Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Thi đua chính là thể hiện lòng yêu nước đối với Tổ quốc

Thi dua chinh la 1Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức mẫu mực,
luôn đi đầu trong việc thực hiện các phong trào thi đua. Ảnh internet

“Yêu nước” là một khái niệm rộng và bao quát, nhưng lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minhđã tiếp cận khái niệm “yêu nước” với tư tưởng hết sức tiến bộ, giản dị và dễ hiểu: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.

Để giải thích cho luận điểm “thi đua là yêu nước”, Người chỉ rõ: “Thi đua là một cách yêu nước thiết thực và tích cực. Các chiến sĩ thi đua đều tăng năng suất từ gấp rưỡi trở lên. Nếu ta cứ tính đổ đồng mỗi chiến sĩ đều tăng năng suất gấp đôi, nếu tất cả những người lao động nước ta – bộ đội, công, nông, lao động trí óc – đều thi đua và đều tăng năng suất gấp đôi, thì kết quả sẽ thế nào? Kết quả là lực lượng của ta về mọi mặt đều tăng gấp đôi. Ta sẽ diệt giặc gấp đôi, thắng lợi gấp đôi. Kết quả là kháng chiến sẽ thắng lợi gấp đôi, kiến quốc sẽ thành công gấp đôi. Kết quả là dân giàu nước mạnh”.

Để phong trào thi đua ái quốc phát triển sâu rộng, nền nếp, trở thành cao trào cách mạng của nhân dân, góp phần đắc lực vào thắng lợi của cách mạng nước ta, ngày 01-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 195-SL thành lập Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương và các cấp.

Sau đó, ngày 11/6/1948, Người đã lần đầu tiên ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ mục đích của việc phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn quốc: Diệt giặc đói; diệt giặc dốt; diệt giặc ngoại xâm với cách làm là dựa vào lực lượng và tinh thần của dân để đạt kết quả: Dân tộc độc lập – dân quyền tự do – dân sinh hạnh phúc. Cóthể thấy  rằng, thi đua là hoạt động tích cực sáng tạo, là sự phấn đấu vươn lên giành lấy kết quảtốt đẹp hơn, muốn vậy thi đua phải có mục đích tốt đẹp, mục tiêu rõ ràng, cụ thể.

Sau khi Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, phong trào thi đua ái quốc (sau gọi là thiđua yêu nước) được duy trì rộng khắp và bài bản, tùy theo tình hình thực tế của đất nước trongtừng giai đoạn lịch sử mà đề ra những yêu cầu, mục đích khác nhau và cứ cách vài năm, các Đạihội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc được tổ chức một lần. Trong những kỳ Đại hội ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tham dự và tận tình quan tâm, động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời.

thi-dua-la-chinh-bBác Hồ với các đại biểu dự Đại hội Anh hùng,
chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất tại Kim Bình (5-1952). Ảnh internet

Trong bài phát biểu trước các chiến sĩ thi đua, ngày 03-5-1952, Người đã dạy: “Cán bộ phải thi đua với quần chúng, xung phong làm gương mẫu cho quần chúng để kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công”. Người cho rằng, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Chính bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực, bao giờ cũng đi đầu trong việc thực hiện các phong trào được phát động. Người chính là một chiến sĩ tiên phong trong tất cả các phong trào thi đua cách mạng ở nước ta.

Thi dua chinh la 3Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các Anh hùng và chiến sĩ thi đua nông nghiệp (27/5/1957).
Ảnh internet

Về công tác thi đua, Người còn chỉ ra: “Trong các việc thi đua ái quốc, cần phải nêu rõ tinh thần cần, kiệm, liêm, chính…”. Thi đua lập thành tích cao nhưng bên cạnh đó vẫn phải thực hành tiết kiệm, không vì thành tích mà sử dụng nhân lực, vật lực một cách lãng phí. Thi đua phải dựa trên sự minh bạch, không chạy theo thành tích mà lấp liếm mặt xấu, khoa trương mặt tốt, báo cáo sai sự thật.

Thi dua chinh la 4Nông dân Hải Hưng (nay là Hải Dương) báo cáo kết quả sản xuất với
Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1958. Ảnh internet

Do đó, chỉ có dựa trên “cần, kiệm, liêm, chính” thì phong trào thi đua yêu nước mới có thể tiến hành liên tục và lâu dài. Bác đã từng nhắc nhở: “Tưởng lầm rằng thi đua chỉ nhất thời. Thật ra thi đua là phải trường kỳ”.

Để các phong trào thi đua yêu nước phát triển lâu dài thì các phong trào đó phải xuất phát từ thực tiễn, từ đời sống và hoạt động sản xuất hàng ngày, không nên quá xa vời, quá to tát.Vì thế mà Người đã khẳng định rõ: “Tưởng lầm rằng thi đua là một công việc khác với những công việc làm hàng ngày. Thật ra, công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”.

Trong công tác thi đua, một mặt nữa rất quan trọng đó là khen thưởng. Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng. Chính trên nền tảng của phong trào thi đua yêu nước sôi nổi mới có thể lựa chọn những cá nhân, tập thể tiêu biểu nhất, xứng đáng nhất, đầy đủ và kịp thời nhất cho việc khen thưởng. Người chỉ rõ: “Thi đua thì phải khen thưởng, khen thưởng để đẩy mạnh thi đua”. Thi đua và khen thưởng bổ sung, hỗ trợ cho nhau và phải luôn gắn bó với nhau.  Theo Bác Hồ: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”.

thi-dua-la-chinh-5Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch TLĐLĐVN Đặng Ngọc Tùng trao thưởng cho những công nhân nhận giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh – Giải thưởng trong phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”. Ảnh internet

Chuyện kể rằng, khi đến dự Đại hội tổng kết thi đua ngành Giao thông vận tải (24-3-1966), Bác nói: “Bác nghèo không có gì thưởng, Bác đi bắt tay một cái…!”. Chỉ bằng một hành động rất bình dị, chân tình nhưng Bác đã tỏ rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, thái độ trân trọng của nhân dân trước những thành tích được ghi nhận trong phong trào thi đua của ngành.

Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Viện Huân chương (nay là BanThi đua – Khen thưởng Trung ương) với nhiệm vụ giúp Ðảng, Nhà nước nghiên cứu chủ trương,chính sách khen thưởng, quản lý công tác khen thưởng của Nhà nước. Ngoài ra, Người còn rất quan tâm đến việc biểu dương và phát huy tác dụng của những tấm gương “Người tốt, việc tốt”. Người gạch chân những dòng chữ đưa tin về gương “Người tốt, việc tốt” trên các báo chí, giao Viện Huân chương thẩm tra để trình Chính phủ khen thưởng kịp thời và Người gửi tặng Huy hiệu. Người còn khuyến khích làm sách “Người tốt, việc tốt” để những tấm gương thi đua được phổ biến rộng rãi trong xã hội.

Trải qua 65 năm, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948) cho đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai, thống nhất đất nước và đang vững bước trên con đường đổi mới. Có thể nói, việc đề ra và phát động các phong trào thi đua luôn xuất phát, gắn liền với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng mà cụ thể hóa thành các nội dung thi đua trong từng phạm vi lĩnh vực cụ thể, đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

binh dan hoc vuPhong trào “Bình dân học vụ”. Ảnh internet

to phu nu trung hau dam dangTổ Phụ nữ “Trung hậu, đảm đang” Gia Lương (Gia Bình, Lương Tài, Bắc Ninh) trong kháng chiến chống Mỹ. Ảnh internet

Sau chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, cả nước bước vào thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước khi Đảng và Nhà nước ra đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nước ta đang trong một tình trạng trầm trọng nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội. Đặc biệt là sau thời kỳ Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, công tác thi đua khen thưởng bị buông lỏng và hoạt động mang nhiều tính tự phát; chủ yếu công tác thi đua do các đoàn thể tổ chức, thực hiện, thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong việc định hướng thực hiện các phong trào thi đua đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Về công tác khen thưởng vẫn được duy trì, nhưng chủ yếu tập trung vào khen thưởng thành tích kháng chiến.

Năm 1987, Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương bị giải thể, thi đua chưa thực sự là động lực thúc đẩy, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hăng hái lao động sản xuất, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trước yêu cầu của tình hình thực tiễn, ngày 3-6-1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 35-CT/TƯ về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới. Trong đó, Đảng ta khẳng định rõ trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, trước những thời cơ và thách thức vô cùng to lớn, công tác thi đua, khen thưởng càng có vị trí, vai trò rất quan trọng. Từ đây, nhiều phong trào thi đua yêu nước đã được phát động với khí thế rất sôi nổi, thiết thực và thu được nhiều kết quả tốt như: Phong trào “Ngày vì người nghèo” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Mùa hè xanh”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Hiến máu nhân đạo” của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội….Kết quả của những phong trào thi đua yêu nước đó đã góp một phần không nhỏ thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước….

mua he xanhPhong trào “Mùa hè xanh” của tuổi trẻ Việt Nam. Ảnh internet

Sau khi tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TƯ của Bộ Chính trị, ngày 21/5/2004, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Chỉ thị số 39/CT-TƯ về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến; ngày 30/8/2010, Ban Chấp hành Trung ương đã ra Kết luận số 83-KL/TƯ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TƯ; Chỉ thị số 725/CT-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 và Kế hoạch 05 năm (2011 – 2015); tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…”; việc ra đời của Luật Thi đua – Khen thưởng (sửa đổi bổ sung 2005) và các văn bản hướng dẫn thi hành…..Những chủ trương, chính sách đó một lần nữa đã khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước tới công tác thi đua, khen thưởng, tới các phong trào thi đua yêu nước vì mục tiêu chung là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, toàn xã hội quyết tâm vươn lên “đi tắt đón đầu” nắm bắt những tri thức tiên tiến, theo kịp bước phát triển của khoa học – công nghệ thế giới, đồng thời càng khẳng định giá trị và ý nghĩa to lớn của phong trào thi đua yêu nước mà Bác Hồ kính yêu đã kêu gọi chúng ta cách đây tròn 65 năm.

Ngày nay, khi đất nước ta đang trên đà phát triển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trước những thời cơ và thách thức to lớn, công tác thi đua luôn là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải phát huy cao độ lòng yêu nước trong mỗi con người, cần tiếp tục đẩy mạnh và phát triển phong trào thi đua yêu nước trên nhiều lĩnh vực với những hình thức, nội dung, phương thức thực hiện mới để lôi cuốn, động viên khuyến khích mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo, phấn đấu thi đua lập thành tích trong học tập, lao động sản xuất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình hình thực tiễn hiện nay, công tác thi đua, khen thưởng có nơi, có lúc vẫn còn nhiều bất cập cần phải sớm đề ra các biện pháp khắc phục. Hình thức và nội dung thi đua, khen thưởng còn chậm đổi mới, thiếu sáng tạo, nhiều khi mang tính hình thức tượng trưng, áp đặt từ trên xuống; nhận thức về thi đua, khen thưởng còn chưa sâu sắc, đúng đắn; việc khen thưởng còn tràn lan, cào bằng; khen thưởng chưa kịp thời, chưa chính xác; quan niệm về khen thưởng, khuyến khích tinh thần và vật chất chưa đúng đắn; còn tồn tại các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong việc suy tôn, bình xét khen thưởng; thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà….Chính những tồn tại, bất cập này phần nào đã làm giảm ý nghĩa và vai trò của công tác thi đua, khen thưởng, gây phản cảm, bức xúc trong dư luận xã hội và các tầng lớp nhân dân.

Để khắc phục một số bất cập cơ bản nhằm nâng cao vị thế và vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới, thiết nghĩ việc đổi mới công tác chỉ đạo, lãnh đạo, xây dựng cơ chế chính sách, tổ chức bộ máy, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng đồng thời đổi mới hình thức, nội dung thi đua, khen thưởng là rất cần thiết. Nội dung, mục tiêu thi đua phải được xây dựng một cách gần gũi, cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình thực tiễn với từng cơ quan, đơn vị, từng địa phương; cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng gương điển hình tiên tiến để mỗi cá nhân hiểu, ý thức được và tự giác, hăng hái thực hiện thi đua yêu nước; đồng thời nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng bằng việc tiếp tục tập trung quán triệt sâu sắc, đầy đủ, toàn diện quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước như Chỉ thị số 39/CT-TƯ của Bộ Chính trị, Luật Thi đua – Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành…nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên làm công tác thi đua, khen thưởng, làm cho cán bộ trong toàn hệ thống chính trị phải coi công tác thi đua, khen thưởng là động lực cách mạng to lớn để thực hiện nhiệm vụ chính trị và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới, thực hiện tốt nhiệm vụ hàng ngày của mình, thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: Thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày”.

thi-dua-kĐồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng
trao thưởng cho các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến xuất sắc

Trong những năm qua, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác thi đua, khen thưởng, triển khai thực hiện các chỉ thị của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong tình hình mới,các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức sôi nổi phong trào thi đua gắn với đặc điểm, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, như phong trào “Mừng Đảng, mừng Xuân, ra quân quyết thắng”; “Lập công dâng Bác“, “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới“ của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng; phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”; “CAND chấp hành nghiêm Điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” của Trung đoàn 375, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ; phong trào “Mừng Đảng, mừng Xuân”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” của Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình; phong trào “Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật”, “Tiến quân vào khoa học” của Trung tâm Nghiên cứu, Ứng dụng KHCN&MT và phong trào “Chủ động sáng tạo, đoàn kết hiệp đồng, lập công quyết thắng”, “Vinh quang con đứng bên Người” của Cơ quan Văn phòng Ban Quản lý Lăng.

Tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2008-2012, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng đã biểu dương, khen thưởng 658 lượt tập thể và 2.797 lượt cá nhân có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua và thực hiện nhiệm vụ.

Thiết thực kỷ niệm 123 năm Ngày sinh nhật Bác và kỷ niệm 65 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức cho các điển hình tiên tiến tham quan học tập tại Di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Định Hóa, Thái Nguyên; Khu Di tích lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang;phối hợp với các Bộ, ngành trong Khối thi đua Nội chính Trung ương và Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch tổ chức thành công Chương trình “Giao lưu văn nghệ” và Hội nghị tuyên dương các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước và học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trải qua hơn sáu thập kỷ, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sáng ngời sức mạnh bền bỉ, vẹn nguyên giá trị sâu sắc cho đến tận ngày nay và mãi về sau. Tư tưởng, tấm gương đạo đức ngời sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu về thi đua yêu nước mãi là kim chỉ nam hành động cho các thế hệ Việt Nam học tập và làm theo, đoàn kết đồng lòng, năng động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, phát huy truyền thống yêu nước, biến các phong trào thi đua thành động lực cách mạng, thực hiện bằng được mục tiêu cao cả “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Với ý nghĩa lịch sử sâu sắc của phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, ngày 04 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 258/QĐ-TTg chính thức lấy ngày 11 tháng 6 hằng năm là Ngày truyền thống thi đua yêu nước nhằm tôn vinh truyền thống thi đua yêu nước của nhân dân ta trong việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế của đất nước./.

Cao Thị Huyền Trang
Phòng Pháp chế – Thi đua khen thưởng

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Truyền thông “Vịt trời” của những nhà báo tự phong hải ngoại

Có người tự nhận mình là “nhà báo” chống cộng ở hải ngoại, đã nói rằng: Đã là nhà báo hành nghề ở địa bàn, môi trường nào là phải viết hay, viết tốt về nơi đó. Tuyệt đối không đưa những thông tin “nhạy cảm”, “trái chiều” lên báo. Bù lại, anh sẽ nhận được sự đối đãi “tử tế” của các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ), các hội đoàn ma trơi, các đảng phái, mang hơi hướng chống cộng?!

Đó là một thực tế đã và đang tồn tại ở hải ngoại, đặc biệt ở xứ Bu (Mỹ) này. Tuy nhiên hiểu như vậy là chưa đúng, ý nghĩ đó chỉ dành cho những kẻ mạo danh “nhà báo”, “ký giả” mà chúng ta gọi chung là lũ “vịt trời” hành nghề cái được gọi là “nhà truyền thông”. Trong bài này chúng tôi không đi vào khía cạnh những ma mãnh của giới truyền thông cờ vàng CCCĐ. Ở đây chúng tôi đi vào nội dung nguyên nhân và tác động dẫn đến các món mà cờ vàng CCCĐ đã “xào nấu” đổi trắng thay đen như thế nào?

Xin thưa với các vị rằng: Nghề báo là một nghề đặc thù.

Đã dấn thân, anh bắt buộc phải chấp nhận đủ thứ rủi ro, nguy hiểm. Anh sẽ phải chấp nhận những tai ương, lạnh nhạt, lảng tránh, tính mạng. Chấp nhận cái nhìn thiếu thiện cảm hay thái độ bất hợp tác. “Nghề báo bạc lắm”. Nó không phải trò chơi của mấy ông thất nghiệp, chơi nổi, theo đóm ăn tàn mà mấy ông vỗ ngực xưng danh “Nhà báo” ở cái xứ Mỹ này.

Họ đâu có cần hội đủ các điều kiện sơ đẳng nhất để bước vào công cuộc “hành nghề”. Họ làm báo, rất đơn giản, chỉ cần thông thạo tiếng mẹ đẻ (viết sai chính tả cũng ok), độc giả sẽ tự luận ra hết; phải có thẻ hành nghề? Ồ, chuyện đó có quan trọng gì, ta tự cấp cho ta một cái “Cạc”, vậy là xong!

Nhiều vị là “nhà báo” cực đoan chống cộng ở xứ người không hiểu một chút gì về cái nghề này. Phương châm của người làm báo đích thực là “mắt sáng, lòng trong, bút sắc” thì anh phải viết đúng, viết khách quan, viết theo lẽ phải. Anh phải đấu tranh cho sự công bằng, đấu tranh đẩy lùi cái ác, cái xấu và những tiêu cực xã hội. Còn một căn bệnh phổ biến trong giới những ông “làm báo” này là họ làm theo cách của những kẻ chẳng hiểu, hay cố tình không hiểu công việc mình làm là cái gì? Các ông tự phong “nhà báo”, “ký giả”, vậy có hiểu làm báo là gì không? Ngắn gọn là làm báo là làm một liên kết xã hội, một sản phẩm báo chí, nó thông đạt một sự kiện vừa mới xảy ra tới với mọi người, nó thu hút sự quan tâm của nhiều người vào một điểm xác định. Vậy cơ sở nào để các anh “cờ vàng” viết báo có quyền mổ xẻ, cắt nghĩa, lý giải, đánh giá, nhận định sai lệch một sự kiện? Các anh chỉ lớn tiếng, cao giọng, chỉ trích hơn một chính kiến?

Sự thực là không phải vài ba cái tin, bài bới móc, vụn vặt, chạy theo tâm lý chống cộng theo đám đông, thỏa mãn tâm lý tò mò của nhóm người nào đó, sự cổ vũ của đám người cực đoan của vài ba trang mạng xã hội sặc mùi bài xích chế độ cầm quyền ở Việt Nam là anh đã oai lắm rồi, tự vỗ ngực xưng tên là nhà này, nhà nọ? Họ đã nhận mình là “nhà báo” dám “động chạm”, “bình loạn” vung trên truyền thông? Bởi vậy truyền thông ở hải ngoại giống như trời đất đảo điên, thực hư lẫn lộn, nhân tâm xáo trộn trong đống thông tin mịt mù trước những “bình loạn” mà các “nhà báo” cờ vàng đang làm.

Không ai buộc các vị phải viết theo cái lối ngược ngạo như vậy, mà đây là sự lợi dụng cái gọi là “tự do báo chí” để trục lợi về chính trị của “nhà báo” cờ vàng cực đoan mà thôi. Nếu các vị là nhà báo chân chính, tốt cho nơi mình đang đảm trách nhiệm vụ “truyền thông”, càng không có ai có thể cấm các vị viết những bài có tính chất “chống cái xấu”, “phản biện xã hội”, bảo vệ lẽ phải. Cái chính là các vị viết thế nào mới là điều đáng bàn. “Nhà báo” cờ vàng CCCĐ viết không phải bằng lập luận, không phải bằng điều tra, không phải bằng những chứng lý cụ thể, không viết bằng cái “tâm sáng” mà viết theo “cảm tính”, anh viết theo “đơn đặt hàng chống cộng”, viết theo ý kiến cá nhân, viết không khách quan, viết thiếu trung thực thì các vị đã đi ngược lại lịch sử, đi ngược lại tâm tư nguyện vọng của đa số người dân.

Chưa bao giờ như bây giờ, những “nhà báo” tự phong ở hải ngoại phát triển đông đến chóng mặt, “ra ngõ là gặp nhà báo”. Đa phần những “nhà báo” này là “tay ngang”. Có nghĩa là xuất phát điểm anh không hề “học” về báo chí, anh chưa hề làm báo. Ta thường nghe mấy vị này cao giọng tôi làm báo, đưa tin “khách quan” nghe vậy chắc nhiều người đồng tình về thái độ này, nhưng không phải vậy. Nếu không hiểu đúng nghĩa của từ “khách quan” rất dễ người ta xoá đi cái “tôi” của bản thân mình, nhưng các vị lại chuyển sang một cái “tôi” khác.

Không khó khăn gì để nhận diện đằng sau lời hô hào của các vị “nhà báo” này đó là kiểu làm báo với thái độ trốn tránh trách nhiệm, các vị sợ hãi những phản ứng của các thế lực CCCĐ khi các vị viết trung thực. Nếu viết đúng những gì ở bên Việt Nam thì gây ra sự bùng nổ, sự chống đối của các băng đảng CCCĐ, các vị làm gì có đủ dũng khí đối đầu. Nếu các vị có đủ can đảm có đủ nội lực để viết trung thực thì còn gì phải bàn cãi nữa? Nhưng đáng tiếc các “nhà báo” cờ vàng CCCĐ, hoặc thiếu một trong hai yếu tố này, hoặc thiếu cả hai. Chính vì thế mà việc đưa thông tin không chính xác, việc bình luận về thông tin theo kiểu “hóng hớt”, “nghe hơi nồi chõ” đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” trong làng báo Việt ngữ ở hải ngoại.

Thực tế ở hải ngoại đa số người làm báo không hiểu nhiều về báo chí, có người đơn thuần chỉ là người cung cấp tin, có người viết lách với động cơ thiếu trong sáng, có người viết tin, bài… lấy nhuận bút kiếm sống, có người thậm chí không biết làm nghề gì nữa thì đi làm báo chơi.

Các vị “nhà báo” hải ngoại lúc nào cũng cao giọng tính “khách quan” của cơ quan truyền thông mà các vị đang nắm giữ, nhưng thực ra các vị không hiểu hết được nội hàm của nó thành ra nó dẫn đến những tình huống trớ trêu.

“Nghề báo là một nghề luôn được đánh giá cao ngay từ khi mới ra đời. Mục đích quan trọng nhất của nghề báo là cung cấp cho bạn đọc những thông tin thời sự chính xác và đáng tin cậy mà họ cần để có thể hành xử tốt nhất trong cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, do môi trường kinh tế, môi trường dân tộc, môi trường chính trị… mỗi quốc gia khác nhau nên nghề báo mỗi nơi đều có những đặc thù riêng. Năm 1996, Tổ chức Các nhà báo chuyên nghiệp Mỹ đã loại bỏ khái niệm “khách quan” ra khỏi những nguyên tắc đạo đức của mình. Họ cho rằng nhà báo Mỹ là con người và đã là con người thì phải có những quan điểm cá nhân. Cho nên người làm báo càng phải cẩn trọng trong nghề để đưa ra những thông tin hữu ích cho dân tộc mình, quốc gia mình và cho nhân loại”.

Nói như vậy để thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng “cáo đội lốt sư tử” mang danh truyền thông mà không hiểu mình đang làm gì, từ hiểu sai, từ cố chấp, từ nhận thức. Và, cuối cùng là: vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhà báo.

Cổ nhân từng nói “bể học mông mênh”, không ai có thể tự tin vỗ ngực rằng mình cái gì cũng biết.

Thời đại bùng nổ thông tin, thông tin lên ngôi. Nhưng, cũng vì vậy, có quá nhiều người tự xưng, giả danh “nhà báo” ở xứ cờ vàng chống cộng này để lừa đảo, xuyên tạc sự thật,… đủ mọi nhẽ. Hè nhau “truy hoan”, “tự sướng” trên sự xuyên tạc về những việc tiêu cực xảy ra ở Việt Nam sau khi chôm chỉa và cắt xén nội dung, ý nghĩa của mục đích bài viết. “Nhà báo” cờ vàng chống cộng là như vậy đó, họ sẽ bị đào thải!

Amari TX (Việt kiều Mỹ)

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD)- Văn kiện chính trị quan trọng đầu tiên về hợp tác nhân quyền ở khu vực

21:34 | 18/11/2012

(ĐCSVN) – Ngay sau Phiên họp toàn thể Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia), chiều 18/11, Lãnh đạo các nước ASEAN đã thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD), trao đổi các trọng tâm, ưu tiên của Hiệp hội và trao đổi với Hội đồng Tư vấn Kinh doanh ASEAN (ABAC).

*Tuyên bố nhân quyền ASEAN (AHRD) đã thể hiện nguyện vọng, quyết tâm, nỗ lực của người dân và chính phủ các nước thành viên xây dựng một Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân, đồng thời tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của con người cũng như phấn đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiếp tục thể hiện cam kết của ASEAN trong thúc đẩy thực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố và Chương trình Hành động Viên, và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác mà các quốc gia thành viên ASEAN đã tham gia. Tuyên bố khẳng định lại các giá trị nhân quyền chung, đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế về quyền con người. Tuyên bố Nhân quyền ASEAN gồm 7 phần: phần mở đầu, các nguyên tắc chung, các quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền phát triển, quyền hưởng hòa bình, hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền.

*Tại các Phiên họp, Lãnh đạo các nước ASEAN đã bàn về việc đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng, gia tăng kết nối và liên kết khu vực, tăng cường quan hệ đối ngoại và vai trò trung tâm của ASEAN cũng như trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Tuyên bố Phnôm Pênh thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN- văn kiện chính trị
quan trọng đầu tiên về hợp tác nhân quyền ở khu vực

Kiểm điểm thực hiện Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, Lãnh đạo các nước ASEAN ghi nhận các kết quả tích cực trong triển khai các Kế hoạch tổng thể trên cả ba trụ cột, nhất là trong trụ cột Kinh tế ASEAN với hơn 70% chỉ tiêu đã được thực hiện. Lãnh đạo các nước nhấn mạnh ASEAN cần quyết tâm và nỗ lực hơn nữa nhằm hoàn thành đúng tiến độ các kế hoạch đã đề ra, nhất là về liên kết kinh tế, triển khai kết nối, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực, thúc đẩy phát triển bền vững và đồng đều. Bên cạnh đó, giáo dục, tuyên truyền và quảng bá về ASEAN cũng sẽ được tiếp tục đẩy mạnh nhằm nâng cao ý thức Cộng đồng và trách nhiệm của người dân đóng góp cho tiến trình xây dựng một Cộng đồng ASEAN lấy người dân làm trung tâm… Để đạt được các mục tiêu trên, các nước nhất trí sẽ tiếp tục gắn kết và lồng ghép các kế hoạch hợp tác khu vực vào các chương trình quốc gia, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan phụ trách… nhằm bảo đảm triển khai đồng bộ và hiệu quả ở cả cấp độ quốc gia và khu vực.

Trước những thách thức đang đặt ra đối với khu vực, các nhà Lãnh đạo ASEAN nhấn mạnh Hiệp hội cần duy trì đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm trong định hướng hợp tác và cấu trúc khu vực, nhất là về các vấn đề liên quan đến lợi ích chiến lược chung của ASEAN về hòa bình, an ninh và hợp tác phát triển ở khu vực. Theo đó, ASEAN cần tiếp tục thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, chia sẻ các chuẩn mực ứng xử, tiếp tục phát huy tác dụng các công cụ hợp tác của ASEAN như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC), Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)… Bên cạnh đó, ASEAN cần phát huy tinh thần đoàn kết và tương trợ lẫn nhau, khuyến khích tăng cường hợp tác với các Đối tác về các vấn đề an ninh phi truyền thống, ứng phó hiệu quả với cách thách thức đang đặt ra ở khu vực như thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh an toàn hàng hải, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia…

Về quan hệ đối ngoại của ASEAN, các nhà Lãnh đạo nhất trí ASEAN cần tiếp tục mở rộng quan hệ với các Đối tác, phát huy vai trò chủ đạo trong thúc đẩy các khuôn khổ và tiến trình hợp tác khu vực như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+),… tạo điều kiện cho các Đối tác tham gia tích cực và đóng góp xây dựng vào mục tiêu chung là hoà bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực. Nhân dịp này, Lãnh đạo các nước ASEAN đã chính thức tuyên bố khởi động tiến trình đàm phán Khuôn khổ Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) với các Đối tác liên quan.

Trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, Lãnh đạo các nước ASEAN khẳng định sẽ tiếp tục ủng hộ nỗ lực của Chính phủ Mianma trong tiến trình hòa hợp dân tộc; ủng hộ một Bán đảo Triều Tiên hòa bình và phi vũ khí hạt nhân. Về tình hình ở Dải Gaza (Palextin), các nước kêu gọi các bên chấm dứt hành động bạo lực, thù định, nỗ lực tìm giải pháp lâu dài cho hòa bình ở Trung Đông. Các Lãnh đạo ASEAN cũng nhất trí tăng cường trao đổi và phối hợp lập trường về các vấn đề toàn cầu thuộc quan tâm chung tại các diễn đàn quốc tế, khu vực khác như APEC, ASEM, G20, Liên hợp quốc,… qua đó góp phần nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của ASEAN.

Về Biển Đông, các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực; tôn trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của LHQ (UNCLOS); thực hiện hiệu quả Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông, Tuyên bố DOC và sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Tại Phiên họp hẹp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng trước hình khu vực và thế giới tiếp tục có nhiều chuyển biến nhanh chóng và phức tạp, ASEAN cần phát huy hơn nữa vai trò chủ đạo ở khu vực, nhất là trong các vấn đề hòa bình và an ninh; thúc đẩy đối thoại và hợp tác xây dựng lòng tin giữa các nước; xây dựng và chia sẻ chuẩn mực ứng xử; phát huy các công cụ và cơ chế hợp tác hiện có như Hiệp ước TAC, Tuyên bố Bali về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi, đặc biệt là cần đề cao các nguyên tắc như kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết mọi bất đồng bằng biện pháp hòa bình… ASEAN cần giữ vững đoàn kết và thống nhất, nêu cao tinh thần trách nhiệm vì lợi ích chung của khu vực trên cơ sở các nguyên tắc và phương cách đã thỏa thuận, kiên trì tham vấn và xây dựng đồng thuận – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.

Đề cập đến việc giữ vững vai trò của ASEAN trước các thách thức to lớn ở khu vực, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ ASEAN đang phải xử lý những thách thức phức tạp cả truyền thống và phi truyền thống, từ những xung đột tiềm tàng tới các vấn đề xuyên biên giới như bảo vệ môi trường, an ninh nguồn nước, ứng phó và phòng chống thảm họa thiên tai. Với tinh thần đoàn kết và tương trợ lẫn nhau, ASEAN cần tích cực xem xét, trao đổi, phối hợp với nhau, và nỗ lực xây dựng lập trường chung ASEAN trong một số vấn đề quan trọng của khu vực. Đó cũng là một trong những biện pháp để ASEAN giữ vững vai trò trung tâm của mình trong khu vực, nơi các nước lớn đang cạnh tranh ảnh hưởng quyết liệt.

Về Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông; giải quyết hòa bình các tranh chấp; tuân thủ luật pháp quốc tế và Công ước Luật biển 1982 của LHQ, trong đó có các quy định về tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển; thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, cũng như sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh ASEAN cần đẩy mạnh hợp tác về các vấn đề an ninh phi truyền thống và ứng phó với các thách thức đang nổi lên như quản lý thiên tai, an ninh nguồn nước, an ninh an toàn hàng hải, tội phạm xuyên quốc gia… Về hợp tác Mê Công, các nước thuộc Tiểu vùng Mê Công cần tiếp tục đẩy mạnh hợp tác ứng phó với lũ lụt, thiên tai, xâm nhập mặn, bảo đảm an ninh lương thực và quan trọng hơn cả là tìm ra giải pháp lâu dài cho việc sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công, trước hết là cần phải có nghiên cứu tổng thể, khách quan và khoa học về tác động đến môi trường và nguồn nước trong việc khai thác và sử dụng sông Mê Công.

Phát biểu về một số vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, Thủ tướng bày tỏ ủng hộ một Bán đảo Triều Tiên hòa bình, ổn định và không có vũ khí hạt nhân; ủng hộ việc kêu gọi chấm dứt các hành động bạo lực, thù định, nỗ lực tìm giải pháp lâu dài cho hòa bình ở Trung Đông.

Nhân dịp này, Thủ tướng cũng chúc mừng Campuchia thành công trong trọng trách Chủ tịch ASEAN năm 2012; khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ với Brunây trong vai trò Chủ tịch ASEAN 2013 để bảo đảm năm Chủ tịch ASEAN của Brunây thành công tốt đẹp.

Tối 18/11, Hội nghị Cấp cao ASEAN 21 đã kết thúc tốt đẹp. Trong các kết quả của Hội nghị, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ra Tuyên bố Phnôm Pênh thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD) – văn kiện chính trị quan trọng đầu tiên về hợp tác nhân quyền ở khu vực, và thông qua Kế hoạch Hành động triển khai Tuyên bố Bali về “Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng các Quốc gia toàn cầu”, chính thức công bố thành lập Viện Nghiên cứu Hòa bình và Hòa giải ASEAN (AIPR)…

Trong hai ngày tiếp theo sẽ diễn ra các Hội nghị của ASEAN với các Đối tác Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Mỹ; Cấp cao ASEAN+3 và Cấp cao Đông Á (EAS).

* Bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN 21, chiều ngày 18/11, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có cuộc hội kiến với Tổng thống Philíppin Ben-níc-nô S. A-ki-nô. Cùng dự có Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng.

Tại cuộc hội kiến, hai nhà Lãnh đạo bày tỏ vui mừng về những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước thời gian qua, nhất trí cho rằng hai nước có nhiều điểm tương đồng và các mối quan tâm chung, coi đây là cơ sở để hai nước có thể tăng cường quan hệ lên một tầm cao mới. Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bày tỏ cảm ơn Chính phủ Phi-líp-pin trong việc cứu giúp các ngư dân và tàu thuyền Việt Nam gặp nạn trên biển. Thủ tướng cũng chúc mừng Chính phủ Phi-líp-pin về những thành quả phát triển và ổn định đất nước, trong đó có việc đạt được Thỏa thuận hòa bình sơ bộ với Lực lượng Giải phóng Hồi giáo Moro (MILF); mong Philíppin sớm có hòa bình, ổn định lâu dài của đất nước.

Hai nhà Lãnh đạo cũng đã trao đổi về các vấn đề trọng tâm của các Hội nghị ASEAN lần này, cũng như các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Về Biển Đông, hai nhà Lãnh đạo khẳng định cần bảo đảm thực hiện nghiêm túc Tuyên bố 6 điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc. Hai bên cũng nhất trí ASEAN cần phát huy vai trò trung tâm ở khu vực và tin tưởng rằng thành công của Hội nghị cấp cao ASEAN 21 và các Hội nghị liên quan lần này sẽ góp phần tích cực cho tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 cũng như cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Thu Hiên

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Cần bổ sung cơ chế hợp lý, nhằm huy động được sức mạnh cao nhất từ nhân dân phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Đại Tá, PGS, TS KHQS Trần Nam Chuân
Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, vấn đề cơ bản nhất là chưa có cơ chế hợp lý để huy động được sức mạnh tổng hợp từ nhân dân tham gia sự nghiệp BVTQ. Do vậy, Điều 48 Hiến pháp 1992 cần được bổ sung cơ chế hợp lý, nhằm huy động được sức mạnh cao nhất từ nhân dân phục vụ cho sự nghiệp BVTQ.

Cả lý luận và thực tiễn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc Việt Nam đều khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua năm 2011, đã khẳng định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, Tr. 233.

Đảng ta nêu ra định hướng về mục tiêu, nhiệm vụ BVTQ là rất cơ bản và toàn diện, bao gồm cả việc xác định phạm vi, đối tượng bảo vệ và xác định mức độ, tính chất BVTQ là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân trên các địa bàn chiến lược biên giới, biển đảo, góp phần quan trọng vào quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới của Tổ quốc.

Thực tế chỉ ra rằng, từ khi Đảng ta ra đời cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, chưa bao giờ các thế lực thù địch từ bỏ âm mưu, hoạt động nhằm gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới lật đổ chính quyền, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Trong Hiến pháp nêu rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp BVTQ là cơ sở pháp lý không chỉ đảm bảo quyền lãnh đạo của Đảng mà còn để trừng trị những cá nhân, tổ chức có âm mưu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992 của Nhà nước ta, xóa bỏ chế độ Nhà nước của dân, do dân và vì nhân dân.

Bởi vậy, Cương lĩnh 2011 (bổ sung, phát triển) tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với nhiệm vụ BVTQ trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cần xác định những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang nhân dân. Cần tiếp tục thể chế hóa, hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang nhân dân.

Thứ hai, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng một cách tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Hoàn thiện sửa đổi Hiến pháp 1992, ngoài giữ Điều 4 Hiến pháp năm 1992 cần khẳng định: “Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước”.

Thứ ba, cần quy định cụ thể trong Hiến pháp trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân, tổ chức, cơ quan đối với sự nghiệp BVTQ. Quan điểm nhất quán của Đảng ta là: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân”.

Theo Cương lĩnh 2011 thì “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”. Vì vậy, cần bổ sung những nội dung mới của Cương lĩnh 2011 vào Điều 44 để xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội là sự nghiệp của toàn dân”.

Chính vì vậy trong Hiến pháp sửa đổi, bổ sung cần xác định trách nhiệm của công dân, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp trong việc tham gia BVTQ, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân cũng như thể chế hóa việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân.

Thứ tư, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung cần khẳng định nội dung: Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm gắn kết chặt chẽ hiệu quả giữa tăng cường quản lý của Nhà nước, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.

Quan điểm này cần được quán triệt trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với nhiệm vụ BVTQ theo hướng bổ sung vào các chương, điều những nội dung như: tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh; xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách, phương án, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược an ninh quốc gia; xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng tập trung thống nhất và xây dựng tiềm lực quốc phòng BVTQ.

Thứ năm, về phát huy sức mạnh của nhân dân tham gia sự nghiệp BVTQ, Điều 48 Hiến pháp 1992 có ghi rõ: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân; giáo dục quốc phòng cho toàn dân;…”. Thực tế trong thời gian qua, chúng ta cơ bản đã phát huy được vai trò của nhân dân trong sự nghiệp BVTQ, song không phải lúc nào cũng huy động được 100% sức mạnh này.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, vấn đề cơ bản nhất là chưa có cơ chế hợp lý để huy động được sức mạnh tổng hợp từ nhân dân tham gia sự nghiệp BVTQ. Do vậy, Điều 48 Hiến pháp 1992 cần được bổ sung cơ chế hợp lý, nhằm huy động được sức mạnh cao nhất từ nhân dân phục vụ cho sự nghiệp BVTQ.

Bổ sung, sửa đổi Hiến pháp 1992 là việc làm đặc biệt hệ trọng và cần thiết, đòi hỏi các tổ chức chính trị – xã hội, mọi tầng lớp nhân dân trên phạm vi cả nước cần phát huy trí tuệ, sáng tạo, góp phần thiết thực xây dựng “đạo luật gốc” tương xứng với tầm vóc phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế

T.N.C.

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Hạ nghị sỹ Mỹ phản đối dự luật nhân quyền Việt Nam

(VOV) – Hạ nghị sĩ Mỹ nêu rõ dự luật nhân quyền Việt Nam 2013 không phản ánh trung thực, chính xác về tình hình Việt Nam.

Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ ngày 28/6 đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2013 (H.R. 1897), kêu gọi chính phủ Mỹ gắn các điều kiện về nhân quyền và dân chủ với viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam. Dự luật cũng đề nghị Mỹ phải có thái độ ứng rắn hơn đối với Việt Nam trong các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo.

Hạ nghị sĩ Eni Faleomavaega

Ngay sau khi dự luật H.R.1897 được Ủy ban Đối ngoại Hạ viện thông qua, Eni Faleomavaega, thành viên Tiểu ban đối ngoại Hạ viện Mỹ phụ trách châu Á-Thái Bình Dương đã ra thông cáo báo chí phản đối quyết định trên

Thông cáo báo chí của Hạ nghị sỹ Faleomavaega nêu rõ, Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2013 không phản ánh trung thực hoặc chính xác về tình hình Việt Nam và bị ảnh hưởng bởi một số người Mỹ gốc Việt thiếu thiện chí với Chính phủ Việt Nam.

Hạ nghị sỹ Faleomavaega nói, là một cựu binh tham chiến tại Việt Nam, ông hiểu cảm xúc của những người Mỹ gốc Việt này,  nhưng mưu toan lật đổ chính quyền và đưa ra thông tin sai lệch không phải là hướng đi đúng đắn. Theo ông Faleomavaega, đã đến lúc cần gác bỏ quá khứ và bắt đầu quá trình hàn gắn.

Thông cáo khẳng định, các nhà lãnh đạo Việt Nam luôn cam kết đẩy mạnh quan hệ Mỹ-Việt và thúc đẩy nhân quyền. Việt Nam đã tham gia hầu hết các hiệp định quốc tế cốt lõi về nhân quyền cũng như đối thoại nhân quyền với Liên minh châu Âu, Australia, Na Uy, Thuỵ Sỹ và Mỹ. Việt Nam đang nỗ lực cải thiện tình hình nhân quyền thông qua việc củng cố hệ thống pháp luật và các quyền kinh tế-xã hội, văn hoá, đồng thời hoan nghênh hỗ trợ quốc tế trong việc thực hiện các chính sách nhân quyền.

Thông cáo có đoạn viết: “Tôi hiểu rõ vấn đề này vì cá nhân tôi đã gặp các lãnh đạo cấp cao Việt Nam như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Bộ trưởng Ngoại giao và Phó trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ. Tôi cũng làm việc chặt chẽ với Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, Nguyễn Quốc Cường và tự hào về mối quan hệ Mỹ-Việt. Tôi tin rằng quan hệ song phương sẽ ngày một vững mạnh. Việc thông qua một dự luật không ảnh hưởng tới quan hệ hữu nghị giữa hai nước”.

Hạ nghị sỹ Faleomavaega cho biết, Nghị sỹ Barbara Lee đã giới thiệu một dự luật (H.R. 2519) về trợ giúp nạn nhân phơi nhiễm chất độc da cam. Ông nhấn mạnh, Mỹ phải chịu trách nhiệm khắc phục hậu quả của hàng chục triệu lít chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, khiến những thường dân vô tội, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em phơi nhiễm với dioxin, một trong những hoá chất độc hại nhất mà con người tạo ra. Thông cáo của Hạ nghị sỹ Faleomavaega nêu rõ, bất kỳ nghị sỹ nào thực sự tâm huyết với nhân quyền cũng sẽ đồng ý rằng, đây là vấn đề nhân quyền cần phải giải quyết.

Hạ viện Mỹ sẽ tiến hành bỏ phiếu đối với Dự luật nhân quyền Việt Nam 2013 tại phiên họp toàn thể vào tháng 10 tới. Nếu được thông qua, dự luật do Hạ nghị sỹ Ed Royce và Hạ nghị sỹ Chris Smith khởi xướng sẽ được chuyển lên Thượng viện để xem xét. Tuy nhiên, những dự luật tương tự luôn bị Thượng viện Mỹ bác bỏ./.

Nhật Quỳnh/VOV-Washington

Theo vov.vn
Vkyno (st)

Việt Nam tham gia UPR lần II về thực thi nhân quyền

(VOV) – Dự kiến, phiên UPR lần thứ II mà Việt Nam tham gia sẽ diễn ra vào tháng 1/2014 tại Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Ngày 26/4 tại Hà Nội, Nhóm công tác về quản trị và cải cách hành chính công (GPAR), Mạng giới và phát triển cộng đồng (Gencomnet) và Mạng An ninh lương thực và giảm nghèo (Cifpentại Việt Nam tổ chức Hội thảo tham vấn báo cáo của các bên liên quan về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam hướng đến Kiểm điểm định kỳ toàn cầu của Liên Hợp Quốc (LHQ).

Với việc Việt Nam đang ứng cử cho vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ, Chính phủ Việt Nam và các bên liên quan đang tích cực chuẩn bị cho phiên Kiểm điểm định kỳ toàn cầu (UPR) lần thứ II đối với tình hình thực thi nhân quyền tại Việt Nam.

Ông Trần Chí Thành, Trưởng phòng nhân quyền, Vụ Các tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao cho biết: Nhà nước Việt Nam đã tham gia UPR lần thứ nhất vào tháng 5/2009. Trong lần Kiểm điểm này, báo cáo của Chính phủ Việt Nam đã được chuẩn bị với sự tham gia của một số Bộ, trong đó Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối soạn thảo. Về báo cáo của các bên liên quan, 12 tổ chức quốc tế đã trình báo cáo lên Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ (OHCHR) trước phiên kiểm điểm, trong đó không có báo cáo từ các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam.

Dự kiến, phiên UPR lần thứ II mà Việt Nam tham gia sẽ diễn ra vào tháng 1/2014 tại Hội đồng Nhân quyền LHQ. Để chuẩn bị cho phiên này, báo cáo của các bên liên quan phải nộp chậm nhất vào ngày 17/6/2013, và báo cáo của Chính phủ sẽ nộp chậm nhất vào ngày 28/10/2013

Tại phiên UPR lần thứ II tới, lần đầu tiên, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam tổ chức và tham gia xây dựng một báo cáo chính thức, độc lập và song song với báo cáo của Nhà nước để đệ trình lên Văn phòng Cao ủy Nhân quyền LHQ.

Đại biểu tham dự Hội thảo

Báo cáo của xã hội dân sự có sự tham gia đóng góp trực tiếp của hơn 30 tổ chức xã hội dân sự Việt Nam và các chuyên gia độc lập, được sự ủng hộ của nhiều tổ chức xã hội dân sự khác qua các cuộc tham vấn nhóm và tham vấn trực tiếp.

Các tổ chức xã hội dân sự tham gia tiến trình chuẩn bị báo cáo ghi nhận những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc thực thi nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiện nhân quyền. Báo cáo này đồng thời chỉ ra những thách thức, đặc biệt là những thách thức về năng lực của bộ máy Nhà nước trong việc thực thi các nghĩa vụ nhân quyền.

Trên cơ sở đó, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam khuyến nghị Nhà nước Việt Nam tiếp tục có những nỗ lực toàn diện để thực thi tốt hơn nữa nghĩa vụ đảm bảo quyền con người, đặc biệt chú trọng đến các quyền dân sự và chính trị. Bên cạnh đó là nhanh chóng xúc tiến việc thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia độc lập, và việc sửa đổi Hiến pháp chính là một cơ hội để cơ quan này ra đời, thúc đẩy quá trình thực thi quyền con người.

Báo cáo của các tổ chức xã hội dân sự không nhằm thay thế báo cáo của Chính phủ hay lặp lại các thông tin có thể sẽ được đề cập chi tiết trong báo cáo của Chính phủ. Thay vào đó, báo cáo phản ánh một số vấn đề cơ bản về nhân quyền mà cả Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đang đối diện và nỗ lực vượt qua, cũng như đề đạt những khuyến nghị từ phía các tổ chức xã hội dân sự để các bên cùng cân nhắc thực hiện, hướng đến mục đích cuối cùng là vì con người tự do, bình đẳng và phát triển.

Kiểm điểm Định kỳ Toàn cầu (UPR) là một cơ chế được thiết lập cùng với Hội đồng Nhân quyền theo Nghi quyết 60/251 của Đại hội đồng LHQ ngày 15/3/2006.

Mục tiêu cuối cùng của UPR là cải thiện tình hình nhân quyền ở mọi quốc gia với tác động đáng kể lên người dân trên toàn cầu. UPR được thiết kế để đẩy nhanh, hỗ trợ và mở rộng việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong thực tế.

Để đạt được điều đó, UPR bao gồm việc đánh giá các thực hành về nhân quyền của Nhà nước và nêu lên những vi phạm nhân quyền nếu có. UPR cũng nhằm cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho các Nhà nước và tăng cường năng lực cho các Nhà nước để giải quyết hiệu quả hơn những thách thức về nhân quyền và chia sẻ các thực hành tốt trong lĩnh vực nhân quyền giữa các nhà nước với nhau và với các bên liên quan khác.

Theo vov.vn
Vkyno (st)

Đề nghị bổ sung chính sách hậu phương cho lực lượng vũ trang

Quốc hội tiếp tục thảo luận Dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi:

Khẳng định vị trí, vai trò của Đảng trong quá trình lịch sử, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền công dân; vị trí, vai trò lực lượng vũ trang… Đó là những nội dung cơ bản tại buổi thảo luận ngày 4/6 dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi.

Khẳng định sức mạnh đại đoàn kết

“Dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần này có nhiều đổi mới, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân được đáp ứng. Hiến định hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước, thể hiện là đạo luật cơ bản của đất nước trong thời kỳ xây dựng đất nước…” – đại biểu Châu Thị Thu Nga (Hà Nội) đánh giá.

Nhiều đại biểu cho rằng, tiến bộ ở dự thảo Hiến pháp là không chỉ lắng nghe, tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân, các nhà khoa học mà đây còn là đợt sinh hoạt chính trị của nhân dân. Tài liệu đã được gửi tới từng hộ gia đình để góp ý, lắng nghe nhân dân, sự phản biện của nhân dân trong từng vấn đề… “Nhân dân đồng tình với Dự thảo Hiến pháp, đã khẳng định duy nhất sự lãnh đạo của Đảng. Bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì nhân dân. Tôi cho rằng đó là kết quả cao nhất”, đại biểu Nguyễn Văn Sơn (Hà Tĩnh) nói.

Sự đồng thuận của nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh, đó là truyền thống quý báu ngàn đời của dân tộc Việt Nam.Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm cho rằng, nước ta là nước dân chủ, quyền lực thuộc về nhân dân. MTTQ có vai trò quan trọng, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh và phồn vinh. Tín ngưỡng tôn giáo đã được pháp luật bảo vệ (điều 25).

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được khẳng định nhưng khối liên minh công-nông-trí còn thiếu bóng dáng của đội ngũ doanh nhân. Cần phải bổ sung vai trò của lực lượng doanh nhân trong xây dựng đất nước. Đa số các đại biểu đề nghị giữ nguyên điều 10, công đoàn là tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động.

Quyền con người được bảo vệ

Về quyền công dân, quyền con người, đa số các đại biểu cho rằng, qua mỗi bản Hiến pháp quyền con người được mở rộng, tiếp tục khẳng định. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2, điều 15). Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… “Con người là trung tâm của sự phát triển, quan tâm tới con người là quan tâm sự phát triển của đất nước”, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Hòa (Bắc Ninh) nói về sự cần thiết của quyền con người trong sự phát triển của xã hội.

Bà Hòa đề nghị cần bổ sung, quy định xây dựng con người Việt Nam sống có tình nghĩa, truyền thống đoàn kết và chống lại sự vô cảm đang tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay. Về người cao tuổi, một số ý kiến đề nghị bổ sung đối tượng người lao động cao tuổi bởi ở nước ta có 8,6 triệu người cao tuổi, trong đó, 80% người cao tuổi vẫn đang tham gia vào các lĩnh vực. Cần bổ sung chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, phát huy vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng phong phú của lớp người này. “Nên bổ sung người cao tuổi có quyền được gia đình, nhà nước, xã hội bảo vệ và phát huy vai trò trong xã hội”, đại biểu Cù Thị Hậu (Hưng Yên) đề nghị.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với các đại biểu Quốc hội trong giờ giải lao. Ảnh: TTXVN.

Bổ sung chính sách hậu phương

Các ý kiến tán thành quy định lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế (điều 70). Trong những cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang đã thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ.

“Khi đất nước hòa bình, đấu tranh giữ gìn trật tự an toàn xã hội không kém phần cam go. Trong cuộc chiến với tội phạm, nhiều cán bộ, chiến sĩ Công an đã hy sinh xương máu”, đại biểu Bùi Văn Phương (Ninh Bình) đánh giá. Và ông Phương đề nghị, cần nghiên cứu chính sách hậu phương, đặc biệt trong đấu tranh với tội phạm côn đồ, băng nhóm. “Sự hy sinh của các chiến sĩ Công an là lặng lẽ, trong mỗi ngày vui, lễ tết mọi gia đình đoàn tụ yên vui đầm ấm thì các chiến sĩ Công an lặng lẽ “thức cho dân ngủ, gác cho dân vui chơi”, ông Phương giải thích. Nhiều đại biểu đồng cảm với những vất vả hiểm nguy của lực lượng Công an khi đất nước đã bình yên mà máu các chiến sĩ vẫn đổ. Có đại biểu đề nghị, cần phát triển công nghệ an ninh quốc gia. “Mọi công dân có quyền và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Phải được khẳng định cụ thể hơn”, đại biểu Nguyễn Viết Nhiên (Hải Phòng) đề nghị. Không thể “từng bước” tinh nhuệ, chính quy hiện đại, mà phải khẳng định cần tinh nhuệ ngay, đại biểu Ngô Văn Minh (Quảng Nam) đề nghị.

Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (TP Hồ Chí Minh): Kinh tế Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô

Kinh tế Nhà nước không thể ngang hàng với các thành phần kinh tế khác. Cần hiến định nền kinh tế nhà nước, tránh vì lợi ích khác mà làm ảnh hưởng nền kinh tế. Các doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò then chốt đặc thù, doanh nghiệp Nhà nước chỉ là cấu thành trong kinh tế Nhà nước. Kinh tế Nhà nước đủ sức ổn định kinh tế vĩ mô.

Đại biểu Lê Thị Nga (Thái Nguyên): Lúc tách lúc nhập không khoa học

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương cần phải đổi mới. Các cơ quan hành chính đang bình quân, chưa có mô hình bứt phá, ta lãng quên “mô hình kinh tế đặc thù”. Các đơn vị đang có nhiều chính sách kém phát triển, đề nghị “cởi trói”. Vừa qua đã có cơ chế chính sách ưu đãi như Côn Đảo nhưng nhiều địa phương có tình trạng xé rào. Về pháp lý không nên để tiếp tục tình trạng này, không minh bạch, không công bằng mà ảnh hưởng đến quốc gia. Cần ghi trong Hiến pháp giữa chính quyền đô thị và nông thôn. Về tiêu chí xác định đơn vị hành chính chưa thực sự khoa học, xảy ra tình trạng khi thì ồ ạt nhập, lúc lại tách ra như cũ…

Đại biểu Bùi Văn Xuyền (Thái Bình): Phải “trưng mua” đất

Tôi đồng tình với việc thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh. Thu của người sản xuất lại giao cho người kinh doanh khác, thực chất là chủ thể này sang chủ thể khác. Đất đai là nguồn sống của người nông dân, phải “trưng mua”, phải có bồi thường công khai minh bạch khi đất bị thu hồi.

Kim Quý – Vũ Hân

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Công an thành phố Hà Nội báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, ngày 09/6/2013, tại Quảng trường Ba Đình, đoàn đại biểu Công an thành phố Hà Nội gồm 1.300 đồng chí trong Đảng ủy, Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ, lãnh đạo Công an các quận, huyện, thị xã và cán bộ, chiến sỹ tiêu biểu của các đơn vị về dự Lễ báo công dâng Bác.

cong-an-ha-noi
Không khí báo công trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được Đảng, Bác Hồ kính yêu quan tâm bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện, lực lượng Công an thành phố Hà Nội đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, tuyệt đối trung thành với Tổ Quốc, với Đảng và nhân dân, xây dựng lực lượng ngày càng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Thực hiện Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác, Công an thành phố Hà Nội đã phát động nhiều phong trào, nhiều đợt thi đua, với mục tiêu “Mỗi ngày, mỗi cán bộ, chiến sỹ Công an Thủ đô làm việc tốt vì bình yên cuộc sống, vì hạnh phúc nhân dân”. Cán bộ, chiến sỹ Công an Thủ đô đã nêu cao tinh thần vì nước quên thân, vì dân phục vụ, mưu trí dũng cảm tấn công truy bắt tội phạm, không sợ hy sinh gian khổ để bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Ghi nhận những đóng góp của Công an thành phố Hà Nội, Đảng, Nhà nước đã phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 23 đơn vị, 12 cá nhân  và hàng nghìn lượt tập thể, cá nhân được tặng thưởng Huân chương và nhiều phần thưởng cao quý khác. Công an Hà Nội nhiều năm liền được Chính phủ tặng cờ “Đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua vì ANTQ” và được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Những thành tích đó đã tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam và Công an Thủ đô anh hùng.

Trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sỹ Công an thành phố Hà Nội xin hứa: Tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, xây dựng lực lượng Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại; chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh trấn áp các tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và Thủ đô Hà Nội./.

Năng Tiến

Theo bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Vạch trần thủ đoạn của thế lực thù địch phá hoại Hiến pháp (Bài 3)

Sự thật về những người ở Thái Bình có tên trong bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp trên mạng Internet

Thời gian qua, trên một số trang mạng xuất hiện cái gọi là“Dự thảo Hiến pháp 2013” và một số ý kiến ký tên tập thể, góp ý bản sửa đổi Hiến pháp 1992 đòi bỏ điều 4 Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng; đề nghị tam quyền phân lập; áp dụng quyền sở hữu tư nhân về đất đai… Trong bản danh sách này có nhiều người ở tỉnh Thái Bình. Vậy, thực chất người ký tên ủng hộ bản kiến nghị được nêu là thật hay là giả?

Theo đăng tải trên các trang mạng xã hội, đã có rất nhiều nông dân, học sinh, sinh viên ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình… ký tên vào bản kiến nghị này.

Tuy nhiên, tên của những người này chỉ được giới thiệu một cách chung chung, không hề có địa chỉ cụ thể. Lãnh đạo tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành kiểm tra, xác minh tại những địa phương được cho là có nhiều người ký tên vào “bản kiến nghị ma” này.

Qua tìm hiểu trong số hơn 100 người có tên trong bản danh sách thì có tới 3/4 tên không có địa chỉ. Những người nông dân ở Thái Bình khi được hỏi đều không hề hay biết rằng việc họ đã ký tên vào một bản kiến nghị Hiến pháp mà họ không biết đó là gì? Họ đều cho rằng họ không có điều kiện truy cập Internet và nếu có thì việc nắm Hiến pháp còn rất hạn chế.

Bà con nông dân ở Thái Bình phần đông không thạo việc truy cập mạng. Nếu biết thì cũng chẳng có thời gian cho việc này vì còn bận rộn việc sản xuất, làm ăn, chưa nói đến việc có thời gian tìm hiểu rồi ký tên ủng hộ hay phản đối điều này điều khác. Những người nông dân “một nắng hai sương” của mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Thái Bình đã và đang tham gia góp ý đầy trách nhiệm vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, đều đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tính ưu việt của chế độ ta.

Với nhiều người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn ở Thái Bình, không hiểu biết nhiều về mạng Internet, thế nhưng lại ký tên trên mạng để ủng hộ cho một bản kiến nghị mà theo họ là đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, của đất nước thì quả là điều hết sức phi lý!

Đây thực sự chỉ là những con số ảo không có thực, là một sự giả mạo, ngụy tạo, được tạo nên theo cách có chủ đích với dã tâm xấu nhằm thực hiện những mưu đồ đen tối của một số người.

Trong bản danh sách ký vào bản kiến nghị có tên “Linh mục Phạm Nguyên Hồng”, Giáo xứ chính tòa, thành phố Thái Bình. Về việc này, Linh mục Nguyễn Phúc Hạnh, Chánh xứ nhà thờ chính tòa Thái Bình, linh mục Nguyễn Văn Thoan, Chủ tịch Hội đồng giáo xứ nhà thờ chính tòa Thái Bình đều khẳng định, từ trước tới nay ở Thái Bình không có ai là linh mục Phạm Nguyên Hồng, rằng các chức sắc Công giáo địa phận Thái Bình đều rất bức xúc trước những thông tin bịa đặt trên.

Đại đức Thích Thanh Hòa, Ủy viên Ban Trị sự Phật giáo Trung ương, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thái Bình cho biết: “Trong thời gian qua, trên một số trang mạng, nhiều kẻ đã lợi dụng, mạo danh các chức sắc tôn giáo, có những tiếng nói đi ngược lại với lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chúng tôi hoàn toàn phản đối và đề nghị các cơ quan chức năng làm sáng tỏ sự việc và vạch trần bộ mặt những kẻ lợi dụng sự kiện chính trị góp ý vào bản Hiến pháp sửa đổi năm 1992 để làm xấu đi hình ảnh của đất nước, làm giảm vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt Nam… Đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Thái Bình điều tra, xác minh làm rõ và xử lý nghiêm minh những đối tượng này”.

Về việc có gần 30 tên trong danh sách là giảng viên, sinh viên, học sinh Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh (chi nhánh Thái Bình), thầy giáo Vũ Thanh Hải, Trưởng khoa Công nghệ Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh cơ sở phía Bắc, xã Tân Bình, TP Thái Bình nói: “Nhà trường chúng tôi đã rà soát tất cả danh sách cán bộ, đảng viên và sinh viên. Chúng tôi khẳng định tập thể cán bộ giáo viên, sinh viên của nhà trường không có bất kỳ ai có tên và có ý kiến trái chiều đi ngược lại với chủ trương đúng đắn của Đảng, pháp luật của Nhà nước, với lợi ích của đất nước, dân tộc”.

Theo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Bình, hiện các tổ chức thành viên từ tỉnh đến cơ sở đã cơ bản hoàn thành việc tổ chức lấy ý kiến các đoàn viên, hội viên góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992.

Tính đến ngày 10/3/2013, tỉnh đã tổ chức trên 3.000 hội nghị lấy ý kiến, với trên 120.000 cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia, đóng góp trên 23.000 lượt ý kiến. Trong đó không có một ý kiến nào từ các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi 1992 cũng như đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi phi chính trị hóa Quân đội, Công an…

Không những thế còn có hàng nghìn ý kiến đề nghị nêu rõ trong Hiến pháp: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất Nhà nước và toàn xã hội Việt Nam”…

Như vậy, việc giả mạo, ngụy tạo tên người dân kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện đang phát tán trên một số trang mạng nhằm tạo sức ép với Đảng và Nhà nước, bộc lộ thủ đoạn làm méo mó, biến dạng việc dân chủ lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, là động cơ chính trị đen tối. Sự lừa dối thâm độc đó cần phải được vạch trần, lên án và xử lý nghiêm minh.

Đại đức Thích Thanh Hòa – Ủy viên Ban Trị sự Phật giáo Trung ương, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thái Bình:

“Trong thời gian qua, trên một số trang mạng, nhiều kẻ đã lợi dụng, mạo danh các chức sắc tôn giáo, có những tiếng nói đi ngược lại với lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chúng tôi hoàn toàn phản đối và đề nghị các cơ quan chức năng làm sáng tỏ sự việc và vạch trần bộ mặt những kẻ lợi dụng sự kiện chính trị này làm xấu đi hình ảnh của đất nước, làm giảm vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt Nam… Đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Thái Bình điều tra, xác minh làm rõ và xử lý nghiêm minh những đối tượng này”.

Linh mục Nguyễn Phúc Hạnh – Chánh xứ nhà thờ chính tòa Thái Bình:

“Chúng tôi rất bức xúc với thông tin có một số chức sắc công giáo ở Thái Bình ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đó là sự bịa đặt, gian dối trắng trợn. Các chức sắc và bà con có đạo ở Thái Bình luôn tâm niệm phấn đấu sống tốt đời đẹp đạo, kính Chúa yêu nước, chấp hành tốt các chính sách của Nhà nước, của địa phương… Chúng tôi đề nghị chính quyền và các cơ quan hữu trách phải làm sáng tỏ sự thật, lôi những kẻ có mưu đồ đen tối ra trước pháp luật và trừng trị thích đáng…”.

Thầy giáo Vũ Thanh Hải – Trưởng khoa Công nghệ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh khu vực phía Bắc, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình:

“Đảng ủy và Ban Giám hiệu nhà trường luôn làm tốt công tác nắm tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, giáo viên, sinh viên. Những năm qua nhà trường chúng tôi đã có nhiều đóng góp tích cực, hiệu quả đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung và sự nghiệp giáo dục nói riêng.

Không có chuyện giảng viên, sinh viên của trường ký tên vào bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992 như một số trang mạng đăng tải. Chúng tôi kịch liệt phản đối và lên án hành động lừa bịp đó…”.

Hồ Tuyên

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)

Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử – Tập 1 (Năm 1928)

Tháng 1, sau ngày 5

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư trả lời của Đômban, Phó Tổng thư ký Quốc tế Nông dân.

Trong thư, Đômban cho biết không thể cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc một kế hoạch cụ thể về công tác vận động nông dân vì không biết rõ lắm tình hình nông dân và vấn đề ruộng đất ở Đông Dương.

Đômban lưu ý Nguyễn Ái Quốc, trong thời gian đầu phải chú ý đặc biệt vào công tác vận động nông dân ở các tỉnh giáp với Quảng Đông, việc tổ chức những hội nông dân bằng nhiều hình thức như viết sách, in truyền đơn, thành lập những nhóm tuyên truyền.

Đômban đề nghị Nguyễn Ái Quốc gửi cho tất cả những tư liệu thu thập được về vấn đề ruộng đất ở Đông Dương từ các nguồn sách vở, từ những quan sát cá nhân hoặc từ những cuộc điều tra nông thôn. Các tài liệu gửi cho Đômban theo địa chỉ:

“Noi Đoócphơ, Béclin W.10, Lútsô Uphe N.1.

(Neues Dorf, Berlin W10, Lutzowufer N.1)

            –  Bút tích bức thư của Đômban gửi Nguyễn Ái Quốc. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 2, ngày 3

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí lãnh đạo Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva thông báo Người không tìm được cơ sở liên lạc ở phố Lútsô Uphe và yêu cầu cho địa chỉ liên lạc mới. Thư cũng cho biết: Trong khi chờ đợi ngày có thể lên đường khoảng một tháng hoặc một tháng rưỡi nữa, Người sẽ tranh thủ thời gian viết cuốn Những ký ức của một nhà tuyên truyền, nói về phong trào nông dân Trung Quốc, chủ yếu là ở Hải Lục Phong – nơi có các xôviết nông dân. Cuốn sách dự tính dày 120 trang đánh máy và chia thành năm mươi chương.

Cuối thư, Nguyễn Ái Quốc ghi địa chỉ mới của mình: Ô.Lu, Tạp chí Thư tín Quốc tế, Ban biên tập tiếng Pháp, số nhà 225, phố Phrêđrích Strát, Béclin.

            –  Bút tích bức thư ngày 3-2-1928. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.319 – 320.

Tháng 3, ngày 4

Nguyễn Ái Quốc gặp ba người Việt Nam từ Pháp sang Béclin (Đức) tại trụ sở Liên minh phản đế là Trần Đình Long, Nguyễn Thế Thạch và Bùi Ái trên đường từ Pháp đi Liên Xô, lúc qua Béclin đã được giao thông bí mật của Quốc tế Cộng sản bố trí cuộc gặp này.

            –  Trần Đình Long: Ba mươi năm ở nước Nga Xôviết. Hà Thành thời báo, số 21, ngày 4-9-1937.

            –  Dẫn theo Nguyễn Thành, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1986, tr.16.

Tháng 3, ngày 17

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, bút danh Wang, nhan đề Thư từ Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 28, bản tiếng Đức số 28.

Thư từ Ấn Độ, viết về phong trào đấu tranh rộng lớn của các tầng lớp nhân dân Ấn Độ chống lại âm mưu của đế quốc Anh thông qua hoạt động của Ủy ban Ximông (Simon)35 phá hoại sự thống nhất đất nước và chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Ấn Độ.

Nhận xét về tính chất, quy mô và kết quả của phong trào này, tác giả viết: “Chưa bao giờ – ngay cả trong thời kỳ mà phong trào bất hợp tác theo chủ trương của Găngđi lên tới tột đỉnh – tinh thần của đất nước lại sôi động đến mức đó”. “Phong trào sôi động đó đã buộc Ximông và những đồng sự của y trong Công Đảng phải lùi bước”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.321-323.

Tháng 4, ngày 12

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản trình bày về hoàn cảnh hiện tại của mình. Bức thư có đoạn viết:

“Không thể công tác ở Pháp, ở Đức vô ích, nhưng cần thiết ở Đông Dương, nên tôi đã xin lại lên đường về xứ sở này. Trong những thư gửi cho các đồng chí, tôi đã lập một ngân sách công tác và một ngân sách đi đường.

Khi đồng chí Đôriô qua Béclin, đồng chí đã hứa sẽ quan tâm đến vấn đề của tôi. Tôi đã nói với đồng chí ấy là nếu không được kinh phí công tác, miễn là đồng chí cho tôi tiền đi đường, thì dù thế nào tôi cũng sẽ đi, bởi vì đã một năm tôi lang thang từ nước này sang nước khác trong khi có nhiều việc phải làm ở Đông Dương.

Nhưng cho tới nay tôi chưa nhận được chỉ thị của các đồng chí, cả câu trả lời của đồng chí Đôriô.

Hiện nay, tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

1) Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng).

2) Không có gì để sống vì rằng MOPR36 không thể giúp tôi một cách vô hạn, ngay cả cho 18 đồng mác mỗi tuần (số tiền đối với tôi không đủ sống nhưng quá nặng cho tổ chức).

Vậy tôi xin các đồng chí cho tôi càng sớm càng tốt những chỉ thị chính xác về điều mà tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường.

Cùng ngày, Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư cho một cán bộ của Quốc tế Cộng sản 1).

Toàn văn bức thư như sau:

“Đồng chí thân mến,

Tôi gửi cho đồng chí một bản sao bức thư gửi cho Ban Phương Đông để đồng chí được biết. Đồng thời tôi rất cám ơn về việc đồng chí quan tâm đến vấn đề của tôi và nhanh chóng trả lời tôi. Đồng chí có thể hình dung nổi tôi đang sống trong một tình trạng tinh thần và vật chất như thế nào không: biết là có nhiều công việc nhưng không thể làm gì được, ăn không ngồi rồi, không có tiền, sống ngày nào hay ngày ấy mà không được phép hoạt động, v.v..

Ngay cả khi những sự vận động của đồng chí không có kết quả, đồng chí cũng viết cho tôi một chữ Uỷ ban Trung ương KPD 2) để tôi liệu quyết định. Hôm nay là ngày 12-4, tôi hy vọng nhận được tin tức của đồng chí vào ngày 24 tới. Tôi tin cậy ở đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

Nguyễn Ái Quốc”.

            –  Bút tích hai bức thư. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.324-326.

Tháng 4, ngày 14

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Phong trào công nhân ở Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 37 và bản tiếng Đức số 35.

Về tình hình phát triển của giai cấp công nhân Ấn Độ, bài báo cho biết: đầu những năm 20, tuy có sự gia tăng về số lượng, song phần lớn giai cấp công nhân Ấn Độ chưa được tổ chức và số đông nghiệp đoàn chịu ảnh hưởng cải lương của Đảng Lao động Anh. Từ nửa sau những năm 20, dấu hiệu chứng tỏ bước phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân Ấn Độ rất rõ nét, đình công liên tiếp nổ ra không riêng ở một ngành mà ở nhiều ngành, yêu sách kinh tế đã kết hợp chặt chẽ với yêu cầu chính trị… Nguyên nhân của sự chuyển biến đó, như bài báo đã chỉ rõ: “Mặc dù có tình trạng vô tổ chức của thợ thuyền và thái độ hèn nhát của những người theo chủ nghĩa cải lương, sự nghèo khổ làm cho vô sản Ấn Độ cấp tiến hơn”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.327-329.

Tháng 4, ngày 18

 Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Nông dân Ấn Độ, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 38, bản tiếng Anh số 23, bản tiếng Đức số 42.

Tác giả viết về tình cảnh khốn cùng của nông dân Ấn Độ dưới ách áp bức bóc lột của bọn địa chủ Anh, địa chủ bản xứ, bọn cho vay nặng lãi, bọn bao thầu thuế… là những đồng minh trung thành và chỗ dựa vững chắc cho chủ nghĩa đế quốc Anh.

Hàng triệu nông dân Ấn Độ đã bị chết đói, làng xóm xác xơ. Từng đoàn người kéo nhau đi lang thang, hoặc lũ lượt dồn về các thành phố, hình thành lớp “vô sản áo rách”, sống vất vưởng bằng nghề hành khất. Mặc dù vậy, tác giả vẫn tin tưởng:

“Tuy không có tổ chức hoặc tổ chức còn lỏng lẻo – người nông dân nghèo khổ thúc bách – thường nổi dậy chống kẻ bóc lột”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.330-332.

Tháng 4, ngày 25

Nguyễn Ái Quốc được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản ra quyết định đồng ý để Người trở về Đông Dương theo nguyện vọng.

Bản quyết định ghi: “Theo nguyện vọng của đồng chí (Nguyễn Ái Quốc – B.T), đồng chí có thể trở về Đông Dương; chi phí chuyến đi cũng như thời gian ba tháng lưu lại do Đảng Cộng sản Pháp chịu”.

            –  Biên bản số 93 cuộc họp của Ban Thư ký Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, ngày 25-4-1928. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 4, ngày 28

Nguyễn Ái Quốc nhận được thư của Badin (Basil) báo tin đã nhận được thư viết ngày 17-4-1928 của Nguyễn Ái Quốc và thông báo rằng Ban Phương Đông đã quyết định gửi cho Nguyễn Ái Quốc tiền đi đường và một phần trợ cấp cho ba tháng đầu.

            –  Bút tích bức thư của Badin gửi Nguyễn Ái Quốc. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

Tháng 5, ngày 21

Từ Béclin, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi các đồng chí trong Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, cho biết Người đã nhận được các thứ cần thiết để lên đường và dự định sẽ đi vào khoảng tuần thứ ba tháng này.

Trong thư, Người nêu một số nhận xét về hoạt động của Ban Thuộc địa Đảng Cộng sản Pháp và những đề nghị cụ thể về tài chính, về lề lối làm việc của ban.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.341-342.

Tháng 5

Hai bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ  Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp số 43 và số 47.

Bài Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ cho biết, cũng như tại các thuộc địa khác, ở Ấn Độ, chủ nghĩa đế quốc Anh đã tìm cách chia rẽ hàng ngũ vô sản bằng cách thường xuyên khoét sâu những thành kiến dân tộc. Chính sách đặc quyền đặc lợi dành cho những công nhân viên chức người Anh và người lai Anh – Ấn đã tạo ra ở đây một lớp công nhân quý tộc làm chỗ dựa chống lại công nhân bản xứ, phá hoại giai cấp vô sản Ấn Độ.

Song, trong điều kiện đó, công nhân Ấn Độ vẫn kiên trì đấu tranh chống lại mọi âm mưu của bọn đế quốc và những thành kiến chủng tộc. Các cuộc đấu tranh của công nhân đã thống nhất trong những yêu sách chung: đòi tăng lương, đòi ngày làm tám giờ, đòi cải thiện đời sống và điều kiện làm việc, đòi được bảo hiểm xã hội, đòi tự do hoạt động nghiệp đoàn, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải…

Giải thích tình hình đó, tác giả cho rằng: “Những  cuộc đấu tranh này của công nhân chỉ là rất thường tình nếu ta xét đến hoàn cảnh vô cùng khổ cực của vô sản Ấn Độ”.

Cùng với phong trào công nhân đang trên đà phát triển, cuộc đấu tranh của nông dân Ấn Độ cũng diễn ra sôi động dưới nhiều hình thức. Đó là hậu quả tất yếu của tình trạng khốn cùng của họ do chính sách thống trị của đế quốc Anh. Các cuộc đấu tranh của nông dân tuy còn rời rạc, nhưng tác giả bài viết đã nhận thấy ý nghĩa to lớn: nông dân từ chỗ dễ bảo và thụ động, giờ đây đã thức tỉnh và biết cách tự vệ và cho rằng đây là “một dấu hiệu của thời đại!”.

Bằng những số liệu cụ thể, bài Chủ nghĩa đế quốc, kẻ tiêu diệt nòi giống bản xứ  cho biết: Từ sau chiến tranh, để khôi phục lại những đổ nát, chủ nghĩa đế quốc đã tăng cường khai thác bóc lột thuộc địa, thu về những món lợi kếch xù, nhờ đó tạo nên bộ phận phồn vinh về kinh tế, kỹ nghệ và thương mại cho các nước đó.

Một trong những thủ đoạn tàn ác gia tăng sự bóc lột đối với dân bản xứ được thi hành ở tất cả các thuộc địa của Pháp, Bỉ, Anh và những nước khác là chế độ lao động khổ sai. Lao động khổ sai và những hậu quả của nó làm cho số dân bản xứ ở các thuộc địa chết tới mức khủng khiếp và đang trên đà bị diệt vong. Điều này được khẳng định qua những lời thú nhận của báo chí và chính khách tư sản mà bài viết đã trích dẫn.

Tác giả kết luận: “Ta có thể kết luận rằng mọi chế độ thực dân đế quốc đều tiêu diệt hết các nòi giống bản xứ, và muốn cứu vãn những nòi giống này, ta phải lật đổ chủ nghĩa đế quốc!”.

            – Bút tích bài báo Phong trào công nhân và nông dân mới đây tại Ấn Độ. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 47, tháng 5-1928.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.333-340.

Tháng 6, đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc rời nước Đức, bắt đầu cuộc hành trình để về gần Tổ quốc. Từ Đức, Người qua Thuỵ Sĩ rồi sang Italia. Sau này, nhắc lại kỷ niệm về chuyến đi đó, Người kể:

“Khi Bác xin cấp phép đi qua nước Ý, cơ quan phát xít hỏi nhiều câu lôi thôi. Đến biên giới, cơ quan biên phòng phát xít giở xem quyểnTừ điển chống cộng quốc tế dày khoảng 2.000 trang, ghi tên tuổi những người cách mạng các nước từ chữ A đến Z. Không thấy có tên mới của Bác trong đó, chúng chào lễ phép và nói: “Mời ông cứ đi!”.

“Đến phía Bắc nước Ý, Bác ghé vào xem hội chợ ở Milan (Milano), một thành phố buôn bán phồn thịnh nhất nước Ý… Khi đi xem phong cảnh Thủ đô Rôm, Bác bị hỏi giấy tờ và bị đưa về Sở Công an. Cũng nhờ bị bắt mà Bác hiểu thêm cách thống trị của phát xít. Trên các đường phố, cứ cách độ 100 thước thì có một tên mật thám. Tên mật thám hỏi giấy và bắt Bác hầu như mù chữ. Tại Sở Mật thám, chúng ra vẻ lễ độ. Tên trưởng phòng đứng dậy bắt tay Bác, mời Bác ngồi và mời Bác hút thuốc, rồi hỏi những câu bâng quơ. Những người ít kinh nghiệm thì dễ rơi vào cạm bẫy của chúng…”.

Trong thời gian ở Milan, Nguyễn Ái Quốc thường đến ăn tại quán ăn Tơráttôria Lapôsa (Trattoria Laposa) 3) số 10 đường Pasubiô.

            –  Thư của Nguyễn Ái Quốc viết ngày 18-2-1930 gửi Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 35-36.

Tháng 6, cuối tháng

Từ cảng Napôli (Napoli), Nguyễn Ái Quốc đáp tàu Nhật Bản đi Xiêm.

Trên đường từ Italia về Xiêm, Người dừng lại ở Xâylan (Ceylan) ít ngày 4).

Sau đó Nguyễn Ái Quốc đi tàu khác trở về Xiêm.

            –  T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 36.

            –  Báo Tiến lên, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Xâylan, ngày 9-9-1969.

Tháng 6

Bài viết của Nguyễn Ái Quốc, ký bút danh Wang, nhan đề Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương, đăng trên Tập san Inprekorr, bản tiếng Pháp, số 49.

Mặc dầu đã phải áp dụng ở xứ thuộc địa rộng nhất và giàu nhất này chính sách ngu dân, chính sách khủng bố và mật thám để bóp nghẹt những quyền tự do tối thiểu của dân chúng, vậy mà chủ nghĩa đế quốc Pháp vẫn phải nơm nớp lo sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài nhập vào và đã tìm mọi cách đối phó, kể cả trò bịp chính trị hòng trừ khử nguy cơ đó.

Song như tác giả nhận định: “Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp”.

            –  Bút tích bài báo. Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.343 – 345.

Tháng 7, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc với hộ chiếu mang tên một Hoa kiều là Nguyễn Lai đến bến cảng Khoong Tơi, hải cảng quốc tế tại Thủ đô Băng Cốc.

Những ngày ở Băng Cốc, Nguyễn Ái Quốc thường ở trong một số chùa như chùa Hội Khánh, người Thái gọi là chùa Mongkhol Sunrankhol; chùa ông Năm, người Thái gọi là chùa Somsanam Boriharn, chùa Tư Tế Tự, chùa Sư Ba, người Thái gọi là chùa Lacumkho.

Sau một thời gian ngắn, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Bản Đông, thuộc huyện Phìchịt, tỉnh Phítxanulốc miền Trung nước Xiêm. Đây là một làng Việt kiều với chừng hai chục gia đình, từ năm 1926 đã có những tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội hợp tác, Hội Việt kiều thân ái.

Trong buổi họp mặt đầu tiên với kiều bào, Nguyễn Ái Quốc tự giới thiệu là Thọ, biệt hiệu Nam Sơn. Những ngày sau đó, Người đã nhanh chóng sống hoà mình với kiều bào, cũng đi chân đất, cũng quần áo nâu sồng, làm đủ thứ việc như mọi người.

Ban ngày, Người tranh thủ lần lượt đi thăm các gia đình, hỏi han công việc làm ăn và giúp đỡ ý kiến. Tối đến, Người tổ chức nói chuyện cho kiều bào nghe về tình hình thế giới, tình hình trong nước. Thỉnh thoảng, Người lấy báo Trung Quốc, Anh, Pháp ra đọc một bài rồi phân tích giảng giải cặn kẽ cho mọi người.

Người lưu lại ở Bản Đông khoảng hai tuần.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Căn cứ báo cáo đề tài cấp bộ của Bảo tàng Hồ Chí Minh: Nghiên cứu, phát hiện, thống kê di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thái Lan.

Tháng 7, giữa tháng

Nguyễn Ái Quốc rời Bản Đông đi Uđon 5) (tức tỉnh Uđon Thani).

Trong suốt cuộc hành trình ròng rã 15 ngày, Người đi bộ theo dọc đường rừng, vừa để đảm bảo bí mật, vừa để tìm hiểu thực tế tình hình kiều bào. Cũng như mọi người, Người đeo bên mình một con dao, một ống đựng sườn băm rang muối mặn, vai gánh đôi thùng có nắp đậy, trong đựng quần áo, ít gạo, muối, tài liệu, vài thứ đồ dùng cần thiết. Tuy xưa nay chưa quen gồng gánh, cũng chưa quen đi bộ đường dài nên mấy ngày đầu hai bàn chân bị phồng rộp, rớm máu, Người vẫn cố theo kịp mọi người. Người nói: “Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên” (Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền).

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 8, khoảng đầu tháng

Nguyễn Ái Quốc đến Uđon, Người đến Noong Bùa là nơi Việt kiều đông nhất trong tỉnh.

Ở Uđon, Người lấy tên là Chín. Mọi người tôn trọng gọi là “Thầu Chín” (ông già Chín) mặc dầu Người mới 38 tuổi.

Trong cuộc họp đầu tiên khi tới Uđon, Người báo cáo trước Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên về tình hình và triển vọng của cách mạng Việt Nam, nhấn mạnh đến phẩm chất của người cách mạng là phải biết chịu đựng gian khổ, kiên trì đấu tranh với khó khăn, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, không ngừng rèn luyện ý chí phấn đấu.

Người chủ trương phải mở rộng tổ chức, củng cố cơ sở quần chúng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trước kia Hội hợp tác chỉ thu hút những thanh niên ở trong nước ra, nay cần kết nạp cả những kiều bào hăng hái cách mạng và tình nguyện gia nhập.

Người đề nghị đổi tên báo Đồng thanh – tờ báo của Hội thân ái xuất bản từ năm 1927, thành báo Thân ái và yêu cầu nội dung tờ báo này phải rõ ràng, bài viết phải ngắn gọn dễ hiểu, phát hành càng rộng càng tốt.

Người còn chủ trương phải làm cho người Xiêm có cảm tình hơn nữa với người Việt Nam và cách mạng Việt Nam; giáo dục kiều bào tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân bạn; khuyên mọi người học chữ Xiêm, tiếng Xiêm, đồng thời mở rộng việc vận động học chữ quốc ngữ. Với các cán bộ phụ trách, Người khuyên cố gắng tạo khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp hơn nữa.

Những ngày ở Uđon, cùng với công tác chấn chỉnh xây dựng tổ chức, Nguyễn Ái Quốc dành khá nhiều thời gian để dịch sách lý luận làm tài liệu tuyên truyền và huấn luyện cho cán bộ Việt Nam hoạt động ở Xiêm. Người đã dịch hai cuốn Nhân loại tiến hoá sử  Cộng sản A.B.C.

Các buổi tối, Người thường tổ chức nói chuyện với kiều bào. Những buổi nói chuyện đó, nhà chật ních người. Bà con rất thích đến nghe, vì “Thầu Chín” nói chuyện vừa hấp dẫn lại thiết thực, từ câu chuyện làm ăn đưa đến câu chuyện chính trị. Bà con thấy “Thầu Chín” vừa đáng kính, vừa gần gũi nên thường hỏi ý kiến về chuyện gia đình, chuyện làm ăn.

Nguyễn Ái Quốc sống như mọi người, cũng đào giếng, cũng vỡ đất làm vườn. Khi Chính phủ Xiêm cho phép mở trường học, Người đã tham gia với kiều bào gánh gạch, đào móng, đắp nền. Người vui vẻ chịu chung với các đồng chí những vất vả, kham khổ về đời sống vật chất. Bữa cơm nhiều khi chỉ có rau sam hoặc rau lang chấm muối, thậm chí chỉ có muối. Kiều bào ở gần, biết “Thầu Chín” hay hút thuốc lá, mỗi khi đi chợ đã không quên mua gửi biếu vài bao thuốc.

Thời gian ở Uđon, Nguyễn Ái Quốc đã đến Noọngkhai gặp gỡ một số cán bộ hoạt động ở Viêng Chăn sang để tìm hiểu tình hình phong trào Lào và khả năng đặt mối liên hệ với Xiêm để đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng ở
Việt Nam.

            –  Hồi ký của Lê Mạnh Trinh. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

            –  Hồi ký của Đặng Văn Cáp. Lưu tại Viện Lịch sử Đảng.

Tháng 10, trước ngày 2

Nguyễn Ái Quốc gửi cho Tập san Inprekorr một tài liệu nhan đề Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương 6).

Bài viết đưa ra những số liệu cụ thể và chia ra các phần sau đây:

          – Tình hình kinh tế

          – Sự tích luỹ tư bản

          – Lợi nhuận

          – Công nghiệp hoá thuộc địa

          – Chiếm đoạt ruộng đất

          – Sự độc quyền

          – Đầu sỏ tài chính

          – Tư bản nước ngoài ở Đông Dương

          – Đối kháng thực dân ở Đông Dương

          – Sự bóc lột người An Nam

          – Vô sản hoá người bản xứ

          – Lao động khổ sai đối với người bản xứ

          – Sợ hãi cách mạng.

Bài viết có đoạn: “Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình”.

            –  Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 346 – 362.

Trong năm

Nguyễn Ái Quốc viết bài  Đông Dương khổ nhục, ký bút danh NGUYỄN.

Tác giả tố cáo chính quyền thuộc địa, từ kẻ đại diện tối cao của Nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, đều tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tuỷ xứ Đông Dương đã bị chinh phục và dân tộc Đông Dương đang bị đày đọa này. Tội ác của bọn côn đồ đó diễn ra hằng ngày và không đủ thì giờ để kể cho xiết. Đông Dương khổ nhục. Nhưng giờ đây, khi ách áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu. Điều này chứng tỏ rằng, bây giờ căm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp phải những cuộc đấu tranh sinh tử để giành lại tự do và quyền sống. Bức màn mà chính phủ thuộc địa dựng lên để giấu giếm tội ác của chúng, bưng bít những tiếng thét căm hờn của người bản xứ và che đậy những cuộc khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp, đã bị xé toang. Tội ác của chúng đã phơi bày trước giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là trước thợ thuyền Pháp.

Nhân danh Đông Dương khổ nhục, tác giả kêu gọi những ai đang đấu tranh ở khắp nơi, kêu gọi những người bạn Nga đã tự giải phóng mình khỏi tay bọn cường quyền: “Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khăn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải của họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét căm thù của họ phải được hoà lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ăn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột”.

            –  Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

            –  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr.363-366. 

——————

1) Đến nay, chưa xác định được tên của người nhận bức thư này (B.T).

2) Đảng Cộng sản Đức (B.T).

3) Ngày 19-5-1990, nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các bạn Italia đã dựng biển lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khách sạn này (nay đã hiện đại hóa).

4) Theo hồi ức của Uychêmaxinghê, Chủ tịch Đảng Cộng sản Xâylan và Piêtơ Canơman – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Xâylan thì trong chuyến đi này Nguyễn Ái Quốc ẩn danh là một thành viên của đoàn thủy thủ. Chiếc tàu Người đi đã ghé vào cảng Côlômbô, Thủ đô Xâylan. Người đã ở khách sạn ngày nay mang tên “Thắng Lợi” và đã tới thăm tỉnh Candi, cách Côlômbô khoảng 50km.

5) Uđon thuộc đông bắc nước Xiêm, là vùng có đông Việt kiều sinh sống, lại tiện đường liên lạc với Noọngkhai, Xacôn, Nakhôn, Thạt Phanôm… và những

nơi có kiều bào. Ở Uđon, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hội thân ái và Hội hợp tác cũng ra đời. Vì vậy, Uđon còn là trung tâm cuộc vận

động Việt kiều ở Xiêm.

6) Tài liệu do Cơ quan lưu trữ Đảng Cộng sản Liên Xô gửi Đảng Cộng sản Việt Nam trên có ghi: Bài của Nguyễn Ái Quốc gửi cho Tập sanInprekorr, ngày

2-10-1928 (B.T).

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Đoàn 195 học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc

Cách đây 65 năm, ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua ái quốc, kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước kháng chiến, kiến quốc. Người khẳng định “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Trải qua chặng đường lịch sử 65 năm, tư tưởng, lời hiệu triệu của người về thi đua ái quốc luôn luôn là kim chỉ nam, là động lực tinh thần thôi thúc, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, hăng hái thi đua, phát huy ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, vượt qua mọi hy sinh gian khổ, lập nên những chiến công vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua phong trào thi đua Quyết thắng của Đoàn 195, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, không ngừng đổi mới, phát triển mạnh mẽ cả bề rộng và chiều sâu, tạo ra động lực to lớn động viên, cổ vũ cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

doan-195-aĐại hội thi đua quyết thắng giai đoạn 2008 – 2011 của Đoàn 195

Cấp uỷ, chỉ huy đã nghiêm túc quán triệt các chỉ thị, hướng dẫn về công tác TĐ-KT và phong trào thi đua Quyết thắng, tập trung giáo dục tạo chuyển biến toàn diện về nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và mọi cán bộ, đảng viên, CNV, chiến sỹ về vị trí, vai trò của công tác TĐ-KT và phong trào thi đua Quyết thắng, coi đây là biện pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.  Phong trào thi đua quyết thắng luôn hướng vào việc hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất, việc khó, khắc phục khâu yếu, mặt yếu bảo đảm cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng ngày càng cao.Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp không ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả, gắn phong trào thi đua Quyết thắng với đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và chủ trương “Một tập trung, hai khâu đột phá”, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động thi đua thường xuyên với các đợt thi đua cao điểm, thi đua đột kích, thi đua của các ngành, các tổ chức quần chúng, thi đua Khối Đoàn, Viện. Phong trào thi đua quyết thắng đã tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của quần chúng thi đua giành những đỉnh cao mới trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của đơn vị.

Phong trào thi đua Quyết thắng đã tập trung hoàn thành nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất, trong đó nhiệm vụ bảo đảm thông số phục vụ công tác y tế, lễ viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, lễ chào cờ hoàn thành xuất sắc. Thường xuyên quán triệt quan điểm “giữ tốt, dùng bền, an toàn tiết kiệm” nắm vững mục tiêu, yêu cầu bảo đảm kỹ thuật. thường xuyên quản lý chặt chẽ, nắm chắc số lượng, chất lượng, sự đồng bộ của hệ thống thiết bị, chấp hành nghiêm quy chế, quy trình, tổ chức vận hành thiết bị an toàn, bảo đảm thông số về nhiệt độ, độ ẩm, môi trường. Bảo đảm tốt nguồn điện thường xuyên và chế độ dự phòng phục vụ chiếu sáng và trang trí nhân các ngày lễ, Tết, nhất là các hoạt động sinh hoạt chính trị, văn hoá diễn ra tại Lăng. Đã hoàn thành toàn diện kế hoạch bảo dưỡng sửa chữa thường xuyên và nhiệm vụ đột xuất, những nội dung bảo dưỡng, sửa chữa lớn được tập trung hoàn thành có chất lượng; phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố, trục trặc kỹ thuật không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ, bảo đảm độ dự phòng theo quy định. Công tác vệ sinh bảo quản kiến trúc công trình có sự phát triển, với khối lượng công việc nhiều hơn, đã khắc phục khó khăn về điều kiện thời tiết, khí hậu, nhân lực, phát huy hiệu quả trang thiết bị, tổ chức vệ sinh bảo quản kiến trúc công trình, môi trường luôn khang trang, sạch đẹp phục vụ lễ viếng thường xuyên, viếng cấp Nhà nước, viếng đột xuất, phục vụ đồng bào và khách quốc tế thắp hương tưởng niệm Bác và các Anh hùng liệt sỹ nhân các ngày lễ,Tết an toàn chu đáo.

doan-195-b

Những năm qua hệ thống thiết bị được đầu tư, nâng cấp, thay thế, nhiều thiết bị công nghệ mới hiện đại như K5, K6, K7, thiết bị biến tần, điều hoà khu trái, hệ thống điện…đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng tập huấn, huấn luyện bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn, tiếp nhận, quản lý và vận hành khai thác có hiệu quả, từng bước khẳng định khả năng vươn lên làm chủ thiết bị của đội ngũ cán bộ, nhân viên vận hành. Tập trung hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ trong tu bổ định kỳ và các nhiệm vụ bổ sung, đột xuất và nhiệm vụ triển khai thực hiện dự án theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh. Từ thực tiễn phong trào “Quản lý khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao thông” đã có những mô hình mới, sáng tạo hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ chính trị như: “Ca trực kiểu mẫu”, “gian máy công đoàn”, đã gắn trách nhiệm của tập thể và mỗi người công nhân với thiết bị và trong từng gian máy. Phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật tiếp tục phát triển sâu rộng với nhiều ý tưởng và giải pháp sáng tạo, từ năm 2008 đến nay đã triển khai thực hiện 02 đề tài nghiên cứu khoa học, 42 sáng kiến được Bộ Tư lệnh xét duyệt công nhận và áp dụng trong thực tiễn nhiệm vụ có hiệu quả góp phần hoàn thiện hệ thống kỹ thuật, hợp lý hoá quy trình vận hành, giảm chi phí tiết kiệm năng lượng.

Phong trào thi đua quyết thắng đã hướng vào mục tiêu xây dựng con người, coi trọng công tác giáo dục chính trị, định hứớng tư tưởng. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, tác động của mặt trái cơ chế thị trường, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch và những khó khăn của đời sống tuyệt đại đa số cán bộ, CNV, chiến sỹ luôn thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tập trung xây dựng đơn vị VMTD theo Chỉ thị 917 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Nghị quyết của Đảng uỷ, Kế hoạch của Tư lệnh, tạo chuyển biến cơ bản toàn diện về xây chính quy, chấp hành kỷ luật, lễ tiết tác phong quân nhân, tác phong công nghiệp. Kiện toàn tổ chức biên chế mới, hoàn thiện chức danh, chức trách. Hoàn thành toàn diện các nội dung huấn luyện, trọng tâm là huấn luyện nâng cao trình độ chỉ huy, quản lý của đội ngũ cán bộ; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên trực vận hành, huấn luyện thợ mới, thiết bị mới, quy trình vận hành mới; kiểm tra đánh giá kết quả 100% đạt yêu cầu có từ 70 – 75% khá giỏi. Thường xuyên rà soát bổ sung, huấn luyện các phương án SSCĐ, PCBL, CN xử lý kịp thời khi có tình huống xảy ra. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao tính cơ bản vững chắc trong quản lý, chỉ huy điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị.

Phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác dạy” đã hướng vào mục tiêu chăm lo bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của đơn vị. Trong điều kiện giá cả thị trường biến động tăng cao, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã bảo đảm đầy đủ, chế độ, tiêu chuẩn định lượng, tích cực tăng gia sản xuất cải thiện đời sống bộ đội; hàng năm đều đạt tiêu chuẩn “Bếp nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quản lý tài chính tốt”,  “Chiến sỹ quân y 5 tốt”, quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, quan tâm cải tạo môi trường “Xanh, sạch, đẹp”. Chăm lo thực hiện tốt chế độ chính sách và chính sách hậu phương quân đội, phát huy tinh thần tương trợ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn, cùng hoàn thành nhiệm vụ.

Cấp uỷ và toàn Đảng bộ quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị về công tác xây dựng Đảng, thực hiện nghiêm túc nghị quyết chuyên đề của Đảng uỷ Đoàn 969 “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương Đảng bộ làm điểm “về nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng uỷ, Chi bộ, thực hiện chế độ ngày đảng và công tác kiểm tra giám sát” và chỉ đạo điểm Đảng bộ đẩy mạnh “Làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đã kết hợp chặt chẽ xây dựng chi bộ TSVM với xây dựng đơn vị VMTD, xây dựng cấp uỷ với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ. Đảng bộ đã có chuyển biến quan trọng về chấp hành và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt, phát huy tốt vai trò gương mẫu nêu gương của cấp uỷ, cán bộ chủ trì, tính tiền phong trong rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống và thực hiện chức trách nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên.

Quan tâm chỉ đạo, phát huy vai trò các tổ chức quần chúng; hoạt động của các tổ chức quần chúng theo đúng chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với thực tiễn đơn vị. Các phong trào thi đua “5 nhất, 3 không”, “Thanh niên làm theo lời Bác”, “Phụ nữ tích cực học tập lao động sáng tạo, xây dựng gia đình no ấm bình đẳng hạnh phúc tiến bộ” đã phát huy hiệu quả tích cực giáo dục động viên cổ vũ đoàn viên, hội viên xung kích sáng tạo hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD.

doan-195-cLễ ra quân huấn luyện năm 2013

Trong những năm tới toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, thi đua yêu nước phấn đấu thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Tình hình thế giới, khu vực sẽ còn những diễn biến phức tạp.  Nhiệm vụ của đơn vị được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Quân đội, triển khai thực hiện đề án “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa công trình Lăng trong giai đoạn mới”. Nhiệm vụ quản lý vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật bảo đảm thông số đặt ra những yêu cầu mới; hệ thống thiết bị ngày càng hiện đại, yêu cầu xây dựng Đảng bộ, xây dựng đơn vị ngày càng cao. Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc cần tập trung quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị 938/CT-ĐU của Thường vụ Đảng uỷ Đoàn 969 về đổi mới công tác TĐ-KT. Bám sát thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị. Tổ chức chặt chẽ công tác TĐ-KT và đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng tạo thành phong trào thi đua sôi nổi, liên tục, rộng khắp; giáo dục cổ vũ động viên cán bộ, CNV, chiến sĩ nêu cao ý chí trách nhiệm, chủ động sáng tạo, đoàn kết phấn đấu hoàn thành toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong đó nhiệm vụ quản lý vận hành hệ thống thiết bị kỹ thuật, bảo đảm thông số tiếp tục hoàn thành xuất sắc; xây dựng Đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Đoàn 969 lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã đề ra. Giữ vững và phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc là sự kiện quan trọng, khẳng định sự tiến bộ trưởng thành, bước phát triển mới của phong trào thi đua Quyết thắng. Học tập và làm theo tư tưởng tấm gương của Bác về thi đua yêu nước, mỗi cán bộ, đảng viên, CNV, chiến sỹ tiếp tục phát huy ý chí trách nhiệm, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, đoàn kết vượt khó, nỗ lực phấn đấu thi đua giành những thành tích mới, xứng đáng với vinh dự và trách nhiệm của mỗi quân nhân dược học tập công tác bên Lăng Bác Hồ.

Dương Hoàng Toán
 Đoàn 195, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Phòng, chống khuynh hướng “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” ở nước ta hiện nay

Thiếu Tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm
Trong thời gian vừa qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã đưa ra những ý kiến, quan điểm sai trái, thậm chí đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc, như: đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 của Hiến pháp năm 1992, đòi Việt Nam thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng; đòi tam quyền phân lập; đòi tư hữu hóa đất đai, các nguồn tài nguyên thiên nhiên; họ đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân…

Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được họ xác định là một nội dung trọng tâm để chống phá Đảng và Nhà nước.

Bản chất của luận điểm “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” là quân đội và công an phải trung lập, đứng ngoài chính trị; quân đội, công an không thuộc một đảng phái chính trị nào. Quân đội, công an chỉ trung thành với quốc gia, dân tộc, với nhân dân, có nhiệm vụ chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, bảo vệ chính quyền nhà nước, bảo vệ hiến pháp, chứ không trung thành với một đảng chính trị nào.

Lịch sử thế giới đương đại cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, sau khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, chấp nhận đa nguyên, đa đảng và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với quân đội, an ninh, nội vụ làm cho Quân đội Xôviết, cơ quan An ninh, nội vụ Xôviết bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô vào cuối năm 1991.

Để hiểu rõ vấn đề này, cần xem xét về nhà nước và quân đội, công an trong bộ máy nhà nước. Nhà nước, xét về bản chất trước hết là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là một bộ máy duy trì sự thống trị giai cấp. Quân đội, công an là lực lượng đặc biệt của một giai cấp, là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện mục đích chính trị và cuối cùng là mục đích kinh tế của giai cấp. Quân đội, công an xuất hiện và tồn tại gắn liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện mục tiêu chính trị ấy.

Mọi hoạt động của quân đội, công an đều bị quy định bởi chính trị và phụ thuộc vào chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ cơ bản của quân đội, công an như quan hệ với giai cấp, với chế độ xã hội, với nhân dân, dân tộc. Quân đội, công an bao giờ cũng gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu sắc. Những người hô hào quân đội, công an chỉ là của nhà nước, nên cần “phi chính trị, đứng ngoài chính trị” đã cố tình bỏ qua bản chất giai cấp của nhà nước, quân đội, công an…

Trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Ph.Ănghen đã viết: “thành lập một đội cảnh binh là cần thiết… Nó không phải chỉ gồm những người được vũ trang mà còn gồm những công cụ vật chất phụ thêm nữa, như nhà tù và đủ các loại cơ quan cưỡng bức mà xã hội thị tộc không hề biết đến” (C.Mác, Ph.Ănghen: Tuyển tập, tập VI, NXB Sự thật, Hà Nội 1984, tr.184). Ph.Ănghen còn khẳng định tiếp: “Không có cảnh sát, nhà nước không thể tồn tại được” (Sách đã dẫn, trang 184).

Theo V.I.Lenin, sự nghiệp cách mạng “Cần có một quân đội cách mạng vì những vấn đề lịch sử vĩ đại chỉ có thể được giải quyết bằng vũ lực mà trong cuộc đấu tranh hiện đại thì tổ chức vũ lực có nghĩa là tổ chức quân sự”. Sau Cách mạng Tháng Mười, trước sự đòi hỏi cấp thiết của tình hình, V.I.Lenin đã ký sắc lệnh thành lập Hồng quân công nông và thành lập cơ quan công an kiểu mới mang tên Cơ quan đặc biệt toàn Nga (Vtreca): “Để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn cho quần chúng lao động và trừ bỏ mọi khả năng phục hồi chính quyền của bọn bóc lột”. Người coi quân đội, công an cách mạng là “trụ cột của chính phủ cách mạng”, là công cụ để quần chúng nhân dân sử dụng giải quyết những cuộc xung đột vĩ đại trong lịch sử.

Trong thực tiễn, V.I.Lenin luôn quan tâm xây dựng Hồng quân, cơ quan công an vững mạnh, đặc biệt là về chính trị. Người vạch rõ bản chất phản động của luận điệu “quân đội đứng ngoài chính trị”, coi đó là “cái giáo lý tầm thường”, “giả nhân, giả nghĩa và dối trá”. V.I.Lenin khẳng định một cách dứt khoát không có quân đội, công an trung lập về chính trị: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”.

Quan điểm “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Về thực chất, những người đưa ra quan điểm đó muốn quân đội, công an đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng trong thực tế không có quân đội, công an đứng ngoài chính trị. Kinh nghiệm ở Hoa Kỳ, các nước tư bản chủ nghĩa cho thấy tất cả các đảng phái cầm quyền đều cố gắng giành lấy sự ủng hộ của quân đội và công an.

Đối với Quân đội nhân dân Viêt Nam, Công an nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” với mục tiêu cao nhất là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Mục tiêu của họ là nhằm phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, hướng tới làm tê liệt, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội, Công an.

Trong hành động thực tiễn, chúng hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cán bộ chính trị và cơ quan chính trị trong Quân đội, Công an; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội, Công an tham gia, thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an cụ thể, hòng qua đó làm cho Quân đội, Công an mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của Quân đội, Công an trong xã hội. Đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội, Công an, chúng kích động tư tưởng công thần, địa vị, cá nhân chủ nghĩa, đòi hỏi đãi ngộ vào bộ phận cán bộ có nhiều cống hiến trong các cuộc kháng chiến…, hòng làm ly gián nội bộ, phá hoại mối quan hệ đoàn kết, đoàn kết quân dân. Lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực để gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với chiến sỹ trong nội bộ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

Ở nước ta, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là do Đảng Cộng sản thành lập. Các tiền thân của Công an và Quân đội ngay từ ngày thành lập đã thực hiện các nhiệm vụ như: trừ gian, hộ lương diệt ác, bảo vệ xóm làng… Đây là những nhiệm vụ bảo vệ xã hội và nhân dân thời bấy giờ trong cuộc cách mạng mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo. Ngay từ khi mới ra đời, Công an và Quân đội đã là lực lượng chính bảo vệ nhân dân, bảo vệ xã hội, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, biên giới quốc gia. Và cho đến nay, hai lực lượng này vẫn luôn tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để phòng, chống khuynh hướng “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “tự diễn biến” trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam, theo chúng tôi cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam vừa là nguyên tắc cơ bản vừa là quy luật cơ bản trong việc xây dựng Quân đội, Công an kiểu mới của dân, do dân, vì dân.

Thứ hai, tăng cường đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam “tự diễn biến” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Đẩy mạnh xây dựng Quân đội, Công an vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện, để Quân đội, Công an không đi chệch mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Thứ ba, tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, chăm lo xây dựng Quân đội, Công an, củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn và phát huy hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, người Công an cách mạng trong xã hội, trong nhân dân.

Thứ tư, thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa – tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sỹ, góp phần phát huy những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, người Công an cách mạng trong tình hình mới.

Quân đội, Công an là một hiện tượng chính trị – xã hội, từ khi xuất hiện cùng với quá trình tồn tại của nó đều gắn bó với chính trị. Không và không thể có Quân đội, Công an “phi giai cấp” hoặc “siêu giai cấp”, Quân đội, Công an “phi chính trị” hoặc “đứng ngoài chính trị”. Đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch gắn chặt với việc giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn hiện nay

N.X.Y.

Theo cand.com.vn
Vkyno (st)