Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Người cán bộ chính sách luôn tận tụy, hết lòng vì công việc

Ngày Tết Quý Tỵ đang cận kề, đã bao lần hẹn, nhưng tới hôm nay (28 Tết) tôi mới gặp được Trung tá Phạm Văn Lực – Trợ lý Ban Chính sách – Dân vận, Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh luôn tích cực với công việc giúp Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đi thăm hỏi, tặng quà các gia đình cán bộ, công nhân viên trong Bộ Tư lệnh gặp hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.

Pham van lucTrung tá Phạm Văn Lực

Tiếp xúc với Trung tá Phạm Văn Lực, ấn tượng ban đầu với mọi người là một cán bộ sôi nổi, nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc. Trò chuyện với anh, được biết, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chính trị năm 1995, anh được điều về Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng công tác. Anh được điều động, giao nhiệm vụ làm công tác chính sách – dân vận từ năm 2001. Đây là công việc hết sức mới mẻ, đòi hỏi anh  phải tìm hiểu, nắm chắc các chế độ chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội đối với cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ và nghiệp vụ công tác. Với phương châm làm việc “Không biết thì hỏi, không giỏi thì phải tự học tập nghiên cứu”, anh đã tiếp cận với công việc bằng tất cả trách nhiệm và năng lực của mình, trên tinh thần “tận dụng mọi thời gian để làm việc”. Vừa học, vừa làm anh đã tích cực nghiên cứu tài liệu, văn bản, học hỏi những người đi trước, nhờ đó mà sau một thời gian ngắn anh đã nắm chắc các văn bản, hướng dẫn của trên về công tác chính sách, dân vận, liên quan đến các đối tượng chính sách trong đơn vị.

Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác chính sách, nếu không nắm chắc quy định, hướng dẫn của trên, tham mưu không kịp thời cho lãnh đạo, chỉ huy hoặc hướng dẫn cho cấp dưới thực hiện không đầy đủ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các đối tượng được thụ hưởng chính sách. Cho nên để nắm chắc các luật, thông tư, nghị định và hướng dẫn của trên là một việc hết sức quan trọng, đòi hỏi phải có một trí nhớ và khả năng tư duy nhanh nhạy, kịp thời. Khi được hỏi, công tác chính sách – dân vận là một nội dung có rất nhiều quyết định, nghị định, thông tư, hướng dẫn thực hiện…, anh chia sẻ kinh nghiệm: “Ban đầu việc nhớ các văn bản của trên cũng hết sức khó khăn nhưng qua học hỏi các anh đi trước và thực tế công việc, giúp mình có tư duy logic hóa từng nhóm nội dung nên dễ nhớ, dễ thuộc và nắm chắc hơn”. Anh cho biết, các đối tượng diện chính sách của đơn vị rất đa dạng, nhiều thành phần, không phải ai cũng nắm chắc được các chính sách được hưởng. Do đó, anh thường hướng dẫn tỷ mỷ, chu đáo, ân cần để các đối tượng chính sách nắm được quyền lợi của mình, không phải làm lại nhiều lần, tránh gây phiền phức cho người được hưởng chế độ, chính sách.

Tâm sự về công việc của mình anh cho biết: “Là người cán bộ làm công tác chính sách – dân vận phải xác định rõ trách nhiệm của mình, bản thân phải có cái tâm trong sáng và thực sự đi sâu, đi sát cơ sở để nắm chắc tình hình các đối tượng chính sách, tình hình địa bàn khu vực đóng quân để tham mưu giúp thủ trưởng các cấp những vấn đề mới nảy sinh, nhằm chăm lo kịp thời các đối tượng chính sách, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm gắn bó với công việc và xây dựng địa bàn đóng quân an toàn”.

Công việc của người trợ lý cũng đòi hỏi phải có sức khỏe dẻo dai và sự chia sẻ của hậu phương, bởi do yêu cầu của công việc anh thường xuyên phải đi công tác. Trong năm 2012, đơn vị triển khai xây dựng 5 nhà tình nghĩa ở các tỉnh Thanh Hóa, Phú Thọ….  Để theo dõi sát tiến độ xây dựng, bàn giao nhà tình nghĩa đúng thời gian đòi hỏi anh phải thường xuyên đi lại phối hợp với địa phương để nắm tình hình và giải quyết các công việc liên quan. Chính vì sâu sát với công việc như vậy nên cả 5 nhà tình nghĩa mà đơn vị xây dựng đều bàn giao theo đúng kế hoạch, góp phần tăng cường mối đoàn kết gắn bó keo sơn giữa đơn vị và chính quyền, nhân dân địa phương.

Trung tá Phạm Văn Lực thực sự là tấm gương tiêu biểu trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh về: “Nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong đơn vị”. Tổng kết năm 2012 vừa qua, anh đã được tập thể tín nhiệm bầu là Chiến sỹ thi đua và được  Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 tặng Giấy khen. Trong thực hiện công tác chính sách, anh đã được Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh & Xã hội tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”. Đây là những ghi nhận thành tích xứng đáng đối với Trung tá Phạm Văn Lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình./.

Duy Hưng
bqllang.gov.vn

Người Trạm trưởng luôn gương mẫu, sáng tạo trong công việc

Năm 2012, Thiếu tá QNCN Vũ Ngọc Sơn, Trạm trưởng Trạm Sửa chữa, Ban Tham mưu – Kỹ thuật, Đoàn 195, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Thủ trưởng Bộ Tư lệnh tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua năm thứ 2 liên tiếp (2011, 2012). Trong năm, anh chủ trì 2 sáng kiến cải tiến kỹ thuật “Gia công bộ vam tháo cánh quạt tháp giải nhiệt” đạt Mức I và sáng kiến “Bộ gá kẹp và vam tháo cần đèn, cột đèn 11m” đạt Mức III, được tặng Bằng khen.

vu ngoc son1Thiếu tá QNCN Vũ Ngọc Sơn báo cáo kinh nghiệm tại Đại hội thi đua Quyết thắng

Trong mỗi người, ai cũng có một hoàn cảnh riêng, đối với Vũ Ngọc Sơn, luôn tự hào về người cha đáng kính của mình: “Tuổi thơ của mình chịu nhiều thiệt thòi, mất mát. Mới 6 tuổi (năm 1970), người cha thân yêu đã anh dũng hy sinh tại chiến trường miền Nam. Chưa thấu hiểu hết nỗi đau mất mát đó, nhưng anh em mình đều rất thương mẹ và tự hào về cha, nên ai cũng chăm ngoan, học giỏi”.

Tấm gương của người cha đã hun đúc trong anh một ước mơ, hoài bão trở thành “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Vậy là sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học năm 1982, anh đăng ký đi học công nhân kỹ thuật Ngành Vận hành máy Điều hoà tại Trường công nhân kỹ thuật III, thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng. Sau 3 năm học tập, rèn luyện vất vả và đầy ắp kỷ niệm khó quên, tháng 1 năm 1985 khi tốt nghiệp ra trường, anh vinh dự được tuyển chọn về công tác ở Đoàn 195, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những ngày đầu về đơn vị, được học tập, công tác, được tận mắt thấy tình cảm sâu nặng của đồng bào và khách quốc tế đối với Bác Hồ, anh thấy mình thật là vinh dự, tự hào và tự nhủ phải cố gắng để xứng với “công cha, nghĩa mẹ” và niềm tin của mọi người. Được giao nhiệm vụ trực vận hành tại Tổ Điều độ B32, trung tâm điều độ bảo đảm thông số cho công tác y tế giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn tuyệt đối thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phục vụ lễ viếng, anh đã không ngừng nỗ lực cố gắng vươn lên, tích cực học hỏi đồng chí, đồng đội, những người đi trước về chuyên môn nghiệp vụ, tính đặc thù của thiết bị, kinh nghiệm trong quản lý, vận hành. Ở môi trường làm việc đặc biệt, anh luôn thể hiện tính nghiêm cách, cụ thể, tỷ mỷ, nên qua hàng ngàn ca trực đều bảo đảm thông số đúng quy định, không để xảy ra sai sót.

Vu Ngoc SonThiếu tá QNCN Vũ Ngọc Sơn (bên phải) truyền thụ kinh nghiệm cho thợ trẻ.

Là con người tâm huyết, tận tụy với công việc, đồng thời anh luôn say mê nghiên cứu, sáng tạo, luôn bám máy, bám công trình, kịp thời phát hiện, xử lý nhanh chóng, chính xác các sự cố kỹ thuật. Nhớ lại tháng 3 năm 2011, trong buổi Lễ hạ cờ, gặp trời mưa to, nên xảy ra sự cố trục trặc động cơ, bảng mạch ở bệ cột cờ. Sau khi nhận lệnh của Chỉ huy Đoàn: Phải tổ chức khắc phục ngay để bảo đảm phục vụ Lễ chào cờ vào sáng sớm hôm sau. Trời đã về đêm, tiếp tục mưa to, rét đậm, có người ở xa cả chục cây số, nhưng anh đã cùng mọi người trong Trạm khẩn trương ra ngay Quảng trường Ba Đình để tập trung khắc phục sự cố. Sau gần 4 giờ sửa chữa, Trạm của anh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhìn đồng hồ đã gần 2 giờ sáng, ai nấy quần áo thấm đẫm nước mưa, chân tay rét run cầm cập, nhưng trong ánh mắt đều ánh lên niềm tin: Sáng sớm mai Quốc kỳ sẽ được kéo lên và tung bay trên Quảng trường Ba Đình.

Bước vào năm 2012, theo yêu cầu của Đảng ủy, Chỉ huy Đoàn phải tập trung đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng công tác bảo dưỡng, sữa chữa, anh đã cùng tập thể bàn biện pháp tập trung xây dựng Trạm chính quy, khoa học, chuyên nghiệp, cơ động nhanh, sẵn sàng nhận và giải quyết sự cố xảy ra bất cứ lúc nào. Nói đi đôi với làm, quyết tâm đi đôi với hành động, anh đã gương mẫu nêu gương phát huy tốt vai trò của người Trạm trưởng, quy tụ sự đoàn kết thống nhất, động viên tư tưởng, củng cố tổ chức, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ vững vàng về chuyên môn, đề xuất trang bị chuyên dùng, phân công nhiệm vụ theo nhóm công tác bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Trong quá trình công tác, anh luôn tìm tòi sáng tạo, đề xuất sáng kiến và giải pháp kỹ thuật, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết bị, quy trình vận hành. Năm 2011 đề xuất 2 sáng kiến lắp then phớt bảo vệ vòng bi động cơ tháp giải nhiệt và van tháo quạt tháp giải nhiệt được đưa vào sử dụng đạt hiệu quả tốt, đã cùng Trạm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ gia công tấm phân luồng máy điều hoà trung tâm K1, K2, K3, K4, gia công lắp đặt nhà phơi bạt mái che, sửa chữa khuôn viên Giếng 6, thay van 1 chiều bơm cấp II số 2, 4; gia công bộ rửa bộ lọc tĩnh điện bằng hoá chất góp phần cùng đơn vị hoàn thành toàn diện mọi nhiệm vụ được giao.

Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Bác Hồ, điều đầu tiên anh suy nghĩ, trăn trở là làm sao xây dựng tập thể Trạm sửa chữa vững mạnh, nội bộ đoàn kết, gắn bó, thương yêu giúp đỡ nhau, với suy nghĩ ấy, trong công tác anh đã biết khơi dậy, phát huy thế mạnh của từng cán bộ, nhân viên trong Trạm, đã kết hợp hài hòa giữa các đồng chí công tác lâu năm có kinh nghiệm chuyên sâu với sự năng động, sáng tạo, kiến thức mới của thợ trẻ, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ. Trong mỗi công việc, anh lên kế hoạch cụ thể, phân công lực lượng hợp lý, đúng chuyên ngành, hỗ trợ được cho nhau, những công việc khó, việc mới, việc đột xuất anh luôn gương mẫu nhận trách nhiệm làm trước và động viên tổ chức mọi người cùng làm.

Khi được hỏi về Vũ Ngọc Sơn, Thiếu tá Ngô Quảng Hằng – Trưởng ban Ban Tham mưu – Kỹ thuật rất tự hào: “Anh Sơn là một cán bộ có năng lực, kinh nghiệm công tác tốt trong Trạm, trong Ban; là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức trong sáng, giản dị, sống gần gũi, hòa đồng với anh em, đồng chí, đồng đội, một tấm gương tận tụy, hết lòng vì công việc”./.

Đặng Văn Phong
bqllang.gov.vn

Đoàn 195 phát huy dân chủ trong thực hiện nhiệm vụ năm 2013

Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, vừa qua, Công đoàn cơ sở Đoàn 195, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội nghị cán bộ, công nhân viên chức năm 2013, nhằm phát huy dân chủ, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức, đoàn viên Công đoàn trong việc quán triệt, triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2013. Đến dự Hội nghị có đông đủ các đồng chí trong Đảng ủy, Chỉ huy Đoàn, Trợ lý Công đoàn, Phụ nữ Bộ Tư lệnh và toàn thể cán bộ, công nhân viên chức trong đơn vị.

195Đại tá Bùi Hải Sơn – Đoàn trưởng phát biểu tại Hội nghị

Hội nghị đã nghe các báo cáo của đồng chí Đại tá Bùi Hải Sơn – Đoàn trưởng về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013; báo cáo của đồng chí Trần Văn Quang – Chủ tịch Công đoàn cơ sở về kết quả phong trào công nhân viên chức, hoạt động công đoàn năm 2012, phương hướng hoạt động năm 2013 và tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cán bộ, công nhân viên trong việc thực hiện các quy chế, quy định của Đoàn.

Phát huy dân chủ, trách nhiệm, nhiều cán bộ, công nhân viên phát biểu ý kiến đều thể hiện sự thống nhất cao với các chủ trương, biện pháp của Đảng ủy, Chỉ huy Đoàn và Ban Chấp hành Công đoàn trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm 2013. Đồng thời, bày tỏ quyết tâm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính cơ bản, vững chắc trong tổ chức thực hiện các mặt công tác, hoàn thành toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị thường xuyên, đột xuất, trong đó nhiệm vụ vận hành hệ thống thiết bị bảo đảm thông số hoàn thành xuất sắc, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; thực hiện tốt hai khâu đột phá về huấn luyện chiến đấu, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật và cải cách hành chính; xây dựng Đảng bộ TSVM tiêu biểu trong Đảng bộ Đoàn 969.

Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở đã phát động phong trào “5 nhất, 3 không” trong đoàn viên công đoàn. Với các nội dung nổi bật là: Vận hành thiết bị an toàn, hiệu quả nhất; bảo đảm thông số kỹ thuật tốt nhất; sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị chất lượng tốt nhất; vệ sinh bảo quản kiến trúc công trình hiệu quả nhất; phục vụ đời sống bộ đội tốt nhất và: Không vi phạm pháp luật, kỷ luật; không để mất an toàn khi tham gia giao thông; không vi phạm các tệ nạn xã hội. Thông qua phong trào, mỗi đoàn viên Công đoàn nêu cao ý chí, quyết tâm, tự lực, tự cường, chủ động sáng tạo, đi sâu học tập, nghiên cứu, nắm vững chuyên môn, khoa học, công nghệ, có đủ khả năng làm chủ hệ thống thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại, đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; đề cao trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên chức trong xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật, xây dựng cảnh quan môi trường đơn vị xanh, sạch, đẹp, đấu tranh bài trừ tiêu cực, các tệ nạn xã hội, xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh góp phần cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2013./.

Hữu Nam
bqllang.gov.vn

“Người đời không phải là thánh thần”

Nhưng không, tôi phải nói thật: Những thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

– Ngày 28/1/1946, trên báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tên dưới một văn kiện có tựa đề là “Tự phê bình”.

Đó là một văn bản kiểm điểm lại tình hình đất nước kể từ sau cuộc Cách mạng giành chính quyền thành công với 4 tháng phấn đấu không biết mệt mỏi của nhân dân và Chính phủ. Trên từng lĩnh vực chính trị, xây dựng thể chế, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, chăm lo đời sống nhân dân… tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng trong văn kiện này, người đứng đầu chính phủ vẫn “tự phê bình”:

Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.Bác Hồ và Tổng bí thư Trường Chinh tháng 1/1955.

“Vì yêu mến và tin cậy tôi mà đồng bào giao vận mệnh nuớc nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Nhờ sức đoàn kết của toàn dân mà chúng ta tranh được độc lập. Nhưng Chính phủ vừa ra đời thì liền gặp những hoàn cảnh khó khăn…

Trước hoàn cảnh khó khăn đó, đồng bào đã cố gắng, người giúp sức, kẻ giúp tiền. Còn tôi thì lo lắng làm tròn nhiệm vụ của mình sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn, đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào… Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân ”.

Phân tích tình hình đất nước, vị Chủ tịch Chính phủ thẳng thắn đánh giá: “Có thể nói rằng: Những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này lẽ khác. Nhưng không, tôi phải nói thật: Những thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ. Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Có thể nói đây là một thông điệp rất minh bạch của người đứng đầu Nhà nước quan niệm về một thể chế dân chủ và ứng xử của những người có trách nhiệm đối với nhân dân của mình.

X&N
kienthuc.net.vn

“Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc”

Ngày 23/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Giám mục Lê Hữu Từ, đề nghị giám mục tiếp tục ủng hộ chính phủ.

– Ngày 23/1/1947, trong bối cảnh chiến tranh đã mở rộng ra cả nước, khối đoàn kết toàn dân trong đó có các tôn giáo cần được huy động vào việc phụng sự nền độc lập của Tổ quốc đồng thời đấu tranh chống lại những âm lưu lợi dụng tôn giáo của thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư và giao cho người thân tín của mình là Vũ Đình Huỳnh mang vào Phát Diệm trao tận tay cho Giám mục Lê Hữu Từ, người có vai trò trong giáo hội Thiên Chúa giáo và cũng là người đã nhận làm cố vấn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thư viết bằng những lời lẽ chân thành:

“Đã lâu không được gặp cụ, tôi nhớ lắm. Từ ngày thực dân Pháp bội ước gây hấn, toàn thể đồng bào ta phải đồng tâm nhất trí, kháng chiến cứu quốc… Vì công việc còn bận, tôi chưa có thể gặp cụ để trực tiếp cảm ơn cụ, tôi xin phái người thân tín là ông Huỳnh thay mặt tôi đến hỏi thăm và chúc cụ mạnh khoẻ”

Bác đề nghị giám mục tiếp tục ủng hộ chính phủ trong kháng chiến cũng như đã từng giúp trong các thuơng thảo ngoại giao và bức thư kết thúc: “Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc và xin cụ nhận lời chào thân ái của tôi”.

Tháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn MiếuTháng 1/1960 Bác gặp các cháu học sinh Trường Phan Chu Trinh tại Văn Miếu

Thời điểm này đang xảy ra một vài xích mích giữa đồng bào lương và giáo mấy hôm sau (1/2/1947), Bác lại viết thư gửi Giám mục để kiên trì giải thích: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích Công giáo thì sẽ bị phạt.

Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết rằng Việt Nam Độc lập Đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo.

Mà tôi cũng không bao giờ nghi rằng đồng bào công giáo chống Việt Minh, vì hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do; và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc…

Những sự xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta… triệt để hoàn thành đại đoàn kết, để toàn dân không phân lương – giáo, chỉ một tâm lo chống ngoại xâm. Nhờ cụ cầu Chúa ban phúc cho nước nhà mau đi đến kháng chiến thắng lợi.”

Sau đó, Bác lại viết thư tiếp (10/3) vừa động viên Giám mục Lê Hữu Từ vừa mềm mỏng giải quyết một số vấn đề nẩy sinh trong quan hệ lương – giáo ở địa phương. Thư cũng nhờ Giám mục vận động đồng bào Phát Diệm phá cầu để đề phòng quân Pháp tiến chiếm.

Đây cũng là lúc thực dân Pháp đang tìm mọi thủ đoạn chia rẽ lương – giáo và lôi kéo nhân vật này để rồi sau đó không lâu, Giám mục Lê Hữu Từ đã từ bỏ hàng ngũ kháng chiến theo giặc Pháp …

X&N 
kienthuc.net.vn

“Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”

Nguyễn Ái Quốc đã viết một bài bày tỏ cảm xúc trước sự kiện này và được đăng trên tờ “Pravda” (Sự Thật).

– Ngày 22/1/1924, Nguyễn Ái Quốc đang học và làm việc tại Liên Xô thì nhận được tin V.I.Lenin đã từ trần vào đêm hôm trước (21/1/1924).

Nguyễn Ái Quốc đã tới trụ sở Quốc tế Nông dân ở Matxcova để dự phiên họp bất thường.

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian cho kiều bào Thái Lan

Tháng 1 /1960, Bác Hồ giành nhiều thời gian thăm hỏi bà con kiều bào Thái Lan về nước

Tại đây, Nguyễn Ái Quốc được phân công cùng một số đồng chí khác viết “Lời kêu gọi của Quốc tế Nông dân”.

Văn kiện kêu gọi: “Nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta là thực hiện những lời khuyên quan trọng nhất của Lenin. Điểm quan trọng nhất trong di huấn chính trị của Người là thực hiện liên minh công nông, củng cố khối đoàn kết nông dân ở nông thôn và công nhân ở thành thị…

Hãy cất lên thật to, thật mạnh giữa quần chúng nông dân lời kêu gọi: Nông dân và công nhân ở tất cả các nước hãy đoàn kết lại!”

Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết một bài bày tỏ cảm xúc trước sự kiện này và được đăng trên tờ “Pravda” (Sự Thật). Bài báo có nhan đề “Lenin và các dân tộc thuộc địa” mở đầu bằng câu: “Lenin đã mất! Tin này đến với mọi người như sét đánh ngang tai, truyền đi khắp các bình nguyên châu Phi và các cánh đồng xanh tươi ở châu Á..

Lenin đã mất rồi thì chúng ta biết làm thế nào? Liệu có những người dũng cảm và rộng lượng như Lenin để không quản thời gian và sức lực chăm lo đến sự nghiệp giải phóng của chúng ta không? Đó là những điều mà quần chúng nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa băn khoăn tự hỏi…

Còn chúng tôi những người cộng sản, những người sinh ra ở các thuộc địa, chúng tôi vô cùng đau đớn… Song chúng tôi tin tưởng rằng Quốc tế Cộng sản và các phân bộ của nó, trong đó có các chi bộ ở các nước thuộc địa sẽ thực hiện được những bài học và những lời giáo huấn mà vị lãnh tụ để lại cho chúng ta…

Khi còn sống Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lenin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”.

X&N
kienthuc.net.vn

“Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc”

Trong một nước dân chủ, mọi người đều có tự do tin tưởng, tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái.

 – Ngày 21/1/1946, báo Cứu Quốc đăng toàn văn câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nhà báo nước ngoài sau khi cuộc Tổng tuyển cử đã thành công tốt đẹp và quốc dân đang chờ đợi những thay đổi trong đời sống chính trị nước nhà. Câu trả lời của Bác đầy tính triết lý và tính chiến đấu tự như một tuyên ngôn về lẽ sống của mình: 

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ nước ngoài đều biết:

1. Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận vậy…

Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi sẽ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi..

2. Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng Dân tộc Việt Nam. Đảng đó chỉ có một mục đích là làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho” .

Chỉ một năm sau, ngày 21/1/1947 ứng với ngày 30 Tết Đinh Hợi, Bác đến Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lúc đó đang sơ tán tại Chùa Trầm, để đọc “Lời kêu gọi nhân Tết nguyên đán” và đọc lời thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi:

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió/Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông/Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến/Chí  ta đã quyết, lòng ta đã đồng/Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào/Sức ta đã mạnh, người ta đã đông/Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi /Thống nhất, độc lập nhất định thành công”.

X&N
kienthuc.net.vn

Việc gì khó có thanh niên!

Bác nói:  “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

 – Ngày 19/1/1959, trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh nên Lao động Việt Nam, Bác Hồ đã đưa ra khẩu hiệu: “Việc gì khó có thanh niên! Ở đâu khó có thanh niên!” và căn dặn: “Trong mọi việc thanh niên phải làm đầu tàu, xung phong guơng mẫu. Thanh niên hăng hái là tốt, những chớ xa rời quần chúng, xa rời thì không làm được đầu tàu, đầu tàu mà rời toa tàu thì vô dụng”.

Ngày 19/1/1965, bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Hội nghị phổ biến kế hoạch nhà nước năm 1965.

Tháng 1-1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.Tháng 1/1964 HCM thăm khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên.

Bác đề cập tới một số tư tưởng quan trọng trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch: “Đặt kế hoạch thật tốt và thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể là 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần.

Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch. Khi đặt kế hoạch thì phải nhìn xa. Có nhìn xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào làm công việc gì là chính. Phải thấy rộng. Có thấy rộng thì mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối. Khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo thật sát với mỗi cơ sở. Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”.

Ngày 19/1/1959, nhân chuyến thăm của Đoàn đại biểu Chính phủ CHDC Đức do Thủ tướng Otto Grothewohl dẫn đầu sang thăm Việt Nam, Bác đã mời phu nhân thủ tuớng đến thăm khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch.

Trong câu chuyện trao đổi với khách, Bác đã nói : “Cô biết đấy, chúng tôi đã chiến thắng vì trước hết, có một dân tộc yêu nước nồng nàn như vậy. Dân tộc đó sẵn sàng hy sinh tất cả đẻ giành độc lập và tự do!”.

Trả lời câu hỏi thân tình của khách về cuộc sống riêng tư, Bác nói: “Tôi không còn thì giờ để nghĩ đến chuyện riêng nữa. Tôi phải sống vì dân tộc. Cả đất nước Việt Nam này là gia đình tôi”.

X&N
kienthuc.net.vn

Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh?

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua chứng tỏ việc Đảng xác định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là hoàn toàn đúng đắn. Ngày nay, dù tình hình thế giới diễn biến phức tạp khôn lường, tình hình trong nước tiếp tục có những khó khăn mới, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, vẫn kiên định tư tưởng và con đường đã chọn.

Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng và mở rộng chiến tranh xâm lược, nhân dân Việt Nam ở ba miền: Trung, Nam, Bắc đã liên tục nổi dậy chống quân xâm lược. Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mang đậm tinh thần yêu nước và dũng khí trước quân thù nhưng đều dưới sự dẫn dắt của tư tưởng phong kiến và tư sản – các trào lưu tư tưởng đã lỗi thời, lạc hậu trong sự phát triển của thế giới đương đại và không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Việt Nam – nên không tránh khỏi thất bại. Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Yêu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX là phải có một lý luận tiên tiến dẫn đường, với một đảng cách mạng có đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn lãnh đạo công cuộc cứu nước.

Theo quy luật, khi nào lịch sử đặt ra yêu cầu, thì lịch sử cũng sản sinh ra những điều kiện và những con người đáp ứng yêu cầu đó. Lãnh tụ là những người xuất hiện đúng thời điểm, nắm bắt được yêu cầu của lịch sử, đủ tài năng giải quyết được nhiệm vụ do lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh chính là con người như thế. Từ một thanh niên yêu nước thương dân tha thiết và mẫn cảm chính trị, Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh – đã rời đất nước, đi sang phương Tây tìm đường cứu nước. Trải qua gần mười năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, nung nấu chí hướng cứu nước, cứu dân, vừa lao động cùng những người anh em chung cảnh ngộ, vừa hoạt động yêu nước, vừa học hỏi những tư tưởng cách mạng mới, mùa Thu năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1. Đây là lời giải đáp duy nhất cho yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ đó, Nguyễn Ái Quốc hướng hoạt động của mình vào việc vận động cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” – tác phẩm phác thảo toàn diện đường lối cách mạng Việt Nam – Người đặt vấn đề: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và trả lời: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”2. Nhận thức đúng vai trò to lớn của lý luận đối với đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”3. Người còn chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”4.

Trong suốt những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc cùng những đồng chí do mình đào luyện và một số nhà yêu nước, cách mạng được ảnh hưởng tư tưởng của Người, đã đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin cùng tư tưởng cách mạng Nguyễn Ái Quốc – tư tưởng Hồ Chí Minh – thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam nhằm tiến tới thành lập đảng cộng sản. Vì thế, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam lúc này đã phát triển mạnh mẽ và chuyển biến về chất. Đó là “cuộc hội ngộ lịch sử”. Đến cuối năm 1929, phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một tổ chức chính trị có tư tưởng tiên tiến, đường lối và phương pháp cứu nước đúng đắn, được tổ chức vững mạnh để lãnh đạo phong trào. Nắm bắt được yêu cầu của lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng những người cách mạng tiên tiến do Người huấn luyện, dìu dắt, đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức cộng sản. Đảng ra đời đã đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng lãnh đạo kéo dài trong nhiều năm, mở ra thời đại thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Từ khi ra đời, ĐCSVN luôn lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đảng lấy nền tảng lý luận, tư tưởng đó làm cơ sở lý luận, xác định lập trường, quan điểm, đề ra cương lĩnh chính trị, hoạch định đường lối, chủ trương, tìm ra phương pháp cách mạng và phương hướng chỉ đạo thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng; đề ra những nguyên lý và tổ chức thực tiễn công tác xây dựng Đảng; đồng thời, coi đó là vũ khí sắc bén để đấu tranh có hiệu quả chống lại các tư tưởng phản động, sai trái. ĐCSVN đã trải qua lò lửa đấu tranh cách mạng hơn 80 năm qua. Trong quá trình đó, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động để Đảng lãnh đạo toàn dân đi đúng hướng, đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc, phù hợp với quy luật của thời đại mới và giành những thắng lợi vĩ đại. Thực tế lịch sử ra đời và phát triển của ĐCSVN cho thấy, việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp tính chất của thời đại mới và đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam.

Thế nhưng, từ thập kỷ cuối của thế kỷ XX đến nay, lợi dụng sự kiện CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cùng những khó khăn trong xây dựng CNXH ở nước ta, các thế lực thù địch của cách mạng Việt Nam ra sức xuyên tạc, bài bác chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm của chúng là muốn loại bỏ nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của ĐCSVN và của xã hội Việt Nam, làm tha hoá Đảng; từ đó xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, xoá bỏ chế độ XHCN. Chúng lớn tiếng rêu rao: “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ là một lý thuyết không tưởng, dân tộc nào đi theo sẽ không thể tránh khỏi thất bại”; “Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam giống như đem cái mầm ngoại lai ghép với cây truyền thống là sai lầm, đất nước và dân tộc không thể đơm hoa kết trái” hoặc “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là lý luận đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”; thậm chí, chúng còn cố tình đổi trắng thay đen, lớn tiếng tuyên truyền luận điểm quái gở rằng dân tộc ta đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lao vào cuộc cách mạng vô sản tháng 8-1945 và hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ hao người, tốn của là một sai lầm lịch sử, làm cho đất nước điêu tàn, dân tộc phân ly…(!). Phải khẳng định rằng: đó chỉ là trò xuyên tạc lịch sử, kích động tâm lý với mưu đồ đen tối nhằm làm giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là làm suy yếu dẫn đến tan rã Đảng. Những âm mưu, thủ đoạn đó đều nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và mục đích cuối cùng của chúng là xóa bỏ ĐCSVN, lái cách mạng Việt Nam đi theo quỹ đạo của chúng.

Lịch sử cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua đã minh chứng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận thống nhất, là ngọn cờ  dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự kết tinh và phát triển trên một tầm cao mới trí tuệ của nhân loại, là lý luận cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và loài người tiến bộ nhằm giải phóng giai cấp, giải phòng dân tộc và giải phóng con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại. Những người Việt Nam chân chính, những người có lương tri trên thế giới đều nhận thức rõ ràng điều này.

Một thực tế lịch sử là trong quá trình lãnh đạo cách mạng và củng cố phát triển của ĐCSVN, khi nào toàn Đảng thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì Đảng đoàn kết, vững mạnh, được đông đảo nhân dân tin theo và lãnh đạo cách mạng thành công. Ngược lại, khi nào một bộ phận trong Đảng, do thiếu tinh thần độc lập, tự chủ hoặc chủ quan nóng vội, quán triệt không đầy đủ hoặc vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì trong Đảng thiếu đoàn kết thống nhất, suy giảm lòng tin của nhân dân, phạm sai lầm khuyết điểm về đường lối và cách mạng gặp khó khăn, tổn thất.

Lãnh đạo cả một dân tộc đi lên CNXH bao giờ cũng vậy, nhất là trong tình hình vô cùng phức tạp hiện nay, không khỏi gặp những khó khăn, vấp váp, kể cả những sai lầm, khuyết điểm. Hiện nay, trong Đảng có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, suy giảm lòng tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dao động mục tiêu, lý tưởng, làm suy yếu Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân và ảnh hưởng đến phong trào cách mạng. Điều đó xảy ra do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, song hoàn toàn không phải bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đối với ĐCSVN và nước Việt Nam ta, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là lý luận “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Chính vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Điều lệ ĐCSVN do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua, tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”5.

Kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam tiếp tục đi trên con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; kiên định với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bằng đường lối đổi mới đúng đắn, những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã vượt qua tình trạng đói nghèo, kém phát triển; tình hình chính trị, kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh tiếp tục ổn định, phát triển; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng nâng cao trên trường quốc tế. Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và xuất khẩu tăng trưởng; an sinh xã hội được cải thiện; các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt thành tựu trên nhiều mặt… Việt Nam tiếp tục nhận được sự đồng tình, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó càng chứng tỏ sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự kiên định của ĐCSVN là đúng đắn.

Vì vậy, lập trường chân chính, thái độ đúng đắn nhất của toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay là tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; dùng cơ sở lý luận, lập trường, quan điểm đó để đánh giá một cách khách quan, toàn diện những thành tựu và hạn chế của chặng đường cách mạng đã qua; tổng kết những kinh nghiệm thành công và không thành công để tìm ra những hình thức, bước đi, giải pháp đúng đắn, giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra để lãnh đạo toàn dân xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

PGS, TS. VŨ NHƯ KHÔI
Viện KHXHNVQS – Bộ Quốc phòng
tapchiqptd.vn
_______________

1 – Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 9Nxb CTQG, H. 2002, tr. 314.
2, 3, 4 – Sđd, Tập 2, tr. 267, 268.
5 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 88.