Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là vị lãnh tụ của một đất nước duy nhất trên thế giới thường xuyên có thơ Xuân, thơ chúc Tết vào mỗi dịp Tết cổ truyền của dân tộc.

Những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm, chúc Tết đồng bào Hà Tĩnh (Xuân Đinh Mùi – 1967). (Ảnh: Tư liệu)

Kể từ bài thơ chúc Tết đầu tiên khi Người trở về nước sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước năm 1942 cho đến lúc ra đi, Người đã sáng tác tổng cộng 24 bài thơ chúc Tết. Dễ nhớ, dễ thuộc là điều dễ nhận thấy trong các bài thơ chúc Tết của Bác, nhưng điều khiến cho mỗi bài thơ Tết của Bác trở lên đặc biệt hơn những lời chúc Tết thông thường là bởi đó không chỉ là tấm lòng của Bác với nhân dân, đất nước mà còn là lời hiệu triệu, cổ vũ, động viên và cả sự tiên đoán thần kỳ tiền đồ tươi sáng của cách mạng.

Có một món quà luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng đồng bào mình vào mỗi dịp Tết cổ truyền, đó là những bài thơ chúc Tết giản dị nhưng rất đỗi thân thương của Người. Mỗi bài thơ không chỉ là sự tổng kết thành quả của cách mạng trong năm cũ mà còn là chỉ dẫn cho những chặng đường tiếp theo của cách mạng. Bài thơ chúc Tết năm 1969 cũng là bài thơ chúc Tết Người đã tự đọc – món quà cuối cùng cũng lời tiên đoán thần kỳ về con đường giải phóng đất nước trước lúc Người đi xa.

Nghệ sỹ Linh Nhâm, nguyên diễn viên đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, người từng ngâm thơ Bác xúc động nhớ lại, kỷ niệm lớn nhất trong cuộc đời của bà chính là được ngâm những bài thơ chúc Tết của Bác. Ở vào cái tuổi xưa nay hiếm, người nghệ sỹ gạo cội vẫn không thể giấu được xúc động khi nhớ đến giây phút ngâm bài thơ chúc Tết cuối cùng của Bác trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam Tết năm ấy.

“Bài thơ Xuân 1969 của Bác là bài thơ gắn với kỷ niệm rất sâu sắc mà tôi đang biểu diễn ở Hải Phòng được triệu về để ngâm bài thơ cuối cùng của Bác. Tất cả các bài thơ mà tôi đã được ngâm thơ của Bác tôi đều rất trân trọng, từng câu, từng chữ của Bác đều là những hiệu lệnh, những lời kêu gọi của Bác với Tổ quốc”, nghệ sỹ Linh Nhâm nói.

Từ bài thơ chúc Tết đầu tiên viết trên chiếc bàn đá ở Hang Pắc Pó (Cao Bằng) cho đến lúc về cõi vĩnh hằng, Người đã viết tổng cộng 24 bài thơ Xuân, thơ chúc Tết. Những bản thảo còn lưu giữ tại bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy, viết mỗi bài thơ Người cũng dày công và kỹ lưỡng như thế nào. Có thể vì thế, những bài thơ chúc Tết của Người luôn vượt qua khuôn khổ những bài thơ chúc Tết đơn thuần.

Bà Nguyễn Thúy Đức, Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh chia sẻ: “Tôi có nhớ câu nói của một nhà cách mạng Cuba về Bác là: Bác Hồ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chính bằng thơ. Tiếc thay, kẻ thù của dân tộc Việt Nam lại không đọc những vần thơ đó. Đấy là điều có lẽ rất đặc biệt, đặc biệt chính là lãnh đạo bằng thơ. Nếu như chúng ta phân tích và hiểu thì thấy rằng lãnh đạo bằng thơ không chỉ là chất thép của người chiến sỹ, mà còn là cái gì đó rất đỗi dung dị, nhân văn của một con người, của một dân tộc”.

Những mùa xuân kháng chiến của dân tộc dường như luôn có sự khởi đầu bằng những vần thơ chúc Tết của Bác… Thành quả cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc đã không nằm ngoài sự tiên đoán trong bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người. Đó là khi Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!

Tác giả : Quang Đông

vtv.vn

Nhớ Tết cuối cùng của Bác Hồ

Năm nay, tròn 40 năm Bác Hồ đi xa. Tết cuối cùng của Bác cũng là cái Tết Bác làm bài thơ Xuân cuối cùng.,. TS giới thiệu bài viết của TS Trần Viết Hoàn, nguyên là cảnh vệ của Người.

Theo truyền thống dân tộc, mỗi khi Xuân về, trong phút giao thừa của năm cũ và năm mới, ta cảm ơn trời đất Việt Nam đã cho ta tiết trời xuân tươi đẹp. Ta đón Xuân, mời Xuân, mừng Xuân, đưa Xuân vào tâm hồn ta để thêm ấm tình yêu thương đồng bào, quê hương, bạn bè, bà con láng giềng…

Từ Xuân năm 1942, ta cảm ơn Bác Hồ đã cho ta những phút giây thiêng liêng nhưng đầy tình thân ái: nhân năm mới, nhân Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ gửi tới mỗi người, mỗi gia đình những vần thơ chúc Tết với những tư tưởng, tình cảm sâu sắc. Và, cũng bắt đầu từ đây, vào ngày cuối cùng của năm cũ, ai nấy đều mong phút giao thừa tới để được nghe thơ chúc Tết của Bác – những vần thơ rung động mọi con tim.

Ngày 16/2/1969 (mồng 1 Tết), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) nhân Tết Kỷ Dậu.

Thơ chúc Tết của Bác Hồ được viết rất giản dị nhưng hàm súc, thể hiện rõ ràng đường lối cách mạng, bộc lộ sâu sắc lòng yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi, mang tính thời sự nóng hổi, bức thiết, rất giàu tình cảm và đậm đà bản sắc dân tộc. Những vần thơ chúc Tết năm 1969 của Bác cho chúng ta được hưởng lại những tình cảm ấy của Người.

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn“.

Ngày 28/2/1969, tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, Người nói:

“Thưa các cụ, các cô, các chú, trong thơ chúc Tết năm nay, tôi có nói là:

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Trong lúc viết thì như thế, tôi cũng không chắc là câu thơ đó được thực hiện sớm trong năm nay. Hôm nay, bác sĩ Phùng Văn Cung cùng phái đoàn ra đây, đồng bào miền Bắc rất sung sướng. Để hoan nghênh phái đoàn miền Nam ruột thịt, thì nói mấy trăm câu, mấy nghìn câu, mấy vạn câu cũng không thể hết được. Tôi xin phép chỉ nói một câu thôi:

Bao giờ Nam Bắc một nhà,
Việt Nam đại thắng chúng ta vui mừng”.

Mỗi độ Xuân về, Tết đến, Bác Hồ chẳng những gửi thơ chúc Tết đến toàn dân, mà Người còn đi thăm, chúc Tết đồng bào, chiến sĩ ta. Từ Tết Đinh Mùi (1967), do sức khỏe có phần giảm, Bác Hồ đề nghị Bác Tôn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay Bác đi thăm, chúc Tết nhân dân.

9h45 ngày 6/2/1969, trong phòng khách nhỏ ở Phủ Chủ tịch, Bác Hồ đọc lời chúc mừng năm mới. Đài Tiếng nói Việt Nam đến thu thanh

Đến Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây.

Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Bác là đi thăm, chúc Tết và trồng cây. Sáng ngày 16/2/1969 (tức ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai và đến đồi trồng cây “Đón Bác Hồ” và trồng cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì.

Nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương, Bác nói: “Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hòa. Đất nước bây giờ là của ta, cho nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi“.

Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác.

Việc Bác không ăn cơm với xã có nguyên do. Chả là lần Bác về thăm tỉnh Hưng Yên, lãnh đạo tỉnh mời Bác ăn cơm, Bác nhận lời. Nhưng rồi sau đó tỉnh có làm bản thanh toán tài chính ghi rõ: “Thịt một con bò”.

Từ đó mỗi khi về địa phương làm việc, Bác thường ăn cơm từ nhà mang theo để tránh tiếng, như Bác đã nói: Hôm đó về thăm, Bác ăn có vài miếng thịt bò mà họ quyết toán chiêu đãi Bác cả con bò; Hay, Bác Hồ về thăm cũng làm một bữa cơm sang, cũng điều người này người khác từ giao tế sang, chuẩn bị cả buổi, như thế Bác Hồ bao che cho cái chuyện xôi thịt. Và sáng mồng 1 tết Kỷ Dậu năm 1969, Bác cũng không để có ngoại lệ.

Đây là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau, và cũng là bữa cơm ngày tết cuối cùng của Bác khi về địa phương.

Cũng trong dịp Tết trồng cây năm Kỷ Dậu ấy, Bác Hồ đã thưởng huy hiệu của Người cho những cụ già có thành tích xuất sắc trong phong trào trồng cây gây rừng. Đây là những người cuối cùng được nhận huy hiệu của Bác về phong trào Tết trồng cây: cụ Trần Văn Cựu, xã Đức Lập, Đức Thọ, Hà Tĩnh; cụ Kiều xã Tứ Mỹ, Quảng Bình; cụ Trương Đình Gióng, xã Yên Tiến, Ý Yên, Nam Định; cụ Dương Thị Na, hợp tác xã Ức Sơn, xã Hương Sơn, Phú Bình, Thái Nguyên.

Xuân mới, lịch mới năm Kỷ Sửu 2009 tới, ôn lại những vần thơ chúc Tết năm Kỷ Dậu 1969 của Bác, những việc làm, tình cảm ở những ngày xuân cuối cùng của Người dành cho mỗi chúng ta, để mỗi chúng ta “sắp đặt kế hoạch hoạt động sống còn cho cả năm” với khẩu hiệu “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đó là kế hoạch vừa là thực hiện cuộc vận động lớn của Đảng “Học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, vừa là hành động thiết thực kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc của Bác Hồ (1969-2009).

Thế là “năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân” đúng như điều “Chào Xuân” của Bác.

TS. Trần Viết Hoàn (nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

Xuân Tân Tỵ, năm 1941, Bác mới được đặt chân trở về giữa lòng Tổ quốc thân yêu sau đúng 30 năm trời ra đi tìm đường cứu nước (1911-1941). Hành trang theo Bác trở về vẻn vẹn chỉ có một chiếc va ly xách tay bằng mây, trong đựng hai bộ quần áo đã cũ và tập tài liệu Con đường giải phóng tập hợp những bài giảng trong lớp huấn luyện ở Nậm Quang (Quảng Tây, Trung Quốc) do Bác phụ trách vừa mới kết thúc trước Tết mấy hôm.

Tấm thiệp chúc tết cuối cùng của Bác Hồ

Mùa Xuân năm ấy, từ hang Pác Bó đã ra đời một bài thơ xuân tuyệt đẹp của Bác Hồ:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước với một sắc màu khác lạ làm gợi nhớ đến một thời Nghiêu Thuấn xa xưa. Vào thời khắc mọi gia đình quây quần bên nhau chuẩn bị đón giao thừa thì vị Chủ tịch nước xắn quần, bước thấp bước cao đến các ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, phố Hàng Lọng… để được chính mắt nhìn thấy cảnh Tết vừa, Tết nghèo của bà con lao động Hà Nội mới vừa thoát khỏi ách thực dân phong kiến.

Chính trong cuộc “vi hành” đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết” ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn, còn chủ nhà thì đang đắp chiếu nằm mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

Cũng đêm Ba mươi Tết Bính Tuất đó, đúng giờ giao thừa, khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền khi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui Xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước, được hưởng một mùa Xuân mới mẻ, giao thừa nghe đọc thư chúc Tết của Bác Hồ:

“Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mùng một Tết năm Bính Tuất, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành” .

Cuối thư là một bài thơ ngắn:

“Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc chóng thành công
Kháng chiến mau thắng lợi“

Kể từ mùa Xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, mỗi lần Tết đến, Xuân về, Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị Tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc. Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới, nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc Mừng Năm Mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo xa xôi và cán bộ công tác ở nước ngoài.

Và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Tối Ba mươi Tết năm 1960, Bác đến thăm gia đình mẹ con chị Tín, một lao động nghèo ở phố Hàng Chĩnh, Hà Nội. Chiều mùng hai Tết năm 1961, Bác đến Văn Miếu dự buổi bình thơ Xuân của các cụ. Mùng hai Tết năm 1962, Bác đến thăm các cháu học sinh miền Nam ở Hải Phòng. Chiều 29 Tết năm 1963, Bác cải trang thành một cụ già theo cháu đi chợ hoa và chợ Đồng Xuân… Tất cả đều bí mật bất ngờ và do đó bao giờ cũng tạo hiệu quả lớn.

Như Tết năm 1960, nếu Bác chỉ đến thăm các gia đình theo chương trình của các cơ quan đã bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Tín vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai mùng một Tết có cơm ăn cho bốn đưa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động để rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay của Bác:

– Cháu không ngờ lại được Bác đến thăm…

Chỉ nói được vậy, chị đã oà lên khóc nức nở.

Vị Chủ tịch nước đã an ủi chị:

– Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

Và Bác đã vào nhà thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như một túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến Phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi Tết mà không có Tết”. Cách đây 15 năm, Tết độc lập đầu tiên, Bác đã đau lòng chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có Tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ. Đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ, kháng chiến đã thắng lợi, hoà bình đã sáu năm, mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ở ngay Thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng là no ấm, tươi vui…

Đêm ấy, trên đường về, ngồi trên xe, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ. Vẻ đăm chiêu thoáng hiện trên gương mặt của Người. Bác đã từng tâm sự với các đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

Về đến nhà, các đồng chí Bộ Chính trị đang chờ Bác để chúc mừng năm mới. Mọi người băn khoăn khi thấy Bác không vui. Bác kể lại hoàn cảnh gia đình chị Tín cho mọi người nghe. Cuối câu chuyện Bác nói “Ta có chính quyền trong tay, nhưng chính quyền đó chưa thực sự là do dân, vì dân. Một số lãnh đạo các địa phương còn quan liêu và nặng về hình thức. Họ không chịu đi sâu, đi sát quần chúng, nên phục vụ quần chúng chưa tốt. Nếu chúng ta chỉ nghe báo cáo của họ thì sẽ không bao giờ nắm được chính xác tình hình để có chủ trương, nghị quyết đúng đắn. Đảng quan liêu, chính quyền quan liêu, thực sự là một nguy cơ đối với đất nước chúng ta.

Vũ Kỳ – Thư ký Bác Hồ kể chuyện.

VIỆT NAM – HỒ CHÍ MINH

Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa…

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, trong không khí rộn ràng, phấn khởi những ngày đầu năm mới, nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ lời kêu gọi của Người năm xưa, đến nay, Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của cả đất nước, cả dân tộc.

Nhà sàn Bác Hồ luôn ngập tràn màu xanh thiên nhiên (Nguồn: Internet)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu và gần gũi với thiên nhiên. Nơi ở của người, đâu đâu cũng thấy bóng mát của cây cối, hương thơm cây cỏ, âm thanh muôn loài. Người trồng cây, nuôi chim, đào ao thả cá. Người sống và làm việc giữa những người bạn thiên nhiên tâm giao thân thiết, giữa những suy nghĩ cho vận mệnh nước nhà là những phút thả hồn vào muôn hoa vạn vật…

Cuối năm 1959, đầu 1960, nhân dịp cả nước thi đua lập nhiều thành tích mừng xuân, mừng Đảng tròn 30 tuổi, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Bác nói: “Trong 10 năm nữa, phong cảnh nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hoà hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”.

Bác Hồ chăm sóc cây Vú sữa của đồng bào miền Nam tặng (Nguồn: Internet)

Ngày 5/01/1961 (ngày 9 tháng Chạp năm Canh Tý), Bác Hồ về thăm Hợp tác xã Lạc Trung, tỉnh Vĩnh Phúc – nơi có phong trào trồng cây hai bên đường và trên các bãi đất trống. Bác ôm ghì 2 đồng chí lãnh đạo của xã thật chặt và hỏi: “Các chú có thấy khó chịu không?”. Rồi Bác ôn tồn bảo: “Cây cũng như người, nó phải có khoảng cách để sống và phát triển, các chú cần hướng dẫn nhân dân trồng cây theo kỹ thuật, trồng cây nào tốt cây đó”.

Hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, Bác vừa viết báo nhắc nhở nhân dân thực hiện Tết trồng cây, vừa đi thăm và tham gia trồng cây cùng với nhân dân. Người luôn biểu dương những địa phương, đơn vị, cá nhân trồng cây tốt và nhắc nhở những địa phương, những hợp tác xã chưa quan tâm đến việc tổ chức “Tết trồng cây”. Người đặc biệt lưu ý phải liên hệ chặt chẽ “Tết trồng cây” với kế hoạch trồng cây gây rừng, “trồng cây nào, chắc cây ấy”. Người còn lưu ý: “Có nơi nhầm cho rằng Tết trồng cây chỉ một đợt và một năm thôi; chứ không hiểu rằng Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục…”, “Sở dĩ Tết trồng cây đã trở nên một phong trào quần chúng mạnh mẽ, là vì mọi người đều thấy lợi ích thiết thực và lâu dài của nó”.

Còn nhớ, trên báo Hà Đông ra ngày 20/1/1965, trong bài “Hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”, Bác viết: Muốn xây dựng nông thôn mới, việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng lại nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ có việc đó cũng đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây…

Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch (Nguồn: Internet)

Trong những lần thăm nước bạn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia đến thăm Việt Nam, Bác đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Người đã trồng cây Đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở Nga và tặng chúng những cái tên thân mật là “những cây hữu nghị”. Theo thời gian, cây cối lớn dần lên cũng giống như tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè thế giới ngày càng thêm thân tình, gắn bó. Những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc, Bác Hồ vẫn kêu gọi nhân dân trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước. Bác viết: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

Bác trồng cây Đa cùng bà con xã Vật Lại (huyện Ba Vì, Hà Tây) mùa xuân năm Kỷ Dậu (Nguồn: Internet)

Trong bài viết cuối cùng của mình về Tết trồng cây ngày 5/2/1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, và nhắc nhở “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”. Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu (16.2.1969), trong mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Bác đã tự tay trồng một cây đa trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ngay cả khi nằm trên giường bệnh, Bác vẫn không quên nhắc nhở Đảng bộ Nghệ An cần “có kế hoạch trồng cây bảo vệ rừng”. Di chúc của Người cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng. Người viết: “Nếu có kế hoạch trồng cây trên đồi, ai đến thăm thì trồng 1 cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

*****

Hơn 40 năm kể từ ngày Bác đi xa, đất trời đã bước vào nhiều mùa xuân mới. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp được nhân dân ta gìn giữ qua nhiều đời. Từ lời Người dạy, phong trào trồng cây, gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc luôn được toàn Đảng, toàn dân ta ra sức hưởng ứng bằng nhiều hành động cụ thể. Mỗi độ Tết đến, xuân về, nhìn những bóng cây xanh mát khắp các ngả đường từ Nam tới Bắc, lại càng nhớ lời Người dạy năm xưa:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Thu Hiền (Tổng hợp)

backan.gov.vn

Kỷ niệm bảo vệ Bác Hồ thăm chợ Tết

Hôm ấy là ngày 24/1/1963, tức 30 Tết, các đồng chí bảo vệ hóa trang cho Bác thành một công nhân già đi sắm Tết. Bác đeo kính trắng mắt tròn, gọng kính nhỏ như kính lão các cụ đồ thường dùng.

Khoảng một tuần trước Tết Quý Mão (1963), Bác Hồ nhắc Văn phòng Chủ tịch nước báo cho Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn, Tết này Bác muốn thăm chợ Đồng Xuân – khu thương mại sầm uất, nhộn nhịp nhất ở Hà Nội.

Người được phân công trực tiếp đi theo bảo vệ Bác là ông Phan Văn Xoàn, sau này là Thiếu tướng Tư lệnh – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Ông hồi tưởng lại vào dịp giáp Tết năm ấy, người mua kẻ bán khắp nơi đổ về Hà Nội rất đông nên công tác bảo vệ có phần khó khăn. Nếu để Bác đi công khai thì nhân dân ai cũng biết, và sẽ ùa tới chào đón Người. Như vậy việc bảo vệ lại càng phức tạp, khó khăn hơn.

Sau khi nghiên cứu cụ thể, lãnh đạo Cục Cảnh vệ đã báo cáo lãnh đạo Bộ Công an phương án bảo vệ, trong đó có biện pháp Bác hóa trang thành một công nhân già đi sắm Tết.

Hôm ấy là ngày 24/1/1963, tức 30 Tết. Sáng hôm đó, Bác rất vui, các đồng chí bảo vệ hóa trang cho Bác. Bác đeo kính trắng mắt tròn, gọng kính nhỏ như kính lão các cụ đồ thường dùng. Bác mặc quần áo cũ vải gụ đã bạc và khoác chiếc áo mưa vải bạt có vài chỗ đã sờn, cổ quàng chiếc khăn len màu tối, quấn nhiều vòng để vừa ấm cổ, vừa che bớt chòm râu, đầu đội mũ cát trắng, chân mang tất màu cỏ úa, đi đôi dép cao su đen.

Theo phương án, ba người cùng đi chợ Tết với mối quan hệ gia đình. Bác là bố, đồng chí Xoàn là con, đồng chí Phan Đĩnh, vệ sỹ trực tiếp là cháu của Bác. Khoảng 9h sáng, ôtô đưa Bác theo đường Phan Đình Phùng đến phố Hàng Đậu dừng lại một lúc, Bác xuống xe rồi đi bộ theo phố Nguyễn Tiệp, rẽ qua phố Hàng Khoai, lẽo đẽo theo sau là “nguời cháu” xách chiếc làn mây đi chợ. Bác cháu hòa lẫn trong dòng người đông vui giữa phiên chợ sáng 30 Tết.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn nhớ lại, lúc ấy khi ba Bác cháu đi đến cửa sau chợ Đồng Xuân, trước khi vào chợ như hành trình đã định, bỗng nhiên Bác dừng lại, với dáng vẻ thư thái, Người đứng ngắm quanh cảnh nhộn nhịp, tấp nập người mua kẻ bán chen chúc nhau ở đầu chợ Bắc Qua, rồi Bác ngoặt vào chợ. Thấy vậy, cả tổ bảo vệ rất lo. Đồng chí Xoàn làm như vẻ thấy bố mình đi nhầm chỗ, bèn gọi: “Bố ơi, đường này cơ mà, đường đó chật lắm không đi được đâu bố ạ”.

Nghe vậy, Bác quay lại mỉm cười khẽ nói: “Bố con ta đi vào đây đã”. Chợ Bắc Qua lúc này đông nghẹt. Sau một lúc quan sát cảnh hàng hóa chợ Tết bày la liệt, đồng bào vui vẻ mua bán sắm sửa, Bác tỏ ý rất vui, sau đó mới qua chợ Đồng Xuân.

Vào trong chợ, Bác dừng lại hồi lâu trước một số quầy tạp hóa, đồ dùng gia đình, quần áo may sẵn… để biết giá cả và sức mua của dân.

Sau một hồi quan sát trong chợ, đồng chí Xoàn mời Bác sang thăm quầy bán hoa tươi cạnh đó. Cạnh các quầy hoa là mấy cụ đồ áo dài the, khăn xếp đen, đeo mục kỉnh, ngồi chấm phá những câu đối bằng mực tàu trên những khổ giấy đỏ dài. Bác rảo bước tới một quầy bán hoa huệ gần đấy, chọn một bó huệ rất đẹp, đưa lên ngắm nhìn tỏ vẻ rất vừa ý, rồi hỏi chị hàng hoa: “Chị ơi, bó huệ này bao nhiêu? “Dạ thưa cụ 5 hào”.

Lúc này đồng chí Đĩnh đứng sát sau lưng Bác. Thấy Bác ngồi lâu sợ bị lộ vì Bác trực tiếp trao đổi mua bán, e rằng những người tinh ý sẽ phát hiện ra Bác nên đồng chí Xoàn vội bước tới nói với Bác: “Bố để con mua cho” rồi mặc cả bó hoa với giá hai hào. Thiếu tướng Xoàn kể lại: “Sở dĩ lúc ấy tôi trả với giá thấp cốt để chị hàng hoa không bán, lấy cớ mời Bác đi về cho an toàn”.

Khi nghe chị hàng hoa trả lời không bán, Bác liền đứng dậy, một thoáng nhìn theo bó huệ rồi đi ngay. Ra chỗ vắng Bác quay lại nói: “Chú trả như vậy thì đi chợ cả ngày cũng chẳng mua được gì” và trên mặt phúc hậu của Người lộ nét trầm lặng không vui.

Xuân này qua xuân khác, mỗi lần chuẩn bị đón năm mới, khi kể với anh em bảo vệ và các nhà báo chuyện này, Thiếu tướng Xoàn vẫn bùi ngùi với cả nỗi niềm thương nhớ vời vợi. Câu chuyện Bác hồi đi chợ Tết hơn 40 năm trước vẫn luôn đọng sâu trong lòng ông.

(Ghi theo lời kể của Thiếu tướng Phan Văn Xoàn)
(Theo An Ninh Thủ Đô)

vnexpress.net

Đón xuân mới đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ CHí Minh (Ảnh trên Internet)

Mỗi độ Xuân về, trong khí thiêng của đất trời, sông núi, trong mỗi chúng ta lại nhớ tới những vần thơ Xuân chúc Tết của Bác Hồ. Kể từ năm 1941, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc và cho đến trước lúc đi xa, Bác đã để lại cho chúng ta hàng chục bài thơ Xuân.

Tết Xuân năm 1942, bài thơ đầu tiên của Bác được đăng trên Báo Việt Nam độc lập số 114, ngày 01 tháng 01 năm 1942. Bác viết:

“Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rất vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Những lời thơ Xuân tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều điều xúc tích, với những tiên đoán của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

Năm 1948, trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang dốc lòng dốc sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đón Xuân mới, Bác có thơ chúc Tết đồng bào:

“Năm Hợi đã đi qua,
Năm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công”.

Chủ tịch nước tự cuốc đất, trồng cây, tưới nước xung quanh nhà sàn

Năm 1951, trải qua 5 năm, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Báo Cứu quốc, số 1748, ngày 5 tháng 2 năm 1951, đăng thơ chúc Tết Tân Mão của Bác Hồ:

“ Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng,
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Bài thơ Xuân hừng hực khí thế tiến công của Bác đã động viên toàn dân hăng hái thi đua quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi.

Năm 1960, mừng Đảng ta tròn 30 tuổi; mừng Nhà nước tròn 15 Xuân và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, thơ chúc Tết năm 1960 của Bác Hồ như sau:

“Mừng Nhà nước ta 15 Xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Năm 1968, mùa xuân Mậu Thân, lời thơ Xuân của Bác đã trở thành mệnh lệnh Tổng tấn công và nổi dậy của khắp miền Nam thành đồng:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”.

Và năm 1969, trước lúc đi xa, Bác đã dành muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng. Bác đã để lại bài thơ chúc Tết cuối cùng, với những lời hịch vang vọng núi sông ngàn năm:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào,
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Đọc thơ của Bác và suy ngẫm về những điều Bác nói, ta thấy như Bác đã chỉ rõ con đường của cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, vào mùa xuân năm 1973, với thắng lợi của Hiệp định Pari, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ phải cuốn cờ ra khỏi Tổ quốc Việt Nam. Và hai năm sau, khi Mỹ đã cút, Nguỵ đã nhào, Bắc – Nam sum họp, đất nước thống nhất, “Xuân nào vui hơn”?

Chúng ta cảm ơn đất trời đã cho tiết Xuân, Xuân nồng nàn tình cảm của mỗi con người. Đón Xuân mới, đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ, lòng ta lại nhớ tới công lao to lớn của Người, cảm ơn Người đã để lại cho ta những vần thơ Xuân bất hủ…

Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về đảng viên

Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp.

Đảng và giai cấp thắng lợi và thành công, tức là đảng viên thắng lợi và thành công. Nếu rời khỏi Đảng, rời khỏi giai cấp thì cá nhân dù tài giỏi mấy, cũng nhất định không làm nên việc gì.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.288-289.

Những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 10, tr.33-34.

Đảng không chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đày tớ cho dân… chứ không phải là “quan” nhân dân.

Sđd, tập 12, tr.222.

Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Sđd, tập 5, tr.253.

Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một người đảng viên, một người cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

Sđd, tập 5, tr.254.

Mỗi đảng viên phải nhận rõ nhiệm vụ của mình là phải tiến bộ trong công tác, tiến bộ về tư tưởng, làm gương mẫu trong mọi công việc, đồng thời lấy tinh thần của người đảng viên cộng sản giúp đỡ anh em ngoài Đảng cùng tiến bộ.

Sđd, tập 10, tr.167.

xaydungdang.org.vn

Xuân Quê hương

Đồng bào và khách quốc tế hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 22 tháng Chạp năm Tân Mão. Tiết trời lạnh, mưa xuân lất phất bay ngoài không gian, qua ánh đèn cao áp tại Quảng trường Ba Đình trông như những bông tuyết trắng, rất đẹp. Lạnh, nhưng tại nơi đây, bên Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, không khí thật ấm áp, mọi người thấy thật gần gũi, háo hức chuẩn bị chào đón một sự kiện quan trọng, cảm động và vô cùng ý nghĩa. Đó là Chương trình: “XUÂN QUÊ HƯƠNG – RỒNG THIÊNG HỘI TỤ” do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thành phố Hà Nội và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện để gặp gỡ với Kiều bào ta ở nước ngoài về quê hương ăn Tết.

Trong trái tim rộng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn dành cho Kiều bào sự quan tâm hết sức đặc biệt, bởi chính Người cũng đã trải qua những tháng năm bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm con đường cứu nước. Những năm tháng xa quê hương, Người thấu hiểu những tình cảm, trăn trở, nỗi nhớ thương da diết của hết thảy Kiều bào ta đã và đang sinh sống, làm việc tại xứ người, nhất là tình cảm vào những ngày chuẩn bị đón Tết nguyên đán.

Ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập (ngày 2/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều thư, điện cho Kiều bào báo tin nước nhà độc lập, cảm ơn Kiều bào đã đóng góp sức người, sức của để góp phần vào việc giành độc lập và kiến thiết nước nhà. Người không chỉ kêu gọi tinh thần yêu nước, đoàn kết hướng về Tổ quốc của Việt kiều để làm cho “lực lượng to” mà “lực lượng to thì quyết thắng lợi” mà còn hơn một lần khuyên họ cần phải đoàn kết với đồng bào các nước; kêu gọi Kiều bào hãy tiếp tục phát huy truyền thống con Hồng cháu Lạc yêu nước, thương nòi, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và công tác, làm cho các nước trên thế giới thấy được đất nước, con người Việt Nam luôn anh dũng, kiên cường dù trong thời chiến cũng như thời bình. Trong thư chúc Tết Kiều bào ta ở nước ngoài năm 1946, Người đã đánh giá cao tấm lòng của Kiều bào tuy ở nơi đất khách quê người, nhưng tấm lòng vẫn nhớ về Tổ quốc, đồng thời Người khẳng định: “Tổ quốc và Chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương các đồng bào như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng. Đó là nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà”. Để giúp đỡ Kiều bào, Người thường xuyên nhắc nhở các cán bộ làm công tác ngoại giao ở nước ngoài, từ lời nói đến việc làm, bất kỳ việc to hay nhỏ đều phải “đem tình thân ái của Tổ quốc cho Kiều bào, để giúp đỡ họ, để tuyên truyền cho thanh niên và cho cả dân tộc Việt Nam”.

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay, kế thừa và phát huy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn coi Kiều bào là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị, ngày 27/10/2006 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 243/2006/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài. Ngày 18/7/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 102/2008/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao (thay thế Quyết định số 243/2006/QĐ-TTg). Tháng Giêng này, kỷ niệm 43 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lá thư cuối cùng cho Kiều bào ở nước ngoài (27/1/1969 – 27/1/2012), việc tổ chức gặp mặt Kiều bào về quê hương ăn Tết tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chương trình “Rồng thiêng hội tụ”, năm Nhâm Thìn 2012 thật ý nghĩa và xúc động biết bao. Tiếng trống khai xuân do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã vang vọng khắp không gian tại Quảng trường Ba Đình lịch sử báo hiệu mùa Xuân đã về và Tết nguyên đán sắp tới trên đất nước Việt Nam thân yêu. Chủ tịch nước thay mặt Đảng và Nhà nước chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và thành đạt đối với Kiều bào có mặt tại buổi gặp mặt hôm nay đại diện cho hơn 4 triệu Kiều bào hiện đang sinh sống và làm việc tại hơn 123 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, tất cả Kiều bào không có điều kiện về quê hương ăn Tết hiện đang ở nước ngoài.

Chủ tịch nước đánh giá cao sự đóng góp của Kiều bào ta ở nước ngoài đối với công cuộc xây dựng đất nước, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Năm 2011, số tiền Kiều bào gửi về Việt Nam được hơn 9 tỷ USD, một con số đẹp và đầy ý nghĩa trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn.

…Trên khán đài của Chương trình văn nghệ vang lên chất giọng trầm ấm, sâu lắng của ca sĩ Trọng Tấn với những ca từ xúc động, đi vào lòng người của bài hát “Chúng con canh giấc ngủ cho Người”…“ Vinh quang con đứng bên Người, canh cho Bác ngủ ngon giấc, trên môi như Bác vẫn cười, Bác vui vì khắp non sông, cháu con trở về sum vầy…”. Dường như, trong tâm thức của mỗi người tham dự đều sáng lên một niềm tin vững chắc và hạnh phúc: Bác kính yêu đang mỉm cười và thật vui khi Kiều bào ở khắp các nước trên thế giới về quê hương ăn Tết đang ở rất gần Bác, Bác vui vì thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với Kiều bào, Bác vui vì tất cả mọi người đang thực hiện lời căn dặn và tâm nguyện của Bác đối với Kiều bào trước lúc Người đi xa…

Mưa đã tạnh, không gian bừng sáng khi Chương trình văn nghệ Xuân Quê hương – Rồng thiêng hội tụ kết thúc. Xung quang Lăng Bác thật rực rỡ bởi những cây hoa đào đã thắm sắc đỏ của miền Bắc, những cây Mai vàng của miền Nam và rất nhiều, rất nhiều cây hoa cây cảnh đang đua nhau khoe sắc báo hiệu Xuân đã về. Quảng trường Ba Đình vang vọng tiếng hát rộn ràng, tưng bừng của các ca sĩ, nghệ sĩ, Kiều bào và tất cả đại biểu có mặt tại Chương trình chào đón một mùa Xuân mới, một năm mới nhiều thắng lợi, thành công: “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi, Tết Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi; Tết, Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi, Tết đến trong tim mọi người…..”.

Với cá nhân tôi, chúc cho Chương trình Xuân Quê hương, gặp gỡ Kiều bào ở nước ngoài hàng năm nhân dịp Xuân về Tết đến bên Lăng Bác ngày càng phát triển, sinh động và thật nhiều ý nghĩa. Chúc Kiều bào ta ở nước ngoài luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt và hàng năm về Quê hương ăn Tết ngày càng nhiều cũng như sự đóng góp ngày càng lớn về sức người, sức của (Năm 2012, Nhâm Thìn – Rồng bay, phấn đấu đạt 2 con số là 18 tỷ USD – 1+8 = 9 là con số đẹp) với mục tiêu tất cả vì một đất nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

Nguyễn Hồng Vân

bqllang.gov.vn

Ký ức về Bác với người Việt xa xứ

Bác Nguyễn Lan Phương

Những ký ức về Bác Hồ vĩ đại luôn là niềm tự hào và động lực vô giá với các thế hệ con cháu người Việt, trong đó có kiều bào sống xa Tổ quốc.

Nhiều gia đình Việt Kiều cho đến giờ vẫn cố gắng gìn giữ những kỷ vật về quê nhà, về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và truyền lại cho con cháu. Kỷ vật đôi lúc có thể đơn giản chỉ là một tờ báo. Nhưng hàng chục năm lưu lạc mà vẫn nâng niu gìn giữ được một tờ báo viết về Bác từ năm 1975 – ngay sau ngày đất nước thống nhất – để bây giờ trao lại cho con cháu, lại là một câu chuyện rất đáng được nói tới.

PV VOV thường trú tại Pháp đã có may mắn gặp gỡ và trò chuyện với gia đình bác Nguyễn Lan Phương – người đã giữ tờ báo Nhân dân có bài viết “Thời thanh niên của Bác Hồ” từ 36 năm qua.

Thật bất ngờ và xúc động khi trong một cuộc trò chuyện, anh Nguyễn Hải Nam – Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Pháp – lật dở trong cặp làm việc lấy ra tờ báo Nhân dân ngày 02/ 06 /1975 mà mẹ anh mới trao lại. Tờ báo có bài “Thời thanh niên của Bác Hồ” do cố nhà báo Hồng Hà viết, ghi lại những ngày tháng Bác tới nước Pháp tìm đường cứu nước.

Trên tờ báo có nét bút gạch chân dưới cái tên Nguyễn Duyên (hay còn gọi là Tư Duyên) – chính là ông ngoại của anh Nam, một thợ ảnh người Việt tại Pháp từng nhiều lần được gặp Bác Hồ. Những ký ức được ông bà cha mẹ kể lại tràn về đầy ắp và thật tự nhiên giữa anh với chúng tôi – đều là những người con đất Việt thế hệ sinh ra sau chiến tranh, những ký ức dù không đầy đủ và chi tiết vì đã qua nhiều thế hệ.

Tìm tới nhà anh Nam, chúng tôi được nghe mẹ anh – bác Nguyễn Lan Phương kể lại chuyện bà gìn giữ tờ báo và nay trao lại cho con trai – một nhân vật có uy tín trong cộng đồng người Việt tại Pháp. Câu chuyện được bác kể lại rất mộc mạc vì ký ức đã từ hàng chục năm, lúc nhớ lúc quên. Và cũng vì đó là niềm tự hào riêng của gia đình nhiều năm qua mà bác chưa thổ lộ với ai.

“Lúc đó tôi đang ở Sài gòn, có được tờ báo và giữ làm kỷ niệm, tình cờ tự nhiên đọc hay xem báo Nhân dân, giữ luôn đến giờ, mới chuyển cho con trai. Vì cụ sinh ra các chị em thường cụ hay nhắc nói chuyện đến Bác Hồ, mọi người cũng để ý; nghe thấy rất phấn khởi và giữ đấy” – Bác Nguyễn Lan Phương chia sẻ.

Bác Nguyễn Lan Phương kể, thân sinh của bác là cụ Tư Duyên, khi đó là một thợ ảnh trong nhóm người Việt Nam tham gia phong trào yêu nước đã nhiều lần được gặp Bác Hồ khi Người tham gia hoạt động cách mạng tại Pháp những năm 1917 – 1923 sau khi trở về từ Mỹ, Anh. Nhà cụ Tư Duyên vừa là nơi làm ảnh, vừa là chỗ ăn ở của những người bạn Việt Nam tham gia phong trào ái quốc, trong đó có chí sỹ Phan Chu Trinh. Cụ cũng thường mời Bác Hồ cùng với ông Phan Văn Trường đến nhà chia sẻ kinh nghiệm làm ảnh và nghệ thuật chụp ảnh cũng như tâm sự nỗi nhớ quê hương.

Theo lời kể của cụ Tư Duyên được gia đình thuật lại, sau những lần gặp Bác Hồ, ông đã bị thu hút bởi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm của của người thanh niên tuổi rất trẻ nhưng có tư tưởng và hoài bão lớn lao. Còn Bác Hồ thì quý sự cần cù, bản tính ít nói, tình cảm thân thiện của người bạn Tư Duyên với tâm sự : “Tôi chỉ biết rửa ảnh và chụp ảnh thôi, nhưng sẽ tích cực giúp đỡ những người hoạt động cách mạng như anh, ông Trinh và ông Trường”.

Bác Lan Phương nhớ lại: “Gia đình có tới 11 chị em, tôi là cả, lúc đó khoảng 17-18 tuổi; tất cả nghe bố nói chuyện, các em cũng nhớ hết. Bao nhiêu lần, cụ nhớ kỷ niệm cụ ngồi cụ nói. Lúc cụ sang Pháp là 17 tuổi. Cụ bảo cụ ở Paris, cụ sang học tiếng và nghề ảnh. Cụ có căn nhà nhỏ, ở cùng cụ Phan Chu Trinh, có gặp bác Phan Vân Trường và Bác Hồ. Cụ kể Bác Hồ rất thân thiện, rất quý. Cụ bảo là thích làm ảnh, bằng không thì theo chính trị nhưng không có khiếu”.

Thuộc thế hệ con cháu sinh sau chiến tranh, anh Nguyễn Hải Nam luôn trân trọng và tâm niệm phải gìn giữ những ký ức đã nuôi dưỡng và tạo động lực cho anh từ khi còn nhỏ: “Những kỷ niệm đó mẹ đã nói khi đó mình chỉ ghi nhận lúc trước không chú ý mấy nhưng ký ức lúc nào cũng tiềm ẩn trong thâm tâm, có sự kiện nào về Bác Hồ tôi lại nhớ đến. Trong xây dựng cộng đồng, tôi cũng thấy Bác Hồ luôn là động lực thúc đẩy cho người Việt ở xa quê hương.

Tôi đã đi xa Việt Nam hơn 20 năm nhưng chưa bao giờ cảm thấy rời xa Việt Nam. Mỗi khi có các sự kiện diễn ra, mình lại nhớ nguồn gốc gia đình tự hào từng có mối liên hệ với Bác. Một tờ báo nho nhỏ, mình muốn giữ lại. Mình cũng muốn đi xa hơn, mẹ có nói là có vài cuốn sách, ảnh. Gia đình sẽ cố gắng tìm lại những kỷ vật, mình cố gắng tìm lại; ngoài sự kiện lịch sử; đó còn là nguồn gốc của chính mình”.

Anh Nam cũng cho biết, mới đây bất ngờ có một người bạn Pháp bày tỏ với anh nguyện vọng nghiên cứu về Bác Hồ và thời gian Người hoạt động ở Pháp. Anh sẽ cố gắng tìm lại và cung cấp cho người bạn đó những gì gia đình có được để phục vụ cho việc gìn giữ những ký ức về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc- Người vẫn luôn là nguồn động viên và đoàn kết những người con Việt Nam đang sống xa Tổ quốc./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Thùy Vân – Quang Hưng (Từ Paris)/ VOV
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đoàn Đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn 2012, sáng ngày 19/01/2012 (26 Tết), Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đến Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, người sáng lập Đảng Cộng sản Vệt Nam, đặt hoa tưởng niệm, tri ân các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh có các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm, cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể và các đồng chí cán bộ lão thành cách mạng. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.”

Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương
và Bộ Quốc phòng vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, những người đã hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “ Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ”.

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ,
Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam dặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Cũng trong buổi sáng cùng ngày, các Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; Đảng uỷ Công an Trung ương và Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Ban Chỉ đạo phối hợp hoạt động Cụm di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình và nhiều cơ quan, đoàn thể Trung ương, địa phương, đông đảo các tầng lớp nhân dân và khách quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ./.

Lan Hương

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về người làm báo

Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.616.

Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công.

Sách đã dẫn (Sđd), tập 9, tr.415.

Ngoài những đồng chí đã làm báo trong những năm cách mạng và kháng chiến, số đông cán bộ báo chí ta đều mới vào nghề, vì thế mà kinh nghiệm còn ít, trình độ chưa cao. Muốn tiến bộ, muốn viết hay, thì phải cố gắng học hỏi, ra công rèn luyện. Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi:

Viết cho ai xem?

Viết để làm gì?

Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?

Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm.

Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ, mà tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta.

Sđd, tập 10, tr.615-616.

Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội… cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc.

Sđd, tập 9, tr.414.

Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết.

Sđd, tập 10, tr.615.

Trong công tác, người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v…, đều phải ăn khớp với nhau.

Sđd, tập 9, tr.415.

Trong nghề làm báo, ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế, thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài.

Sđd, tập 9, tr.415.

xaydungdang.org.vn

Lời kêu gọi thi đua ái quốc

TTO – LTS – “Mỗi người dân VN, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên các mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa. Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi khó khăn để đi đến thắng lợi cuối cùng. Chúng ta quyết thực hiện: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc“.

Lời Bác kêu gọi đã 60 năm mà đọc lại tưởng như mới hôm nay. Nhiệm vụ đặt ra đã 60 năm, hôm nay kiểm lại, người người vẫn thấy mình phải tiếp tục phấn đấu, tiếp tục thi đua, tiếp tục trở thành những chiến sĩ trên mặt trận của mình “để đi đến thắng lợi cuối cùng”.

Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên cứu quốc lần II nhiệt liệt chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm (2-11-1956) – Ảnh tư liệu

Mục đích thi đua ái quốc là:

Diệt giặc đói,
Diệt giặc dốt,
Diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào:

Lực lượng của dân,
Tinh thần của dân, để gây:
Hạnh phúc cho dân.

Vì vậy bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì, đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau,
Làm cho tốt,
Làm cho nhiều.

Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa. Thực hiện khẩu hiệu:

Toàn dân kháng chiến,
Toàn diện kháng chiến.

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta:

Vừa kháng chiến,
Vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua ái quốc sẽ là:

Toàn dân đủ ăn đủ mặc,
Toàn dân biết đọc, biết viết,

Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới,
để diệt ngoại xâm,

Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện:

Dân tộc độc lập,
Dân quyền tự do,
Dân sinh hạnh phúc,

Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra.

Để đi đến kết quả tốt đẹp đó, tôi xin

Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,
Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,
Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,
Đồng bào công nông thi đua sản xuất,
Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,
Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,
Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.

Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Phong trào sôi nổi.

Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi.

Hỡi toàn thể đồng bào,
Hỡi toàn thể chiến sĩ,
Tiến lên!

HỒ CHÍ MINH
Viết ngày 11-6-1948.

Báo Cứu quốc, chi nhánh số 6, số 968, ngày 24-6-1948.
Hồ Chí Minh toàn tập

tuoitre.vn