Thư viện

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đời sống văn hóa mới

“Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm”.

HoChuTich02Bác Hồ với đồng bào dân tộc(Ảnh: Tư liệu)

Năm 1923, trong bài “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc” được đăng trên Tạp chí Ngọn lửa nhỏ – Liên Xô, nhà báo Liên Xô Ôxip Mandenxtan đã nhận xét rằng: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa Châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai… Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”(1).

Trong tác phẩm Hồ Chí Minh – quá khứ, hiện tại và tương lai, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam và của loài người với ý nghĩa đầy đủ nhất của danh hiệu Nhà văn hóa. Ở Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn, gắn liền với nhân văn lớn, phát huy truyền thống của một dân tộc “văn hiến”. Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn vì cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương về nhân sinh quan và thế giới quan cao đẹp, làm sáng lên một chủ nghĩa nhân văn trùng với những ước mơ cổ truyền của dân tộc Việt Nam và các dân tộc, kết tinh những tư tưởng và tình cảm lớn của loài người” (2).

Tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tổng hợp các giá trị văn hóa Đông – Tây, trên nền tảng chủ nghĩa nhân văn Việt Nam được hình thành trong các phong trào lớn của thế kỷ XX, phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta mặc dù bận trăm công nghìn việc chuẩn bị cho cách mạng giải phóng dân tộc nhưng Người vẫn thường xuyên lo nghĩ, vẫn giành tâm trí xây dựng một nền văn hóa mới, Đời sống mới. Điều này càng thấy rõ trong phong trào xây dựng Đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động vào tháng 1 năm 1946 và đặc biệt tháng 4 năm 1946, Người đã ký Sắc lệnh thành lập Ủy ban Trung ương vận động Đời sống mới. Tháng 3 năm 1947, Người đã viết cuốn sách Đời sống mới để hướng dẫn việc xây dựng Đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân, trong toàn xã hội. Đặc biệt, cuộc vận động ngay sau đó trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, rộng khắp ngay cả lúc cách mạng mới thành công và nhân dân ta phải đi ngay vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm hết sức khốc liệt, cuộc sống còn trăm bề thiếu thốn.

Khái niệm Đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới”. Ba nội dung ấy, có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu. Đạo đức gắn liền với lối sống và nếp sống. Chính vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới phải được tiến hành đồng thời với việc xây dựng lối sống mới và nếp sống mới. Có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống mới, nếp sống mới lành mạnh, vui tươi, hướng con người tới tầm cao của văn hóa, của một đất nước độc lập và xã hội chủ nghĩa. Ba nội dung đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ sau:

Muốn xây dựng Đời sống mới trước hết là phải xây dựng được đạo đức mới, vấn đề này, Người đã chỉ ra rằng: “… thực hiện Đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính”; “Nếu không giữ được Cần, Kiệm, Liêm, Chính dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” còn “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho Đời sống mới” (3).

van hoaBác Hồ với đại biểu phụ nữ vùng cao(Ảnh: Tư liệu)

Thứ hai, phải xây dựng lối sống mới có lý tưởng, có đạo đức theo hướng văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Cùng với việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, việc xây dựng Đời sống mới đòi hỏi phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong Đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Theo Hồ Chí Minh, đó là năm cách phải sửa đổi đối với mỗi người cũng như đối với một tập thể, một cộng đồng. Cách ăn, mặc, ở không phụ thuộc vào những thứ dùng để ăn, mặc, ở nhiều hay ít, sang trọng hay đơn giản, mà lại phụ thuộc vào lối sống có hay không có văn hóa của mỗi con người(4).

Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng một phong cách khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, về chức – quyền – danh – lợi. Trong quan hệ với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu lòng yêu thương quý mến con người, trân trọng con người; đối với mình thì chặt chẽ, đối với người khác thì khoan dung, độ lượng. Người cho rằng: “Cách ăn mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa xỉ, lòe lẹt”. Không phải Người phủ nhận nhu cầu chính đáng của mỗi người trong việc cải thiện và nâng cao điều kiện sinh hoạt của mình ngày càng tốt hơn, ai mà chẳng muốn ăn ngon mặc đẹp, nhưng muốn phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp, như vậy không có đạo đức(5).

Thứ ba, là xây dựng nếp sống mới. Theo Người, quá trình xây dựng lối sống mới cũng là quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở thành thói quen ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả một cộng đồng, trong phạm vi một địa phương hay mở rộng ra cả nước và gọi là nếp sống mới hay nếp sống văn minh. Nếp sống mới mà chúng ta xây dựng phải kế thừa những truyền thống tinh thần tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những phải biết kế thừa mà còn phải phát triển cải tạo những phong tục tập quán cũ lạc hậu, bổ sung những cái mới tiến bộ mà trước đó chưa có. “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì mới cũng làm hết. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ, ví dụ: Ta phải bỏ hết những tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý, thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ ta phải giảm bớt đi. Cái gì mới mà hay thì ta phải làm, thí dụ: Ăn ở hợp vệ sinh, làm việc ngăn nắp”.

hcm doi song van hoaBác Hồ với các cháu thiếu niên, nhi đồng (Ảnh: Tư liệu)

Việc xây dựng Đời sống mới phải bắt đầu từ từng người, từng gia đình, vì mỗi người là một cá thể để tạo nên gia đình, mỗi gia đình là một tế bào để tạo nên xã hội. Mỗi người, mỗi gia đình đều thực hiện Đời sống mới thì mới có thể xây dựng được Đời sống mới ở các tập thể, các đơn vị, ở làng xã, phố phường cho đến cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt nhấn mạnh và đòi hỏi mỗi người, mỗi gia đình phải thực hiện Đời sống mới. “Do nhiều người nhóm lại thành làng. Do nhiều làng nhóm lại mà thành nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh… Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng Đời sống mới, thì dân tộc nhất định sẽ phú cường”, “Ai cũng làm như thế, thì tự nhiên nước Việt Nam ta trở nên một nước mới, một nước văn minh”. Ý nghĩa đó được thể hiện trong những câu nói của Người đã trở thành rất quen thuộc với chúng ta: “Văn minh thắng bạo tàn”, “Đảng là đạo đức, là văn minh”… Ngày nay, việc mở rộng Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa cũng là theo tinh thần đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tấm gương rèn luyện đạo đức cách mạng, trung với Đảng, với nước, hiếu với dân; Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; lòng nhân ái bao la, trong sáng, thủy chung. Tấm gương rèn luyện hàng ngày như một nếp tự nhiên, không gượng ép để có lối sống của một nhà văn hóa kiệt xuất, một hình ảnh nhà văn hóa lớn Việt Nam vừa làm thơ, vừa đánh giặc “giữa dòng bàn bạc việc quân”, “chống gậy lên non xem trận địa”, và ung dung tự tại lái con thuyền Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh. Đồng thời, đó là lối sống giản dị, thiết thực, hòa đồng, chân thành, trung thực trong ứng xử với mọi người và làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh.

Vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về Đời sống văn hóa mới là điều cần thiết, cấp bách trong thời đại hiện nay – thời đại kinh tế thị trường kéo theo nguy cơ biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống. Sự thực đó đòi hỏi chúng ta càng phải nghiêm túc học tập và làm tốt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” về xây dựng Đời sống văn hóa mới, sẽ đáp ứng được yêu cầu chung của công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng được sự mong đợi của đông đảo cán bộ, Đảng viên và toàn thể nhân dân.

Theo Viên Đình Phong
Nguồn Tạp chí Văn hóa Du lịch Đà Nẵng
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1,2). Nguyễn Nguyên Trứ, Cách viết của Bác Hồ, NXB Giáo dục, 1999.
(3,4,5). Nhiều tác giả, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.

Tư tưởng Hồ Chí Minh – Sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị”

Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Hồ Chí Minh nuôi dưỡng khát vọng thành lập một nhà nước kiểu mới. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên cơ sở những nhận thức trước đây về một nhà nước “phải có thần linh pháp quyền”, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến quyền lực của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thuộc về nhân dân, lợi ích phải vì dân. Đó phải là một nhà nước dân chủ – dân là chủ và dân làm chủ. Đồng thời nhà nước đó phải được vận hành và quản lý bằng pháp luật kết hợp chặt chẽ với việc giáo dục đạo đức. Quan niệm về sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống văn hóa phương Đông và từ tấm gương trị nước của các vị vua chúa hiền minh trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, vượt lên tất cả những ông vua đức độ và kẻ sĩ hiền tài, trong quá trình trị vì đất nước, Hồ Chí Minh đã thực thi triệt để vấn đề “Đức trị” với “Pháp trị” trên cơ sở cách mạng, khoa học và nhân nghĩa, nói đi đôi với làm vì hạnh phúc của nhân dân.

Pháp luật và đạo đức là hai lĩnh vực khác nhau thuộc hình thái ý thức xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Pháp luật là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức; ngược lại đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác, nhưng nhiều khi rất cần sự hỗ trợ của pháp luật. Bởi vì nếu không kết hợp với tính nghiêm minh, khoa học của pháp luật thì giáo dục đạo đức trở thành vô nghĩa. Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh cho thấy rõ điều này. Chẳng hạn khi trả lời vụ Chu Bá Phượng, Người nói Chính phủ đã cố gắng liêm khiết (tức là đạo đức). Nhưng nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Trước khi ký lệnh bác đơn chống án của Trần Dụ Châu, với một trái tim bao dung, độ lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đau lòng, suy nghĩ nhiều đêm. Nhưng rõ ràng, những vụ tham nhũng kiểu đó mà nếu chỉ kêu gọi, giáo dục đạo đức không thôi thì không bao giờ giải quyết được vấn đề. Phải có một bộ máy thể hiện tính khoa học và nghiêm minh của pháp luật. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nặng về giáo dục, nhẹ về xử phạt, nhưng cái gì cũng không dùng đến xử phạt thì không nên, sẽ mất cả kỷ luật. Trọn đời Hồ Chí Minh là một cuộc đời giáo dục mọi người làm người, lấy đức làm gốc. Bởi vì, dù tài giỏi đến mấy mà không có đức, không có căn bản thì không làm được cách mạng. Nhưng Người luôn quán triệt “Đức trị” phải thống nhất với “Pháp trị”. Trong Di chúc, Người viết: “Đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu,v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(1).

Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền con người và quyền của các dân tộc, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3/9/1945), trong 6 nhiệm vụ cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ thứ ba là “chúng ta phải có ngay một hiến pháp dân chủ; phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có một Nhà nước hợp hiến do nhân dân bầu ra. Ngày 17/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định thể lệ Tổng tuyển cử. Ngày 20/9/1945, Người ký Sắc lệnh 34 thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chuẩn bị đệ trình Quốc hội. Chính phủ liên hiệp kháng chiến được Quốc hội họp phiên đầu tiên ngày 2/3/1946 bầu ra là Chính phủ hợp hiến đầu tiên có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại.

Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, từ một nền văn hóa nông nghiệp, trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và hàng trăm năm dưới chế độ thực dân cũng không kém phần chuyên chế, chúng ta không thể đi nhanh tới việc xác lập một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên phải nhấn mạnh tới vai trò của pháp luật trong quản lý điều hành đất nước và phải có những hoạt động tích cực, kịp thời để từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nói tới pháp luật của chế độ mới dân chủ cộng hòa là phải gắn với dân chủ, hai nội dung đó nương tựa vào nhau. Pháp luật là bệ đỡ của dân chủ và không thể có dân chủ ngoài pháp luật. Theo Hồ Chí Minh, mọi quyền dân chủ phải được thể chế hóa bằng pháp luật và pháp luật bảo đảm cho quyền tự do dân chủ được thực thi trong thực tế.

Hồ Chí Minh là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Nhưng điều quan trọng hơn là Người tập trung chỉ đạo đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, tạo cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành. Đối với một nước dân chủ, Hồ Chí Minh quan tâm tới năng lực làm chủ của người dân. Trước đây, dưới chế độ cũ, bọn thực dân phong kiến tìm cách làm cho dân ngu để dễ trị. Trong chế độ mới, Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục lại nhân dân, nâng cao dân trí, làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Pháp luật chỉ có hiệu lực trong thực tế khi nhân dân có những hiểu biết nhất định về văn hóa, chính trị, về pháp luật, về quyền công dân. Người dân chỉ có thể “dám mở mồm ra” – như cách nói của Bác Hồ – khi có những hiểu biết nhất định về pháp luật.

Giáo dục nhân dân hiểu biết về pháp luật là cần thiết, vì điều đó tạo ra tính chủ động của người dân trong thực thi pháp luật. Nhưng cán bộ – nhất là cán bộ ngành tư pháp – làm gương trong việc tuân thủ pháp luật cũng rất cần thiết. Nói chung thì đạo làm gương cần thiết trong mọi hoạt động. Bởi vì văn hoá phương Đông chứa đựng một triết lý “một tấm gương sống còn có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc tháng 2 năm 1948, Hồ Chí Minh viết: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc… Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp”, chí công vô tư cho nhân dân noi theo”(2). Hồ Chí Minh là tấm gương sáng, mẫu mực trong việc thực thi pháp luật. Những câu chuyện về việc Người chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông, đèn đỏ dừng lại, hay đơn giản là tôn trọng quy định của nhà chùa cởi dép khi vào lễ Phật,… được nhân dân truyền tụng, học tập, có sức giáo dục to lớn cho cán bộ, nhân dân trong việc thực thi pháp luật.

Tư tưởng “pháp trị” của Hồ Chí Minh đặc biệt thể hiện nổi bật ở việc bảo đảm tính khoa học, hiệu lực và nghiêm minh của pháp luật. Hơn hai tháng sau khi tuyên bố độc lập, ngày 23/11/1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 64-SL về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và một Toà án đặc biệt có nhiệm vụ giám sát và xét xử các sai phạm của các nhân viên từ trong các uỷ ban nhân dân các cấp đến cơ quan cao nhất của chính quyền (các Bộ).

Bốn ngày sau khi ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc biệt và Toà án đặc biệt, Hồ Chí Minh lại ký tiếp Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối lộ. Cuối năm đó, khi giao cho đồng chí Lê Giản phụ trách ngành Công an (Ty Liêm phóng), Người đã dặn rằng: Chú phụ trách ngành này là phải “thiết diện vô tư”, tức là mặt sắt không thiên vị. Nếu chú không “thiết diện vô tư” thì Bác sẽ “thiết diện vô tư” đối với chú. Như vậy, chỉ trong vòng 3 đến 4 tháng sau ngày tuyên bố nước Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã tập trung cao độ cho việc xây dựng bộ máy, trong đó có khía cạnh pháp luật chống tham nhũng, một trong những vấn đề lớn liên quan tới sự sống còn của chế độ mới. Ngay cả khi nói về Đảng, gắn vấn đề pháp luật chống tham nhũng, Người khẳng định: “Nếu cần có đảng phái thì sẽ là đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. Trong trường hợp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ngang hàng kẻ tham ô với kẻ phản quốc. Và hai tội danh này đều xếp vào khung hình phạt tử hình theo Quốc lệnh 10 điều thưởng và 10 điều phạt ngày 26/1/1946 do Hồ Chí Minh ký.

Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh trăn trở với vận nước, với “nền dân chủ mới chưa hoàn toàn”. Năm tháng sau khi tranh được quyền độc lập, Hồ Chí Minh đã có bài “Tự phê bình” trên báo Cứu quốc số 153, ngày 28/1/1946. Sau khi khẳng định Chính phủ có làm được một số việc, Hồ Chí Minh đau lòng thừa nhận rằng “tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch”. Đây là lần đầu tiên trong chế độ mới, Hồ Chí Minh dùng hai từ “nhũng lạm” với nghĩa lạm dụng quyền lực để tham nhũng. Người lạm dụng quyền lực thì trước hết phải có quyền lực. Vậy thì ai là những người có quyền lực? Theo Hồ Chí Minh, đó chỉ có thể là những người làm việc trong các công sở, cán bộ các cơ quan, các đoàn thể. Và quyền lực ở đây được đặt trong mối tương quan giữa cán bộ công chức với nhân dân. Người dân không thể có quyền hành, quyền lực; chỉ có cán bộ công chức mới có quyền hành, quyền lực. Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(3). Sau này Người lại viết: Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”(4).

Trong năm 1946, những chuyện về ăn hối lộ, tham nhũng trong Chính phủ đã được Quốc hội nước ta lúc bấy giờ hết sức quan tâm. Đặc biệt là sau vụ Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến, là đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng, thành viên trong đoàn Chính phủ ta dự Hội nghị Fontainbleau, bị các nhà chức trách Pháp bắt được vì mang vàng đi buôn. Tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I ( tháng 11 năm 1946), có đại biểu Quốc hội đã chất vấn Chính phủ về vụ việc này. Thay mặt Chính phủ, Bác Hồ đã trả lời thẳng thắn rằng, “Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh đến những người làm việc ở các uỷ ban làng, đông lắm, phức tạp lắm. Dù sao, Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nghiêm minh của pháp luật thật rõ ràng, dứt khoát: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(5).

Bước vào thập niên năm mươi, để tập trung mọi khả năng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác chỉnh Đảng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, nghiêm minh với tội hối lộ. Ngày 24/1/1952, khi viết về “Sự nghiệp vĩ đại của Lênin”, Người đã nhắc tới tính nghiêm khắc của Lênin trong việc xử bọn ăn hối lộ: “Đối với tệ tham ô hủ hoá, Lênin rất nghiêm khắc. Có một lần Toà án Mạc Tư Khoa xử nhẹ một vụ ăn hối lộ, Lênin liền viết trong một bức thư: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng”(6). Trong kháng chiến chống Pháp (9-1950), Bác Hồ – dù rất đau lòng – vẫn đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu, phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, bớt xén phần cơm áo của bộ đội để sống trác táng, trụy lạc. Người tâm sự với Trần Đăng Ninh trước khi ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu: “Với loài sâu mọt đục khét nhân dân, nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây, thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”(7).

Để bảo đảm nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh, với tư tưởng ‘tìm người tài đức”, chiêu hiền đãi sĩ, cầu người hiền tài, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vừa “hồng” vừa “chuyên”. “Hồng” ở đây là nói tới phẩm chất đạo đức của người cán bộ công chức, mà hàng đầu và xuyên suốt là ý thức và tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Còn “Chuyên” là nói tới năng lực thực tế của công chức Việt Nam nói chung và năng lực trong việc giữ một nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước nói riêng với tinh thần “làm nghề gì cũng phải học” và “làm nghề gì phải giỏi nghề đó”.

Hiện nay, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, chúng ta phải có tư duy toàn cầu về một Quốc hội, một Chính phủ thời hội nhập. Vấn đề rộng lớn, nhưng lõi cốt là tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Chính phủ phải thật sự là công bộc của dân. Chúng ta coi việc giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cơ bản, lâu dài và cấp bách. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế mà pháp luật không nghiêm thì phải trả giá đắt. Chúng ta đã có quá nhiều bài học về vấn đề này do sự kém hiểu biết về pháp luật (Việt Nam và quốc tế), non kém trong trình độ quản lý, không nghiêm và minh về pháp luật. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và quán triệt sâu sắc tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị” là hết sức cần thiết, vì nó tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới của Đảng và dân tộc ta.

Theo PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1996, t.12, tr.504.

2. Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.381-382.

3. Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.104.

4. Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.641.

5. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 5, tr.641.

6. Hồ Chí Ming, Sđd, t.6, tr. 386.

7. Xem: Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX.02, Đề tài KX.02.13: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật (bài của PGS. Song Thành: Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh – sự thống nhất giữa “Đức trị” với “Pháp trị”), Bộ Tư pháp – Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, 1993, tr.214.

Nghĩ về nét độc đáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đến nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau; nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã thống nhất chung về nền tảng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình hình thành hệ tư tưởng đó; đồng thời phân chia hệ tư tưởng ra làm 3 bộ phận lớn: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh và phương pháp phong cách Hồ Chí Minh.

Trong khuôn khổ phạm vi bài viềt này xin nói lên cảm nghĩ về một trong 3 bộ phận nói trên của hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ đây là nét độc đáo nhất trong hệ tư tưởng của Người. Bởi lẽ bộ phận đạo đức trong hệ tư tưởng nói trên được thế hiện là đặc trưng kết hợp giữa tinh hoa dân tộc với tinh hoa thời đại, trong đó bao trùm là tính tư tưởng nhân văn được diễn đạt một cách khái quát: độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người; hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, sự phát triển các quan hệ văn hóa và nhân dân cho thời đại.

Đạo đức Hồ Chí Minh được các nhà nghiên cứu khẳng định là tấm gương đạo đức lớn, là sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân noi theo. Đạo đức Hồ Chí Minh bao gỗm 2 bộ phận là tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức.

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng đạo đức cách mạng của đạo đức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân văn của các dân tộc Việt Nam với đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân.

Tấm gương đạo đức của Nguời là đỉnh cao đặc trưng con người mới. Đó là: Suốt đời hy sinh cho dân tộc không một chút riêng tư, hết lòng yêu thương nhân dân, lấy dân làm gốc; chí công vô tư, cần kiệm liêm chính; giản dị, khiêm tốn; suỗt đời học tập rèn luyện vươn lên. Từ đó Người đã hết lòng vì sự nghiệp giải phóng con người bao gổm: đồng bào bị đau khổ, nhân loại bị áp bức không phân biệt màu da, chủng tộc… yêu con người, tin vào sức mạnh con người và đem lòng chí công vô tư để đối xử với con người.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ nét và độc đáo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc qua 2 thời kỳ, Người đã kế thừa và nâng cao truyền thóng đạo đức của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh với kẻ thù: “Lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn. Người không những thế hiện lòng nhân đạo đối với kẻ thù, cảm thông đối với những ai lầm đường lạc lối và với cả những người lính viễn chinh, công cụ của giai cấp bóc lột cũng là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người vẫn mời Vĩnh Thụy (Bảo Đại) và giám mục Lê Hữu Từ làm cồ vấn cho Chính phủ.

Khi lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đa chủ trương thực hiện chính sách thêm bạn bớt thù; đã cử các ông Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, NguyễnTườngTam, làm Bộ trưởng Ngoại giao, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch Quân ủy hội, cùng nhiều nhân vật khác của Quốc dân Đảng tham gia vào Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó nói lên đức khoan hồng, đại độ và bản lĩnh của Người. Ngày 31-5-1946, trong thư gởi đổng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng cả thảy đều là dòng dõi tổ tiên ta.

Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ; có thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Trong công cuộc giải phóng miền Nam, Đảng và quân đội ta thực hiện tư tưởng của Người: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tuy nhiên, phải đánh như thế nào đề miền Nam ít tổn thất về sinh mạng và của cải nhân dân. Thể hiện tính nhân đạo của Người, lúc sinh thời là đánh thế nào làm tan rã về tỗ chức của quân ngụy, đánh sụp đổ về tinh thần và ý chí, đồng thời mở con đường sống cho quân ngụy còn có ngày cải tà qui chính quay về với dân tộc.

Ngày nay, đất nước đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc phát huy nâng cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là rất to lớn. Điều đó sẽ giúp cho việc đổi mới chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh; đồng thời đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân và kiều bào ở nước ngoài, cũng như mở ra chính sách ngoại giao làm bầu bạn các nước trên thế giới; nhằm huy động sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

(Thành đoàn TP HCM)
bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới.

Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47′ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, “lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó” (Nobert Wiener)

Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.

Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.

Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.

Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.

Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.

Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.

Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.

Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).

Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.

Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.

Theo Báo Lao Động
bqllang.gov.vn

Tư tưởng đại đoàn kết – ngọn đuốc soi đường dân tộc

Bác Hồ ân cần thăm hỏi bà con nông dân
Ảnh: TL

Một trong những di sản vô giá mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta đó chính là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Quần tụ trong cộng đồng làng, xã để hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, sinh hoạt, và để chống chọi với thiên tai, địch họa trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, một bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Đúc kết từ lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Sử ta dạy cho ta bài học: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do, trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Và trong suốt cả cuộc đời của Người, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện nên một hệ thống những quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, không ngừng truyền bá tư tưởng đại đoàn kết trong Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc không phải là sách lược nhất thời trong một giai đoạn nhất định, mà đoàn kết là vấn đề cơ bản, có tính chiến lược, lâu dài. Đoàn kết có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của cách mạng, tới sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước, của dân tộc. Muốn vậy, đoàn kết phảithật thà, lâu dài, rộng rãi và chặt chẽ. Đoàn kết phải thật sự thật lòng, trên cơ sở mục tiêu chung của cách mạng, kể cả những lúc khổ cực gian nan, cũng như khi đã thành công, đó chính là phương châm đoàn kết của Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu khi nước nhà mới giành được độc lập, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây cu ngày 19-4-1946, Hồ Chí Minh đã viết… “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”. Trong bài nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, dân, chính các cơ quan Trung ương Bác nói:“Đảng có 2 chính sách, công nông trí thức hóa, trí thức hóa công nông tức là anh em trí thức cùng biết trọng lao động, cũng biết lao động, hợp thành một khối với công nông, nâng cao trình độ công nông về văn hóa và lí luận. Đấy mới là thật thà đoàn kết”. Theo Hồ Chí Minh, cần phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đối tượng, các lực lượng của dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, miễn là yêu nước, đồng lòng chống lại kẻ thù chung, xây dựng và phát triển đất nước. Trả lời Báo Độc lập năm 1947, Bác đã nói: “Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài, có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh vác việc nước”. Không chỉ quan tâm tới đoàn kết các dân tộc “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, Bác còn quan tâm tới đoàn kết các tôn giáo, chủ động giải quyết những xích mích nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Trong thư gửi Giám mục Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình Lê Hữu Từ (ngày 1-2-1947) Bác viết “chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải để chia rẽ tôn giáo… Những xích mích nhỏ giữa một số đồng bào tuy là đáng tiếc vì đạo đức giáo hóa chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta”.Đối với kiều bào, Người vẫn luôn dành thời gian và tình cảm động viên tinh thần đoàn kết hướng về quê hương đất nước. Trong thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm (Thái Lan), Người viết “các đồng bào tuy mình trú ở nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn yêu mến cố hương Tổ quốc… Ngày nay, tuy nhờ sự đoàn kết của toàn dân mà nước nhà đã tranh lại quyền độc lập, nhưng chúng ta hãy còn nhiều sự khó khăn, hãy còn phải hy sinh phấn đấu mới đi đến sự nghiệp độc lập hoàn tòan. Muốn đạt mục đích đó chúng ta phải kiên quyết nữa, phải đoàn kết nữa”. Đoàn kết những con dân đất Việt mang trong mình dòng máu Lạc Hồng yêu nước, phụng sự Tổ quốc đó là một quan điểm cơ bản của di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết dân tộc phải đi liền với xây dựng, củng cố Đảng, giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Hiểu sâu sắc lý luận Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh đã sáng lập và dày công rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam để Đảng thực hiện vai trò lãnh đaọ cách mạng, là hạt nhân đoàn kết, là lực lượng tiên phong, là đạo đức, là văn minh để đoàn kết tập hợp toàn dân làm cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Hồ Chí Minh phải là việc làm thường xuyên, nghiêm túc nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tăng cường vai trò, sức chiến đấu, tăng cường sự đoàn kết trong Đảng và toàn xã hội. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc  (nay là Bắc Ninh – Bắc Giang) Người nói: “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. Đảng ta là một Đảng cách mạng theo Chủ nghĩa Mác Lênin, tất cả cán bộ và đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của giai cấp và của nhân dân lên trên hết, cao hơn hết” và cho đến trước lúc về cõi vĩnh hằng, trong bản Di chúc thiêng liêng Người vẫn dặn lại cho toàn dân tộc, điều cốt lõi “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Xây dựng, củng cố và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất từ trong Đảng để lãnh đạo tập hợp khởi đầu đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề cốt lõi trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đoàn kết phải gắn liền với dân chủ và thực hành dân chủ, xây dựng chính quyền trong sạch của dân, do dân, vì dân, chăm lo lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân. Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, chế độ ta là chế độ dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người hiểu rõ sức mạnh to lớn của nhân dân, gắn bó cả cuộc đời, sự nghiệp vì dân, với phương châm đoàn kết thật thà. Người tâm niệm đoàn kết đấu tranh để giành độc lập, tự do cho dân tộc cũng là để chăm lo lợi ích cho nhân dân, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy phải thực hành dân chủ. Mọi quyền lực của bộ máy chính trị các cấp đều do dân bầu ra, dân ủy quyền mà có, do vậy cán bộ phải là người đầy tớ, công bộc của dân. Đảng, Nhà nước đều phải lấy việc đem lại lợi ích cho dân làm mục tiêu tối cao. Thực hành dân chủ theo Hồ Chí Minh không phải chỉ dừng lại ở ý thức, lý luận mà còn phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân. Người nói:“Nếu dân đói, Đảng, Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng, Chính phủ có lỗi”. Để có đoàn kết thật sự lâu bền, theo Hồ Chí Minh phải có dân chủ thực sự trong Đảng, trong toàn xã hội.

Để dân thật sự là chủ, việc thực hành dân chủ phải gắn liền với việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo Hồ Chí Minh, chính quyền chính là công cụ để nhân dân thực hiện mục tiêu của cách mạng và phát huy quyền làm chủ. Nhưng trên thực tế ở nhiều nơi, do nhiều nguyên nhân, chính quyền còn xa dân, quan liêu, đặc quyền đặc lợi, cho mình đứng trên dân, do vậy Người đã thường xuyên căn dặn: cán bộ Đảng, đoàn thể và đặc biệt là cán bộ chính quyền phải xem bệnh quan liêu là một nguy cơ hiện thực vô cùng nguy hiểm. Người nhấn mạnh các chủ trương của Đảng muốn đi vào cuộc sống phải được cụ thể hóa bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nếu Nhà nước xây dựng và ban hành được các chính sách, pháp luật đúng đắn, hợp lòng dân thì đó sẽ là một phương thức quan trọng của chính quyền để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đúc kết, nâng cao tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thành một hệ thống lý luận, đưa hệ thống đó thành đường lối, chủ trương của Đảng lãnh đạo, chính sách pháp luật của Nhà nước mà Người còn tập hợp lực lượng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua tổ chức Mặt trận với các hình thức khác nhau phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ. Dưới sự lãnh đạo của Người, ngày 18-11-1930 Mặt trận Dân tộc thống nhất (MTDTTN) Việt Nam được thành lập. Đánh giá về vai trò của MTDTTN Việt Nam, Người đã nêu rõ “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến, thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong MTTQ Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc… Một Mặt trận của nhân dân, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là một lực lượng tất thắng”. Và chính Người đã hết lòng chăm lo, xây dựng Mặt trận DTTN Việt Nam, vun đắp cho khối đại đoàn kết dân tộc. Người khẳng định “Chính sách Mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Đối với Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng giữ vai trò lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo xây dựng MTDTTN Việt Nam đồng thời cũng là thành viên của Mặt trận, Hồ Chí Minh cũng đã có luận điểm chỉ đạo hết sức sâu sắc: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo cuả mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”.

Kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối lãnh đạo nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cho đến hôm nay, đại đoàn kết toàn dân tộc đã được khẳng định ở một tầng nhận thức mới, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển bền vững của đất nước và dân tộc.

Đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước ta cơ chế hóa bằng những chủ trương,  những định hướng chính sách phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam. Di sản tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đinh Đức Lập
daidoanket.vn

Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh toàn tập – NXB Chính trị Quốc gia – 2000
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. – NXB QĐND – 2004
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận  – NXB Chính trị Quốc gia 2009

Thấm nhuần tư tưởng của Người về GD-ĐT

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Người thể hiện rõ  trong mọi chính sách, chủ trương về GD.

Ngay khi cách mạng Tháng 8 thắng lợi, Người đã khai sinh cho nền GD mới, tiến bộ; một nền GD dân tộc, nhân dân, khoa học, dân tộc và đại chúng. Và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn “những ngày trứng nước” của chính quyền mới, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Người còn đặt ra nhiệm vụ diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời bấy giờ với vận mệnh của dân tộc. Ngay tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người đề nghị “mở chiến dịch để chống nạn mù chữ”, và ngày 4/10/1945, Người ra “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”. Bởi Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Phát động phong trào chống nạn mù chữ, Người mong muốn mỗi người dân đều “Biết học, biết viết chữ quốc ngữ” để “Nâng cao dân trí”, “Giữ vững nền độc lập” và “Làm cho dân mạnh nước giàu”. Nhờ vậy, từ chỗ 95% dân số mù chữ trước Cách mạng Tháng 8, dân tộc ta đã vươn lên trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ của dân tộc. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường (tháng 9/1945): Người dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đặc biệt trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người đã một lần nữa khẳng định: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Đồng thời, Người căn dặn: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những căn dặn đó của Người cũng là những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà trường XHCN chúng ta trong quá trình GD-ĐT, dù ở thời kỳ nào, dưới hình thức nào. Thấm nhuần tư tưởng của Người và thực hiện những căn dặn mà Người để lại trong Di chúc, trong suốt 40 năm qua, ngành GD&ĐT nước nhà đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, nâng cao chất lượng GD – ĐT, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ XHCN, bước đầu đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới “sánh vai các cường quốc năm châu” như mong đợi của Người.

Có thể nói những căn dặn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân trong Di chúc là kết tinh của toàn bộ tư tưởng của Người. Đối với tư tưởng về GD, sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến GD toàn diện với sự cân bằng cả về GD đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách của con người mới – con người XHCN. Người từng dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền GD toàn diện ngày nay chúng ta hướng tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền GD trong khu vực và trên thế giới. Tư tưởng GD toàn diện của Người đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế kỷ 21, trước mắt là đến năm 2010, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng cốt thực hiện là ngành GD&ĐT.

Trong tư tưởng về phương pháp GD, Người đặc biệt chú ý đến vấn đề tự học và học tập suốt đời. Người quan niệm: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Điều này tương đồng với quan điểm của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tư tưởng tự học của Người có thể quy thành 5 vấn đề:

1 – Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

2 – Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.

3 – Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.

4- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.

5- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó.

Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy – học của nước ta mà trong suốt bao năm qua ngành GD&ĐT đã triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Ngày nay, xã hội chúng ta là một xã hội học tập, học tập không ngừng. Đảng và Nhà nước đã xác định GD là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho GD là đầu tư cho tương lai của nước nhà; chỉ có đẩy mạnh GD&ĐT mới có thể đưa đất nước sớm “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi. Riêng đối với ngành GD, không những ngày càng đẩy mạnh đổi mới GD, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm mà việc học đi đôi với hành đã thực sự được chú trọng, qua đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng GD-ĐT nước nhà thời gian qua.

Bên cạnh đề cao việc “tự học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác GD phải nhận thức đúng đắn “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng lớn này tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp GD, không chỉ bằng mặt vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng mặt con người mới cho thế hệ trẻ – những người kế thừa xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Còn nhớ sinh thời mặc dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn quan tâm theo dõi chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, “người tốt, việc tốt”. Tư tưởng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” của Người đã được Đảng, nhân dân ta và ngành GD&ĐT vận dụng một cách sáng tạo thành phong trào xã hội hoá GD đang phát triển sôi nổi và rộng khắp trên phạm vi cả nước hiện nay trên cơ sở xây dựng mối quan hệ giữa ba lực lượng GD: Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Trên cả nước, mạng lưới cơ sở GD không ngừng được mở rộng; các loại hình GD ra đời đáp ứng như cầu xã hội; các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở GD thường xuyên ngày càng được mở rộng với sự tham gia của toàn xã hội. Công tác xã hội hoá chưa bao giờ được coi trọng và đẩy mạnh như ngày nay. Để làm được điều đó, chính là nhờ chúng ta đã nhận thức đúng đắn được quan điểm của Người: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc thực sự là kết tinh toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta không ngừng học tập, noi theo; trong đó có những quan điểm, những lời căn dặn quý báu của Người về sự nghiệp GD-ĐT nước nhà mà ngành GD-ĐT ngày nay đã và đang thực hiện theo để sớm đưa nền GD nước ta đạt tới sự tiên tiến, toàn diện, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Người đã dặn.

Mai Thành Chung
gdtd.vn

Tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài học cho thế hệ trẻ

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nhiều bài học quý giá cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Có những bài học được Người dạy trực tiếp hoặc lập ngôn, trước tác để lại, tuy nhiên cũng có những bài học mà thế hệ sau rút ra được từ tư tưởng, hành động của Người. Chẳng hạn từ tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể rút ra bài học về định hướng tương lai và hành động cho thế hệ trẻ.

Dưới chân tượng đài Bác Hồ (ảnh do đoàn cung cấp)Đoàn tình nguyện Hành trình xanh chụp ảnh lưu niệm nơi tượng đài Bác Hồ trong chương trình “Hành trình xuyên Việt 2011- từ Làng Sen đến Bến Nhà Rồng” (ảnh do đoàn cung cấp)

Có thể thấy, tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ thuở nhỏ, khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, được giáo huấn lòng yêu nước, gần dân của gia đình; được thừa hưởng nền văn hóa truyền thống đấu tranh bất khuất của xứ Nghệ, lại tiếp thu truyền thống chống ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc để rồi hình thành ở Người lòng yêu nước thương nòi.

Đặc biệt khi được hầu chuyện cha với các sĩ phu yêu nước đồng thời là thầy học của mình như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân, Phan Bội Châu… Người dần hiểu được thời cuộc và nỗi ưu tư của các bậc thầy, cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Những câu chuyện đàm đạo đó đã truyền lửa tới tâm hồn Người. Và, vốn có tư chất thông minh, tư duy độc lập, Người đã ôm ấp chí lớn cứu nước, cứu dân. Với nghị lực phi thường, không chịu đi theo lối cũ của các bậc tiền bối, Người đã quyết chí đi sang phương Tây để thấy tận mắt đất nước của những kẻ đã tới thôn tính dân tộc mình, mong tìm con đường giải phóng dân tộc.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vì Tổ quốc, vì dân tộc là mối quan tâm hàng đầu, trở thành tư tưởng trung tâm, cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người. Và tất cả những suy nghĩ, những lời nói, mọi hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhằm để thực hiện lý tưởng, hoài bão đó.

Năm 1911, với tên Văn Ba, Người ra đi tìm đường cứu nước. Tất cả những việc làm như phụ bếp, bồi bàn đến dọn tuyết, …, Người đều không từ nan để thực hiện lý tưởng. Trong suốt thời gian đó, hễ có cơ hội là Người thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình. Như tại Đại hội Tours cuối năm 1920 của Đảng Xã hội Pháp, đến lúc biểu quyết, gia nhập Đệ Tam hoặc ở lại Đệ Nhị Quốc tế thì với tên Nguyễn Ái Quốc, Người bỏ phiếu cho Đệ Tam Quốc tế. Bởi vì Người hiểu rõ một điều Quốc tế thứ 3 rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế thứ 3 nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Người nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu.” .

Tìm con đường giải phóng dân tộc cứ canh cánh trong lòng Nguyễn Ái Quốc, như một lực hấp dẫn, chiêu cảm mạnh mẽ, để rồi dẫn đường Người tới với Sơ thảo luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa là “cái cần cho chúng ta, là con đường giải phóng chúng ta”.

Trở về nước năm 1941, Người chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trong thư Kính cáo đồng bào, Người khẳng định và chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thẩy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” . Thế rồi cách mạng tháng Tám thành công, chính Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” .

Rõ ràng, Tổ quốc và nhân dân là mối quan tâm thường hằng tạo nên những trăn trở thường xuyên trong tâm khảm Người. Trả lời các nhà báo, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” .

Cuối tháng 5 năm 1946, nhận lời mời đi thăm hữu nghị nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Người đi vắng (4 tháng). Trước khi đi Người đã nói chuyện với đồng bào: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân […]. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” . Và Người nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng rằng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến””. Đó chính là một triết lý, là mối quan hệ giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản thể và hiện tượng,… là vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi). Ý nghĩa triết lý trên là ở chỗ dù mọi sự vật hiện tượng có muôn hình vạn trạng, có thiên sai vạn biệt, phong phú, đa dạng, biến hóa khôn lường nhưng đều xoay quanh trục của nó. Ở đây cái bất biến của dân tộc Việt Nam trong lúc “ngàn cân treo sợi tóc” là Tổ quốc độc lập, dân tộc tự do. Chính với phương châm triết lý đó, ở nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nghiêm khắc trừng trị bọn Quốc dân Đảng gây rối, cũng như các thế lực chống phá Nhà nước Việt Nam non trẻ, giữ vững được nền độc lập dân tộc.

Nhưng chỉ sau một năm tuyên bố độc lập cho Tổ quốc trước toàn thể quốc dân đồng bào và quốc tế, thì thực dân Pháp định cướp nước ta một lần nữa. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đanh thép tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” . Và, chính bằng quyết tâm thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân và toàn dân ta đã đánh thắng giặc Pháp xâm lược, làm nên một Điện Biên chấn động địa cầu.

Để giành và bảo vệ độc lập Tổ quốc, tự do dân tộc, nhân dân ta hết kháng Pháp lại kháng Mĩ. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, ngày 17/7/1966, lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện câu nói bất hủ, cũng là nguyên lý, nguyên tắc đầu tiên và trên hết trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” . Đó là đỉnh cao của lý luận, được đúc rút từ thực tế đất nước Việt Nam, trong suốt cuộc đời hoạt động của Người và đã trở thành chân lý vĩnh hằng…

Như vậy, bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại thật nhiều. Có những bài học đã trở thành giá trị văn hóa có ảnh hưởng không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Từ tư tưởng chủ đạo và hành động suốt cuộc đời của Người, có thể rút ra nhiều bài học, nhưng nổi bật hai bài học quan trọng cụ thể là:

Thứ nhất bài học mang tính thực tiễn không chỉ dành cho lớp trẻ mà cho mỗi người dân đất Việt đó là: luôn có một tình yêu đối với Tổ quốc, với dân tộc, với đồng bào, với gia đình. Tình yêu đó phải thường trực mới có thể trở thành con người không bị thất cước, không mất đi cái bản thể, cái gốc của mình.

Thứ hai là bài học mang tính lý luận. Chúng ta thấy Người đã thực hiện theo đúng quy luật của tự nhiên, của triết học về mối quan hệ của bản thể và hiện tượng, giữa cái bất biến và cái vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi. Bởi hoài bão, định hướng cứu nước, cứu dân trở thành bản thể cho tất cả những biểu hiện hành động của Người. Điều này cho mỗi người trẻ một bài học rằng cần có một lý tưởng, một mục đích tốt làm gốc cho sự phát triển cuộc đời.

Đành rằng mỗi người sẽ có một ý chí, một hướng đi khác nhau trong đời, nhưng điều quan trọng hàng đầu là sớm xác định cho mình một hướng đi đúng, một lý tưởng đẹp, một mục đích cao cả để từ đó làm cái đích hướng tới cho những hành động cụ thể trong cuộc đời của mình. Bởi chỉ có thể định hướng rõ kết hợp với tư duy thường trực và thường xuyên hành động thì mới sớm đạt được đích, gặt hái thành công.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

——————————

Tài liệu tham khảo:

Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Trẻ, 2005 (Bản PDF 11/2/2007), tr. 44.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 198.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 12.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 379.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 568.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 1018.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12 (Xuất bản lần thứ 2), Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 110.

Công – nông – trí thức làm nên thắng lợi cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng khối liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới. Quá trình CNH-HĐH đất nước, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trước yêu cầu mới của tình hình và được Quốc tế Cộng sản chấp nhận, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cơ sở đánh giá tình hình giai cấp và xã hội Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh thế giới, với quan điểm lý luận gắn với thực tiễn cách mạng, Người nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Người kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể”(1).

Tiếp thu tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(2).

Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chủ trương sáng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), nhằm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, chống đế quốc, giành độc lập dân tộc, không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn giáo…

Nhằm phát huy sức mạnh của ba dân tộc Việt – Miên – Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương ở Lào và ở Campuchia thành lập mặt trận thống nhất riêng của hai dân tộc (Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh); sau khi cách mạng thắng lợi, mỗi quốc gia sẽ thành lập một chính phủ riêng và độc lập. Đối với nước ta, Hội nghị chủ trương thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm quốc kỳ.

Để đoàn kết toàn dân một cách rộng rãi, thực hiện chủ trương cứu nước do Hội nghị Trung ương lần thứ VIII nêu ra, trong bản Chương trình hành động, Việt Minh đã đề ra những chính sách cụ thể nhằm đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 6/6/1941, những chính sách cụ thể, hợp lòng dân của Việt Minh đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Nhưng nhân dân Việt Nam giành được độc lập chưa bao lâu thì thù trong giặc ngoài câu kết với nhau, đất nước lâm vào cảnh “Ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai.

Xây dựng khối liên minh công – nông – trí là lực lượng cơ bản tiến hành cách mạng Việt Nam. Đường lối kháng chiến đúng đắn của Hồ Chí Minh và của Đảng đã dẫn dắt nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Hòa bình được lập lại, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã sớm xác định rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là đế quốc Mỹ, vạch ra đường lối cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân; miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng, từng bước tiến dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa, nửa phong kiến, được một Đảng Cộng sản lãnh đạo đã cùng một lúc tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược và quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phát triển và thấm sâu vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh công – nông – trí thức là một tất yếu lịch sử khách quan, được chế định bởi các cơ sở xã hội hiện thực và được hiện thực hóa qua đường lối tập hợp lực lượng của Đảng Cộng sản. Điều này cũng xác định rõ ràng liên minh công – nông – trí thức là nhu cầu tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân và trí thức.

Trong khối liên minh, Hồ Chí Minh đã xác định giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo. Thông qua chính đảng của mình để đề ra đường lối cách mạng, những chủ trương lớn nhằm thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng để thực hiện đường lối đó cần phải có lực lượng.

Bằng hành động và chính sách thực tiễn, giai cấp công nhân thu hút mọi tầng lớp lao động, trước hết là nông dân và trí thức về phía mình, cùng với họ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là điều kiện để giai cấp công nhân củng cố vai trò chính trị tiên phong của mình.

Về phía nông dân, do địa vị kinh tế – xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân. Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột. (Ngày nay, sự tiến bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức. Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật. Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hóa được tích tụ trong quá trình lao động, xây dựng ở nông thôn).

Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng nổi bật là lao động trí óc sáng tạo. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nhân, nông dân rất cần trí thức. Công nhân và nông dân tạo nên những cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt và làm việc cần thiết, đặt ra các nhu cầu làm động lực cho sự tìm tòi sáng tạo, hoạt động nghiên cứu của trí thức. Ngược lại, các lĩnh vực hoạt động của công nhân, nông dân sẽ là môi trường để trí thức đem khoa học kỹ thuật vào phục vụ cuộc sống. (Ngày nay Khối liên minh công – nông – trí thức ở nước ta đã và đang tiếp tục làm thay đổi các quan hệ xã hội theo xu hướng đoàn kết, hòa hợp và trở thành một động lực của tiến bộ xã hội).

Hồ Chí Minh quan niệm liên minh công – nông – trí thức là sự cố kết của công nhân, nông dân, trí thức trong một chỉnh thể. Mỗi yếu tố có một vị trí, vai trò đặc thù không thể thay thế và đổi chỗ cho nhau. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, phải làm thế nào xứng đáng là lãnh đạo để người ta tin cậy. Sức mạnh và chất lượng của khối liên minh phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố. Và chất lượng của khối liên minh sẽ nhân lên sức mạnh cho cả công nhân, nông dân, trí thức. Vì thế, củng cố và tăng cường khối liên minh công – nông – trí thức gắn liền chặt chẽ với quá trình xây dựng và phát triển giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Đối với quan hệ giữa giai cấp lãnh đạo và lực lượng cách mạng đông đảo nhất trong dân cư, Hồ Chí Minh xác định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi. Cho nên công nhân phải chăm chú đến vấn đề nông dân, phải củng cố công nông liên minh”(3). Người cũng chỉ rõ: “Nông dân, công nhân, lao động trí óc đều phải dựa vào nhau. Nông dân không có sự giúp đỡ của công nhân thì không được. Công nhân không có nông dân cũng không được. Lao động trí óc không có công nhân, nông dân cũng không được”(4).

Liên minh công – nông – trí thức là hạt nhân, cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp, thu hút mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vào một mặt trận chung thống nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Không ngừng củng cố, nâng cao chất lượng liên minh công – nông – trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.

Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định: Liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức luôn luôn là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng, kể cả trong cách mạng dân tộc, dân chủ cũng như cách mạng XHCN. Đó là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất, nguồn sức mạnh và động lực to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nếu như trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nội dung liên minh công – nông – trí thức chủ yếu về chính trị nhằm tập hợp lực lượng đấu tranh giành chính quyền, giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, thì trong cách mạng xã hội chủ nghĩa với công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm, bên cạnh tính tất yếu của sự liên minh về chính trị, thì sự liên minh về kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Tăng cường củng cố và xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của giai cấp, tầng lớp xã hội. Trong đó, giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn có vai trò và vị trí rất quan trọng. Giai cấp công nhân có nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ giai cấp nông dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Phát huy vai trò làm chủ của giai cấp công nhân trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm chủ trong các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đồng thời, phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và trí thức, cũng như khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh cả nước thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước . /.

Theo Phạm Thắng / Tạp chí Tuyên giáo
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

________________

1- Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. CTQG, H. 2006.
2- Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG, H. 2004.
3 – Nguyễn Khoa Điềm: 20 năm đổi mới thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và phát triển văn hóa, Nxb. CTQG. H.2005
4 – Hồng Hà: Sức mạnh Nhân dân, Nxb. CTQG, H. 2000

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên

Mục đích học tập

Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên. Người đã chỉ rõ mục đích của việc học tập và những biện pháp cơ bản để đạt mục đích đó: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Từ nhận thức đúng đắn mục đích của việc học tập mà cán bộ, đảng viên phấn đấu không ngừng trong học tập rèn luyện để hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho.

Nội dung học tập

Hồ Chí Minh cho rằng học tập của cán bộ, đảng viên phải xuất phát từ yêu cầu thực tế thiết thực, không phô trương, hình thức. Phải học cặn kẽ, thấu đáo, cụ thể và sâu sắc đến tận bản chất vấn đề. Theo Bác, mỗi người phải biết một nghề, làm việc gì học việc ấy và làm nghề gì phải thạo nghề ấy. Nếu là cán bộ lãnh đạo, thì lãnh đạo ngành nào phải biết chuyên môn về ngành ấy. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, văn hoá, kỹ thuật, lao động sản xuất… Những nội dung đó là hết sức cơ bản và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong đó, Người nhấn mạnh học tập chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm trang bị cho mỗi người thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học để nhận thức và hành động đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo và hiệu quả.

Theo Hồ Chí Minh, nội dung học tập phải toàn diện, “ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân”(2). Người cán bộ cách mạng phải được đào tạo rèn luyện về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện nhân cách trong tình hình mới. Người xác định nội dung học tập gắn với thực hiện nhiệm vụ mà mỗi cán bộ, đảng viên đảm nhiệm. Đối với cán bộ quân đội, Người đặt ra yêu cầu phải tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc, nhân dân… Theo Bác, quân đội ta trước hết phải là đội quân tuyên truyền vận động nhân dân làm cách mạng, do vậy, mỗi quân nhân phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, vận động nhân dân để nhân dân tin theo Đảng, thực hiện sự nghiệp cách mạng vẻ vang.

Học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt

Theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên có vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, do đó phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt, có tư duy độc lập và sáng tạo, cải tiến phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng công tác. Theo Người, vấn đề học tập là “suốt đời” chứ không phải chỉ là lớp học, khoá học hoặc mang tính “thời vụ”, rồi sau đó lại “đâu vào đấy”. Người chống thói qua loa đại khái, lười học, lười suy nghĩ dẫn đến tình trạng khi giải quyết công việc thì “được chăng hay chớ”, “gặp đâu làm đấy”, chất lượng công việc thấp, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thày thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”(3). Do đó, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “ham học tập để nâng cao trình độ của mình”(4)vàcoi đây là một tiêu chuẩn, một giá trị đạo đức của người cán bộ, đảng viên.Từ đó,Người vạch rõ phương hướng, nhiệm vụ đối với cán bộ, đảng viên là không được nhãng việc học tập, phải tu dưỡng không ngừng, đối với người cán bộ “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(5). Người đặt lên hàng đầu “lấy tự học làm cốt”(6), cán bộ, đảng viên phải biết “tự động học tập”, phải xác định tư tưởng cho đúng. Học tập phải trở thành nhu cầu, thói quen, hành vi hàng ngày của cán bộ, đảng viên. Cán bộ nào lười học, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận, cập nhật thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là một biểu hiện suy thoái về đạo đức.

Học tập mọi lúc, mọi nơi

Cán bộ, đảng viên phải tận dụng thời gian, dành công sức, tranh thủ học tập, học ở trường, lớp, sách vở và học ở nhân dân. Bác nhấn mạnh: nhân dân ta rất cần cù và sáng tạo, những giá trị văn hoá, tinh thần do nhân dân sáng tạo là nguồn tri thức, là những kinh nghiệm rất phong phú, là “những bài học quý”, do đó, cán bộ, đảng viên phải chịu khó học hỏi ở nhân dân “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(7).Và chính thông qua học tập,tiếp xúc với nhân dân mà cán bộ, đảng viên có điều kiện gần gũi, nắm được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, từ đó tổng kết được tình hình, nguyện vọng của dân. Từ đó, tham mưu, đề xuất tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, tạo niềm tin, đồng thuận của dân và toàn xã hội tiến hành sự nghiệp cách mạng. Người kiên quyết chống thói quan liêu, xa dân, không chịu học hỏi nhân dân, coi khinh dân và coi đây là những quan niệm, hành vi đối lập với phẩm chất của người cán bộ cách mạng cần phải được lên án, xử lý.

Gắn học tập và làm việc

Tư tưởng của Người về học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên là phải thiết thực, bổ ích, hiệu quả, sát với với công việc của mỗi người; nếu không đạt được như vậy là “phí công, phí của, vô ích”. Bác nhấn mạnh “học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận(8). Tri thức, lý luận của cán bộ, đảng viên tích lũy được trong học tập phải nhằm giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn ngày càng đạt hiệu quả và chính thông qua hoạt động thực tiễn để sáng tạo, khái quát, tổng kết kinh nghiệm, phát hiện, bổ sung hoàn thiện đường lối cách mạng của Đảng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong học tập người học phải sáng tạo, biết kế thừa tinh hoa tri thức của dân tộc và nhân loại. Phương pháp học tập là kết hợp chặt chẽ giữa học với hành, lý luận gắn liền với thực tế, tích luỹ tri thức với rèn luyện đạo đức cách mạng. Đối với nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập “phương pháp biện chứng” chứ không rập khuôn, máy móc. Người còn cho rằng trong học tập của cán bộ, đảng viên là khó khăn, lâu dài nhưng nếu có quyết tâm cao, phương pháp học tập tốt thì mọi việc đều có thể làm được “Không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng… siêng học tập thì mau biết”(9).

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định “học tập là công việc suốt đời của cán bộ, đảng viên”. Mọi cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch thường xuyên để học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành nền nếp, chế độ. Thực tiễn cho thấy còn không ít cán bộ, đảng viên còn “học vì bằng cấp”, “cốt để tiêu chuẩn hoá chức danh”… Những biểu hiện đó là trái với tư tưởng của Bác về mục đích học tập cần được phê bình, sửa chữa, để mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự là tấm gương về học tập cho quần chúng noi theo, góp phần đưa cả nước trở thành một “xã hội học tập”, phấn đấu vì Việt Nam giàu đẹp, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 684.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG, H.2000, tr. 505.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 231.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 251.
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 252.
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 273.
7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H.2000, tr. 50.
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, H.2000, tr. 497.
9 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 632.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Rèn luyện phương pháp, tác phong công tác theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên không chỉ là tổng hợp những lề lối, cách thức, biện pháp xử lý công việc, ứng xử xã hội và sử dụng để thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình mà còn là sự thể hiện quan điểm, lập trường chính trị, tư cách đạo đức, lối sống, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ trong thực tiễn. Phương pháp, tác phong công tác giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ, đảng viên tuy có tri thức, năng lực, nhiệt tình nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao. Thậm chí, do phương pháp, tác phong công tác thiếu khoa học, thiếu dân chủ, xa rời thực tế, quan liêu… mà cán bộ có thể gây ra tổn thất cho Đảng và Nhà nước. Vì vậy, bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên vừa là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bồi dưỡng phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được thể hiện qua rất nhiều bài nói, bài viết nhưng đều tập trung thể hiện trên những nội dung cụ thể sau:

Một là, nêu cao tính đảng, tính nguyên tắc

Theo Hồ Chí Minh, phẩm chất hàng đầu của người cán bộ, đảng viên đó là lòng trung thành với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng của Đảng, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Làm bất cứ công việc gì, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên cũng phải luôn xuất phát từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng. “Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết”(1); “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và và phải làm đến nơi đến chốn”(2); “lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3). Kiên quyết bảo vệ, ủng hộ cái mới, cái đúng, đấu tranh phê phán cái sai, cái lạc hậu, tiêu cực trong đơn vị. Phương pháp, tác phong công tác này hoàn toàn đối lập với lối làm việc chỉ nhằm phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, quan liêu, xa rời thực tiễn.

Hai là, thực hiện tự phê bình và phê bình:

Đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đề cao vấn đề phê bình, tự phê bình. Theo Người, phê bình chính là cách “để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, là để “sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, đạt tới sự “đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

Tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh trong phê bình là “phê bình việc chứ không phải phê bình người”. Đồng thời, phê bình bao giờ cũng gắn với tự phê bình, Người đã chỉ rõ “Để chữa những bệnh tật kia, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Người đòi hỏi “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”, tức là đưa việc tự phê bình, tự kiểm điểm thành nhu cầu cần thiết thường xuyên, như hành vi tự chăm sóc bản thân của mỗi người.

Ba là, gần gũi, tin tưởng quần chúng:

Hồ Chí Minh từng đặt yêu cầu rất cao về tác phong quần chúng, từ việc phải học hỏi quần chúng, lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng… Người căn dặn: “Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được xa rời dân chúng”(4). Nếu không cụ thể, sâu sát quần chúng thì đảng viên không thể thấy được, hiểu được nguyện vọng, tâm tư, tình cảm của quần chúng, không thể thuyết phục, thu phục được quần chúng. Do đó, đối với người lãnh đạo phải biết học hỏi quần chúng, biết tập trung tài năng, trí tuệ của quần chúng thành sức mạnh chung, tìm ra được lực lượng, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ; phải biết khơi dậy, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của quần chúng trong mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, sâu sát, nắm tình hình thực tiễn:

Hồ Chí Minh chỉ rõ, người cán bộ, đảng viên phải luôn đi sâu, đi sát thực tiễn, nắm tình hình một cách toàn diện; phải nắm người, nắm việc, nắm các vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân, liên quan đến nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương… một cách cụ thể, chính xác.

Theo Người, chỉ có tăng cường quan điểm thực tiễn, khéo đi sâu điều tra nghiên cứu, phân tích và giải quyết đúng mâu thuẫn trong đời sống thực tiễn thì sự lãnh đạo, công tác mới có nội dung, đạt chất lượng, hiệu quả cao. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, “trong lúc học lý luận phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế”(5), có như vậy, lý luận mới có sức mạnh, mới thiết thực.

Năm là, thực hành dân chủ thực sự và rộng rãi:

Với việc đưa ra phương pháp, tác phong công tác dân chủ, Hồ Chí Minh đã thực hiện một sự phủ định tác phong quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Dân chủ là thước đo phong cách làm việc của cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, có dân chủ thì mới “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến” (6). Hồ Chí Minh đã chỉ ra tình trạng mất dân chủ nghiêm trọng trong các cơ quan nhà nước. Người viết, có những cán bộ cấp dưới, những nhân viên, “dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”(7). Nguyên nhân của tình trạng mất dân chủ đó là do “cách lãnh đạo của ta không được dân chủ” (8). Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp phải thường xuyên “trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới” (9) và “không nên tự tôn, tự đại”, “phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới” (10), tức là phải thực hành dân chủ với tính cách là một chế độ làm việc, một phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ, đảng viên.

Sáu là, nói đi đôi với làm:

Vận động, giáo dục, thuyết phục là phương pháp cơ bản, chủ yếu trong công tác vận động quần chúng của Đảng, của người cán bộ. Để thực hiện tốt việc vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng, người cán bộ phải biết dùng chân lý, lẽ phải, bằng hành động gương mẫu của mình để giáo dục, thuyết phục quần chúng. Hồ Chí Minh từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”(11). Để thực hiện “nói đi đôi với làm”, cán bộ, đảng viên phải có tính quyết đoán trong công tác, cẩn trọng trong xử lý các tình huống, sáng suốt, công tâm, biết kết hợp ý kiến chỉ đạo của cấp trên với ý kiến tham mưu đề xuất của các bộ phận cùng cấp và cấp dưới, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân. Phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên phải mẫu mực, chính kiến rõ ràng, cụ thể, thái độ chân thành cởi mở, hành động gương mẫu, cương quyết, dứt khoát; kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan nóng vội, định kiến cá nhân, thể hiện mình là bề trên, là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp, tác phong công tác khoa học có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng vị trí, vai trò, nội dung của phương pháp, tác phong công tác khoa học theo Tư tưởng Hồ Chí Minh; có thái độ trách nhiệm trong củng cố, nâng cao phương pháp, tác phong công tác và chất lượng, hiệu quả trên các mặt công tác đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị.

Hai là, trên cơ sở phương pháp, tác phong làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với thực tiễn công tác, các cấp uỷ đảng thường xuyên có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách sâu sát, khoa học, luôn bám sát các hoạt động nghiệp vụ, chuyên môn của họ. Đồng thời, lấy đó làm cơ sở trong xem xét, đánh giá năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ba là, đa dạng hoá các hình thức, biện pháp bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong quá trình bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những hình thức, biện pháp cơ bản như: Thông qua hoạt động thực tiễn, các lớp tập huấn, hội thao, hội thi công tác nghiệp vụ, hoạt động của các tổ chức; cấp trên bồi dưỡng cấp dưới; học tập đồng chí, đồng đội; thông qua công tác nhận xét, đánh giá cán bộ; bản thân nghiêm túc, tự giác tu dưỡng, rèn luyện; phải tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi… Đây là những hình thức, biện pháp quan trọng thiết thực trực tiếp góp phần nâng cao phương pháp, tác phong công tác khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

TS. Trần Thu Truyền
Chính ủy Đoàn PB S75

——————————

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H. 2002, tr.26, 267.
(4,5,6,7,8,9,10,11) Sđd, tập 5, tr.238, 272, 280, 243, 244, 281, 699.
xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người cán bộ, đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, đào tạo họ trở thành những cán bộ có nhân cách phát triển toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Những phẩm chất nhân cách đó của người cán bộ, đảng viên được Người khái quát ngắn gọn trong hai chữ “đức” và “tài”. Đây là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, đồng thời là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ của Đảng.

1. Người cán bộ, đảng viên mà Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng là người có tài, đức, hồng thắm, chuyên sâu. Người chỉ rõ: “Có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nhà nước. Có đức không có tài, như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”(1). Đức của người cán bộ, đảng viên là đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức cách mạng là “nền tảng”, là “cái gốc” của người cán bộ. Đức của người cán bộ cách mạng thể hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, là lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; là trình độ giác ngộ mục tiêu, lý tưởng XHCN, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó. Đức được thể hiện ở sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục tùng lợi ích tập thể, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với quần chúng, gương mẫu gắn bó với nhân dân, khiêm tốn học hỏi, thực sự cầu thị. Có tinh thần đoàn kết, thương yêu, tương thân, tương ái lẫn nhau. Đức là cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người nói: “cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Đạo đức cách mạng tạo nên uy tín của cán bộ, đảng viên. Đó là cơ sở để giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng nhân dân, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Tài của người cán bộ là trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất. Tài được thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, khả năng nhận thức đúng các quy luật, sáng tạo trong giải quyết công việc; luôn làm chủ được tri thức khoa học và có khả năng hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình. Bác nói: “Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức, chuyên môn là tài”(3). “Tài” còn là khả năng hoạt động thực tiễn, kỹ năng và hiệu quả thực hành các công việc được giao. Người cán bộ cách mạng phải có năng lực trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, có trình độ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Dù hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực nào thì người có “Tài” phải là người có sự hiểu biết thấu đáo và thực hành thành thạo các công việc mà mình đảm nhiệm. Người chỉ rõ: “Ngày nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”(4). “Tài” của người cán bộ phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài và bố trí phù hợp với yêu cầu sử dụng của từng nhiệm vụ. Người căn dặn: “không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người”(5).

2. Đức và tài của người cán bộ, đảng viên trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải luôn kết hợp chặt chẽ với nhau. Tài và đức của người cán bộ, đảng viên là hai mặt không tách rời mà hoà quyện với nhau, là cơ sở, điều kiện, tiền đề của nhau, thúc đẩy lẫn nhau để hoàn thiện hình thành nhân cách người cán bộ cách mạng. Tài năng của người cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng để họ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đạt chất lượng và hiệu quả cao trong công việc. Người cán bộ có tài sẽ đem lại kết quả hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo cho họ trên cơ sở hành động theo quy luật khách quan. Nhưng tài năng đó phải được hiện diện trong hệ thống phẩm chất, năng lực và trong tính hiệu quả hoạt động thực tiễn của người cán bộ, đảng viên. Người cán bộ cách mạng phải là người có năng lực trí tuệ cao, tức là có trình độ hiểu biết toàn diện, sâu sắc với một hệ thống tri thức tổng hợp bao quát được nhiều lĩnh vực, có phương pháp tư duy khoa học để nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, có năng lực thực tiễn tốt để đạt hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là tiêu chí hàng đầu, là “gốc” của người cán bộ, nâng cao đạo đức cũng có nghĩa là củng cố vững chắc hơn cơ sở định hướng cho sự phát triển tài năng của người cán bộ, vì lợi ích chung của Đảng, của giai cấp và của dân tộc. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên được nâng cao càng tăng thêm động lực tinh thần thôi thúc người cán bộ vượt lên mọi khó khăn thử thách để nâng cao trình độ trí tuệ của mình. Đạo đức là sự thể hiện quan hệ ứng xử và hành vi của con người, đem lại lợi ích cho người khác và cho xã hội. Đạo đức của người cán bộ cách mạng còn là nền tảng và là cơ sở để người cán bộ, đảng viên phát huy tài năng, trí tuệ và các phẩm chất khác, hướng năng lực của họ vào hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng. Vì vậy, theo Người, cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Đạo đức luôn luôn là động lực của tình cảm và hành vi của người cán bộ, tài là cơ sở để làm cho đức của người cán bộ cách mạng càng cao, càng lớn hơn.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đức – Tài của người cán bộ là di huấn vô giá Người để lại cho Đảng và nhân dân ta về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Không bổ nhiệm cán bộ không đủ đức, đủ tài, cơ hội chủ nghĩa”(6). Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là kiên trì Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, có niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; không tham nhũng và cương quyết đấu tranh chống tham nhũng; có lối sống trong sạch, lành mạnh, gần gũi với nhân dân, gương mẫu và gắn bó với quần chúng. Đặc biệt, người cán bộ cách mạng phải biết trăn trở trước cuộc sống nghèo khổ của quần chúng nhân dân và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế của đất nước so với thế giới; phải suy nghĩ và hành động, đem hết tài năng, tâm sức cống hiến cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay phải là nói đi đôi với làm, nói ít, làm nhiều; phải biết thể hiện bằng hành động, bằng những việc làm cụ thể, bằng nê gương để thuyết phục, quy tụ mọi người.

Tài là năng lực chuyên môn, khả năng công tác để bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; tài là tầm tư tưởng, trí tuệ của người cán bộ, đảng viên trong tiến hành công việc một cách độc lập, sáng tạo, mang lại hiệu quả tối ưu. Tài phải được thể hiện ở trình độ, năng lực tư duy phát triển; có tư duy biện chứng, lôgíc, có tầm hiểu biết sâu rộng và phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, đủ sức cắt nghĩa và tìm được những câu trả lời thuyết phục trước những biến động phức tạp và mau lẹ của thực tiễn. Phải có năng lực trí tuệ phát triển cao, có trình độ ngoại ngữ và tin học để làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; có năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực cạnh tranh khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp nhận và quản lý được công nghệ kỹ thuật mới.

Đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời. Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà xem nhẹ đức. Đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay không chỉ như đạo đức công dân mà còn bao hàm cả đạo đức của người lãnh đạo, chỉ huy. Trung thành nhưng phải có bản lĩnh, có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, không thụ động, bảo thủ trì trệ, né tránh khó khăn, gian khổ. Trung thành nhưng không phải là “gọi dạ, bảo vâng”, cơ hội, không có chủ kiến, không dám đấu tranh, tuỳ thời vì mục đích quyền lực và tiền tài. Tài của người cán bộ hiện nay cần phải được nhìn nhận, đánh giá theo từng loại công việc và vì thế phải tìm chọn cán bộ có tài phù hợp với yêu cầu sử dụng. Nghĩa là khi chọn người tài phải dựa vào thế mạnh và sở trường của họ, vào tài năng thực tế của người cán bộ, đảng viên, không hoàn toàn dựa vào bằng cấp để bố trí công việc, xác định cương vị; có vậy mới giúp cán bộ, đảng viên phát huy được ưu thế, sở trường, dốc tâm lực vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân.

Hiện nay, vấn đề đào tạo, sử dụng, đánh giá cán bộ phải được gắn với đức – tài được hiểu một cách khoa học, đầy đủ. Đức và tài của người cán bộ hiện nay cần phải cụ thể hoá bằng tiêu chuẩn chức danh đối với mỗi chức vụ, cương vị công tác, nhất là các tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đức và tài của người cán bộ đạt đến trình độ nào thì phải lựa chọn bố trí họ ở cấp và vị trí tương xứng. Nhưng vấn đề có tính nguyên tắc cần khẳng định là, đã là người cán bộ cách mạng thì phải có đủ đức, đủ tài tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, không thể châm chước bất cứ một tiêu chuẩn nào. Nếu quan điểm đức-tài không rõ ràng, lẫn lộn, chỉ nhìn hình thức bề ngoài mà không thấy bản chất bên trong của con người thì kết quả là sẽ chọn ra những kẻ bất tài, vô dụng, làm hại đến sự nghiệp cách mạng. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài của người cán bộ, đảng viên vào xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng trong tình hình hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

——————————-

(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr.184.
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 252, 253
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG,, Hà Nội, 2001, tr. 492.
(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG,, Hà Nội, 2001, tr. 313.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG,, Hà Nội, 2001, tr. 274.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011,tr. 125.

TS Võ Văn Hải
Học viện Chính trị
xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận cho cán bộ trường Đảng

Trong Diễn văn khai mạc Lớp lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng của mình”(1).

Theo quan điểm của Người, cán bộ và công tác cán bộ luôn đóng vai trò quan trọng vì cán bộ là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là lực lượng giữ vai trò then chốt, là “gốc” quyết định sự thành bại của mọi việc. Người coi “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Đây là một nội dung xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng và hoạt động của Người. Cán bộ một mặt phải giỏi chuyên môn, mặt khác phải am tường về lý luận, cho nên trong huấn luyện cán bộ, Người đặc biệt chú ý đến giáo dục lý luận cho cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt: “Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng”(2).

Người nhiều lần nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng đắn về lý luận và vai trò của nó: “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế”(3). Người chỉ ra rằng, trường Đảng là nơi làm nhiệm vụ giáo dục lý luận cho cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu huấn luyện cán bộ của Đảng, do đảm nhận trọng trách quan trọng trong công tác cán bộ nên trường Đảng cần có những nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp.

Về nội dung giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh hai điểm: một là, giáo dục lý luận, chủ yếu là Chủ nghĩa Mác-Lênin và kinh nghiệm của các nước; hai là, giáo dục về đạo đức, lý tưởng cách mạng. Về phương pháp, Người căn dặn “Học tập tinh thần của Chủ nghĩa Mác – Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(4). Đó là phương pháp luận chỉ đạo việc giáo dục lý luận đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường Đảng. Người căn dặn các giảng viên: “việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn căn cứ vào yêu cầu của học viên”(5), tùy theo trình độ và điều kiện thực tiễn công tác của đối tượng học viên mà giảng viên có cách thức biên soạn và truyền đạt những nội dung giáo dục phù hợp.

Đối với học viên, để đạt được chất lượng giáo dục tốt nhất, Người cho rằng học viên cần có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn.

Một là, phải xác định đúng mục tiêu và nhiệm vụ học tập.

Điều này được Người nhắn gửi trong đầu quyển Sổ vàng khi đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc vào tháng 9-1949 :

“Học để làm việc,

làm người,

làm cán bộ.

Học để phụng sự đoàn thể,

“giai cấp và nhân dân,

Tổ quốc và nhân loại”

Muốn đạt mục đích thì phải:

Cần, kiệm, liêm, chính

Chí công, vô tư”(6).

Hai là, tự giác và học tập mọi lúc, mọi nơi.

Hồ Chí Minh yêu cầu người học phải tự tìm tòi và suy nghĩ, thể hiện ý thức cầu học, cầu tiến bộ: “Phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”(7).

Ba là, suy nghĩ và học tập độc lập.

Đây là một biểu hiện cao của ý thức tự giác, tự nguyện học tập. Hồ Chí Minh căn dặn người học phải đào sâu suy nghĩ và khi đọc tài liệu thì phải hiểu kỹ, xem xét vấn đề có thật đúng hay không, phải đem vấn đề còn nghi vấn ra thảo luận để làm sáng tỏ chứ không phải tuân theo sách vở một cách mù quáng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng thái độ học tập đúng và lối tư duy độc lập là một việc cần phải tiến hành thường xuyên. Mục đích của công tác này là đảm bảo tạo ra một lực lượng cán bộ am tường lý luận Mác-Lênin, giỏi chuyên môn và giải quyết tốt vấn đề của thực tiễn cách mạng. Bên cạnh đó, tạo cho người học phát huy tối đa tiềm năng của bản thân trong tìm ra cái mới, nắm vững lý luận để giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tế đặt ra.

Thấm nhuần lời dạy của Người, đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang không ngừng rèn luyện để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho. Hiện nay, Trường đã có 14 giảng viên đạt trình độ thạc sĩ; 5 cán bộ, giảng viên đang theo học thạc sĩ; 30 cán bộ, giảng viên có trình độ cao cấp lý luận chính trị, một số giảng viên đang chuẩn bị theo học để hoàn chỉnh cao cấp lý luận chính trị, hành chính. Hằng năm, các giảng viên thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu thực tế nhằm thu thập các cứ liệu vận dụng vào bài giảng, nâng cao hiệu quả của các giờ lên lớp, giúp học viên có phương pháp học tập đúng đắn, vận dụng những kiến thức lý luận đã học để giải quyết các vấn đề ở địa phương.

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận cho các trường Đảng có giá trị to lớn về nhiều mặt, là cẩm nang để các trường Đảng trong cả nước vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và học tập, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ cho nước nhà hôm nay và mai sau.

————-

(1), (2), (4), (7) Hồ Chí Minh Toàn tập, NXBCTQG-ST, H. 2002, t.8, tr.492, 495, 497, 499.
(3), (6) Sách đã dẫn, t.5, tr.233, 684.
(5) Sách đã dẫn, t.3, tr.456.

ThS. Nguyễn Thị Hương
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang
xaydungdang.org.vn