Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Người phi công hơn 8000 giờ bay phục vụ Bác Hồ

Ông Trần Ngọc Bích là một trong những phi công được giao nhiệm vụ chở Bác Hồ và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Lào.

Bữa cơm bình dị bên Người

Tháng 10 năm 1953, khi chưa đủ 19 tuổi, nghe tiếng gọi lên đường của Tổ quốc, ông Trần Ngọc Bích quê ở thôn Vạn Phúc Trung (xã Trường Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh) lên đường nhập ngũ. Đến tháng 2 năm 1956, ông được tuyển chọn đi học lái máy bay phục vụ chiến đấu. Sau đó hai năm, người đàn ông này tốt nghiệp xuất sắc lớp máy bay TU2 (máy bay thả bom).

Vào thời điểm đó, tình hình trong nước có một số biến động nên ông Bích phải chuyển sang học lớp máy bay AN2 (máy bay vận tải). Sau khi hoàn thành khóa học tháng 2 năm 1960, Trần Ngọc Bích về nước tham gia vào Đoàn bay 919, thuộc Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam.

Đoàn học viên không quân Việt Nam lúc ấy cử đi 18 người ra nước ngoài học lái máy bay. Trong đó có đồng chí Đào Đình Luyện, sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đến năm 1960, sau khi tốt nghiệp lớp phi công loại xuất sắc, ông Bích cùng với đồng chí Hoàng Trọng Khai được điều về Trung đoàn Không quân vận tải 919. Khi đó, Thiếu úy Trần Ngọc Bích được phân công phụ trách lái máy bay trực thăng Mi-4. Đó là loại trực thăng do Liên Xô sản xuất, tốc độ bay tối đa 220km/giờ, tải trọng 1,4 tấn.

8000 gio bayÔng Trần Ngọc Bích hào hứng kể lại nhưng năm tháng được phục vụ Bác

Khi ấy, nước ta có ba chiếc máy bay trực thăng, tuy nhiên chưa có người lái. Trước tình hình đó, Liên Xô đã cử một chuyên gia dạy lái máy và một thợ sửa máy sang giúp đỡ.

“Khi chuyên gia Menlêép lái máy bay đưa Bác đi công tác đã thiếu lái phụ nên tôi được đảm nhận nhiệm vụ thiêng liêng đó. Không lâu sau, Đoàn bay 919 thành lập một tổ bay phục vụ Bác và Bộ chính trị”, ông Bích tâm sự.

Trong chín năm phục vụ Bác, người phi công trẻ Trần Ngọc Bích không biết mình đã bao nhiêu lần lái chiếc máy bay VN51Đ và chiếc Lốc xoáy 48 đưa Bác đi công tác xa. Nói chuyện với chúng tôi, ông Bích hồi tưởng: Vào 1963, tôi lái máy bay đưa Bác về thăm đồng bào Tuyên Quang, thăm lại căn cứ địa cách mạng ở cây đa Tân Trào. Ngày đó, ở Tuyên Quang, trời nắng như đổ lửa, đất ruộng nứt nẻ như sa mạc. Đi cùng với Bác có đồng chí Phạm Ngọc Thạch, đồng chí Vũ Kỳ và đồng chí Trần Đăng Ninh.

Buổi chiều máy bay đáp xuống Tuyên Quang nên lịch trình của Bác là nghỉ đêm, ăn sáng xong thì mới lên máy bay di chuyển vào Tân Trào. Hôm đó trời đã trưa thì máy bay mới hạ cánh xuống cánh ruộng lúa vừa gặt xong. Bác Hồ đi bộ đến một khe suối và nói với mọi người rửa tay chân rồi ăn cơm.

“Nhìn Bác dùng tay khoát nước lên rửa tay chân, tôi không ngờ trên thế giới này lại có một vị Chủ tịch giản dị như thế”, phi công Trần Ngọc Bích kể. Theo lời ông Bích, không có bữa cơm nào mà bình dị như bữa cơm ở Tân Trào năm 1963. Bác cùng với đoàn đã trải một chiếc ni lông rồi dùng dao thái từng nắm cơm nắm ra ăn. Bác lấy cho mỗi người một miếng cơm và nói: “Các chú ăn no vào, tối chúng ta mới về đến Hà Nội”.

Cảm động chuyến bay cuối được phục vụ Bác

Có lẽ, kỷ niệm ông Bích nhớ nhất trong quá trình bay phục vụ Bác là cú hạ cánh sai địa điểm. Do chưa có sự thống nhất giữa trung đoàn và bộ phận an ninh nên phi công Trần Ngọc Bích đã đáp máy bay xuống sân bê tông ở Sơn Tây để đón Bác.

Thấy Bác đến, họ ùa vây quanh kính cẩn chào hỏi Bác Hồ. Gặp người dân, Bác Hồ đã ân cần hỏi thăm bộ đội và nhân dân gần đó rồi tạm biệt mọi người lên đường.

Ngoài nhiệm vụ bay vận chuyển vũ khí và lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, máy bay Mi-4 do ông Bích lái còn đảm nhiệm nhiệm vụ đặc biệt là bay phục vụ Bác Hồ và các đồng chí Trung ương Đảng đi công tác.

Một kỷ niệm có lẽ mà trong cuộc đời phi công Trần Ngọc Bích nhớ mãi đó là ngày 15/2/1960, Trung đoàn 919 được đón Bác Hồ đến thăm. Ông Bích nhớ lại: Trong buổi nói chuyện hôm đó, sau khi nói về vị trí, nhiệm vụ của không quân và sự hiệp đồng của ngành hàng không, Bác đã chốt lại ba điều căn dặn: “Điều thứ nhất, Bác muốn dặn mỗi người phải vì dân, vì nước lập công xuất sắc. Điều thứ hai, mọi người phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau trong mọi mặt công tác, học hành và đời sống hàng ngày. Điều thứ ba là từ lãnh đạo đến nhân viên phục vụ đã có thành tích rồi thì càng phải cố gắng nhiều hơn nữa.

Người lính già nhớ lại chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác. Đó là tối ngày 23/4/1968. Sau khi hạ cánh an toàn xuống sân bay Bạch Mai, Bác đã gọi Tổ bay lại chia kẹo, thuốc lá cho từng người. Bác hỏi chuyện thân mật và không ai ngờ được đó lại là chuyến bay cuối cùng họ được chở Người.

Ngày 19/12/1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trung đoàn Không quân trực thăng 916 trực thuộc Sư đoàn 371. Đại úy Trần Ngọc Bích được bổ nhiệm giữ chức Trung đoàn trưởng. Năm 1977, ông chuyển về công tác tại Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 1983, người phi công ngày nào đảm nhiệm cương vị Phó Hiệu trưởng Trường Chỉ huy Kỹ thuật Không quân, rồi đến  năm 1990 thì nghỉ hưu. Người lính già trở về với bên dòng sông La hiền hòa.

Hiện nay trong ngôi nhà của mình, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang nghiêm nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng. Đó là năm chiếc máy bay trực thăng  Mi – 8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành gần Lăng Bác. Trong trái tim người lính già, những kí ức về Bác Hồ mãi mãi khắc sâu.

Hà Hằng – Kim Long
Theo
 
nguoiduatin.vn
Phương Thúy
(st)
bqllang.gov.vn

Chuyện về gia đình được Bác Hồ tặng áo lụa

Chúng tôi về thành phố Nam Định vào một ngày thu giữa tháng 9. Tiết trời trong veo và thanh bình khiến cho tôi càng háo hức sải bước tìm đến gia đình vốn được Bác Hồ ngợi khen là “Một nhà trung hiếu – Muôn thuở thơm danh”. Đó là gia đình ông Tạ Quang Tám (trú tại số nhà 87, đường Trần Thánh Tông, thành phố Nam Định).

Bốn người con cùng hi sinh trong một trận đánh

Tranh thủ thời gian đợi gia chủ về, tôi đã kịp bắt chuyện với những người hàng xóm trong con phố nhỏ nơi vợ chồng ông Tám sinh sống. Dường như chỉ nhắc đến cái tên Tạ Quang Tám, những người dân nơi đây ai cũng có thể kể vanh vách về những chiến công của gia đình ông cũng như những kỉ niệm xúc động liên quan đến câu chuyện gia đình ông được Bác Hồ tặng áo và viết thư ngợi khen vì sự hy sinh cao cả cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đang tiếp chuyện với người hàng xóm làm nghề thợ hàn ở căn nhà đối diện, bỗng từ xa tôi nhìn thấy một người đàn ông dáng nhỏ thó từ từ đạp xe tiến dần về phía ngôi nhà số 87. Người hàng xóm nói với tôi đó là người tôi đang cần tìm gặp. Tôi ngỡ ngàng khi biết rằng dù đã ở tuổi 83 nhưng ông Tám còn khá khỏe khoắn, sáng sáng vẫn đạp xe đi tập thể dục và thăm thú bà con, bạn bè.

gdBức trướng thêu nội dung bức thư của Bác Hồ.

Biết nhà có khách, ông Tám vồn vã mời tôi vào tiếp chuyện. Đến căn nhà nhỏ nơi vợ chồng ông cùng cô con gái cả sinh sống có lẽ điều khiến mỗi vị khách khó quên nhất là những tấm bằng Tổ quốc ghi công xếp kín trên tường, cạnh đó là bức trướng thêu trọn nội dung bức thư Bác Hồ khen tặng gia đình ông. Rót xong chén nước mời khách, giọng ông như chùng xuống, lần giở dòng hồi tưởng nhớ về những ngày tháng đã qua của gia đình.

Gia đình ông vốn có truyền thống cách mạng. Cụ thân sinh ra ông là Tạ Quang Yên (người gốc ở Huế) – một nhà Nho yêu nước trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công đã hăng hái tham gia Hội Liên Việt, còn mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Nuôi hoạt động trong Hội Phụ nữ cứu quốc. Gia đình ông có 9 anh chị em (8 anh em trai và 1 chị gái). Thừa hưởng tinh thần yêu nước từ cha mẹ, 9 anh chị em sớm được giác ngộ và hăng hái tham gia các hoạt động chiến đấu tại địa phương. Người anh cả là ông Tạ Quang Trường sau khi tham gia giành chính quyền thành công trong Cách mạng Tháng Tám đã hòa mình vào đoàn quân Nam tiến lên đường vào Nam chiến đấu. Noi gương người anh cả, bốn người anh kế tiếp của ông cũng hăng hái chiến đấu trong Trung đoàn 34.

Đến tháng 3 năm 1947, Bộ Chỉ huy Quân đội Pháp ở Đông Dương quyết định mở cuộc hành quân giải vây cho quân của chúng ở Thành phố Nam Định và đã huy động một lực lượng lớn từ Hà Nội theo đê sông Hồng tiến xuống. Bốn người anh của ông Tám khi ấy đã cùng các đồng đội đón đầu, đánh chặn địch, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công và đã anh dũng hi sinh. Đón nhận tin cả bốn đứa con trai yêu quý cùng ra đi một ngày, bố mẹ ông dường như qụy ngã.

“Cha tôi như phát điên lên. Tôi không thể quên được ánh mắt của cha tôi lúc ấy, vừa đau đớn quằn quại, vừa rực lửa căm hờn. Có lẽ vì người đã chứng kiến sự hi sinh của quá nhiều đồng đội, đồng bào và giờ đây là những đứa con mình rứt ruột sinh ra. Mẹ tôi vẻ ngoài có phần điềm tĩnh hơn. Nhưng tôi biết nước mắt mẹ chảy ngược vào trong, bà không khóc nổi bởi nỗi đau ấy có lẽ không có gì diễn tả hết”, ông Tám nghẹn ngào, khóe mắt đỏ hoe.

Vượt qua nỗi đau mất 4 đứa con, cha mẹ vẫn tiếp tục động viên ông và cậu em trai út là Tạ Quang Mười tham gia Cách mạng. Ngày đó, ông được giao nhiệm vụ làm liên lạc, nắm bắt tình hình, thăm dò đường đi lối lại và truyền lệnh của cấp trên cho các đơn vị của Trung đoàn 34 để các đồng đội chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh khai hỏa mở màn cho cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Nam. Người em trai của ông sau này cũng tham gia vào Sư đoàn Cao xạ. Anh chiến đấu anh dũng và hi sinh tại Vĩnh Linh (Quảng Trị) vào năm 1972. Ghi nhận những hi sinh đóng góp của gia đình ông, thân mẫu của ông là cụ Nguyễn Thị Nuôi đã được tặng danh hiệu Bà mẹ Nam Hà và năm 1994 cụ đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Giữ áo Bác tặng giữa lòng địch

Tự hào về truyền thống gia đình, ông Tám lại kể cho tôi nghe về món quà mà ông nói là vô giá và quý trọng nhất của gia đình. Năm 1947, khi biết tin về sự hy sinh anh dũng của bốn người anh của ông, nhân ngày Quốc khánh 2/9/1947, cụ thân sinh của ông đã được Bác Hồ tặng một áo lụa và gửi thư khen. Năm ấy, ông Tám 17 tuổi và đã tham gia làm liên  lạc cho Trung đoàn 34. Ngày gia đình ông được vinh dự về thôn Ngọc Tỉnh (thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định ngày nay) để đón nhận quà và thư của Bác Hồ, ông vẫn đang đi làm nhiệm vụ. Qua lời của cha mẹ, ông vẫn nhớ như in cảm xúc tự hào ấy.

gd2Ông Tạ Quang Tám bên những tấm huân chương của gia đình.

Ông Tám được cụ thân sinh kể lại, trong buổi lễ mít tinh tuyên dương các anh hùng liệt sĩ được Tỉnh đội Nam Định tổ chức năm 1947, bức thư và tấm áo lụa Bác Hồ tặng được rước trang trọng trong buổi lễ và được cán bộ tỉnh trao cho gia đình ông. Tấm áo lụa cổ cao màu vàng, 5 tà trước đó là quà của nhân dân tặng Bác Hồ. Bên ngực phải có thêu chữ: “Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Kim Sơn, Ninh Bình”, ngực trái có ghi dòng chữ Hồ Chủ Tịch tặng kèm theo chữ ký của Bác. Gia đình ông trân trọng và coi đó như một báu vật. Cha ông chỉ mặc tấm áo vào những dịp trang trọng nhất. Ngày quân đội Pháp đánh chiếm Thái Bình và Nam Định, cả gia đình tìm mọi cách để cất giấu tấm áo. Lũ tay sai gián điệp trong lòng địch nhanh chóng đánh hơi được gia đình ông được nhận kỷ vật của Bác Hồ nên ngày đêm cho quân săn lùng. Song với tài khéo léo và nhanh nhẹn của mẹ ông, tấm áo đã được cất giấu an toàn. Kẻ địch gian manh nhưng không hề biết được rằng mẹ ông Tám đã sẵn sàng xé phăng tấm chăn bông để nhét tấm áo vào giữa rồi khâu kín lại. Cứ vậy, tấm áo nằm trong lõi chiếc chăn đã sưởi ấm cho gia đình ông qua bao mùa đông giá lạnh.

Đến năm 1956, tỉnh đội Nam Định đã mượn chiếc áo Bác tặng đem đi triển lãm ở một số nơi và sau đó chuyển về cho một Bảo tàng trong tỉnh. Lúc đầu, ông Tám cũng có ý định giữ món quà đó cho riêng gia đình, song ông lại quyết định dành tặng cho bảo tàng để đông đảo người dân được chiêm ngưỡng tấm áo. Bởi đó không chỉ là một tấm áo lụa đơn thuần mà còn là minh chứng cho sự hy sinh lớn lao của bao thế hệ người Việt Nam vì nền độc lập dân tộc.

Khi được hỏi về bức thư Bác Hồ gửi, ông Tám vô cùng luyến tiếc cho biết, bức thư ấy đã không may lưu lạc trong những ngày sơ tán. Thời gian gia đình sơ tán ở Thái Bình, cha ông đã cho thư vào một túyp thuốc rồi chôn tại chợ Gốc (Thái Bình) để quân địch không tìm thấy được. Sau ngày chiến tranh, gia đình đã nhiều lần về chợ Gốc, lật tung nhiều ngóc ngách nhưng vẫn không tài nào tìm lại được nơi đã cất giấu bức thư. Mặc dù bị thất lạc nhưng ông Tám vẫn nhớ như in bức thư được Bác đánh máy với nội dung: “Kính gửi cụ Tạ Quang Yên ở Nam Định: Tôi rất cảm động được báo cáo rằng cụ có 8 người con trong đó 6 người tham gia kháng chiến, mà bốn người đã oanh liệt hy sinh vì Tổ quốc. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi và tặng cụ mấy chữ: Một nhà trung hiếu, muôn thuở thơm danh. Nhân dịp này tôi xin biếu cụ 1 chiếc áo mà đồng bào đã biếu tôi. Chúc cụ mạnh khỏe và sống lâu”.

Sau này, để lưu giữ những lời vàng ngọc ấy cũng như nhắc nhở con cháu về truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình, ông Tám đã thuê người thêu toàn bộ nội dung bức thư lên một tấm vải lụa màu đỏ và treo trang trọng trong nhà. Phía trên bức trướng là tấm ảnh Bác Hồ với nụ cười hiền hậu.

Giờ đây đã ở tuổi xưa nay hiếm, nối tiếp truyền thống của gia đình, những ngày tháng còn lại của cuộc đời mình, ông Tám vẫn tích cực tham gia các hoạt động của địa phương để sống sao cho xứng đáng với niềm tin yêu và phần quà mà vị lãnh tụ kính yêu trao tặng.

Phạm Hạnh
Theo Báo Nam Định
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Dân với Chính phủ, Chính phủ với dân

Bác Hồ và Chính phủ cách mạng đầu tiên của Việt Nam ra mắt quốc dân

Cách đây 63 năm, ngày 15 tháng 10 năm 1949, Báo Sự Thật đã đăng bài viết “Dân vận” của X.Y.Z (bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Bài báo rất ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc, súc tích và đầy đủ. Cho đến nay, bài báo này vẫn được coi là “cẩm nang” của công tác dân vận. Đặc biệt, ngay từ đó, Bác Hồ đã nhấn mạnh “Nước ta là nước dân chủ”:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Không phải đến năm 1949, mà ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong nhiều bài viết Bác đã khẳng định địa vị làm chủ của người dân và bổn phận phục vụ của các cấp chính quyền từ Trung ương. Bác Hồ đã khẳng định rõ ràng “Chính phủ là công bộc của dân” khi Người lấy chính câu này làm tít bài báo đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 19-9-1945. Trong bài báo đó Bác Hồ đã nói: “Người xưa nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân”; cho nên “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 17-10-1945, Bác Hồ tiếp tục khẳng định: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”. Trong một lần nói chuyện tại Trường Công an trung cấp khóa 2, Bác nói: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần nữa”. Thậm chí, trong một lần nói chuyện với đại biểu nhân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa, Bác Hồ còn quả quyết rằng “Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”.

Như vậy, qua những lời căn dặn của Bác, cho đến nay, quan điểm chủ đạo Chính phủ là “do dân cử ra”, để phục vụ dân, đại diện cho dân quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, không được làm gì có hại cho dân vẫn còn nguyên giá trị. Thế nhưng, trong thực tế hiện nay, đây đó trong cả nhận thức cũng như việc làm lại có những hiện tượng ngược lại với quan điểm nói trên. Chẳng hạn, cơ chế xin – cho là biểu hiện của sự ban phát: Có người xin và có người cho. Người xin ở đây là người dân, những cơ quan, tổ chức đại diện cho người dân ở cấp dưới. Người cho ở đây là các cấp chính quyền, các cơ quan nhà nước và cao hơn là Chính phủ. Thường thì mọi quan hệ cho – nhận là mối quan hệ không dựa trên nghĩa vụ và quyền lợi mà dựa trên sự hảo tâm đầy cảm tính và tùy tiện. Về bản chất chế độ ta, Chính phủ do dân cử ra, hay nói một cách thị trường thì là những người làm thuê cho dân. Tiền lương, mọi chi phí cho bộ máy, phương tiện làm việc, đi lại của bộ máy hành chính lấy từ nguồn thuế của người dân và những tài sản quốc gia từ khai thác tài nguyên thiên nhiên. Chính phủ khi tạo ra của cải vật chất thông qua điều hành, quản lý sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ thì của cải đó thuộc về ông chủ, tức người dân. Ấy thế mà khi những người đày tớ làm thất thoát hàng chục, hàng trăm nghìn tỷ đồng thì “người đày tớ” vẫn không bị “đuổi việc” không bị bồi thường nghĩa là sao?

Người dân, từ chỗ là ông chủ lại trở thành người phụ thuộc và phải đi xin Chính phủ. Chính vì vậy, người dân trở thành người lệ thuộc và mỗi lần đến cơ quan công quyền thường lo sợ vì cứ nghĩ là mình phải đi xin và là người chịu ơn các cơ quan công quyền, cũng như những cá nhân thực thi công vụ ở đó. Nếu may mắn, người dân gặp được những người thi hành công vụ biết điều, tốt bụng thì được nhờ. Không may gặp phải những người gây khó khăn, nhũng nhiễu, cản trở thì người dân cũng chỉ cam chịu, không biết kêu ai bởi “quan thì xa, bản nha thì gần”. Thực trạng khá phổ biến như trên trong xã hội hiện nay nói lên một thực tế ngược đời rằng: Những người “làm thuê” cho dân lại đang đứng ở vị trí của “ông chủ”. Nhiều người làm thuê này lại ý thức, tự hào về địa vị “ông chủ” của mình, tự thấy mình đứng ở phía trên người dân để ban phát, dạy bảo.

Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không phải chỉ là câu chữ, ngữ nghĩa nữa mà phải thật sự trao quyền làm chủ cho người dân, nhất là dân chủ trực tiếp. Để nhà nước thật sự là “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” chứ không thể là khẩu hiệu suông. Không để tình trạng mập mờ chủ – tớ như hiện nay. Nhân dân có quyền đòi hỏi xây dựng một cơ chế xem xét, sàng lọc, thải loại cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nhà nước không còn đủ phẩm chất, năng lực làm việc cho dân. Việc Quốc hội nước ta đang chuẩn bị quy định lấy phiếu tín nhiệm cán bộ thuộc diện Quốc hội, Hội đồng nhân dân bổ nhiệm, phê chuẩn là bước mở đầu cho công tác này. Thế nhưng nếu cứ hai năm/lần lấy phiếu tín nhiệm và hai lần liên tục không đủ số phiếu tín nhiệm thì mới bãi miễn chức vụ, e rằng lâu quá. Vì một nhiệm kỳ công tác thường nhiều nhất là 5 năm. Lấy phiếu tín nhiệm kiểu như vậy thì cán bộ, công chức đã “hạ cánh an toàn rồi!”.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang(st)
bqllang.gov.vn

Bức thư huyết lệ

8 giờ đêm – một đêm Tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: Một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.

Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở Bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

“Thưa Ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.  Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ. Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1-1947

Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác. Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.

(Ghi theo lời kể của Bác sĩ Vũ Đình Tụng)

 Theo Báo Nghệ An
Tâm Trang (st)

cpv.org.vn

Một lần được chụp ảnh với Bác Hồ

Sau cần lái máy bay, phi công Trần Văn Đông đã có gần 3000 giờ bay “cưỡi mây, vượt gió”. Mấy chục năm cầm lái, nhưng với ông hạnh phúc nhất là khoảng thời gian 3 năm lái chuyên cơ phục vụ Bác Hồ.

Sinh năm 1935 tại Hưng Hòa, Hưng Nguyên, Nghệ An, 18 tuổi chàng thanh niên Trần Văn Đông vào bộ đội và được biên chế về Đại đội 910, Tiểu đoàn 351, Trung đoàn 52, Sư đoàn 320. Tháng 2 năm 1956, từ Trường Văn hóa Kiến An, Hải Phòng, Trần Văn Đông cùng với 17 học viên khác được cử đi học lái máy bay tại Trường Không quân số 2 ở thành phố Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc. Về nước đúng lúc Trung đoàn Không quân vận tải 919 thành lập (1-5-1959), cũng thời điểm đó Liên Xô tặng cho ta hai chiếc máy bay IL14. Trần Văn Đông được chọn vào tổ bay lái hai chiếc máy bay này.

Máy bay IL14 là máy bay quân sự nhưng thời gian đầu, do có Hiệp định Giơ-ne-vơ nên ta cải trang chúng thành những chiếc máy bay dân dụng vận chuyển hành khách. Tổ bay là bộ đội nhưng mang mặc dân sự có nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, các thành viên của Ủy ban Quốc tế đi giám sát đình chiến… Một điều đặc biệt là từ năm 1960 đến 1963, phi công Trần Văn Đông được giao nhiệm vụ cùng với tổ bay lái chiếc IL14 số hiệu 58482 chuyên chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi công tác. Những ngày tháng phục vụ Bác, phi công Trần Văn Đông có khá nhiều kỷ niệm với Người. Và câu chuyện được cùng Người chụp ảnh lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất khiến ông “sung sướng” mãi đến hôm nay.


mot lan duco chup anh voi Bác HoPhi công Trần Văn Đông (người đứng phía sau, bên trái Bác Hồ)

Chuyện là, tháng 3 năm 1963, sau khi tổ bay của Trần Văn Đông đón Bác từ Bắc Kinh về đến sân bay Gia Lâm, Bác nói: “Bác cháu ta đi công tác với nhau nhiều lần, hôm nay Bác định chụp chung với các cháu một bức ảnh để làm kỷ niệm, các cháu có đồng ý không?”. Đây vốn là mong ước ấp ủ rất lâu của tổ bay nhưng chưa ai dám đề đạt với Bác cả. Nhanh miệng, phi công Trần Văn Đông nói: “Chúng cháu muốn lắm nhưng không dám thưa với Bác”. Người phê bình hóm hỉnh: “Muốn mà không nói thì làm sao Bác biết được. Hôm nay Bác gãi đúng chỗ ngứa của các cháu rồi”. Kể đến đây, ông Đông chỉ lên bức ảnh giới thiệu cho chúng tôi tên của những người trong ảnh. Thật lạ lại có một em bé đứng ngay cạnh Bác. Giải thích cho thắc mắc đó của chúng tôi về em bé trong ảnh, ông nói: “Đó là con một đồng chí làm việc ở ga hàng không sân bay Gia Lâm. Lúc chúng tôi chụp ảnh em bé chạy qua tôi gọi lại và xin phép Bác cho em bé đứng vào hàng. Bác mỉm cười đặt tay lên vai em bé”. Đơn giản vậy thôi nhưng điều đó cũng khiến Trần Văn Đông và cả tổ bay càng thêm kính phục tác phong giản dị và gần gũi của Người.

Sau lần được chụp ảnh đó, phi công Trần Văn Đông không được cùng đi với Bác chuyến nào nữa. Ông chuyển sang lái chiếc IL14 khác. Vì sau này, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, Không quân của ta được Liên Xô cung cấp thêm một số chiếc IL14 nữa. Những chiếc máy bay này không cần phải ngụy trang như trước. Họ được giao nhiệm vụ quân sự là vận chuyển vũ khí, quân trang, đạn dược chi viện cho miền Nam qua các sân bay căn cứ rồi sau đó vận chuyển bằng đường bộ vào chiến trường. Ông Đông tâm sự: “Dù không tiếp tục phục vụ Bác, nhưng tôi đã học được ở Người nhiều đức tính đáng quý. Ở vị trí nào tôi cũng nhớ lời Người dặn chúng tôi, đó là trung thực và hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Những bài học, những câu chuyện khi được ở cùng Người có thể “thất lạc” theo thời gian và tuổi tác của những người trong cuộc. Song với phi công Trần Văn Đông, thì một lần được chụp ảnh cùng Bác mãi mãi là kỷ niệm, là dấu ấn không bao giờ quên trong cuộc đời của một người lính bay.

Trang Thanh – Văn Phú
Theo http://www.qdnd.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Đông Dương – (4-1921)

Tuy rằng Quốc tế Cộng sản đã làm cho vấn đề thuộc địa có được tầm quan trọng xứng đáng với nó bằng cách coi nó là thuộc về những vấn đề thời sự khẩn trương nhất, nhưng trong thực tiễn, các ban thuộc địa ở các cường quốc thực dân, cho đến nay, vẫn chưa quan tâm đến vấn đề này, thậm chí các ban này cũng chưa xem xét vấn đề một cách nghiêm túc!

Sự không hoạt động này thật đáng ngạc nhiên, nhất là khi không còn sự tranh cãi nội bộ trong đảng đã được thanh trừ, và đáng ngạc nhiên khi vấn đề tuyển mộ người thuộc địa lại được chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc của chính quốc nghiên cứu ráo riết. Sự không hoạt động này có lẽ do các đồng chí chúng ta không hiểu biết tình hình chính xác của những xứ bị áp bức. Do vậy, tôi thấy có ích, nếu phác hoạ ngắn gọn ở đây tình hình của một trong những thuộc địa lớn nhất của nước Pháp, là Đông Dương.

Nói rằng Đông Dương gồm hai mươi triệu người bị bóc lột, hiện nay đã chín muồi cho một cuộc cách mạng là sai, nhưng nói rằng Đông Dương không muốn cách mạng và bằng lòng với chế độ bây giờ như các ông chủ của chúng ta thường vẫn nghĩ như thế, thì lại càng sai hơn nữa. Sự thật là người Đông Dương không có một phương tiện hành động và học tập nào hết. Báo chí, hội họp, lập hội, đi lại đều bị cấm… Việc có những báo hoặc tạp chí mang tư tưởng tiến bộ một chút hoặc có một tờ báo của giai cấp công nhân Pháp là một tội nặng. Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại.

Bị đầu độc cả về tinh thần lẫn về thể xác, bị bịt mồm và bị giam hãm, người ta có thể tưởng rằng cái bầy người ấy cứ mãi mãi bị dùng làm đồ để tế cái ông thần tư bản, rằng bầy người đó không sống nữa, không suy nghĩ nữa và là vô dụng trong việc cải tạo xã hội. Không: người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương. Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn vǎn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ. Nếu những người xã hội chủ nghĩa lơ là việc giáo dục, thì giai cấp tư sản thực dân và bản xứ – bọn quan lại – cứ phụ trách giáo dục bằng phương pháp của chúng. Người Đông Dương tiến bộ một cách rất màu nhiệm và khi thời cơ cho phép họ sẽ biết tỏ ra xứng đáng với những người thầy của họ. Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi.

Nguyễn Ái Quốc

Tạp chí La Revue Communiste, số 14, tháng 4-1921.
cpv.org.vn

Những kẻ bại trận ở Đông Dương – (8-4-1921)

Trong thời gian chiến tranh vừa qua, cuộc chiến tranh vì chính nghĩa và công lý để cho các dân tộc giành quyền tự quyết, những người An Nam lại buộc phải tình nguyện sang bảo vệ nước Mẹ (?). Bấy giờ người ta nói với họ như đã nói với người Pháp: “Bọn bôsơsẽ trả công!”.

Tuy nhiên, giờ đây hai nǎm sau chiến tranh, nước Mẹ bị mắc nợ một cách thắng lợi, những khu nhà nghỉ mát đắt tiền của các quan chức cao cấp của Nhà nước không đem lại được bổng lộc bao nhiêu, và bọn bôsơ vẫn không trả gì. Bấy giờ, nước Mẹ bảo hộ âu yếm quay về những đứa con nuôi của mình và nói một cách âu yếm hơn nữa: “Vì bọn Đức lật lọng không muốn trả, vậy thì các con, những kẻ lao động An Nam, hãy trả thay cho chúng”.

Nhưng hãy nghe lời nói của ông Xarô tốt bụng, trong một cuộc tranh luận về ngân sách thuộc địa, vị uỷ viên nhân dân thuộc địa đó đã tuyên bố: “Chừng nào mà xứ Đông Dương còn có thể tự đảm đương một số gánh nặng tài chính mà chính quốc không gánh vác nổi, xứ Đông Dương sẽ gánh vác, vì dù sao nước Pháp, chính quốc, đã cứu Đông Dương thoát khỏi sự tham lam của nước Đức”.

Nhân danh hàng nghìn người An Nam đã bỏ thây ở nước Pháp trong chiến tranh, tôi xin cám ơn ông, ông Xarô. Hãy tin chắc rằng chúng tôi biết rất rõ chính chiến thắng trên sông Mácnơ đã ngǎn cản quân xung kích Đức tiến về sông Mê Kông, để truyền bá trên ruộng đồng chúng tôi chế độ dã man của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc Phổ. Nếu không có ngài và người thay mặt đáng kính của chúng tôi, ông Utơrây, chúng tôi sẽ mất cái tự do thân yêu được say sưa bằng rượu cồn và cái bình đẳng quý giá được đầu độc bằng thuốc phiện; không có ngài, giai cấp vô sản bản xứ không còn được nhồi nhét vào tai những bài diễn vǎn hay ho và những lời hứa tốt đẹp được ngài ban cho một cách hữu ái; không có ngài…. Nhưng hãy cho qua và quay trở lại bài diễn vǎn của ngài.
Ngài còn nói: “Tôi tin rằng trong một thời gian không xa nữa, xứ Đông Dương sẽ không tiêu mất một đồng xu nào nữa của chính quốc và nó sẽ tự hào và hạnh phúc được đem lại sự đóng góp của mình”.

Nhất định thế, đến thời kỳ đó, không còn xa lắm, như ngài nói, giai cấp vô sản chính quốc sẽ làm nhiệm vụ của mình: họ sẽ tống cổ tất cả bọn ǎn bám ra khỏi cửa; sau khi đã giải phóng mình, họ sẽ giải phóng những người anh em ở Đông Dương; được giải phóng khỏi ách đế quốc chủ nghĩa, nhân dân Đông Dương nhất định sẽ tự hào và hạnh phúc, tự hào và hạnh phúc hơn là ông tưởng, đem lại sự đóng góp của mình, cùng với những người lao động Pháp xây dựng Tổ quốc chung. Trong khi chờ đợi, hãy cứ bắt những người bại trận ở Đông Dương trả tiền. Ngài hãy khéo xoay xở theo phương pháp D. Nếu hòm tiền của nhân dân rỗng, thì còn có các lǎng mộ của vua chúa.

Nguyễn Ái Quốc

Báo La Vie Ouvrière, số 101, ngày 8-4-1921.
cpv.org.vn

Quyền của những người lính chiến – (7-5-1921)

“Những người lính chiến có quyền đối với chúng ta”, ông Clêmǎngxô, người cha của chiến thắng đã nói như vậy. “Những người lính chiến có quyền đối với chúng ta”, những người con, những nạn nhân An Nam nhắc lại như vậy. Đối với ông Clêmǎngxô, những người lính chiến có quyền thiêng liêng là chết đi để bảo vệ két sắt, những chiếc két sắt làm bằng mồ hôi thợ thuyền của họ và nhét đầy bằng máu binh lính của họ. Đối với người An Nam, thì những người lính chiến – hay những người còn lại trong số lính chiến trước kia – có quyền thiêng liêng được bọn tư bản thuộc địa ban cho, là duy trì nền vǎn minh tư sản, nghĩa là đầu độc người bản xứ sau khi đã giết hại một số lớn vì quyền lợi của tư bản.

Theo báo chí Đông Dương, các môn bài bán lẻ thuốc phiện sẽ được cấp cho những quả phụ của binh lính Pháp chết trận và thương binh Pháp.

Như vậy, chính phủ thuộc địa đã làm một việc mà phạm hai tội ác phản nhân loại. Một mặt, họ thấy tự mình làm công việc đầu độc bẩn thỉu đó chưa đủ, họ muốn lôi kéo thêm những nạn nhân khốn khổ của họ trong cuộc chém giết huynh đệ tương tàn tham gia vào. Mặt khác, họ đánh giá quá thấp tính mệnh và xương máu của những kẻ bị họ lừa bịp, mà họ tưởng rằng vứt cho mẩu xương thừa đó là có thể đủ đền bù sự mất mát một cẳng tay cẳng chân hay cái tang của một người chồng.

Chúng tôi tin rằng những thương binh và những quả phụ sẽ đá tung món quà hôi hám đó và sẽ công phẫn nhổ vào mặt những kẻ đã đề xướng việc đó; và chúng tôi chắc chắn rằng cả thế giới vǎn minh và những người Pháp lương thiện sẽ cùng với chúng tôi lên án bọn cá mập ở các thuộc địa đã không ngần ngại đầu độc cả một chủng tộc để làm đầy túi tiền của mình.

Nguyễn Ái Quốc

Báo La Vie Ouvrière,số 105, ngày 7-5-1921.
cpv.org.vn

Phong trào Cộng sản Quốc tế Đông Dương – (5 – 1921)

Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay.

Muốn hiểu vấn đề đó, chúng ta phải xem xét tình hình hiện nay ở lục địa châu á về mặt lịch sử và địa lý.

Lục địa rộng lớn đó có diện tích 80 lần lớn hơn nước Pháp (45.000.000 km2), với dân số gần 800 triệu người, có một cơ cấu chính trị tương đối phức tạp.

Trong tất cả các nước châu á, Nhật Bản là nước duy nhất mắc phải một cách trầm trọng nhất chứng bệnh truyền nhiễm là chủ nghĩa tư bản đế quốc. Từ chiến tranh Nga – Nhật, chứng bệnh đó diễn biến ngày càng nguy kịch, lúc đầu bằng sự thôn tính Triều Tiên, tiếp đấy là sự tham gia vào cuộc chiến tranh “vì chính nghĩa”.

Để ngăn cản nước Nhật trượt dài đến vực thẳm của hiện tượng phương Tây hoá không thể cứu vãn nổi, nghĩa là để phá tan chủ nghĩa tư bản trước khi nó có thể bắt rễ sâu vào quần đảo Nhật Bản, một đảng xã hội vừa được thành lập. Cũng như tất cả các chính phủ tư sản, chính phủ Thiên hoàng đã dùng mọi cách mà chúng có thể để chống lại phong trào đó. Cũng như tất cả các lực lượng công nhân ở châu Âu và châu Mỹ, phong trào công nhân Nhật Bản cũng vừa thức tỉnh. Mặc dù sự đàn áp của chính phủ, phong trào do Đảng Xã hội Nhật Bản lãnh đạo vẫn phát triển khá nhanh.

Các đại hội đảng bị cấm ở các thành phố Nhật Bản, những cuộc đình công, những cuộc biểu tình của dân chúng vẫn nổ ra.

Trung Quốc, trước kia và hiện nay vẫn là con bò sữa của tư bản Âu, Mỹ. Nhưng sự thành lập chính quyền của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên ở phía Nam, đã hứa hẹn với chúng ta một nước Trung Hoa được tổ chức lại và vô sản hoá. Có thể hy vọng một cách không quá đáng rằng, trong một tương lai gần đây, hai chị em – nước Trung Hoa mới và nước Nga công nhân – sẽ nắm tay nhau trong tình hữu nghị để tiến lên vì lợi ích của nền dân chủ và nhân đạo.

Bây giờ, chúng ta hãy đi đến châu á đau khổ.

Nước Triều Tiên nghèo đói đang ở trong tay chủ nghĩa tư bản Nhật. ấn Độ – xứ ấn Độ đông dân và giàu có – bị đè nặng dưới ách bọn bóc lột người Anh. May sao, ý chí giải phóng đang làm sôi sục tất cả những người bị áp bức đó, và một cuộc cổ động cách mạng sôi nổi đang lay chuyển tinh thần ấn Độ và Triều Tiên. Tất cả mọi người đều chuẩn bị một cách từ từ nhưng khôn khéo cho cuộc đấu tranh tối cao và giải phóng.

Và Đông Dương! Xứ Đông Dương bị chủ nghĩa tư bản Pháp bóc lột, để làm giàu cho một số cá mập! Người ta đưa người Đông Dương vào chỗ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết. Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện. Người ta kìm họ trong ngu dốt (cứ 10 trường học thì có 1.000 đại lý thuốc phiện chính thức). Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém, trong nhà tù hay đày biệt xứ! 75 nghìn kilômét vuông đất đai, 20 triệu dân bị bóc lột tàn nhẫn trong tay một nhúm kẻ cướp thực dân, đấy là xứ Đông Dương hiện nay.

Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu á, dễ dàng hơn là ở châu Âu.

Người châu á – tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu – vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiện tại. Và đây là lý do tại sao:

Gần 5.000 năm trước đây, Hoàng đế (2.679 trước C.N) đã áp dụng chế độ tỉnh điền: ông chia đất đai trồng trọt theo hai đường dọc và hai đường ngang. Như vậy sẽ có chín phần bằng nhau. Người cày ruộng được lĩnh mỗi người một phần trong 8 miếng, miếng ở giữa tất cả đều cùng làm và sản phẩm được sử dụng vào việc công ích. Những đường phân giới được dùng làm mương dẫn nước.

Triều đại nhà Hạ (2.205 trước C.N) đặt ra chế độ lao động bắt buộc.

Khổng Tử vĩ đại (551 trước C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ có không đều. Bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn, v.v..

Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử, tiếp tục tư tưởng của thầy và vạch ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sự sản xuất và tiêu thụ. Sự bảo vệ và phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám, sự nghỉ ngơi của người già, không có điều gì đề án của ông không đề cập đến. Việc thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông mà cho tất cả mọi người, đấy là đường lối kinh tế của vị hiền triết.

Trả lời một câu hỏi của vua, ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.

Về của cải tư hữu, luật pháp An Nam cấm mua bán toàn bộ đất đai. Hơn nữa, một phần tư đất trồng trọt bắt buộc phải để làm của chung. Cứ ba năm người ta chia lại ruộng đất đó. Mỗi người dân trong xã thôn được nhận một phần. Điều đó không hề ngăn cản một số người trở nên giàu có, vì còn ba phần tư đất đai khác có thể mua bán, nhưng nó có thể cứu nhiều người khác thoát khỏi cảnh bần cùng.

Cái thiếu đối với chúng tôi, mà trách nhiệm của chúng tôi phải nói lên ở đây để những đồng chí của chúng ta có nhiệt tình truyền bá chủ nghĩa cộng sản và thực tâm muốn giúp đỡ những người lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột và đi vào gia đình chung của giai cấp vô sản quốc tế, để cho những đồng chí đó có thể giúp đỡ chúng tôi một cách có hiệu quả. Cái mà chúng tôi thiếu để trở thành cộng sản, là những điều kiện cơ bản nhất để hành động:

Tự do báo chí

Tự do du lịch

Tự do dạy và học

Tự do hội họp (tất cả những cái này đều bị những kẻ khai hoá thuộc địa ngăn cấm chúng tôi một cách dã man).

Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.

Nguyễn Ái Quốc

Tạp chí La Revue Communiste, số 15, tháng 5-1921.
cpv.org.vn

Vụ âm mưu ở Đông Dương – (1921)

Đông Dương là một cô gái cưng. Cô rất mực xứng đáng với bà mẹ Pháp quốc. ở bà mẹ có cái gì thì cô ta cũng có cái nấy: nào chính phủ, nào những bảo đảm, nào công lý và cũng có cả âm mưu phiến loạn nho nhỏ nữa. Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ nói về hai vấn đề sau thôi.

Công lý được tượng trưng qua hình ảnh một nữ thần tay cầm cân và tay cầm kiếm. Nhưng Đông Dương lại ở quá xa nước Pháp, muôn trùng cách trở, nên khi nữ thần tới xứ này thì cán cân đã mất thăng bằng, đĩa cân đã chảy lỏng và biến thành những tẩu thuốc phiện và những chai rượu ty. Trên tay nữ thần tội nghiệp ấy chỉ còn độc cái kiếm để chém giết. Bà đã chém những người vô tội và cũng chỉ chém có họ mà thôi!

Còn về vụ âm mưu thì lại là một câu chuyện khác.

ở đây, chúng tôi không nói về những vụ âm mưu nổi tiếng trong năm 1908 hay 1916. Lúc đó, nhiều thần dân bảo hộ số đỏ của nước Pháp đã được may mắn nếm đủ mùi ân huệ của nền văn minh thực dân hiền hoà trên máy chém, trong nhà tù hay ở những nơi bị đưa đi đầy. Những vụ âm mưu ấy đã qua lâu rồi, và bây giờ chỉ còn lại những nét ảm đạm trong trí nhớ của người dân bản xứ đã héo mòn vì đau khổ.

Hãy nói đến vụ âm mưu gần đây nhất. Trong khi ở Mẫu quốc có một vụ âm mưu bônsêvích nổi tiếng thì ở Đông Dương các ngài thực dân cũng muốn có một vụ âm mưu tương tự và … cuối cùng các ngài ấy cũng nặn ra một vụ âm mưu thật sự, chẳng khác nào như trong câu chuyện ngụ ngôn con nhái muốn phình to bụng như con bò.

Câu chuyện ấy đã được dựng lên như thế này: Một ngài quan Pháp (quan công sứ), một quan huyện và một thầy lý trưởng được giao trách nhiệm dựng lên một vụ âm mưu đúng quy cách. Để chuẩn bị ra biểu diễn, bộ ba tớ thầy ấy bèn tung ra cái tin: Có một âm mưu phiến loạn định làm nổ tan xứ Bắc Kỳ bằng 250 quả bom. Công việc chuẩn bị xong xuôi. Màn kịch kéo lên. Công chúng xúc cảm mạnh mẽ và dư luận xôn xao. Bắt bớ vây lùng dồn dập như mưa. Hiện nay, chúng ta chưa biết các ngài công sứ, quan huyện và thầy lý, một cựu phạm đã được thăng chức và ban bổng lộc gì chưa, nhưng nếu bây giờ chưa được thì rồi tất nhiên họ cũng sẽ được. Giờ đây, chúng tôi nói tiếp đến chuyện Công lý. Ngày 16 tháng 2, Toà Đại hình Hà Nội đã mở phiên toà cuối cùng xử vụ án này. Trong quá trình toà luận tội, người ta được biết rằng không hề có một tổ chức cách mạng nào đã chuẩn bị những bom phá đó, và vụ âm mưu ấy chỉ là một thủ đoạn xảo quyệt của bọn quan lại mong được chính phủ ban thưởng bổng lộc và chức tước. Như vậy, liệu chúng ta có thể tin tưởng rằng sau vụ xét xử ấy, người ta sẽ tha bổng cho những người An Nam chẳng may đã bị bỏ tù, bị tố giác tham gia vụ phiến loạn bịa đặt ấy không? Không đâu! Bất cứ bằng giá nào, người ta cũng phải bảo vệ uy tín cho các quan cai trị chứ! Vì thế, mà lẽ ra chỉ cần phong thưởng một cách bình thường cho những con người sáng tạo ra âm mưu ấy, thì người ta lại kết tội tù từ 2 đến 5 năm 12 người An Nam phần lớn là nhà nho, và trên tấm cổng lớn của nhà tù kia, người ta thấy đề rành rành mấy chữ đại tự, cố nhiên là bằng tiếng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Chao ôi! Nực cười thay. Và các báo chí xưa nay vẫn tự xưng là bênh vực cho người bản xứ vội vàng lên tiếng ca ngợi cái chí công vô tư của nền Công lý nực cười này. Chúng ta hãy nghe tờ La Dépêche Coloniale (11) là tờ báo giữ vai trò vô địch về bài xích người An Nam, nói: “Toà án nước Pháp vừa mới xét xử xong một vụ án. Toà tha bổng cho một nửa số bị can, còn một nửa số thì được hưởng án nhẹ. Trong vụ án này, để có lý buộc tội, người ta đã tung dư luận rầm lên một cách thiên tư trước khi xử, và sau đó, người ta đã kết án các nhà nho làm những bài thơ tồi ca tụng công đức của nền Tự do”.

Đó thật là tai vạ cho những người An Nam nào ca ngợi công đức của nền Tự do. Người ta phạt họ 5 năm tù chỉ vì có thế thôi! Tờ báo ấy viết tiếp: “Đúng, ta phải bằng lòng với cái bản án chí công vô tư của các vị quan toà và thẩm phán của chúng ta chứ!”. Và tờ La Dépêche Coloniale đã vui vẻ đăng tin bản án chí công vô tư về vụ âm mưu nổi tiếng ấy ở Vĩnh Yên. Những người An Nam ở Pari, cũng như đồng bào phương xa của họ tin tưởng các vị quan toà, họ đã tuyên bố các vị ấy xét xử rất công minh và vụ án được kết thúc mỹ mãn. Không phải như thế đâu, thưa ông Puvuốcvin, ông đã thổi phồng một cách quá đáng đấy! Để trả lời, chúng tôi chỉ xin nhắc lại điều mà ông đã viết trong phần đầu bài báo của ông: “Những con chó sủa, v.v. thôi đi, hỡi những người anh em bất hạnh, các anh em đã lầm to rồi, các anh em cũng thừa hiểu rằng làm gì có tự do cho chúng ta mà lại đi hoan nghênh với ca ngợi nó. Nhưng, người An Nam chúng tôi ở khắp mọi nơi, chúng tôi sẽ kiên quyết đưa sự bất công ghê tởm và phi lý ấy ra phản đối trước tất cả mọi người Pháp chân chính. Chúng tôi mong rằng dư luận nước Pháp thông cảm với những nỗi đau khổ của các anh em và sẽ đấu tranh đòi cho Công lý được thực hiện”.

Nguyễn Ái Quốc

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Phong trào cách mạng ở Ấn Độ – (8 và 9-1921)

Cuộc xung đột Hy Lạp – Kêman hay đúng hơn là cuộc xung đột Anh – Thổ đang diễn ra. Các cuộc khởi nghĩa ở Malaba đang được dư luận hết sức chú ý. Đế quốc Anh đang phải chống đỡ khắp nơi. Nhắc lại lịch sử phong trào cách mạng ấn Độ lúc này là một việc lý thú.

Từ cuộc khởi nghĩa năm 1857, đế quốc Anh tưởng đã dìm được tinh thần cách mạng của nhân dân ấn Độ trong cuộc đàn áp đẫm máu và thiết lập vĩnh viễn sự bóc lột áp bức dã man của phương Tây lên hai bờ sông Hằng. Chúng đã lầm to.

Năm 1880, nhà triết học Rama Kơrisơna dùng tôn giáo để truyền bá cách mạng. Ông tôn thờ nữ thần Kali và khuyên đồng bào mình tôn thờ nữ thần, người mẹ của lực lượng phá hoại và xây dựng.

Đamôđa và Bankơrisơna kế tục sự nghiệp của Rama và giáo dục chủ trương cách mạng một cách dũng cảm, công khai. Tất nhiên cả hai đều bị bắt giữ và đày biệt xứ.

Đến năm 1897 tờ báo Kêxari mới ra đời, người chủ trương là Tilắc. Bài báo đầu tiên của ông là bài văn xuất sắc “Lời than của Xiôgi”. Nội dung kể chuyện một ông vua cũ tỉnh dậy từ dưới mồ sâu, trở lại thăm vương quốc thân yêu. Ông rất buồn khi thấy thần dân của mình phải chịu kiếp nô lệ khổ nhục. Ông kêu gọi tất cả những người ấn Độ hãy thức tỉnh và hợp lực để lật đổ ách ngoại bang và giành lại nền độc lập mà ông đã truyền lại cho họ.

Tờ báo thường xuyên phổ biến cho độc giả tìm hiểu phương pháp cách mạng Nga.

Một phong trào giải phóng được lãnh đạo dũng cảm, cho đến khi tờ báo bị đình bản và chủ nhiệm bị đi đày.

Nhân tiện xin nói rằng ở châu á, người ta quan niệm sự chân thật và lương tâm nhà báo khác với châu Âu. Những nhà báo tư sản phương Tây sẽ cười nếu chúng ta nói với họ rằng phần lớn các bài ở các báo xã hội chủ nghĩa như tờ Kêxari, Vihari, v.v. đều viết không lấy tiền và đôi khi cả biên tập viên còn được trả công bằng những tháng, thậm chí bằng những năm tù. Đấy là trường hợp của tờ Vihari, ba biên tập viên đều bị bắt và lần lượt bị kết án. Nhưng điều đó không làm thay đổi thái độ lẫn cách suy nghĩ của họ. Trong số “người làm công”, những ai có thể tự cho mình như thế?

Cuộc vận động đặc biệt lên cao từ sau chiến tranh Nga – Nhật. Hai sự kiện tiêu biểu sau đây đánh dấu tình hình tư tưởng của người bản xứ. Tượng nữ hoàng Víchtôria bị bôi nhọ vào đêm trước lễ kỷ niệm ngày sinh của nữ hoàng. Bài hát Banđêmataran – bài Mácxâye của người ấn Độ – được phổ biến nhanh chóng và được hát bằng tất cả các thổ ngữ của ấn Độ.

Những hội Amxilam Xanitơ – tổ chức rèn luyện tinh thần và thể lực – được thành lập khắp nơi như có phép lạ. Việc tẩy chay hàng hoá Anh và làm tan rã tinh thần các đơn vị lính bản xứ được nghiên cứu rất công phu.

Những nỗ lực không ngừng đó đã đem lại kết quả. Tháng 1 năm 1915, nhiều trung đoàn nổi lên bạo động và do sự gián đoạn của mậu dịch Anh – ấn, các ngân hàng thuộc địa ở khu Xiti đã bị thua thiệt một triệu phrăng do những cổ phiếu không được thanh toán trong năm 1920.

Thảm hoạ của đất nước đã xoá bỏ sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo. Người giàu người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo, đều hợp sức đoàn kết.

Nhiều nhân vật tiên tiến, nhiều giáo sư đại học như Hácđayan và những người khác đã hy sinh tài sản, đã từ chối những chức vụ cao mà chính phủ thuộc địa muốn ban cho họ để dễ bề khuất phục. Họ đi từ làng này qua làng khác, kêu gọi đấu tranh cho độc lập. Sinh viên, học sinh cũng tham gia công tác tuyên truyền.

Về phía mình, những chiến sĩ chủ trương hành động trực tiếp cũng không ngồi yên. Họ chịu trách nhiệm thủ tiêu những quan chức thiên vị, những kẻ phản bội và những tên ác ôn cảnh sát chính trị. Với những chức vị rất kêu, các phó vương và thống đốc cũng không làm cho họ sợ, những sự kiện năm 1907, 1908 và 1909 (14) đã chứng minh điều đó. Năm 1916, một cậu bé 16 tuổi đã ném bom ngay giữa đường và giữa ban ngày vào xe của tên cầm đầu nổi tiếng của cục điều tra. Lòng dũng cảm không trừ già hay trẻ.

Danh sách những người bị hy sinh kéo dài rất đau xót. Trong mười năm, không kể những vụ thảm sát tập thể, đã có hơn 200 người lấy máu đào tưới gốc cây cách mạng và lý tưởng. Trong số những người tuẫn tiết, có 70 sinh viên, 16 thầy giáo, 20 điền chủ, 23 hay 25 nhà buôn, 7 thầy thuốc, 20 công chức. Trong số những người hy sinh có 50 người tuổi chỉ từ 16 đến 20!

Vì vậy mà bọn chủ hốt hoảng, gần như kinh hoàng. Một nhân vật thượng lưu đã thốt lên: “Nếu sự việc đó còn tiếp diễn, thì những người đáng kính của chúng ta buộc phải cuốn gói khỏi nơi này”.

Lúc đó, song song với bộ máy đàn áp thẳng tay, người ta thi hành một chính sách ngu dân hoàn toàn.

Các hội “Xamiti” bị giải tán, hội viên bị bắt giam, mọi cuộc hội họp và các tổ chức chính trị đều bị ngăn cấm. Các biện pháp “cấp cứu” mọc lên như nấm. Trận mưa đàn áp đó chỉ làm cho hoa cách mạng thêm nở rộ.

Một cuộc tổng khởi nghĩa đang được chuẩn bị trong năm 1914 và 1915. Không may cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Hàng trăm người lưu vong trở về nước với quyết tâm giáng một đòn đập tan ách thống trị đang đè nặng đất nước. Họ bị phát hiện và đều bị bắt giữ trước khi đặt được chân lên quê hương mà họ đã hứa hẹn sẽ giải phóng hoặc hy sinh. Một lần nữa, bọn kẻ cắp lại gặp may!

Nhưng lò lửa đã nhóm lên, không gì có thể dập tắt nổi. Các khẩu hiệu được truyền từ người này qua người khác. Các hội “Xamiti” bí mật hội họp. Những cuộc lạc quyên vì độc lập được tiến hành nhanh chóng, hoặc là do tự nguyện đóng góp, đôi khi bằng hình thức “đaicốt”.

Chúng tôi thấy cần phải giải thích một tí về chữ “đaicốt”, mà từ trước đến nay những người phương Tây thường hiểu sai. Người Anh gọi là “đaicốt” cũng như người Pháp gọi cướp bóc. Cả hai đều không hề phân biệt giữa sự cướp bóc với sự đóng góp đôi khi bắt buộc cho sự nghiệp chung, cũng như họ không hề phân biệt giữa những người yêu nước đấu tranh cho đất nước mình với bọn cặn bã ở thành thị.

Muốn làm một việc gì, tất nhiên phải có tiền vốn, và muốn có vốn, phải biết nơi nào có để tìm.

Để chứng minh sự cương trực của những hội viên “Xamiti” phụ trách tài chính của Uỷ ban cách mạng, chỉ cần kể những thí dụ sau đây:

Một trong những điều của điều lệ hội “Xamiti” nêu rằng những người gia nhập hội phải luôn nhớ rằng họ đang hoạt động cho cách mạng nhằm thiết lập lại những quyền đã bị chà đạp chứ không phải vì sự hưởng thụ cá nhân của một số người. Rằng tất cả các hội viên phải từ bỏ việc uống rượu, từ bỏ mọi thứ xa hoa phù phiếm.

Mỗi lần đóng góp bắt buộc hay đaicốt, người đóng được gửi đến một biên lai. Sau đây là một đoạn trích trong biên lai:

“Đồng bào thân mến, bạn phải biết rằng muốn giải phóng đất nước thân yêu của chúng ta thoát vòng nô lệ, thì cần phải có sự hy sinh, lòng tin cậy và cảm tình của tất cả đồng bào chúng ta. Nếu tất cả những người có khả năng như bạn đều hiểu những khó khăn của công việc chúng tôi và tự nguyện đóng góp vào sự nghiệp của chúng tôi, thì chúng tôi không bị buộc phải quấy rầy bạn như thế này; nước Nhật được tự do và hùng cường là nhờ có lòng hy sinh và sự thắt lưng buộc bụng của toàn dân Nhật. Anh linh của Tổ quốc hãy hun đúc trái tim và soi sáng tâm thần của anh em chúng ta! v.v.. Ký tên: I.B. Thư ký tài chính của phân cục B. của Hội Độc lập ấn Độ”.

Phong trào càng lan rộng càng được củng cố. Khi thấy đã tương đối mạnh, phong trào rời khỏi bóng tối để ra giữa ánh sáng, dưới những con mắt kinh ngạc của nhà cầm quyền. Một đại hội được triệu tập với hai vạn đại biểu có mặt. Một vài đảng viên “xã hội” Anh cũng tham dự, họ được tiếp đón không lấy gì làm nồng nhiệt lắm vì những lý luận màu hồng nhạt của họ.

Mahatma Găngđi đã đặt viên đá đầu tiên để dựng lên thuyết bất hợp tác và bất bạo động. Đường lối đó được theo đuổi một cách thắng lợi. Trẻ em rời bỏ trường học của người Anh. Các luật sư rời khỏi toà án của người Anh. Các viên chức và thợ thuyền không làm việc trong các công sở và nhà máy mà chủ là người Anh. Không còn quan hệ, không còn buôn bán giữa người Anh và người ấn. Để giữ vững phong trào, cần phải có những quỹ cứu tế. Trong thời gian ba tháng, người ta đã quyên được hơn sáu mươi triệu phrăng. Những người ấn Độ giàu có lấy nhà mình làm trường học. Những vụ kiện được đưa ra xử trước các toà án bản xứ mới thành lập. Một số người ấn Độ tự nguyện góp đến ba mươi triệu đồng một năm “cho đến khi độc lập hoàn toàn”.

Trước làn sóng như vậy, lá cờ không bao giờ thấy mặt trời lặn có nguy cơ rơi xuống mặt trăng. Đế quốc Anh không biết xoay xở cách nào. Chúng tưởng rằng ký một hiệp định thương mại với nước Cộng hoà Nga là có thể ngăn chặn tư tưởng cách mạng thâm nhập ấn Độ, như một tờ giấy thấm hút một giọt mực!

Chúng dùng Côngxtăngtin làm cái chụp để dập tắt lò lửa của phong trào Liên Hồi giáo. Chúng nhặt Phayxan lên để chống đỡ toà nhà đế quốc đang sụp đổ ở phương Đông. Và sau nữa thì sao? ít ra chúng có thể tự an ủi khi thời hạn rời khỏi ấn Độ của chúng đã đến, bằng cách tự nhủ rằng chúng đã tàn nhẫn kéo theo sự sụp đổ của đế quốc Pháp, đang hoạt động ở Đông Dương một cách xấu xa.

Nguyễn Ái Quốc

Tạp chí La Revue Communiste, số 18-19, tháng 8, 9-1921.
cpv.org.vn

Nền văn minh thượng đẳng (23-9-1921)

Bạn Vinhê Đốctông của chúng ta bằng một cuộc khảo sát phong phú về tư liệu, sẽ cho độc giả báo Libertaire thấy dưới nhãn hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái và nhân danh “nền dân chủ Pháp”, người ta đang đầu độc một cách có hệ thống chủng tộc Đông Dương. Nhưng, bên cạnh việc đầu độc tập thể và chính thức đang làm vẻ vang lớn cho đất nước có bản Tuyên ngôn nhân quyền kia, còn có cả những vụ giết hại cá nhân của những kẻ đi khai hoá. ở đây, chúng tôi nêu lên vài vụ trong những chiến công đó, đã được ghi lại và thẩm tra, hoặc qua nhiều nhân chứng, hoặc qua chính bản thân các tác giả đã kể ra để tự khoe khoang bằng một sở thích quái ác thượng đẳng và đặc biệt của những kẻ thực dân. Chúng tôi xin trích từ cuốn nhật ký hành trình của một người lính thực dân sự việc sau đây:

“Khi “những người từng ở Bắc Kỳ” vui đùa trên tàu thì dưới mạn tàu phía bên phải có vài chiếc thuyền bán hoa quả, ốc hến. Để đưa hàng đến tận tay chúng tôi, những người An Nam buộc giỏ đựng hàng vào đầu ngọn sào rồi giơ lên. Chúng tôi chỉ việc chọn mà thôi. Nhưng đáng lẽ phải trả tiền, thì người ta lại có nhã ý bỏ vào giỏ đủ thứ như sau: những ống tẩu thuốc lá, khuy quần, mẩu thuốc lá. (Có lẽ họ làm như thế để dạy cho người bản xứ tính ngay thật trong việc mua bán chăng!). Đôi khi, để mua vui, một anh sốpphơ nào đó hắt cả một thùng nước sôi xuống lưng những người bán hàng khốn khổ. Lập tức có những tiếng rú lên vì đau đớn, những mái chèo vung lên loạn xạ để bơi tránh, làm cho những chiếc thuyền va xầm vào nhau.

Ngay phía dưới tôi, một người An Nam bị bỏng từ đầu đến chân, phát điên lên, muốn lao xuống biển. Người anh của anh ta, quên cả nguy hiểm, buông tay chèo ôm lấy anh và ra sức đè anh ta xuống lòng thuyền. Cuộc vật lộn chưa đầy 2 giây vừa kết thúc thì một thùng nước sôi nữa được hắt bởi một bàn tay chuẩn xác lại dội xuống kẻ bất hạnh. Tôi thấy anh ta lăn lộn trong thuyền, vết thương trơ cả thịt với những tiếng kêu không còn gì là của con người nữa! Và cảnh đó khiến chúng tôi cười; với chúng tôi, điều đó có vẻ cực kỳ ngộ nghĩnh. Quả thật chúng tôi đã có tâm hồn thực dân!…

… Trong thời kỳ tôi ở đó (Bắc Kỳ) không có tuần nào là không có vài cái đầu rơi.

Trong tất cả những cảnh tượng đó, tôi chỉ còn nhớ được một điều, là chúng ta còn tàn bạo, còn dã man hơn cả chính những tên cướp biển. Tại sao lại có những hành vi quái ác đến thế đối với một kẻ bị kết án sắp phải chết? Tại sao lại có những cuộc hành hạ thể xác, tại sao phải giải những đoàn tù đi bêu khắp các làng mạc?”.

Nguyễn Ái Quốc

Báo Le Libertaire, ngày 23-9-1921.
In trong sách: Thu Trang:
Ho Chi Minh à Paris,Pari, 1991, tr.164-165.
Dịch theo bài in trong sách Ho Chi Minh à Paris.

cpv.org.vn