Tag Archive | Bác Hồ

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 1

Thu phục thù trong giặc ngoài

TT – 7g sáng 6-1-1946, tiếng trống, chuông, chiêng… cùng vang dậy khắp Hà Nội, báo hiệu ngày hội tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc VN bắt đầu. Tại miền Nam, người dân cũng nô nức tham gia ngày bầu cử theo lời ca giục giã vang khắp mọi nơi: “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, nghị viện của mình…”.

Các lực lượng chống đối ra sức phá hoại, nhưng trước khí thế ngùn ngụt của những con người đòi được quyền làm người, mọi thế lực ngăn cản đều thất bại.

Cổ động cho kỳ bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên tại Hà Nội - Ảnh tư liệu

Để tiến hành tổng tuyển cử, chính quyền nhân dân tuy non trẻ nhưng phải đối mặt với rất nhiều thù trong giặc ngoài. Sách lược ứng phó khôn khéo duy nhất đúng lúc đó là: giương cao ngọn cờ đoàn kết, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc.

Vượt qua khó khăn

Giáo sư Lê Mậu Hãn nhớ lại: Trên các tuyến đường lớn từ phía Bắc đổ về Hà Nội rầm rập gót chân của 20.000 quân Tưởng. Phía Nam, quân Pháp đã quay lại nổ súng. Hàng vạn quân Nhật vẫn còn vũ khí đang đồn trú tại VN. Tại Hà Nội, nhiều đảng phái chính trị chống chính phủ nhân dân ra đời. Đặc biệt là lực lượng Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần nắm giữ. Một số vùng như Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái đã bị họ chiếm giữ. Các tờ báo, truyền đơn chống phá Việt Minh được phát tán khắp nơi. Luận điệu đòi loại bỏ các bộ trưởng là đảng viên cộng sản khỏi Chính phủ mới được đẩy cao.

Đường phố Hà Nội lúc này chưa hết những đoàn hành khất rách rưới, vạ vật. Khắp các thôn làng xơ xác, tiêu điều. Hơn 2 triệu người VN đã chết vì đói ăn. Đây là một trong những tàn tích rùng rợn nhất của chế độ cũ để lại. Chính phủ nhân dân đã ra đời nhưng lại chưa được quốc tế công nhận. Để tập hợp được sức mạnh toàn dân và thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, chính phủ mới cần phải chính danh, điều đó nghĩa là Chính phủ phải được Quốc hội bầu, và Quốc hội phải do dân bầu.

Mittinh vận động cứu đói tổ chức trước Nhà hát lớn Hà Nội. Hàng ngồi đầu tiên từ phải sang trái: cụ Nguyễn Văn Tố (nhân sĩ), tướng Mỹ Gallager (đại diện lực lượng Đồng minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố vấn Vĩnh Thụy, cụ Ngô Tử Hạ (nhân sĩ) - Ảnh tư liệu

Để nhân dân thật sự được hưởng quyền tự do, dân chủ thì đất nước phải có hiến pháp. Tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã nói: chính phủ phải tổ chức tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu càng sớm càng tốt. Năm ngày sau, sắc lệnh về tổng tuyển cử được ban hành: công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên được tự do bầu cử và ứng cử; thành lập ủy ban dự thảo thể lệ, hiến pháp, các sắc lệnh…

Quân Tưởng và các lực lượng Việt Quốc, Việt Cách ra sức công kích, xuyên tạc trên các diễn đàn thông tin, kèm các hành vi bạo động nhằm phá hoại tổng tuyển cử. Hồ Chủ tịch và chính phủ lâm thời xác định cuộc tổng tuyển cử này còn là cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh nhân dân hết sức cam go. Các chính sách đối nội, đối ngoại, cứng rắn, mềm dẻo đòi hỏi linh hoạt cao.

Chính phủ mới ra đời đã chủ động hòa giải với tướng Tiêu Văn (quân Tưởng) và Việt Cách thông qua bản Thỏa ước đoàn kết và hợp tác ngày 23-10-1945. Nhưng ít ngày sau, Nguyễn Hải Thần tự xé bỏ. Chính phủ lần thứ hai chủ động thảo luận với họ. Họ đòi thay quốc kỳ, lập lại chính phủ, xóa bỏ chế độ ủy ban nhân dân… Việt Quốc thì đòi nắm giữ bộ Nội vụ, Tài chính, Kinh tế, Giáo dục, Quốc phòng, Thanh niên; đòi hoãn tổng tuyển cử và đòi chia 1/3 số ghế Quốc hội, tương đương ghế của Việt Minh….

Ngày 19-11-1945, ba phái Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách cùng tướng Tiêu Văn nhóm họp dưới sự chủ trì của Hồ Chủ tịch đã tìm ra được tiếng nói chung. Mấy ngày sau, văn bản mang tên “Đoàn kết tinh thành” được ba phái chung bút ký. Nhưng tình hình chỉ thật sự dịu đi khi Hồ Chủ tịch tiếp tục thương lượng thêm nhiều bước để ba phái đồng tình với văn bản Biện pháp đoàn kết với ba điều quan trọng nhất là: Độc lập, đoàn kết trên hết; ủng hộ tổng tuyển cử và đình chỉ công kích lẫn nhau. Tổng tuyển cử lúc này mới có thể bắt đầu.

Ngày 6-1-1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra trên đất nước VN. Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người dân VN từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ đều được hưởng quyền bầu cử và ứng cử Quốc hội. Hơn 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu. Nhân dân cả nước đã bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Hà Nội và đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%.

(Nguồn: Chính phủ VN 1945 – 2003, NXB Thông Tấn 2004)

“Lịch sử nhân loại có thể phải kinh ngạc trước cuộc cách mạng ở một dân tộc nhỏ bé hàng trăm năm nô lệ với 90% dân mù chữ và vừa trải qua một nạn đói khủng khiếp đến mất tính người – giáo sư Lê Mậu Hãn nhận định – Tôi không bàn về ý nghĩa của cách mạng mà nói về một hành vi ứng xử của cách mạng”. Đó là việc Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) ứng cử đại biểu Quốc hội và được làm cố vấn Chính phủ lâm thời – một vị vua của chế độ cũ lại được trở thành thành viên cao cấp của bộ máy lãnh đạo mới, được phép thành người đại diện của dân chúng, sau khi ông đã thoái vị làm thường dân. Đây là một trong những minh chứng về tinh thần dân chủ và đại đoàn kết dân tộc vô cùng cao quí của chính quyền cách mạng.

Ngay sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chủ tịch đã quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử với quan điểm: dân chủ và tôn trọng người tài năng, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm với quyền lợi dân tộc. Hồ Chủ tịch nói: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, nòi giống, giai cấp, đảng phái…”.

Khi soạn thảo các văn kiện quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và quyền dân chủ, Hồ Chủ tịch đều thành lập những ban soạn thảo có đủ mọi thành phần, đảng phái miễn là người có tài, có tâm với dân tộc. Ủy ban dự thảo hiến pháp gồm bảy người thì có cả những nhân vật ngoài Việt Minh như Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai. Ủy ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử gồm chín người thì có đại diện đủ cả các giới, các ngành.

Đến ngày 4-1-1946, Hồ Chủ tịch viết thư gửi đồng bào VN ở Lào và Xiêm (Thái Lan) kêu gọi những người Việt xa quê đoàn kết một lòng và không ngừng hướng về Tổ quốc. Kết quả của tinh thần đó đã thể hiện trong Quốc hội đầu tiên của dân tộc là một cơ quan hội tụ đầy đủ nhất những người ưu tú, tài đức thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, tôn giáo vùng miền, không phân biệt đẳng cấp, quan điểm, văn hóa nhưng đều chung tinh thần đoàn kết, lý tưởng độc lập, dân chủ. Đó là các nhà cách mạng lão thành từng bôn ba hải ngoại như Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng… đến những trí thức trẻ đầy nhiệt huyết như Nguyễn Đình Thi.

Các thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô đến các nhà văn hóa như Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai, Hoàng Đạo Thúy… Các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, thượng tọa Thích Mật Thể, chưởng quản Cao Triều Phát (Cao Đài) cùng các đảng phái chính trị như Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng…

QUANG THIỆN

________________________

Một không khí tự do, dân chủ, minh bạch và công bằng trên các tờ báo đã thổi vào đời sống từ thành thị đến thôn quê một luồng cảm hứng chính trị nồng nhiệt, chân thành trong kỳ bầu cử.

Kỳ tới: Tiếng dân trên báo

Tuổi trẻ Online

5-6-1911: Chuyến ra đi lịch sử

Nguyễn Ái Quốc

TTO – Đã 96 năm kể từ ngày 05-6-1911, ngày chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành bước lên con tàu thủy với hai bàn tay trắng, trái tim nóng bỏng nỗi đau mất nước và quyết tâm sắt đá: khôi phục lại nước Việt, bảo vệ nền độc lập và cuộc sống tự do cho mọi người.

Ước vọng quá lớn với một chàng trai 21 tuổi. Nhưng đã thành hiện thực. Chàng trai đã đi vào lịch sử, viết nên lịch sử.

96 năm sau, nước Việt Nam không chỉ có độc lập, tự do, dân Việt không chỉ có cơm ăn, áo mặc, được học hành như ước vọng của Người. Những năm đầu TK 21 này, nước Việt Nam đã có một vị thế mới.

Lại nhớ lời Người: “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Bác ơi, ngày này chúng cháu muốn nhắc lại vài câu chuyện về anh Ba thuở ấy. Để biết rằng con đường sáng lạn mà cả dân tộc đang đi đã bắt đầu từ bước chân cô đơn của Người như thế nào….

TTO xin trích đăng lại một số mẩu chuyện ghi lại những bước hoạt động đầu tiên của Người, trích trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của tác giả Trần Dân Tiên – NXB Trẻ 2005.

………………………………….

Ra đi với hai bàn tay (*)

…Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:

“Trong khi còn học ở trường Chasseloup–Laubat, tôi gặp một người thanh niên ở Trung bộ vào Sài Gòn ở nhà một người bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê của Pháp xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước. Những cái đó trước kia anh chưa hề thấy.

Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi kem.

Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước không?”

Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”

“Anh có thể giữ bí mật không?”

“Có”.

“Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”

“Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?”

“Đây, tiền đây” – Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay – “Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?”

Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có đủ can đảm để giữ lời hứa.

Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là Cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta ngày nay”.

Anh phụ bếp kỳ lạ

Ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đã cho chúng tôi biết những điều mà ông Lê không rõ.

Ông Mai kể lại:

“Vào khoảng cuối năm 1911 hay 1912 – tôi không nhớ đúng nữa – tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu chúng tôi cặp bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.

Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút ngập ngừng, anh ta hỏi xin việc.

Chúng tôi trả lời là không có việc và có chăng nữa, chúng tôi cũng không có quyền nhận anh ta. Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò, không phải là người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với nhau: “Một người như thế có thể làm được công việc gì trên tàu?”.

Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói: “Đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ có việc cho anh làm”.

Chủ tàu hỏi: “Anh có thể làm việc gì?”

“Tôi có thể làm bất cứ việc gì!” – Chàng trai trả lời.

“Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây nhận việc”.

Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ ấy, cho nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ mến tôi cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là tôi cố làm để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết gì cả. Vả lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi ngày anh ta phải làm từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, tối đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt cá, nước đá v.v…

Công việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét. Nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu tròng trành.

Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài suốt ngày.

Nhà bếp lo cho bảy, tám trăm người cả nhân viên và hành khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá, đến nỗi anh Ba phải kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá, anh phải leo lên ghế để chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:

“Ba, đem nước đây!”

“Ba, dọn chảo đi!”

“Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!”

Suốt ngày, anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức lực để làm cho xong công việc, và hơn nữa vì chưa quen việc. Anh phải gọt xong đống củ cải và khoai tây. Anh không biết làm thế nào. Tôi dạy cho anh. Tôi còn nhớ một lần gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba thấy măng tây. Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến. Tôi hối hả quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bày cho anh ta phải làm như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc gì.

Mỗi ngày, chín giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc, anh Ba là người dưới chúng tôi, chúng tôi là những người có chức vị, còn anh Ba chỉ là người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết – anh giúp những người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho gia đình họ và anh không bao giờ nói tục, vì vậy anh Ba được tất cả chúng tôi yêu mến.

Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Biển nổi sóng. Làn sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu hết mọi người say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi xuống từ bếp đến hầm. Không thể vác những rổ rau lên vai vì tàu tròng trành, anh phải buộc rổ rau vào dây sắt để kéo đi, chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình lình phủ lên sàn tàu và cuốn xuống biển mọi vật trên sàn tàu. Cả những rổ rau và anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây xích, nhờ vậy mà thoát chết.

Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh dùng nĩa.

Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách – hai người lính trẻ tuổi giải ngũ về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ quốc ngữ và thỉnh thoảng dấm dúi cho họ cốc cà phê. Anh nói với tôi với một vẻ ngạc nhiên: “Anh Mai, cũng có những người Pháp tốt, anh ạ”.

Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi tầu hạng nhất cùng gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:

“Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn…”. Anh Ba lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay không.

Đến Mác–xây, chúng tôi lĩnh lương. Mỗi nhân viên Việt Nam được từ một trăm đến hai trăm quan, thêm vào đấy tiền thưởng của hành khách. Anh Ba là phụ bếp, chỉ được mười quan. Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện mới lạ. Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất cả những điều anh trông thấy và suy nghĩ.

“Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”.

Trông thấy những gái điếm đến làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:

“Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta, sao thế anh Mai?”

Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ.

Lần đầu tiên anh ta trông thấy những “cái nhà biết chạy” ấy. Cái gì cũng làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn luôn anh ta nói

“Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…”

Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo quần, và chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca–nơ–bia. Không cần phải nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà phê và cũng là lần đầu tiên người Pháp gọi anh bằng “ông”.

Sau những ngày đầu tiên ở Mác–xây, anh Ba tóm tắt cảm tưởng của mình bằng mấy chữ:

“Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông dương”.

Chúng tôi đi theo tàu lên Ha–vơ–rơ (Havre) để sửa chữa. Chúng tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở về Đông Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ đem anh về nhà. Từ đấy, tôi không được tin tức gì của anh Ba nữa…

Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người phụ bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy, lại trở thành Chủ tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên nước Cộng hòa chúng ta”.

TRẦN DÂN TIÊN

Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ – NXB Trẻ 2005

(còn tiếp)

………………………………………………..

(*): các tiêu đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Đi tìm tư liệu về Bác Hồ ở nước Nga

Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc trở lại Nga (ảnh do Bảo tàng Hồ Chí Minh thu thập được trong chuyến công tác tại Nga cuối năm 2006)

TT – “Sau một tháng sang Nga tìm tư liệu về Bác, chúng tôi đã có không phải ba trang mà 1.000 trang, trong đó có khoảng gần 30% là tư liệu mới” – ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chia sẻ những thông tin mới nhất mà các cán bộ bảo tàng mới mang về từ nước Nga.

Là một người làm lưu trữ hơn 20 năm, chị Phạm Thị Lai – trưởng phòng tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, người phụ trách nhóm công tác – cẩn trọng: “Tất cả sẽ được công bố sau khi chúng tôi đã phân loại, nghiên cứu và trình kết quả lên cấp có thẩm quyền. Có những bí mật mà tôi không đủ thẩm quyền công bố, và thật ra thì ngay ở Nga nó cũng chưa được giải mật”.

Chị Lai kể về một tháng tìm kiếm, làm việc kể từ khi đặt chân xuống sân bay Domodedovo đến khi xách những chiếc vali nặng trĩu tài liệu quí về nước: “Lưu trữ lịch sử chính trị quốc gia Nga là cơ quan lưu trữ lớn nhất nước Nga, có tới 685 phông lưu trữ (phông là đơn vị lưu trữ lớn nhất theo thuật ngữ của chuyên ngành lưu trữ) với 2,1 triệu hồ sơ lưu trữ. Trong đó tư liệu về Đảng Cộng sản VN và Bác Hồ chỉ là một mục lục trong một hồ sơ, với số lượng tài liệu hiện vật khoảng 7.000 trang. Trước đây, thời Liên Xô, các bạn có tặng chúng ta hầu hết các tài liệu mà họ lưu giữ, song chỉ là bản sao chụp, đen trắng, không rõ nét, nay chúng tôi phải tìm cách tiếp cận với hồ sơ gốc để scan. Qui định của cơ quan lưu trữ Nga là mỗi người mỗi ngày chỉ được đọc 5 đơn vị hồ sơ, 1.000 trang cũng tính là một đơn vị mà 1 trang cũng tính là một đơn vị, mà đặt tài liệu vào thứ hai thì thứ tư mới có để đọc”.

Trong số tài liệu mang về, chị Lai thích nhất bức ảnh Bác Hồ vào năm 1933, khi từ Trung Quốc quay lại Nga, với áo dài, khăn, giày, kính như một phú thương Trung Hoa (ảnh). Chị Lai kể: “Bảo tàng của chúng tôi có trưng bày cả bộ quần áo ấy, cả khăn, mũ kính ấy, nhưng chưa có một tài liệu nào, hình ảnh nào cho thấy Bác đã mặc chúng như thế nào. Khi nhìn thấy bức ảnh ấy lần đầu trong lưu trữ Nga, tôi đã nghẹn ngào vì sung sướng. Hay là tấm thẻ Bác chụp để đi dự Đại hội lần 7 của Quốc tế cộng sản năm 1935, với bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp và Đức, Bác đã gầy và già đi bao nhiêu so với tấm ảnh trong thẻ dự đại hội 5 Quốc tế cộng sản vào năm 1924. Rồi tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp năm 1922 với tên Henri Tchen (Henri Trần). Chúng tôi từng thống kê Bác có hơn 160 tên, nhưng mỗi lần gặp một tài liệu với một tên mới của Bác, vẫn không bao giờ hết ngạc nhiên về khả năng phi thường của Người”.

Chị Lai cho biết chuyến đi Nga lần này của đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh có nhiều điều thú vị: phát hiện khá nhiều thư Bác gửi các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô, hầu hết viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, được trợ lý của họ dịch ra tiếng Nga và được cơ quan lưu trữ Nga gìn giữ rất cẩn thận, dù chỉ là hai dòng bút tích. Cũng có những bức thư viết bằng tiếng Nga, rất tình cảm, đặc biệt khi trình bày về các vấn đề thuộc địa. “Chúng tôi cũng đã tìm thấy những bức thư Bác gửi Quốc tế cộng sản xin được quay về Đông Dương, về VN hoạt động. Có những tư liệu về Bác chúng tôi tìm thấy không phải ở “Lưu trữ cá nhân – Nguyễn Ái Quốc” trong Lưu trữ quốc gia, mà ở Lưu trữ cá nhân của Stalin. Tôi hi vọng trong thời gian tới có thể nghiên cứu, báo cáo và công bố những tư liệu này” – chị Lai cho biết.

THU HÀ
Tuổi trẻ Online