Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Có một mùa xuân đặc biệt trong đời Bác Hồ

mx đặ biệt 1
Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại
Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961).

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay.

Lịch sử Đảng ta, lịch sử cách mạng Việt Nam còn ghi lại những sự kiện quan trọng gắn liền với hoạt động của Bác Hồ từ Xuân Tân Tỵ 1941 ở Pác Bó. Ngày 28-1-1941, Bác về đến Cao Bằng, chừng mươi ngày “ông Ké” sống với đồng chí, thăm, chúc Tết đồng bào, ngày 8-2-1941, trong sương giá buốt lạnh của miền núi đá biên cương, Người vào sống và làm việc trong hang Pác Bó. Núi rừng hoang vu, hang sâu ẩm ướt lạnh lẽo, hoạt động bí mật, sinh hoạt kham khổ, thiếu thốn “cháo bẹ, rau măng” nhưng tình cảm, ý chí khôi phục giang sơn đất nước giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Bác thật nhiệt huyết và lãng mạn:

Non xa xa nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Để “vạch con đường đánh Nhật, Tây”, cũng tại núi rừng Khuổi Nậm, Pác Bó, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp từ ngày 15 đến 19-5-1941. Hội nghị này đã quyết định về đường lối, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạo bước chuyển cơ bản trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, chuẩn bị lực lượng và phương pháp lãnh đạo toàn dân đấu tranh tiến tới cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc, sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, thống trị.

Vấn đề có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn vô cùng quan trọng, không chỉ ở thời kỳ Đảng hoạt động bí mật chưa lãnh đạo chính quyền mà vẫn có giá trị cho ngày nay là Bác Hồ đã truyền dạy cho cán bộ của Đảng những kinh nghiệm và bài học về phương pháp công tác, phương thức hoạt động cách mạng. Sự thật, đó chính là bàn chỉ nam, những vấn đề có tính nguyên tắc cho tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Những điều to tát ấy lại được Bác truyền thụ cho cán bộ rất giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp trình độ, điều kiện hoạt động của cán bộ lúc bấy giờ. Bác đã chọn lúc hội nghị kết thúc, trước lúc chia tay các đồng chí Trung ương và Xứ ủy, bên bờ suối trong rừng Khuổi Nậm căn dặn mọi người về cơ sở hoạt động phải ghi nhớ bốn điều: Một là, đoàn kết thương yêu nhau, gắn bó mật thiết với dân. Hai là, giữ bí mật, giữ nghiêm kỷ luật. Ba là, phải hiểu sâu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng theo đường lối, chủ trương của Đảng. Bốn là, thực hiện đúng phương pháp công tác: Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Bác Hồ của chúng ta đã trải 30 năm bôn ba ở nước ngoài để khi trở về đất nước, Người tiếp tục tạo ra những nhân tố để đưa cách mạng đến thành công. Chúng ta còn nhớ, từ năm 1925 Bác Hồ đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Người đã tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên ở nước ngoài và sau đó tiến tới thành lập các tổ chức cộng sản đầu tiên. Năm 1930, Người thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam và tổ chức hội nghị thành lập, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhân tố đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sáng tạo lớn đầu tiên của Bác. Phải đến hơn mười năm sau, tại Pác Bó, Cao Bằng, từ mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ đã thực hiện “ba sáng tạo” lớn tiếp theo sau khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba sáng tạo lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ 1941 đến tháng 8 năm 1945 là: Sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất (thành lập Mặt trận Việt Minh); Sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân (thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân); sáng lập chính quyền của nhân dân (Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc).

Có thể nói, từ mùa Xuân ấy, xuân 1941, Bác về, Tổ quốc ta, dân tộc ta, Đảng ta do Bác trực tiếp chỉ đạo mới thật sự thực hiện được một chiến lược lớn là đặt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phát-xít. Cũng từ Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã liên lạc với lực lượng Đồng minh. Từ khi Cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đứng về phe Đồng minh cũng đã được sự ủng hộ của phe Đồng minh. Đó là cơ sở thực tế và pháp lý quốc tế quan trọng để đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tuyên ngôn thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và tuyên bố trước toàn thế giới: Một dân tộc gan góc chống xâm lược mấy mươi năm và đã đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc ấy phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập.

Vậy là, từ mùa Xuân năm 1941, Cao Bằng có vinh dự được đón Bác Hồ sau 30 năm Người ra đi tìm đường cứu nước trở về, được Bác chọn làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên, cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và tiếp tục mở đường đi tới những thắng lợi huy hoàng cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng là nơi hiện thực hóa những tư tưởng chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ mùa Xuân ấy, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo đã chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu. Để rồi đến mùa Xuân 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là mùa Xuân vĩnh hằng của dân tộc ta.

Theo Baomoi.com
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm phòng, chống tham ô, lãng phí

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânChủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người để lại cho chúng ta những di sản tinh thần to lớn, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt là tư tưởng về thực hành tiết kiệm và phòng chống tham ô, lãng phí.

Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động, tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Theo Người, “tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là: “Xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ǎn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tǎng gia sản xuất, mà tǎng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”. Trong quan niệm của Người, tiết kiệm là chi tiêu, sử dụng có kế hoạch, có tính toán, xem xét đầy đủ các yếu tố, giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền của, thời gian, công sức nhưng vẫn đạt được mục tiêu xác định. Mục đích của tiết kiệm là để tích luỹ tiền của, thời gian, công sức cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Tiết kiệm “không phải là lý luận cao xa, mà là hành vi trong thực tế của cán bộ, nhân dân ta, tất cả mọi người đều phải thực hành tiết kiệm và kết quả tiết kiệm của mọi người đều góp phần cho sự nghiệp cách mạng thắng lợi”.

Vậy tham ô là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham ô là: “Ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung, của chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, cho đơn vị mình cũng là tham ô. Tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Người còn xác định  tham ô, không chỉ gây tổn hại rất lớn đến của cải vật chất mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân. “Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người”, “Tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân. Vì vậy, kiên quyết chống tham ô là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân ta”.

Hồ Chí Minh khẳng định lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền của, sức lao động, thời gian kém hiệu quả. Người cho rằng lãng phí có nhiều cách như lãng phí sức lao động; lãng phí thì giờ; lãng phí tiền của. Người cho rằng: “Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ: lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước của tập thể, thì lãng phí cũng có tội. Tham ô là trộm, cướp; lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho chính phủ, có khi còn tai hại hơn tham ô”.

Hồ Chí Minh chỉ ra “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô … cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Theo Người: “Muốn lúa tốt phải nhổ cỏ cho thật sạch, nếu không thì dù cày bừa kỹ, bón nhiều phân, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi. Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng phải nhổ cỏ cho thật sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Nếu không thì nó sẽ là hại đến công việc của ta”. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”, “là kẻ thù của nhân dân, của Chính phủ, kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”, “nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta, phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”. Chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta rất tốt đẹp, tệ tham ô, lãng phí là cái xấu xa do chế độ cũ để lại, như cái ung nhọt còn sót lại trên thân thể của cơ thể sống. “Công khai và mạnh dạn gạt bỏ cho thật sạch những ung nhọt ấy thì thân thể càng khoẻ mạnh thêm”.

Hồ Chí Minh yêu cầu: Thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, triệt để; phải trở thành phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp. Gắn chặt giữa xây với chống, kết hợp giáo dục, phòng ngừa với đấu tranh khắc phục, lấy giáo dục làm chính. Theo Người, để thực hiện được yêu cầu đó cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Phải dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân; chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ động đấu tranh khắc phục chủ nghĩa cá nhân. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng, đề cao trách nhiệm chính quyền thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, quản lý thực hành tiết kiệm, phòng chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

Theo dangcongsan.vn
Đỗ Long Văn (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTrong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh(1) đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng ham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”(2).

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn(3), gồm 5 điểm: Một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(4). Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: Trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”(5). Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(6). Trung với nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghĩa khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7).

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ánh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng.

———————————–

[1] Đường Kách mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Kách mệnh. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

Theo: dangcongsan.vn
Tâm Trang(st)

bqllang.gov.vn

45 năm sự kiện Tết Mậu Thân: Còn mãi với lịch sử

Đã 45 năm trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 nhưng thời gian không hề làm cho sự kiện lịch sử trọng đại này bị lãng quên mà nó vẫn luôn sống động trong ký ức mỗi người dân Việt Nam. Không những vậy, nó còn là mảng đề tài lôi cuốn giới chính trị, quân sự, sử học, báo chí…

Phóng viên Vietnam+ đã có cuộc gặp gỡ, phỏng vấn người đã thực hiện và bảo vệ thành công xuất sắc luận án Phó tiến sỹ khoa học lịch sử “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại miền Nam Việt Nam” – Đại tá, Phó giáo sư, tiến sỹ Hồ Khang (Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam).

Bước ngoặt quyết định

– Thưa Đại tá, Phó giáo sư, tiến sỹ Hồ Khang, như giáo sư sử học Gabriel Kolko từng nhận định trong tác phẩm “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” thì sự kiện lịch sử Tết Mậu Thân là sự kiện trọng đại nhất và phức tạp nhất của cuộc chiến giữa Mỹ và nhân dân Việt Nam, đề nghị ông có giải đáp về nhận định đó?

Phó giáo sư, tiến sỹ Hồ Khang: Đúng vậy, nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều cuốn sách, bài báo và công trình biên khảo,… vẫn đang muốn đi sâu hơn vào sự kiện lịch sử này nhằm tìm hiểu, đánh giá về vị trí, vai trò của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, tại sao nó xảy ra, xảy ra như thế nào, và vì sao nó đã gây chấn động mạnh ngay giữa lòng nước Mỹ.

Dù vậy, từ nghiên cứu cá nhân tôi, tôi thấy rằng, sự kiện Tết 1968 có thể coi là “bước ngoặt quyết định” của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm thay đổi hoàn toàn tương quan chính trị-quân sự trên chiến trường miền Nam, đẩy Mỹ vào tình thế không thể khác được và đặt ra những xu hướng không thể thay đổi của cuộc chiến. Một sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt như thế luôn phức tạp và đầy tranh cãi.

Quả thật, độ lùi thời gian cùng tư liệu từ nhiều nguồn mới xuất hiện, mới được công bố đã giúp cho chúng ta hôm nay có thêm cơ sở để nhìn nhận, phân tích, lý giải, đánh giá và làm sáng tỏ hơn, đầy đủ hơn, đúng đắn hơn và do đó có sức thuyết phục hơn về cuộc Tổng tiến công bất ngờ, táo bạo này.

– Sau “Tết Mậu Thân,” đã có nhiều cuộc thảo luận trong giới quân sự, đánh giá khá gay gắt về sự thành hay bại, được hay chưa được của sự kiện này. Xin ông đưa ra những đánh giá đã được thừa nhận và đồng tình nhất?

Phó giáo sư, tiến sỹ Hồ Khang: Chủ trương lớn mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 (tháng 1 năm 1967) đề ra là: Đã đến lúc, trên cơ sở những thắng lợi của ta và thất bại của địch, chúng ta có thể và cần phải chủ động bước vào một giai đoạn mới của cuộc chiến vừa đánh vừa đàm.

Nghiên cứu kỹ một số bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội lúc bấy giờ, chúng tôi đã nhận ra ở đây những tư tưởng chủ đạo mà nổi bật là “Ta biết thắng Mỹ vừa với sức ta.”

Cần phải khẳng định rằng, bằng đòn tiến công Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam ngày đó đã đưa chiến tranh vào sâu trong hậu phương, hậu cứ đối phương; tiêu diệt và tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh;

Thực tế, tiến công đã làm đảo lộn thế trận chiến lược của địch trên khắp chiến trường; ghìm chặt một đội quân đông hơn 1 triệu 30 vạn tên được “trang bị tới tận răng” vào mặt trận đô thị; tạo điều kiện và thời cơ cho quân và dân ta đẩy mạnh tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn.

Nỗi kinh hoàng của giới lãnh đạo Mỹ trước đòn tấn công Tết Mậu Thân cả trên chiến trường và ở ngay giữa lòng nước Mỹ. Đòn Tết Mậu Thân chẳng những ngay từ đầu đã giành được yếu tố bất ngờ, đánh mạnh vào những nỗ lực chiến tranh của Mỹ mà còn quan trọng là ở chỗ chỉ sau khi bị thất bại về quân sự trên chiến trường, Mỹ mới buộc phải chuyển giao gánh nặng chiến tranh lên vai chính quyền Sài Gòn.

Kết quả là Mỹ buộc phải đơn phương ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam. Nhân tố có ý nghĩa quyết định nằm sâu trong ý đồ chiến lược của chúng ta: bằng mọi giá phải kéo Mỹ xuống thang, buộc chúng ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.

Thế trận của lòng dân

– Thưa đại tá, để tiến công vào hệ thống dinh luỹ của đối phương, chúng ta phải giải quyết một loạt vấn đề thuộc về nghệ thuật tiến công, nghệ thuật bày binh, bố trận. Nhưng điều thành công nổi bật là gì?

Phó giáo sư, tiến sỹ Hồ Khang: Đó là thành công của sự đồng lòng nhất trí. Từ những địa phương, đơn vị vũ trang, những tổ đội biệt động, những chiến sĩ bình thường tới những người dân một lòng trung trinh bằng trí thông minh, lòng quả cảm. Chúng ta với khát vọng cháy bỏng mong ngày hoà bình sớm đến trên quê hương điêu tàn vì bom đạn địch đã biến điều tưởng như không thể trở thành có thể.

Khi ấy, miền Bắc dồn sức chi viện sức người, sức của cho chiến trường. Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn nhanh chóng mở rộng, tăng sức vận chuyển. Miền Nam khẩn trương chuẩn bị thế trận và lực lượng, hình thành các phương án công kích về quân sự và nổi dậy của quần chúng.

Có thể nói, đến trước ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra, phía Mỹ vẫn hoàn toàn lạc hướng trong việc phán đoán ý đồ thực sự và hướng tiến công chiến lược của ta. Ngay cả các sĩ quan tình báo trong Bộ chỉ huy quân sự Mỹ sau này cũng đã phải thừa nhận rằng, nếu như lúc đó, họ nắm được toàn bộ kế hoạch của cuộc Tổng tiến công đi nữa, thì họ cũng sẽ “không thể nào tin được” bởi quả thật, họ không sao hiểu nổi “bản chất” của hành động này.

Hoạt động tiến công và nổi dậy của ta mạnh mẽ, đồng loạt, rộng khắp của quân và dân ta trên chiến trường dịp Xuân Mậu Thân 1968. Trong khi đó, địch ứng phó lúng túng, bị động thoạt đầu và sự phản kích điên cuồng sau đó trên mặt trận đô thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng…

Nổi bật trong mùa Xuân 1968 là sự đồng thuận, giúp đỡ, ủng hộ, ôm bọc, chở che, là tấm lòng kiên trung với cách mạng của người dân đô thị, vùng ven, vùng tạm chiếm, vùng tranh chấp giành cho những người lính Quân giải phóng. Bên cạnh đó là sự tham gia tích cực bằng nhiều hình thức như tải đạn, tiếp lương, dẫn đường, che giấu bộ đội, cứu chữa thương binh, truy lùng ác ôn, đề điệp của người dân sống trong vùng Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát.

Việc nhiều sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn rời căn cứ, qua bao xóm làng, đồng ruộng, sông suối để ém sát các vùng ven đô, các mục tiêu trong nội đô mà không một người dân nào báo cho chính quyền Sài Gòn biết chẳng những đảm bảo cho sự bất ngờ của đòn tiến công mà còn là một nhân tố khiến giới lãnh đạo nước Mỹ ngày đó nản lòng. Qua thực tế này, họ nhận thấy “dân chúng miền Nam ủng hộ kẻ thù của Mỹ và chính quyền Sài Gòn”.

Quả thật, nếu không có nhân dân, không có thế trận lòng dân như thế, thì không thể tiến công theo kiểu Tết Mậu Thân 1968; không thể tạo ra và nhân lên tác động rộng lớn cùng những âm hưởng của cuộc tiến công này ở ngay giữa lòng nước Mỹ bên kia Thái Bình Dương.

Kỷ niệm 45 năm sự kiện lịch sử Tết Mậu Thân, chúng ta một lần nữa khẳng định sự kiện lịch sử trọng đại này đã thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ cũng như bản lĩnh và trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Chúng ta sẵn sàng đầy đủ về lý luận và thực tiễn để phản bác những luận điểm xuyên tạc phủ nhận giá trị, ý nghĩa của sự kiện lịch sử này.

– Xin cảm ơn Đại tá./.

Kim Anh (Vietnam+)
vietnamplus.vn

An táng hài cốt liệt sĩ ở hố chôn tập thể Quảng Ngãi

Đưa hài cốt liệt sĩ đi an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Quảng Ngãi. (Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm/TTXVN)

Sáng 5/12, tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Quảng Ngãi đã tổ chức lễ truy điệu và an táng 36 hài cốt liệt sĩ mới được tìm thấy trong hố chôn liệt sĩ tập thể tại phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi.

Tại lễ truy điệu, ông Lê Mỹ Liên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Quảng Ngãi đọc điếu văn ôn lại truyền thống đấu tranh anh dũng của quân và dân tỉnh Quảng Ngãi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ.

Toàn tỉnh có hơn 37.360 liệt sĩ và hơn 24.000 thương binh đã được nhà nước công nhận.

Đến nay, tỉnh Quảng Ngãi cũng đã tìm kiếm, qui tập hơn hài cốt 27.000 liệt sĩ vào 115 nghĩa trang liệt sĩ tại các địa phương trong tỉnh.

36 hài cốt liệt sĩ mới được phát hiện từ ngày 1- 4/12, bước đầu đã xác định đây là những liệt sĩ thuộc Đại đội đặc công 506A, Đại đội C21 của tỉnh và Đại đội đặc công 95 Bình Sơn hy sinh đêm mùng 1, rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân năm 1968, trong trận đánh vào Nhà lao Quảng Ngãi để giải cứu trên 1.500 chiến sĩ cách mạng bị địch bắt giam cầm.

Chiều ngày 4/12, trong khi đang thi công đường cống thoát nước tại tổ 9 phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi, đơn vị thi công tiếp tục phát hiện và tìm kiếm được thêm 3 hài cốt liệt sĩ chôn tập thể cách điểm mới phát hiện ngày 1/12 khoảng 50m.

Thành phố Quảng Ngãi đang làm các thủ tục cần thiết để tiếp tục tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ tại điểm chôn mới này.

Sau khi tổ chức lễ truy điệu, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã tiễn đưa 36 hài cốt liệt sĩ về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Quảng Ngãi./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

Tìm thấy 33 hài cốt liệt sĩ tại hố chôn ở Quảng Ngãi

Quả lựu đạn này được tìm thấy lẫn trong những hài cốt liệt sĩ. (Ảnh: tuoitre)

Sau 2 ngày khai quật hố chôn liệt sĩ tập thể tại tổ 9, phường Trần Phú, ngày 3/12, lực lượng tìm kiếm của Ủy ban Nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi và Ban chỉ huy quân sự thành phố đã tìm thấy 33 hài cốt liệt sĩ.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Quảng Ngãi cho biết, qua xác minh thông tin và các hiện vật tìm thấy như võng dù, biđông đựng nước, lựu đạn, dép caosu, gương, lược, các di ảnh…các cơ quan chức năng đã xác nhận đây là các chiến sĩ thuộc Đại đội đặc công 506A thuộc Tỉnh đội Quảng Ngãi, hy sinh khi đánh vào nhà lao Quảng Ngãi Tết Mậu Thân năm 1968.

Sau khi các chiến sĩ hy sinh, địch đã gom xác lại và lấp vào hố chôn chung này.

Hiện các ngành chức năng của tỉnh, Ủy ban Nhân dân thành phố và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã làm báo cáo gửi Quân khu V; đồng thời đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân trong và ngoài tỉnh biết, có thể liên lạc tìm thân nhân đã hy sinh trong trận đánh Tết Mậu Thân 1968.

Cả 33 hài cốt liệt sĩ được đưa về Nhà tang lễ để nhân dân đến dâng hương tưởng niệm.

Dự kiến lễ truy điệu và an táng sẽ được tổ chức vào ngày 5/12./.

(TTXVN/Vietnam+)
vietnamplus.vn

TP.HCM xây khu tưởng niệm liệt sỹ Tết Mậu Thân 1968

Lễ khởi công xây dựng Khu tưởng niệm liệt sĩ Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh: Thế Anh/TTXVN)

Ngày 1/2, Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức khởi công xây dựng Khu tưởng niệm liệt sỹ Tết Mậu Thân 1968 nhân dịp kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968.

Khu tưởng niệm có tổng diện tích 12 hecta tại xã Tân Nhựt, tổng kinh phí đầu tư xây dựng là 260 tỷ đồng, trong đó phần hạ tầng kỹ thuật là 130 tỷ đồng. Công trình gồm 13 hạng mục với các khối công trình chính gồm cổng tam quan, tượng đài chiến thắng kết hợp với nhà bảo tàng, tường vẽ tranh chiến thắng, nhà bia.

Ông Kiều Ngươn Toàn, Phó giám đốc Ban quản lý Đầu tư xây dựng công trình huyện Bình Chánh, cho biết: Nhà bia là được xem là điểm nhấn của toàn Khu tưởng niệm với thiết kế hình ngũ giác có diện tích 530m2 tượng trưng cho tinh thần tiến công và nổi dậy của quân ta từ 5 hướng và đặt quanh đài chiến thắng.

Về hình thức kiến trúc, các công trình trong Khu tưởng niệm được thiết kế mang tính đồng bộ và thống nhất theo hình thức kiến trúc đình truyền thống Nam bộ, có thể được cách điệu phù hợp với tính năng và kết cấu từng công trình. Tất cả đều thể hiện sự trang nghiêm và gần gũi với nhân dân. Ngoài ra, công trình còn có các khu chào cờ, tổ chức lễ, khu vui chơi giải trí, khu điều hành, sân khấu ngoài trời, nhà nghỉ.

Theo Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh, công trình thể hiện sâu sắc tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” của quân và dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung tri ân những người đã ngã xuống giành độc lập tự do cho dân tộc. Khi hoàn thành sẽ là địa chỉ đỏ, về nguồn của nhiều thế hệ người Việt Nam nhằm giữ gìn, phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng của cha anh.

Công trình này cũng sẽ góp phần xây dựng môi trường văn hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của nhân dân trên địa bàn xã Tân Nhựt, một xã anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ./.

Hoàng Anh Tuấn (TTXVN)
vietnamplus.vn

Chuyện cô gái mồ côi tham gia biệt động Sài Gòn

Ảnh chỉ mang tính minh họa. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam)

Tìm đến căn nhà nhỏ trên đường Hưng Phú, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vào những ngày tháng 4 này, chúng tôi gặp bà Nguyễn Thị Bích Nga, cựu chiến sĩ biệt động Sài Gòn, giờ là thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Biệt động khu Sài Gòn-Gia Định.

Nhìn dáng bà nhỏ nhắn, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi cách đây 45 năm, chính bà là người trực tiếp tham gia pháo kích vào Sở chỉ huy của tướng Mỹ Westmoreland tại Sài Gòn.

Cuộc đời bà Nga trải nhiều thăng trầm. Quê bà ở huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), mồ côi cha mẹ từ nhỏ, người anh ruột thì thất lạc, còn bà được một chiến sĩ bộ đội nhận làm con nuôi lúc 2 tuổi. Do cha nuôi tập kết ra Bắc năm 1954 và chết 2 năm sau đó vì bệnh nặng, nên mọi gốc gác về người thân ruột thịt của bà đều mù mờ.

Bà nhớ mơ hồ mình sinh năm 1951 nhưng không rõ ngày tháng sinh. Được những người thân của cha nuôi ở huyện Đức Phổ đùm bọc, nuôi dưỡng, cho đến năm 12 tuổi bà vào Sài Gòn mưu sinh.

Bà Nga sớm giác ngộ cách mạng, thoát ly tham gia vào lực lượng bộ đội năm 15 tuổi. Nhận thấy khả năng nhanh nhẹn, tháo vát của bà, tổ chức cử vào căn cứ ở Dầu Tiếng tham gia một khoá đào tạo pháo binh.

Sau đó, bà được phân công về hoạt động tại B8 Biệt động thành Sài Gòn từ tháng 10/1966 nhằm thâm nhập vào nội thành tham gia chiến dịch pháo kích cuộc diễu binh của chính quyền Sài Gòn ngày 1/11/1966.

Trong cuộc đời làm biệt động, bà Nga trải qua nhiều trận đánh lớn nhỏ và được tổ chức giao nhiệm vụ quan trọng là “xạ thủ” gắn liền với khẩu cối 82 ly. Đến giờ, bà vẫn nhớ như in trận pháo kích Sở chỉ huy tướng Westmoreland (tướng chỉ huy quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam ) tại Sài Gòn ngày 13/1/1967. “Đó là trận đánh đáng nhớ cả đời”, bà Nga bồi hồi nhớ lại.

Mùa xuân 1967, quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn tung lực lượng càn quét, tàn phá tại vùng tam giác sắt (Bến Súc, Hố Bò, Củ Chi). Để lật ngược thế cờ, Biệt động Sài Gòn được Bộ chỉ huy quân khu chỉ đạo tổ chức pháo kích vào Sở chỉ huy của tướng Westmoreland. Bà Nga cùng đồng đội cấp tốc vào nội thành Sài Gòn chuẩn bị trận địa.

Để địch không nghi ngờ, bà cùng một đồng đội đóng vai cặp vợ chồng mới cưới, thuê nhà ở khu vực Vườn Chuối (nằm gần mục tiêu pháo kích), ngày đêm nghiên cứu địa hình, chuẩn bị trận đánh lớn. Sau thời gian điều nghiên, công việc chuẩn bị vũ khí cất giấu trong căn nhà thuê đã hoàn tất.

Đến thời điểm chín muồi, 6 giờ sáng 13/1/1967, từ căn nhà thuê, bà Nga (với vai trò xạ thủ số 2) cùng 3 đồng đội khác bắt đầu sử dụng pháo cối 82 ly pháo kích vào Sở chỉ huy tướng Westmoreland nằm trên đường Phan Đình Phùng cũ (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) với hàng loạt quả pháo liên tiếp rơi vào khuôn viên Sở chỉ huy địch.

Những tiếng nổ dữ dội của pháo kích khiến hàng chục tên lính Mỹ, ngụy thương vong, cả Sở chỉ huy hoảng loạn. Dự đoán bọn địch sẽ truy tìm điểm đặt pháo kích, bà Nga cùng đồng đội nhanh trí cho đặt lại 5kg thuốc nổ vào nơi đặt nòng pháo rồi tẩu thoát.

Khi toán lính ngụy đến khám xét căn nhà trên thì khối thuốc phát nổ làm chết thêm một Phó Ty Cảnh sát ngụy ở quận 3 (cũ) cùng 2 thủy quân lục chiến và một số cảnh sát ngụy.

Sau trận đánh gây tổn thất lớn cho địch, bà Nga bị nhận diện và truy lùng gắt gao. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968, bà Nga được tổ chức tin tưởng phân công vào nhóm xạ thủ để pháo kích vào Dinh Độc Lập; tuy nhiên, trên đường vào nội thành, bà bị địch bắt. Chúng biệt giam bà với những trận đòn tra tấn khốc liệt lần lượt từ Trại giam Thủ Đức cho đến Khám Chí Hoà, Trại giam Tân Hiệp.

Trong thời gian này, bà ở chung phòng giam với các nữ tù chính trị nổi tiếng như bà Trương Mỹ Hoa (nguyên Phó Chủ tịch nước), bà Võ Thị Thắng (nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch). Sau các trận đòn tra tấn dã man, chúng đày bà ra biệt giam trong chuồng cọp ở Côn Đảo cho đến ngày giải phóng mới được trở về Sài Gòn với sức khỏe gần như suy sụp.

Sau giải phóng, dần dần phục hồi sức khỏe, bà được bố trí làm việc ở Ủy ban Nhân dân quận 1, Công ty xăng dầu Thành phố Hồ Chí Minh sau đó chuyển về công tác tại Công ty Vật tư tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu sớm vì sức khỏe yếu vào năm 1993.

Tuy nhiên, nỗi khoắc khoải về nguồn cội luôn thúc giục bà lặn lội tìm kiếm người thân suốt từ năm 1975 đến nay. Bà chỉ biết cha đẻ tên là Thông An, không biết họ, thời trước dạy chữ nho, chết sớm do bệnh, dường như được chôn cất ở thôn Lâm Bình, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi). Còn người mẹ đẻ cũng chết sớm vì bệnh hiểm nghèo, không rõ họ tên, nơi chôn cất. Bà chỉ còn một người anh ruột.

Bà Nga nhớ lại: “Khoảng năm 1962, sau thời gian dò la tung tích thì người anh ruột có đến nhà tìm gặp nhưng tôi không hỏi địa chỉ và không nhớ tên, sau đó do chiến tranh loạn lạc nên không còn gặp nữa.”

Từ ngày giải phóng đến nay, bà Nga đã nhiều lần lặn lội trở về miền quê ở Quảng Ngãi để tìm tung tích người anh trai nhưng trước những thông tin mơ hồ khiến việc tìm kiếm không thành làm cho bà luôn đau đáu. Bà chia sẻ: “Đến giờ tôi vẫn không biết anh trai đang ở đâu, cả gốc gác của mình tôi cũng không rõ.”

Mỗi khi xem chương trình “Như chưa từng có cuộc chia ly” phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam là bà Nga lại ngậm ngùi khi chứng kiến một gia đình thất lạc được đoàn tụ. Bà mơ ước đến ngày nào đó mình cũng sẽ được như họ. Vì thế, nhiều lần bà liên lạc với tổng đài của chương trình này nhờ giúp đỡ để tìm kiếm người anh bị thất lạc 57 năm nay.

Thậm chí bà cũng nhờ chính quyền địa phương ở Quảng Ngãi dò la tung tích và đã nhiều lần đăng báo tìm người anh bị thất lạc. Nhưng mọi cố gắng, nỗ lực tìm kiếm của bà đều không thành. Bà Nga nghẹn ngào nói: “Tôi chỉ mong gần đến cuối đời mình biết được gốc gác người thân thì mới yên lòng!”/.

Thế Vinh (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Sáng mãi các chiến công của 11 cô gái Sông Hương

Tiểu đội nữ du kích sông Hương. Ảnh tư liệu. (Nguồn: thuathienhue.gov.vn)

Thời gian trôi qua, những gì thuộc về quá khứ có thể bị mờ dần hoặc lãng quên theo năm tháng, nhưng với dân tộc, quân đội Việt Nam và với những người trải qua những mùa chiến dịch, những trận chiến các liệt trên chiến trường chống Mỹ, thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là ký ức lịch sử không thể nào quên, nhất là đối với những người nữ du kích của Tiểu đội 11 cô gái sông Hương ngày ấy.

Thành phố Huế đã dựng bia tưởng niệm và ghi công 11 cô gái sông Hương tại phường Xuân Phú, nơi gắn với những chiến công của họ trong những ngày đánh Mỹ.

Nơi đây đã trở thành địa điểm sinh hoạt văn hoá, thắp lửa truyền thống cho đoàn viên thanh niên và các thế hệ cách mạng, nhất là trong những ngày Tết đến Xuân về.

Nói về chiến công của tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương ngày ấy, ông Hoàng Lanh, nguyên Bí thư thành ủy Huế lúc bấy giờ cho biết ban đầu, họ tập hợp nhau lại trong một tiểu đội xung phong làm nhiệm vụ tải thương, dẫn đường cho bộ đội tiến công vào giải phóng thành phố.

Về sau, chính họ đã anh dũng chiến đấu đẩy lùi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại, có xe tăng, máy bay yểm trợ ngay giữa lòng thành phố Huế.

Riêng với chị Hoàng Thị Nở, một trong số các cô gái Sông Hương thì nhớ như in tất cả các cô gái sinh ra và lớn lên tại làng nón Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế, nhưng đều lấy tên sông Hương làm tên chung.

Cuối năm 1967, họ tình nguyện tham gia đội nữ vũ trang bí mật gồm 11 người, với nhiệm vụ được giao là nắm tình hình hoạt động của bọn địch tại địa bàn các xã vùng ven như Thuỷ Thanh, Thuỷ An, đến Xuân Phú (thành phố Huế); tham gia chuyển thương binh ra ngoài, và bổ sung lực lượng chiến đấu khi cần thiết.

[Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu]

Xuân Mậu Thân năm 1968, bộ đội bắt đầu đánh lớn ở thành phố Huế. Do thông thuộc địa bàn, 11 cô gái sông Hương được tổ chức thành một tiểu đội, ban ngày đi tổ chức xây dựng lực lượng nòng cốt, chiều tối đi gài đặt lựu đạn giết ác ôn và tổ chức đưa đón, dẫn đường cho các chiến sĩ vào chiến đấu giải phóng thành phố.

Riêng trận đánh đêm 11 sáng 12/2/1968 cả tiểu đội 11 cô gái sông Hương, với các vũ khí được trang bị AK, K44, một số mìn và lựu đạn nhưng đã dàn trận khắp các địa điểm tại khách sạn Hương Giang, Đại học sư phạm, chợ Cống, Xuân Phú để cầm cự và đánh lui cả một tiểu đoàn lính Mỹ có nhiều xe bọc thép và máy bay chiến đấu yểm trợ, diệt 70 lính và 4 xe tăng, thu nhiều vũ khí của địch để trang bị lại phục vụ cho chiến đấu.

[Quần chúng góp phần quan trọng trong chiến thắng]

Chị em háo hức đánh giặc quên ăn quên ngủ, lúc xông xáo với việc thả truyền đơn, đậy hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, lúc liên lạc và vận động binh lính ngụy trở về với nhân dân. Bất chấp hiểm nguy, trong công sự, chị em còn đùa nhau lính Mỹ to xác càng dễ bắn, chị em mình phải nhanh chóng, quyết liệt để chúng không thể trốn thoát.

Xuân năm ấy se lạnh, Huế rét ngọt, mưa phùn lất phất. Chị em vừa chiến đấu, vừa ăn Tết ngay trên công sự khét lẹt mùi khói thuốc. Bánh Tết được các mẹ, các chị trong phố đem ra tiếp tế.

Nhiều chị em đã anh dũng hy sinh ngay trong trận chiến đấu đó, trong đó có tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên và tiểu đội phó Đỗ Thị Cúc khi tuổi đời họ còn rất trẻ.

Chiến công của 11 cô gái sông Hương đã được Bác Hồ gửi thư khen:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường
Bác khen các cháu dân quân gái
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”

Năm 2009, tiểu đội du kích 11 cô gái sông Hương còn vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Gặp lại chị Hoàng Thị Nở tại ngôi nhà số nhà 131/1 đường Bà Triệu, thành phố Huế bây giờ, chị cho biết sau giải phóng, trở về với đời thường, 5 trong số 11 cô gái sông Hương ngày ấy còn sống đã có 4 lần gặp lại nhau trong các chương trình giao lưu các thế hệ phụ nữ tham gia kháng chiến.

Những người đồng đội từng chung một chiến hào xưa thì nay mỗi người sinh sống một nơi. Chị Chế Thị Mừng và Nguyễn Thị Xê lấy chồng xa ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam Định; còn lại các chị Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Hợi, và chị Hoàng Thị Nở đều ở tại Thừa Thiên-Huế.

Chị Nguyễn Thị Hoa sau giải phóng về tham gia làm công tác ở Ban quản lý chợ Đông Ba, chị Chế Thị Mừng làm y sĩ ở phòng khám khu vực 3, chị Hoàng Thị Nở làm Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Huế, nay tất cả đã ngoài 60 tuổi và đều nghỉ hưu.

Mỗi người mỗi hoàn cảnh và còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng các chị đã vượt lên tất cả, xứng danh người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”…/.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Quần chúng góp phần quan trọng trong chiến thắng

Ảnh tư liệu. (Nguồn: daibieunhandan.vn)

Nói đến Xuân Mậu Thân 1968, nhiều người không thể nào quên hình ảnh nhân dân đón bộ đội như những người thân đi xa lâu ngày trở về. Chính lực lượng quần chúng mến yêu ấy là động lực, là cội nguồn tiếp thêm sức mạnh đi đến ngày thắng lợi vinh quang…

Đó là cảm nhận của các ông Nguyễn Trung Chính, Phan Nam, nguyên là những chỉ huy mặt trận Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Ngay từ phút phát lệnh nổ súng (2 giờ 33 phút), tất cả các hướng, mục tiêu tấn công, nổi dậy đã đồng loạt, hợp đồng mạnh mẽ, nổ súng. Kẻ thù không kịp trở tay đối phó, bị cô lập, rối loạn, bị chia cắt không ứng cứu, chi viện cho nhau được, bị tổn thất nặng nề.

8 giờ 30 phút ngày mồng 2 Tết, cùng thời điểm lá cờ Liên minh Dân tộc – Dân chủ – Hòa bình tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Vân Lâu, tất cả các đội công tác chính trị-vũ trang, các “tụ điểm” quân, khu phố, đường phố, các đội Biệt động, đội An ninh vũ trang các lực lượng cán bộ thành tăng cường, lực lượng tụ điểm của học sinh, sinh viên thanh niên đồng loạt xuất hiện hành động, cùng các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, đánh trả bọn địch ngoan cố, bảo vệ, hỗ trợ quần chúng nổi dậy.

Địa bàn nội thành rộng lớn được giải phóng. Lực lượng to lớn nổi dậy đã lên đến hàng chục vạn dân, sức mạnh mới tại chỗ – “hậu phương” rộng lớn mới được giải phóng, làm chủ, tạo thuận lợi cho lãnh đạo, chỉ huy mặt trận triển khai tiếp, nhanh chóng phát huy nội lực, bảo vệ thành quả thắng lợi giành được, chống địch phản kích, tái chiếm Huế.

Không khí vui mừng, phấn khởi buổi đầu hiện rõ và ngày một thể hiện rõ hơn trong những công việc do các đội công tác đường phố đề ra, được đông đảo nhân dân hăng hái tham gia thực hiện.

Mối quan hệ gắn kết giữa quân – dân ngày một gần gũi, chặt chẽ, thuận lợi hơn, tăng thêm sức mạnh mới – sức mạnh của sự nổi dậy làm chủ, kiểm soát, bảo vệ thành quả chung, từ sự kết hợp chặt chẽ tấn công quân sự, đồng loạt nổi dậy của nhân dân ở đô thị lớn.

Bà con ở nội thành đã nhanh chóng tin tưởng, hăng hái làm theo sự kêu gọi, dắt dẫn của các đội công tác, cán bộ thành tăng cường về các khu phố địa bàn. Nhất là vai trò tích cực, phát huy tác dụng nhanh của những người từng hướng dẫn quần chúng nội thành nổi dậy đấu tranh chống Mỹ và tay sai trước đây mà họ đã nhận ra. Hoặc số cán bộ cốt cán cơ sở tại chỗ, số do các huyện bí mật đưa vào từ trước chưa kịp giới thiệu cho thành phố, nay xuất hiện như những “người thân” đi lâu mới về.

Đối với những người, gia đình có tham gia hoặc quan hệ làm ăn với bộ máy ngụy quân, ngụy quyền…lúc đầu số đông tỏ ra lo ngại, lúng túng, bị động, hoang mang chờ đợi, dè dặt, lo sợ…Số gia đình có người đã gây tội ác, có nợ máu thì càng lo lắng, sợ cách mạng trừng trị.

Nhưng từng bước, họ cũng yên lòng, ổn định khi đã nghe và được giải thích – “tai nghe mắt thấy”, được đối xử khoan hồng trong và sau khi trình diện, nộp vũ khí, tài liệu ngụy tại các điểm tiếp nhận, về gia đình sống bình thường.

[Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu]

Ông Hoàng Lanh nguyên Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chính ủy Mặt trận cánh Nam Huế nhớ tường tận vào khoảng 9 giờ ngày mồng 3 Tết, cuộc míttinh chào mừng thắng lợi của cách mạng được tổ chức trọng thể tại Thành Nội.

Khác với sự cẩn trọng ban đầu, người dân thành phố Huế đã xuống đường. Nhiều người nắm áo chúng tôi, nước mắt rưng rưng: “Các anh về đây rồi thiệt à? Cánh mạng đã về rồi thiệt à”.

Cuộc míttinh thu hút vài trăm người, trong đó có các anh Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, chị Lê Thị Mai (em đồng chí Lê Quang Vịnh). Những người dân Huế đã từng sống trong ách cai trị của chế độ Mỹ – Nguỵ khi nghe nói “Thưa đồng bào, bây chừ cách mạng đã về” thì vỗ tay ào ào và hết sức xúc động.

Ông Lanh nhớ mãi hôm ấy, chỉ những lời nói giản dị dưới lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vậy thôi mà đã làm cho mọi người mừng rơi nước mắt.

Ông cũng lặng người đi vì tự hào và sung sướng. Đó là những giọt nước mắt chờ đợi, tủi hờn và hơn thế là những giọt nước mắt tin yêu cách mạng của những người dân Huế bình thường một lòng tin theo cách mạng mà suốt đời ông chẳng thể nào quên.

Đối với ông Phan Nam, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế thì người dân Huế đã đóng góp sức người, sức của làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Tiếp theo những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên chiến trường, ở hậu phương, những người có uy tín, kinh nghiệm và nhiệt tình đã tự nguyện đứng ra tổ chức quyên góp tiền bạc, lương thực, thực phẩm ủng hộ bộ đội nuôi quân.

Có nhà ủng hộ cả tấn hàng, hàng chục tấn gạo, thực phẩm, mắm muối, chất đốt. Hàng vạn nhân dân Huế “có chi góp nấy” miễn sao bộ đội được ăn no đánh thắng quân địch, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng đã giành được.

Sau này, Bác Hồ đã tặng cho quân và dân thành phố Huế 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”. Đây mãi mãi là niềm tự hào cho các thế hệ cách mạng, là nguồn sức mạnh để người dân Huế vượt qua muôn vàn khó khăn của những năm tháng chiến tranh ác liệt cho đến ngày đất nước toàn thắng.

45 năm đã trôi qua nhưng những bài học về chỉ đạo chiến lược, về nghệ thuật phát hiện và chớp thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị, nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng để lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều…

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 giữ một vai trò to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân và đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam như một chiến công bất hủ; là một biểu hiện tập trung của ý chí và sức mạnh quật cường của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, biểu hiện sức sáng tạo và tài thao lược trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu

Đã 45 năm trôi qua, nhưng ký ức về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế không thể phai mờ trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Thu, nguyên Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên, Chỉ huy trưởng cánh Bắc đánh vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm ấy.

Đã gần 80 tuổi, ông vẫn minh mẫn và đặc biệt là nhớ rất rõ, đến từng chi tiết của từng trận đánh mùa Xuân năm ấy.

Chiều 30/1/1968, từ núi rừng Hương Trà, cánh quân chủ yếu phía Bắc Huế cùng với toàn mặt trận bắt đầu xuất quân. Mỗi cánh quân, ngoài lực lượng bộ đội trong đội hình còn có các đội biệt động, đội công tác khởi nghĩa, cán bộ dân vận mặt trận trên 2.500 người, kéo dài trên 2km.

Cuộc hành quân bí mật, phải vượt qua đồi núi, khe suối, sông ngòi, làng mạc. Đặc biệt nhất là vượt qua vành đai tai mắt bảo vệ vòng ngoài của địch để tiếp cận mục tiêu bí mật, an toàn, đúng giờ quy định.

Từ các hướng, các mũi tiếp cận mục tiêu đã giữ được bí mật trước giờ nổ súng. Kết quả đó là nhờ công tác chuẩn bị chiến trường với thế trận chiến tranh nhân dân của các cấp ủy địa phương và các đơn vị với tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm ý thức kỷ luật của cán bộ, chiến sỹ.

Điều đáng nói là có đồng chí khi vượt sông cạnh vị trí địch đóng quân, xuồng bị chìm nhưng không một lời kêu cứu, gặp hiểm nguy sẵn sàng hy sinh, không làm lộ bí mật.

Đúng giờ G – 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968 (rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân), từ tuyến xuất phát xung phong, các mũi tấn công bằng đòn chiến đấu đồng loạt, dũng mãnh, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu như Mang Cá, cửa An Hòa, cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, Cửa Hữu, Đại Nội, Cột Cờ, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba.

Cánh phía Nam diệt Trung đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai, khu Nam Giao, Kho Rèn, Sở cảnh sát, Đài phát thanh, Tòa tỉnh trưởng, tiểu khu Thừa Thiên Phan Sào Nam, khách sạn Thuận Hóa.

Sau 3 giờ chiến đấu, ta đã chiếm được các mục tiêu trọng yếu cả quân sự lẫn chính trị và làm chủ cơ bản thành phố Huế cả phía Bắc lẫn phía Nam. Cùng với đòn tấn công quân sự, nhân dân thành phố Huế, dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, cùng đồng loạt nổi dậy làm chủ từng khu phố như Đông Ba, Gia Hội (gồm 3 phường) và Cồn Hến.

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 31/1/1968, lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, báo hiệu thành phố Huế được giải phóng. Cùng với đó là các đội bình định, phòng vệ dân sự ở nông thôn, vùng ven bị các lực lượng bộ đội địa phương, biệt động, dân quân du kích bao vây, tiêu diệt, bức hàng, bức rút. Nhân dân đồng loạt, nhất tề đứng dậy làm chủ thôn xóm, quê hương mình.

Đòn tấn công mở đầu trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế giành được thắng lợi ngay từ phút đầu, giờ đầu, ngày đầu.

Địch bị đánh bất ngờ, cả về mục tiêu, thời gian, lực lượng và phương pháp tấn công, bị đánh cả bên trong lẫn bên ngoài thành phố, cả vùng nông thôn và đồng bằng. Bị động, địch hoang mang, lúng túng, không nơi nào đối phó, ứng cứu cho nhau được.

Trong 3 ngày đầu, các đơn vị của ta vừa củng cố mục tiêu chiếm được, vừa mở rộng vùng giải phóng, cùng nhân dân lùng bắt bọn địch chạy trốn thoát, diệt bọn ác ôn, đầu sỏ, các đảng phái phản động.

Tất cả 36 cơ quan ngụy quyền thuộc thành phố Huế và trung phần đều bị ta đánh chiếm, đập tan bộ máy ngụy quyền của địch từ tỉnh, thành phố xuống tận thôn xã. Ta thiết lập chính quyền cách mạng trong các quận, phường thành phố Huế và các xã vùng ven đô, nông thôn của tỉnh.

Đánh chiếm và giữ thành phố Huế liên tục trong 25 ngày đêm, ta vẫn giữ được thế chủ động ở từng khu vực, từng mục tiêu, dù địch đã tăng viện quân lên nhiều lần. Có thời điểm trong thành phố có tới 8-9 tiểu đoàn Mỹ ngụy. Đòn đánh phản kích địch ở cống Thủy Quan của d7/F325 diệt 200 tên địch; đánh quỵ c/D4 ngụy, đại đội thám báo bắt nhiều tù binh, thu giữ 40 súng, giữ vững tuyến hành lang từ cửa Chánh Tây sang Cửa Hữu.

Đòn phản kích địch ở ngã tư Mai Thúc Loan – Đinh Tiên Hoàng, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy, diệt 120 tên, phá hủy 3 xe M113, giữ vững phía sau đội hình các đơn vị ở cửa Thượng Tứ, Đại Nội, cửa Đông Ba. Một bộ phận d2/e6 ở cửa Đông Ba đánh phản kích 1 đại đội Mỹ, diệt 50 tên, thu nhiều súng đạn.

Điển hình như d6/e6 đánh tan tiểu đoàn ngụy tại cầu An Hòa, diệt 200 tên địch, bắn cháy 5 xe M113 buộc chúng phải rút lui về sau cống Rớ.

Đại đội 5, Tiểu đoàn 7 Kỵ binh bay của Mỹ tiến vào Liễu Cốc bị c1/d816/e9 đánh tan, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 xe M113… giữ vững hành lang phía Tây Bắc Huế, đảm bảo cho các lực lượng vận chuyển thương binh, và đưa cán bộ, nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên ra khu căn cứ an toàn.

Về phía Nam, phía Đông thành phố Huế, địch tập trung lực lượng phản kích ra các nơi như An Cự, cầu Lòn, kho Rèn, ngã 6, sân vận động đều bị ta chặn đánh quyết liệt, diệt trên 2.000 quân Mỹ ngụy, bắn cháy 10 xư M113. Cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công vừa tiêu diệt địch, vừa giữ thế chủ động đánh địch, hoàn thành được nhiệm vụ đề ra…

Riêng trận đánh tại nhà lao Thừa Phủ, tại đây địch đang giam giữ hơn 2.000 tù nhân, được canh gác cẩn mật, chúng cho cài mìn clâymo để bảo vệ và ra sức chống trả các đợt tiến công của quân ta. Các chiến sỹ trinh sát vũ trang và biệt động đã kết hợp bao vây, khống chế, dùng lao thông báo tin chiến thắng của cách mạng và tìm cách đột nhập vào bên trong động viên cán bộ, bộ đội đang bị giam giữ nổi dậy kêu gọi bọn cai ngục, lính canh đầu hàng.

Nửa đêm 2/2/1968, một người lính ngụy đang bị địch giam trong lao trốn được ra ngoài, đầu hàng và nói: có đường hầm bí mật vào lao và dẫn các chiến sỹ vào giải phóng nhà lao theo đường hầm bí mật đó. Thế là từ ngoài đánh vào, trong đánh ra địch không kịp trở tay, nhà lao được giải phóng…

Theo Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tại Trị Thiên-Huế, ta đã giải phóng 227.300 dân, 40 xã và 296 thôn.

Ủy ban Nhân dân cách mạng một số huyện và thành phố được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.

Thắng lợi quan trọng này, cùng với thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Johnson phải “xuống thang” chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Paris.

Phía Mỹ phải thay Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt nam. Johnson thôi không ứng cử nhiệm kỳ 2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện trọn vẹn chiến lược “đánh cho Mỹ cút,” để tiến tới “đánh cho ngụy nhào,” giành độc lập thống nhất Tổ quốc…/.

Quốc Việt (TTXVN)
vietnamplus.vn

Bác Hồ và mùa xuân cách mạng 72 năm trước (*)

Tháng 10-1938, Bác Hồ từ Nga trở lại Trung Quốc. Giữa năm 1940, xe tăng của phát xít Hit-le tràn vào Pa-ri, và ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng. Đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Bác chủ trương chuyển hướng hoạt động đến biên giới Việt – Trung, rồi về hẳn trong nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Trưa ngày 8-2-1941, đồng chí Vũ Anh ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa mới gặt xong. Mặt trời đã ngả sang chiều thì Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp đã về bên này cột mốc biên giới. Khi đến cột mốc 108 – cột mốc bằng đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp – Bác dừng lại, cúi đọc những chữ khắc sâu trong đá, rồi hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu tới dải đất Tổ quốc trùng điệp.

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Bác Hồ về Tổ quốc vào mùa Xuân Tân Tỵ 1941.

Khi ra đi từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Bác 21 tuổi, đến khi trở về 51 tuổi, tóc đã hoa râm, song tầm vóc chính trị vượt xa các nhà lãnh đạo cách mạng ở trong nước lúc bấy giờ.

Pác Bó thay mặt Đất Mẹ, đón người con vĩ đại nhất của dân tộc, sau 30 năm xa cách, lần đầu tiên vui Xuân trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc.

“Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về…Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”

                                     (Tố Hữu)

Pác Bó là nơi đặt chân đầu tiên của Bác khi về nước, và sau đó vẫn là nơi đóng cơ quan của Bác cho đến lúc Bác chuyển về Tân Trào (4 tháng 5 năm 1945).

Pác Bó là một bản nhỏ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm sát biên giới Việt – Trung, cách thị xã Cao Bằng gần 60 km. Nhân dân trong vùng chủ yếu là người Nùng.

Tài sản của Bác sau bao nhiêu năm đi khắp năm châu bốn biển, giờ đây vẫn chỉ một chiếc va-li con, trong đựng một ít tài liệu quan trọng và một chiếc máy chữ của các đồng chí trong nước gửi cho trước đây.

Trong sương giá lạnh của miền núi đá biên cương, Bác sống và làm việc trong hang Pác Bó. Trong hang, có dòng suối chảy về xuôi và dãy núi đá xanh. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đó đã được Bác thể hiện trong bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Từ suối Lê-nin, từ núi Mác, ánh sáng cách mạng đã tỏa rộng muôn nơi…

Câu đối dưới đây Bác làm ngay trong rừng sâu Pác Bó đã nói lên mong muốn và quyết tâm của Bác đối với dân, với nước từ những ngày đầy gian khó:

– Nước mới quyết làm cho nước mới
– Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa. (1)

Ở Pác Bó, cuộc sống tuy vô cùng khó khăn, kham khổ, nhưng Bác vẫn ung dung, thanh thản, luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Tư thế của nhà thơ là tư thế đứng trên đầu mọi gian khó, hiểm nguy. Bài thơ đã làm sống lại cuộc đời của một nhà hoạt động chính trị bí mật trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước. Năm 1961, về thăm lại Pác Bó, Bác xúc động cảm tác:

“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Bài thơ bốn câu ngắn gọn đã phác họa con đường lịch sử 20 năm của dân tộc.

Cũng chính tại Pác Bó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ 10 đến 19-5-1941) do Bác triệu tập và chủ trì, họp ở rừng Khuổi Nậm, đã nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp lực lượng toàn dân. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cứu nước giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, Bác Hồ về Tổ quốc mùa Xuân 1941 là một sự kiện vô cùng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Mười ba năm sau, năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954). Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ ngày 23-9-1945 đã kết thúc. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Ba mươi tư năm sau, năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một mùa Xuân vĩnh viễn cho đất nước.

NGUYỄN XUYẾN
thuathienhue.edu.vn

—————————

(*) Bìa viết này được đăng vào năm 2011 nên Vkyno xin sửa lại tiêu đề cho phù hợp với hiệu niên