến thắng dồn dập báo về cổ vũ mọi người làm việc hăng say, quên ăn, quên ngủ.

Sáng ngày 28-3, tôi triệu tập đồng chí Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh, lúc này là phái viên của Bộ Tổng Tham mưu, kiểm tra tình hình triển khai sử dụng hoả lực.

Tôi hỏi:

– Pháo của ta đã đến đâu rồi?

Đồng chí Tuế báo cáo:

– Mới có một tiểu đoàn của Quân khu 5 bắn vào sân bay Đà Nẵng. Pháo của Quân đoàn II mới có hai đại đội vào đến đèo Mũi Trâu.

Việc triển khai pháo binh chiến dịch như vậy là chậm.

Tôi chỉ thị bố trí ngay pháo ở đèo Mũi Trâu để chế áp sân bay Đà Nẵng, đưa tiếp pháo của Quân đoàn II lên đèo Hải Vân để bắn sang Sơn Trà. Điều ngay toàn bộ lực lượng pháo binh mặt trận lên tham gia tiến công.

Kết quả là đến 17 giờ ngày hôm ấy, tất cả các đơn vị pháo của Quân đoàn II và Quân khu 5, sau khi tổ chức xong trận địa, bắt đầu nã đạn vào Đà Nẵng. Trận pháo kích lớn diễn ra vào sáng hôm sau, 29-3: 30 khẩu pháo cỡ lớn của ta dồn dập bắn vào Sở chỉ huy Quân đoàn I nguỵ, sân bay Đà Nẵng, cảng Mỹ Khê, bán đảo Sơn Trà, sân bay Nước Mặn, từ 5 giờ đến 10 giờ sáng. Sau đó, pháo chuyển làn bắn ra mép nước, ngăn chặn không cho tàu địch vào bốc bọn tàn quân.

Bộ Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà báo cáo: ngày 29-3-1975 quân ta tiến công vào Đà Nẵng từ nhiều hướng: Quân đoàn II trên các hướng bắc, tây bắc và tây nam. Sư đoàn 2 Quân khu 5 trên các hướng nam và đông nam. Được các lực lượng biệt động, tự vệ, du kích bí mật và quần chúng hỗ trợ, cả hai cánh quân cùng tiến công vào thành phố. Một số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ ta bị địch bắt giam ở Non Nước phá nhà lao thoát ra ngoài, tham gia đánh địch. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Quảng Đà và Thành uỷ Đà Nẵng, quần chúng nổi dạy. Đồng bào tự động đưa xe đò, xe lam, xe máy chở bộ đội ta tiến nhanh vào thành phố, mang cơm nước quà bánh tiếp tế cho bộ đội. Bộ đội chủ lực không quen thuộc địa hình thì đã có các chiến sĩ tự vệ dẫn đường. Nơi nào mà chủ lực chưa tới kịp, thì các lực lượng biệt động, tự vệ và du kích kết hợp với cơ sở bí mật đã kịp thời đánh chiếm. Công nhân bảo vệ sân bay, bến cảng, nhà máy, nhân dân phối hợp cùng bộ đội kêu gọi binh sĩ địch ra hàng.

Có tin Tổng thống Mỹ tuyên bố đưa hải quân đến cứu viện Đà Nẵng. Qua phân tích tình hình, tôi điện cho anh Tấn, anh Mân, anh Phạm Hùng và Quân đoàn II:

“Pho tuyên bố dùng tàu LST vào Đà Nẵng là để trấn an dư luận, cũng có thể để cứu bọn nguỵ ở bán đảo Sơn Trà. Khả năng hành động của không quân nguỵ ít. Khả năng không quân Mỹ can thiệp càng ít hơn. Nhưng ta vẫn phải đề phòng”.

Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Tàu Mỹ đến cứu bọn nguỵ chạy trốn, nhưng đậu cách xa bờ, gây cảnh chen chúc hỗn loạn, nhiều người rơi xuống biển. Máy bay trực thăng Mỹ đến đón cố vấn Mỹ và những tên đầu sỏ, bị hàng ngàn binh lính và dân di tản ùa lên, phải cất cánh bay đi, nhiều người bám ở bên ngoài máy bay rơi từ trên không xuống.

Chỉ trong vòng 32 giờ quân ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế trong căn cú liên hợp, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và thị xã Hội An, tiêu diệt và làm tan rã hơn 10 vạn tên trong bộ máy quân sự và hành chính của nguỵ ở đây.

Trưa ngày 29-3, anh Nguyễn Thanh vào báo cáo tình hình địch. Nhớ lại buổi giao nhiệm vụ cho anh Lê Trọng Tấn, tôi nói vui:

– Đáng lẽ tôi cho cậu 5 điểm(12) nhưng chỉ cho 3 điểm thôi, vì đánh Đà Nẵng chỉ mất có ba ngày.

Đòn tiến công chiến lược thứ hai đã được hoàn thành xuất sắc.

Lại một bước nhay vọt mới của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong mùa Xuân lịch sử.

***

Cuộc tiến công giải phóng Huế – Đà Nẵng do Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy được hình thành trong quá trình thực hiện cuộc Tổng tiến công chiến lược, nhanh chóng phát triển thành một chiến dịch quy mô lớn có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Tiếp theo chiến thắng Tây Nguyên, chiến thắng vang dội Huế – Đà Nẵng đã đập tan ý định co cụm chiến lược của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực chủ yếu của chúng, làm thay đổi căn ban so sánh lực lượng hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy quân nguỵ sụp đổ nhanh chóng, mở ra triển vọng rất thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Qua chiến đấu, bộ đội ta trưởng thành vượt bậc. Rất nhiều tấm gương tích cực chấp hành mệnh lệnh, chiến đấu anh dũng, mưu trí, táo bạo xuất hiện trong cán bộ, chiến sĩ nhất là ở cánh quân phía bắc của các đồng chí Nguyễn Hữu An, Lê Linh, Hoàng Đan và cánh quân phía nam của đồng chí Nguyễn Chơn.

Ngày 1-4, Quân uỷ gửi điện khen bộ đội Mặt trận Quảng Đà: “Quân uỷ Trung ương nhiệt hệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên các lực lượng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, tự vệ Mặt trận Quảng Đà đã triệt đế chấp hành mệnh lệnh, hành động táo bạo và kịp thời, phối hợp với nhân dân, trong một thời gian rất ngắn, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, giải phóng toàn tỉnh Quảng Đà, đặc biệt thành phố Đà Nẵng là một căn cứ quân sự quan trọng bậc nhất của địch ở miền Nam Việt Nam.
Quân uỷ Trung ương tuyên dương công trạng các đồng chí trong toàn quân về chiến công chói lọi đã lập được Ký tên: Văn”.

Chiến thắng Huế – Đà Nẵng cổ vũ mạnh mẽ hậu phương lớn và tiền tuyến lớn. Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ nhiệt liệt khen ngợi và tặng thưởng bộ đội và nhân dân vừa lập chiến công lớn nhiều huân chương cao quý.

Khí thế tiến công trào dâng từ Bắc chí Nam.

Bao giờ cũng vậy, như đã thành thói quen, mỗi lần thắng lớn, tôi lại nhớ tới lời dạy của Bác Hồ: “Tháng lợi tuy lớn, nhưng mới chỉ là buớc đầu. Các chú không được chủ quan, khinh địch”.

Cuộc chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam đang còn ở phía trước. Càng đến gần sào huyệt, quân địch tất sẽ càng phản ứng quyết liệt hơn. Ngay ngày hôm sau, 30-3, một đoàn cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, được cử ngay vào Đà Nẵng nghiên cứu rút kinh nghiệm tại chỗ về cách đánh của bộ đội chủ lực kết hợp với quần chúng nổi dậy ở một thành phố lớn, chuẩn bị cho trận đánh quyết định sắp diễn ra.

***

Khí thế tiến công, nổi dậy của quân và dân ta trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh càng sôi động bao nhiêu, thì các tư liệu được công bố sau này cho thấy cảnh tượng của phía đối phương lúc này càng ảm đạm bấy nhiêu.

Vào đúng thời điểm nguy kịch nhất, Nguyễn Văn Thiệu nhận được bức thư đề ngày 22-3-1975 của người đứng đầu Nhà Trắng ở Hoa Thịnh Đốn:

“Ngài Tổng thống Thiệu thân mến, Cuộc tiến công của quân Bắc Việt hiện nay đối với đất nước ngài là một điều vô cùng phiền phức và là nỗi đau khổ của mọi người.

Đối với Hoa Kỳ, vấn đề cũng không kém phần nguy ngập. Người Mỹ cũng bị thử thách khi họ quyết tâm giúp đỡ một người bạn đang bị các lực lượng vũ trang hiện đại tấn công. Riêng tôi, tôi quyết định rằng người Mỹ sẽ bao vệ Việt Nam trong giờ phút quyết định này với ý định thực hiện đúng trách nhiệm của Hoa Kỳ trong hoàn canh này. Tôi vẫn theo dõi những diễn biến một cách sát sao và bàn bạc khẩn cấp với các cố vấn của tôi về những việc làm mà hoàn cảnh đòi hỏi và pháp luật cho phép. Ký tên: Giêrôn Pho”(13), cũng vẫn cái giọng chung chung, mơ hồ, không có gì cụ thể! Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng, mà lá thư đánh đi bằng điện mật, sau khi giải mã, vẫn lạnh như tiền! Hơn nữa, cụm từ “pháp luật cho phép” dội thêm một gáo nước lạnh vào chính quyền Thiệu, vì ai cũng biết, ngay từ hồi Níchxơn còn ngồi tại Nhà Trắng, mối quan hệ giữa Tổng thống và Quốc hội về cuộc chiến tranh Việt Nam không lấy gì làm suôn sẻ! Ngày 30-11-1974, đạo luật về Quyền hạn của tổng thống trong thời gian chiến tranh (viết tắt là WPA) đã ra đời, quy định rõ tổng thống phải thảo luận trước với Quốc hội về bất cứ hành động quân sự nào sắp tiến hành và trong vòng 48 giờ phải tường trình chi tiết về hành động quân sự ấy.

Lúc này, rõ ràng Tổng thống Pho không thể hành động mà không được sự chấp nhận của Quốc hội. Mà Quốc hội thì đang chuẩn bị nghỉ lễ phục sinh, mọi công việc đều gác lại.

Mặc dù chán nản và tuyệt vọng, Thiệu vẫn gửi đi vào tối hôm sau một lời kêu cứu:

“Thưa ngài tổng thống, Vào giờ phút quyết định này, khi Nam Việt Nam đang lâm nguy và hoà bình đang bị đe doạ nghiêm trọng, vì lẽ đó tôi trân trọng khẩn cầu Chính phủ Hoa Kỳ hãy thực hiện lời hứa. Một là, hạ lệnh tiến hành một cuộc oanh tạc ngắn hạn bằng máy bay B52 tập trung vào những điểm đóng quân và căn cứ hậu cần của kẻ thù trong khu vực thuộc Nam Việt Nam. Hai là, khẩn cấp viện trợ những phương tiện cần thiết để ngăn chặn và đẩy lùi cuộc tấn công.

Kính thưa ngài tổng thống,

Một lần nữa, tôi xin khẩn cầu ngài, khẩn cầu chữ Tín trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, và đặc biệt khẩn cầu lương tâm của nước Mỹ. Tôi xin đa tạ quyết tâm thực hiện trọn vẹn lời hứa đó bằng hành động cụ thể của ngài.

Trân trọng kính chào, Nguyễn Văn Thiệu”(14).

Tất nhiên, lời van xin của Thiệu rơi vào im lặng. Bức thư ngày 22-3 là bức thư cuối cùng của Pho gửi cho Thiệu. Tác dụng của nó cũng giống như một liều thuốc an thần đã quá hạn, không còn giúp gì được bệnh nhân đang thập tử nhất sinh.

Mặc dù, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Sơlétxinhgiơ nêu lên giải pháp duy nhất còn lại lúc này là ném bom nguyên tử. Vị tổng thống được đưa lên sau vụ bê bối Oatơghết ở vào một tình thế khó xử: Ném bom bằng B52 thì bị Quốc hội cấm. Dùng bom nguyên tử thì lại càng không dám nghĩ tới. Pho không thể làm gì hơn là bỏ đi đánh “gôn” suốt cả tuần.

Đà Nẵng thất thủ đúng vào dịp lễ phục sinh.

Đối với Mỹ, Đà Nẵng không còn là vị trí chiến lược quan trọng nữa. Tuy nhiên, cũng đã có một “hạm đội” được gửi tới Đà Nẵng. Đó là một mớ hỗn tạp gồm 20 chiếc tàu vận tải và tàu kéo của Nhật cùng ba tàu chiến nhỏ của Mỹ đến để di tản cố vấn Mỹ, viên chức nguỵ và những người hoảng loạn đang tháo chạy lấy thân, trong đó có tướng Ngô Quang Trưởng.

Chú thích:

(1) Kế hoạch tiến công giải phóng toàn bộ Quảng Trị: Thừa Thiên và thành phố Huế
(2) Do tình hình khẩn trương, sau này anh Tấn không đi.
(3) Chốt.
(4) Tiến hành.
(5) Hướng Quân đoàn II (Tư lệnh Nguyễn Hữu An).
(6) Phiên hiệu mật của Sư đoàn 304.
(7) Mật danh của Bộ Tổng tư lệnh.
(8) Quân đoàn I (Tư lệnh Nguyễn Hoà).
(9) Đồng chí Phạm Văn Đồng.
(10) Đồng chí Đinh Đức Thiện.
(11) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nhà xuất bản. Sự thật, Hà Nội. 1985, tr. 381-382.
(12) Theo cách cho điểm của Liên Xô.
(13) Nguyễn Tiến Hưng và Jérold Schecter: Từ Toà Bạch Ốc đến dinh Độc lập, Nhà xuất bản. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr.38.
(14) Nguyễn Tiến Hưng và Jérold Schecter: Từ Toà Bạch Ốc đến dinh Độc lập, Nhà xuất bản. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr.391.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

Đoàn thể thao Điện tử – Tổng cục Thể dục Thể thao Việt Nam báo công dâng Bác

Sáng ngày 03/4/2013 tại Quảng trường Ba Đình đã diễn ra buổi Lễ báo công của Đoàn thể thao Điện tử – Tổng cục Thể dục Thể thao Việt Nam.

báo công 1
Đoàn thể thao Điện tử – Tổng cục Thể dục thể thao Việt Nam báo công trước Lăng Bác

Tham dự buổi lễ báo công có các đồng chí trong ban lãnh đạo và các vận động viên của Đoàn. Ra đời từ tháng 3 năm 2009, Hội Thể thao Điện tử Giải trí Việt Nam VIRESA đã đánh dấu một bước chuyển mình cho nền thể thao điện tử nước nhà. Bằng quá trình luyện tập đúng đắn và bài bản, kết hợp với sự hỗ trợ to lớn từ Hội Thể thao điện tử Việt Nam VIRESA phối hợp với các doanh nghiệp như VTC, các vận động viên Thể thao điện tử Việt Nam đã đạt nhiều thành tích cao tại các giải đấu lớn như VEC năm 2009, 2011, 2012. Ngoài ra, nhiều vận động viên còn đem đến niềm tự hào cho màu cờ sắc áo Việt Nam khi tham dự và giành nhiều giải thưởng danh giá tại các đấu trường quốc tế. Tiêu biểu trong đó là:

– Đội tuyển StarBoBa dành Huy chương Vàng tại Đại hội Thể thao Châu Á trong nhà lần thứ 3 (AIG 3) được tổ chức tại Việt Nam, tháng 11/2009. Cũng tại Giải đấu này, đoàn vận động viên Thể thao điện tử Việt Nam đã đạt thành tích 01 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc và 02 Huy chương Đồng, xếp thứ 3 toàn đoàn ở nội dung Thể thao điện tử và đóng góp vào vị trí quốc gia trên bảng tổng sắp huy chương, từ đó đội tuyển Thể thao điện tử Việt Nam đã chứng minh đây là môn thể thao có tính chất trí tuệ cao và chính thức đi vào con đường chuyên nghiệp.

Vận động viên FIFA Online 2 Tô Trung Hiếu đã có hai năm liên tiếp vô địch WCG Châu Á để từ đó tháng 10/2011, Hiếu đã trở thành vận động viên Thể thao điện tử đầu tiên tại Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ trao tặng Bằng khen về những thành tích đóng góp cho nền thể thao nước nhà. Cùng với đó, Tô Trung Hiếu còn được Hội Thể thao Điện tử Giải trí Việt Nam đề nghị Tổng cục Thể dục Thể thao phong cấp kiện tướng.

Các vận động viên bộ môn Đột Kích Phạm Hoàng Anh Tuấn, Nghiêm Phú Thuận, Hoàng Thiện Trí, Vũ Tiến Sơn, Nguyễn Đình Kiên giành hạng Nhì thế giới World Cyber Game năm 2012 tại Côn Sơn Trung Quốc.

Các vận động viên bộ môn Phi Đội Nguyễn Tường Khoa, Trần Bỉnh Nam, Phạm Hồng Phúc giành hạng Nhì Giải vô địch thể thao điện tử Châu Á tại Malaysia (GNGWC) năm 2012.

Các vận động viên FIFA Online 2 Việt Nam như Nguyễn Thái Bảo, Nguyễn Lê Thanh Tòng, Phạm Minh Đức, Nguyễn Lê Tuấn Anh đã khẳng định được tài năng khi lần lượt chinh phục tất cả các thứ hạng cao nhất tại Giải One Asia Cup 2012…

Thành công của Thể thao điện tử đã đánh dấu một hướng đi mới cho thể thao Việt Nam trong giai đoạn bùng nổ về công nghệ thông tin – một bộ môn thể thao mới đã được ra đưa vào giảng dạy, rèn luyện thể lực, trí lực cho giới trẻ, giúp Việt Nam tiếp cận và hòa nhập với trào lưu của thế giới.

báo công 2
Đoàn vào Lăng viếng Bác

Với những thành tích đạt được, thay mặt các vận động viên đồng chí Nguyễn Duy Quỳnh – Trưởng phòng nhân sự Đoàn Thể thao Điện tử đã hứa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ không ngừng nỗ lực, nâng cao chuyên môn để đạt thêm nhiều thành tích nhiều hơn nữa và mang vinh quang về cho Tổ quốc, góp phần đưa nền thể thao điện tử Việt Nam ngày càng phát triển sánh ngang cùng các cường quốc trên thế giới.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Những hoạt động của tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hưởng ứng Tháng Thanh niên 2013

Hưởng ứng Tháng Thanh niên năm 2013 và kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2013), tuổi trẻ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều hoạt động thi đua sôi nổi, với tinh thần xung kích, sáng tạo và mang đậm màu sắc thanh niên. Đại tá Nguyễn Văn Lâm, Phó Chủ nhiệm Chính trị cho biết: “Chuẩn bị cho các hoạt động của Tháng Thanh niên, ngay sau khi kết thúc kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Quý Tỵ, Phòng Chính trị đã hướng dẫn các cơ quan, đơn vị và tổ chức cơ sở Đoàn xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện ở các tổ chức cơ sở Đoàn. Nét mới của hoạt động Tháng Thanh niên năm nay đó là hướng về cơ sở, tổ chức các hoạt động ở cơ sở để đẩy mạnh phong trào thi đua xung kích của tuổi trẻ vào thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị chính quy và rèn luyện kỷ luật, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng, thu hút đoàn viên thanh niên tham gia”. Từ định hướng 3 nội dung trọng tâm trên, các tổ chức Đoàn các cấp trong đơn vị đã xây dựng nhiều chương trình hoạt động với những cách làm mới, sáng tạo để tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh như: Diễn đàn thanh niên với chủ đề “Viết tiếp truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh”, tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội thi tìm hiểu lịch sử truyền thống vẻ vang của Đoàn, tạo không khí thi đua phấn khởi, sôi nổi trong đoàn viên thanh niên.

tuoi-tre-bo-tu-lenhBuổi giao lưu văn nghệ ấm áp giữa Đoàn 285- Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Câu lạc bộ Tiếng hát Thương binh thủ đô

Ngoài việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, các tổ chức Đoàn đã phát động, khuyến khích đoàn viên thanh niên đăng ký thực hiện các công trình, phần việc thanh niên với phương châm: “Mỗi đoàn viên một hành động, mỗi chi đoàn một hoạt động, mỗi tổ chức Đoàn một công trình thanh niên”, trong đó phấn đấu mỗi chi Đoàn có ít nhất 01 công trình hoặc phần việc thanh niên có ý nghĩa thiết thực; từng cán bộ, đoàn viên thanh niên có sáng kiến, chủ động đề xuất, hiến kế, việc làm cụ thể góp phần nâng cao chất lượng học tập, công tác, huấn luyện, lao động sản xuất.

Thiếu úy Trần Xuân Trọng, Bí thư Đoàn cơ sở 275 phấn khởi cho biết: “Trong Tháng Thanh niên, Đoàn cơ sở 275 đã làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền về ý nghĩa, mục đích và yêu cầu hoạt động của Đoàn cơ sở trong Tháng 3-Tháng Thanh niên. 100% đoàn viên thanh niên đăng ký thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghi lễ, bảo đảm an ninh, sẵn sàng chiến đấu, đồng thời Đoàn cơ sở tổ chức sôi nổi các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao tạo sân chơi bổ ích cho đoàn viên thanh niên tham gia như ngày hội “thanh niên khỏe”, “ngày lao động thanh niên”, đêm liên hoan văn nghệ với chủ đề “Khát vọng tuổi trẻ”… Những hoạt động đó đã tạo nên bầu không khí sôi nổi, vui tươi, phấn khởi, đoàn kết và quyết tấm thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.

Là đơn vị đóng quân ở nhiều địa bàn, khu dân cư khác nhau, để tăng cường mối đoàn kết gắn bó giữa đơn vị và chính quyền, nhân dân địa phương, Ban Chấp hành Đoàn ở cơ sở đã tích cực tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy đơn vị và tổ chức tốt các hoạt động giao lưu kết nghĩa với chi Đoàn địa phương. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư chi Đoàn cơ sở 595 cho biết, trong Tháng Thanh niên, chi Đoàn cơ sở 595 đã phối hợp với Đoàn xã Xuân Đỉnh tổ chức tốt hoạt động giao lưu, kết nghĩa như: Thi đấu bóng đá mini, giao lưu văn hóa văn nghệ, tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Chi Đoàn cơ sở 195 phối hợp chặt chẽ với Đoàn phường Thụy Khuê và Trường Mầm non Chu Văn An tổ chức tốt các hoạt động chăm sóc thiếu niên, nhi đồng. Những hoạt động đó đã tạo điều kiện cho đoàn viên thanh niên của hai đơn vị học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp tốt trong công tác.

Gặp gỡ, trao đổi với Thiếu tá Nguyễn Gia Chinh, Trưởng ban Ban Chính trị Đoàn 285, chúng tôi được biết, trong Tháng Thanh niên 2013, Đoàn cơ sở đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động của phong trào thanh niên đơn vị. Trong đó, chi Đoàn Trung tâm Huấn luyện đã làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền cho đoàn viên thanh niên là chiến sĩ mới nhập ngũ vào đơn vị nắm chắc nhiệm vụ, truyền thống của đơn vị, truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Tổ chức tọa đàm, giao lưu giữa chiến sĩ mới với các cá nhân điển hình tiên tiến trong Đoàn 285 để chia sẻ những kinh nghiệm trong công tác, giúp cho chiến sĩ mới yên tâm, gắn bó với nhiệm vụ được giao.

tuoi-tre-bo-tu-lenhBuổi giao lưu mang tên “Tâm sự chiến sĩ trẻ” diễn ra vào đúng ngày 26 tháng 3 năm 2013  

Hoạt động Tháng Thanh niên 2013 và kỷ niệm 82 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là hoạt động trọng tâm của công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm 2013, thể hiện sức trẻ, vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, Chương trình hành động Đại hội Đoàn các cấp, trực tiếp góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện. Với những kết quả hoạt động mà cán bộ, đoàn viên thanh niên Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai thực hiện trong Tháng Thanh niên 2013, thực sự là những đóng góp không nhỏ, góp phần giáo dục, động viên thanh niên thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và là tiền đề để triển khai tổ chức tốt các hoạt động thi đua trong thời gian tới.

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Nhìn lại chặng đường 32 năm xây dựng và trưởng thành

Ngày 04/4/1981, Bộ Tổng Tham mưu trong Quân Đội nhân dân Việt Nam ban hành Quyết định về biên chế Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó Văn phòng là cơ quan trực thuộc biên chế của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 07/12/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định về việc đổi tên Ban phụ trách Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình thành Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thành lập Văn phòng để giúp Ban thực hiện nhiệm vụ được giao.

Ngày 01/4/2008, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 37/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó quy định Văn phòng là tổ chức trực thuộc Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cơ quan Văn phòng được thành lập để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặc biệt, thực hiện cơ quan Văn phòng ba chức năng: Tham mưu, tổng hợp, tiếp nhận xử lý, cung cấp thông tin và hành chính của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc của Ban Quản lý Lăng và Ban Chỉ đạo phối hợp hoạt động Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình; là cơ quan chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác đối ngoại, đón tiếp tuyên truyền, công tác văn thư, lưu trữ, bảo mật trong Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; công tác kế hoạch, tài chính, tổ chức cán bộ và công tác pháp chế và thi đua, khen thưởng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và là trung tâm phối hợp hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình và các Bộ, ngành, địa phương tạo sự đồng thuận, ủng hộ trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

111Đại tá Nguyễn Trọng Khánh – Phó Tư lệnh – TMT

tặng hoa chúc mừng kỷ niệm 32 năm Ngày truyền thống cơ quan Văn phòng

2Đại diện Khối thi đua các Phòng tặng hoa chúc mừng kỷ niệm 32 năm Ngày truyền thống cơ quan Văn phòng

Trong 32 năm qua, với tinh thần đoàn kết, luôn phát huy truyền thống “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo”, toàn thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ, công chức, viên chức đã khắc phục mọi khó khăn vươn lên hoàn thành toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị thường xuyên và đột xuất; trong đó nhiệm vụ chính trị trọng tâm luôn hoàn thành xuất sắc.

Song song với quá trình thực hiện nhiệm vụ, cơ quan Văn phòng thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan vững mạnh toàn diện, là một trong những Đảng bộ tiêu biểu trong Đảng bộ Đoàn 969; gương mẫu đi đầu trong việc xây dựng chính quy, nghiêm cách; trong việc bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ. Do đó, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân và nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Công trình Lăng của Người.

Với những thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ, cơ quan Văn phòng đã được tặng thưởng nhiều phần thưởng: Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2011), Cờ thi đua của Chính phủ (năm 2011), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (năm 2000), Bằng khen của Bộ Quốc phòng (năm 1982, 2007, 2012), 7 năm liên tục (2006-2012) cơ quan đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng, Cờ thi đua là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của Ban Quản lý Lăng; Đảng bộ đạt tiêu chuẩn TSVM, được Ban Thường vụ Quân uỷ Trung ương tặng Cờ tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh tiêu biểu” 5 năm liền (năm 2006-2010).

Để tiếp tục phát huy những kết quả, thành tích đạt được trong những năm qua và trước yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặc biệt của đơn vị trong giai đoạn mới, cơ quan xác định những nội dung trọng tâm đó là: tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác công tác phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc các lực lượng theo chức năng, thực hiện tốt công tác phối hợp triển khai thực hiện các nội dung của Đề án 2341; tổ chức tốt công tác phối hợp hiệp đồng với các lực lượng phục vụ lễ viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, sinh hoạt văn hóa chính trị chu đáo, an toàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tại khu vực Lăng góp phần phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới; tích cực phối hợp với Viện 69 thực hiện Kế hoạch hợp tác 5 năm (2011-2015) với Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Matxcơva; thực hiện tốt công tác tham mưu, đề xuất giúp Trưởng ban Ban Quản lý Lăng phân bổ chỉ tiêu kế hoạch ngân sách nhà nước cho các lực lượng sát với yêu cầu nhiệm vụ và sử dụng hiệu quả kinh phí cho các dự án; tham mưu, đề xuất với Thường vụ, Đảng ủy Đoàn 969, Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng về kiện toàn, nâng cao chất lượng công tác quản lý cán bộ công chức, viên chức nhà nước và người lao động trong Ban Quản lý Lăng; duy trì nền nếp, hiệu quả công tác pháp chế và thi đua, khen thưởng, thực hiện tốt vai trò Khối trưởng Khối thi đua các Bộ, ngành Nội chính Trung ương và hoạt động của Trang tin điện tử; tổ chức tốt nhiệm vụ canh gác bảo đảm an toàn tuyệt đối cơ quan Bộ Tư lệnh; công tác văn thư, bảo mật, lưu trữ, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định, nhất là quy định về quản lý văn bản hành chính; tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ các cơ quan, đơn vị.

3
4
Đại tá Trần Trọng Thủy – Chánh Văn phòng tặng Giấy khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích trong phong trào thi đua quý I năm 2013

Bên cạnh đó, tích cực đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng. Chủ động nắm và giải quyết kịp thời diễn biến tư tưởng của cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và động viên họ phát huy tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tổ chức tốt các đợt sinh hoạt chính trị nhân các ngày kỷ niệm trong năm và ngày truyền thống của đơn vị. Duy trì nề nếp và tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua, tích cực đổi mới nội dung, hình thức phù hợp với từng bộ phận và đối tượng trong cơ quan, tạo không khí sôi nổi, phấn khởi, đoàn kết thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Đảng ủy Đoàn 969 về “Tăng cường lãnh đạo công tác xây dựng điển hình tiên tiến trong Đảng bộ Đoàn 969”. Đặc biệt, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ ngành và kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc, phối thuộc trong Ban Quản lý Lăng, tập trung xây dựng Đảng bộ, chi bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị thường xuyên và đột xuất, xây dựng cơ quan nề nếp, chính quy; hoàn thành toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị thường xuyên và đột xuất; trong đó nhiệm vụ đón tiếp tuyên truyền hoàn thành xuất sắc, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tham mưu, đề xuất với Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng các chủ trương, biện pháp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị; tổ chức triển khai thực hiện tốt các nội dung của Đề án “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới”; xây dựng cơ quan vững mạnh toàn diện, chú trọng xây dựng nề nếp chính quy và phong trào thi đua quyết thắng, phong trào thi đua yêu nước; giữ vững thành tích đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của Bộ Tư lệnh và Ban Quản lý Lăng./.

Ngọc Hảo
bqllang.gov.vn

Ngày 29 tháng 6 – “Dân ta rất tốt, bộ đội anh dũng…”

123th Anniversary of Uncle Ho

Thứ hai, 29/06/2009, 01:34 (GMT+7)

Cách đây 74 năm, ngày 29-6-1935, báo cáo của Trưởng phòng Đông Dương Vera Vassilieva gửi Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, trình bày hoàn cảnh của Nguyễn Ái Quốc một năm sau khi thoát khỏi nhà tù của đế quốc Anh ở Hồng Công:“Tháng 6-1934, Nguyễn Ái Quốc đến Mátxcơva. Qua lời kể của đồng chí thì khó xác định được tại sao đồng chí lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp…

Đồng chí nói rằng chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vaillant Couturier (nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp) trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng tất cả những việc này cần được kiểm chứng một cách thận trọng. Khi đồng chí đến đây, chúng tôi đã chuyển đồng chí tới Trường Lênin tại Mátxcơva, nơi đồng chí đang nghiên cứu…

Nhiều lần đồng chí đề xuất với tôi xem xét vấn đề và thảo luận việc thành lập mối liên lạc giữa các Đảng. Đồng chí kiên trì theo dõi những chuyến đi của học viên, họ đi đâu và với nhiệm vụ gì và rất đau khổ vì tại sao đồng chí không được tham gia vào việc này hay việc khác của công tác bí mật”.

Đây chính là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc phải chịu một thử thách rất nặng nề và kéo dài để thể hiện tinh thần kiên định cách mạng ngay với các đồng chí của mình. Phải đến năm 1938, sau bức thư bí mật gởi qua Chu Ân Lai, lúc này đang chữa bệnh ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc mới tiếp xúc được với Manuinski, Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản và là người có nhiều cảm tình với người “đồng chí An Nam”. Nhờ đó mà Bác mới kết thúc được “năm thứ tám trong tình trạng không hoạt động” của mình và được tạo điều kiện về nước hoạt động.

Ngày 29-6-1946, tại Paris, trong cương vị là thượng khách của chính phủ Pháp, Bác tiếp cơm Đô đốc D’ Argenlieu để tranh thủ hòa bình với nhân vật “diều hâu” nhất trong chính giới Pháp. Buổi chiều, Chủ tịch tiếp nhiều đoàn thể thanh niên của Pháp và Đoàn đại biểu Hội Thanh niên Thế giới đến chào và thông báo đã kết nạp thanh niên Việt Nam vào tổ chức của mình.

“Nhật ký hành trình 4 tháng sang Pháp” ghi lại: “Trong lúc trò chuyện thân mật, có mấy thanh niên đề nghị cùng Chủ tịch: thanh niên và nhi đồng gọi Hồ Chủ tịch là Cha, vậy xin Hồ Chủ tịch nhận làm Bác cho thanh niên thế giới. Mọi người đều vỗ tay tán thành. Hồ Chủ tịch vui lòng nhận lời và chúc thanh niên đoàn kết hơn và sung sướng hơn những lớp người trước”.

Ngày 29-6-1959, tiễn đưa Đoàn đại biểu Chính phủ Cộng hòa Indonesia do Tổng thống Sukarno dẫn đầu kết thúc chuyến thăm hữu nghị nước ta, tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội) Bác Hồ quyến luyến đọc mấy vần thơ: “Nhớ nhung trong lúc chia tay/Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo Người/Người về Tổ quốc xa khơi/Chúc Người thắng lợi, chúc Người bình an”.

Ngày 29-6-1960, Bác đến dự cuộc họp bàn về quy hoạch cải tạo và mở rộng Thủ đô Hà Nội và nhắc nhở quy hoạch phải toàn diện, thực hiện phải có kế hoạch và đặc biệt phải quan tâm đến điều kiện đi lại của dân.

Ngày 29-6-1968, tham dự cuộc họp của Bộ Chính trị nghe báo cáo tình hình chiến sự ở Trị – Thiên, Bác đánh giá: “Dân ta rất tốt, bộ đội ta anh dũng, cán bộ ta tận tụy” nhưng góp ý “báo cáo còn nói ít đến khuyết điểm”.

D.T.Q. và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 28 tháng 6: “Nhân dân Việt Nam chiến đấu không chỉ vì mình”

123th Anniversary of Uncle Ho

Chủ nhật, 28/06/2009, 01:20 (GMT+7)

Cách đây 87 năm, ngày 28-6-1922, mật thám Pháp chuyên theo dõi Nguyễn Ái Quốc tiếp tục ghi nhận mối quan hệ thường xuyên của đảng viên cộng sản thuộc địa này với các địa chỉ như các tờ báo cánh tả: “Bataille Syndicaliste”(Chiến trận Nghiệp đoàn), “L’Humanité” (Nhân Đạo), “Le Journal du Peuple”(Nhật báo Dân chúng) và trụ sở Đảng Cộng sản Pháp.

Ngày 28-6-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp một số chính khách Pháp và Đoàn đại biểu phụ nữ quốc tế. Đoàn đại biểu bày tỏ tình cảm với phụ nữ Việt Nam và thông báo Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế đã kết nạp Việt Nam làm thành viên chính thức. Người đứng đầu nhà nước Việt Nam cũng giới thiệu với các vị khách về những đóng góp to lớn của phụ nữ Việt Nam trong cuộc chiến đấu giành và bảo vệ nền độc lập cũng như gây dựng đời sống mới.

Ngày 28-6-1951, trong bài viết “Phòng gian, trừ gian” đăng trên Báo Cứu Quốc, Bác nhắc nhở: “Phòng gian phải đi đôi với giữ bí mật. Đó là hai việc quan trọng trong công cuộc kháng chiến”.

Ngày 28-6-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các chiến sĩ và cán bộ Liên khu V”, khen ngợi thành tích đánh giặc trên chiến trường phối hợp với chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và “thưởng cho tiểu đoàn X vừa thắng ở An Khê, Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Bác khuyên dặn toàn thể chiến sĩ và cán bộ cần phải cố gắng nắm vững tình hình, thi đua giết giặc lập công, ra sức dân vận, ngụy vận. Chớ nên vì thắng mà kiêu, chủ quan khinh địch, ra sức tranh lấy thành tích to hơn nữa…”.

Ngày 28-6-1959, trước cuộc mít tinh của 20 vạn đồng bào thủ đô tại Quảng trường Ba Đình chào mừng Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Indonesia: “Nước xa mà lòng không xa/ Thật là bầu bạn, thật là anh em”. Với người đứng đầu nhà nước Indonesia, Bác chia sẻ quan điểm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Khó khăn gì chúng ta cũng nhất định vượt được hết/ Kẻ thù nào chúng ta cũng đánh tan hết/ Thắng lợi to lớn gì chúng ta cũng tranh thủ được hết”. 

Bác nhắc lại kỷ niệm: “Mùa xuân năm nay, lúc Bác sang thăm Indonesia, chẳng những gia đình Tổng thống từ bác gái cho đến các cháu coi Bác như một người anh em trong nhà mà cả Chính phủ, Quốc hội và tất cả nhân dân Indonesia cũng không xem bác là người khách mà xem Bác là người anh em bạn hữu thân thiết của Indonesia. Bác ở bên ấy mười ngày, đi tỉnh này qua tỉnh khác, hàng triệu nhân dân ra đón Bác, luôn luôn tỏ ra một tình thân rất nồng nhiệt. Tình ấy không chỉ tỏ cho Bác mà còn tỏ cho tất cả nhân dân Việt Nam…”.

Ngày 28-6-1966, trong bức điện chào mừng Hội nghị nhà văn Á-Phi họp ở Bắc Kinh (Trung Quốc), Bác khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi hiểu rằng mình chiến đấu không những để bảo vệ độc lập tự do của mình mà còn để góp phần vào việc bảo vệ an ninh của phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập của các dân tộc khác và bảo vệ hòa bình thế giới”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 27 tháng 6: “Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”

Thứ bảy, 27/06/2009, 04:12 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 77 năm, ngày 27-6-1932, “Vụ án Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Công” đã tiến triển với sự tác động của các luật sư tiến bộ người Anh. Lá đơn kháng án của Nguyễn Ái Quốc gửi lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh đã được luật sư thỏa thuận sẽ rút lại nếu chính quyền Hồng Công cam kết không chỉ định chiếc tàu bắt buộc nhà cách mạng Việt Nam phải đi và trong mọi trường hợp không giao Nguyễn Ái Quốc cho phía Pháp, tôn trọng ý muốn nơi đến của người bị trục xuất…

Tháng 6-1940, đang ở Côn Minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau khi nghe tin Paris bị phát xít Đức chiếm đóng đã đưa ra nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng… Khởi nghĩa thì phải có vũ khí. Đó là một trong những vấn đề quan trọng của cách mạng. Nhưng nếu bây giờ có vũ khí thì lấy ai mà vác vũ khí? Cho nên cứ tìm cách về nước đã, sau đó chúng ta sẽ vận động quần chúng. Khi quần chúng đã giác ngộ cao thì ta sẽ có vũ khí”.

Ngày 27-6-1946, Bác thăm nhiều thắng cảnh của thủ đô Paris. Tối, Bác tiếp Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp đến chào, trong đó có nhiều nhân vật nổi tiếng đang giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ. Như thế là 3 chính đảng lớn nhất của nội các Pháp đã đến chào Chủ tịch nước Việt Nam.

Ngày 27-6-1951, Bác gửi điện khen ngợi các chiến sĩ tham gia Chiến dịch Quang Trung “trên chiến trường đồng bằng Ninh Bình, Phủ Lý, Hà Đông… đã tiêu diệt hơn 20 đại đội địch, đã làm lay động tinh thần ngụy quân, đã phát triển chiến tranh du kích, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mùa màng…”.

Ngày 27-6-1959, sau khi dẫn khách thăm Nhà máy cơ khí Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ trao tặng Tổng thống Sukarno Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Đọc diễn văn trong buổi lễ, Bác đánh giá: “Tổng thống là vị lãnh tụ đầu tiên của một nước bạn sẽ mang Huân chương cao quý này của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dân Việt Nam rất kính mến Tổng thống là người chiến sĩ gan góc, tiêu biểu cho ý chí quật cường và tinh thần nồng nàn yêu nước của nhân dân Indonesia…”.

Ngày 27-6-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Thái tử Quốc trưởng Campuchia Norodom Sihanouk, bày tỏ “vô cùng cảm động về việc Ngài và nhân dân Khơme đã gửi tặng thuốc với một tấm lòng hào hiệp… Cử chỉ cao cả đó là biểu hiện sự ủng hộ anh em của nhân dân Khơme đối với nhân dân Việt Nam… Như Ngài đã nói rất đúng, nhiệm vụ của chúng ta đối với các thế hệ tương lai là phải cùng nhau củng cố cơ sở của sự hợp tác tin cậy và chân thành trong sự tôn trọng nền độc lập của nhau”.

Ngày 27-6-1968, Bác gửi thư khen ngợi quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.000 máy bay Mỹ, đặc biệt khen ngợi quân và dân Quảng Bình đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 3.000 và căn dặn: “Phải luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, quyết đánh cho giặc Mỹ thất bại đến cùng. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 26 tháng 6: “Các cháu là chủ nhân tương lai của trái đất”

Thứ sáu, 26/06/2009, 01:02 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 88 năm, ngày 26-6-1921, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí là người của các thuộc địa Pháp như Algerie, Tunisie, Madagascar… họp bàn thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa, bàn về điều lệ, chương trình hoạt động và bầu Ban chấp hành mà theo dự kiến, Nguyễn Ái Quốc sẽ tham gia vào Ban Chấp hành và là Ủy viên thường trực.

Ngày 26-6-1946, trong chuyến thăm chính thức nước Pháp, Bác tiếp các đoàn Việt kiều từ các tỉnh Marseille, Bordeaux, Toulouse lên Paris chào mừng. Buổi tối, Bác tiếp Đoàn đại biểu Đảng Xã hội Pháp mà năm xưa Bác đã từng là thành viên và nhiều bạn cũ từng gắn bó trong các tổ chức cánh tả.

Ngày 26-6-1955, phát biểu tại buổi chiêu đãi trọng thể của Chính phủ Trung Quốc tại Bắc Kinh, cũng là diễn đàn quốc tế đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ lập trường: “Từ ngày đình chiến đến nay, nhân dân Việt Nam đã dùng hành động thực tế mà chứng tỏ rằng mình bao giờ cũng thành thật chấp hành các điều khoản trong hiệp định quốc tế… cử hành hiệp thương về vấn đề tổng tuyển cử để thực hiện tổng tuyển cử tự do vào năm 1956, do đó đi đến thống nhất toàn quốc Việt Nam. Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam…”. 

Ngày 26-6-1959, Bác cùng Tổng thống Indonesia Sukarno đến gặp gỡ giới học sinh và sinh viên Hà Nội tại Trường Đại học Tổng hợp. Để tỏ tình thân, Bác đóng vai phiên dịch cho khách quý truyền đạt những nội dung sâu sắc: “Bác Karno đã nói với cháu những gì? Nói tương lai của loài người một phần lớn là ở trong các cháu thanh niên – tức là các cháu là chủ nhân, là ông chủ, bà chủ tương lai của trái đất. Nhưng muốn cho xứng đáng với ông chủ bà chủ, thì phải làm thế nào? Không phải cứ ngồi khoanh tay sẽ là ông chủ, bà chủ, mà: 1. Phải đoàn kết chặt chẽ; 2. Cố gắng học tập cho tốt; 3. Phải lao động cho tốt; 4. Vượt mọi khó khăn để mà chiến thắng, để hưởng thụ tất cả những khoa học, những hiểu biết của thời đại thế kỷ XX… Các cháu chắc biết, trong xã hội, trong một con người cũng thế, có cái thiện và ác. Hai cái nó tranh đấu với nhau. Nếu cái thiện tức là tinh thần xã hội chủ nghĩa, tinh thần chiến đấu mà thắng thì cá nhân chủ nghĩa sẽ thua… Bác, đàn anh có tuổi rồi, có hưởng xã hội chủ nghĩa cũng không được mấy vì già rồi, hưởng hạnh phúc xã hội chủ nghĩa là các cháu. Vì vậy, các cháu phải ra sức xây dựng xã hội chủ nghĩa…”.

Ngày 26-6-1963, Bác viết bài “Đại hội Phụ nữ quốc tế” đăng trên Báo Nhân Dân, nêu rõ muốn thực hiện được mục tiêu của phong trào phụ nữ thì “phải ngăn ngừa chiến tranh. Muốn ngăn ngừa chiến tranh thì phải chống bọn âm mưu gây chiến, tức là bọn thực dân đế quốc”. Chính vì thế mà “người phụ nữ miền Nam Việt Nam đang chen vai sát cánh cùng toàn dân dũng cảm chiến đấu chống Mỹ-Diệm. Phụ nữ miền Bắc thì đều hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, để ủng hộ chị em ruột thịt ở miền Nam”.

Ngày 26-6-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới ngài George Pompidou nhân dịp ông được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa Pháp.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 25 tháng 6: “Tham ô lãng phí do bệnh quan liêu mà ra”

Thứ năm, 25/06/2009, 03:44 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 86 năm, ngày 25-6-1923, với danh tính là Cheng Vang, Nguyễn Ái Quốc được Đại diện đặc mệnh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga tại Berlin (Đức) cấp giấy thị thực nhập cảnh qua thương cảng Petrograd với thời hạn lưu trú là 1 tháng.

Ngày 25-6-1927, Nguyễn Ái Quốc gửi thư đến Chi bộ Cộng sản Đại học phương Đông, thông báo việc thành lập Nhóm cộng sản Việt Nam gồm 5 người là: Phon Shon, Le Man, Jiao, Min Khan và Le Quy (bí danh của Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Bùi Lâm và Trần Phú – làm Bí thư), đề nghị trường cử cán bộ“chăm lo giáo dục cộng sản cho nhóm đó, để đào tạo các đồng chí đó theo sinh hoạt của Đảng”.

Ngày 25-6-1931, trong “vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, viên Thống đốc người Anh đã ký lệnh bắt giam lần thứ 2 để kéo dài thời gian cầm giữ theo sức ép của chính quyền Pháp.

Ngày 25-6-1946, Bác viếng mộ nhà nhiếp ảnh Khánh Ký, người cùng hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, vừa qua đời. Trong ngày, Chủ tịch nước Việt Nam gặp lãnh đạo Đảng Cộng hòa Bình dân (MRP). Tiếp xúc với báo chí, Chủ tịch cho biết: “Từ khi tới Pháp, tôi được Chính phủ Pháp đón tiếp long trọng, nhân dân Pháp và các nhà báo chào mừng nồng nhiệt. Tôi rất cảm ơn. Hôm nay tôi chưa thể tuyên bố gì, để đợi Chính phủ Pháp đón tiếp chính thức”.

Ngày 25-6-1952, nói chuyện với Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất, Bác nhấn mạnh đến cuộc đấu tranh: “Mỗi người phải tự mình chống tham ô lãng phí, gây thành một phong trào làm cho mọi người thấy đó là tội ác xấu xa, ai cũng gớm cũng ghét. Cần phải đấu tranh trừ bỏ tội ác đó. Tham ô lãng phí một phần lớn là do bệnh quan liêu mà ra… Muốn chống tham ô lãng phí, chống quan liêu thì phải dân chủ, tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người… Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân… Tóm lại là không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì có phải lòe loẹt mà không làm tròn là công việc xấu…”.

Ngày 25-6-1959, Báo Nhân Dân đăng bài viết “Vài ý kiến của mấy cuộc trưng bày” của Bác, hoan nghênh cuộc triển lãm “Cải tiến kỹ thuật và phát minh sáng kiến” của Tổng cục Hậu cần và của lao động Hà Nội. Nhưng Bác nhắc nhở rằng “còn cần phải thí nghiệm áp dụng, ra sức cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy… Quần chúng lao động ta thường có nhiều sáng kiến. Song một số cán bộ quan liêu chẳng những không khuyến khích mà còn kìm hãm sáng kiến của quần chúng… Vậy trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo là phải khuyến khích, xét duyệt nhanh chóng, áp dụng cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến tốt. Có như thế thì những cuộc trưng bày… mới có tác dụng tích cực”.

Ngày 25-6-1965, Bác đến thăm Đại đội 1 đơn vị Phòng không bảo vệ Thủ đô, đơn vị bắn rơi chiếc máy bay Mỹ đầu tiên trên bầu trời Hà Nội.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Tạo điều kiện mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”

Phóng viên Báo CAND đã trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Đình Thuận, Cục trưởng Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Bộ Công an về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa với điều kiện kinh tế, xã hội mới và trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa với điều kiện kinh tế, xã hội mới và trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Hiến pháp sửa đổi vừa phải khắc phục những khó khăn, vướng mắc, vừa phải đón trước, bắt kịp với sự biến đổi của tình hình và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc, xứng tầm là một văn bản pháp lý cao nhất, là cơ sở quan trọng cho sự hoàn thiện, phát triển hệ thống pháp luật đúng hướng, bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phóng viên Báo CAND đã trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Đình Thuận, Cục trưởng Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Bộ Công an để hiểu hơn về vấn đề này. Đồng chí Cục trưởng cho biết:

Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp liên quan đến bảo vệ Tổ quốc cần kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992, chỉ bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và các Văn kiện khác của Đảng, đặc biệt phải bám sát, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ Tổ quốc.

Trong Hiến pháp sửa đổi, cần bổ sung vấn đề hợp tác quốc tế vào Điều 44 của Hiến pháp năm 1992 bằng cách quy định rõ: “Nhà nước tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”; đồng thời bổ sung quy định về biện pháp mà các lực lượng vũ trang được phép sử dụng vào Điều 45 của Hiến pháp năm 1992 như sau: “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, được sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự và những thành quả cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước”.

Cần bổ sung những vấn đề công nghiệp an ninh vào Điều 48 thành: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, Công an, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước”.

Điều 68 cần sửa đổi, bổ sung như sau: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Việc cấm đi khỏi nơi cư trú phải đúng quy định của pháp luật”.

Điều 71 sửa đổi, bổ sung như sau: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Việc bắt giữ, tạm giam, khám người phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.

Điều 11 đề nghị sửa cụm từ “giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” thành “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội” cho thống nhất với các điều khác trong Hiến pháp.

Điều 12 đề nghị sửa cụm từ: “Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân” thành “Cơ quan, tổ chức và mọi công dân” để đảm bảo ngắn gọn và mang tính bao quát.

Điều 50 và Điều 51 có cụm từ: “Hiến pháp và luật” đề nghị sửa thành “Hiến pháp và pháp luật” cho thống nhất với các điều luật khác.

Điều 74 có cụm từ “Tài sản xã hội chủ nghĩa”, đề nghị sửa thành “Tài sản của Nhà nước” cho phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đề nghị bỏ cụm từ: “Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất” ở Điều 76 và gộp Điều 76 vào Điều 77 thành “Công dân phải trung thành với Tổ quốc”.

Đề nghị thay thế cụm từ: “Bảo vệ bí mật quốc gia” thành “Bảo vệ bí mật Nhà nước” ở Điều 79. Theo đó, Điều 79 sẽ như sau: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật Nhà nước, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”

Nguyễn Hưng (ghi)
cand.com.vn

TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG : Chương 5

ĐÒN ĐIỂM HUYỆT

Theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, anh Văn Tiến Dũng được cử vào Tây Nguyên, cùng với các anh Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng Tham mưu trưởng và một số cán bộ, tổ chức thành một bộ phận đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ở chiến trường miền Nam, mang bí danh Đoàn A.75. Như vậy, cơ quan chỉ huy quân sự tối cao đã hình thành cả ở phía trước và phía sau, vừa sâu sát mặt trận vừa bao quát ở tầm chiến lược, vĩ mô, bảo đảm lãnh đạo chỉ huy đúng đắn, kịp thời. Quyết định này được giữ tuyệt đối bí mật.

Trước ngày đoàn lên đường, anh Văn Tiến Dũng và tôi gặp nhau trao đổi ý kiến về cách đánh trong chiến dịch Tây Nguyên. Anh Hoàng Văn Thái cùng tham dự.

Vốn đã làm việc cùng nhau từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, cùng ở trong Quân uỷ, chúng tôi bàn bạc rất kỹ và nhất trí về nhiều vấn đề, tìm ra phương án tác chiến tối ưu. Đòn tiến công chiến lược đầu tiên phải tranh thủ bất ngờ cao độ, mạnh bạo giải quyết Buôn Ma Thuột trước, bao đảm chắc thắng ngay từ trận đầu. Tiếp đó, nhanh chóng phát huy thắng lợi, tiến công liên tục nhằm tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, giải phóng địa bàn chiến lược quan trọng ở Tây Nguyên.

Tôi nêu hai phương án đánh Buôn Ma Thuột mà có lần tôi đã phát biểu trong Thường trực Quân uỷ Trung ương:

1. Nếu địch chưa tăng cường lực lượng thì đánh ngay.

2. Nếu địch tăng cường lực lượng ở Buôn Ma Thuột thì dụ địch ra ngoài, đánh viện tiêu diệt địch ở Cẩm Ga và Thuần Mẫn.

Trong cả hai trường hợp, trường hợp nào cũng phải thực hiện nghi binh thật tốt, gồm nghi binh ở hướng Trị – Thiên và ở hướng Kon Tum, Pleiku.

Chiến dịch Tây Nguyên là đòn tiến công đầu tiên trong kế hoạch chiến lược cơ bản đã được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương duyệt. Theo kế hoạch này, ta trù tính giải phóng Tây Nguyên trong năm 1975, tức là trong bước một của kế hoạch hai năm, đi đôi với việc bóc một loạt cứ điểm địch ở miền Đông Nam Bộ và mở mảng, mở vùng ở đồng bằng sông Cửu Long, ở đồng bằng Khu 5 và Trị – Thiên.

Theo quy ước, anh Dũng lấy bí danh là Tuấn, tôi lấy bí danh là Chiến. Các đồng chí thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần đều lấy các bí danh khác.

Ngày 5-2-1975. Đoàn A.75 lên đường vào thời điểm nhân dân ta tưng bừng đón Xuân Ất Mão. Mọi biện pháp báo mật, nghi binh được thực hiện đê đánh lạc hướng địch. Ra trận giữa lúc năm hết Tết đến đã góp thêm yếu tố bất ngờ. Đây cũng là một nét truyền thống của dân tộc Việt Nam, kể từ Tết Kỷ Dậu với trận Ngọc Hồi – Đống Đa (1789) và Tết Mậu Thân với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1968. Vui xuân không quên đánh địch. Đánh trước, rồi ăn Tết sau. Đánh địch cũng là nổ pháo mừng xuân. Cốt sao giành thế bất ngờ.

Anh Văn Tiến Dũng và Đoàn A.75 lên đường với khí thế và quyết tâm như vậy.

***

Hoạt động của các chiến trường trong đợt một mùa khô 1974-1975 phối hợp nhịp nhàng với những chiến thắng rực rỡ từ Trị – Thiên đến Nam Bộ, vượt mọi chỉ tiêu đã đề ra.

Cùng với chiến thắng Phước Long, từ tháng 12-1974 đến tháng 2-1975, quân và dân miền Đông Nam Bộ tiêu diệt 22 tiểu đoàn địch, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, diệt hơn 1.500 đồn bốt trong đó có 1 tiểu khu, 8 chi khu, 3 yếu khu và phân chi khu quân sự.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ trong vòng hai tháng, ta đã tiêu diệt 15 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 35.000 tên, diệt và phá 168 đồn bốt. Kết hợp với quần chúng nổi dậy, ta giải phóng hoàn toàn 5 1 xã, 414 ấp, giải phóng cơ bản 49 xã khác, giải phóng 5 vạn dân. Khu vực giành thắng lợi lớn nhất là Trà Vinh, Vĩnh Long, vùng trọng điểm số một của Quân khu IX.

Sài Gòn và vùng ven là nơi địch tập trung phòng thủ. Ngay ở đó, chỉ bằng lực lượng bộ đội địa phương đặc công, biệt động, du kích, ta cũng đã giai phóng hoàn toàn ba xã, 37 ấp, 17.000 dân, giải phóng cơ bản một số xã khác. Ách kìm kẹp của nguỵ quyền ở cơ sở bị nới lỏng, nhân dân tự do đi lại làm ăn.

Ở Trị – Thiên, Khu 5 và Tây Nguyên, tiếp theo thắng lợi của ta ở La Sơn – Mỏ Tàu, Thượng Đức, Minh Long, Nông Sơn, Trung Phước, Giá Vụt, Măng Đen, Măng Bút, quân ta ráo riết chuẩn bị cho các hoạt động Xuân – Hè 1975. Riêng với Trị – Thiên, ngay từ tháng 10-1974, Quân uỷ Trung ương đã triệu tập Thường vụ Quân khu uỷ Trị – Thiên ra Hà Nội báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ chiến đấu năm 1975. Quân uỷ khen ngợi chủ lực của quân khu đã đánh thắng ở La sơn – Mỏ Tàu, chỉ rõ nhược điểm chưa tận dụng tốt đòn chủ lực để đẩy mạnh phong trào quần chúng ở địa phương. Quân uỷ cũng biểu dương quân và dân quân khu đã chấp hành nghiêm công tác tổ chức chiến trường, căn bản làm xong con đường 74 và đưa được hậu cần vào phía nam Thừa Thiên tạo ra sức mạnh mới để phát triển thắng lợi. Giao nhiệm vụ cho chiến trường Trị – Thiên trong năm 1975, tôi nhấn mạnh phải “đánh bại về cơ bản kế hoạch “bình định” của địch, tạo ra ở Trị – Thiên một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho năm 1976 giải phóng hoàn toàn Trị – Thiên – Huế”; phải tiến hành một chiến dịch tổng hợp cả quân sự và chính trị, bằng lực lượng của cả chủ lực của Bộ và của quân khu, phối hợp chặt chẽ ba thứ quân, ba mũi giáp công nhằm tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch, diệt gọn từng trung đoàn, tiểu đoàn của chúng.

Bộ Tổng Tham mưu cũng giao nhiệm vụ cho Quân đoàn II cùng với Quân khu Trị – Thiên mở một chiến dịch quy mô vừa trong mùa Xuân 1975 trên đường 12 và tây bắc Huế, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tích cực hoạt động nghi binh kìm giữ, giam chân, thu hút lực lượng cơ động của chúng, phối hợp chiến trường với đòn tiến công chiến lược ở Tây Nguyên, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến đấu năm 1975 mà Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã giao cho toàn mặt trận.

Cuối tháng 1-1975, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh thông qua lần thứ nhất kế hoạch của Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn II, đồng thời chỉ định Đảng uỷ Mặt trận bao gồm đại diện Đảng uỷ Quân khu, đại điện Đảng uỷ Quân đoàn II và đại diện Khu uỷ do đồng chí Lê Tự Đồng làm Bí thư. Về chỉ huy, Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ huy chung cả quân khu và quân đoàn, không thành lập bộ chỉ huy thống nhất.

Lúc này, đoàn cán bộ quân sự đi học ở Liên Xô đã hoàn thành khoá học. Những cán bộ có kinh nghiệm đánh lớn vừa được trang bị thêm kiến thức tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng được phân về các đơn vị chủ lực Anh Nguyễn Hửu An làm Tư lệnh Quân đoàn II. Anh Lê Hữu Đức được cử làm Cục trưởng Cục Tác chiến, thay anh Vũ Lăng được bổ nhiệm làm Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên.

Đầu tháng 2, Quân uỷ Trung ương phê chuẩn kế hoạch tác chiến của Trị – Thiên. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh quân khu và Quân đoàn II ra Hà Nội chính thức nhận mệnh lệnh. Ngày 28-2-1975, đồng chí Thanh Quảng, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu Trị – Thiên và đồng chí Hoàng Đan, thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn II ra Bộ báo cáo quyết tâm cuối cùng. Quân chủng Phòng không – Không quân được giao nhiệm vụ cho trực thăng đón các đồng chí ra Đồng Hới, từ đây đưa ra Thủ đô bằng máy bay YAK 40.

Các đồng chí có mặt rất đúng giờ tại Tổng hành dinh.

Cùng dự nghe báo cáo với tôi, có các anh Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức. Với tinh thần phấn chấn, các đồng chí trình bày kế hoạch tác chiến với những mục tiêu, nhiệm vụ còn cao hơn cả những mục tiêu, nhiệm vụ được giao.

Nghe báo cáo xong, tôi hỏi:

– Thế nếu thời cơ thuận lợi, các đồng chí đã có kế hoạch phảt triển tiến công giải phóng Trị – Thiên – Huế chưa?

Đang có tâm trạng phấn khởi, hai đồng chí bỗng hoá ra lúng túng. Tôi hỏi thêm:

– Kế hoạch cơ bản như thế này là được. Nhưng các đồng chí phải làm ngay một kế hoạch phát triển tiến công khi thời cơ thuận lợi, mà mục tiêu của nó là giải phóng Trị – Thiên – Huế. Các đồng chí đã rõ chưa?

Sau giây phút ngỡ ngàng, nét mặt hai đồng chí tươi hẳn lên. Cả hai đồng chí đồng thanh trả lời: Rõ!

Về thời gian mở màn chiến dịch, các đồng chí đề nghị cho lui thời gian chuấn bị thêm năm ngày, tức là đến hết ngày 9-3. Vừa nghe mấy tiếng “9-3”, anh Tấn đứng phắt dậy nói ngay, giọng gay gắt:

– Trong chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hiệp đồng nhiều chiến trường mà các đồng chí muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được hay sao? Các đồng chí lùi lại thì địch đưa sư dù dự bị chiến lược lên nam Tây Nguyên, hướng chính của ta sẽ bị vỡ, cuộc Tổng tiến công sẽ đi đến đâu? Đã bao nhiêu lần mời các đồng chí ra họp, bao nhiêu phái viên vào phổ biến kế hoạch, bao nhiêu điện nhắc nhở mà các đồng chí không hiểu sao?

Cứ thế, anh Tấn nói đi nói lại đến gần năm phút.

Hai đồng chí đỏ mặt.

Tôi hỏi:

– Ý Bộ Tổng Tham mưu đã rõ, còn Cục Tác chiến thì sao?

Anh Đức phát biểu:

– Lúc này mà lùi lại thì nguy lắm. Nhưng đề nghị Bộ cũng thấy hết khó khăn, nhất là của Quân đoàn II, đồng chí Nguyễn Hữu An, Tư lệnh vừa đi học ở Liên Xô về. Đề nghị đúng ngày N và giờ G, các Trung đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương của Trị – Thiên đồng loạt nổ súng. Riêng Quân đoàn II, cho lùi lại hai ngày. Địch biết Quân đoàn II đang ở Trị – Thiên mà chưa có hoạt động thì cũng chưa dám điều sư dù đi.

Nghe đến đây, anh Tấn nói với hai đồng chí:

– Tôi cũng biết các đồng chí khó khăn. Nhưng các đồng chí phải biết chiến dịch của các đồng chí là nằm trong chiến cuộc chung của toàn quốc. Vậy thời gian phải hết sức chặt chẽ, không thể ai muốn bắt đầu tiến công ngày nào cũng được. Các đồng chí đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, các đồng chí phải rõ vấn đề này chứ?

Quay sang tôi, anh Tấn đề nghị:

– Xin anh cho phép các lực lượng Quân khu Trị – Thiên và pháo binh Quân đoàn II nổ súng đúng thời gian quy định từ 5-3, còn phần lớn lực lượng Quân đoàn II nổ súng sau hai ngày như đề nghị của Cục Tác chiến.

Tôi đồng ý và chỉ thị Bộ trổng tham mưu theo dõi, kiểm tra thực hiện.

Khi hai đồng chí ra về, tôi bảo anh Tấn:

– Gớm, hôm nay anh chính quy quá!

– Thưa anh, nóng nảy là khuyết điểm lớn. Đề nghị Bộ trưởng biểu dương Cục trưởng Tác chiến hôm nay sáng dạ lắm?

Tôi cười:

– Có vậy mới mở nắp nồi hơi được!

Chưa thật yên tâm. Sáng ngày 3-3, tôi cho đồng chí thư ký ra sân bay Bạch Mai gọi hai đồng chí quay lại gặp tôi, ngay khi máy bay sắp cất cánh. Rõ ràng, dứt khoát, tôi căn dặn:

– Nhớ rằng chiến dịch này không như các chiến dịch khác. Các đồng chí có thể phát huy sáng kiến đánh thật hay để hoàn thành vượt mức kế hoạch, nhưng cần chú ý những việc Bộ Tổng tư lệnh đã quy định cụ thể thì tuyệt đối không được linh hoạt, phải chấp hành thật nghiêm. Phải tích cực sảng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế. Tiêu diệt sinh lực địch là rất quan trọng, nhưng làm đường cơ động cũng quan trọng không kém, các đồng chí phải huy động mọi lực lượng mở đường cơ động, vì có đường thì mới phát triển tiến công được thuận lợi khi có thời cơ.

Hai đồng chí hứa sẽ hoàn thành tất cả các nhiệm vụ Bộ giao, cả về thời gian, địa điểm và khối lượng.

***

Theo dõi hành trình của Đoàn A75, Bộ Tổng tư lệnh biết toàn đoàn hành quân bí mật, an toàn, đón giao thừa ở Ia Đrăng, đến Tây Nguyên vào đầu năm mới âm lịch. Khi tới Sở chỉ huy Đoàn 559, anh Đinh Đức Thiện quay trở lại Quảng Bình, đích thân đôn đốc việc vận chuyển đạn vào Tây Nguyên. Mọi yêu cầu của chiến dịch đều được anh Đồng Sĩ Nguyên và Bộ Tư lệnh Đoàn 559 bảo đảm rất tích cực: gạo, đạn, xăng, xe đều đủ. Đường ra mặt trận chật ních xe vận tải nghìn nghịt chạy suốt ngày đêm. Đã có thêm nhiều đoạn đường mới đang thi công, ở một số công đoạn xẻng cuốc đã được thay bằng máy móc do Cuba gửi giúp.

Như đã thống nhất từ trước lúc khởi hành, vừa đến Sở chỉ huy của cơ quan đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đặt ở tây thị xã Buôn Ma Thuột, anh Văn Tiến Dũng thay mặt Quân uỷ Trung ương công bô quyết định thành lập Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, gồm các đồng chí: Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh; Đặng Vũ Hiệp. Chính uỷ; Vũ Lăng, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang, Phan Hàm, Phó Tủ lệnh; Phí Triệu Hàm, Phó Chính uỷ.

Thường vụ Khu uy Khu 5 cử anh Bùi San, uỷ viên Thường vụ Khu uỷ, cùng một số cán bộ đại diện các ngành ở bên cạnh Đảng uỷ và Bộ Tư lẹnh chiến dịch đê chỉ đạo trực tiếp ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, huy động mọi tiềm lực của địa phương phục vụ chiến dịch Tây Nguyên.

Lúc này, có một tình hình không thuận khiến cho kế hoạch đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột ngay từ đầu chiến dịch không thực hiện được. Đó là việc bố trí lực lượng ta ở chiến trường Tây Nguyên có khác với dụ kiến của cơ quan chiến lược. Sư đoàn 10 và nhiều đơn vị khác đã được các đồng chí chỉ huy tại chỗ bố trí từ Đức Lập đến Đắc Soong trên đường 14 theo ý đồ trước đây là đánh mở thông hành lang vận chuyển chiến lược vào Nam Bộ. Anh Dũng điện ra cho biết nếu điều chỉnh lại đội hình thì sẽ rất phức tạp, vừa mất thời gian, vừa dễ lộ bí mật. Vì vậy, các anh trong đó quyết định cứ thực hiện đánh Đức Lập, đồng thời cài thế bao vây, cô lập Buôn Ma Thuột. Đánh xong Đức Lập rồi, sẽ lập tức điều Sư đoàn 10 và một số đơn vị về ngay tham gia đánh Buôn Ma Thuột.

14 giờ ngày 25-2-1975, tôi điện cho anh Văn Tiến Dũng:

“Tôi đã nhận được điện ngày 17-2 của anh. Chưa nắm được đầy đủ tình hình cụ thể, chỉ góp với anh một số ý kiến, sau khi đã trao đổi cụ thể với anh Sáu (1):

1. Anh cân nhắc tình hình cụ thể để quyết định theo tinh thần đã trao đổi trước khi anh đi. Nên làm ăn theo phương án Định (2) ra báo cáo hoặc theo một phương án khác, mạnh bạo giải quyết A2 (3), trước nếu địch ở đây tương đối sơ hở, ta có điều kiện giành bất ngờ, tiêu diệt địch, tiếp đó nhanh chóng phát triển thắng lợi.

2. Dù theo phương án nào cũng cần tranh thủ bất ngờ cao độ, bảo đảm trận đầu thắng giòn giã, có dự kiến, có kế hoạch phát triển thắng lợi kịp thời, diệt được thật nhiều sinh lực địch đồng thời giải phóng được địa bàn quan trọng.

3. Cho kiểm tra kế hoạch chi viện hậu cần, bảo đảm cho được chi viện đầy đu ca trong trường hợp địch tăng cường đánh hành lang.

Ký tên: Chiến”.

Lúc này, có một tình tiết đáng nhớ:

Chấp hành ý định của Bộ, Quân khu 5 cử Phó Tư lệnh Võ Thứ vào Bình Định điều Sư đoàn 3 lên cắt đứt đường 19. Các đồng chí ở địa phương chưa thật thông, đề nghị chỉ đưa một trung đoàn đi làm nhiệm vụ ấy.

Thấy vậy, anh Chu Huy Mân lập tức chống gậy vào can thiệp. Có lệnh của Tư lệnh kiêm Chính uỷ quân khu, địa phương mới đồng ý điều Sư đoàn 3. Quân khu cũng điều luôn cả trung đoàn pháo của quân khu cùng với Sư đoàn 3 lên cắt đường 19, thực hiện nhiệm vụ chia cắt chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng trong diễn biến chiến sự sau này.

Các bước thực hiện chiến dịch Tây Nguyên phát triển thuận lợi. Qua nắm tình hình và khai thác tin của địch, cơ quan tác chiến báo cáo:

Ngày 25-2-1975, ta tăng cường hoạt động nghi binh.

Sư đoàn 968 diệt hai cứ điểm địch trên đường 19 phía tây Pleiku và bắn vào sân bay Cù Hanh.
Ngày 4-3, Trung đoàn 95A và Sư đoàn 3 (Quân khu 5) tiêu diệt một loạt vị trí, cắt đường 19 ở An Khê. Địch cho biệt động ra dò tìm và bắn pháo vào chỗ nghi có quân ta.

Đêm 5-3, Trung đoàn 25 cắt đường 21 ở phía đông Chư Cúc, diệt một đoàn xe 80 chiếc. Tây Nguyên bước đầu bị cô lập với đồng bằng.

Tin tức từ chiến trường báo về: Ngày 6-3, một tiểu đội trưởng thông tin của ta bị thương rơi vào tay địch, mang theo trong người cuốn sổ nhật ký. Mọi người lo lắng tuy được biết đồng chí ấy bị thương nặng, phải cưa chân, còn mê man bất tỉnh, địch chưa khai thác được gì.

Ngày 7-3, quân ta diệt cứ điểm Chù Xê (bắc Buôn Hồ) trên đường 14.

Ngày 8-3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 đánh chiếm chi khu quân sự Thuần Mẫn.

Ngày 9-3, Sư đoàn 10 nổ súng đánh chiếm quận lỵ Đức Lập. Trên hướng bắc, ta tiêu diệt quận lỵ Thanh An, áp sát, uy hiếp thị xã Pleiku.

Thế chiến lược bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột đã được cài xong.

***

Chiến trường Tây Nguyên chuyển mình, sôi động.

Trận tiến công Đức Lập và tuyến phòng thủ liên hoàn gồm năm cứ điểm trên đường 14 phía tây nam Buôn Ma Thuột của Sư đoàn 10 và Trung đoàn 40 pháo binh đẩy địch ở đây vào tình thế nguy ngập. Các căn cứ Núi Lửa, căn cứ 23 của địch lần lượt bị tiêu diệt. Địch dồn lực lượng vào quận lỵ ngoan cố chống cự. Sư đoàn 10 phải dừng lại củng cố lực lượng rồi tiếp tục tiến công, đến hôm sau mới dứt điểm.

Trước tình hình nguy khốn, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng II chiến thuật bay đến Buôn Ma Thuột họp với Sư phó Sư đoàn 23 nguy và Tỉnh trưởng Đắc Lắc. Phú nhận định: Đức Lập không còn khả năng cứu vãn, không cần tăng viện nữa. Trước mắt, Trung đoàn 53 cố gắng giữ cho được ngã ba Đắc Sắc. Nếu ngày hôm sau tình hình khá hơn, sẽ phản kích lấy lại Đức Lập. Trường hợp không trụ nổi thì được phép tự di tản về hậu cứ. “Cộng sản” đánh Quảng Đức, uy hiếp Buôn Ma Thuột chỉ để nghi binh tạo điều kiện cho vài ngày tới sẽ tập trung lực lượng đánh vào Kon Tum – Pleiku. Do vậy, việc chính hiện nav là tăng cường mọi khả năng đối phó với địch ở trọng điểm là Kon Tum và Pleiku.

Đến thời điểm này, quân nguỵ vẫn không biết ý định và hướng tiến công của quân ta. Chúng cho rằng ta uy hiếp Buôn Ma Thuột là nghi binh để đánh Pleiku và Kon Tum; đánh Đức Lập là để mở thông đường vào Nam Bộ. Từ đó, chúng lo đối phó với ta ở hướng bắc Tây Nguyên, rút bớt lực lượng ở nam Tây Nguyên lên tăng viện cho Pleiku. Phú vẫn cả quyết: Nhất định Pleiku là hướng chủ yếu, vì Sư đoàn 320 của “Việt cộng” vẫn ở đó còn Sư đoàn 10 “Việt cộng” vẫn ở Đắc Tô – Tân Cảnh. Ở Buôn Ma Thuột cũng sẽ có hoạt động phối hợp bằng đặc công pháo kích, nhưng không phải là hướng chính.

Hoạt động của quân ta trên các hướng nhịp nhàng ăn khớp. Kế hoạch nghi binh chiến lược thực hiện rất thành công. Trong cuộc đấu trí đầu tiên, bộ tham mưu địch đã phạm sai lầm. Buôn Ma Thuột sơ hở lại càng thêm sơ hở.

Trong lúc Quân đoàn II nguỵ ra sức chuẩn bị đối phó với chủ lực ta ở bắc Tây Nguyên, thì vào lúc 1 giờ 55 phút sáng 10-3-1975, trận Buôn Ma Thuột bắt đầu. Trung đoàn đặc công 198 cùng một bộ phận pháo cối nổ súng tiến công, đánh chiếm sân bay lên thẳng Ngã Sáu, cụm kho Mai Hắc Đế, sân bay Hoà Bình. Pháo binh ta từ các trận địa xung quanh Buôn Ma Thuột bắn phá mãnh liệt hậu cứ Sư đoàn 23, Sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc, khu doanh trại pháo binh, thiết giáp của địch trong thị xã.

Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ tỉnh Đắc Lắc, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Tây Nguyên, có vị trí quan trọng về quân sự. Thị xã nằm trên ngã ba đường chiến lược số 21 nối với đường số 1 đi Nha Trang và đường số 14, phía bắc lên Pleiku, phía nam xuống miền Đông Nam Bộ. Dân số khoảng 96.000 người. Địch bố trí ở đây khoảng 8.400 tên, gồm một trung đoàn bộ binh, hai chi đoàn thiết giáp, hai tiểu đoàn pháo binh, Sở chỉ huy Sư đoàn 23, Liên đoàn biệt động 21 cùng các lực lượng bảo an, cảnh sát và các căn cứ Trung đoàn 45 bộ binh, Trung đoàn 8 thiết giáp, Trung đoàn 222 pháo binh, với hai sân bay là sân bay thị xã và sân bay Hoà Bình.

Chọn mục tiêu tiến công chủ yếu là Buôn Ma Thuột, Bộ thống soái tối cao dự kiến sẽ làm đảo lộn hoàn toàn thế phòng ngự của địch ở Tây Nguyên, rung chuyển toàn chiến trường miền Nam bằng một đòn điểm huyệt.

Mới tờ mờ sáng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhận được điện của anh Văn Tiến Dũng:

“Ngày 10-3-1975, ta đã đánh Buôn Ma Thuột. Tình hình diễn biến thế nào, có nhận xét gì lớn, tôi sẽ điện tiếp. Chúng tôi vẫn khoẻ. Anh Thiện vào 559 trợ lực tích cực cho chiến dịch này. Mọi yêu cầu đều cố gắng bảo đảm. Quân no, lực lượng lớn, vũ khí trang bị đầy đủ, tinh thần phấn chấn, khí thế cao. Chưa bao giờ mạnh và đánh tập trung lớn ở đây như năm nay. Chúc các anh trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương mạnh khoẻ.

Ký tên: Tuấn”.

Chiến dịch Tây Nguyên đã mở màn. Tôi trực tiếp chủ trì các cuộc giao ban hằng ngày của Bộ Tổng Tham mưu.

Dự giao ban thường có các anh Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Trần Sâm, Trần Văn Quang, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài. Anh Phạm Ngọc Mậu, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và anh Vũ Xuân Chiếm, Phó Chủ nhiệm Tơng cục Hậu cần cũng thường có mặt.

Sáng 10-3, trong cuộc giao ban thường lệ ở Sở chỉ huy “Nhà con rồng”, mọi người phấn khởi đón tin chiến thắng đầu tiên: Ta đã giải quyết xong quận lỵ Đức Lập, Đắc Soong. Núi Lửa, mở thông hành lang chiến lược Bắc Nam. Trận Buôn Ma Thuột đã bắt đầu từ rạng sáng hôm nay, đang phát triển thuận lợi.

Các cơ quan Tổng hành dinh hoạt động khẩn trương. Cán bộ tác chiến, thông tin, cơ yếu làm việc thâu đêm suốt sáng. Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Cục Quân báo, Cục Tuyên huấn khai thác kịp thời tin tức công khai của địch và của phương Tây. Tất ca đều nhằm giúp Bộ thống soái tối cao nhận định, phán đoán, đánh giá tình hình điều hành chiến tranh từng giây từng phút.

Tin từ nhiều nguồn tới tấp báo về. Tại sân bay Ngã Sáu, Trung đoàn 198 đặc công diệt các mục tiêu quan trọng trong sân bay, phát triển đánh chiếm khu cảnh sát, bệnh viện dã chiến, tạo hành lang thông suốt ở cửa ngõ Đông Bắc thị xã Buôn Ma Thuột. Các chiến sĩ đặc công nhanh chóng diệt sở chỉ huy khu kho Mai Hắc Đế, mở cửa ở hướng tây bắc, chuẩn bị đường tiến đánh căn cứ Sư đoàn 23 nguỵ.

Các đơn vị bộ binh, xe tăng, thiết giáp tranh thủ vượt sông Sêrêpốc, vào chiếm lĩnh các trận địa xuất phát tiến công, hình thành năm mũi nhất tề tiến công vào thị xã.

Cuộc chiến đấu ở khu vực Ngã Sáu diễn ra quyết lìệt. Trung đoàn 95B đánh bại cuộc phản công của địch có xe tăng và không quân chi viện.

6 giờ 30 phút sáng ngày 10-3, dưới sự yểm hộ của pháo binh chiến dịch, các chiến sĩ Sư đoàn 316 đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã Buôn Ma Thuột. Trên hướng tây bắc, quân ta tiến công khu thông tin, khu vận tải, áp sát hậu cứ Sư đoàn 23 nguỵ.

Ở hướng đông bắc thị xã, bộ binh ta có xe tăng đi cùng tiến công tiểu khu Đắc Lắc, đến 15 giờ ta chiếm được tiểu khu.

Ở hướng nam, quân ta tiến công các mục tiêu quân sự và quận lỵ Hoà Bình.

Trong ngày 10-3, hầu hết các mục tiêu quan trọng trong thị xã, trừ Sở chỉ huy Sư đoàn 23, đều bị quân ta đánh chiếm.

Tình hình phát triển thuận lợi. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tập trung lực lượng nhanh chóng tiêu diệt Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã, đồng thời tiêu diệt các căn cứ Bản Đôn, Chư Nga, Buôn Hồ, ngăn chặn quân tiếp viện từ bên ngoài, bố trí lực lượng sẵn sàng đánh quân địch phản kích.

Mãi đến lúc này, Nguyễn Văn Thiệu và bọn tướng tá nguỵ mới tỉnh ra. Chúng kêu gào trên đài phát thanh Sài Gòn: “Tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá”. Rõ ràng là đã quá muộn rồi!

***

Sáng hôm sau, 11-3, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Sở chỉ huy. Đây là cuộc họp đầu tiên của Bộ thống soái tối cao từ khi mở màn chiến dịch Tây Nguyên.

Rất vui trước thắng lợi những ngày đầu chiến dịch, các anh thảo luận sôi nổi về sự phát triển thế và lực của ta, sự suy sụp của địch. Về hoạt động của ta, mọi người đều nhất trí cần khẩn trương tiếp tục mở rộng tiến công, sẵn sàng đánh địch phan kích.

Điều đáng chú ý là tinh thần quân nguỵ sụp xuống rất nhanh. Chúng không chịu nổi những đòn tiến công của quân ta vào các chi khu, quận lỵ. Ai cũng nghĩ đến khả năng giành thắng lợi lớn hơn dự kiến ban đầu.

Qua thảo luận, hội nghị đề cập cả đến khả năng địch rút chạy khỏi Tây Nguyên. Trong trường hợp này, cần có kế hoạch chốt chặt, bao vây, chia cắt, tiến công, không cho chúng chạy thoát.

Hội nghị cũng thấy rõ cục diện chiến trường đang chuyển biến mau lẹ, cần nắm bắt cho kịp thời cơ. Đã cần phải nghĩ ngay đến các hoạt động quân sự, chính trị ở Huế, Trị – Thiên, Đà Nẵng. Tình hình khách quan đòi hỏi cơ quan chiến lược và toàn quân chuẩn bị nhanh hơn về mọi mặt.

Tinh thần là vừa qua đã có Phước Long, này lại có Buôn Ma Thuột. Vậy nên xem lại kế hoạch hai năm đã phù hợp hay chưa, ta có thể đẩy mạnh, đẩy nhanh hơn nữa được không?.

Tôi phát biểu ý kiến, nêu lên những nhân tố mới đã và đang xuất hiện, sẽ đưa đến những bước nhảy vọt.

Lực lượng của địch bị dàn mỏng, căng kéo, rất dễ đứt tung bất cứ lúc nào và ở bất cứ đoạn nào. Không loại trừ khả năng địch rút bỏ Tây Nguyên. Quân ta còn sung sức tinh thần chiến đấu cao, hậu cần bảo đảm. Cần khẩn trương hành động, nắm bắt thời cơ và chớp lấy thời cơ.

Kết thúc hội nghị, anh Ba nói ngắn, gọn, nhấn mạnh đến các hoạt động quân sự của ta trong những ngày đầu chiến dịch, coi đó là một “nếp làm ăn” mới. Anh gợi ý có thể đẩy mạnh các hoạt động hơn nữa được không? Cần suy nghĩ xem Buôn Ma Thuột đã phải là trận mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược hay chưa? Phải có những quả đấm chủ lực mạnh trong lúc này. Các quân đoàn ở miền Nam, miền Bắc phải sử dụng như thế nào cho thật linh hoạt, thật tập trung, không nên phân tán.

Sau cuộc họp, có điện của anh Văn Tiến Dũng:

“Kính gửi anh Chiến,

1. Ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột. Các mục tiêu lớn như Sư đoàn bộ 23, tiểu khu Đắc Lắc khu thiết giáp và pháo, sân bay thị xã đã chiếm giữ. Đang truy lùng tàn quân trốn trong thị xã. Sơ bộ mới biết bắt gần 1.000 tù binh (chưa phân loại) và một khối lượng rất lớn chiến lợi phẩm. Đức Lập đến Đắc Soong đã hoàn toàn xong. Thu 12 pháo và gần 100 tấn đạn pháo.

2. Đang tiếp tục phát triển để tiêu diệt các mục tiêu xung quanh như căn cứ Trung đoàn 45, căn cứ Trung đoàn 53, Buôn Hồ, Bản Đôn và tăng thêm lực lượng để chiếm giữ vững chắc sân bay Hoà Bình.

3. Ngày 11-3, Uỷ ban quân quản Đắc Lắc sẽ triển khai công việc. Để thuận lợi cho công tác, đề nghị trao quân hàm đại tá cho đồng chí Y Blốc để làm Chủ tịch Uỷ ban”.

Căn cứ vào tình hình địch – ta trên chiến trường, vào khả năng bảo đảm hậu cần và thời tiết thuận lợi, anh Tuấn có ý định vừa củng cố vững chắc Buôn Ma Thuột, sẵn sàng đánh địch phan kích, vừa phát triển ra chung quanh để hoàn toàn làm chủ Đắc Lắc, phát triển về phía đông đến Cheo Reo (có thể tiêu diệt hoặc bao vây Cheo Reo) rồi từ đó ngược lên bao vây tiêu diệt Pleiku, cô lập Kon Tum.

Hướng phát triển về phía nam có thể để chậm lại sau.

Anh Tuấn đề nghị tôi trao đổi trong Quân uỷ và báo cáo với Bộ Chính trị rồi cho anh biết sớm.

***

Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu thắng lợi giòn giã. Buôn Ma Thuột đã được giải phóng.

Như vậy tình hình chiến sự đã phát triển nhanh hơn so với kế hoạch chiến lược cơ bản, trù tính giải phóng Tây Nguyên trong năm 1975, bước một của kế hoạch hai năm. Với chiến thắng Buôn Ma Thuột, ta có khả năng giải phóng Tây Nguyên sớm hơn nhiều. Đây là vấn đề quan trọng mới được đặt ra.

Rất yên tâm về Tây Nguyên, tôi nghĩ ngay đến các chiến trường phối hợp ở Trị – Thiên, Khu 5, Nam Bộ, nhất là đồng bằng sông Cửu Long.

Bộ Tổng Tham mưu báo cáo: Tình hình phát triển tốt ở Trị – Thiên, quân ta bí mật vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài dày đặc của địch, đột nhập xuống đồng bằng và xung quanh thành phố Huế, liên tiếp tiến công các vị trí và hệ thống kìm kẹp của địch.

Quân và dân Khu 5 tiêu diệt quận lỵ Tiên Phước, uy hiếp Quảng Tín, Quảng Ngãi.

Ở chiến trường Nam Bộ, địch không còn bắt được thanh niên vào lính, nên lực lượng của chúng ở cơ sở bị hẫng hụt. Quân và dân vùng châu thô) sông Cửu Long phối hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, diệt nhiều đồn bốt địch, giải phóng nhiều địa bàn rộng lớn. Phong trào đấu tranh cách mạng lên cao.

Phát huy chiến thắng Phước Long và chiến thắng núi Bà Đen, B2 đã có kế hoạch hoạt động của toàn Miền phối hợp với chiến trường chính, mở đầu đợt hai của kế hoạch mùa khô 1974-1975 vào ngày N (đêm 9 rạng ngày 10-3-1975), theo quy định của Bộ Tổng tư lệnh. Ngoài kế hoạch quân sự, các anh còn có kế hoạch đẩy mạnh nổi dậy của quần chúng, sử dụng lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân theo tinh thần Tổng tiến công và nổi dậy. Đồng thời, BộTư lệnh Miền cũng đã thông qua kế hoạch và giao nhiệm vụ cho Quân đoàn IV, các quân khu, sư đoàn và các lực lượng đặc công, biệt động trong nội thành Sài Gòn.

Một điều cần suy nghĩ trong những ngày này là sắp xếp cán bộ chủ trì ở các “quả đấm chủ lực”. Chiến thắng Tây Nguyên càng cho thấy việc ấy quan trọng biết nhường nào. Quân uỷ Trung ương quyết định bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Quân đoàn IV và Đoàn 232.

Đòng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh, đồng chí Hoàng Thế Thiện, Chính uỷ, đồng chí Bùi Cát Vũ, Phó Tư lệnh Quân đoàn IV. Đồng chí Nguyễn Minh Châu, Tư lệnh, đồng chí Trần Văn Phác, Chính uỷ, đồng chí Trần Văn Nghiêm, Phó Tư lệnh Đoàn 232.

19 giờ ngày 11-3, tôi điện cho anh Văn Tiến Dũng:

“Sáng nay, trước khi nhận điện của anh, Bộ Chính trị và Quân uỷ đã họp nhận định tình hình có mấy điểm chính sau đây:

1. Kế hoạch chiến lược và chiến dịch do Bộ Chính trị và Quân uỷ đề ra là chính xác, công tác chuẩn bị làm tương đối tốt, vì vậy ngay trong nhũng ngày đầu vào đợt đã giành được thắng lợi lớn.

2. Thắng lợi ở Buôn Ma Thuột – Đức Lập trên đường 19 và ở các hướng khác chứng tỏ ta có khả năng giành thắng lợi to lớn với nhịp độ nhanh chóng hơn dự kiến. Đặc điểm nổi bật là tinh thần địch rất sa sút.

3. Trước tình hình đó, ngay trong đợt hoạt động này và kể cả trong kế hoạch tiếp theo, cần có tinh thần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời lợi dụng thời cơ mới giành thắng lợi lớn.

4. Ở B3, cần hết sức chú trọng đợt hoạt động này và kể cả trong kế hoạch tiếp theo, cần có tinh thần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời lợi dụng thời cơ mới giành thắng lợi lớn.

5. Điện của anh hoàn toàn phù hợp với ý kiến trao đổi sáng nay trong Bộ Chính trị và Quân uỷ. Tôi vừa bàn với anh Ba, anh Sáu. Hoàn toàn đồng ý với chủ trương trong điện:

a) ở Buôn Ma Thuột, tiêu diệt địch còn lại, phát triển xung quanh, sẵn sàng đánh viện, b) Nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, bao vây ngay để tiêu diệt, c) Hoàn thành ngay thế bao vây Pleiku, thực hiện chia cắt chiến lược, bao vây và chuẩn bị tiêu diệt An Khê để cô lập Pleiku.

Phát triển xuống phía nam sẽ làm sau một bước.

Trong phát triển tiến công, chú ý nắm vững chủ lực, tránh phân tán.

Thường vụ Quân uỷ Trung ương quyết định phong quân hàm đại tá cho đồng chí y Blốc. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhiệt liệt khen ngợi toàn thể cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, công nhân viên quốc phòng và nhân dân trên mặt trận Tây Nguyên đã giành thắng lợi lớn.

Chúc anh mạnh khoẻ và gửi lời chúc anh em trong đó Ký tên: Chiến”.

Không khí phấn khởi, tin tưởng, quyết tâm bao trùm cơ quan Tổng hành dinh.

Lúc này, nắm tình hình địch là trọng tâm công tác của cơ quan chiến lược. Tôi chỉ thị mắc cho đồng chí Trưởng phòng 70 Cục Quân báo một máy điện thoại ở nhà riêng và dặn đồng chí thư ký từ nay khi nào có tin kỹ thuật thì dù tôi ở đâu, làm gì, ngay cả khi đang họp Bộ Chính trị, cũng phải báo ngay. Hằng ngày, cứ 4 giờ 30 sáng, phải gọi điện cho đồng chí Thanh hỏi xem có tin tức gì mới trong đêm.

***

Từ chỗ phán đoán sai lầm, địch bắt đầu tỉnh ra và bị động đối phó.

Tin cho biết Nguyễn Văn Thiệu có ý định dựa vào các lực lượng còn lại và các điểm phụ cận Buôn Ma Thuột, điều thêm lực lượng bộ binh có không quân yểm trợ, tổ chức phản kích chiếm lại thị xã. Chiến đoàn 45 cùng sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn 23 nguỵ đã đổ bộ bằng trực thăng xuống Buôn Hồ trưa ngày 11-3. Không quân nguỵ đang được huy động ở mức độ cao.

12 giờ ngày 12-3, Quân uỷ điện tiếp cho anh Dũng, đồng gửi anh Hoàng Minh Thảo và Thường vụ Đảng uỷ B3.

“Địch đang có ý định dựa vào các lực lượng chưa bị tiêu diệt của chúng và các điểm phụ cận, tăng thêm lực lượng phối hợp với không quân tiến hành phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Vì vậy, việc cấp thiết nhất là nhanh chóng tập trung lực lượng hơn nữa, nhanh chóng tiêu diệt các đơn vị và các căn cứ của địch ở chung quanh Buôn Ma Thuột, tiêu diệt viện binh của chúng. Tiêu diệt được bộ phận quan trọng sinh lực của địch chung quanh Buôn Ma Thuột sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của chiến dịch. Đồng thời chỉ đạo mọi công tác hoạt động trên các hướng phát triển đã dự định: Cheo Reo, Pleiku và đường 19. Chú ý khai thác tù binh phục vụ cho tác chiến và binh vận. Chúc thắng to. Ký tên: Chiến”.

Đồng thời, tôi chỉ thị Bộ Tổng Tham mưu điện cho Khu 5, Trị – Thiên và Quân đoàn II thông báo nội dung cuộc họp của Bộ Chính trị ngày hôm trước (11-3), hướng dẫn phương hướng hoạt động tiếp theo của các chiến trường là cần khẩn trương, mạnh bạo, kịp thời tranh thủ điều kiện thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn. Theo những hướng đã dự kiến, dựa vào quyết tâm cơ bản đã đề ra, kịp thời phát triển một cách kiên quyết. Hết sức coi trọng tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch trong khi chúng rút chạy hoặc trong khi chúng đưa quân đến tiếp viện.

***

Những ngày tháng ba sôi động.

Đã trở thành lệ thường, các anh trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương thường đến Tổng hành dinh dự giao ban, nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình chiến sự, trao đổi ý kiến chỉ đạo kịp thời. Riêng tôi, ngoài những giờ làm việc ban ngày, thường là thông tầm không nghỉ trưa, tối nào cũng vào Sở chỉ huy bằng lối cửa tây, làm việc và ngủ luôn tại đấy. Phấn khởi xua tan mỏi mệt. Tiết xuân nao nức lòng người. Quyền chủ động chiến lược giúp cho cơ quan lãnh đạo, chỉ huy thêm bình tĩnh, sáng suốt, linh hoạt, ngược lại với kẻ địch đang trong thế bị động, tuyệt vọng, rối mù.

Trong buổi giao ban sáng 13-3, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo: Có khả năng địch tập trung lực lượng của chúng còn lại ở Tây Nguyên và Pleiku, cũng có thể chúng buộc phải rút chạy khỏi Tây Nguyên. Dù trong tình huống nào, ta cũng phải thực hiện cho bằng được và thực hiện thật nhanh quyết tâm tiêu diệt địch, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.

Buổi giao ban tiến hành nhanh, gọn. Thời gian là lực lượng, không thể lãng phí. Tôi điện ngay cho anh Dũng:

“Trường hợp địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, mất thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ, việc chia cắt chiến lược đường số 19 thực hiện tốt thì có khả năng chúng tập trung các lực lượng còn lại ở B3 và Pleiku, cũng nên nghĩ đến khả năng chúng buộc phải thực hiện rút lui chiến lược. Vì vậy, cần bao vây ngay Pleiku bằng các thứ hoả lực, kể cả các loại pháo cao xạ, triệt đường tiếp tế của địch, chuẩn bị tiêu diệt địch trong cả hai tình huống: địch co cụm ở Pleiku, hoặc rút chạy khỏi Tây Nguyên. Ký tên: Văn”.

Bức điện được chuyển lúc 9 giờ sáng.

Hôm sau, anh Lê Trọng Tấn gọi điện cho tôi báo cáo tin kỹ thuật mới nhất Cục 2 vừa nhận được: Tình hình Pleiku, Kon Tum rất hỗn loạn. Địch đốt các kho tàng. Dân hốt hoảng. Thiệu bay ra Cam Ranh nghe Phú báo cáo tình hình, có Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm và Đặng Văn Quang cùng dự. Nghe xong, Thiệu nói: Quân viện bị cúp. Đạn và tiền thiếu. Địch đánh mạnh. Kon Tum – Pleiku, ít người, kinh tế không có. Cho rút quân về giữ vững vùng duyên hải. Lộ trình rút được chấp thuận là liên tỉnh lộ 7.

Tôi trao đổi với anh Tấn:

– Địch rút bỏ Pleiku – Kon Tum đã rõ rệt. Chúng sẽ đưa lực lượng xuống co cụm giữa đồng bằng Khu 5, Huế và Đà Nẳng. Tình hình sẽ phát triển nhanh. Anh điện ngay cho anh Dũng biết.

Nhận được các bức điện dồn dập gửi vào, anh Văn Tiến Dũng và Bộ Tư lệnh Tây Nguyên rất đồng tình. Các anh lập tức ra lệnh cho các hướng hình thành bao vây và tổ chức đánh địch. Tuy vậy, không phải ai cũng nhạy bén trước tình hình diễn biếịl quá nhanh. Sau này được biết lúc bấy giờ, có một số cán bộ ở chiến trường nghĩ khác. Có đồng chí đã nói với anh Vũ Lăng, Phó Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên: “Làm gì có chuyện địch rút Pleiku”(!).

***

Cả nước hướng về miền Nam.

Báo hằng ngày hết ngay từ sáng sớm. Trong các giờ phát thanh thời sự, hầu như mọi gia đình đều ngồi bên máy thu thanh. Các bản tin nhanh của Thông tấn xã Việt Nam, mặc dù đã tăng thêm mỗi ngày mấy bản, vẫn không đáp ứng kịp yêu cầu. Đài BBC được nhiều người đón nghe. Các phóng viên nước ngoài thường trú tại Hà Nội chạy ngược xuôi săn lùng tin, khẩn trương không kém.

Mặt trận dư luận phải ăn khớp với mặt trận quân sự.

Không phải lúc nào công tác thông tin, tuyên truyền cũng cần triển khai rầm rộ. Tôi trao đổi với các anh trong Bộ Chính trị và điện ngay cho anh Dũng: “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, chúng tôi chủ trương về tuyên truyền công khai chỉ thực hiện từng bước. Lúc đầu đưa ra từng trận, đợi đến khi cuộc tiến công cơ bản hoàn thành mới đưa tin giải phóng Buôn Ma Thuột. Trong khi đưa tin, nêu bật sự vi phạm Hiệp định của địch, nói nhiều về phong trào nổi dậy của quần chúng, đồng thời nói nhiều đến hoạt động của Quân giải phóng. Anh có ý kiến gì, điện cho biết. Ký tên: Chiến”.

Đồng thời, tôi chỉ thị Tổng cục Chính trị thông báo chủ trương này cho các cơ quan thông tin đại chúng.

Trong quân sự, nhất là ở thời điểm quyết định, cần phải nói ít, làm nhiều. “Cần miếng mà không cần tiếng”.

Tin về dồn dập. Cơ quan tác chiến phải lựa chọn, sàng lọc để báo cáo tình hình được chính xác, kịp thời.

Địch đã phát hiện được hướng tiến công chiến lược Tây Nguyên của ta. Chúng đang điều động lực lượng cơ động chiến lược gồm quân dù và một số thiết đoàn hòng phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho Phạm Văn Phú phải củng cố lại lực lượng chiếm lại Buôn Ma Thuột bằng mọi giá. Chúng sừ dụng Liên đoàn biệt động quân 21, hai trung đoàn 44 và 45 của Sư đoàn 23 với sự yểm trợ của Sư đoàn 3 không quân đóng ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang). Đồng thời, chúng điều Liên đoàn biệt động quân 7 từ Sài Gòn ra thay Sư đoàn 23 ở Pleiku.

Địch chưa kịp hành động thì Liên đoàn 21 đã bị ta đánh thiệt hại nặng. Ngày 13-3, Trung đoàn 45 được 200 lần chiếc máy bay lên thẳng đổ xuống đông Buôn Ma Thuột, cũng bị quân ta vây đánh, diệt hai tiểu đoàn.

Từ chiến trường Khu 5, ngày 15-3, anh Chu Huy Mân điện ra báo cáo: tình hình phát triển nhanh và thuận lợi. Ở vùng ven biển, Khu 5 sẽ đánh Tam Kỳ, Trà Bồng, Sơn Hà, phát triển xuống đường số 4 xung quanh Quảng Ngãi, Bình Định, tạo điều kiện cho đồng bằng mở mảng, giành dân, đồng thời bao vây An Khê, tạo thời cơ dứt điểm.

Ngay hôm đó, tôi tranh thủ trao đổi với anh Ba và anh Sáu về những diễn biến mới trên chiến trường Tây Nguyên và các chiến trường khác, xác định phương hướng phát triển chiến dịch Tây Nguyên. Các anh hoàn toàn nhất trí. Tôi điện cho anh Văn Tiến Dũng:

“20 giờ ngày 15-3-1975.

Điện gửi anh Tuấn, Chúng tôi đã trao đổi với anh Ba và anh Sáu, nhận định tình hình như sau:

1. Căn cứ các nguồn tin, hiện nay địch đã thấy rõ hướng chính của ta là nam Tây Nguyên, xác định được tương đối rõ lực lượng của ta ở đây, ở các hướng khác ta chỉ hoạt động có mức độ, vì vậy chúng đã có chủ trương tập trung cố gắng, điều động lực lượng cơ động chiến lược và một số liên đoàn biệt động và thiết đoàn có thể theo đường 21 mở cuộc hành quân tương đối lớn hòng giành lại Buôn Ma Thuột.

Tuy lực lượng có tăng, nhưng tinh thần chúng rất kém, các mặt bảo đảm có nhiều khó khăn. Ta có đầy đủ điều kiện để tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch.

2. Vì vậy, cần tập trung lực lượng ở vùng A (Buôn Ma Thuột) và phụ cận, nắm chắc lực lượng dự bị trong tay, nhanh chóng tập trung binh hoả lực tiêu diệt từng cánh quân của địch, trước hết là trên hướng Phước An, sẵn sàng tiêu diệt viện binh đường không, đường bộ của chúng.

Bước tiếp theo sẽ chuyển lực lượng lên tiêu diệt địch ở Cheo Reo.

Trận Buôn Ma Thuột đang phát triển thành một cuộc chiến đấu quy mô lớn nhằm tiêu diệt trên dưới hai sư đoàn địch. Việc tiêu diệt sinh lực lớn của địch ở đây sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển thắng lợi của chiến dịch trên cả chiến trường Tây Nguyên. Cần động viên cán bộ, chiến sĩ có quyết tâm thật lớn, nắm lấy cơ hội lớn, tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch, giải phóng nam Tây Nguyên.

3. Đối với B (Nam Bộ), hình thành từng bước thế bao vây tăng cường khống chế các sân bay và phá huỷ các kho tàng của địch, tiến hành thật khẩn trương mọi công tác chuẩn bị cần thiết để không cho địch kịp trở tay.

Chúc thắng to.

Ký tên: Chiến”.

Trong khi các đồng chí cơ yếu đang khẩn trương dịch điện, tôi nhận được điện của anh Dũng cho biết bộ đội rất phấn khởi và hứa “sẽ nỗ lực tổ chức chỉ đạo thực hiện nhằm đạt các yêu cầu của trên, rút ngắn thời gian, vượt kế hoạch năm 1975. Trước tình hình chiến sự đang phát triển nhanh chóng, cung cách làm ăn “rị mọ” của cán bộ ta là một trở ngại, cần được nhanh chóng khắc phục!

Đọc xong, tôi viết thêm một đoạn vào bức điện đang dịch dở:

“Viết xong điện này thì nhận được điện 05 của anh.

Chúng tôi nhất trí ta sẽ hoàn thành vượt thời gian rất nhiều kế hoạch chung đã định, hiện đang nghiên cứu và gấp rút chuẩn bị theo phương hướng đó. Sau khi xin chỉ thị Bộ Chính trị, tôi sẽ có điện mới cho anh”.

Như vậy là phía trước và phía sau đều thống nhất, trên dưới đều quyết tâm: Phải thắng nhanh hơn, lớn hơn, không hoàn toàn phụ thuộc vào chỉ tiêu và thời gian định ra trong kế hoạch cơ bản.

***

Tình hình phát triển quá nhanh.

Mặc dù ta đã hạn chế mức độ tuyên truyền, cả nước ta và thế giới cũng bị cuốn hút vào cơn lốc cách mạng ở miền Nam Việt Nam.

Ở các cơ quan chiến lược của Đảng và của quân đội, nơi nắm vững tình hình từng giờ, từng phút, không khí lại càng sôi động. Tất cả tâm trí dành hết cho miền Nam.

Từ đầu tháng 2, theo đề nghị của anh Lê Trọng Tấn, Quân uỷ đồng ý để Bộ Tổng Tham mưu triển khai nghiên cứu kế hoạch tác chiến các bước tiếp theo chiến dịch Tây Nguyên, là các chiến dịch Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn, chủ động cùng các tổng cục trong Bộ Quốc phòng xác định các mục tiêu chiến lược, sử dụng lực lượng và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật. Lúc này, cơ quan tác chiến không đủ cán bộ, một số trợ lý có năng lực và kinh nghiệm đã tham gia Đoàn A.75. Sau khi trao đổi với Tổng Cục Chính trị, tôi gọi điện cho đồng chí Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục Tác chiến:

– Cậu sang ngay Cục Cán bộ bàn bạc chọn lấy một số cán bộ để về làm kế hoạch. Tôi đã gặp anh Song Hào, anh ấy rất nhất trí. Nhớ cho người ra Trạm 66 mời anh Trần Hải Phụng, Tư lệnh biệt động Sài Gòn – Gia Định vào tham gia tổ nghiên cứu chiến dịch Sài Gòn. Anh ấy thông thuộc thành phố Sài Gòn. Chú ý sử dụng biệt động, đặc công đánh vào các mục tiêu quan trọng.

Diễn biến của chiến trường đi trước mọi phán đoán và dự kiến. Riêng tôi trong những ngày này, diễn biến của chiến trường như một cuốn phim quay thường trực trong đầu. Tại Tổng hành dinh, tôi thường đứng rất lâu trước tấm bản đồ lớn, không những theo dõi sự phát triển của các mũi tiến công của quân ta, sự đối phó của địch mà còn suy nghĩ, tính toán, hình dung những bước phát triển tiếp theo trên tất cả các hướng chiến lược từ Trị – Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long. Tấm bản đồ chiến sụ như rõ hơn, sáng hơn mọi ngày. Đất nước thân yêu trải dài bên bờ Thái Bình Dương đang chuyển mình, bỏ rơi lại phía sau mọi suy nghĩ, tác phong lề mề, lạc hậu. Câu thơ của Bác trong bài thơ Học đánh cờ lúc này nhắc nhở:

“Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tôt cũng thành công”.

Nhiều đêm, tôi sang phòng trực ban tác chiến ngồi cùng anh em đến tận khuya, muốn đón tin về sớm phút nào hay phút ấy.

Những lúc quá căng thẳng, thỉnh thoảng tôi ra Hồ Tây bơi thuyền để thư giãn tinh thần. Thường mỗi lần như thế, có một cán bộ cùng đi để tranh thủ làm việc nhẹ nhàng, nhất là ghi lại những ý nghĩ quan trọng bất chợt nảy ra. Có lần mải suy nghĩ, đã bơi thuyền khá xa, ra tận đền thờ bà chúa Liễu Hạnh.

Ngày 16-3, được tin địch rút Kon Tum, tôi điện ngay cho Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên yêu cầu triển khai đánh quân địch rút chạy, đồng thời lệnh cho Quân khu 5 đưa bộ đội địa phương lên chốt đường số 7, cho Sư đoàn 968 và Sư đoàn 470 công binh tiến nhanh vào Pleiku, Kon Tum.

Ngày hôm sau, Cục Tác chiến báo cáo: Bộ đội ta đang thực hiện kế hoạch cắt đứt con đường này, tiêu diệt quân địch đang tháo chạy. Ở Trị – Thiên, phối hợp với chiến trường chính Tây Nguyên, quân ta đã tiến công phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực đường 14, diệt và bắt gần 1.000 tên địch, thu hút, giam chân quân địch ở tây nam Thừa Thiên, diệt cứ điểm Chúc Mao và điểm cao 300, uy hiếp tây bắc Huế, tạo điều kiện cho các lực lượng địa phương tiêu hao sinh lực địch, vũ trang tuyên truyền gây cơ sở quần chúng suốt từ nam sông Thạch Hãn đến Vụng Lăng Cô.

Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nắm tình hình các chiến trường Khu 5, Nam Bộ. Trong buổi giao ban sáng 17-3, trước một bản đồ lớn phản ánh tình hình chiến sự mới nhất, tôi đi đến một nhận định: Sau khi quân ta đã cơ bản đánh bại cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột, quân địch ở đây đang thực hiện co cụm chiến lược, tập trung về hướng Sài Gòn, Cam Ranh, có thể cả Đà Nẵng. Thời cơ lớn đã xuất hiện.

Qua trao đổi, tôi và các đồng chí chủ trì trong Bộ Tổng Tham mưu nhất trí ngày mai sẽ đề nghị với Bộ Chính trị: Sau khi Tây Nguyên cơ bản đã được giải phóng, phát triển theo hai hướng: hướng chủ yếu, phần lớn lực lượng B3 sẽ phát triển vào miền Đông Nam Bộ.

Hướng thứ hai, phát triển xuống đồng bằng Khu 5 với lực lượng hiện có, có thể tăng cường thêm một sư đoàn.

Để đáp ứng kịp yêu cầu của các hướng tiến công chiến lược, lệnh cho Đoàn 559 chuyển cả tuyến từ đường Trường Sơn sang đường 14 (Pleiku – Kon Tum), tăng cường trang bị, vừa làm công tác vận chuyển vừa bảo vệ hành lang, củng cố vùng giải phóng.

Cuộc giao ban vừa xong, tôi tranh thủ điện cho anh Văn Tiến Dũng:

“Địch đang thực hiện co cụm chiến lược sớm hơn ta dự kiến. Trước sự phát triển tiến công của ta, sắp đến quá trình co cụm chiến lược sẽ tiếp tục. Phương hướng là tập trung ở Sài Gòn, Cam Ranh, có thể Đà Nẵng. Đây là thời cơ lớn. Phát triển tiến công theo hướng nào là chủ yếu. Anh trả lời về hướng phát triển để kịp xin ý kiến Bộ Chính trị vào sáng mai. Chúc anh và anh em khoẻ, thắng thật to. Ký tên: Chiến”.

Bức điện được chuyển ngay lúc 9 giờ sáng.

Vừa ngồi vào bàn làm việc, giở tờ báo Nhân dân với hàng tít đậm đưa tin chiến thắng trên trang nhất, thì đồng chí trực ban tác chiến chuyển đến một bức điện của anh Dũng đề ngày 16-3. Sau khi báo cáo bổ sung tình hình mới nhất ở Tây Nguyên, anh xin ý kiến Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương về mấy việc lớn:

– Bảo vệ, củng cố vùng mới giải phóng.

– Diệt viện binh địch. Diệt hai quận còn lại của tỉnh Đắc Lắc và quận Đức Xuyên, giữ đường 21 không cho địch giải toả.

– Phát triển tiến công Cheo Reo, cắt rời Pleiku và Kon Tum.

Ngoài ra, anh đề nghị B2 phối hợp tiến công về hướng Quảng Đức, đánh chiếm Nhân Cơ, bao vây tiêu diệt Gia Nghĩa. Khu 5 tiến công tiêu diệt An Khê, cắt đường 19. B4 và B5 chia cắt Huế – Đà Nẵng, uy hiếp hai thành phố này.

Cục Tác chiến sao bức điện của anh Dũng gửi ngay đến các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Tôi tranh thủ điện tiếp vào bức điện vừa đánh đi:

“Phương án 1: Sau khi Tây Nguyên đã được giải phóng hoặc cơ bản giải phóng thì phát triển theo hai hướng: hướng chủ yếu là cho đại bộ phận lực lượng ở B3 phát triển vào miền Đông; hướng thứ hai là mở rộng vùng giải phóng đồng bằng Khu 5 với lực lượng hiện có, có thể tăng cường F.968 và binh khí kỹ thuật. Tôi, anh Sĩ (4) anh Ba Long (5) nhất trí nặng về Phương án 1. Ngày mai sẽ xin ý kiến Bộ Chính trị. Ký tên: Chiến”.

Tối hôm ấy, Bộ Tổng Tham mưu điện cho Quân khu Trị – Thiên và Khu 5 đưa ngay lực lượng xuống đồng bằng với quy mô trung đoàn, phối hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân đánh chiếm các khu vực ở vùng sâu, đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc, cắt đường số 1, chuẩn bị tiến công Đà Nẵng.

Ngày hôm sau, có tin báo Sư đoàn dù ở Đà Nẵng đang rút về Sài Gòn, địch đưa Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ lên thay, có hiện tượng địch muốn bỏ đất từ bắc Huế đến đèo Hải Vân. Đó là những dấu hiệu địch co cụm chiến lược trên toàn miền Nam. Tôi hội ý yới Bộ Tổng Tham mưu điện cho B4 và B5 lập tức đánh ngay, cắt đường số 1, pháo kích sân bay Phú Bài, kiên quyết không cho địch rút quân, co cụm về Đà Nẵng.

***

Những tư liệu đáng tin cậy sau này tiết lộ:

Sáng 11-3, ngay sau khi được tin Buôn Ma Thuột đã bị đánh chiếm, Nguyễn Văn Thiệu họp với Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng, Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Đặng Văn Quang. Thiệu trở lại với một suy nghĩ đã có từ sau ngày Hiệp định Paris được ký kết: Trong tình hình nguy khốn, có thể từng bước bỏ Vùng I và Vùng II chiến thuật (Trị – Thiên, Tây Nguyên và các tỉnh phía bắc miền Trung), co về giữ Vùng III và IV chiến thuật, bao gồm cả đồng bằng sông Cửu Long. Thà mất đất còn hơn chung sống với “cộng sản”. Thiệu phác ra kế hoạch trên bản đồ và nói: “Với sức lực và khả năng của ta, chắc chắn ta không thể nào giữ được toàn bộ vùng đất theo ý muốn. Chúng ta phải triển khai lại lực lượng làm sao có thể giữ những vùng đông dân và trù phú này thôi. Chính những vùng này mới thật quan trọng”.

Chiến lược này của Thiệu còn được gọi nôm na là “đầu bé đít to”, thả lỏng phần trên, giữ chặt phần dưới.

Vùng “trên” tìếp giáp với miền Bắc vốn là vùng bất lợi về quân sự cũng như về kinh tế, vùng “dưới”, chính là vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú, cung cấp lúa gạo, rau quả cá tôm cho 75% dân số “Việt Nam cộng hoà”.

Không ai có ý kiến gì?

Cái phương án vạn bất đắc dĩ này, thực ra là một cơn ác mộng.

Trở lại vấn đề Buôn Ma Thuột, Thiệu yêu cầu “tử thủ”, chiếm lại bằng mọi giá.

Ngay chiều hôm ấy, Đài phát thanh Sài Gòn và Đài “quân đội cộng hoà” kêu gào đến thất thanh: “Tử thủ Buôn Ma Thuột!”.

Không may cho nhà báo Pháp Pôn Lêăngđri (Paul Léandri) lại đưa tin: Buôn Ma Thuột đã bị thất thủ!

Bản tin của hãng thông tấn AFP khác nào một gáo nước lạnh dội lên đầu Thiệu. Nhà báo Pháp đã phải trả giá đắt về một tin chiến sự kịp thời, chính xác, bằng tính mệnh của mình.

Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng II chiến thuật, tìm cách cứu vãn tình thế. Phú từng là một lính nguỵ dưới thời Pháp, đã bị quân ta bắt tại Điện Biên Phủ năm 1954, nay là một viên tướng tồi, không được giới quân sự tín nhiệm. Tuy vậy, Thiệu lại nâng đỡ Phú, bởi vì cả hai cùng giúp nhau lên chức.

Cuộc họp tiến hành tại Cam Ranh trưa 14-3, theo đề nghị của Phú, vì Pleiku không được an toàn, tại ngôi biệt thự xây cất trong dịp đón Tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn hồi năm 1966. Cùng họp có Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang, ba cố vấn thân cận nhất của Thiệu. Cuộc họp được giữ tuyệt đối bí mật, kể ca với cố vấn Mỹ.

Tình hình Quân đoàn II nguỵ rất đen tối. Hầu như toàn bộ Buôn Ma Thuột đã nằm dưới quyền kiểm soát của cộng sản. Các đường giao thông đều bị cắt đứt. Phú không dám trả lời dứt khoát khi Thiệu hoi có thể chiếm lại Buôn Ma Thuột được hay không? Phú chỉ xin thêm quân và máy bay lên thẳng để chở quân, vì không thể tiếp viện bằng đường bộ.

Yêu cầu của Phú không được đáp ứng, vì không còn quân dự bị, và 200 trong số 400 trực thăng của quân nguỵ hoặc đã bị cộng sản bắn rơi, hoặc không hoạt động được nữa do thiếu phụ tùng thay thế.

Kết thúc cuộc họp, Thiệu lệnh cho Phú rút bỏ Pleiku, Kon Tum, triển khai lực lượng tái chiếm Buôn Ma Thuột. Các đơn vị còn lại sẽ rút về Tuy Hoà. Ở đó, sẽ tập hợp, củng cố lực lượng tiến hành một chiến dịch chiếm lại Buôn Ma Thuột.

Phú chủ trương rút quân theo đường số 7 để tranh thủ bất ngờ. Đây là con đường liên tỉnh từ lâu hầu như đã bị bỏ quên, nên hư hỏng nặng. Cầu cống trên đường bị sập. Rõ ràng, cuộc rút quân trên con đường mới lạ, xuyên qua rừng núi, đầy rủi ro, nguy hiểm này, không có một biện pháp trợ giúp tối thiểu nào của Bộ Tổng Tham mưu, là một cuộc phiêu lưu lớn, nhưng đành phải chấp nhận vì không còn cách nào khác.

Phú chỉ đề nghị với Thiệu một “ân huệ” cuối cùng. Đó là việc thăng chức thiếu tướng cho Phan Văn Tất, đại tá, Tư lệnh biệt động quân Vùng II chiến thuật. Thiệu đồng ý.

Thiệu có ngờ đâu, đây là “con bài chuồn”, là một trò “thế mạng” của Phú, vì khi trở về Pleiku, Phú lập tức giao quyền cho “tân thiếu tướng” Phan Văn Tất chỉ huy cuộc rút lui. Ngay sau đó, Phú rời Pleiku bằng trực thăng với lý do về trông coi sở chỉ huy mới ở Nha Trang, bỏ mặc Tất cùng toàn bộ binh sĩ nguỵ ở Vùng II chiến thuật đi vào cõi chết!

Tin tức sau này còn cho biết:

Trong khi nguỵ quyền Sài Gòn đang ở bên bờ vực thẳm, báo chí Mỹ và Sài Gòn đưa tin một phái đoàn của Quốc hội Mỹ bay sang Sài Gòn để xem xét tại chỗ, có nên viện trợ bổ sung cho Thiệu 800 triệu đô la nữa hay không? Phái đoàn do thượng nghị sĩ Diuây Báclít (Dewey F. Bartlett) và dân biểu Giôn Phlin (John J. Flynt) dẫn đầu, gồm tám người thuộc hai đảng Cộng hoà và Dân chủ cùng một tá nhân viên tham mưu và mật vụ.

Chính quyền Sài Gòn bố trí một chương trình lịch sự, chu đáo để các nghị sĩ Mỹ đi khắp nơi, kể cả đến xem các “chuồng cọp” ở Côn Sơn và gặp phái đoàn “Việt cộng” ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Sau mấy ngày xem xét, tiếp xúc, thái độ của phái đoàn Quốc hội Mỹ không mấy thuận lợi đối với Thiệu.

Trừ hai trưởng đoàn, các thành viên còn lại của phái đoàn dường như dửng dưng trước cảnh “thập tử nhất sinh” của chế độ Sài Gòn. Dửng dưng, ngạo mạn, không hề có một thái độ thân hữu nào đến mức Nguyễn Văn Thiệu không tự kìm chế được mình, buột mồm nói trong buổi dạ tiệc chiều ngày 1-3 tại dinh Độc Lập:

“Vấn đề rút lại thành một câu hỏi đơn giản là liệu những lời hứa của Mỹ còn giá trị nữa hay không? Lời nói của Mỹ có nên tin nữa hay không? Đó là thông điệp tôi muốn các ngài chuyển tới Quốc hội Hoa Kỳ”.

Thất vọng và cay đắng, Thiệu nói thêm:

“Tôi xin được phép khen ngợi những người bạn chân chính về quan điểm đúng đắn của họ, và tôi cũng xin được phép nhắc lại ở đây câu nói đầy ý nghĩa: quà tặng là quan trọng nhưng cách trao tặng lại càng quan trọng hơn”.

Dạ tiệc ngày 1-3 là bữa tiệc lớn cuối cùng ở dinh Độc Lập. Cay đắng thay cho Nguyễn Văn Thiệu, đây không chỉ là cách tặng quà, mà ngay cả “món quà” ít ỏi chẳng thấm vào đâu, sau đó cũng không có nốt?

Chú thích:

(1) Anh Lê Đức Thọ.
(2) Cán bộ tác chiến được cử vào theo dõi trận Buôn Ma Thuột.
(3) Buôn Ma Thuột.
(4) Đồng chí Hoàng Văn Thái.
(5) Đồng chí Lê Trọng Tấn.

TÁC GIẢ: Võ Nguyên Giáp
vnthuquan.net


Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!
Đánh máy : MoHaNoi – NguyenHoc
Nguồn: MoHaNoi
Người đăng: NHDT
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2006

Ngày 24 tháng 6: “Một Lênin của Đông Dương”

Thứ năm, 24/06/2009, 03:44 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 87 năm, ngày 24-6-1922, tờ “L’ Humanité” (Nhân Đạo) đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” của Nguyễn Ái Quốc. Đây là một truyện ngắn hư cấu giấc mơ của Vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

Liên quan đến “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh Pháp trong thư đề ngày 24-6-1931 gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đã đánh giá: “Thực ra từ hơn 10 năm nay, Nguyễn Ái Quốc là một chiến sĩ vô địch vì sự nghiệp độc lập của Đông Duơng. Lúc đầu là một người dân tộc chủ nghĩa, ông ta sớm đi theo chủ nghĩa cộng sản, và từ nhiều năm nay những người cách mạng bản xứ xem ông ta như một Lênin của Đông Dương…”.

Ngày 24-6-1942, leo lên vùng núi Lũng Dẻ thuộc khu núi đá Lam Sơn (Cao Bằng), Bác tức cảnh làm bài thơ “Thướng sơn” (Leo núi): “Lục nguyệt nhị thập tứ/Thướng đáo thử sơn lai/Cử đầu hồng nhật cận/ Đối ngạn nhất chi mai” (Tố Hữu dịch: Hai mươi tư tháng Sáu/ Lên ngọn núi này chơi/ Ngẩng đầu: mặt trời đỏ/ Bên suối một nhành mai).

Ngày 24-6-1946, tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp hơn 100 anh em đại biểu Nam bộ đến chào và bày tỏ tinh thần thống nhất quốc gia. Cùng ngày, Bác tiếp Bộ trưởng Hải ngoại M.Moutet và Đô đốc D’ Argenlieu cùng Ban Trị sự Hội Pháp-Việt hữu nghị mới thành lập… Trong số những Việt kiều đến chào Bác, có triết gia Trần Đức Thảo.

Ngày 24-6-1959, Bác đón tiếp Tổng thống Indonesia sang thăm Việt Nam. Trong diễn văn chào đón tại sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Bác chân tình nói: “Được đón tiếp Tổng thống Sukarno, nhân dân Việt Nam có cảm tưởng vui sướng như được ôm ấp vào lòng mình 88 triệu anh em Indonesia anh dũng. Có mối tình thương yêu ấy, vì hai dân tộc ta cùng có một hoàn cảnh giống nhau, cùng có một lịch sử vẻ vang kháng chiến oanh liệt chống bọn thực dân cướp nước, giành độc lập tự do. Hai dân tộc chúng ta đều phải tiếp tục đấu tranh để giải phóng hoàn toàn đất nước và trong cuộc đấu tranh đó, hai dân tộc ta thông cảm lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau”.

Trong tháng 6-1960, nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ các cơ quan dân – chính – đảng Trung ương, Bác phân tích: “Công việc cách mạng cũng như các bộ phận trong một chiếc thuyền, bộ phận nào cũng quan trọng cả. Nếu các bộ phận ấy suy bì với nhau thì không được. Ví như chèo thì luôn luôn vùng vẫy. Lái thì ngâm mình dưới nước… Buồm thì thảnh thơi… Ta đang làm cách mạng, có bộ phận này làm việc này, có bộ phận khác làm việc khác, các công việc đều cần thiết, đều vẻ vang cả…”. 

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn