Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Đáp từ tại buổi tiệc do Chủ tịch Hátgi Lêsi chiêu đãi (17-6-1960)

Thưa đồng chí Chủ tịch Lêsi thân mến,

Thưa đồng chí Bí thư Liri thân mến,

Thưa các đồng chí trong Đoàn đại biểu Anbani thân mến,

Hôm nay, lại một lần nữa chúng ta rất vui mừng sum họp một nhà. Đồng chí Chủ tịch, đồng chí Liri và các đồng chí trong Đoàn đi thǎm Hà Nội và các nơi, đã khuyến khích nhân dân Việt Nam chúng tôi rất nhiều. Đồng thời, trong những cuộc gặp gỡ, các đồng chí đã thấy công nhân, nông dân, trí thức, quân đội, phụ nữ, thanh niên và nhi đồng Việt Nam ai ai cũng rất kính mến các đồng chí, rất yêu quý nhân dân Anbani anh em.

Trong các cuộc nói chuyện giữa các đồng chí lãnh đạo hai Đảng và hai Chính phủ, ý kiến của chúng ta hoàn toàn nhất trí.

Nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Anbani đều đưa hết lực lượng của mình để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhân dân hai nước chúng ta đều ra sức góp phần củng cố khối đoàn kết của đại gia đình xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ đại.

Dưới ngọn cờ vẻ vang của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta đồng tâm, nhất trí với các nước anh em đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống chiến tranh xâm lược, để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ hoà bình. Và chúng ta chắc chắn rằng phe đế quốc chủ nghĩa nhất định thất bại, phe xã hội chủ nghĩa nhất định thành công.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Tôi đề nghị chúng ta nâng cốc:

Chúc tình anh em giữa Việt Nam và Anbani muôn đời bền vững! Chúc tình đoàn kết vô cùng khǎng khít của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh đứng đầu là Liên Xô!

Chúc sức khoẻ đồng chí Lêsi, đồng chí Liri và các đồng chí trong Đoàn!

Chúc sức khoẻ đồng chí Hốtgia và các đồng chí lãnh tụ khác của Đảng và Chính phủ Anbani!

——————-

Nói ngày 17-6-1960.
Báo Nhân dân, số 2282, ngày 18-6-1960.
cpv.org.vn

Lời tiễn Chủ tịch Hátgi Lêsi (18-6-1960)

Thưa đồng chí Chủ tịch Hátgi Lêsi thân mến,
Thưa đồng chí Liri Bêlisôva thân mến,
Thưa các đồng chí trong Đoàn đại biểu Anbani thân mến,
Thưa các đồng chí và các bạn,

Đồng chí Chủ tịch Lêsi, đồng chí Liri và các đồng chí trong Đoàn ở thǎm Việt Nam trong một thời gian quá ngắn ngủi. Nhưng tình anh em thắm thiết giữa nhân dân hai nước chúng ta rất bền vững lâu dài. Và cuộc đến thǎm của các đồng chí đã làm cho tình nghĩa ấy càng thêm lâu dài bền vững.

Hôm nay, tiễn đưa các đồng chí lên đường về nước:

Chúng tôi quyến luyến vôngần,
Quan sơn xa cách, tinh thần không xa.

Chúng tôi rất cảm ơn các đồng chí đã vượt:

Ngàn trùng nước biếc non xanh,
Trao cho nước bạn mối tình anh em.

Nay chúng tôi lại nhờ các đồng chí thay mặt nhân dân Việt Nam chuyển đến nhân dân Anbani anh em:

Mối tình hữu nghị sắt son,
Sông có thể cạn, núi có thể mòn.
Tinh thần đoàn kết dài còn muôn thu!

Chúng tôi luôn luôn nhớ các đồng chí và chắc rằng các đồng chí cũng luôn luôn nhớ chúng tôi.

Càng nhớ nhung chúng ta càng ra sức thi đua với nhau trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh bảo vệ hoà bình.

Kính chúc các đồng chí đi đường bình an, mạnh khoẻ.

———————-

Nói ngày 18-6-1960.
Báo Nhân dân, số 2283, ngày 19-6-1960
cpv.org.vn

Chuyện ít biết về đá hình lá cờ trong Lăng Bác

(Kienthuc.net.vn) – Với những ai đã từng vào Lăng viếng Bác hẳn sẽ không quên hình ảnh hai lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc ghép liền nhau trong phòng Bác nằm. Tuy nhiên, việc hai lá cờ được ghép lại từ những tấm đá không phải ai cũng biết.

Ngót bốn mươi năm đã qua, kể từ những ngày miệt mài với công việc dán ghép các mặt đá tạo hình lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc trong Lăng Bác, song với GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu, ký ức ấy vẫn chưa hề phai nhòa.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu (ngoài cùng bên phải) bên công trình Lăng đang xây dựng (ảnh tư liệu).GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu (ngoài cùng bên phải) bên công trình Lăng đang xây dựng (ảnh tư liệu).

Tìm đá quý

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu mở đầu câu chuyện từ lý do ông được chọn là người dán các mặt đá ghép thành hình lá cờ trong Lăng Bác. Ông nhớ lại: “Năm 1969, tôi bảo vệ thành công luận án PTS ở Mát-xcơ-va. Về nước, tôi làm cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Bách khoa.

Sau đó, tôi cũng đã có vài công trình ứng dụng về nhựa epoxy – là loại nhựa có nhiều tính năng kỹ thuật tốt, dùng để dán kim loại và phi kim loại như sắt với sắt, đá với đá… Chính vì thế mà tôi được chọn thực hiện công việc này”.

Ấy là hồi năm 1974, ông Nguyễn Phúc Ứng, Trưởng phòng Kỹ thuật của Xí nghiệp đá hoa An Dương xuống trường đặt vấn đề, mời cùng thực hiện công việc. “Đây là Xí nghiệp duy nhất được Bộ Xây dựng lựa chọn để giao cho việc cắt, mài, dán đá tạo hình lá cờ ở phòng nghỉ của Bác trong Lăng. Khi được mời cộng tác, khỏi phải nói tôi vui sướng và vinh dự biết dường nào”, ông không giấu được xúc động.

Việc tìm đá có màu sắc tương ứng với hai màu đỏ và vàng được gấp rút thực hiện. “Bình Định nổi tiếng là nơi có nhiều đá granit và đá rất đẹp. Tuy nhiên, do điều kiện đất nước đang có chiến tranh nên việc lấy đá ở trong đó chuyển ra rất khó khăn. Cũng có một số người phát hiện thấy đá có màu đỏ, đem trình Bộ Chính trị nhưng đá này có màu xỉn kiểu tiết gà để lâu, không có thần nên đã không được chọn.

Cũng trong thời gian đó, hai cán bộ địa chất băng từ Sơn La sang Lào, có qua miền Tây Thanh Hóa. Khi đến huyện Bá Thước, họ thấy có những hòn đá chỉ to bằng quả bưởi nằm lăn lóc bên đồi, dùng búa chuyên dụng gõ vào thì thấy đá bật ra màu đỏ rất đẹp. Loại đá này đã được Bộ Chính trị duyệt”, ông Diệu nhớ lại.

Đá được vận chuyển từ Thanh Hóa ra Hà Nội, tập kết tại Xí nghiệp đá hoa An Dương. Đầu tiên, những hòn đá phải được cắt ra thành từng miếng. Việc cắt đá cũng khá công phu.

Dù phía Liên Xô có hỗ trợ máy cắt nhưng chủ yếu vẫn phải làm thủ công. Theo đó, người thợ sẽ rắc cát rải lên thanh thép rồi cắt dần. Làm như thế nên khá mất công và tốn thời gian. Đá được cắt xong sẽ được mài cho nhẵn.

“Theo thiết kế, hai lá cờ có tổng kích thước chung là 6m x 6m với 96 tấm đá. Trước khi đem dán, chúng tôi phải tiến hành ráp sơ bộ để đảm bảo khi dán ghép không xảy ra sai sót. Sau đó, chúng tôi phải dùng aceton lau sạch mặt đá cần dán vì aceton sẽ tẩy sạch những chất hữu cơ bám trên bề mặt và quan trọng là nhanh bay hơi hơn cồn. Đá được lau xong sẽ đặt lên bàn sấy. Đây là khâu rất quan trọng vì nếu không sấy, khi gặp trời nồm ẩm, dán đá sẽ rất khó bám”, ông kể.

Cũng theo ông Diệu, bàn sấy được trang bị hệ thống đèn hồng ngoại vì tia hồng ngoại sẽ cấp nhiệt tốt hơn. Thời điểm đó, tìm được loại đèn này rất khó vì đèn rất hiếm. Tuy nhiên, do tính chất cấp bách của việc xây Lăng nên việc trang bị mấy chục bóng đèn hồng ngoại nhanh chóng được đáp ứng.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu và bản thiết kế hai lá cờ trong Lăng Bác.GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu và bản thiết kế hai lá cờ trong Lăng Bác.

Bị bảo vệ gọi sang vì “trong đá có kim loại”

Một kỷ niệm trong quá trình dán đá mà GS Diệu nhớ mãi và theo lời ông thì “mỗi lần nhắc lại cũng đủ khiến mình… thót tim”. Chuyện là khi 96 tấm đá hoàn thành, chuẩn bị chuyển vào Lăng thì đồng chí an ninh ở phòng bảo vệ gọi vào gặp.

“Ngày thường, tôi cùng kỹ sư Vĩnh (Xí nghiệp Đá hoa An Dương) làm việc ở cạnh phòng bảo vệ. Thú thực là tôi cũng không thấy đó là áp lực, vì nghĩ việc ai người nấy làm. Tuy nhiên, sớm hôm ấy tôi bị họ gọi vào. Tôi cũng khá hồi hộp và lo lắng. Họ nói khi kiểm tra đã phát hiện trong hầu hết các tấm đá đều có kim loại. Họ cần tôi phải giải trình.

Tôi liền đưa tấm bản đồ ra. Theo đó, trong quá trình cắt, mài đá, độ dày mỏng của từng viên rất khác nhau. Nếu cứ mài mãi cho đến khi bằng nhau sẽ rất tốn công sức và mất thời gian. Tôi cùng kỹ sư Vĩnh đã nghĩ ra cách phải lót tấm thép phía mặt sau của những tấm đá mỏng để tôn lên, đảm bảo khi dán các mặt đá sẽ nằm trên cùng một mặt phẳng, không bị tụt xuống.

Đó là chuyện nhớ đời của tôi vì có ai vẽ ra cho mình vị trí kê đâu, toàn tự mình mày mò đấy chứ”, ông kể. Sau đó, bộ phận an ninh đã kiểm tra lại và quyết định chuyển những tấm đá vào Lăng.

Mời lái xe của Bác chở đá vào Lăng

Việc vận chuyển đá cũng phải vô cùng thận trọng. “Chính đồng chí lái xe cho Bác Hồ được giao việc chở đá vào Lăng bằng xe Gas 69”, ông xác nhận.

Theo thiết kế, xe Gas 69 có thùng phía sau. “Họ đóng kệ gỗ hình chữ A ở trên thùng, mỗi bên chỉ để một tấm, mỗi lần chở hai tấm. Mỗi tấm đá được dùng chăn dạ bọc lại, cẩn thận như thế vì thời gian hết rồi, nếu bị vỡ sẽ không còn đá mà làm tiếp mà phải đợi đi tìm thêm”, ông Diệu cho hay.

Thời gian từ lúc cắt đá đến lúc dán thành hai lá cờ trong Lăng mất chừng 3 – 4 tháng, kết thúc trước ngày 30/4/1975. “Thời gian làm việc khá căng thẳng và có nhiều áp lực vì đây là công trình đầu tiên của tôi về khâu dán đá. Tôi lại chưa có kinh nghiệm mà chỉ có kiến thức được học. Sau này, có một số tấm phải dán lại. Từ đó đến giờ không bao giờ phải dán lại nữa”, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu kết thúc câu chuyện bằng một nụ cười mãn nguyện.

“Ngoài việc dán hai lá cờ, tôi còn tham gia dán dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh phía trên Lăng. Đây là công việc khó nhất vì đá sẽ được khoét lõm, sau đó mới đặt đá xếp thành chữ vào. Khi ấy khoét bằng máy siêu âm, chậm vô cùng, có khi khoét chữ H lên tới cả tuần. Do không kịp tiến độ nên chúng ta phải nhờ cả thợ đá của Liên Xô có búa chuyên dụng để đục”.

“Những ngày tham gia dán đá, tôi được nhà trường cho nghỉ để toàn tâm toàn ý cho công việc. Vợ tôi cũng tạo điều kiện rất nhiều. Thế nhưng, có một lần bà ấy đùa tôi. Hôm đó, khoảng 2, 3 giờ sáng, khi tôi vừa chợp mắt được vài tiếng thì nghe bà ấy báo thức, bảo “Anh dậy mau, người trong Lăng gọi”. Tôi vội vàng bò dậy thay quần áo, định chạy xuống tầng một lấy xe thì bà ấy cười “Em đùa đấy”. Thực sự, lúc đó cũng chẳng giận vợ đâu. Đó cũng là kỷ niệm khó quên của tôi”.

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu

Thanh Thủy
bee.net.vn

Nói chuyện với Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội (20-6-1960)

Nhiệm vụ cách mạng hiện nay của Đảng ta là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Muốn làm được như thế, chúng ta phải đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Đấu tranh thống nhất nước nhà là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Chúng ta phải giáo dục kỹ cho cán bộ, đảng viên và đồng bào miền Nam, miền Bắc thấy rõ điểm đó, để khắc phục tư tưởng nóng vội. Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta lại kháng chiến tám, chín nǎm mới giải phóng được nửa nước. Trong cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, chúng ta cũng phải đấu tranh bền bỉ, lâu dài, nhưng chúng ta tin rằng nhất định chúng ta sẽ thắng lợi.

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí.

Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân. Muốn đảm bảo đời sống sung sướng mãi mãi, phải công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng công nghiệp nặng. Như thế phải vừa cải thiện đời sống, vừa tích luỹ. Cải thiện đời sống từng bước theo khả nǎng, đồng thời phải tích luỹ để kiến thiết.

Muốn uống nước thì phải đào giếng, đào giếng thì phải đổ mồ hôi, nhưng càng khó nhọc vất vả thì giếng càng sâu, càng nhiều nước.

Hà Nội có nhiều ưu điểm, nhưng cần lưu ý một số điểm sau:

– Về mặt công nghiệp, công tác quản lý xí nghiệp làm tốt, nhưng phong trào công nhân tham gia quản lý, cán bộ tham gia lao động về sau không được liên tục và hǎng hái như lúc đầu.

– Trong nông nghiệp, việc phát triển hợp tác xã và sản xuất lúa tuy khá nhưng việc giúp đỡ nông dân quản lý hợp tác xã thì chưa tốt lắm, việc chǎn nuôi gia súc, nuôi cá, làm công tác tiểu thuỷ lợi chưa được chú ý đầy đủ.

– Phong trào học tập vǎn hoá thì cao, như thế là tốt. Nhưng cần phải tǎng cường giáo dục chính trị kết hợp với vǎn hoá, làm cho mỗi người có ý thức học để phục vụ chủ nghĩa xã hội.

– Công tác vệ sinh ở Hà Nội cần được chú ý hơn nữa. Tuy so với hồi thuộc Pháp thì Hà Nội sạch hơn nhiều, nhưng chúng ta phải luôn luôn nhìn về phía trước mà tiến lên, cần đẩy mạnh công tác vệ sinh hơn nữa ở những khu nhà công nhân, trong các xí nghiệp, cơ quan và các khu lao động.

Ở Hà Nội, trong các xí nghiệp cũng như ở nông thôn, nǎng suất lao động của công nhân và nông dân còn thấp. Công suất máy móc trong các xí nghiệp mới sử dụng được khoảng trên dưới 70%, như thế còn rất lãng phí. Phải làm cho mỗi người thấy rõ: muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải lao động, phải hiểu rõ lao động là vẻ vang, do đó mà nâng cao nǎng suất lao động.

Muốn làm cho mọi công tác tiến lên nữa, cần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, và phải làm sao cho phong trào thi đua lúc nào cũng sôi nổi liên tục, thành hoạt động tự giác của mọi người.

Đối với công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, Đại hội cần chú ý đến đời sống của thợ thủ công và bà con buôn bán nhỏ đã vào tổ chức hợp tác. Ngoài ra cũng cần chú ý giúp đỡ cho nhà công thương tiến bộ hơn nữa sau khi họ đã tiếp thu cải tạo.

Phải nêu cao tinh thần cảnh giác. Cán bộ, đảng viên phải luôn luôn liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nhất là phải làm gương mẫu cho mọi người noi theo trong mọi mặt công tác. Các đoàn thể phụ nữ, công đoàn phải làm tròn nhiệm vụ của mình.

Số đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động ở Hà Nội hiện nay nhiều gấp 8 lần số đảng viên và đoàn viên trong cả nước hồi nǎm 1945. Với số lượng ấy, nhất định Đảng bộ Hà Nội sẽ làm tốt trong mọi công tác, động viên được toàn thể nhân dân Hà Nội phấn khởi sản xuất, học tập, hoàn thành kế hoạch nǎm 1960 và kế hoạch 3 nǎm, lấy thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III.

———————

Nói ngày 20-6-1960.
Báo Nhân dân, số 2285, ngày 21-6-1960
cpv.org.vn

Nói chuyện tại Hội nghị sơ kết phong trào “phấn đấu trở thành người lao động tiên tiến, tổ tiên tiến, đơn vị tiên tiến” (20-6-1960)

Phong trào thi đua yêu nước, phong trào cải tiến quản lý xí nghiệp, phong trào “tiên tiến”, ba phong trào đó kết hợp chặt chẽ với nhau, cùng nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phong trào bao giờ cũng bắt đầu từ thấp lên cao.

Phong trào “tiên tiến” của ta nếu được Đảng lãnh đạo chặt chẽ, Công đoàn và Đoàn Thanh niên Lao động làm đầy đủ vai trò của mình thì phong trào sẽ tiến mạnh. Các xí nghiệp phải tiếp tục làm tốt việc “công nhân tham gia quản lý, cán bộ tham gia lao động” đã được đề ra trong cuộc vận động cải tiến quản lý xí nghiệp. Cán bộ và công nhân phải ra sức học tập kỹ thuật, vǎn hoá, chính trị và nâng cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ của công. Muốn đẩy mạnh phong trào “tiên tiến” nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, các xí nghiệp phải có kế hoạch chu đáo, có biện pháp đầy đủ, cán bộ, đảng viên, đoàn viên gương mẫu trong mọi công việc. Các xí nghiệp phải chú ý hơn nữa việc cải thiện đời sống cho công nhân và đảm bảo an toàn lao động.

Nhà máy xúppe phốtphát (Phú Thọ) làm khá, Cọc 6 làm tốt. Đấy là tiên tiến. Các cô, các chú phải đến học tập hai nơi ấy, hai nơi ấy không phải là không có khó khǎn và khuyết điểm, nhưng cứ phải đến để học lấy những cái hay và giúp những nơi đó sửa chữa những khuyết điểm.

Việc phát huy thành tích cải tiến quản lý xí nghiệp phải qua phong trào tiên tiến này mà dần dần áp dụng một cách đầy đủ ba nguyên tắc quản lý xí nghiệp: “Đảng lãnh đạo, thủ trưởng phụ trách, công nhân tham gia quản lý”.

Để làm tốt phong trào “tiên tiến”, từ nay, cán bộ các xí nghiệp, công trường phải thực hiện bốn cùng với công nhân: cùng ǎn, cùng ở, cùng lao động, cùng bàn bạc.

———————

Nói ngày 20-6-1960,
Báo Nhân dân, số 2285, ngày 21-6-1960.
cpv.org.vn

Điện mừng Thái tử Xihanúc (21-6-1960)

Kính gửi Thái tử Nôrôđôm Xihanúc,
Quốc trưởng nước Campuchia,
Phnôm Pênh

Nhân dịp Thái tử nhận chức Quốc trưởng nước Campuchia, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi kính gửi Thái tử Quốc trưởng lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Chúc nhân dân Khơme, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Thái tử Quốc trưởng, thu được nhiều thắng lợi mới trong việc thực hiện chính sách hoà bình trung lập, xây dựng đất nước Campuchia ngày thêm phồn vinh, góp phần vào việc củng cố hoà bình ở Đông Dương, Đông – Nam á và thế giới.

Chúc tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam và Khơme ngày càng củng cố và phát triển.

Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

———————-

Báo Nhân dân, số 2285, ngày 21-6-1960
cpv.org.vn

Điện mừng quốc khánh nước Cộng hoà Cônggô (30-6-1960)

Kính gửi ông Giêxép Casavubu,
Quốc trưởng nước Cộng hoà Cônggô,
Lêôpônvin

Nhân dịp nước Cộng hoà Cônggô tuyên bố độc lập, thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến Ngài và nhờ Ngài chuyển đến nhân dân Cônggô lời chào mừng nhiệt liệt nhất.

Nhân dân Việt Nam rất vui mừng trước những thắng lợi to lớn của nhân dân Cônggô và tin chắc rằng với tinh thần đoàn kết của mình và được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân toàn châu Phi, nhân dân châu á và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, nhân dân Cônggô sẽ thu được nhiều thành tích trong sự nghiệp củng cố nền độc lập dân tộc và xây dựng đời sống phồn vinh, hạnh phúc.

Xin chúc tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Cônggô ngày càng phát triển và củng cố.

Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————-

Báo Nhân dân, số 2294, ngày 30-6-1960.
cpv.org.vn

Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh – giá trị nhân văn giữa học và hành đối với mọi cán bộ, đảng viên

Tự học là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người. Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(1).

Hai mươi mốt tuổi, ra đi với hai bàn tay trắng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành chỉ có một khát vọng cháy bỏng là tìm đường giải phóng dân tộc. Chính khát vọng đó đã hun đúc cho người thanh niên mảnh khảnh một sức mạnh phi thường, bền bỉ tự học, tự đào tạo để có đủ khả năng cứu nước, cứu dân. Đến đâu, Người cũng học, tìm mọi cách để học. Người tìm hiểu phong tục tập quán ở những nơi mình đi qua để nâng cao tri thức; học nghề để kiếm sống, kiếm sống để hoạt động cách mạng. Bác đã học và làm rất nhiều nghề khác nhau, bắt đầu từ việc làm thợ đốt lò trên tàu viễn dương, làm đầu bếp ở Mỹ, quét tuyết ở Anh, bốc thuốc ở Thái Lan, viết báo, viết truyện, viết kịch, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ… Làm rất nhiều việc, nhưng nhờ tự học mà Bác làm việc gì cũng giỏi. Khi tới thăm Việt Nam, danh họa người Pháp Picaso đã trao cho chúng ta những bản ký họa của Nguyễn Ái Quốc hồi còn ở Pa-ri và nhận xét: “Chỉ mấy nét vẽ này thôi, ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tiềm ẩn bên trong. Nếu tác giả tiếp tục con đường hội họa thì ắt sẽ trở thành một đại danh họa!”. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương phong phú và vô giá, tiêu biểu là tập thơ Nhật ký trong tù. Nhà Việt Nam học người Nga N.Phêđôrencô nhận xét: “Học chữ Hán cực khó, nắm vững nó, làm được thơ là một hiện tượng lạ, hiếm thấy… Nhật ký trong tù – một thi phẩm bằng chữ Hán có nội dung sâu sắc, ngôn từ, nhịp điệu phong cách rất riêng…”. Chắc chắn, nếu Bác không có quá trình nỗ lực tự học thì sẽ không làm được điều đó.

Trước khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), Bác đã học lớp Trung đẳng (lớp Nhì) tại Trường Quốc học Huế và lớp Cao đẳng (lớp Nhất) ở Trường Tiểu học Quy Nhơn với thầy Phạm Ngọc Thọ. Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, Người có học ở Trường Đại học Phương Đông (năm 1923), Đại học Quốc tế Lênin (năm 1934), nghiên cứu sinh Viện Nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (năm 1937) với luận án về cách mạng ruộng đất ở Đông nam Châu Á. Nhưng Bác chỉ nhận mình tự học và trên thực tế cả cuộc đời Bác vẫn tự học là chính. Năm 1935, dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Người ghi vào phiếu lý lịch của mình như sau: Trình độ học vấn: Tự học. Bác học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Người biết và sử dụng thông thạo trên mười ngoại ngữ nhờ tự học chứ không qua một trường đào tạo chính quy nào. Người học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân. Người học từ thực tiễn sinh động ở các nước đế quốc, nước thuộc địa, ở phong trào cách mạng trên thế giới. Phát biểu với sinh viên Trường Đại học Băng Đung trong chuyến thăm In-đô-nê-xi-a năm 1959, Người nói đại ý: Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học. Cuộc sống, du lịch và làm việc là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử và chính trị. Nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình; căm ghét áp bức, ích kỷ… Đại tướng Hoàng Văn Thái kể rằng, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thường thấy trên chiếc bàn con bên giường của Bác để đầy sách báo đang xem. Ông lo lắng đến sức khỏe của Bác, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức”. Bác trả lời, giọng như tâm sự mà rành rẽ, dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ư? Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là để nắm vững tình hình chứ!”. Những cuốn sách Người đọc ở thời gian cuối đời là các cuốn: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông, Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, The truth about Vietnam (Sự thật về vấn đề Việt Nam, NXB. Green Leaf Classic, 1966).

Cuộc đời của Bác là một quá trình: Vừa học tập vừa hoạt động cách mạng; học tập để hoạt động cách mạng, đạt được mục đích, lý tưởng của mình; qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Người là nơi hội tụ với tầm cao nhất tinh hoa văn hóa nhân loại, xứng đáng với sự tôn vinh của tổ chức UNESCO: Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Quá trình ấy đã tạo nên Hồ Chí Minh, một thầy giáo mẫu mực, một nhà giáo dục vĩ đại. Người đã để lại tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập suốt đời mà chúng ta phải noi theo. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Bác đã ghi: “Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó, Người còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… vốn ngoại ngữ đó của Bác không phải do “thiên bẩm” mà có, tất cả đều xuất phát từ sự khổ công luyện tập.

Việc tự học của Bác Hồ có mục đích cuối cùng là làm cách mạng, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chính là quá trình tự thích nghi, tự tìm tòi thâm nhập thực tiễn, đúc rúc kinh nghiệm, phát huy nội lực. Sâu xa hơn, đó là quá trình tự học, tự giáo dục để làm cho nhân cách và năng lực của mình phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, công việc. Khi tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Mát-xcơ-va vào tháng 8 năm 1935, Bác đã khai rõ trong lý lịch: “Họ và tên: Lin. Trình độ học vấn: Tự học”. Còn trong tập Nhật ký trong tù của Bác có bài Nghe tiếng giã gạo hết sức độc đáo: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”. Đó chính là ý chí tự học, tự rèn, tự phấn đấu không mệt mỏi. Người dạy: “Không chỉ có ở nhà trường, có lên lớp mới học tập… Trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều phải học tập!”. Người nói với cán bộ, chiến sĩ: “Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội cách mạng thì từ trên đến dưới, các cấp đều phải nghiên cứu học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”. Bác nói về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc rút kiến thức từ thực tiễn. Bác Hồ nhấn mạnh: “Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Đặc biệt, Người tự học với một động cơ trong sáng với ý nghuyện cao cả là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, soi xét trong thực tiễn đã qua, hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc; đó mãi là một tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của Đảng và nhân dân ta. Từng cán bộ, đảng viên cần ghi sâu những lời dạy của Bác về nghị lực học tập, rèn luyện để có đủ đức, đủ tài phục vụ nhân dân. Tấm gương tự học và những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tự giáo dục mãi mãi tỏa sáng, soi rọi cho mỗi chúng ta phấn đấu, rèn luyện, tự vươn lên trong tu dưỡng và rèn luyện bản thân để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao phó.

Tháng 4, năm 2012
Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh


(1) – Hồ Chí Minh T.T, T.8, Trang 215, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2000.
(2) – Sdd, T.5, Trang 684.
(3) – Sdd, T.8, Trang 499.
(4) – Sdd, T.9, Trang 290.

bqllang.gov.vn

Bài nói tại Đại hội đảng bộ các cơ quan Chính, dân, Đảng trung ương (1960)

Thảo luận các vǎn kiện Đại hội Đảng là một dịp học tập tiến bộ. Mỗi đảng viên, mỗi chi bộ cần cǎn cứ vào những vǎn kiện đó, liên hệ với công tác thực tế của mình, để nâng cao tư tưởng, ý thức tổ chức và kỷ luật, đồng thời đẩy mạnh công tác tiến bộ hơn nữa. Vì mỗi đảng viên tốt, mỗi chi bộ tốt là Đảng được mạnh thêm một phần; đảng viên kém, chi bộ kém là những khâu yếu của Đảng. Điều đó nói chung là đúng, nói riêng với các chi bộ ở các cơ quan chung quanh Trung ương càng đúng.

Cán bộ, đảng viên cần nêu cao hơn nữa tinh thần phấn đấu cách mạng của mình, khắc phục những thắc mắc cá nhân không đúng. Hiện nay ở miền Bắc nước ta, tuy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã xong, nhưng chúng ta còn phải tiếp tục kháng chiến chống một giặc khác, đó là giặc nghèo nàn, lạc hậu. Đấu tranh chống loại giặc này còn khó khǎn hơn chống giặc Pháp, giặc Nhật trước kia nhiều. Cho nên đảng viên ta cũng phải có thêm tinh thần như thanh niên: “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Công việc cách mạng cũng như các bộ phận trong chiếc thuyền, bộ phận nào cũng quan trọng cả. Nếu các bộ phận ấy suy bì với nhau thì không được. Ví dụ như chèo thì luôn luôn vùng vẫy. Lái thì ngâm mình dưới nước ở tận sau thuyền, dưới ướt trên khô. Buồm thì thảnh thơi. Lái suy bì với chèo, chèo suy bì với buồm: “Anh buồm nằm yên một chỗ, đến khi cǎng lên, có trǎng có gió,

trông thật thảnh thơi ai ai cũng thấy. Còn tôi vất vả suốt ngày mà chẳng ai thấy”. Ba bộ phận đòi đổi cho nhau: Lái làm buồm, buồm làm chèo, chèo làm lái. Như thế sẽ đi đến đâu? Sẽ không thành chiếc thuyền nữa. Ta đang làm cách mạng, có bộ phận này làm việc này, có bộ phận khác làm việc khác, các công việc đều cần thiết, đều vẻ vang cả. So với số lượng đảng viên của Đảng ta lúc Cách mạng Tháng Tám, số đảng viên ở các cơ quan Trung ương hiện nay đông hơn gấp bốn lần. Đó là chưa kể hơn một vạn đoàn viên thanh niên lao động. Cho nên, phải lãnh đạo đảm bảo công tác chuyên môn cho tốt. Mỗi đảng viên phải nhận rõ nhiệm vụ của mình là phải tiến bộ trong công tác tiến bộ về tư tưởng, làm gương mẫu trong mọi công việc, đồng thời lấy tinh thần của người đảng viên cộng sản giúp đỡ anh em ngoài Đảng cùng tiến bộ. Các chi bộ phải thi đua với nhau, giúp đỡ lẫn nhau làm tròn nhiệm vụ.

Cần nâng cao tinh thần làm chủ. Ví dụ như nhà mình có rác thì phải cầm chổi mà quét chứ không phải kêu la mà nhà sạch được. Kêu la mà không tự mình quét là thiếu tinh thần cách mạng, tinh thần làm chủ. Người cách mạng phải lo lắng trước nhân dân, nhưng phải lo lắng cho đúng. Có đồng chí thông cảm với khó khǎn của nhân dân, nhưng chưa đúng cách, muốn đời sống nhân dân được cải thiện nhưng không muốn Nhà nước tích luỹ vốn. Đảng và Chính phủ ta rất quan tâm đến đời sống của quần chúng. Vì chủ nghĩa xã hội là nhằm mục đích cải thiện không ngừng đời sống của nhân dân. Muốn thế phải ra sức tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tích luỹ xây dựng nông nghiệp, công nghiệp. Liên Xô trong hơn 40 nǎm cách mạng đã phải mất 18 nǎm đầu thắt lưng buộc bụng, xây dựng nước nhà. Sau Đại chiến thứ hai bị phát xít Đức tàn phá nặng nề, Liên Xô phải thắt lưng buộc bụng lần nữa để khôi phục và phát triển kinh tế. Trung Quốc cũng phải tiết kiệm rất dữ để xây dựng đất nước. Ta nhờ có Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em giúp, nên ta không phải thắt lưng buộc bụng đến mức như Liên Xô sau Cách mạng Tháng Mười. Nhưng các nước anh em giúp chỉ là một phần. Còn tự lực cánh sinh là chính. Cho nên ta phải nêu cao tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà.

Trước và trong khi Đại hội Đảng toàn quốc họp, toàn Đảng, toàn dân ta có tinh thần phấn khởi hǎng hái thi đua hay không, đó là do công tác của cán bộ, đảng viên ta có tốt hay không. Sau Đại hội Đảng chúng ta sẽ bước vào kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất. Chúng ta phải có mộttinh thần quyết chiến quyết thắng và phải biến quyết tâm đó thành quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân. Làm được như thế, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, đẩy mạnh cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Làm được như thế, riêng các cô, các chú sẽ được vinh dự xứng đáng đứng trong đội tiên phong phất cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác-Lênin.

——————————

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1962, t.VI, tr.95-97.
cpv.org.vn

Điện mừng nước Gana thành lập chính thể cộng hoà (3-7-1960)

Kính gửi Ngài Encruma,
Tổng thống nước Cộng hoà Gana,
Acra

Nhân dịp nước Gana tuyên bố thành lập chính thể cộng hoà và nhân dịp Ngài nhận chức Tổng thống nước Cộng hoà Gana, tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân tôi, gửi tới Ngài và nhân dân Gana lời chúc mừng nhiệt liệt.

Kính chúc Ngài luôn luôn mạnh khoẻ, nhân dân Gana hạnh phúc và phồn vinh. Chúc tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta ngày càng phát triển.

Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————-

Báo Nhân dân, số 2297, ngày 3-7-1960.
cpv.org.vn

Quốc hội ta vĩ đại thật (10-7-1960)

Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa mới thành lập. Chính phủ ta đang chân ướt chân ráo. Nạn đói khủng khiếp do Nhật và Tây gây ra, đang hoành hành. ở miền Nam, đế quốc Anh đang giúp thực dân Pháp đánh nhau với ta. ở miền Bắc thì quân Tưởng Giới Thạch ra sức giúp bọn Quốc dân đảng Việt Nam quấy rối… Hồi đó, có người nói: Nhân dân ta trình độ còn kém, không nên vội tổ chức tổng tuyển cử. Nhưng Đảng ta kiên quyết nói: Đồng bào ta phải được hưởng quyền dân chủ, chúng ta phải tổ chức tổng tuyển cử.

Đảng đã làm đúng. Khắp cả nước từ Bắc đến Nam, đồng bào đã sôi nổi tham gia tổng tuyển cử. Trong vùng tạm bị chiếm ở miền Nam, mặc dù giặc khủng bố ráo riết, đồng bào ta vẫn hǎng hái tham gia bầu cử. Nhiều đảng viên và cán bộ vì hoạt động cho cuộc bầu cử mà đã bị giặc bắt bớ, bắn giết.

Quốc hội đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Quốc hội khoá I – đã được toàn dân bầu ra. Những việc quan trọng nhất Quốc hội đã làm là: tuyên bố kháng chiến cứu nước, thông qua Luật cải cách ruộng đất, thông qua Hiến pháp mới.

Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp đã đưa nước ta dâng cho Nhật. Sau cuộc kháng chiến, Pháp lại tình nguyện để cho Mỹ hất cẳng chúng ra khỏi miền Nam và đã trốn tránh trách nhiệm họ đã cam kết trong Hiệp định Giơnevơ. Đế quốc Mỹ tạm thời thực hiện được âm mưu cướp nước và Ngô Đình Diệm đã tạm thời thực hiện được âm mưu bán nước. Vì Mỹ – Diệm và

Pháp mà nǎm 1956 không có cuộc tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam. Vì Mỹ – Diệm và Pháp mà trong cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khoá II của ta, đồng bào miền Nam chỉ có thể tham gia bằng tinh thần.

Cuộc tổng tuyển cử Quốc hội khoá II là một thắng lợi rất to lớn của nhân dân ta. Khắp miền Bắc, bình quân hơn 97% cử tri đã tham gia bỏ phiếu. Nơi dân cư thưa thớt và giao thông khó khǎn nhất (như Hà Giang) số phiếu cũng đạt gần 93%. Một phần tư trong số 22.530 khu vực bỏ phiếu, 100% cử tri đã tham gia bầu cử.

Điều đó chứng tỏ trình độ chính trị cao của đồng bào ta.

Quốc hội quyết định kéo dài nhiệm kỳ của 91 vị đại biểu do đồng bào miền Nam bầu cử trong khoá I. Có 34 đồng bào miền Nam tập kết đã được bầu trong khoá này.

Điều đó chứng tỏ tinh thần đoàn kết và quyết tâm thống nhất đất nước của nhân dân ta.

Trong 362 đại biểu mới, có:

50 công nhân

46 nông dân

20 quân nhân

65 lao động trí óc

56 đại biểu đồng bào miền núi

49 phụ nữ

40 thanh niên

78 vị là anh hùng quân đội, anh hùng và chiến sĩ lao động

2 vị đại biểu đạo Phật

14 vị linh mục và đại biểu công giáo.

Không có Quốc hội một nước tư bản nào được nhân dân tín nhiệm với số phiếu cao như vậy; tỏ rõ sự đoàn kết, bình đẳng và bao gồm những thành phần thật sự đại biểu cho đại đa số nhân dân như vậy. Không cần so sánh với những cuộc “tuyển cử” gian lận của bọn Mỹ- Diệm, chúng ta hãy lấy Quốc hội Pháp làm ví dụ. Vì luật tuyển cử không dân chủ và không bình đẳng, mà trong Quốc hội Pháp hiện nay:

1 nghị sĩ của Đảng Liên minh Cộng hoà mới chỉ đại biểu cho 19.068 cử tri,

1 nghị sĩ Phong trào Cộng hoà bình dân (MRP) đại biểu cho 46.938 cử tri,

1 nghị sĩ Đảng Cộng sản thì đại biểu cho 388.220 cử tri.

Quốc hội khoá I của ta là Quốc hội kháng chiến. Quốc hội khoá II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Vì vậy, để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tǎng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Nói tóm lại, phải lấy việc làm thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

T.L.

—————————

Báo Nhân dân, số 2304, ngày 10-7-1960.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá II (15-7-1960)

Thưa các đồng chí đại biểu Quốc hội,

Chúng tôi rất cảm ơn Quốc hội, và kinh qua Quốc hội, cảm ơn đồng bào đã tin cậy và giao cho chúng tôi nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là lãnh đạo Nhà nước.

Nhân dịp này tôi muốn tóm tắt so sánh tình hình khó khǎn những ngày đầu của Quốc hội khoá trước và tình hình tươi sáng hiện nay, để thấy rõ những bước tiến to lớn của phe ta và của nước ta.

– Nǎm 1945-1946, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đang phải ra sức hàn gắn những vết thương khủng khiếp do Chiến tranh thế giới lần thứ hai gây ra. Trong phe xã hội chủ nghĩa, số người chưa đông và đất đai chưa rộng bằng ngày nay, vì cách mạng Trung Quốc chưa thắng lợi. Bọn thực dân còn thống trị nhiều nước ở châu Á, châu Phi.

Ở nước ta lúc đó Cách mạng Tháng Tám vừa mới thành công và nhân dân ta đang phải đối phó với sự đe doạ, sự bao vây của đế quốc, với bọn phản cách mạng trong nước, với những thiên tai liên tiếp.

Ngày nay, tình hình đã khác hẳn, phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ đại bao gồm một phần tư đất đai toàn thế giới và hơn 1.000 triệu người đoàn kết như anh em một nhà. Nước ta đã dính liền với đất đai rộng lớn bao la của phe ta. Kinh tế và vǎn hoá của phe ta tiến bộ vùn vụt, ví dụ: tên lửa của Liên Xô đã đổ bộ lên mặt trǎng, mà nếu cần thì có thể đổ bộ lên đầu bọn đế quốc gây chiến.

Nhiều nước châu á và châu Phi đã giành được quyền độc lập và đều mong muốn hoà bình, đều chống chủ nghĩa thực dân. Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc đương phát triển vô cùng mạnh mẽ. Địa bàn và thế lực của bọn đế quốc đã rút hẹp rất nhiều. Phong trào chống đế quốc, nhất là chống đế quốc Mỹ sôi nổi khắp nơi. Lực lượng hoà bình đương đẩy lùi lực lượng hiếu chiến của phe đế quốc. Rõ ràng chủ nghĩa đế quốc đương đi đến tan rã không thể nào tránh khỏi.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một thành viên trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa. Do sự cố gắng không ngừng của nhân dân ta và sự giúp đỡ hết lòng của các nước anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, ta đang tiến nhanh về mọi mặt chính trị, kinh tế, vǎn hoá…

So sánh bản địa đồ thế giới ngày nay với mười lǎm nǎm trước thì ai cũng thấy rõ rằng:

Phe địch xuống dốc, phe ta lên cao,
Mười lǎm nǎm ấy biết bao nhiêu tình.

Tình hình chung thế giới rất có lợi cho ta. Nhưng do Mỹ – Diệm mà nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Đồng bào ta ở miền Nam đang bị đày đoạ dưới ách thống trị dã man của chúng và đang đấu tranh anh dũng để đòi thống nhất và tự do. Vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của nhân dân, Quốc hội và Chính phủ ta là: phải ra sức phấn đấu để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà và góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông – Nam Á và thế giới.

Kỳ họp này của Quốc hội ta đã kết quả thắng lợi.

Quốc hội đã nhất trí thông qua bốn đạo luật tổ chức bộ máy lãnh đạo Nhà nước.

Thông qua báo cáo công việc của Chính phủ trong sáu tháng đầu nǎm.

Bầu các cơ quan và các người lãnh đạo Nhà nước.

Tôi mong rằng các đồng chí đại biểu trở về địa phương và đơn vị của mình sẽ báo cáo với đồng bào những thắng lợi ấy để khuyến khích đồng bào càng thêm hǎng hái thi đua yêu nước, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, nhất là ra sức làm vụ mùa thắng lợi.

Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đày tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:

Thực hành cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư.

Gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động.

Luôn luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác và hoà mình với quần chúng thành một khối.

Nhân dân ta rất anh dũng. Chúng ta làm đúng những điều đó thì công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi, đấu tranh thống nhất nước nhà nhất định thành công. Một lần nữa tôi xin thay mặt Đảng, Chính phủ và Quốc hội gửi lời chào thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc và miền Nam.

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

———————–

Nói ngày 15-7-1960.
Vǎn kiện Quốc hội khoá II, Kỳ họp thứ nhất, phiên họp bế mạc, ngày 15-7-1960, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I
cpv.org.vn