Tag Archive | Cách mạng Tháng Tám

Người thiết kế Kỳ đài Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình Ảnh: TL

Nhớ đến ngày Lễ Độc lập (2/9/1945), mỗi chúng ta đều không quên được hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên Kỳ đài giữa Ba Đình lịch sử, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Người vinh dự được giao nhiệm vụ thiết kế Kỳ đài trong buổi lễ lịch sử đó là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh quê làng Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên.

Sáng 1/9/1945, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đang làm việc ở văn phòng thì được ông Phạm Văn Khoa, cán bộ của Ban Văn hóa Cứu quốc đến truyền đạt yêu cầu của Kỳ bộ Việt minh về việc thiết kế Kỳ đài để chiều 2/9 Hồ Chủ tịch lên đọc Tuyên ngôn Độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào tại vườn hoa Ba Đình. Ông Phạm Văn Khoa nêu yêu cầu: Kỳ đài làm giản dị nhưng phải trang nghiêm; trên có thể đứng được hơn 30 người.

Nghe xong yêu cầu thiết kế Kỳ đài, ông Ngô Huy Quỳnh liếc nhìn đồng hồ và nhẩm tính: “Thời gian quá gấp”, tuy vậy ông vẫn hẹn ông Phạm Văn Khoa 12 giờ trưa hôm ấy đến xem bản vẽ phác thảo của ông. Nói xong, ông nhanh chóng chuẩn bị mấy thứ đồ nghề rồi vội đạp xe đến vườn hoa Ba Đình để khảo sát thực địa. Đứng ngắm toàn cảnh vườn hoa Ba Đình, khảo sát tất cả các địa điểm, mặt bằng, những hình khối xung quanh vườn hoa có liên quan rồi ngồi ngay tại hiện trường phác thảo nhanh 3 phương án thiết kế, xong lại hối hả đạp xe về văn phòng để kịp thời gian để ông Phạm Văn Khoa và anh em trong cơ quan tham gia ý kiến. Đúng 12 giờ trưa ngày 01/9, ông Phạm Văn Khoa và anh em trong văn phòng có mặt đông đủ để nghe kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trình bày bản vẽ phác thảo Kỳ đài.

Sau khi nghe ông Quỳnh báo cáo, mọi người đều nhất trí chọn phương án thi công đơn giản nhưng lại toát lên được ý tưởng của tác giả đó là sự hài hòa giữa không gian của vườn hoa Ba Đình với biển người đứng trong khu vực, mọi người đều có thể nhìn được Hồ Chủ tịch và các thành viên Chính phủ lâm thời. Mọi người thống nhất cao và đúng 12 giờ 30 ngày 1/9/1945, Kỳ đài bắt đầu được thi công. Là người thiết kế nhưng vì thời gian quá gấp nên Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trực tiếp cùng mọi người thi công Kỳ đài. Cũng buổi sáng hôm đó, ông Phạm Văn Khoa đến mời thêm ông Quyến là thợ mộc rất giỏi ở phố Hàng Hành để cùng với kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thi công Kỳ đài.. Xem qua bản vẽ, ông Quyến tính số khung, số ván, số đinh và một số vật liệu khác để Ban Tổ chức chuẩn bị. Ông Phạm Văn Khoa nhờ luôn ông Quyến huy động thêm 10 người thợ mộc cùng 40 anh em ở Ban Cổ động, Ban Khánh tiết, Ban Khoa giáo đến giúp việc. Không khí làm việc khẩn trương, mọi người làm việc luôn tay, không thấy mệt, chỗ này cưa, chỗ kia dọc gỗ. Tiếng đục, tiếng đóng đinh chan chát vang cả không gian. Lúc bấy giờ vườn hoa Ba Đình chỉ là khoảng đất phẳng, nên mọi người chôn các trụ của Kỳ đài xuống đất, như thế vừa tiết kiệm gỗ lại không phải cưa và tạo cho Kỳ đài vững chắc.

Khi Kỳ đài vừa được dựng lên, anh em trong ban Khánh tiết bọc vải, ken hoa và chuẩn bị hệ thống âm thanh. Gần 6 giờ sáng hôm sau (ngày 2/9/1945) Kỳ đài được hoàn thành. Kỳ đài cao hơn 4m, rộng và sâu 4m, trên có 1 cột cờ cao hơn 10 m, hai bên có hai lư hương lớn bằng gỗ. Khi đứng trên Kỳ đài để kiểm tra lần cuối cùng, ông Ngô Huy Quỳnh thấy đồng bào khắp nơi đang đổ về với khí thế cách mạng hừng hực, cờ hoa, biểu ngữ giăng khắp. Mùi trầm từ hai lư hương lớn tỏa hương ngào ngạt, ông thấy lòng thanh thản vì vừa hoàn thành một trọng trách to lớn – Kỳ đài biểu tượng của ý chí độc lập dân tộc đã kịp hoàn thành phục vụ cho Lễ Độc lập đầu tiên của nước nhà, cứ thế nước mắt kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trào ra vì sung sướng, hạnh phúc…

Hà Nội, mùa thu năm 2011
Đặng Bình Minh

bqllang.gov.vn

Quảng trường Ba Đình lịch sử và ngày lễ Độc lập 2/9/1945

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ảnh Internet

Quảng trường Ba Đình được xem là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây đã lưu giữ dấu ấn nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Đặc biệt, cách đây tròn 66 năm, vào ngày 2/9/1945, ngay tại Quảng trường này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của Thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là Quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay Vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố). Xung quanh Vườn hoa Puginier này một số công trình công sở, biệt thự được xây dựng. Một trong những công trình được xây dựng sớm là Phủ Toàn quyền (1902), sau này là Phủ Chủ tịch. Về sau thêm các công trình quan trọng khác là trường Albert Sarraut (1919), nay là Cơ quan Trung ương Đảng và Sở Tài chính (1925), nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao.

Cái tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên. Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22/8/1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập. Lúc đầu khu Quần ngựa hoặc Đông Dương học xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) được đưa vào danh sách lựa chọn nhưng song không phù hợp vì thấy quá xa trung tâm Hà Nội lúc đó. Nếu chọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Quảng trường Ba Đình (Vườn hoa Ba Đình lúc đó) đã được chọn là nơi diễn ra lễ Độc lập, cho dù lúc bấy giờ xung quanh địa điểm này còn có những cơ quan như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… là những nơi vẫn còn khá nhiều lực lượng thù địch với cách mạng đang chiếm đóng.

Ngày 28/8/1945, Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập được thành lập. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm lo liệu công tác tổ chức ngày lễ Độc lập với một mệnh lệnh: “Đây là sự kiện lịch sử lớn kết thúc Cách mạng tháng Tám và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” kèm theo một lời khích lệ đầy tin tưởng: “Việc khó mới giao cho chú!”. Công tác chuẩn bị tổ chức ngày lễ Độc lập được tiến hành gấp rút, tất cả những người tham gia thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy đều nỗ lực hết mình, làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi với tinh thần trách nhiệm cao.

Công việc dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28/8 và phải hoàn tất trong ngày 1/9. Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời các kiến trúc sư để thiết kế lễ đài, đồng thời cho gọi thợ mộc thi công. Lễ đài mừng ngày Độc lập, công trình kiến trúc vĩ đại được làm bằng gỗ, ván, đinh và vải. Thời gian thiết kế và thi công vẻn vẹn trong vòng 48 giờ, yêu cầu chặt chẽ không được chậm trễ, nếu chậm 1 giờ là lỡ thời cơ công bố văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Và cuối cùng thì công việc cũng đã hoàn thành theo đúng dự kiến.

Và ngày mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mong đợi đã đến. Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc. Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy. Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ kính yêu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Họ giương cao cờ, hoa và biểu ngữ, môi nở nụ cười, miệng hát vang bài ca cách mạng. Rừng cờ tung bay phấp phới trước gió mùa thu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh Internet

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ kaki giản dị bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm, Người đã đọc bản Tuyên ngôn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Cả biển người im lặng phăng phắc lắng nghe từng câu, từng chữ của Người. Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sau khi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Tiếp đến là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi tước ấn kiếm của Bảo Đại. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên lễ đài một lần nữa, Người kêu gọi nhân dân kiên quyết hy sinh để giữ vững nền độc lập mới giành được. Lễ mít tinh đã chuyển thành một cuộc tuần hành rầm rộ trong thành phố.

Kể từ đây, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra cho dân tộc ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân lao động sau những năm tháng nô lệ đã rũ bùn đứng lên trở thành con người tự do, người chủ của đất nước. Ba ngày sau đó, ngày 5/9/1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Sau lễ Tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Những năm sau đó, cùng với bao thăng trầm, đổi thay của đất nước, Quảng trường Ba Đình cũng đã mấy lần đổi tên. Sau năm 1954, có ý kiến lấy tên là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ đề nghị giữ cái tên Ba Đình. Ngày Bác mất, Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi diễn ra lễ truy điệu Người. Sau này, Đảng và Nhà nước đã quyết định khởi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính tại lễ đài, nơi được dựng lên để Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình.

Quảng trường Ba Đình ngày nay. Ảnh Internet

Đã 66 năm trôi qua kể từ lễ Độc lập 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa cho đến tận ngày nay. Nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lớn, đánh dấu những bước trưởng thành của cách mạng nước nhà trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử thường xuyên được chọn là nơi để tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại hoặc đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính trị – văn hóa lớn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo đức cho các thế hệ con cháu Lạc Hồng./.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Ông Phạm Thế Cường

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Lê Thị Thanh

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tuyên ngôn độc lập “Là hoa quả của sự đổ máu và hy sinh tính mạng”!

Ngày hội non sông trên Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Sỹ Minh

Đó là kết luận được tác giả Trần Dân Tiên viết ra trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nxb Văn học 1970, trang 110) như một lời nhắn nhủ đến mỗi thế hệ người con Việt Nam luôn biết trân trọng giá trị của độc lập tự do, biết hy sinh lợi ích riêng tư để quyết bảo vệ, giữ gìn độc lập tự do của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và một điều hiển nhiên là, sẽ yêu quý độc lập tự do hơn, khi chúng ta thấu hiểu sự hy sinh xương máu của bao thế hệ ông cha ta đã ngã xuống qua mấy ngàn năm lịch sử, từ đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc đến đánh thắng đế quốc Âu – Mỹ và tên phát xít Nhật ở phương Đông cũng vì để đổi lấy nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam hôm nay! Một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng người không đông như Việt Nam nhưng đã gan góc, kiên cường đến lạ thường, trở thành một điều hiếm thấy trong lịch sử nhân loại từ cổ tới kim.

Trên thực tế, để có bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới ngày 2/9/1945 tại Ba Đình (Hà Nội), toàn thể dân tộc ta phải chiến đấu kiên cường suốt 87 năm trời, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 01/9/1858. Ngay từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, các tầng lớp từ nhân dân đến nho sĩ và quan lại đã vùng lên đấu tranh quyết liệt để giữ nền độc lập cho dân tộc.

Trước hết phải kể đến cha con Trương Định – Trương Quyền, rồi Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, hai anh em Phan Tôn – Phan Liêm…rồi một số quan lại yêu nước như đốc học Phạm Văn Nghị đem 300 quân tình nguyện từ Bắc vào kinh đô Huế xin được lên đường giết giặc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con trai đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, đến Tổng đốc Hoàng Diệu kiên cường đánh Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882. Nhiều tri thức nho sỹ còn dùng ngòi bút làm vũ khí đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

Tiếp đến là các phong trào đấu tranh để đòi lại nền độc lập cuối thế kỷ XIX, trong đó phải kể đến phong trào Cần vương dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê ở Trung kỳ; khởi nghĩa Sông Đà, Bãi Sậy ở Bắc kỳ… diễn ra rầm rộ nhưng cuối cùng trước sau đều kết thúc thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ diễn ra rầm rộ, tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Đến lượt Bác Hồ với những hoạt động không biết mệt mỏi cùng với sức mạnh tổng lực của nhân dân theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, kinh qua 15 năm chiến đấu, cuối cùng đã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, độc lập tự do đã về với Tổ quốc Việt Nam sau 61 năm rơi vào tay giặc (1884 -1945).

Khi cuộc Cách mạng tháng Tám đang tiến đến những thắng lợi cuối cùng thì cũng là lúc Bác Hồ viết ra những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập nhằm khẩn trương tuyên bố với đồng bào và thế giới sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bác Hồ viết Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, ở thời khắc gấp rút của cách mạng, trong thời gian chỉ 3 ngày, tại phòng ăn ở số 48 Hàng Ngang, dưới thân phận bí mật…, nhưng nó được coi là “áng thiên cổ hùng văn” và được đưa vào chương trình dạy học phổ thông từ mấy năm nay.

Ngày 27/7/1945, Thường vụ Trung ương họp, rồi Hội đồng chính phủ lâm thời họp, bàn nhiều việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ phụ trách soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Từ ngày 28/8/1945, tức là ngày 21/7/Ất Dậu (1) – khi mà nhân dân ở Hà Tiên và Đồng Nai giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ bắt đầu viết Tuyên ngôn. Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, nhà ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ ở số 48 phố Hàng Ngang – một gia đình doanh nhân giàu lòng yêu nước.

Suốt 3 ngày, với tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng luôn canh cánh nỗi lòng vì độc lập cho dân tộc, vì hạnh phúc ấm no cho nhân dân; từng trải nghiệm hoạt động cách mạng từ Đông sang Tây với chiếc máy đánh chữ đã sử dụng hồi ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ đã viết xong bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 30/8 – ngày mà vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước đông đảo nhân dân tại Ngọ Môn kinh đô Huế và nộp ấn kiếm cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Viết xong, Bác mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập này rồi ngày hôm sau, tức 31/8 Bác bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chỉ còn chờ ngày được tuyên bố.

2 giờ chiều ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nền dân chủ cộng hoà trước đông đảo nhân dân trong và ngoài nước rằng:

“..Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,…đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Dân tộc ấy phải được tự do,…phải được độc lập!…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2).

Những câu chữ chứa đựng hồn non sông nước Việt ấy là nỗi lòng hoạt động cách mạng suốt 35 năm của Bác. Chính vì vậy mà ngày 30/8/1945, sau khi đọc bản thảo cho những người công tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ, Bác Hồ đã không dấu nổi sự sung sướng nói rằng: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Sung sướng vì đây là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác và tinh hoa của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước”. Nó còn “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường,… là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”(3).

Bản tuyên ngôn đó có tính dân tộc, lại có tính quốc tế, vừa có ý nghĩa lịch sử lại có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Nó có tác động trực tiếp đến sự thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay. Giành – giữ và củng cố độc lập dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của thời chiến mà còn là nhiệm vụ quan trọng của toàn dân tộc ta ở thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trên con đường CNXH. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi mà sự hội nhập để phát triển đã trở thành tất yếu thì vấn đề giữ vững nền độc lập để không bị phụ thuộc vào các nước lớn về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế và văn hoá luôn đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ./.
_________________

Chú thích:
(1), Theo Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr.17.
(2), Hồ Chí Minh toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr.555-557.
(3) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học 1970, tr.110.

Theo Lê Đức Hoàng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 11)

(DVT.vn) – Năm 1952, Paul Mus viết sách cho biết, hồi đầu năm 1947, Ballaert cho rằng chỉ cần ba tuần lễ là y “đè bẹp cuộc kháng chiến của Việt Nam”!

Năm năm sau, trong quyển sách Việt Nam, cuộc chiến tranh xét về mặt xã hội học (Vietnam, sociologie d’une guerre) xuất bản năm 1952, P. Mus có phê phán nội dung của bản thông điệp mà ông ta đã có trách nhiệm chuyển đến Hồ Chủ tịch tại thị xã Thái Nguyên. Người cố vấn đặc biệt, phái viên của Bollaert kể rằng, lúc đó bọn thực dân Pháp ở Paris và Sài Gòn đều nhất trí cho rằng chúng nắm chắc chiến thắng trong tay rồi, chẳng bao lâu nữa chúng sẽ đè bẹp cuộc “kháng chiến của Việt Nam”, vậy không nên nhận đàm phán.

Đình Tân Trào không xa trụ sở Bộ Ngoại giao.

Theo tác giả, bộ trưởng Bộ chiến tranh của Pháp lúc bấy giờ nhận định rằng: “Vấn đề quân sự ở Đông Dương có thể coi như xong rồi” (il n’y a plus de problème militaire en Indochine); một nhân vật quan trọng trong giới Pháp khẳng định: “Chỉ ba tuần lễ nữa thôi! Mọi điều sẽ được giải quyết tốt, miễn là không đặt vấn đề đàm phán!” (Encore trois semaines! Tout ira bien, pourvu que l’on ne négocie pas!).

Đường về…

… châu tự do Sơn Dương.

Và chính vì thế, khi nói đến ngừng bắn, thực dân Pháp đã đưa ra những điều kiện phi lý, mà bản thân P. Mus cũng nghĩ rằng phía Việt Nam không thể nào chấp nhận.

Khi Paul Mus ra về rồi, Bác và chúng tôi còn ngồi lại khoảng một tiếng nữa để đợi cho ông ta đi xa rồi mới về nơi ở. Lúc đó, vào khoảng 1 giờ sáng, Bác không về chỗ ở của mình mà về Sơn Dương, chỗ cơ quan Bộ Ngoại giao.

Việc Bác Hồ từ nơi nào đến gặp Paul Mus, việc đó, ngoài anh Phan Mỹ thì không ai biết cả. Bác bảo tôi: “Bây giờ chú về với tôi bằng xe com-măng-ca”. Lúc ấy xe đã đợi sẵn ở đó, theo sự bố trí của anh Phan Mỹ.

Lúa không lo giặc về khi mùa màng thôn quê (lời bài hát của Văn Cao).

Chúng tôi đi xe tới đèo Khế thì trời bắt đầu sáng. Bác bảo chúng tôi: “Thôi, chúng ta xuống đi bộ, vì nếu đi xe, máy bay địch dễ phát hiện”. Tôi và Bác đi bộ về khu tự do Sơn Dương và ghé vào chỗ Bộ Ngoại giao. Tôi hứa với Bác là sẽ nhớ và viết lại lời của bức thư thông điệp mà Bollaert gửi Bác qua Paul Mus. Hai ngày sau, tôi gửi bài viết đó cho văn phòng của Bác.

Lúc ở Việt Bắc, tôi thỉnh thoảng mới gặp Bác ở các cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Còn ngày thường gặp Bác rất khó vì Bác hay thay đổi chỗ ở và Bác giữ nguyên tắc bí mật, tránh tiếp xúc nhiều, đồng chí Phạm Văn Đồng lúc đó ở gần Bác và ít khi thay đổi chỗ ở. Bác bảo tôi: “Nếu chú có việc gì quan trọng mà không gặp trực tiếp Bác được, thì báo cáo với chú Tô” (bí danh của anh Đồng).

Trong các cuộc họp ở Hội đồng Chính phủ, ở Việt Bắc, Bác là người phát biểu đầu tiên. Bác nói độ 10 đến 15 phút về tình hình thế giới, sau đó nói về vấn đề chính của cuộc họp, ví dụ về Bản tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1950), về việc sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, về kế hoạch cải cách ruộng đất và v.v.

Ta yêu những rừng Việt Bắc/ Nơi ta khôn lớn nên người (thơ Nguyễn Đình Thi).

Còn anh Văn thì báo cáo về tình hình quân sự. Cũng có lúc, anh Tạ Quang Bửu hoặc anh Hoàng Anh báo cáo về việc triển khai hoặc kết quả các chiến dịch. Thường thường, các buổi họp của Hội đồng Chính phủ nhanh, gọn.

Các cơ quan bộ ở Việt Bắc lúc đó cũng ít người. Đông nhất là văn phòng của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khoảng 30 đến 40 người. Phần lớn các bộ đóng trụ sở ở ATK Sơn Dương, cũng có một số bộ phận khác đóng rải rác ở các tỉnh xung quanh.

Mình về rừng núi nhớ ai/ Trám bùi để rụng, măng mai để già (thơ Tố Hữu).

Trụ sở Bộ Ngoại giao của ta lúc đó đóng ở gần một làng hẻo lánh cách huyện lỵ Sơn Dương khoảng 11 km. Đóng trụ sở ở gần Bộ Ngoại giao còn có các bộ khác như: Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ (Bộ Nội vụ lúc đầu do cụ Tôn Đức Thắng làm Bộ trưởng một thời gian ngắn, sau đó Bác mời cựu khâm sai Bắc Kỳ là cụ Phan Kế Toại lên giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ), Bộ Lao động…

Từ chỗ Bộ Ngoại giao chúng tôi đi tiếp quãng nữa thì tới con suối Lê, qua suối Lê đi tiếp một đoạn nữa thì tới xã Tân Trào, nơi có đình Tân Trào – địa điểm Bác họp và ra Lệnh Tổng khởi nghĩa 1945.

Những ngày sống bên con suối Lê, Tân Trào thật là gian khổ. Nhưng, về sau nhớ lại, chúng tôi luôn cảm thấy rằng đó là những ngày đẹp nhất, thiêng liêng nhất trong cuộc đời của nhiều người chúng tôi.

Hà Nội, năm 1986
H. M. G.
(Ảnh: Internet)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (phần 10)

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội.

(DVT.vn) – Tháng 4/1947, tại vùng căn cứ kháng chiến Thái Nguyên, Hồ Chủ tịch tiếp đặc phái viên của cao ủy Bollaert, bác bỏ những yêu sách láo xược của phía Pháp.

Sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), quan hệ ngoại giao giữa ta và Pháp còn rất thưa thớt. Ngoài một vài bức điện hoặc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đại diện Chính phủ Pháp (Léon Blum, Moutet), có một vài cuộc tiếp xúc giữa đại diện Chính phủ ta với các lãnh sự Mỹ, Anh, Ấn Độ và đại biểu Hội Chữ thập đỏ quốc tế; các cuộc tiếp xúc đó là do Pháp đề nghị, nhằm giải quyết cái gọi là “vấn đề tù binh Pháp”.

Hạ tuần tháng 4/1947, ta gửi cho Pháp một thông điệp đề nghị ngừng bắn. Lúc đó đô đốc d’Argenlieu cao ủy Pháp tại Đông Dương đã bị về vườn và cao ủy mới là Bollaert đã đến Đông Dương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày đầu kháng chiến ở căn cứ địa Việt Bắc.

Một ngày đầu tháng 5/1947, có cuộc gặp gỡ giữa tôi và lãnh sự Anh Tressor Wilson gần cầu Đuống. Sau mấy phút trao đổi ý kiến về “vấn đề tù binh” và tình hình chung, viên lãnh sự Anh nói:

– Ông có biết ông Paul Mus? Ông ấy nói đã có dịp gặp ông ở Hà Nội và đã được yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 19 tháng 12/1946.

– Có, đúng như vậy.

– Ông P. Mus muốn gặp ông. Ông ấy đã đi theo tôi đến phía bên kia cầu Đuống, cách đây độ một cây số, và đang chờ ở đó. Nếu ông đồng ý tiếp, thì ông ấy sẽ đến ngay.

– Ông ấy muốn gặp tôi về việc gì? Ông có biết không?

– Ông ấy nói rằng có một việc rất quan trọng, và ông ấy tha thiết muốn gặp ông. Hiện nay ông ấy là một người giúp việc thân cận, một cố vấn của cao ủy Bollaert.

– Được. Nhờ ông báo cho ông P.Mus rằng tôi vẫn sẵn sàng gặp ông ấy.
Một lát sau, P.Mus đến. Sau khi chào hỏi, ông ta vào đề ngay:

– Tôi có một việc rất quan trọng, bí mật và gấp, muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi được ủy nhiệm chuyển trực tiếp đến Chủ tịch một thông điệp của cao ủy Bollaert. Nếu có thể, tôi sẵn sàng đi theo ông ngay bây giờ.

– Rất tiếc. Đi ngay bây giờ thì không được. Tôi sẽ báo cáo với Chủ tịch. Tôi sẽ trả lời cho ông biểt quyết định của Người. Ông cho biết nên trả lời cho ông bằng con đường nào, vừa nhanh chóng vừa đảm bảo bí mật?

– Cảm ơn. Đề nghị ông trả lời cho tôi bằng điện đài.

Các chiến sĩ vệ quốc quân lên đường chiến đấu chặn bước tiến của quân thù.

P. Mus đọc một câu có nghĩa lóng, và nói tiếp: “Bắt đầu từ ngày kia, mỗi buổi sáng, hồi 9 giờ, bộ phận nghe đài của chúng tôi sẽ đón nghe đài của các ông, nghe được câu lóng đó, tôi sẽ đến địa điểm này, đúng giờ hẹn, để được dẫn đến gặp Hồ Chủ tịch và trao trực tiếp bản thông điệp của cao ủy Bollaert.

Sau đó, điện đài của ta báo cho phía Pháp biết Hồ Chủ tịch bằng lòng tiếp đặc phái viên của cao ủy Bollaert. Đúng hẹn, người của ta chờ P. Mus ở cầu Đuống và dẫn vào vùng giải phóng. Để bảo đảm bí mật và vì các đường cái đã bị dân công đào, cắt, ông ta đã phải đi bộ qua các làng phần lớn đã sơ tán, và đi ban đêm. Và một buổi tối trung tuần tháng 5/1947, P. Mus đã được Hồ Chủ tịch tiếp, lúc đó khoảng 22 giờ, tại Thái Nguyên.

Phát thanh truyền lệnh kháng chiến toàn quốc tại Hà Nội.

Thị xã Thái Nguyên đã tản cư triệt để, và tiêu thổ kháng chiến. Các đồng chí bảo vệ đã tìm được một ngôi nhà tuy không nguyên vẹn, nhưng cũng còn được một gian tương đối khả quan, có bàn và ghế, có thể dùng làm nơi Bác tiếp người phái viên bí mật của Bollaert.

Tôi chờ P.Mus và đưa ông ta vào gian nhà yết kiến Hồ Chủ tịch. Dưới ánh sáng của ngọn đèn măng-sông, tôi cảm thấy ông ta xúc động được gặp Bác, được Bác tiếp, giản dị, lịch sự như lúc ở phòng khách tại nhà 12 Ngô Quyền, Hà Nội.

P. Mus cảm ơn Hồ Chủ tịch đã vui lòng cho ông ta gặp để làm nhiệm vụ do cao ủy Đông Dương giao cho và xin phép đọc cho Bác nghe (đọc thuộc lòng) bản thông điệp không ghi vào giấy (messenger verbal) của Bollaert, trả lời bức thư đề nghị ngừng bắn của Chính phủ ta đề ngày 25/4/1947.

Thông điệp của Bollaert nêu lên bốn điều kiện cho ngừng bắn:

1- Quân đội Việt Nam phải nộp vũ khí cho Pháp.
2- Quân đội Pháp được quyền đi lại tự do trên đất nước Việt Nam.
3- Chính phủ Việt Nam phải trả lại cho Pháp tất cả những người nước ngoài (ý nói: người Nhật và người Pháp) đã chạy sang phía Việt Nam.
4- Chính phủ Việt Nam phải trao cho Pháp tất cả những người nước ngoài (ý nói người Nhật và người Pháp) đã chạy sang phía Việt Nam.

Sau khi nghe những điều kiện láo xược đó của cao ủy Pháp, Hồ Chủ tịch nghiêm nét mặt, nhưng bình tĩnh và giọng nói ôn tồn. Người nói:

– Ông Mus, tôi biết ông đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler của nhân dân Pháp, điều đó có đúng không?

– Thưa Chủ tịch, đúng.

– Vậy ông hãy trả lời tôi: Nếu ở địa vị tôi, ông sẽ có thái độ thế nào với bản thông điệp của ông Bollaert? Ông có nhận những điều kiện đó không?

P. Mus lúng túng… Bác nói tiếp:

– Tôi nghe nói ông Bollaert cũng đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Ông Mus, bản thân ông có nghĩ rằng chúng tôi có thể đầu hàng không? Lại còn điều kiện liên quan đến những người nước ngoài đứng trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam chống thực dân. Phải là một con người hèn mạt, mới chấp nhận điều đó. Nếu tôi chấp nhận, tôi là kẻ “hèn mạt” (Si j’acceepte, je serais un lâche). Và tôi nghĩ rằng trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn mạt (Je pense que dans l’ Union française, il ne doit pas y avoir de place pour des lâches).

P. Mus im lặng, gật đầu, tỏ ý đồng tình. Rồi nói:

– Tôi hiểu, thưa Chủ tịch, tôi hiểu…

Thế rồi không nói đến bản thông điệp nữa.

Bác giải thích về lập trường của Chính phủ và nhân dân ta: Yêu chuộng hòa bình, muốn có quan hệ tốt với nhân dân Pháp, nhưng kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc mình.

P. Mus thừa nhận rằng đó là những tình cảm và ý chí chính đáng, hứa sẽ báo cáo với cao ủy Bollaert những ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông ta chúc sức khỏe Bác, và lúc chào từ biệt, tỏ ra cảm động thực sự. Lời cuối cùng của ông ta lúc ra về là:

– Chúc Chủ tịch dũng cảm (Du courage, Monsieur le Président!).

Bác đáp lại:
– Luôn luôn! Tất nhiên! (Toujours! Naturellement!).

Một sự việc nhỏ có lẽ đã làm cho P. Mus ngạc nhiên: Khi cuộc tiếp kiến kết thúc, các đồng chí phục vụ đã bưng ra mấy cốc rượu sâm banh để Bác mời khách uống trước khi ông ta rút lui vào bóng tối đêm khuya.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 9)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946

(DVT.vn) – Hội nghị Fontainebleau thất bại. Bác Hồ ký với Moutet bản Tạm ước, rồi rời Toulon ngày 19/9/1946 cùng một số trí thức Việt kiều: Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước…

Về chương trình nghị sự, hai đoàn quyết định một chương trình gồm 5 điểm:

1- Vị trí của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, và quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước ngoài;
2- Liên bang Đông Dương;
3- Vấn đề thống nhất ba kỳ và trưng cầu dân ý;
4- Vấn đề kinh tế;
5- Dự thảo một hiệp ước.

Thành lập các tiểu ban:

1- Tiểu ban chính trị (gồm tất cả hai đoàn);
2- Kinh tế – Tài chính;
3- Văn hóa;
4- Quân sự;
5- Chương trình nghị sự.

Lâu đài Fontainebleau.

Ngày 13/7 bắt đầu thảo luận vấn đề 1.

Ngày 12. Bác mở Hội nghị báo chí để trình bày lập trường của Việt Nam. Bác nói: “Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam phải do một Hiệp ước quy định.

Về kinh tế và văn hóa, chúng tôi tán thành một “liên kết” (association) với nước Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp (dans le cadre de l’Union Française).

Lý do tồn tại của Liên bang Đông Dương là sự cần thiết phải phối hợp các hoạt động (coordonner les activités) của Việt Nam, Lào và Campuchia. Nó phải chủ yếu là kinh tế (économique). Liên bang Đông Dương không được biến thành một Phủ toàn quyền trá hình (gouvernement général déguisé).

Nam bộ là đất của Việt Nam, là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi. Một cuộc trưng cầu ý dân (référandum) sẽ tốn kém lắm. Nếu chúng ta có thể thỏa thuận với nhau và miễn tổ chức trưng cầu ý dân thì tốt hơn. Nếu không thể miễn, thì chúng ta sẽ tổ chức một cách thành thực và thẳng thắn, và kết quả sẽ cũng thế thôi.

Phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946.

Người Pháp sẽ có quyền tiếp tục lập các xí nghiệp (entreprises), quyền tự do kinh doanh của họ sẽ giống như người Việt Nam…”

Ngay từ lúc các tiểu ban bắt đầu thảo luận các vấn đề ghi trong chương trình nghị sự, rõ ràng là quan điểm của hai bên xa nhau rất nhiều, nếu không muốn nói là trái ngược nhau.

Các tiểu ban làm việc một tuần, rồi hai tuần, rồi ba tuần, vẫn chưa kết thúc được vấn đề nào. Ngày 26/7, chính trưởng đoàn Pháp Max André đã phải thốt lên:

– Bao thời gian đã trôi qua! Các tiểu ban của chúng ta chưa “xây dựng” được gì cả? Vì sao?
Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng nói thẳng:
– Cái gì cản trở chúng ta, làm cho chúng ta chưa kết luận được một điểm nào? Đó là sự thiếu lòng tin cậy.

Ngày 26/7, có tin d’Argenlieu đã có một hành động mới, nhằm phá hoại Hội nghị: Ông ta triệu tập một hội nghị sẽ họp ngày mồng 1/8 tại Đà Lạt; thành phần hội nghị đó gồm những đại biểu của Nam kỳ, Campuchia, Lào, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và những quan sát viên miền Nam Trung kỳ, để thảo luận vấn đề “Liên bang Đông Dương”.

Hôm đó, mở đầu buổi họp Tiểu ban chính trị, anh Đồng phản đối quyết định của Cao ủy Đông Dương, vì nó là một sự vi phạm Hiệp định 6/3 tiếp theo nhiều vi phạm khác, một chứng cớ “mới” của chính sách “việc đã rồi” mà “chúng tôi kịch liệt phản đối”.

Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng và thiếu nhi Việt kiều.

Anh Đồng nhờ Max André chuyển lời phản đối đó cho Chính phủ Pháp, và mong được trả lời càng sớm càng tốt.

Ngày mồng 1/8, Tiểu ban nghiên cứu vấn đề Liên bang Đông Dương bắt đầu họp, anh Đồng đứng dậy và nói:

“Ngày 26/7, tôi đã nhờ ông trưởng đoàn Pháp chuyển một thư phản đối về việc triệu tập Hội nghị họp ngày hôm nay tại Đà Lạt. Chúng tôi vẫn chưa được trả lời. Lập trường của chúng tôi là:

Nêu vấn đề Nam bộ nam Trung bộ và Liên bang Đông Dương là do các nhà chức trách Pháp ở Nam kỳ quyết định, thì Hiệp định sơ bộ 6/3 không có giá trị, và Hội nghị Fontainebleau không có lý do tồn tại; nếu Hiệp định sơ Bộ 6/3 có giá trị, thì chỉ Hội nghị Fontainebleau có thẩm quyền để thảo luận vấn đề nói trên.

Vì lòng tự trọng, chúng ta phải chấm dứt tình trạng nhập nhằng này, và đình chỉ Hội nghị của chúng ta cho đến khi nào cái nhập nhằng đó chấm dứt”.

Thế là buổi họp chấm dứt. Và Hội nghị cũng chấm dứt bởi vì, sau đó, chỉ có những cuộc gặp và trao đổi ý kiến lẻ tẻ, không có cuộc họp giữa hai Đoàn. Bác quyết định sẽ rời nước Pháp ngày 14/8.

Ngày 8/8, Max André nói với ta: Hội nghị Đà Lạt do d’Argenlieu triệu tập ngày 1/8 chỉ để trao đổi ý kiến, không quyết định gì cả, và đề nghị Hội nghị Fontainebleau lại họp.

Bác quyết định hoãn ngày về nước, và ngày 12/8 tuyên bố với báo Libération: “Tôi không đặt điều kiện cho việc tiếp tục Hội nghị. Và ngày 15/8, Bác tuyên bố với báo Franc-Tireur: “Tôi đến đây để xây dựng hòa bình. Tôi không muốn về nước với hai bàn tay không. Tôi muốn đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thể, sự hợp tác mà chúng ta đều mong muốn”.

Trong lúc đó, cũng có những lời phát biểu “ngược dòng” của một số nhân vật Pháp như de Gaulle và Herriot.

De Gaulle cảnh cáo: “Có nguy cơ tan rã Liên hiệp Pháp”.

Herriot lên tiêng: “Nếu Liên hiệp Pháp không có quyền quyết định về vấn đề ngoại giao và quốc phòng của các thành viên, thì còn gì là Liên hiệp Pháp?”.

Bắt đầu từ ngày 3/9, ta và Pháp thỏa thuận cử một tiểu ban gồm bảy đại biểu: ba người Pháp (Pignon, Torel, Gouron) và bốn người Việt Nam (Phạm Văn Đồng, Phan Anh, Trịnh Văn Bính, Dương Bạch Mai) dự thảo trong bảy ngày (3-10/9) một thỏa thuận về các vấn đề cơ bản là:

1- Độc lập của Việt Nam
2- Vấn đề ngoại giao
3- Vấn đề quân sự
4- Vấn đề Nam bộ

Nhưng sau bảy ngày, tiểu ban ấy không đi đến một thỏa thuận nào cả.

Thế là Hội nghị Fontainebleau đã kết thúc ngày mồng 10/9/1946, nếu không nói là ngày mồng 1/8/1946.

Đoàn ta rời Paris ngày 13/8 đi Toulon và ngày 16/8 xuống tàu Pasteur về nước.

Bác cũng về bằng tàu thủy, để có thể nghỉ ngơi. Chiếc tàu Dumont d’Urville mà Chính phủ Pháp dành cho Bác bị hư hỏng nhẹ, cần sửa chữa, cho nên Bác ở lại Paris thêm mấy ngày. Sáng 14/8, Bác gặp Moutet, trao đổi ý kiến về vấn đề ký một Tạm ước (Modus Vivendi), rồi Bác đi chào tạm biệt Bidault. Nửa đêm hôm đó, Bác gọi điện thoại cho Moutet, đến nhà ông ta, thảo luận thêm về nội dung bản Tạm ước, và ký bản đó với Moutet.

Nội dung bản Tạm ước không giải quyết cụ thể vấn đề nào cả, chỉ nêu những thỏa thuận về nguyên tắc mà những tiểu ban hỗn hợp (commissions mixtes) sẽ cụ thể hóa cách thức thực hiện. Như thế có nghĩa là cuộc đàm phán sẽ tiếp tục, một hiệp định đầy đủ và dứt khoát (un accord total et définitif) sẽ được thảo luận trong cuộc đàm phán sắp tới, chậm nhất vào tháng 1/1947.
Bác rời Paris ngày 16/9 và ngày 19 rời Toulon về nước.

Ngày 18/10, d’Argenlieu đón Bác ở vịnh Cam Ranh, trao đổi ý kiến về vấn đề thực hiện bản Tạm ước.

Bác về đến Hải Phòng ngày 21/10/1946. Bác đã cử một phái đoàn đại diện Chính phủ ta tại Pháp, gồm: Hoàng Minh Giám (trưởng đoàn) và hai đoàn viên (Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai).

Bác đã nhận một số Việt kiều tình nguyện về nước hoạt động, phục vụ đất nước: Trần Hữu Tước, Võ Quý Huân, Đặng Chấn Liêu, Lâm Ngọc Huấn, Trần Đại Nghĩa…

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 8)

(DVT.vn) – D’Argenlieu muốn chủ trì Hội nghị Fontainebleau nhưng không thành. Sainteny định hạn chế các hoạt động của Bác Hồ nhưng thất bại. Nhiều tờ báo Pháp tỏ thiện cảm với Bác.

Bác dành thì giờ tiếp các nhà kinh doanh Pháp. Họ chăm chú nghe Bác trình bày chủ trương của ta là tôn trọng quyền lợi kinh tế của Pháp và muốn được sự giúp đỡ về kinh tế, kỹ thuật của Pháp để khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước. Họ đặt nhiều câu hỏi cụ thể, và tỏ ra hoan nghênh những lời giải thích của Bác.

Sau này, trong quá trình Hội nghị Fontainebleau, Bác tổ chức những cuộc họp báo, hoặc tiếp riêng phóng viên của một số trong những tờ báo cánh tả, ủng hộ ta như: Giải phóng (Libération), Chiến đấu (Combats), Người du kích (Franc-Tireur), Dân chúng (Le Populaire), Nhân đạo (L’Humanité), để trình bày lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề đang tranh luận ở Hội nghị. Ảnh hưởng của Bác về mặt tranh thủ dư luận là rất lớn.

Lâu đài Fontainebleau gần thủ đô Paris.

Phóng viên các báo đến rất đông, mỗi khi Bác triệu tập, vì họ rất thích nghe những lời giải thích, những tuyên bố của Bác. Họ nhận thấy trong đó bản chất cao thượng của một lãnh tụ có tầm vóc khác thường, nhưng rất khiêm tốn, có lúc dí dỏm, và luôn luôn có sức thuyết phục lớn.

Một hôm, một nhà báo hỏi:

– Thưa Chủ tịch, xin cho phép tôi hỏi một câu về đời tư của ngài: Trong cuộc đời đấu tranh cách mạng, ngài đã bị ở tù bao lâu?

Bác trả lời:

– Đấu tranh cách mạng, bị bắt vào tù, đó là việc khó tránh. Và sống trong nhà tù, thì thời gian bao giờ cũng là lâu cả (en pison, le temps est toujours long!). Mọi người đều cười, và câu chuyên chuyển sang vấn đề khác.

Phía Pháp muốn hạn chế hoạt động của Bác, nhưng thất bại. Sainteny kể rằng Chính phủ Pháp đã giao cho ông ta nhiệm vụ đó, nhưng vì Bác không phải là một thành viên của Đoàn, Bác là khách của Chính phủ Pháp, và có rất nhiều người Pháp ủng hộ tích cực, cho nên ông ta đã chịu thất bại.

Phía Pháp tưởng rằng việc họp Hội nghị ở Fontainebleau (cách Paris 60 km) sẽ giảm ảnh hưởng của Hội nghị đối với dư luận. Họ đã thất bại, một phần lớn do hoạt động khôn khéo và uy tín rất lớn của Bác.

Về thành phần Đoàn Pháp, ngoài một số người đã dự Hội nghị Đà Lạt (Pignon, Torel, Gouron, Messmer…) có thêm một số người chuyên môn và kỹ thuật, và đặc biệt có thêm ba nghị sĩ là: Jugias (Đảng MRP), Lozeray (Đảng Cộng sản) và giáo sư Paul Rivet (Đảng SFIO). Nghị sĩ MRP và nghị sĩ cộng sản không có hành động gì đặc biệt, Nghị sĩ SFIO thì khác hẳn.

Bác Hồ và Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng ở Pháp.

Ngày mồng 5/7 (một ngày trước ngày Hội nghị Fontainebleau bắt đầu), Đoàn Pháp họp để nghe đoàn trưởng phổ biến lập trường của Chính phủ Pháp trong vấn đề Việt Nam. Lúc buổi họp kết thúc, giáo sư Paul Rivet nói với trưởng đoàn:

– Ngày mai, tôi sẽ không đến Hội nghị.

Trưởng đoàn ngạc nhiên hỏi:

– Vì sao?

Paul Rivet trả lời:

– Tôi từ chức.

Ngay tối hôm đó, Paul Rivet viết thư cho Moutet, bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại: “Tôi đã từ chối tham dự Hội nghị Fontainebleau, vì tôi không muốn là một người bị lừa dối, một con tin, một kẻ đồng lõa (Je ne veux eetre ni dupe, ni otage, ni complice). Tôi đã thấy một ý đồ mà tôi không thể nào chấp nhận: tổ chức một hội nghị không phải để làm cho nó thành công, mà trái lại, để làm cho nó thất bại”.

Trưởng đoàn Pháp là Max André, nguyên trưởng Đoàn Pháp tại Hội nghị trù bị Đà Lạt, một đảng viên MRP, ủy viên Hội đồng quận Seine đã được Edmond Michelet giới thiệu với de Gaulle, và tháng 1/1946 đã được cử sang Đông Dương nghiên cứu tình hình, được gặp Bác Hồ ngày 21/1. Không biết khi trở về Pháp, ông ta đã báo cáo như thế nào. Một số cán bộ của ta nói rằng ông ta gửi cho Bác một bức thư rất “láo xược”. Bản thân tôi không được đọc bức thư đó. Sau này tôi có đọc một bài phát biểu của Edmond Michelet nói rằng ông ta rất tiếc đã giới thiệu Max André với de Gaulle: “Bidault và tôi đã tín nhiệm anh ấy. Đó là một sai lầm. Nếu chúng ta cử một người khác vào vị trí của anh ấy thì tình hình đã chuyển biến theo một hướng khác”.

Đoàn ta gồm một số đại biểu đã dự Hội nghị trì bị Đà Lạt (Trịnh Văn Bính, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Dương Bạch Mai…), một số đại biểu mới (Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, Phan Anh…), một đại biểu Việt kiều sống tại Pháp: Bửu Hội… Trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng.

Ngày 6/7/1946, Hội nghị Fontainebleau khai mạc. Có hai sự cố:

1-D’Argenlieu ngỏ ý muốn “chủ trì” Hội nghị. Đoàn ta không đồng ý. Nhưng đoàn Pháp nói rằng ông đô đốc không chịu từ bỏ tham vọng của mình và đang chuẩn bị đến hội trường. Chúng tôi cảnh cáo rằng nếu ông ấy đến thì chúng tôi sẽ không dự buổi họp. Sau một thời gian chờ đợi, Max André cho biết: “Đô đốc sẽ không đến vì lý do sức khỏe”.

2- Buổi khai mạc bắt đầu bằng một diễn văn ngắn, chào mừng và chúc mừng, vô thưởng vô phạt của Max André. Diễn văn của trưởng đoàn ta thì khác hẳn, lên án những hành động của phía Pháp đã vi phạm Hiệp định sơ bộ 6/3: không đình chỉ chiến sự, đã đánh chiếm vùng cao nguyên Plây-cu – Kon-tum chiếm phủ toàn quyền cũ, và nghiêm trọng hơn cả là sự lập ra một chính phủ bù nhìn ở miền nam Việt Nam. “Nếu coi Hiệp định sơ bộ 6/3 chỉ là một phương tiện để có thể kéo quân vào bắc Việt Nam, để đẩy mạnh chiến tranh ở miền nam Việt Nam, buộc chúng tôi chấp nhận “những việc đã rồi”, thì không thể nào đi đến một sự thỏa thuận hòa bình và hữu nghị mà hai dân tộc chúng ta đều mong ước”.

Bài diễn văn của anh Đồng không làm cho đoàn Pháp vui lòng, nó thật là một sư “tiến công” bất ngờ, gây xôn xao dư luận. Những người thuộc giới thực dân, phái hữu, tất nhiên không thỏa mãn. Nhưng những người tiến bộ, những người có khuynh hướng dân chủ thì ủng hộ, tán thành bài diễn văn “không ngoại giao”, nhưng chân thật và đúng đắn đó…

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 7)

Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Bắc

(DVT.vn) – Đoàn đại biểu Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Bác cùng đi với tư cách là khách của Chính phủ Pháp. Đi máy bay Dakota, 12 ngày mới tới Pháp…

Sau khi Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 được ký kết, tên thầy tu phá giới Thierry d’Argenlieu tìm mọi cách ngăn cản việc thi hành Hiệp định đó: không chấm dứt chiến sự ở miền nam, trì hoãn việc họp hội nghị chính thức giải quyết vấn đề quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Pháp.

Ý đồ của viên cao ủy nham hiểm là lợi dụng việc kéo dài thời gian để thực hiện chính sách “việc đã rồi” trước khi bắt đầu hội nghị: càn quét ở Nam Bộ, đánh chiếm Plây-cu – Kon-tum, xây dựng cái gọi là “phong trào tự trị ở Nam Bộ”…


Chính phủ kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc năm 1948.
(Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám là người đứng thứ tư hàng thứ hai từ phải sang).

Nhưng sau Hội nghị trù bị, Pháp không thể trì hoãn hơn nữa, mà phải chấp nhận: một đoàn đại biểu Việt Nam sẽ lên đường chậm nhất là vào cuối tháng 5 sang Paris để đàm phán, và Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cùng đi, với tư cách là khách của Chính phủ Pháp.

Việc Bác sẽ đi Pháp không khỏi làm nhân dân và cán bộ ta lo lắng… Nhưng Bác rất bình tĩnh, và chuẩn bị chu đáo:

1. Mở rộng và củng cố khối toàn dân đoàn kết: Ngày 27/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời (gọi tắt là Hội Liên Việt), rộng rãi hơn mặt trận Việt Minh, bao gồm tất cả những người Việt Nam (Việt Minh hay không Việt Minh), sẵn sàng đoàn kết, chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Ban chấp hành của Hội gồm các vị:

Hội trưởng danh dự: Hồ Chí Minh

Phó Hội trưởng: Huỳnh Thúc Kháng và Tôn Đức Thắng.

Tổng Thư ký: Cù Huy Cận.

Các Ủy viên trung ương: Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tử Hạ và Nguyễn Tường Long.

2. Cụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ là quyền Chủ tịch nước và lãnh đạo Chính phủ theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Hai máy bay Dakota đã chở Bác và Đoàn đại biểu ta, có tướng Salan và đại tá Tutenge đi hộ tống. Trưởng đoàn ta là Nguyễn Tường Tam vắng mặt, vì lý do sức khỏe.

Dọc đường, máy bay nghỉ nhiều chặng, do đó, phải 12 ngày sau khi cát cánh từ Gia Lâm, mới đến đất Pháp. Chỉ thị của Chính phủ Pháp là: “Hãy đưa các vị ấy đi du ngoạn càng lâu càng tốt (Faire balader ces Messieurs le plus longtemps possible). Lý do là Pháp chưa có Chính phủ.

Máy bay đã bay qua Miến Điện (Myanmar), Ấn Độ, Iraq, Ai Cập, sa mạc Sahara; đã dừng lâu tại Ấn Độ (tổ chức tham quan Calcutta, thủ đô New Delhi…), Ai Cập (tổ chức tham quan thủ đô Cairo, vùng Kim tự tháp…).

Ngày 12/5, Đoàn ta đến thành phố Biarritz, thuộc vùng tây-nam nước Pháp, gần Tây Ban Nha. Chỉ có ông… phó chủ tịch quận… ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Việt Nam ở sân bay!

Hôm sau, mới thấy Sainteny từ Paris đến, xin lỗi, vì không biết ngày giờ đến của máy bay! Rất bình tĩnh, Bác phàn nàn về hành động rất sai trái của d’Argenlieu đã cho phép thành lập một chính phủ bù nhìn ở miền nam Việt Nam (Bác nhận được tin đó khi máy bay đang bay trên vùng Syria). Và Bác nói với Sainteny: “Tôi tự hỏi có nên tiếp tục đi đến Paris hay không?”

Được tin Bác và Đoàn ta đến Biarritz, nhiều Việt kiều, nhiều nhân vật Pháp, bạn của Bác, lần lượt đến Biarritz chào và thăm hỏi. Đồng chí Charles Tillon, Bộ trưởng Bộ Quân khí đã chuyển lời chào của Đảng Cộng sản Pháp, và phàn nàn với Sainteny về sự đón tiếp quá luộm thuộm đã dành cho Bác.

Đoàn đại biểu ta chỉ ở lại Biarritz hai ngày, rồi đi Paris bằng xe lửa…

Trong thời gian Bác Hồ ở Biarritz (15 ngày), ngoài việc tiếp khách Pháp và Việt kiều, Bác tranh thủ đi thăm cùng Basque, thăm hỏi dân đánh cá, tìm hiểu đời sống, phong tục, tập quán của nhân dân địa phương.

Bác được tin: Ngày 21/6, d’Argenlieu đã ra lệnh cho quân đội Pháp chiếm phủ toàn quyền Pháp cũ, nhân dân Hà Nội đã đình công hai ngày liền để phản đối, nhưng cụ Huỳnh và anh Giáp không làm to chuyện (dĩ bất biến ứng vạn biến!…).

Bác cũng được tin ngày 24/6, Chính phủ do Félix Gouin (đảng SFIO) đứng đầu đã rút lui, nhường chỗ cho một chính phủ mới gồm ba đảng (MRP, Cộng sản, SFIO) do Bidault (chủ tịch đảng MRP) đứng đầu; Moutet vẫn giữ chức Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại, nhưng Bidault phụ trách vấn đề Liên hiệp Pháp (Union Française), có Alexandre Varenne (nguyên toàn quyền Đông Dương) làm phụ tá.

Ngày 22/6/1946, Bác đến Paris (sân bay Le Bourget). Đón tiếp rất long trọng, lộng lẫy tuy không có Bidault, chỉ có Moutet thay mặt Bidault. Nhưng cờ Việt Nam, cờ Pháp, kèn trống, quan khách, dân chúng, nhất là dân chúng, Việt kiều, người Pháp, báo chí, nhiếp ảnh, quay phim, rất đông, rất vui, rầm rộ, tưng bừng, nồng nhiệt, phấn khởi. Mọi người ngạc nhiên thấy một vị Chủ tịch nước rất độc đáo, ăn mặc rất giản dị, trên ngực không đeo một tấm huân chương nào, có một chòm râu thưa thớt, một bộ mặt rất hiền từ, vui vẻ, khiêm tốn, một đôi mắt rất sáng.

Mấy ngày sau, ở khách sạn Royal Monceau, đã dành riêng đón Bác, rất nhiều người (nhà báo Pháp và các nước khác, các chính khách Pháp, Việt kiều…) xin được gặp Bác. Chính phủ Pháp mời Bác thăm Điện Versailles, đi tham quan vùng Normandie (một chiến trường quan trọng trong chiến tranh vừa qua). Ngày 2/7, Bidault tiếp chính thức Bác. Ngày 3/7, Bác long trọng đi viếng Đài Chiến sĩ vô danh.

Bác dành buổi gặp mặt đặc biệt với Việt kiều, để Bác và Đoàn nói chuyện và cảm ơn sự giúp đỡ đoàn rất nhiệt tình của Việt kiều.

Bác dành thì giờ đi thăm và tiếp những người bạn cũ như Léon Blum mà Bác đã gọi thân mật là papa Blum, các đồng chí cộng sản, xã hội… đã cùng nhau chiến đấu bao nhiêu năm về trước, đồng cam cộng khổ… Bác làm quen với những bạn mới (như Edmond Michelet, bộ trưởng Bộ Quân lực, được Bidault giao trách nhiệm quan hệ trực tiếp với Bác), những nghị sĩ Pháp và thuộc địa Pháp (Angérie, Madagasca, Sénégal, Côte d’Ivoire…), các nghị sĩ này tỏ ra rất xúc động khi được gặp Bác, có người đã không cầm được nước mắt lúc chia tay.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 6)

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.

(DVT.vn) – Theo Bác Hồ chỉ đạo, GS Hoàng Minh Giám thay mặt Đảng Xã hội Việt Nam dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp và trình bày lập trường của Chính phủ VNDCCH.

Năm 1933, lần đầu tiên, nước Pháp có một Chính phủ Mặt trận Bình dân (Gouvernement du Front populaire). Đảng Xã hội Pháp (SFIO) được thành lập một chi nhánh tại Bắc Kỳ (Fédération SFIO du Tonkin), do Louis Caput làm thư ký, và kết nạp một số đảng viên là người Việt Nam.

Hai năm sau, lần đầu tiên Ngày Quốc tế Lao động (1/5) được kỷ niệm công khai và long trọng ở Hà Nội tại khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt – Xô) với 25 nghìn người dự. Số người Pháp dự không quá mấy chục; còn lại là người “bản xứ”: đại biểu công nhân, nông dân ngoại thành, tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, học sinh và giáo viên nhiều trường học (trong đó có Trường Thăng Long), công chức, nhà văn, nhà báo, đại biểu các Hội Ái hữu do Đảng Cộng sản bí mật lãnh đạo, động viên.

Sau ngày 2/9/1945 (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập), một vấn đề đặt ra là có cần một Đảng Xã hội Việt Nam, không phải là chi nhánh của SFIO, mà là của những người trí thức Việt Nam yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội.

Trước khi Bác Hồ và Đoàn đại biểu ta tại Hội nghị Fontainebleau đi Pháp (31/5/1946), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ra đời (27/5/1946), với nhiệm vụ mở rộng khối đoàn kết toàn dân. Hai tháng sau (22/7/1946), Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập, tự nguyện là một thành viên tích cực của Hội Liên Việt, cùng với các thành viên khác của Hội, ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang bị nhiều giặc ngoài, thù trong quấy rối và đe dọa.

Lúc đó tôi không có mặt ở Hà Nội, mà đang công tác trên đất Pháp, trong Đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau. Tôi nhận được điện của đồng chí Phan Tư Nghĩa, Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam (và nguyên đảng viên SFIO trên đất Pháp).

Tôi báo cáo với Bác Hồ (Bác có mặt ở Paris với tư cách là khách mời của Chính phủ Pháp). Bác bảo: “Tốt lắm. Chú cố gắng làm tốt nhiệm vụ được giao”. Rồi Bác nói thêm: “Hiện nay trong Quốc hội và Chính phủ Pháp, có ba đảng lớn hơn cả là: Đảng MRP (Phong trào Cộng hòa bình dân) theo khuynh hướng De Gaulle, Đảng Cộng sản, và Đảng SFIO. Đảng MRP không ủng hộ ta. Đảng Cộng sản ủng hộ ta. Nhưng không đảng nào trong hai đảng đó chiếm được đa số. Đảng Xã hội tuy có ít phiếu hơn, nhưng đứng về phía nào thì phía đó thắng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Fontainebleau tại một buổi gặp gỡ bà con Việt kiều tại Pháp.
(Trong ảnh: Người đứng thứ hai hàng thứ hai từ phải sang là GS Hoàng Minh Giám)

Bác quen nhiều đảng viên quan trọng của đảng SFIO, đặc biệt là Léon Blum, lãnh tụ của đảng. Chúng ta biết rằng trước kia Bác là đảng viên SFIO. Năm 1920, trong Đại hội họp ở thành phố Tours, Bác cùng Marcel Cachin và một số lớn đồng chí rút ra khỏi SFIO, gia nhập Quốc tế thứ ba và lập ra Đảng Cộng sản Pháp.

Để làm nhiệm vụ do Đảng Xã hội Việt Nam giao, tôi có một số thuận lợi. Louis Caput, nguyên thư ký chi nhánh SFIO Bắc Kỳ, có mặt ở Paris. Một người Pháp khác mà tôi quen từ trước Cách mạng Tháng Tám, vì người ấy cũng là đảng viên SFIO, thuộc Fédération SFIO Bắc kỳ, và dạy học ở Trường đại học Luật Hà Nội, tên là Lambrouquère và một số Việt kiều tại Pháp, trong đó có anh Đặng Chấn Liêu (em ruột anh Đặng Phúc Thông trong Đoàn ta dự Hội nghị Fontainebleau) đã giúp tôi làm quen với một số đảng viên Pháp của SFIO có nhiệt tình với nhân dân Việt Nam, thí dụ: anh Decheizèle (trong Ban Tổ chức của Trung ương Đảng SFIO), anh Jean Roux (luật gia và nhà báo, thường viết cho báo Franc Tireur và là ủy viên “Ban các vấn đề thuộc địa” (Commission des affaires coloniales của SFIO).

Caput và Labrouquère, một hôm hỏi tôi: “Anh có muốn gặp Marius Moutet không?” Thấy tôi có vẻ ngập ngừng một giây lát rồi mới trả lời: “Có, tất nhiên có”, họ nói: “Anh chớ ngại gì cả! Anh là SFIO, Moutet không thể không gặp anh!”

Tôi không nói cho họ biết lý do sự ngập ngừng của tôi trong giây lát, trước khi trả lời họ: “Có, tất nhiên có!” Lý do đó là sự việc sau đây, đã xảy ra hồi đầu năm 1946: Lúc đó tôi đã tiếp tại Văn phòng Bộ Nội vụ, Luật sư Gustave Moutet (con trai của Marius, Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại) được cử đến Việt Nam tìm hiểu tình hình. Trong khi trả lời một số câu hỏi của Gustave Moutet, tôi nói: “Chắc ông biết rằng nước chúng tôi đã là nạn nhân của hai cuộc chiếm đóng: cái thứ nhất là của quân đội Nhật, cái thứ hai là của quân đội Tưởng…”, anh ta “chêm” luôn một câu: “Còn cuộc chiếm đóng thứ ba nữa là của các ông!” (Et une troisième occupation: la vôtre!).

Tôi sửng sốt vì câu nói quái gở đó. Tôi phải tự kiềm chế, không phản ứng câu nói đó, tôi chỉ rút ngắn buổi tiếp khách.

Một ngày cuối tháng 6/1946, Labrouquère báo cho tôi biết Marius Moutet đã gửi thiếp mời tôi đến gặp tại Bộ Pháp quốc hải ngoại. Đúng ngày hẹn, tôi đã đến, nhưng buổi tiếp đó không làm tôi phấn khởi, vì ông ta không tỏ vẻ quan tâm nghe, khi tôi trình bày lập trường của ta về độc lập, thống nhất của Việt Nam, về vị trí của Việt Nam trong Liên bang Đông Dương, trong Liên hiệp Pháp; trái lại, ông ta tỏ rất quan tâm và phát biểu nhiều về quyền lợi mà ta sẽ dành cho thực dân Pháp còn sống trên đất nước ta.

Trái với Marius Moutet, một đảng viên SFIO khác mà đoàn ta đã có dịp làm quen trong thời gian Hội nghị Fontainebleau, đã để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc. Đó là giáo sư Paul Rivet, giám đốc Bảo tàng Con người (Musée de l’homme). Theo yêu cầu của ta là trong Đoàn đại biểu Pháp không nên chỉ có những công chức thuộc địa, Chính phủ Pháp đã đề nghị ba đảng MRF, Cộng sản, SFIO cử mỗi đảng một đảng viên tham gia đoàn Pháp. Đảng MRF đã cử ông Jugias; Đảng Cộng sản cử đồng chí Lozeray; Đảng SFIO đã cử Giáo sư Paul Rivet.

Ngày 5/7/1946, trưởng đoàn Pháp là Max André triệu tập các đoàn viên nghe thông báo nội quy của đoàn và đường lối chủ trương của Chính phủ Pháp trong Hội nghị Fontainebleau sẽ khai mạc hôm sau là ngày 6/7/1946. Buổi họp kết thúc, các đại biểu chào ra về. Khi bắt tay Paul Rivet, Max André nói: “Hẹn sáng mai nhé!” Paul Rivet trả lời: “Không! Sáng mai tôi không đến”. Max André ngạc nhiên hỏi: “Vì sao?” Và Paul Rivet trả lời: “Vì tôi từ chức” (Je suis démisionnaire).

Sau đó, Giáo sư viết một bài trên báo Le Populaire, nói lý do việc từ chức của mình, và tóm tắt trong một câu ngắn gọn: “Tôi không muốn là một người bị lừa dối, không muốn là một con tin, không muốn là một kẻ đồng lõa” (Je ne veux être ni dupe, ni otage, ni complice).

Hội nghị Fontainebleau bị bế tắc do những hành động phá hoại của bè lũ d’Argenlieu. Đoàn ta về nước. Bác cũng về nước, sau khi ký một Tạm ước (Modus vivendi) với Pháp. Bác cử một đoàn gồm ba người (Hoàng Minh Giám, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai) đại diện Chính phủ ta ở nước Pháp. Do đó, tôi có dự – với tư cách là đại diện Đảng Xã hội Việt Nam Đại hội toàn quốc (Congrès national) của Đảng SFIO cuối tháng 9 đầu tháng 10/1946. Lúc đó, tình hình Đảng SFIO không vui vẻ lắm… Tổng Thư ký sắp hết nhiệm kỳ là Daniel Mayer, không có hy vọng được tái cử, và nhiều người đã nói tên người thay thế là Guy Mollet.

Tôi đến dự Đại hội, phát biểu ý kiến, chào mừng Đại hội, trình bày tóm tắt lập trường của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị Fontainebleau, khẳng định ý chí của nhân dân Việt Nam là độc lập, thống nhất của Tổ Quốc mình, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp (Indépendance et unité du Viêt-nam dans le cadre de l’Union Française).

Tổng Thư ký sắp hết nhiệm kỳ không tỏ vẻ mặn mà với sự có mặt của đại diện Đảng Xã hội Việt Nam. Nhưng sau buổi họp, một số đại biểu SFIO và một đại biểu Công đảng Anh (Parti Travailiste) cũng là khách mời của Đại hội, đến bắt tay và chúc mừng cuộc đàm phán Việt – Pháp sẽ tiếp tục đầu tháng 1/1947 (theo Tạm ước 14/9/1946) và sẽ đạt kết quả tốt.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 5)

(DVT.vn) – Chỉ có Bác Hồ và GS Hoàng Minh Giám giữa “vòng vây” của các chiến hạm Pháp, đạn đại bác lên nòng, Bác vẫn bình thản đối đáp với đô đốc d’Argenlieu.

D’Argenlieu đứng bên cạnh Bác, có vẻ hân hoan đắc chí giới thiệu lần lượt các chiến hạm diễu qua trên mặt biển. Bác thỉnh thoảng vẫy tay chào… D’Argenlieu trả lời, có vẻ thích thú… Có một lúc d’Argenlieu đang nói chuyện với một số sĩ quan tùy tùng đến báo cáo gì đó, Bác quay lại phía tôi và nói khẽ:

– Nó làm ra vẻ tôn trọng ta lắm. Thật ra, nó muốn phô trương lực lượng để dọa ta đó. Nhưng ta có sợ đâu!

Xong cuộc duyệt binh, d’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách, rồi sau đó, mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc này, ngoài Bác và d’Argenlieu, chỉ có tôi.

Phát biểu trước, Bác nhắc d’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự ở miền nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. Nếu chiến sự tiếp tục như hiện nay, thì tất nhiên không thể tạo nên không khí thuận lợi cho “cuộc đàm phán hữu nghị và chân thành” được nêu lên trong Hiệp định sơ bộ.

D’Argenlieu không đáp lời Bác, không tranh luận mà đứng dậy, một cách long trọng, xoa tay và nói:

– Thưa ngài Chủ tịch, tôi xin lưu ý Ngài một điều: xin Ngài đừng gọi tôi là “Ông đô đốc”, mà gọi tôi là “Ông cao ủy”.

Ông ta ngồi xuống, và chờ Bác nói. Tôi sực nhớ rằng từ lúc đặt chân lên chiến hạm Emile Bertin, Bác chưa hề gọi d’Argenlieu là “Ông cao ủy”.

Sau khi d’Argenlieu đã ngồi xuống, Bác liền nói với một giọng nói và một nét mặt rất bình thản:

– Thưa ông cao ủy, chúng ta tiếp tục nói về việc thi hành Hiệp định sơ bộ 6/3. Trong Hiệp định đó, đã khẳng định sự cần thiết mở lập tức cuộc đàm phán hữu nghị và chân thật (ouverture immédiate des négociations amicales et franches).

D’Argenlieu nói:

– Thưa Ngài Chủ tịch, nước Pháp sẽ nghiêm túc thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ. Nhưng hiện nay, Hội nghị nói trên chưa họp được, vì phải chờ cuộc tổng tuyển cử sắp tổ chức ở Pháp để thành lập một chính phủ mới. Vả lại, để giải quyết một số vấn đề rất mới, như vấn đề Liên hiệp Pháp (L’union française), cần có thời gian nghiên cứu, thảo luận trong Quốc hội Pháp.

Bác thấy rõ ý đồ của d’Argenlieu là trì hoãn, kéo dài thời gian, Bác nói:

– Không thể chờ lâu được. Kéo dài thời gian chờ đợi, thì rất nguy hiểm. Hiện nay, chiến tranh chưa được chấm dứt ở miền nam Việt Nam, và không phải không có nguy cơ chiến tranh nổ ra ở miền bắc. Quân đội Nhật, quân đội Trung Quốc cũng chưa rút… Tình hình có thể trở nên phức tạp, rối ren.

Lúc đó, tôi xin phép Bác phát biểu, và tôi nói mấy câu vắn tắt, nhấn mạnh ý: Không nên để cho dư luận trong công chúng Việt Nam mất tin tưởng vào thiện của phía Pháp và vào khả năng đi đến một giải pháp hòa bình và hữu nghị. (Trong thời gian đàm phán giữa Bác và Sainteny đi đến Hiệp định sơ bộ 6/3, Bác vẫn cho phép, không những cho phép mà còn phát biểu, nếu có gì quá mạnh, mình sẽ “uốn nắn”; có người đấm, có người xoa; tất nhiên đừng đấm quá mạnh, quá mức cần thiết).

Cuộc tranh luận kéo dài, Bác nói:

– Nhân dân chúng tôi rất có kỷ luật, nhưng hiện nay tình hình trong dư luận ngày càng căng thẳng. Cần có những hành động thiết thực cụ thể, để tránh một sự bùng nổ.

D’Argenlieu suy nghĩ, rồi nói:

– Trong khi chờ đợi nước Pháp có một quốc hội và một chính phủ mới, chúng tôi đề nghị tổ chức một hội nghị trù bị cho hội nghị chính thức.

Để tránh một sự bế tắc, Bác đồng ý với d’Argenlieu. Và sau khi trao đổi ý kiến, hai bên đi đến quyết định: một hội nghị trù bị Việt-Pháp sẽ họp ở Đà Lạt. D’Argenlieu cũng tán thành ý kiến của Bác sẽ cử một đoàn đại biểu của Quốc hội Việt Nam đi thăm hữu nghị Quốc hội và nhân dân Pháp để tạo không khí thuận lợi cho Hội nghị Việt – Pháp chính thức sẽ họp sau Hội nghị trù bị Đà Lạt.

Cuộc hội đàm kết thúc lúc 17 giờ 30 phút. Lễ tiễn đưa không có bắn súng, không có duyệt hạm đội trên biển như trong lễ đón, nhưng vẫn có đội quan danh dự và đông đủ quan chức văn võ của d’Argenlieu.

D’Argenlieu nói:

– Tôi rất tiếc rằng thủ tục lễ nghi không cho phép chúng tôi mời Chủ tịch ở lại đây đêm nay để ngắm “phong cảnh thần tiên” trên vịnh Hạ Long.

Bác trả lời:

– Tôi cảm ơn Ngài nhiều lắm, những rất tiếc, vì phải trở về Hà Nội ngay.
Pignon lúc đó nói:

– Xin Chủ tịch cho phép tôi trình bày một đề nghị: Chúng tôi rất hân hạnh nếu ông Giám vui lòng ở lại đây với chúng tôi, để sáng mai sẽ cùng nhau trở về Hà Nội.

Bác trả lời, rất vui vẻ:

– Điều này hoàn toàn do ông Giám quyết định. Đề nghị ông Giám trả lời Pignon.

Tôi nói:

– Tôi xin cảm ơn Hồ Chủ tịch. Tôi chân thành cảm ơn ông bạn Pignon; nhưng rất tiếc tối hôm nay tôi phải có mặt ở Hà Nội. Rất tiếc.

GS Hoàng Minh Giám tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946 (người ngồi đầu tiên tử trái sang).
(Ảnh do chị Hoàng Vĩnh Hạnh, con gái GS Hoàng Minh Giám cung cấp)

Chiếc thủy phi cơ chở Bác, Sainteny và chúng tôi về Hà Nội.

Trên đường bay từ Hà Nội đến vịnh Hạ Long và từ vịnh Hạ Long về Hà Nội, tôi thấy Bác rất chăm chú nhìn xuống những vùng mà chiếc thủy phi cơ bay qua. Trong chuyến bay về, có một lúc Bác quay lại nói rất khẽ với tôi:

-Địa hình này không thuận lợi cho du kích chiến; nhưng có quyết tâm và biết cách đánh thì dù khó khăn thế nào, cũng vượt qua được.

(Còn nữa)

dvt.vn

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 4)

(DVT.vn) – Bác Hồ gặp d’Argenlieu trên Vịnh Hạ Long. Viên đô đốc Pháp ra lệnh cho các chiến hạm “diễu binh”, nói là để “chào mừng” nhưng thực ra là để đe doạ.

Như chúng ta đã biết, sau khi Hiệp  định sơ bộ 6/3/1946 được ký  kết, một mong muốn của d’Argenlieu, theo báo cáo của Sainteny, là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác trả lời Sainteny:

– Tôi sẵn sàng tiếp ông Thủy quân đô đốc.

Sainteny nói:

– Thưa Chủ tịch, có một điều trở ngại.

– Trở ngại gì vậy?

– Ông đô  đốc nghĩ rằng sự có mặt của tướng Lư Hán là một trở ngại. Ông này đang ở Phủ Toàn quyền, và quân đội Trung Quốc chưa rút về nước. Nếu ông d’Argenlieu được gặp Chủ tịch ở một địa điểm nào khác, thì thuận tiện hơn. Thí dụ ở Vịnh Hạ Long. Ông đô đốc và hạm đội Pháp sẽ từ Sài Gòn đến vịnh đón Chủ tịch, và một thủy phi cơ của Pháp sẽ đưa Chủ tịch đến nơi gặp. Xin Chủ tịch cho biết ý kiến. Bác đồng ý, và hẹn ngày 24/3/1946 sẽ gặp d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long.

Ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Đầu buổi chiều hôm đó, một thủy phi cơ đã đón Bác đi vịnh Hạ Long có Sainteny hộ tống. Đi giúp Bác, có tôi và anh Vũ Đình Huỳnh. Cố vấn Vĩnh Thụy cũng đi, nhưng hẹn sẽ khởi hành từ Hải Phòng, bằng một phương tiện khác.

Lúc chiếc thủy phi cơ hạ cánh xuống vịnh Hạ Long, tiến  đến sát chiến hạm Emile Bertin (trên đó có d’Argenlieu), Bác và chúng tôi đã trèo lên boong tàu, và được tin Cố vấn Vĩnh Thụy đã đến trước chúng tôi, nhưng lúc trèo lên chiếc thang để lên boong tàu thì bị tuột chân xuống nước biển, quần áo ướt hết. Vì thế, Cố vấn đã quay về Hải Phòng và xin lỗi, không có mặt trong buổi tiếp đón.

Trên chiếc chiến hạm Emile Bertin, trang trí cờ quạt lộng lẫy, đô đốc d’Argenlieu mặc quân phục đại lễ, với đông đảo quan chức văn võ và một  đơn vị lính thủy, đã xếp hàng chỉnh tề đón Bác.

Kèn chào nổi lên hoan nghênh vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

D’Argenlieu giới thiệu các quan khách có mặt. Tôi nhận thấy trong các quan khách đó, có một số nhân vật đã gặp trong thời gian thương lượng Hiệp định sơ bộ 6/3: Pignon, Gouron, Torel, Compain, v.v. Đa số các nhân vật đó là những công chức thuộc địa Pháp cao cấp (công sứ, thanh tra mật thám, v.v.) tập hợp xung quanh d’Argenlieu. Một người trong đám đó, béo phệ, nói tiếng Việt rất thạo, với một giọng hoàn toàn Việt Nam, nhích lại gần tôi, và nói:

– Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Coussean, nguyên công sứ  tỉnh Sơn La.

Nghe anh ta nói, tôi có một cảm giác rất khó chịu, ghê  tởm, khó tả. Hồi Pháp thuộc, tôi đã nghe nói nhiều về tên Coussean này, công sứ tỉnh Sơn La, nổi tiếng là một tên đao phủ, đã hành hạ, giết hại bao nhiêu người cách mạng Việt Nam không may rơi vào tay nó, trong nhà tù Sơn La…

Tôi không trả lời nó, làm như không nghe rõ nói gì. Vừa lúc đó d’Argenlieu mời Bác tiến tới vài chục bước, để từ trên chiếc boong tàu Emile Bertin xem cuộc “diễu binh” trên biển của hạm đội Pháp (gồm năm, sáu chiến hạm) chào mừng Bác. Nhiều loạt đại bác nổ vang trong nhiều phút, rồi các chiến hạm diễu qua, quân lính trên các chiến hạm hô vang: “Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra…” theo nhịp điệu của quân nhạc…

D’Argenlieu đứng bên cạnh Bác, có vẻ hân hoan đắc chí  giới thiệu lần lượt các chiến hạm diễu qua trên mặt biển. Bác thỉnh thoảng vẫy tay chào… D’Argenlieu trả lời, có vẻ thích thú… Có một lúc d’Argenlieu đang nói chuyện với một số sĩ quan tùy tùng đến báo cáo gì đó, Bác quay lại phía tôi và noi khẽ:

– Nó  làm ra vẻ tôn trọng ta lắm. Thật ra, nó muốn phô trương lực lượng để dọa ta đó. Nhưng ta có sợ đâu!

Xong cuộc duyệt binh, d’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà  nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách,, rồi sau đó mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc này, ngoài Bác và d’Argenlieu, chỉ có tôi.

Phát biểu trước, Bác nhắc d’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự  ở miền nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. Nếu chiến sự tiếp tục như hiện nay, thì tất nhiên không thể tạo nên không khí thuận lợi cho “cuộc đàm phán hữu nghị và chân thành” được nêu lên trong Hiệp định sơ bộ.

(Còn nữa)

dvt.vn