Thư viện

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế – Phần 1

I . TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI THẾ GIỚI:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM – NỘI DUNG CƠ BẢN

Đánh giá những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thế giới, nǎm 1980, Rômét Chanđra – nguyên Chủ tịch Hội đồng hoà bình thế giới đã viết: “Ngọn cờ Hồ Chí Minh đang được giương cao bởi tất cả các dân tộc, tất cả các hiệp hội và tổ chức quần chúng, tất cả những cá nhân, tất cả những ai hoạt động vì hoà bình, vì độc lập dân tộc và tự do, vì dân chủ và nhân dân, vì công bằng xã hội và kinh tế”.

Đó là sự khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ để lại dấu ấn mạnh mẽ nhất trong lịch sử của dân tộc Việt Nam mà còn có ảnh hưởng sâu rộng trong sự phát triển của xã hội loài người. Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới là gì, được hình thành ra sao ? Vì sao tư tưởng đó lại trở thành “ngọn cờ của tất cả các dân tộc”?.

Hiện nay có nhiều phương pháp tiếp cận khác trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng. Một số nhà nghiên cứu bằng cách nhìn vào hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh ở một thời điểm nào đó, hoặc cống hiến của Người trong một lĩnh vực nào đó của phong trào cách mạng thế giới, rồi khái quát, xác định tư tưởng đối với thế giới của Người.

Có người cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới là tư tưởng hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc; người khác thì khẳng định đó là tư tưởng về “giải phóng dân tộc”, về “cách mạng thế giới”. Tóm lại, có người quá nhấn mạnh đến tư tưởng về cách mạng thế giới của Hồ Chí Minh, lại có người phủ nhận giá trị phổ biến của tư tưởng Hồ Chí Minh với các dân tộc và cho rằng tư tưởng đó chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực đều có quá trình hình thành và phát triển của nó. Các quá trình đó lại không xuất hiện cùng một lúc mà nảy sinh trong những điều kiện cụ thể. Việc tìm hiểu những cơ sở, điều kiện vật chất khách quan cần phải có cứ liệu khoa học. Chúng ta biết rằng Hồ Chí Minh ít viết về mình, về cuộc đời hoạt động cách mạng trải qua nhiều nước, những cống hiến cho nhân loại trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ những vấn đề độc lập, dân sinh, dân chủ của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đến những vấn đề chiến tranh, hoà bình, xã hội tiến bộ, vǎn minh mà cả nhân loại quan tâm.

Tài liệu về những hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh hiện cũng chưa công bố nhiều, lại phải tiến hành việc xác định tính chân thực của nó, đặc biệt các tài liệu ở nước ngoài. Vì vậy, khái quát rút ra quá trình hình thành, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới là một vấn đề không dễ. Để giải quyết những vấn đề nêu trên, trước hết cần làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử – cơ sở quan trọng làm nảy sinh tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng.

1. Bối cảnh lịch sử của việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là thời kỳ chuyển biến hết sức quan trọng lịch sử phát triển của xã hội loài người. Nhiều sự kiện lớn dồn dập diễn ra ở khắp các châu lục. Sau cuộc đàn áp đẫm máu Công xã Pari 1871 – cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản – trong điều kiện tương đối hoà bình, chủ nghĩa tư bản phát triển khá nhanh chóng, sôi động và chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền.

Chủ nghĩa đế quốc đã được xác lập ở hầu hết các nước tư bản lớn của châu Âu và Bắc Mỹ, với những đặc điểm chính: sự tập trung sản xuất và tư bản; các công ty độc quyền chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các nước; các cường quốc đế quốc chủ nghĩa đã hoàn thành việc phân chia thuộc địa. Các nước đế quốc áp đặt ách áp bức thực dân dưới các hình thức khác nhau ở hầu hết các nước á, Phi, Mỹ latinh. Đặc điểm chủ yếu của hệ thống thuộc địa đế quốc chủ nghĩ là cơ cấu kinh tế – xã hội của các nước phụ thuộc hay nửa thuộc địa, về cơ bản chẳng khác gì các nước thuộc địa. Sự bóc lột phong kiến cũ được duy trì và chồng lên nó là chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia – nông dân và phong kiến – đã xuất hiện các giai cấp mới của xã hội thuộc địa: công nhân và tư sản (dân tộc và mại bản).

Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tình cảnh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác vô cùng khốn khổ, đặc biệt ở các nước mà ách áp bức giai cấp chồng lên ách áp bức chủng tộc. Trong tình hình ấy cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, trước hết ở các nước tư bản đế quốc Âu – Mỹ, lại bùng lên mạnh mẽ sau thời kỳ bị đàn áp đẫm máu. Chủ nghĩa Mác, sau gần nửa thế kỷ đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản và các trào lưu cơ hội dưới mọi màu sắc, đã khẳng định vị trí của mình trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Một điểm mới là từ cuối thế kỷ XIX, bên cạnh sự đoàn kết giữa công nhân các nước tư bản đã có thêm sự đoàn kết giữa công nhân ở chính quốc với nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân.

Cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản cuối thế kỷ XIX, cách mạng 1905 ở Nga, phong trào giải phóng dân tộc ở châu á, châu Phi và nhất là “sự thức tỉnh châu á”, là những nét nổi bật của tình hình cách mạng thế giới đầu thế kỷ XX. Chính trên cơ sở đó mà Lênin, từ sự phân tích tình hình cụ thể, đã đi đến một luận điểm mới trong việc phát triển học thuyết của Mác. Đó là nguyên lý về giải phóng các dân tộc thuộc địa và sự đoàn kết giữa vô sản, nhân dân bị áp bức tất cả các nước.

Nếu ở trong giai đoạn 1848 – 1871 lợi ích của sự giải phóng các dân tộc lớn ở châu Âu đặt cao hơn lợi ích của sự giải phóng các dân tộc nhỏ, thì ở đầu thế kỷ XX, sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa được đặt trong mối liên hệ với sự nghiệp cách mạng vô sản ở chính quốc, sự đoàn kết giữa vô sản các nước được mở rộng thành liên minh giữa giai cấp vô sản ở các nước đế quốc chủ nghĩa với nhân dân các dân tộc đang đấu tranh giải phóng khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân. Như vậy, bên cạnh mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, đã gay gắt trong trong suốt thế kỷ XIX, sang đầu thế kỷ XX, lại nảy sinh một mâu thuẫn mới, đòi hỏi phải giải quyết: mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch với chủ nghĩa thực dân.

Đó là một điều kiện khách quan cho phép phong trào yêu nước cách mạng ở các nước thuộc địa gắn bó chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là với phong trào cách mạng ở chính quốc. Việt Nam, cũng như nhiều dân tộc khác ở châu á, châu Phi từ giữa thế kỷ XIX đã trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Sau khi xâm chiếm toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp đã thành lập ở đây một hệ thống cai trị trực tiếp, hà khắc. Chúng tiếp tục duy trì hệ thống quan lại phong kiến Nam triều làm tay sai để đàn áp, bóc lột nhân dân.

Xã hội Việt Nam từ nước quân chủ chuyên chế trở thành thuộc địa nửa phong kiến. Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay lãi, độc quyền kinh tế. Với chính sách đó, nền kinh tế tự nhiên của Việt Nam bị tan rã nhanh chóng và sống lay lắt, phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế tư bản Pháp. Các tầng lớp nhân dân trong xã hội bị phân hoá sâu sắc. Tư tưởng Nho giáo, nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến Việt Nam, bị tấn công, bị lung lay đến tận gốc rễ bởi sự du nhập của hệ tư tưởng phương Tây. Triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp, song nhân dân Việt Nam với truyền thống chống ngoại xâm, chống sự đồng hoá, diệt chủng của bọn xâm lược nước ngoài không chịu khuất phục.

Cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc từ phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế, phong trào các dân tộc thiểu số đến phong trào Đông Du, phong trào chống sưu thuế liên tiếp nổ ra từ khi thực dân Pháp mới đặt chân đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp trên lần lượt thất bại. Cuộc đấu tranh chống Pháp “dường như trong đêm tối chưa tìm được đường ra”. Thất bại của phong trào Cần Vương chấm dứt thời kỳ đấu tranh giành độc lập dưới khẩu hiệu “phò vua giúp nước”. Phong trào Duy Tân, Đông Du dựa trên lý luận dân chủ tư sản vừa bùng lên đã bị thực dân Pháp dập tắt. Trong bối cảnh lịch sử ấy, một vấn đề cấp bách được đặt ra cho nhân dân Việt Nam là làm thế nào để cứu nước, giành lại độc lập tự do, giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng con người, giải phóng xã hội.

Đó cũng là yêu cầu chung đặt ra đối với tất cả các dân tộc đang rên xiết dưới gót giày của bọn thực dân và cũng chính là một điều kiện khách quan khác gắn liền số phận của dân tộc ta với số phận của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Nhiều nhà yêu nước Việt Nam ở đầu thế kỷ XX vẫn chưa nhận thức rõ điều kiện khách quan này. Họ cũng chưa nhận thức được đầy đủ những yêu cầu cấp bách của lịch sử nước ta lúc bấy giờ, không hiểu được rằng giai cấp tư sản với hệ tư tưởng của nó đã tỏ ra lỗi thời, không đủ sức quy tụ được toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ách bức nô dịch của chủ nghĩa thực dân, không biết gắn phong trào yêu nước của dân tộc ta với cuộc đấu tranh chung của các dân tộc khác cùng cảnh ngộ.

Phải đến Hồ Chí Minh, trong quá trình tìm đường cứu nước, mới dần dần nhận thức được khi giải quyết những vấn đề của dân tộc mình, đất nước mình cũng đồng thời giải quyết các vấn đề mà các dân tộc khác quan tâm, cho nên các dân tộc bị áp bức phải đoàn kết với nhau trong cuộc đấu tranh chung cho độc lập, tự do, tiến bộ xã hội. Có thể nói rằng những nǎm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn chuyển tiếp, quá độ từ hệ tư tưởng này sang hệ tư tưởng khác trong phong trào cứu nước, trong những người yêu nước, đấu tranh cho nền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. ít nhất lúc bấy giờ đã có hai thế hệ với những xu hướng, con đường cứu nước khác nhau.

Nhiều người thuộc thế hệ cũ vẫn giữ tinh thần yêu nước kiểu phong kiến với tư tưởng “trung quân ái quốc”. Theo họ, yêu nước phải gắn với việc khôi phục ngôi vua, bằng một cuộc kháng chiến, khởi nghĩa vũ trang, như cuộc kháng Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương. Một thế hệ yêu nước khác gắn việc đấu tranh chống sự đô hộ của Pháp với yêu cầu đổi mới đất nước. Họ phủ định chế độ phong kiến cũ, cho rằng chế đọ này không còn phù hợp với yêu cầu của đất nước đương thời và xu thế phát triển chung của nhân loại.

Do tác động của những biến đổi của thời địa, và ảnh hưởng của nền giáo dục mới, trong thế hệ thứ hai này có một tỷ lệ không nhỏ những thanh niên yêu nước hầu như không chịu hay ít chịu sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến cũ, đã tiếp thu, chịu ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản được truyền vào nước ta. Họ chán ghét và cǎm thù chế độ thực dân phong kiến, kêu gọi nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Song lúc bấy giờ chưa có điều kiện và tiền đề kinh tế, xã hội để họ có thể tìm ra con đường cứu nước mới.

Nguyễn Tất Thành đã xuất hiện đúng lúc, nhanh chóng nhận thức được yêu cầu của đất nước là giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, đồng thời giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức của chế độ phong kiến, mặt khác, phải gắn phong trào yêu nước Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới. Trong bối cảnh lịch sử – xã hội như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới bắt đầu hình thành, trải qua nhiều giai đoạn để hoàn chỉnh và phát triển.

2. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới.

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nằm trong quá trình chung của việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, song cũng có những nét riêng. Như trên đã trình bày, hoàn cảnh ra đời của một vĩ nhân ít nhiều mang tính tất yếu, do nhu cầu xã hội và những nhiệm vụ mà xã hội đặt ra quyết định. Bởi vì: “tự nhiên là hoàn toàn ngẫu nhiên mà một vĩ nhân nào đó xuất hiện ở một thời nhất định nào đó. Nhưng chúng ta phế bỏ người đó đi, thì lại xuất hiện sự đòi hỏi phải có một người khác thay thế và người thay thế này sẽ xuất hiện – thích hợp ít hay nhiều – nhưng cuối cùng thì cũng xuất hiện”.

Song, trong cùng một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, không phải ai cũng trở thành vĩ nhân, hoặc ai muốn trở thành vĩ nhân đều có thể trở thành vĩ nhân được. ở đây còn đòi hỏi vai trò vận đọng tự thân của những con người có nǎng lực, tài nǎng và phẩm chất cần cho xã hội, giai cấp để đáp ứng những nhiệm vụ của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh đã có đủ những yêu cầu như vậy! Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, có nguồn gốc nông dân ở huyện Nam Đàn (Nghệ An), giàu truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, Nguyễn Sinh Cung đã nhận được sự giáo dục tốt đẹp, lại sớm chứng kiến cảnh cùng cực, đau thương, nỗi bất công, ngang trái của người dân quanh mình, do bọn thực dân phong kiến gây ra.

Từ tình cảm yêu thương gia đình, họ hàng, đồng bào ở quê hương, ở những nơi mà anh đến sinh sống thuở thiếu thời đã dần dần nhen nhóm, hình thành ở Nguyễn Sinh Cung lòng yêu nước, ý thức cứu nước, mong giải thoát nhân dân khỏi ách nô dịch, áp bức của bọn thực dân phong kiến. Chánh mật thám Đông Dương lúc bấy giờ Lui Acnu, đã cho rằng: “cuộc đời này (chỉ Nguyễn Tất Thành – TG) như vậy là đã bắt đầu trong không khí bất công oán hận và phẫn nộ cǎm thù chống lại nước Pháp”. Nguyễn Tất Thành đã sớm tham gia các hoạt động cứu nước. Nǎm 1906, khi mới 16 tuổi, người thiếu niên ấy “đã tham gia công tác bí mật, nhận công tác liên lạc”. Nǎm 1908, anh trực tiếp tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên -Huế. Nǎm 1905, khi phong trào Đông Du bắt đầu hoạt động sôi nổ, cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh và một số thanh niên sang Nhật.

Với người thiếu niên “đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, suy nghĩ về con đường cứu nước” thì sự lựa chọn của cụ Phan là đúng. Song Nguyễn Tất Thành đã từ chối , vì anh cảm thấy con đường mà các nhà yêu nước tiền bối và đương thời đang tiến hành không thể đem lại thành công. Sau này, anh hiểu rõ hơn cụ Phan Chu Trinh “chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương… chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương”, cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đánh đuổi Pháp, nguy hiểm chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Sự khước từ chuyến sang Nhật du học mà cụ Phan dành cho, Nguyễn Tất Thành không từ chối một sự ưu ái, mà chính là từ chối một con đường cứu nước biết trước không đưa đến thành công. Dần dần, Nguyễn Tất Thành ý thức được rằng, muốn cứu nước, cứu dân phải biết xem xét xu thế của thời đại, phải tìm hiểu thế giới để tìm ra một con đường đúng đắn. Anh tự quyết định hướng đi của mình. Mùa hè nǎm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc sang Pháp. Mục đích ra đi của anh hết sức rõ ràng: tìm đường để cứu nước, cứu dân. Về sau Người đã nói rõ: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp Tự do, bình đẳng, bác ái. Đối với chúng tôi người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế, và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền vǎn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”.

Một lần khác khi trả lời nhà vǎn Mỹ Anna Lui Xtơrông, Hồ Chí Minh cho biết: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ǎn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. ý thức đi tìm hiểu nước ngoài của Hồ Chí Minh là biểu hiện đầu tiên của sự mong muốn nhận thức những gì xẩy ra ở ngoài tổ quốc mình.

Có thể nói đây là ý thức đầu tiên về thời đại. ý thức này ngày một sâu sắc, là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng hành động của Người. Bởi như Lênin nói, “chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”. Khi ra đi tìm đường cứu nước, hành trang của Nguyễn Tất Thành phải chǎng chỉ có lòng yêu nước và một nghị lực phi thường với hai bàn tay lao động để kiếm sống?

Không chỉ như vậy, mà còn có một vốn học vấn nữa. Sinh trưởng trong một gia đình nho học, được các nhà nho học uyên bác lúc bấy giờ dạy kinh điển của đạo Nh2 được giải thích về lòng bác ái, chủ nghĩa dân tộc theo quan điểm của những nhà nho lấy việc cứu nước, cứu dân làm lẽ sống cao đẹp của người có học, vốn Hán học của Nguyễn Tất Thành khá sâu. Người còn thu nhận một số kiến thức của nền vǎn hoá phương Tây, khi học ở các trường tiểu học Pháp – Việt ở Vinh, Huế, và trường Quốc học Huế, học thêm tiếng Pháp ở Quy Nhơn…

Chắc chắn vốn Tây học không bằng Hán học, song Nguyễn Tất Thành cũng có những kiến thức cơ bản, phổ thông về lịch sử, vǎn học, địa lý nước Pháp và một số nước khác. Vốn học vấn này (cả Hán học lẫn Tây học) là cơ sở ban đầu quan trọng để Người tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ bằng con đường tự học, để trở thành một nhà cách mạng lỗi lạc, một danh nhân vǎn hoá. Như vậy, người thanh niên 21 tuổi ấy đã đạt được những hiểu biết cơ bản của người trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Người lại có nỗi đau của người dân mất nước, có lòng nhân ái mênh mông, một hoài bão lớn lao, quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.

Trên đường từ Sài Gòn sang Pháp, Nguyễn Tất Thành đã dừng lại các cảng Xinhgapo (8-6-1911), Côlôngbô của Xâylan (nay là Xrilanca, ngày14-6), Xáit của Ai Cập (30-6) theo hành trình của ta. ở những thuộc địa của thực dân Anh, lần đầu tiên Nguyễn được chứng kiến cảnh khốn cùng của những người dân thuộc địa, chẳng khác gì đồng bào anh đang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Sau một tháng vượt đại dương, Nguyễn Tất Thành đã đến Mácxây, một hải cảng quan trọng ở miền Nam nước Pháp. Ngay những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Pháp, anh đã nhận thấy ở nước Pháp cũng có những người nghèo như ở tổ quốc mình. Anh bǎn khoǎn: “tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của họ trước khi đi khai hoá chúng ta?”, vì sao “người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương?”.

Đây là những nhận thức đầu tiên, một cơ sở giúp anh phân biệt bọn thực dân xâm lược với quần chúng nhân dân lao động và mở rộng tình thương đối với đồng bào trong nước đến nhân dân các thuộc địa. ở Pháp một thời gian ngắn, vừa lao động vừa học thêm tiếng Pháp, đến đầu nǎm 1912, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và một loạt nước châu Phi (Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông…). ở đâu anh cũng chứng kiến cuộc sống cùng cực của người dân dưới ách bóc lột tàn bạo của bọn thực dân.

Cuộc hành trình qua nhiều nước thuộc địa châu á, châu Phi càng củng cố hơn nhận thức của Nguyễn Tất Thành về cảnh khổ cực của nhân dân bị áp bức và tội ác của bọn thực dân. Một cảnh gây ấn tượng sâu sắc, khó quên ở Người là khi “đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn… người da đen nhảy xuống nước. Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi”. Từ thực tiễn sinh động và những nhận thức đầu tiên, Nguyễn Tất Thành rút ra kết luận quan trọng: “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt. Song những người Pháp thực dân rất hung ác và vô nhân đạo. ở đâu chúng nó cũng thế. ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”.

Những nhận thức lý tính, bắt nguồn từ trực quan sinh động, biểu hiện một bước tiến trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Tất Thành trong những nǎm đầu đi tìm đường cứu nước. Người nhận thấy rằng nhân dân các nước nghèo khổ có cùng kẻ thù, chung mục đích đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc nên phải cùng nhau đoàn kết. Không phải ngẫu nhiên mà ở Hồ Chí Minh nảy sinh ý thức về sự đoàn kết quốc tế, trước hết là sự đoàn kết các dân tộc thuộc địa, cùng chung cảnh ngộ như nhân dân Việt Nam. ý thức này lớn dần thành một nội dung cơ bản, được trình bày một cách khoa học trong tác phẩm nổi tiếng Bản án chế độ thực dân Pháp, và trước đó, nǎm 1921, Nguyễn ái Quốc đã là một thành viên sáng lập tổ chức quốc tế đầu tiên của những người dân các xứ thuộc địa: Hội Liên hiệp thuộc địa. Cuối nǎm 1912 Nguyễn Tất Thành đến Mỹ. Người đã sống và làm việc ở Niuoóc, rồi Brúcclin, thǎm Bôxtơn, tạm trú một thời gian ngắn ở khu Háclem – nơi sinh sống của người da đen Mỹ.

Những ngày sống trên đất Mỹ, nhất là ở khu Háclem, đã để lại trong Nguyễn Tất Thành nhiều ấn tượng sâu sắc về cuộc sống và nỗi khổ của người Mỹ da đen, đặc biệt việc hành hình kiểu Lynsơ và những hành động đầy tội ác của Đảng 3K, về những cuộc bãi công chống chiến tranh, đòi tǎng lương của công nhân Mỹ. Thǎm tượng thần Tự do – biểu tượng của nước Mỹ, Nguyễn Tất Thành không chỉ khâm phục kiến trúc – nghệ thuật của những người sáng tạo ra nó, mà còn trǎn trở “ánh sáng trên đầu tượng thần Tự do toả ra trên bầu trời xanh, còn dưới chân thần Tự do này thì người da đen đang bị chà đạp, số phận người phụ nữ đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen mới được bình đẳng với người da trắng, bao giờ mới có sự bình đẳng giữa các dân tộc, bao giờ người phụ nữ mới bình đẳng với người nam giới?”.

Thực tiễn sinh động của các xã hội mà Hồ Chí Minh được trực tiếp chứng kiến vào những nǎm đầu thế kỷ XX là cơ sở để hình thành trong Người tư tưởng về quyền con người, quyền bình đẳng giữa các sắc tộc, dân tộc. Tư tưởng này được thể hiện trong nhiều bài báo nổi tiếng của Nguyễn ái Quốc sau này như: Hành hình kiểu Lynsơ một phương tiện ít người biết của nền vǎn minh Mỹ, Đảng Kuklux klan…

Khoảng cuối nǎm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Mỹ sang Anh sống, làm việc và học tập ở đây đến khoảng nửa sau nǎm 1917. Anh đã phải làm đủ mọi nghề để sinh sống, để tìm hiểu một đế quốc thực dân có thuộc địa mênh mông trải khắp các lục địa. ở đây, anh đã hiểu hơn cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và các dân tộc bị thực dân Anh thống trị.

Sau 6 nǎm (1911-1917) quan sát, suy nghĩ về tình cảnh nhân dân và các dân tộc châu á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ, kết bạn với người da vàng, da trắng, da đen, tìm hiểu nền chính trị của các nước và cuộc đấu tranh của các dân tộc phụ thuộc, thuộc địa, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp – trung tâm chính trị của chủ nghĩa đế quốc ở châu Âu . Pari, trung tâm của thế kỷ ánh sáng, cái nôi của những cuộc cách mạng dân chủ, cách mạng vǎn hoá từ những thế kỷ trước của nước Pháp và châu Âu, đã trở thành trường học lớn của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc. Anh đã lao vào cuộc sống và đấu tranh của nhân dân lao động, giai cấp công nhân Pháp.

Chính tại đây, anh đã trở thành nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng không chỉ đối với những người Việt Nam tại Pháp mà ngay cả trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc. Nǎm 1919, Nguyễn ái Quốc thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi đến hội nghị Vécxây bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách 8 điểm tuy không được chấp nhận nhưng đã có tác dụng to lớn đối với nhân dân các thuộc địa cũng như nhân dân Việt Nam.

Đánh giá những hoạt động của Nguyễn ái Quốc và tác dụng của bản yêu sách, nhà sử học Sáclơ Phuốcniô viết: “Từ ngày Nguyễn ái Quốc gửi bản yêu sách đến Hội nghị thì Việt kiều hướng cả về anh… Việt kiều tìm đến với Nguyễn ái Quốc để được anh khuyên bảo, giao nhiệm vụ… và vạch cho họ thấy cần phải đi theo con đường nào. Vậy là từ Pari Nguyễn ái Quốc đã gieo hạt giống cách mạng khắp bốn phương trời”. Thực dân Pháp ở chính quốc và thuộc địa rất tức tối với việc làm của Nguyễn ái Quốc, xem đấy là một vụ nổ “quả bom chính trị”. Cho nên, dù các nước đế quốc từ chối thực hiện các yêu cầu nêu ra, song “nó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc”.

Qua sự việc này, Nguyễn ái Quốc nhận thức được rằng, các dân tộc muốn được giải phóng không thể trông cậy vào các nước đế quốc, bọn thực dân mà chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình, vào giai cấp vô sản trong nước và thế giới. Đó là một cơ sở để sau này Nguyễn ái Quốc đi đến khái quát: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”. Khái quát mang tính nguyên tắc, còn việc vận dụng phải linh hoạt trong điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc.

Cuộc hành trình qua các nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản, đế quốc không chỉ hình thành ở Nguyễn ái Quốc tình cảm, ý thức đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc bị áp bức, mà còn rèn luyện Người trở thành một công nhân có đầy đủ phẩm chất, tư tưởng, tâm lý xã hội của giai cấp vô sản. Một điều quan trọng biểu hiện “tính cách” của một công nhân ở Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc là sự giác ngộ về con đường cứu nước gắn với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. V.I.Lênin đã chỉ rõ, muốn hiểu việc hình thành phẩm chất, tư tưởng, tâm lý xã hội của giai cấp công nhân ở một con người thì phải hiểu trong hoàn cảnh thực tế của mình, họ đã nắm vững tâm lý vô sản hay chưa. Tâm lý vô sản ấy là sự giác ngộ giai cấp.

Tuy Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc chưa làm việc trong công xưởng, nhà máy, song Người đã sống và hoạt động trong môi trường công nhân. Người đã dần dần nhận thức rằng mục tiêu, lý tưởng đấu tranh của giai cấp công nhân không chỉ phù hợp, mà còn chỉ đạo, tạo điều kiện quyết định cho sự thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc. Bước chuyển biến lớn về nhận thức tư tưởng của Nguyễn Tất Thành là từ một người yêu nước chuyển thành người công nhân- yêu nước, rồi người cộng sản.

Trong điều kiện lúc bấy giờ, Đảng xã hội Pháp là tổ chức tiến bộ nhất ở Pháp, tuy chưa có những chủ trương đúng đắn về vấn đề thuộc địa, nhưng cũng có những mặt tích cực trong đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Vì vậy, nǎm 1919 Nguyễn ái Quốc đã tham gia Đảng xã hội Pháp, trở thành nhà hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và tiếp xúc với nhiều nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng như Mácxen Casanh, Pôn Vâyǎng Cutuariê, Lêông Blum, Râymông Lơpherơ, Giǎng Lôngghê, Gaxtông Môngmútxô… Anh đã tham gia nhiều hoạt động của Đảng xã hội, dự tất cả những buổi nói chuyện chính trị, những cuộc mít tinh ở Pari. Hầu hết trong các buổi sinh hoạt này anh đều phát biểu và khéo léo lái việc thảo luận sang vấn đề thuộc địa. Bộ máy mật thám Pháp đã phát hiện ra rằng hoạt động của Nguyễn ái Quốc ở Pháp không chỉ thu hẹp trong vấn đề Đông Dương, mà “trái lại nó mang tính chất rộng lớn hơn nhiều”.

Vấn đề rộng lớn mà họ nghĩ đến là vấn đề thuộc địa, vấn đề đấu tranh của giai cấp vô sản nói chung. Đúng thế, hoạt động trong Đảng xã hội Pháp, Nguyễn ái Quốc đã có dịp tiếp cận với xu thế phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn chặt với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. Bước ngoặt quan trọng trên con đường đi tìm đường cứu nước cũng như trong nhận thức của Nguyễn ái Quốc về vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc, đoàn kết quốc tế là lần đầu tiên anh tiếp xúc với Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Anh đã tìm thấy trong đó lời giải đáp về vấn đề dân tộc và thuộc địa, sự cần thiết phải đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Việc đọc Luận cương… cùng với việc nhận thức từ “cảm tính tự nhiên đến lý tính” tính chất, ý nghĩa của Cách mạng tháng Mười Nga nǎm 19172 đã hoàn thành việc xác định ở Hồ Chí Minh con đường giải phóng của dân tộc mình, cũng như các dân tộc khác. Việc tiếp nhận chủ nghĩa Lênin qua thực tế Cách mạng tháng Mười và Luận cương… được thực hiện trên cơ sở lòng yêu nước, kinh nghiệm thực tiễn trong những nǎm đi tìm đường cứu nước. Cách mạng tháng Mười, rồi Luận cương… đến với Người “như một ánh sáng kỳ diệu, nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm cách mạng mà Người đã hằng nung nấu”.

Nếu Luận cương… đã góp phần tạo nên sự chuyển biến cơ bản trong tư tưởng Nguyễn ái Quốc, hướng Người vào con đường của cuộc Cách mạng tháng Mười, thì việc tham gia Đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp tháng 12-1920, rồi trở thành người cộng sản là bước chuyển có tính chất quyết định đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cứu nước, cứu dân. Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam, mà còn với vận mệnh của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Đến cuối nǎm 1920, sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan trong nhận thức và hành động ở Nguyễn ái Quốc đã giúp Người xác định con đường cứu nước đúng đắn. Công lao to lớn này của Nguyễn ái Quốc không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân dân nhiều nước thuộc địa khác.

Một nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới được hình thành, trước tiên là tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trong thời gian ở Pháp (1917-1923), hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, Nguyễn ái Quốc luôn luôn hướng dư luận, sự quan tâm của nhân dân lao động, giai cấp công nhân Pháp tới các vấn đề thuộc địa, đặc biệt là phong trào cách mạng Việt Nam. Người hoạt động trong các tổ chức cơ sở, khuyên bảo, dìu dắt những người cách mạng Việt Nam sống ở Pháp, tham gia lãnh đạo phong trào của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa thực dân Pháp, chủ nghĩa thực dân Anh và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Hoa Kỳ.

Bằng những hoạt động đó, Nguyễn ái Quốc đã gieo hạt giống cách mạng khắp bốn phương trời, đấu tranh không mệt mỏi cho quyền lợi của các dân tộc. Tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc các nước thuộc địa đã thể hiện trong hoạt động thực tiễn của Nguyễn ái Quốc. Ngay sau khi Đảng Cộng sản Pháp ra đời (1920), Người đề nghị thành lập “Ban nghiên cứu thuộc địa” và chuẩn bị trở về Đông Dương. Tháng 1-1922 cùng với các đồng chí trong “Ban nghiên cứu thuộc địa”, Người đã viết lời kêu gọi gửi nhân dân các nước thuộc địa: “… các anh em người bản xứ thấy rõ chúng tôi cùng anh em có chung một kẻ thù là bọn chủ của chúng tôi. Chúng tôi thành lập ở đây một chính đảng lớn đấu tranh để giải phóng những người không có quyền hành ở chính quốc và cũng muốn đấu tranh để giải phóng những người bản xứ ở thuộc địa bị bắt làm nô lệ. Chúng tôi sát cánh cùng các bạn trong cuộc kháng chiến và đấu tranh của các bạn chống sự tham tàn của bọn thực dân, sự hung bạo của bọn cai trị và binh lính, bọn này có những tên đồng loã là bọn quan lại bản xứ”.

Lời kêu gọi trên chứng tỏ rằng về lý luận cũng như thực tiễn, Nguyễn ái Quốc nhận thức, muốn giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thực dân, chủ nghĩa đế quốc, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc không thể đấu tranh đơn độc mà phải gắn liền phong trào cách mạng trong nước với cách mạng thế giới, phải ủng hộ lẫn nhau để đưa cách mạng đến thắng lợi. “Hội liên hiệp thuộc địa”, một hình thức đầu tiên của liên minh quốc tế các dân tộc thuộc địa chống đế quốc, giải phóng dân tộc ra đời là một biểu hiện cụ thể tư tưởng này của Nguyễn ái Quốc.

Sự thành lập Hội phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, đáp ứng được những yêu cầu khách quan của những điều kiện lịch sử nửa đầu thế kỷ XX. Nó không chỉ quyết định đến đường lối cách mạng Việt Nam mà còn góp phần hướng dẫn phong trào đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Như vậy, qua mười hai nǎm (kể từ 1911 đến 1923) khảo sát, nghiên cứu thực tiễn vô cùng sinh động không chỉ ở các nước tư bản mà còn ở các nước thuộc địa châu á, châu Phi, ở Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc đã hình thành những tư tưởng lớn về thế giới: tư tưởng về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân, về dân tộc và cach mạng giải phóng dân tộc, về tình đoàn kết quốc tế giữa các dân tộc thuộc địa với vô sản chính quốc.

Những khám phá cách mạng sâu sắc có ý nghĩa thời đại được hình thành trong quá trình Nguyễn ái Quốc tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ thực tiễn đã trải qua, với tư duy lý luận nhạy bén Người đã rút ra những kết luận, khái quát khoa học: – Chế độ tư bản chủ nghĩa dù ở đâu cũng có cùng một bản chất bóc lột và tàn bạo như nhau. Mọi lời tuyên truyền về tự do, dân chủ của chúng chỉ là hình thức lừa bịp bên ngoài, còn thực chất đó là nền chuyên chính của giai cấp tư sản. – Thuộc địa là hiện thân của một chế độ dã man, tàn bạo của bọn thực dân đối với hàng triệu người dân bản xứ.

Từ nhận thức xuất phát từ thực tiễn khách quan đó, Nguyễn ái Quốc đã dự báo một điều hết sức quan trọng là nếu biết khơi dậy lòng cǎm thù dân tộc, giai cấp ở hàng triệu con người bị áp bức, nếu biết tuyên truyền giác ngộ, tổ chức đoàn kết họ lại một cách chặt chẽ, đông đảo thì đây là sức mạnh cách mạng vô sản cùng lớn lao của thời đại. Sức mạnh của mỗi dân tộc sẽ được nhân lên nếu có sự liên kết chặt chẽ của cách mạng giải phóng ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.

Trong khi tố cáo và kết án chế độ thực dân, chế độ phân biệt chủng tộc, Nguyễn ái Quốc đã bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc, tình thương yêu vô hạn đối với nhân dân lao động toàn thế giới không phân biệt màu da hay xứ sở. Đây là một nguồn gốc hình thành chủ nghĩa nhân vǎn cao cả của Nguyễn ái Quốc. Sự nghiệp giải phóng dân tộc sẽ hoàn chỉnh, vững bền nếu gắn liền với sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó chính là sự diễn đạt sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng không ngừng, về tinh thần đấu tranh triệt để đưa cách mạng từ giai đoạn dân chủ nhân dân lên xã hội chủ nghĩa để cho nhân dân thực sự tự do, hạnh phúc, ấm no.

Nǎm 1923 Nguyễn ái Quốc bí mật từ biệt nước Pháp, đồng chí và bạn bè ở Pháp. Người đến Mátxcơva, thủ đô của nhà nước Xô viết, để trực tiếp học tập lý luận và thực tiễn ở một đất nước đã tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại. Người nghiên cứu có hệ thống, sâu sắc hơn chủ nghĩa Lênin, hoàn chỉnh những luận điểm của mình về con đường giải phóng dân tộc, về vai trò của quần chúng nhân dân của đảng cộng sản trong cách mạng. Những luận điểm này là cơ sở lý luận chủ yếu để Nguyễn ái Quốc biên soạn những bài giảng cho cán bộ cách mạng Việt Nam tại lớp học ở Quảng Châu (1925-1927). Những bài giảng này được tập hợp thành quyển Đường cách mệnh, trong đó nêu nhiều luận điểm phù hợp với cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa: “Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc riêng của một hai người”, môt khi mà “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”; phải coi “công nông là gốc cách mệnh”, là “người chủ cách mệnh”; phải “trước làm cho dân giác ngộ”, rồi mới “bày sách lược cho dân”, “đoàn kết dân lại” vì “dân thường chia rẽ phái này bọn kia”; “phải có đảng cách mệnh” để “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”.

Đường cách mệnh không chỉ soi sáng cho con đường cách mạng Việt Nam mà còn nêu biện pháp cụ thể về tổ chức và tiến hành cuộc đấu tranh cho độc lập tự do. Có thể xem trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Đường cách mệnh có vai trò to lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Nó không chỉ tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, mà còn chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập đảng của giai cấp vô sản ở Đông Dương. Qua việc tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp và Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Nguyễn ái Quốc đã rút ra những bài học kinh nghiệm cho cách mạng Việt Nam, làm cơ sở cho việc xác định con đường cứu nước đúng đắn. Đến đây, tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề thế giới có liên quan đến cách mạng Việt Nam, đến cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa được hoàn chỉnh từ việc xác định con đường cứu nước đến việc đề ra những biện pháp cụ thể cho cuộc đấu tranh.

Kể từ Bản yêu sách 8 điểm mà Nguyễn ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây nǎm 1919, qua một loạt bài viết ở Pháp trong những nǎm 1920-1923, đến các bài tham luận tại Hội nghị quốc tế nông dân, Quốc tế cộng sản lần thứ V tại Mátxcơva, các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh, những luận điểm cách mạng của Nguyễn ái Quốc nói chung, về cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân thế giới nói riêng không chỉ được bổ sung thêm phong phú mà còn rất sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử và điều kiện cụ thể của các dân tộc thuộc địa. Vì vậy, Người đã góp phần vào việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là về lĩnh vực cách mạng giải phóng dân tộc trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Người đã phát hiện rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có vai trò chủ động to lớn để có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Người đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa ngang tầm với cách mạng vô sản ở chính quốc, coi cách mạng giải phóng dân tộc là “một trong hai cái cánh của con chim”.

Theo Người, hai cuộc cách mạng đều có chung kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc. Trong những nǎm 20, sau khi trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế, ở cương vị uỷ viên Bộ Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam của Quốc tế cộng sản, Nguyễn ái Quốc có điều kiện để tạo một bước chuyển biến lớn về quan điểm cách mạng nói chung, về tư tưởng cách mạng thế giới nói riêng. Người không chỉ suy nghĩ về việc giải phóng đồng bào mình, mà còn tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng mọi người đau khổ trên thế giới, không chỉ tìm cách cải tạo xã hội, đất nước mình, mà còn góp phần vào công cuộc cải tạo cách mạng thế giới theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Người được thừa nhận là một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, một nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc thế giới, người tiêu biểu cho nền vǎn hoá mới.

Nhà báo Ô.Manđextam đã phát hiện tính chất “thế giới” của Nguyễn ái Quốc ở tư cách, tinh thần một nhà cách mạng chân chính, lỗi lạc, một tâm hồn cao đẹp, biểu tượng của một nền vǎn hoá tương lai. Qua Nguyễn ái Quốc, ông đã phát hiện nền vǎn hoá Việt Nam trên trái đất này, mà trước kia hầu như nhân dân thế giới không hề biết đến. Trong tạp chí Xôviết Ngọn lửa nhỏ, tháng 12-1923, Ô.Manđextam viết: “Từ Nguyễn ái Quốc toả ra một nền vǎn hoá, không phải vǎn hoá châu Âu, mà có lẽ là nền vǎn hoá của tương lai. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên biển lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

Nguyễn ái Quốc khi gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đã giới thiệu, xác định vai trò của vǎn hoá truyền thống của nhân dân Việt Nam với thế giới, phát huy nó trong việc xây dựng một nền vǎn hoá tương lai của nhân loại. Đó là nét tiêu biểu trong sự kết hợp cách mạng và vǎn hoá, Việt Nam và thế giới – một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới. Bước vào những nǎm 30 của thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những biến đổi hết sức lớn lao. Nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết, trong đó nổi lên vấn đề mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933), một cuộc khủng hoảng sâu sắc và tai hại nhất trong tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế mà chủ nghĩa tư bản từng trải qua, đã làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn giai cấp và dân tộc, cũng như những mâu thuẫn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới.

Sau một thời gian tạm lắng xuống (1924-1929), phong trào cách mạng thế giới từ đầu thập kỷ 30 lại diễn ra sôi sục và lan rộng khắp nơi, từ các nước tư bản chủ nghĩa Âu Mỹ đến các nước thuộc địa và phụ thuộc. Các lực lượng cách mạng và dân chủ ở khắp các nước, dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, đã vùng dậy mạnh mẽ chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới mới. ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, đã diễn ra sự tập hợp dần các lực lượng yêu nước và cách mạng trong cuộc đấu tranh giành quyền sống, giành độc lập dân tộc. Sự tǎng cường vai trò của giai cấp công nhân là một đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở á, Phi, Mỹ latinh trong thời gian này. Nhiều đảng cộng sản ra đời trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng: Đảng cộng sản Ecuađo (23-5-1926), Đảng cộng sản Pêru (7-10-1928), Đảng cộng sản Đông Dương, Đảng cộng sản Philippin, Côlômbia, Panama, Xanvađo, Xiri, Libǎng… (1930). Các đảng cộng sản Malaixia, Vênêxuêla, Côxta Rica, Puectôricô lần lượt ra đời vào những nǎm đầu thập kỷ 30. Các chi bộ Đảng cộng sản Pháp ở Tuynidi và Angiêri cũng trở thành những Đảng độc lập vào nǎm 1934 và 1936… Các Đảng cộng sản trẻ tuổi phương Đông đã chiến đấu như những chiến sĩ kiên cường vì độc lập dân tộc, vì tiến bộ xã hội. Vấn đề được nhiều nhà cách mạng, nhiều Đảng quan tâm nhất là vấn đề quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, cụ thể hơn là quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong đấu tranh cách mạng ở mỗi nước.

Chỉ có giải quyết tốt vấn đề này mới xác định được phương hướng của cách mạng, mới quy tụ được đông đảo quần chúng nhân dân, huy động họ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, góp phần vào thắng lợi của cách mạng thế giới. Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng vào nửa đầu thập kỷ 30, Nguyễn ái Quốc xác định quan điểm đúng đắn về giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Trước hết, Người nhận thức rõ phải có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc, nên đã sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam, tham gia vào việc thành lập một số Đảng cộng sản ở khu vực Đông – Nam á.

Người nắm vững và cung cấp cho Quốc tế nông dân, Quốc tế cộng sản nhiều tài liệu có giá trị về tình hình và đời sống đấu tranh của các tầng lớp nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Người đã đề xuất những kiến nghị, những biện pháp phù hợp với mục tiêu đấu tranh chung và yêu cầu, tình hình cụ thể của mỗi nước. Những quan điểm tư tưởng của Người với cách mạng nói chung, với thế giới nói riêng từ giữa nǎm 30 gặp phải sự “phê phán” mạnh mẽ của một số người đề cao “đấu tranh giai cấp”, lên án “tư tưởng hữu khuynh”, “dân tộc chủ nghĩa”.

Cuộc đấu tranh giữa những quan điểm của Nguyễn ái Quốc với những quan điểm khác biệt trong nội bộ Đảng cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đấu tranh trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chung quanh các vấn đề về mối quan hệ giữa “dân tộc” và “giai cấp”. Điều này dường như là biểu hiện của một quy luật: sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới gắn với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng trong nội bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có lúc khá gay gắt.

Khi xác định cho mình lập trường của giai cấp vô sản, giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhiều nhà cách mạng, kể cả những người lãnh đạo trong Quốc tế cộng sản, đã phủ nhận hoặc hạ thấp giá trị của những hoạt động, những khuynh hướng, quan điểm tư tưởng ít nhiều mang tính dân tộc. Chính vì đề quá cao yếu tố giai cấp, mà một số người đã không xác định đúng vai trò của giai cấp tư sản dân tộc trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.

Tìm hiểu kỹ hơn quan điểm của C.Mác, Ph.Ǎngghen và V.I.Lênin, chúng ta thấy dân tộc không phải là sản phẩm của riêng một giai cấp nào, ngay cả giai cấp tư sản hay vô sản, ở phương Đông hay phương Tây. Nó là sản phẩm của một quá trình phát triển lịch sử lâu dài, toàn diện của một cộng đồng dân cư nhất định, trên một lãnh thổ nhất định, với bản sắc riêng của mình, mà chủ yếu là về mặt vǎn hoá và truyền thống. Vì vậy, ý thức dân tộc ǎn sâu trong tiềm thức của mỗi con người của dân tộc đó. Họ đi vào dòng thác cách mạng thế giới, trước hết với tất cả ý thức và bản sắc của dân tộc mình, dù rằng mục tiêu của họ là giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại cần lao.

Nguyễn ái Quốc tiếp nhận một cách sáng tạo tư tưởng của những nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học và có những quan điểm đúng làm phong phú lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Nghiên cứu những bức thư của Nguyễn ái Quốc gửi Quốc tế cộng sản ngày 27-2, 2-3, 5-11 và 31-12 nǎm 1930; những bức thư đề ngày 24-1, 22-1, 21-2, 5-3 nǎm 1931; ngày 16-1-1935…, chúng ta thấy trong quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, có nhiều điểm độc đáo và sâu sắc.

Trước hết, Người nhấn mạnh rằng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân những nước thuộc địa và phụ thuộc, phải chú ý đặc biệt đến vai trò của giai cấp nông dân, phải đoàn kết chặt chẽ được toàn thể dân tộc, giữa các dân tộc trong khu vực. Tiếp đó, Người nêu rõ cần có đối sách đúng đắn với các đảng phái dân chủ, tiến bộ, không phải là cộng sản, với các tầng lớp nhân dân tiến bộ chống chủ nghĩa đế quốc, chống chiến tranh. Người kiến nghị Quốc tế cộng sản cần chỉ đạo sát sao, bồi dưỡng lý luận cho giai cấp công nhân ở những nước thuộc địa, đặc biệt ở khu vực châu á…, đề phòng cuộc chiến tranh có thể nổ ra ở khu vực Thái Bình Dương.

Toàn bộ những vấn đề như vậy có liên quan đến cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trong thời kỳ những nǎm 30. Vấn đề cốt lõi mà Hồ Chí Minh quan tâm là làm thế nào cho các dân tộc được độc lập, tự do, dân chủ. Điều này không hề mâu thuẫn với mục tiêu cách mạng của giai cấp vô sản thế giới. Giá trị tư tưởng về dân tộc và giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh trong những nǎm 30 được tô đậm thêm bằng sự dũng cảm, kiên định, kiên trì, mềm dẻo chống lại những khuynh hướng “tả”, mà không gây nên sự chia rẽ, phân biệt trong Đảng, trong phong trào cách mạng.

Khi đặt vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc trên cơ sở đoàn kết các lực lượng dân chủ tiến bộ, tư tưởng chiến lược của Nguyễn ái Quốc không hề thay đổi. Người linh hoạt trong chỉ đạo chiến lược, không máy móc cho rằng có giải quyết vấn đề giai cấp mới giải quyết được vấn đề dân tộc. Cǎn cứ vào điều kiện cụ thể của thế giới và các dân tộc lúc bấy giờ, vận dụng sáng tạo nghị quyết của các đại hội VI, VII của Quốc tế cộng sản, Người chủ trương tập trung sức lực để giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết thành công vấn đề giai cấp. Đây là một bước phát triển mới của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng với thế giới nói riêng; là sự thực hiện một cách sáng suốt, có hiệu quả nguyên tắc chiến lược đã xác định là việc giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp vô sản. Thực tế lịch sử ở một số nước thuộc địa từ nǎm 1945 đã chứng minh tính đúng đắn, sáng suốt của những quan điểm, tư tưởng của Nguyễn ái Quốc.

3. Khái niệm, nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới.

a – Đã có nhiều ý kiến khác nhau khi định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng.

Một số nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích cuộc đời hoạt động của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, khái quát “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Tất cả cho con người, vì con người”; “Độc lập dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân”.

Một số người khác thì cǎn cứ vào nguồn gốc các yếu tố cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh để khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, rất phong phú, bao trùm nhiều lĩnh vực”, ý kiến thứ ba, xuất phát từ sự vận động của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của thế giới trong thế kỷ XX này, từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người, quốc gia và quốc tế”.

Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh. ý kiến hiện được nhiều người chấp nhận cho rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là bước phát triển mới và sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với chủ nghĩa vǎn hoá nhân ái Việt Nam, tinh hoa vǎn hóa phương Đông và phương Tây; là lý luận về chủ nghĩa thực dân và cách mạng giải phóng dân tộc; về xây dựng chế độ dân chủ nhân dân từng bước phát triển lên chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, vǎn minh và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa vì hoà bình và phát triển của nhân dân các dân tộc trên thế giới”.

Sự xuất hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh là một hiện tượng hợp quy luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không thể ra đời và phát triển ngoài con đường phát triển chung của dân tộc và loài người.

Vì vậy, nó không thể không kế thừa truyền thống dân tộc, tinh hoa tư tưởng, vǎn hoá, vǎn minh của nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận của vǎn hoá dân tộc và vǎn hoá thế giới.

Nói một cách cụ thể, tư tưởng Hồ Chí Minh là bước phát triển mới trên cơ sở nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin (nguồn gốc lý luận chủ yếu) ở những nước thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự khái quát những kinh nghiệm của bản thân Hồ Chí Minh, của phong trào giải phóng dân tộc, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản (Việt Nam và thế giới), cuộc đấu tranh vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ của nhân loại.

Việc định nghĩa khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” phải xuất phát từ định nghĩa khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh” nói chung và dựa trên những cơ sở phương pháp luận sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu bất cứ hệ tư tưởng nào cũng cần tìm hiểu nội dung cơ bản cấu thành nó. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới nói riêng, phải làm sáng tỏ nội hàm với những đặc trưng cơ bản của khái niệm. Công việc này phải được tiến hành trên cơ sở tài liệu, sự kiện chính xác và những khái quát lý luận khoa học.

Thứ hai, “một khái niệm khoa học phải chỉ ra được cái bản chất cốt lõi, xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm, nhất quán từ lúc vào đời đến khi rút ra khỏi cuộc đời, phải là phạm trù khởi điểm giúp cho việc nghiên cứu toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ liên kết tư tưởng đó thành hệ thống”.

Thứ ba, định nghĩa “Tư tưởng Hồ Chí Minh” nói chung hay “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” nói riêng phải bao hàm nguồn gốc, nội dung cơ bản và mục đích của tư tưởng đó.

Thứ tư, “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” là một bộ phận của “Tư tưởng Hồ Chí Minh, vì vậy, vừa phải thể hiện được cái chung, vừa phải thể hiện được cái riêng, các đặc thù “với thế giới” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những yêu cầu nêu trên, chúng tôi quan niệm rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” là một bộ phận của tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh, bao gồm hệ thống những luận điểm được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác – Lênin, đáp ứng được những xu thế phát triển của thế giới, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân loại: Độc lập dân tộc, hoà bình, dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Từ định nghĩa như vây, chúng tôi nhận thức rằng nội hàm của khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” phải bao gồm những yếu tố:

– Các bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh – Sự tác động qua lại giữa Việt Nam, Hồ Chí Minh và phong trào cách mạng thế giới.

– Việc đáp ứng yêu cầu thời đại và xu thế phát triển tương lai của xã hội loài người.

b – Nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới” phong phú, ở đây chúng tôi chỉ giới hạn ở một số vấn đề cơ bản.

Thứ nhất, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, được thể hiện ở những điểm:

– Nhận thức đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa. – Nhận thức về cách mạng giải phóng dân tộc và mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa đối với cách mạng vô sản ở chính quốc.

– Việc tố cáo chủ nghĩa thực dân, nêu bản chất của nó thể hiện ở mọi mặt của đời sống xã hội thuộc địa. – Việc xác định con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản.

– Việc vạch ra đường lối cứu nước: sự lãnh đạo của Đảng vô sản, đoàn kết rộng rãi trong nước và quốc tế, dựa vào lực lượng bản thân là chính…

– Con đường phát triển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội: con đường tất yếu để hoàn thành việc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thứ hai, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới. Nội dung cơ bản của tư tưởng này được biểu hiện ở mấy điểm:

– Quan niệm về chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở các nước vốn là thuộc địa và phụ thuộc, không có những điều kiện lịch sử.

– xã hội như các nước tư bản ở châu Âu. Từng bước phác hoạ kế hoạch và biện pháp xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, ngay cả khi làm nhiệm vụ dân tộc, dân chủ.

– Việc gắn liền chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh.

– Những phương châm trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa “dân giàu nước mạnh”: lâu dài, gian khổ, vững chắc, không vội vàng, sáng tạo, tránh giáo điều công thức.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về hoà bình, hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc trong đấu tranh giữ độc lập cũng như xây dựng xã hội mới.

Thứ tư, tư tưởng nhân vǎn của Hồ Chí Minh mang tính chất thời đại, được thể hiện trong cuộc sống cũng như mọi hoạt động của Hồ Chí Minh.

Thứ nǎm, tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại góp phần giải quyết những vấn đề chung, những vấn đề toàn cầu, liên quan đến sự sống còn và phát triển của các tầng lớp trong xã hội, của nhiều dân tộc hiện nay. Đó là công cuộc giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, hạn chế sự bùng nổ về dân số, ngǎn ngừa và đẩy lùi nguy cơ bệnh tật hiểm nghèo, xoá đói, giảm nghèo, chống nạn thất nghiệp…

***

Tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định của thế giới và dân tộc, qua nhiều giai đoạn lịch sử gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng trong sáng của bản thân Hồ Chí Minh. Nội dung cơ bản của nó thể hiện ở những nguyên lý, nguyên tắc, quan điểm lý luận được nhân dân Việt Nam và thế giới, trước hết là các nước thuộc địa và phụ thuộc, tiếp nhận không phải là những tín điều mà là sự soi sáng cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ. Chính vì vậy mà tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, với thế giới nói riêng “vẫn sống trong kho tàng vǎn hoá của nhân loại”, trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.

GS. Phan Ngọc Liên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về người “công bộc của dân”

Trong thư gửi “Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” được đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó có nhiệm vụ điều hành bộ máy nhà nước vừa bắt đầu vào nền cộng hoà non trẻ và nặng tàn dư phong kiến nên đã dùng khái niệm công bộc để hướng dẫn cán bộ công chức phục vụ nhân dân. Ta hiểu “công bộc” là gì? Theo từ điển Hán-Việt, công có nghĩa là của chung, bộc có nghĩa đầy tớ, cụm từ “công bộc của dân” có nghĩa là “người đầy tớ chung của dân” hay người đầy tớ công vụ.

Xưa có truyện Liễu Tôn Nguyên thời nhà Đường mời rượu tiễn bạn là Tiết Tồn Nghĩa sắp đi làm quan khuyên rằng: “Phàm ra làm quan ở hạt nào, phải biết chức phận của mình là người làm việc cho dân, chớ không phải khiến dân làm việc cho mình. Dân ở trong hạt đã chịu nộp thuế để lấy tiền thuê quan giữ sự công bình cho dân. Mà nay ngán thay, thiên hạ ra làm quan, tiền thuế của dân thì biết lấy cả, còn công việc của dân thì trễ biếng, thường khi lại dụng làm ăn trộm của dân nữa…Nên kẻ làm quan, nếu còn biết công lý thì ai mà không chịu giữ gìn cố làm thế nào cho đáng đồng tiền thuê của dân?”.

Nay, nhìn lại lịch sử những năm tháng gian khổ trong hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, biết bao tâm gương cán bộ, đảng viên đã quên mình vì nước vì dân, để lại tiếng thơm mãi cho đời sau. Đó thật sự là những con người từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Và cũng chính vì vậy họ được nhân dân đùm bọc, tin yêu che chở và giúp đỡ vượt qua bao gian lao thử thách đến ngày đất nước thống nhất, độc lập tự do. So với những năm tháng khó khăn gian khổ của chiến tranh và những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, thời mở cửa và hội nhập, đội ngũ cán bộ công quyền có cuộc sống đầy đủ hơn, có nhiều điều kiện, lợi thế để học tập mở mang kiến thức hơn thế hệ cha anh. Nhưng bên cạnh đó, cũng thường xuyên tiếp xúc với những cám dỗ vật chất mà bất cứ lúc nào, nơi nào cũng dễ bắt gặp.

Phải suy nghĩ, khi hiện nay, trên các trang báo hay ngoài xã hội, người dân lúc nói chuyện với nhau, mỗi khi nhắc đến cán bộ nhà nước, nhất là lãnh đạo ở cấp quận, huyện, xã, phường… thường dùng những từ xa lạ chỉ có trong thời phong kiến hay chế độ cũ như “quan huyện” rồi “lý trưởng”, hay nhẹ nhàng hơn mà khá phổ biến là “quan chức nhà nước”…

Đau lòng, khi có những cán bộ đã không giữ được lập trường, không thắng được sự cám dỗ của vật chất tầm thường, để rồi làm trái với luật pháp, làm mất lòng tin của nhân dân. Có việc cán bộ ăn chặn tiền của dân, kể cả những đồng tiền cứu trợ bão lụt, tiền hỗ trợ tết cho người nghèo hay những vụ chia đất công hưởng lợi ở tỉnh này tỉnh kia… làm đau lòng những cán bộ, đảng viên chân chính. Không thể vui khi có chuyện những “công bộc” lại đi hách dịch, vòi vĩnh, nhũng nhiễu, hành dân hơn là phục vụ nhân dân. Nơi tiếp đón công dân ở một vài cơ quan nhà nước vẫn được ghi là “Phòng tiếp dân” đã làm mất đi sự trịnh trọng và phần nào quyền của những người công dân khi đến liên hệ công việc. Thấm thía, lời dạy của Bác luôn nhắc nhở những người làm trong các cơ quan công quyền luôn phải tự nhìn nhận lại bản thân để xem đã làm những việc có lợi cho dân hay chưa, đã xứng đáng với vai trò, vị trí “công bộc” của dân hay chưa. Lời dạy của Bác đến nay và mãi về sau vẫn luôn mang tính thời sự.

Thật vậy, yếu tố con người đóng vai trò, bộ phận cực kỳ quan trọng trong cơ thể bộ máy nhà nước. Những hành vi sai phạm, biến chất, thoái hoá của cán bộ trong các cơ quan công quyền sẽ khó làm cho dân tin, dân phục, vô hình trung làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân với nhà nước, với chế độ. Một chính quyền “ của dân, do dân và vì dân” không thể chấp nhận việc tồn tại những “công bộc” vi phạm kỷ cương phép nước, bản thân biết sai mà vẫn làm, như vậy là có tội, là hại dân. Xử lý nghiêm, không nương nhẹ, không châm chước đối với những cán bộ này mới làm yên dân.

Hoàn thiện khung pháp lý để điều chỉnh đối tượng là cán bộ, công chức là hết sức quan trọng. Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 quy định về cán bộ, công chức Điều 2 có nêu rõ: Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công việc được giao.Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008, gồm 10 chương, 87 điều quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện đảm bảo thi hành công vụ. Trong đó mục 2 Điều 8 có ghi: Tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải nhanh chóng xây dựng cho được một chương trình cải cách hành chính có tính chiến lược, dài hạn của chính phủ qua việc ban hành quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá. Một loạt chủ trương, giải pháp quan trọng được đưa ra như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; tách quản lý nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh, tách cơ quan quản lý công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; cải cách thủ tục hành chính. Trong đó một giải pháp hết sức quan trọng đó là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực, thiết lập kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…

Cải cách hành chính là vấn đề quan trọng trong việc củng cố, hoàn thiện bộ máy công quyền, có quan hệ trực tiếp đến lợi ích của nhân dân. Đến nay, sự chuyển biến tích cực đã có ở nhiều sở, ban, ngành và nhiều cán bộ, công chức. Tuy nhiên, trên thực tế, tỉnh thoảng vẫn còn xảy ra tình trạng “hành là chính” tại các cơ quan công quyền. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức chiếm một phần không nhỏ. Đặt ra yêu cầu với mỗi cán bộ, công chức cần được giao chức trách, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể, thường xuyên phải kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm, thiếu sót của họ. Cải cách hành chính cần kết hợp với việc giáo dục đạo đức và văn hoá công sở.

Công bằng mà nói, hiện chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức chưa sát với thực tiễn cộng vụ mà mỗi cán bộ, công chức đảm nhiệm. Ở khía cạnh khác, sự bất cập trong chính sách tiền lương đối với cán bộ công chức tạo ra làn sóng cán bộ công chức bỏ việc, xin thôi việc và một bộ phận cán bộ công chức nhũng nhiễu, cửa quyền, hách dịch, tham nhũng… Để động viên cái tốt, động viên những cán bộ công chức luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, thấy việc có lợi cho dân thì làm, luôn lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, Chính phủ đã đưa ra 4 nội dung cải cách trong đó có nội dung: đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Theo đó, cải cách tiền lương và chế độ, chính sách đãi ngộ cần có sự điều chỉnh hợp lý. Phấn đấu để đạt được lợi ích vật chất tương xứng với tài năng đóng góp có ích cho xã hội của cán bộ, công chức. Lợi ích kinh tế cá nhân được tôn trọng cùng với lợi ích cộng đồng.

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (3/2/2007), Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Đây là một chủ trương lớn mang tính cấp bách trong bối cảnh hiện nay và có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bởi vậy, lúc này hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, công chức cần xác định rõ vị trí của mình đã thực sự là “công bộc của dân” như lời dạy của Người?

HOÀNG BÁCH

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

Con đường Cách mạng Tháng Mười Nga theo tư tưởng Hồ Chí Minh

TCCSĐT – Mặc dù trên quê hương của Cách mạng Tháng Mười đã có nhiều thay đổi, thành quả của cuộc cách mạng này đã bị đánh cắp… Nhưng không thể coi Cách mạng Tháng Mười đã đi vào quá khứ mà phải thấy đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn là quy luật tiến hóa của nhân loại mà Cách mạng Tháng Mười là một mốc son chói lọi mở đầu thời đại mới…

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp. Tại đây, Người tiếp nhận những thông tin đầu tiên về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Từ chỗ chưa biết V.I.Lênin là ai, thậm chí còn không biết nước Nga ở đâu, dần dần Người nhận ra rằng: Trên thế giới đã xảy ra một sự kiện lớn lao chưa từng có: Một dân tộc đã lật đổ bọn áp bức bóc lột mình, tự tổ chức quản lý mọi công việc đất nước, không cần bọn chủ và bọn toàn quyền. Việc đó xảy ra ở nước Nga với những người dũng cảm phi thường và người đứng đầu những người dũng cảm ấy là người dũng cảm nhất: V.I. Lênin. Thế là, Hồ Chí Minh quyết định ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Hồ Chí Minh viết: “Lúc bấy giờ tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính. Tôi chưa biết tầm quan trọng lịch sử của nó. Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một nhà yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình, trước đó tôi chưa hề đọc một quyển sách nào của Lênin”(1)

Từ đó cho đến cuối đời mình, đề tài Cách mạng Tháng Mười Nga được Hồ Chí Minh trở đi trở lại rất nhiều lần. Trên thực tế, ở Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống quan điểm sâu sắc, mới mẻ về Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Cách mạng Tháng Mười – Cuộc cách mạng mở đầu thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười vừa là nhà tù của các dân tộc, vừa bị một nhóm tài phiệt thế giới nô dịch. Dưới sự thống trị của Nga hoàng, nhân dân là những cái máy bằng thịt, những viên đạn bằng thịt để bọn đế quốc sử dụng xâu xé nhau. Trong xã hội cũ, quần chúng lao động là những người làm ra của cải nhưng bị chìm trong đói khổ và ngu dốt. Đó là số phận khốc hại và lâu dài của đại đa số nhân dân.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, số phận của những người lao động đã có sự thay đổi căn bản. Hồ Chí Minh viết: “Như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối, cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người,…mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử”(2). Sự kiện giai cấp công nhân Nga dưới sự lãnh đạo của những người Bôn-sê-vích đứng đầu là V.I. Lênin, liên minh chặt chẽ với nông dân và những người lao động lật đổ chính quyền của bọn địa chủ, tư sản bắt tay xây dựng xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh coi là: Sự kiện lớn lao nhất trong lịch sử loài người. Hồ Chí Minh viết: Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành hiện thực…

Nhất quán quan điểm về ý nghĩa mở đầu thời đại mới của Cách mạng Tháng Mười, Hồ Chí Minh vạch rõ: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã tạo nên một thời đại mới – thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Người nhấn mạnh: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”(3).

Trong hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Người đã đúc rút thành những bài học quý. Hồ Chí Minh viết: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới những bài học hết sức quý báu bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và cả loài người. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấm nhuần những bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười. Những bài học đó là:

Có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Thực hiện cho được liên minh công nông. Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng, chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy và bảo vệ chính quyền. Để bảo đảm thắng lợi cho cuộc đấu tranh một mất một còn giữa cách mạng và phản cách mạng cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyết đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cần kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế chân chính.

Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh kết luận: “Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa đến như thế”(4).

Tác động của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào giải phóng dân tộc

Là người viết Bản án chế độ thực dân Pháp và người đi tiên phong trong việc thực thi bản án ấy, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vị trí, vai trò của Cách mạng Tháng Mười đối với các dân tộc thuộc địa và phong trào giải phóng dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, trước Cách mạng Tháng Mười, nhân dân các nước thuộc địa là những công cụ biết nói, là “phương tiện vận tải hai chân”, là “những cái bia sống”, tính mạng người thuộc địa không đáng một đồng trinh. Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân các nước thuộc địa đang sống trong chế độ nô lệ đương đại. Người viết: “Cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng”(5). Nhưng giấc ngủ hàng thế kỷ của các dân tộc thuộc địa đã bị tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười đánh thức. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại cách mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với số phận của dân tộc phương Đông. Nó thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, chỉ cho họ con đường giải phóng, nêu gương tự do dân tộc thực sự.

Thực tế cho thấy sau Cách mạng Tháng Mười, phong trào giải phóng dân tộc có sự phát triển về chất. Hồ Chí Minh dẫn chứng: “Cuộc Cách mạng Tháng Mười đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, làm cho nó trở thành một làn sóng mãnh liệt trong tất cả các nước phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Dương, Việt Nam. Một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã giành thắng lợi và thiết lập chế độ mới. Cả lý luận Mác – Lênin, kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười và thực tế cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một số nước đã xác lập và chứng minh một chân lý. Hồ Chí Minh viết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(6).

Như vậy, Hồ Chí Minh cho rằng tác động của Cách mạng Tháng Mười đến phong trào giải phóng dân tộc được thể hiện trên các mặt chủ yếu:

Cách mạng Tháng Mười nêu cho họ tấm gương. Điều này là cực kỳ quan trọng. Bởi vì đối với các dân tộc phương Đông một tấm gương sống còn có giá trị hơn những bài diễn văn tuyên truyền. Cách mạng Tháng Mười để lại cho họ những bài học kinh nghiệm to lớn, quý báu. Nhà nước Xô-viết – sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười ủng hộ giúp đỡ to lớn có hiệu quả về vật chất và tinh thần đối với phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đánh một đòn mạnh vào kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc, Cách mạng Tháng Mười đã đem đến cho các dân tộc phương Đông một sự giúp đỡ có tính quyết định”(7).

Cần nói thêm là Hồ Chí Minh có những bài viết sâu sắc, cảm động và sự biết ơn, sự kính trọng của các dân tộc thuộc địa đối với V.I. Lênin – linh hồn của Cách mạng Tháng Mười. Bởi vì tên tuổi, sự nghiệp của V.I. Lênin gắn bó chặt chẽ với thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười và Nhà nước Xô-viết. Hồ Chí Minh cho rằng, V.I. Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa, trong con mắt cũng như trong cuộc đời đau khổ của các dân tộc thuộc địa, V.I. Lênin là người đã sáng tạo ra cuộc đời mới. Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của các dân tộc bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân loại bị áp bức. Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa”(8).

Con đường Cách mạng Tháng Mười với con đường cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh có nhiều bài viết luận giải rất khúc chiết, thấu lý đạt tình về tác động của Cách mạng Tháng Mười đến cách mạng Việt Nam và mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ, bền vững, lâu dài giữa hai cuộc cách mạng này. Theo Người, trước Cách mạng Tháng Mười nhân dân Việt Nam bị bọn đế quốc thực dân bưng tai, bịt mắt, chưa hiểu gì về chủ nghĩa Mác và cũng chưa nghe nói đến V.I. Lênin.

Từ năm 1917 đến năm 1924, thực dân Pháp giăng một tấm lưới dày đặc xung quanh Việt Nam để ngăn chặn những tin tức về Cách mạng Tháng Mười. Vì vậy, thông tin về cuộc cách mạng này lọt vào Việt Nam một cách ít ỏi, chậm chạp bằng con đường bí mật từ Pháp sang, từ Trung Quốc đến. Những năm ấy người dân nước ta có cách tiếp nhận thông tin về Cách mạng Tháng Mười rất sáng tạo. Khi sách báo và tuyên truyền của chính thực dân Pháp và bọn tay sai nói xấu Cách mạng Tháng Mười, nói xấu chủ nghĩa cộng sản thì nhân dân bí mật bảo nhau: Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa cộng sản có hại cho đế quốc tức là có lợi cho chúng ta, chủ nghĩa cộng sản, Cách mạng Tháng Mười là kẻ thù của chủ nghĩa thực dân tức là anh em của các dân tộc bị áp bức. Hồ Chí Minh viết: Bàn tay bẩn thỉu của thực dân không che được mặt trời chính nghĩa…

Đối với cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Mười là tiếng sấm báo hiệu mùa xuân, là mặt trời chói lọi, là cơm ăn, nước uống. Về sự cần thiết của Cách mạng Tháng Mười đối với nhân dân ta, Hồ Chí Minh viết: “Nhờ Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người cách mạng Việt Nam đã được tiếp thu ảnh hưởng đầy sự sống của Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác – Lênin. Điều đó tựa như người đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”(9).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những sự kiện có ý nghĩa và mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều chịu tác động của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Với Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết cần có Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời sau Cách mạng Tháng Mười 13 năm nhưng hai sự kiện này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kinh nghiệm bản thân của Việt Nam chứng tỏ rằng chính là nhờ Đảng của những người Bôn-sê-vích và của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại mà ở Việt Nam có một đảng mác-xít – lê-nin-nít”(10).

Mười lăm năm sau ngày thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được chính quyền, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh cho rằng: Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên quyết đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Năm 1945 đã làm Cách mạng Tháng Tám đánh đổ thực dân giải phóng đất nước, xây dựng chính quyền nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám chứng tỏ sự đúng đắn của con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra.

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào thực tế Việt Nam. Những bài học đó không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài. Người không chỉ căn dặn nhân dân ta mà còn tuyên bố với bạn bè quốc tế rằng: “Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười là ngôi sao soi đường cho chúng tôi trong sự nghiệp xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”(11).

Cho đến những năm cuối đời, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục suy nghĩ về con đường Cách mạng Tháng Mười với lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc. Từ câu tục ngữ Việt Nam: Uống nước nhớ nguồn”, năm 1967, Hồ Chí Minh liên tưởng: Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại bước đường cách mạng đầy gian khổ, hy sinh mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn của V.I. Lênin và Cách mạng Tháng Mười.

Một quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận mang tính chỉ đạo lâu dài đối với Đảng và nhân dân ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại …là vô cùng sâu sắc”(12).

Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng đắn rằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới có mối liên hệ biện chứng với con đường Cách mạng Tháng Mười.

Sự nghiệp đổi mới diễn ra không chỉ trong thời cơ thuận lợi mà gặp phải nhiều khó khăn, thử thách, trong đó có cả những thử thách hiểm nghèo, trước hết là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì quan điểm của mình về thời đại mới, được mở ra từ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) chỉ rõ: Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co. Song loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Qua hai mươi năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1991-2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định tinh thần đó và bổ sung thêm: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(13), con đường do Cách mạng Tháng Mười khai phá.

Ngay từ khi đi vào đổi mới, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã khẳng định dứt khoát rằng đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là tìm ra những biện pháp, cách thức thực hiện mục tiêu đó nhanh hơn, có hiệu quả hơn. Đó chính là sự kiên định lý tưởng và mục tiêu của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười.

Đặc biệt, nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt là: Đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Chỉ với nguyên tắc ấy, Đảng và nhân dân ta mới từng bước hiện thức hóa con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn – con đường Cách mạng Tháng Mười. Điều cần khẳng định là con đường do Cách mạng Tháng Mười vạch ra nói chung, những bài học kinh nghiệm của nó nói riêng vẫn có trong hành trang của mỗi chúng ta hôm nay.

——————————————-

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 10, tr. 126
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr. 558-559
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr. 301
(4))Hồ Chí Minh: Sđd, t. 12, tr .300
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 2, tr. 219
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t.9, tr. 314
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.565

(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t.2, tr. 209
(9) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.570-571
(10) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.585
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr.l 577
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t.12, tr.309
(13)Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69

Theo Tạp chí Cộng sản
Nguyễn Khánh Bật
PGS, TS, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và võ thuật (phần 2)

Bác Hồ đánh bóng chuyền ở Việt Bắc. Ảnh: Internet

(DVT.vn) – Tập quyền giúp Bác ngủ ngon nhưng ban đầu các cơ bị đau như dần! Ngay trong những ngày đầu sau cách mạng, Bác đã tập võ mỗi ngày hai lần.

Chúng tôi tìm một phòng, mở cửa sổ, bật đèn và bắt đầu tập. Bác học các động tác rất nhanh và biểu diễn hoàn hảo. Tôi hướng dẫn Bác một mạch hết 52 động tác. Sau đó tôi đề nghị Bác đi ngủ vì sợ Bác mệt.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm để tập dùng tay đánh vào một gốc cây cổ thụ. Trên đường ra sân, tôi thấy Bác đang biểu diễn rất thuần thục các động tác mà tôi đã hướng dẫn Bác đêm trước. Người Bác đẫm mồ hôi. Thấy tôi, Bác đùa: “Gớm, quyền của chú làm Bác đêm qua ngủ một giấc thật đã cả mắt. Nhưng các cơ bắp thì đau như dần! Cơ thì đau nhưng hai đầu gối của Bác bị bệnh khớp mọi hôm đau thế, giờ lại giảm. Từ nay, chú nhớ tối và sáng, hai bác cháu phải tập quyền thường xuyên. Bác sẽ tập quyền thật thạo để rồi chú còn dạy cho Bác vài miếng võ nữa chứ!”.

Bác Hồ rèn luyện sức khỏe hàng ngày

Sau đó, dù làm việc ở đâu, tại Bắc Bộ phủ hay những nơi bí mật khác ở Hà Nội, hai bác cháu vẫn luôn tập luyện hai lần một ngày. Một hôm, khi tôi xuống tấn tập đánh thẳng ra phía trước bằng cả hai tay, Thấy tôi đổ nhiều mồ hôi và cơ đùi căng ra, Bác nói:

– Chú có thể đánh như thế trong bao lâu?

– Tôi nói với Bác rằng tôi thường xuyên tập bài này, nên tôi có thể đánh hàng giờ liền.

Bác mỉm cười, nói:

– Ước gì Bác còn ở tuổi chú, tập môn này có khi bệnh đau khớp gối của Bác cũng phải thua.

Trong giờ giải trí ở phía dưới nhà sàn.

Sau đó, chúng tôi tới đền Ngọc Sơn cùng dự lễ hái lộc cầu may. Đêm đó, Bác ngủ lại tại số 8 phố Thủy Tạ (nay là phố Lê Thái Tổ), chứ không về Bắc Bộ phủ. Mặc dù đi ngủ muộn, sáng hôm sau, Bác vẫn dậy đúng 5 giờ và gọi:

– Chú Kháng! Dậy đi, Bác cháu mình khai xuân bài quyền cho ấm!

– Chúng tôi thực hiện các động tác hai lần. Sau đó Bác tập điều hòa hơi thở trong khi tôi xuống tấn, tập đấm.

Bác hỏi tôi:

– Chú xuống tấn, Bác xô chú thật mạnh, liệu có đổ không?
– Tôi nói với Bác rằng xô ngã tôi hơi khó. Bác xô mạnh tôi ba lần từ phía sau và từ hai bên sườn, nhưng tôi đều không ngã.

Bác khen tôi và nói:

– Chú nhớ phải tập cho tất cả anh em trong tổ, nhưng nhớ tập thường xuyên. Văn ôn võ luyện thì mới tốt. Cả tổ của chú đều khỏe, đều giỏi võ, thì còn gì bằng./.

Theo Hoàng Hữu Kháng (dvt.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và võ thuật (phần 1)

Bác Hồ tập võ. (Ảnh: Internet).

(DVT.vn) – Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi là tên tám cán bộ giúp việc Bác Hồ. Ông Hoàng Hữu Kháng nằm trong số đó. Sau đây là lời kể của ông.

Khoảng cuối tháng Tám năm 1945, tôi được lệnh rời căn cứ kháng chiến Việt Bắc về Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới. Tôi vô cùng phấn khởi khi biết mình sẽ trở thành một chiến sỹ cảnh vệ của Bác Hồ.

Trước khi tôi lên đường, anh Nguyễn Lương Bằng, người sau này trở thành Phó Chủ tịch nước Việt Nam, gặp tôi và nói, đại ý: Cậu rất giỏi võ. Mình được biết, tay không vũ khí, thế mà cậu vẫn có thể cứu đồng chí Bí thư Huyện ủy Tiền Hải thoát khỏi mật thám Pháp ở tỉnh Thái Bình. Bọn chúa ngục ở Nhà tù Sơn La đều biết mình cậu hạ gục năm tên lính có vũ khí và giải thoát cho sáu đồng chí bị giam giữ.

Bây giờ Bác đã về Hà Nội. Tình hình ở đó tuy yên ắng, nhưng rất nhiều hoạt động chống Chính phủ vẫn đang âm ỷ phát triển. Thực dân Pháp đang cố tình khiêu khích ta có hành động quân sự. Bác đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang của ta hết sức kiềm chế. Nếu chỉ một phát súng từ phía ta bắn ra là có thể khiến thực dân Pháp tấn công ngay. Bác phải đi lại nhiều trong thành phố và cần phải bảo đảm an toàn cho Bác. Bởi thế Ban Chấp hành Trung ương Đảng điều cậu làm cảnh vệ cho Bác.

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc.

Sau đó, anh Nguyễn Lương Bằng trao cho tôi một khẩu súng lục còn mới và mấy chục viên đạn. Tôi rất phấn khởi với khẩu súng mới và những viên đạn đồng sáng loáng. Thế nhưng anh Nguyễn Lương Bằng lại nói thêm: “Mình hy vọng cậu sẽ hoàn thành nhiệm vụ mà không phải dùng đến khẩu súng này.”

Tôi đã được gặp Bác khi còn ở Việt Bắc. Bác sống rất giản dị. Ở Hà Nội, Người vẫn duy trì nếp sống giản dị này. Người làm việc suốt ngày đêm. Tôi phụ trách một tổ cảnh vệ sáu người, trong đó có anh Vũ Kỳ, Thư ký của Bác

Đối với chúng tôi thì chuyện đánh nhau đương nhiên là một phần công việc. Mỗi chiến sỹ cảnh vệ được giao một khẩu súng lục, nhưng vì đều đã sử dụng vũ khí rất thành thạo, nên chúng tôi chú trọng học võ và học cách phát hiện những hành động khả nghi quanh Bác khi Người đi đây đi đó.

Hàng ngày (có lúc vào ban đêm), sau khi chúng tôi giao cho một thành viên trong tổ làm công việc bảo vệ Bác, số còn lại tìm một căn phòng trống trong Bắc Bộ Phủ, đóng cửa lại tập võ. Chúng tôi luôn khởi động bằng những động tác võ theo quy định. Sau đó, chúng tôi tập đứng tấn, phòng thủ và tấn công các vị trí, rồi những động tác cơ bản như đấm, đỡ gạt và đá.

Bác Hồ rèn luyện thân thể hàng ngày

Một hôm, Bác đến thăm trong khi tôi đang dạy bài quyền có tên “bát bộ”. Tôi nói với Bác rằng bài quyền bao hàm tất cả những động tác và tư thế cơ bản trong võ thuật. Lúc đó gần đến bữa tối nên tôi nghĩ rằng Bác chỉ xem thôi. Nhưng Người lại cởi áo, tháo dép, rồi đứng vào hàng và cùng tập với nhóm. Tôi hết sức ngạc nhiên không nói được gì khi thấy Bác bảo: “Chú Kháng huấn luyện cả cho Bác nữa, nhưng nhớ là Bác chỉ tập ngoài giờ thôi đấy nhé.” Chúng tôi tập thêm một vài động tác với Bác, rồi nghỉ ăn tối.

Khoảng ba, bốn ngày sau, khi tôi đang canh gác ngôi nhà Bác ở thì Người đến chỗ tôi và bảo:

– Tối nay chú gác à?

– Vâng, thưa Bác. Tôi đáp.

Bác gấp tờ báo đang đọc dở và bảo:

– Thế thì Bác và chú đi tập võ. Chú khóa cửa phòng Bác lại thế là xong.

Theo Hoàng Hữu Kháng (dvt.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh học với tư cách những môn khoa học

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong các văn kiện Nghị quyết của Đảng, Đảng ta đã khăng định: cùng với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam, nền tảng tư tưởng của sự nghiệp đổi mới, là ý thức hệ chủ đạo của đời sống tinh thần xã hội. 

Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một yêu cầu bức xúc, có tính thời sự hiện nay. Đó còn là yêu cầu cơ bản, lâu dài, có tầm quan trọng chiến lược đối với việc xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN để thực thi quyền lực nhân dân, làm cho nhân dân trở thành người chủ đích thực của xã hội, củng cố sự bền vững của chế độ bởi sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bởi sự gắn bó máu thịt giữa dân với Đảng, với Nhà nước của mình.

Yêu cầu khách quan đó của sự nghiệp đổi mới để phát triển xã hội và phát triển dân tộc, chấn hưng kinh tế và văn hóa đã đặt ra những nhiệm vụ to lớn đối với công tác tư tưởng, nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội – nhân văn ở nước ta. Đổi mới cũng tạo ra cơ hội và môi trường thuận lợi cho sự phát triển lý luận và KHXH-NV ở nước ta, nhất là từ Đại hội VII (1991) tới nay.

Trong khung cảnh xã hội đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một trọng điểm của hoạt động nghiên cứu lý luận, của KHXH-NV ở nước ta. Lần đầu tiên, một chương trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh ở tầm quốc gia đã được xác lập trong hệ thống các chương trình nghiên cứu KHXH-NV. Đó là một trong mười chương trình nghiên cứu KH-CN cấp Nhà nước, mang mã số KX.02 được triển khai trong 5 năm (1991- 1995) do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm Chủ nhiệm.

Chương trình nghiên cứu này, sau 5 năm thực hiện đã thu được nhiều thành tựu, tuy mới là bước khai phá mở đầu nhưng rất quan trọng, góp phần tích cực vào cuộc vận động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong Đảng và trong xã hội. Mặt khác, từ những kết quả nghiên cứu này mà tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một môn khoa học đã ra đời ở nước ta, đã chính thức được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường ở bậc Đại học và Cao đẳng. Các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo về KHXH-NV (1996-2000 và 2001-2005) vẫn tiếp tục đặt vấn đề nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh như một trọng điểm của công tác nghiên cứu lý luận và công tác giáo dục tư tưởng chính trị trong toàn Đảng, toàn dân. Nó thấm sâu vào tất cả các chương trình, các đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu KHXH-NV ở nước ta.

Một sự kiện quan trọng là, Hội đồng Trung ương chỉ đạo việc biên soạn các gíáo trình quốc gia về các môn khoa học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã sớm được thành lập. Sau nhiều năm nghiên cứu và biên soạn, hệ thống giáo trình quốc gia về các môn khoa học nói trên đã hoàn thành, được phê duyệt và xuất bản, cung cấp những định hướng tư tưởng và học thuật để tiếp tục xây dựng. Các giáo trình, giáo khoa cho các nhà trường Đại học và Cao đẳng của cả nước, phù hợp với ngành nghề đào tạo lần đầu tiên, giáo trình quốc gia về tư tưởng Hồ Chí Minh đã đuợc công bố, chính thức định hình môn khoa học non trẻ nhưng đầy triển vọng này. Về lâu dài, cần xây dựng đầy đủ các điều kiện để đào tạo cơ bản, dài hạn và chuyên sâu, hình thành một đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp có trình độ hhoa học và sư phạm cao về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta chẳng những đã định hình môn khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn xây dựng ngành khoa học nghiên cứu Hồ Chí Minh mang tên Hồ Chí Minh học. Cùng với chính trị học và các khoa học chính trị đã có, trong bức tranh KHXH-NV của nước ta, từ nay đã có thêm Hồ Chí Minh học. Ngành khoa học này ra đời sẽ làm cho ”Đất nước học”, ”Dân tộc học”, ”Việt Nam học” của nước ta trở nên sống động, phong phú, sâu sắc, mới mẻ và hiện đại hơn nhiều. Bởi vì, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với đạo đức, nhân cách và lối sống của Người, cả cuộc đời và sự nghiệp của Người với tầm vóc của một nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà tổ chức thiên tài, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới… chung đúc lại là sự kết tinh và thăng hoa từ những gì ưu tú, tốt đẹp nhất của đất nước, dân tộc, con người Việt Nam, của trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, của truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam. Có thể rút ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Hồ Chí Minh học làm cơ sở cho việc phân tích lý luận và thực tiễn về phương pháp giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường ở nước ta hiện nay.

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là nội dung lý luận của Hồ Chí Minh học với tư cách là một khoa học. Nếu Hồ Chí Minh học là khoa học nghiên cứu về Hồ Chí Minh thì nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành của khoa học này. Đây là bộ phận cốt lõi, chủ yếu nhất. Khoa học nghiên cứu các vĩ nhân, danh nhân chú trọng trước hết và chủ yếu tới nghiên cứu tư tưởng, học thuyết của họ.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nghiên cứu Hồ Chí Minh trên phương diện lý luận, hoạt động lý luận, thế giới quan và hệ tư tưởng của Người. Bao quát một phạm vi rộng hơn, đa diện hơn, không chỉ là tư tưởng mà còn là cuộc đời – sự nghiệp, hoạt động thực tiễn, đấu tranh chính trị, hoạt động xã hội, sáng tạo văn hóa… Đó chính là hệ vấn đề mà Hồ Chí Minh học nghiên cứu. Là khoa học nghiên cứu vĩ nhân, Hồ Chí Minh học còn phải nghiên cứu tiểu sử, xây dựng hệ thống Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh. Vậy là nghiên cứu Hồ Chí Minh có phạm vi bao quát rộng hơn nhiều so với nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhìn theo quan điểm hệ thống và chỉnh thể thì có thể thấy hai lĩnh vực nghiên cứu này có quan hệ mật thiết, không tách rời nhau, dù mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều có tính độc lập tương đối, có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng, có đặc trưng và đặc thù riêng. Chỉ có nghiên cứu thấu đáo tư tưởng Hồ Chí Minh thì khoa học về Hồ Chí Minh mới thực sự sâu sắc, mới thực sự là một khoa học. Nhưng tính đúng đắn, chân thực và sự sâu sắc của nghiên cứu tư tưởng, lý luận chỉ có thể đạt được nếu đặt tư tưởng trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp của Người. Hơn nữa cuộc đời, sự nghiệp ấy lại không tách rời khỏi lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, không thoát ly khỏi hoàn cảnh xã hội và thời đại, thế giới và quốc tế – như những nhân tố tác động tới sự hình thành tư tưởng của Người, ảnh hưởng tới cuộc đời tranh đấu hơn 6 thập kỷ và sự nghiệp của Người – sự nghiệp của một nhà chính trị chuyên nghiệp.

Những mối quan hệ này lại có thể hình dung là quan hệ giữa hoạt động lý luận với hoạt động thực tiễn chính trị của Hồ Chí Minh, là sự phát triển lôgíc của Hồ Chí Minh từ nhận thức tới hành động, từ lý luận tới thực tiễn và thực hành đấu tranh cách mạng. Tư tưởng phản ánh thực tiễn và thực tiễn được kết tinh, được khái quát thành tư tưởng trong hình thức lý luận.

Thứ hai, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nghiên cứu tư tưởng của bất cứ một vĩ nhân, một nhà tư tưởng nào, nhất là khi nhân vật lịch sử ấy đã qua đời, nghĩa là đã kết thúc những hoạt động, đã lùi vào quá khứ và để lại di sản thì lẽ đương nhiên phải chú trọng nghiên cứu tác phẩm mà họ để lại. Do đó, một trong những phương pháp đặc trưng của nghiên cứu tư tưởng và lịch sử tư tưởng là phương pháp phân tích văn bản theo trật tự thời gian để qua lịch sử mà tái tạo lại lôgíc tư tưởng của vĩ nhân. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất, đây chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ và không đủ. Tác phẩm không tồn tại biệt lập bên ngoài cuộc đời và sự nghiệp của tác giả. Tác phẩm cũng không tự nó hình thành mà nó là sự phản ánh, một sự vang vọng bởi những biến cố, thăng trầm của thời đại lịch sử. Tác phẩm cũng không tự biến mình thành cứu cánh, thành mục đích tự thân, không phải là toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của vĩ nhân, nó có thể chỉ là chỗ lấp lánh, là một phần tiêu biểu, máu thịt của tâm hồn và tư tưởng của họ.
Vậy là, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được tìm thấy trong trước tác, văn phẩm của Người mà còn phải được nhận chân trong hoạt động thực tiễn phong phú của Người, hơn 6 thập kỷ tranh đấu, hy sinh, từ lúc Người quyết định ra đi, bôn ba góc bể chân trời tìm đường cứu nước cho đến giây phút cuối cùng, khi trái tim ngừng đập và khối óc ngừng suy nghĩ, đi vào cõi vĩnh hằng và để lại muôn vàn tình thương yêu dành cho con người và nhân loại (1911-1969).

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là hệ thống quan điểm lý luận, hệ thống các luận điểm khoa học (bao gồm cả những dự báo, những tiên đoán khoa học) về cách mạng Việt Nam, về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, về chiến lược và sách lược cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, giành chính quyền vào tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiến dần từng bước tới CNXH, xây dựng chế độ XHCN về mọi mặt, về biện pháp, cách làm, bước đi trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam… mà hệ thống tư tưởng đó đồng thời còn là hệ thống phương pháp, phương pháp cách mạng, phương pháp tư duy, phương pháp ứng xử, giao tiếp, đối thoại với con người. Tư tưởng và phương pháp ấy quyện chặt vào nhau, thể hiện thành phong cách của Người. Như đã nói, đó không chỉ là trí tuệ và tư tưởng mà còn là đạo đức và nhân cách, là lối sống và văn hóa Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi luận điểm, mỗi nguyên lý tư tưởng không chỉ có giá trị và ý nghĩa nhận thức mà còn là những chỉ dẫn về phương pháp hành động. Đó vừa là thế giới quan vừa là nhân sinh quan, 1à phương pháp luận đồng thời là ý thức hệ. Thống nhất giữa lý luận với phương pháp, thống nhất giữa tư tưởng với phương pháp và phong cách, giữa lý luận và thực tiễn, đem lý luận ứng dụng vào thực tiễn, từ thực tiễn tổng kết và khái quát hóa thành lý luận. Đó 1à một đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đặc điểm ấy ta thấy rõ tư duy biện chứng và năng lực thực hành phép biện chứng vào đời sống xã hội và hoạt động thực tiễn của Người.

Ở Hồ Chí Minh, thực tiễn hóa lý luận gắn liền với lý luận hóa thực tiễn một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, thành thục, không một chút nào gò ép. Người hiểu lý luận một cách thấu đáo nên làm chủ được lý luận. Người nắm bắt chính xác bản chất của thực tiễn, xu hướng vận động của nó, nên những dự báo của Người như là hệ quả hợp lôgíc của sự phân tích khoa học về thực tiễn, nhờ đó mà đúng đắn, phù hợp, được thực tiễn chứng thực. Người xa lạ với mọi biểu hiện giáo điều, chủ quan và tư biện. Người cũng vượt ra khỏi tính hình thức, khuôn sáo và cứng nhắc, tính thực dụng, thiển cận của chủ nghĩa kinh nghiệm thông tục Nhờ đó, thực tiễn Hồ Chí Minh là thực tiễn được khoa học hóa, được lý luận soi sáng dẫn dắt, nó xa lạ với lý luận suông và thực tiễn mù quáng. Hồ Chí Minh nhìn thấy giá trị bản chất ấy ở trong sự thống nhất lý luận với thực tiễn. Bởi vậy, Người căn đặn những người cách mạng: Học chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc lòng câu chữ mà điều cốt yếu là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó, để ứng xử với công việc và con người.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh học là đối tượng của nghiên cứu khoa học vừa chuyên ngành vừa liên ngành và đa ngành, đồng thời là nội dung lý luận được truyền thụ cho mọi loại hình đối tượng đào tạo.

Giảng dạy và nghiên cứu khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh là hai lĩnh vực khác nhau, chúng tồn tại riêng, thống nhất chứ không đồng nhất, thống nhất trong khác biệt, thống nhất trong đa dạng.

Dù có những khác biệt nhưng giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đều có chung mục đích, mục tiêu khi tác động tới đối tượng, khi truyền ảnh hưởng, tác dụng của tư tưởng Hồ Chí Minh vào đời sống cá nhân và xã hội. Đối với bậc Cao đẳng, Đại học trở lên, giảng dạy và nghiên cứu khoa học gắn liền nhau, giảng đạy chỉ thực sự có kết quả khi việc giảng dạy đó đặt trên nền tảng của nghiên cứu khoa học và người giảng dạy không chỉ là chủ thể giáo dục sư phạm mà còn là chủ thể nghiên cứu sáng tạo, nhà sư phạm đồng thời phải là nhà khoa học, phải thực sự nghiên cứu khoa học để giảng dạy thực sự có tầm tư tưởng và khoa học, có những tìm tòi sáng tạo, những phát hiện mới mẻ về khoa học.

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Tạp chí Tư tưởng – Văn hoá số 1, năm 2005

cpv.org.vn

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta

(ĐCSVN) – Ngày 05 tháng 6 năm 1911, từ bến Cảng Sài Gòn, với hoài bão lớn lao, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã đi rất nhiều nơi, từ Pháp, Người đã đến nhiều nước khác ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Người đã đến quê hương của Cách mạng Tháng Mười Nga, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với bản Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa…

Trong quá trình vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta giành được những thắng lợi to lớn, Người khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử hoạt động lãnh đạo của Đảng và của quá trình cách mạng Việt Nam từ khi thành lập Đảng đến nay, “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là một luận điểm cực kỳ quan trọng được khái quát, rút ra từ thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nó chỉ ra nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, được lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối.

Từ thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và trong công cuộc xây dựng đất nước, nhất là từ thực tiễn phong phú, sinh động và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được trong công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, những biến đổi trên thế giới nhanh chóng, phức tạp, khó lường; những vấn đề mới đặt ra trong đời sống xã hội ngày càng nhiều, càng đòi hỏi phải có những lời giải đáp thuyết phục, có cơ sở lý luận và thực tiễn. Trong lúc đó, các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn hòng xuyên tạc, phủ nhận từng luận điểm trong học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đi tới xoá bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, hơn lúc nào hết, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định, bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam đang trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta hiện nay.

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, chưa một học thuyết chính trị xã hội nào mà ngay từ khi mới xuất hiện lại thu hút sự quan tâm nghiên cứu, đấu tranh giữa các lập trường tư tưởng đối lập nhau như sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin. Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng đó đã diễn ra ngay từ khi chủ nghĩa Mác – Lênin mới ra đời cho đến ngày nay. Điều đó không phải ngẫu nhiên, bởi vì chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học, sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin đã thực sự giải đáp được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống của toàn nhân loại đặt ra. Trong lúc toàn bộ hệ thống lý luận của hệ tư tưởng tư sản đều tìm cách chứng minh cho việc duy trì sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, thì ngược lại, chủ nghĩa Mác – Lênin đã tuyên chiến với hệ tư tưởng tư sản, khẳng định sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Chính vì thế mà chủ nghĩa  Mác – Lênin đã “gây ra” sự thù địch mạnh nhất và lòng căm thù lớn nhất của giai cấp tư sản.

Lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản và bọn cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin đã xuyên tạc rằng chủ nghĩa cộng sản không phải là tương lai của loài người. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc, tấn công quyết liệt chủ nghĩa Mác – Lênin, lớn tiếng cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, rằng chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thế kỷ XXI không còn phù hợp nữa, rằng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lênin !

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác – Lênin không những không lỗi thời, lạc hậu như ai đó vẫn rêu rao, mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò là kim chỉ nam cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các dân tộc trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, là nhà tư tưởng vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người đã nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Mác – Lênin, vận dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của nước ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc thực sự đã cổ vũ, khích lệ cuộc đấu tranh của nhiều dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Trong thời đại ngày nay tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc đã được thế giới thừa nhận như là tư tưởng góp phần làm biến đổi bộ mặt thế giới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào cuộc sống, đã trở thành những giá trị văn hoá bền vững không chỉ riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản chung của nhân loại.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong quá trình tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta đã giành được sau hơn 25 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn gắn liền với học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định chỉ có trên cơ sở trung thành, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam thì Đảng mới có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng và mới tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối.

Những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tiếp tục soi sáng con đường phát triển đi lên của nhân loại, trong cuộc đấu tranh cho mục tiêu cao cả là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng nước ta vẫn tiếp tục toả sáng trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, lợi dụng những khó khăn, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, những khó khăn của tình hình trong nước, các thế lực thù địch càng ra sức chống phá cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam, công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, thì những diễn biến trong đời sống xã hội, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, chạy theo lối sống thực dụng, giảm sút niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

Trước tình hình đó, càng đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết, một yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Kiên định, khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta, trước hết Đảng phải trung thành, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, tình hình cụ thể của cách mạng Việt Nam, không máy móc, giáo điều. Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận để tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước, trên cơ sở đó đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử.

Cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong quá trình nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin cần đi sâu làm rõ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đã hoàn toàn đúng đắn từ lúc mới ra đời cho đến nay vẫn đúng. Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ đúng và phù hợp trong điều kiện lịch sử lúc đó, đến nay đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua. Những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng nhưng những người vận dụng nó đã hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc nên vận dụng không đúng. Những luận điểm cần được bổ sung, phát triển mà chủ nghĩa Mác – Lênin chưa đề cập đầy đủ, toàn diện phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới và những luận điểm hoàn toàn mới mà chủ nghĩa Mác – Lênin chưa từng đề cập đến.

Trung thành và kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là phải nắm vững mối quan hệ giữa kiên định và phát triển, tức là phát triển trên cơ sở kiên định nguyên tắc cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, với xu thế thời đại. Thực tiễn luôn biến đổi, phát triển, nên lý luận Mác – Lênin cũng cần được bổ sung, đổi mới, phát triển nếu chúng ta không muốn lạc hậu so với cuộc sống. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống mở, không thể coi những nhận thức đạt được cho đến ngày nay là những chân lý tuyệt đích cuối cùng. Không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vừa là yêu cầu của thực tiễn xã hội vừa là yêu cầu nội tại  của học thuyết Mác – Lênin. Có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác – Lênin mới tự bảo vệ được mình, mới phát huy được sức mạnh, sức sống của mình đối với thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Vì vậy bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là phát huy sức mạnh, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta.

Đi đôi với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cần tổ chức nghiên cứu, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ những luận điểm chung đến những luận điểm cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy đảng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo đảm các hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Huy động lực lượng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu lý luận, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan truyền thông, báo chí… tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch. Nâng cao chất lượng đấu tranh phản bác, tiến công tư tưởng, lý luận chống các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng tăng hàm lượng khoa học, tăng độ sâu lý luận, cập nhật thông tin, luận cứ, luận chứng sắc bén, có lý, có tình, có sức thuyết phục cao. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến vấn đề đấu tranh dưới nhiều hình thức. Quan tâm đầu tư kinh phí, phương tiện, điều kiện cho các hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Ngày nay tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng khó khăn, phức tạp hơn. Việc bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải có cơ sở lý luận, thực tiễn và bằng hành động cách mạng thiết thực cụ thể. Phải từng bước hiện thực hoá mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Phải chứng minh trên thực tế tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng kết quả hiện thực, bằng những thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kinh tế phát triển năng động, mức tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua liên tục được giữ vững; môi trường chính trị, văn hoá, xã hội ổn định và phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, khẳng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Điều đó là một minh chứng sinh động, khẳng định Đảng ta đã tuyệt đối trung thành và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của cách mạng nước ta. Song chúng ta cũng cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường mà chúng ta đang đi tới là không dễ dàng, bằng phẳng mà phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ. Nhưng chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nhất định sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước sẽ thu được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội./.

Thiếu tướng, PGS. TS Nguyễn Vĩnh Thắng
(Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự – Bộ Quốc phòng)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh – Tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta – Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện Đại hội IX của Đảng – Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong Báo cáo Chính trị của Ban cấp hành TW trình bày tại Đại hội lần thứ IX của Đảng ở ngay phần “Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, đã khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dụng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khẳng định này là sự tổng kết khoa học thực tiễn phong phú của cách mạng nước ta trong nhiều nǎm qua, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Bài viết này xin góp phần làm rõ thêm quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ngày nay.

1- Trên con đường nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Vǎn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam nǎm 1991 đã ghi rõ: “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cách mạng”. Có phải đây là lần đầu tiên Đảng ta nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh? Và sự nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó đến nay phát triển như thế nào? Thật ra, ngay trong các vǎn kiện do Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh khởi thảo và được thông quá từ Hội nghị thành lập đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 nǎm 1930, đường lối, những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh để được thể hiện.

Những vǎn kiện đầu tiên của Đảng như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng tuy là khởi thảo, rất ngắn gọn, nhưng đã hàm chứa con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là: “Tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ phong kiến… Tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung, đánh đổ các đảng phái phản cách mạng như Đảng Lập hiến…” (trích Chương trình tóm tắt của Đảng” (1) và “tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản” (trích Tôn chỉ của đảng cộng sản Việt Nam) (2).

Như vậy, trong các vǎn kiện lịch sử này tuy chưa đưa ra khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh”, nhưng tư tưởng của Hồ Chí Minh đã chỉ ra con đường phát triển của cách mạng Việt Nam; là cơ sở, nền tảng đường lối của Đảng ta. Đó là con đường cách mạng triệt để: con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đến Hội nghị TW lần thứ VIII tháng 5-1941, tư tưởng về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam được bổ sung và phát triển thêm một bước, góp phần tích cực tạo thành chiến công của Cách mạng Tháng 8 – 1945: Phá tan xiềng xích Pháp Nhật, thành lập nước Việt Nam mới.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong đường lối kháng chiến kiến quốc, trong đường lối chính trị của Đảng ta. Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tác phong đạo đức, những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh là yếu tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến là thành nguồn cổ vũ, động viên quân và dân ta kháng chiến thắng lợi. Vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng – Đại hội kháng chiến, Đảng ta đã chỉ ra mối quan hệ khǎng khít giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng ta: “Đường lối chính trị, nề nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta là đường lối, tác phong và đạo đức của Hồ Chủ tịch…”. Vì vậy: “Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch, sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng ta mạnh và làm cho cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn” (3).

Trong những nǎm tháng kháng chiến gian lao, chính “đường lối tác phong đạo đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nhân tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến của dân tộc, động viên quân dân làm nên thắng lợi của kháng chiến. Đã hàng nhiều thập kỷ Đảng ta tổng kết những yếu tố làm nên những chiến thắng của dân tộc nhưng chưa có điều kiện đặt ra vấn đề nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh như một nhiệm vụ tương ứng với tầm quan trong vốn có của nó.

Tình hình trên đây có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do bận kháng chiến. Thứ hai, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến quyền lợi, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, thường “hoãn” lại những công việc ca ngợi công đức hay việc tổ chức Ngày sinh của Người.

Còn nhớ, sau Cách mạng Tháng Tám, chính Người đã khuyên nhà báo đến Phủ Chủ tịch xin viết tiểu sử của Người rằng: “chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi ! Còn tiểu sử của tôi… thong thả sẽ nói đến” (4). Có lần, tại cuộc gặp gỡ với đông đảo quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc một phóng viên liên tục chĩa máy quay phim về Người rằng: Chú hãy hướng máy quay về phía nhân dân đi !. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, không ít lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bố trí đi công tác địa phương trong dịp sinh nhật của Người. Tấm gương trong sáng, vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nguồn cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân nghe theo Đảng, Bác, phục vụ kháng chiến. Cả dân tộc tôn kính Người, gọi Người là vị “Cha già dân tộc” (5).

Mặt khác, đây cũng là một lý do làm cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có phần muộn hơn so với tầm quan trọng vốn có của nó. Là Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh sớm thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Trường Chinh là người lãnh đạo cấp cao của Đảng ta sớm có những tổng kết, những bài viết có giá trị khoa học, chính trị cao về Chủ tịch Hồ Chí Minh (như “Hồ Chủ tịch – người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta”, “Kính chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ sống lâu” nǎm 1951). Tuy nhiên cũng phải đến giữa nǎm 1960, nhân địp kỷ niệm 70 nǎm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh thì khái niệm “Tư tường” mới được đề cập đến trong việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Trong bài viết : “Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam”, đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ mối quan hệ máu thịt giữa Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, giữa vai trò to lớn của tư tưởng đạo đức của Người đối với việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho cán bộ đảng viên. Đồng chí Trường Chinh viết: “Ngày 19 tháng 5 nǎm nay, đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch kiêm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, vừa đúng 70 tuổi. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ra sức thi đua yêu nước lấy thành tích chúc thọ vị lãnh tụ kính yêu của mình. Nhân dịp này, chúng ta hãy ôn lại tiểu sử và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, tìm hiểu và học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người để phục vụ nhân dân được tốt hơn” (6).

Đây là cái mốc quan trọng đánh dấu sự nhận thức của Đảng ta đối với vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề cần được ghi nhận ở ngay mốc đầu tiên này là đồng chí Trường Chinh và Đảng ta đã sớm thấy rõ bản chất cách mạng, vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân. Trên thực tế, đường lối chính trị, tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn góp phần tích cực tạo dựng đường lối của Đảng ta. Tuy nhiên phải từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, việc nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng của Người mới được triển khai mạnh hơn. Đặc biệt là, bầu bạn, đồng chí quốc tế và không ít người trước đây đã từng “đối diện” với Hồ Chí Minh lại sớm có nhiều công trình nghiên về Người từ nhiều giác độ.

Có nhiều người đánh giá rất cao về Hồ Chí Minh, không chỉ về tư cách một chính khách, người anh hùng giải phóng dân tộc mà cả về tư cách nhà vǎn hoá lớn – một phẩm chất, một tư cách mà nhiều người Việt Nam còn chưa thấy được. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) đã tiến thêm một bước trong việc đánh giá về ý nghĩa vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội xác định nhiệm vụ to lớn trước mắt là: “Đảng ta phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Hơn thế, Đảng ta còn khẳng định trong các vǎn kiện Đại hội chính thức rằng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.(7)

Đây là mốc có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định đúng đắn vị trí tư tưởng Hồ Chí Minh đối với toàn bộ tiến trình của cách mạng Việt Nam. Đây là “một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận Đảng”(8). Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, bước phát triển này đã được chuẩn bị từ rất lâu. Có thể kể ra từ Đại hội lần thứ hai của Đảng nǎm 1951, khi Đảng ta đặt vấn đề học tập đường lối, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Nǎm 1991 là thời điểm tổng kết kinh nghiệm, bài học của cách mạng Việt Nam trong hơn 40 nǎm mà rút ra kết luận quan trọng về tư tưởng Hồ Chí Minh.

2- Phát huy sức mạnh cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới.

Nửa đầu những nǎm 80, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa khác lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Đối mặt trực tiếp với tình trạng này, mỗi nước đều ra sức tìm kiếm con đường thoát khỏi khủng hoảng, truy tìm “chủ thuyết” xây dựng lý luận mới phù hợp với con đường giữ gìn và chấn hưng đất nước trong tình hình mới. Đối với Trung Quốc, đó và con đường cải cách mở cửa, đối với Liên Xô là Cải tổ. Còn đối với Việt Nam là Đổi mới. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác cũng cố gắng tìm con đường đi cho mình, nhưng phần lớn họ đã không thành công.

Dẫn ra bối cảnh trên đây để thấy rằng: Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho Đảng ta là một sự lựa chọn lịch sử, là cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận. Đây là sự lựa chọn chưa có trong lịch sử, chưa có tiền lệ. Sự lựa chọn đúng sai sẽ liên quan đến vận mạng của cả dân tộc. ở đây cần thấy rõ cả 2 mặt của vấn đề lựa chọn. Một là, bản chất cách mạng triệt để, tính nhân đạo sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin là một yếu tố để Đảng và dân tộc ta lựa chọn làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động. Hai là, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã mang trong mình tính cách mạng triệt để, tính chủ động sánh tạo trong mọi hoàn cảnh, nên trước bối cảnh cực kỳ khắc nghiệt này, Đảng ta đã sáng suốt khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận, chỗ dựa tinh thần cho việc giữ vững độc lập và chấn hưng đất nước.

Và trên thực tế đó là sự lựa chọn cực kỳ đúng đắn. Đảng ta tiếp tục dẫn đường đi cho dân tộc trong bối cảnh khủng hoảng. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam đang phát triển với những triển vọng tốt đẹp. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở của công cuộc Đổi mới. Chính vì vậy, đến Đại hội lần thứ VII (1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối của mình. Trong 6 bài học được rút ra sau 10 nǎm đổi mới, thì bài học thứ nhất là: Phải “kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Cùng với: giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc) (9). Đến Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm phần quan trọng trong đường lối chiến lược của Đảng.

Lần đầu tiên, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày khá đầy đủ trong Vǎn kiện của Đại hội, trong phần “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đó là: “Tư tương Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiệu cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hoá của nhân loại.

Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn nền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về phát triển kinh tế và vǎn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chǎm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” (10). Vǎn kiện còn khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”(11).

Việc khẳng định một lần nữa: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnhd dạo đã chỉ ra rằng : mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn liền với đường lối cách mạng mang tính triệt để và sáng tạo của Đảng ; trong đó : tư tưởng Hồ Chí Minh là một yếu tố cực kỳ quan trọng đảm bảo cho đường lối của Đảng luôn mang tính cách mạng và sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.

Ngày nay, khi công cuộc đổi mới càng triển khai toàn diện, đi vào bề sâu thì Đảng ta càng tìm thấy ở tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều quan điểm, kinh nghiệm quý báu. Bởi vậy, Đảng ta, một lần nữa trong các vǎn kiện Đại hội IX đã trình bày khá toàn diện về nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, ở một vị trí cực kỳ quan trọng trong vǎn kiện : “Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Đây là một sự khẳng định và một sự đảm bảo chắc thắng cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Cố Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đã có lần chỉ cho chúng ta giá trị của nguồn tài sản này : tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy quý báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, gia trị đó nói cho cùng là giá trị vǎn hoá mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu./.

TS. Lê Vǎn Tích
Phó viện trưởng Viện Hồ Chí Minh

cpv.org.vn

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới

Với kết quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, Ðại hội IX của Ðảng đã nói rõ hơn những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh để định hướng cho toàn Ðảng, toàn dân học tập và vận dụng thực hiện trong giai đoạn mới.

Trong những năm đầu thế kỷ 21, đất nước ta có cơ hội lớn và cả thách thức không nhỏ. Tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường. Ðể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề nóng bỏng mà thực tiễn đang đặt ra; nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh phải trở thành một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Ðảng, cần được toàn Ðảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng và hiệu quả.

Với tinh thần và ý nghĩa đó, ngày 27-3-2003, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 23-CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới và nhân dịp kỷ niệm 113 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã phát động tổ chức đợt tuyên truyền, giáo dục sâu rộng tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðây là một sinh hoạt chính trị rộng lớn, rất quan trọng cần được tổ chức chặt chẽ, khoa học, có hệ thống và sau này phải trở thành nền nếp thường xuyên trong hoạt động của Ðảng và trong đời sống xã hội ta.

Chỉ thị của Ban Bí thư đã được toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đón nhận và tổ chức thực hiện với tinh thần tin tưởng, phấn khởi, hào hứng. Hơn một năm qua, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị đã quán triệt nghiêm túc Chỉ thị 23-CT/TW, tổ chức đợt giáo dục, tuyên truyền sâu rộng, có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trong Ðảng và toàn xã hội. Hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo và rộng khắp 64 tỉnh, thành trong cả nước, trong mọi tổ chức, đoàn thể, thu hút đông đảo mọi lứa tuổi, mọi đối tượng tham gia. Nhiều công trình, đề tài khoa học, hàng chục cuốn sách và tài liệu nghiên cứu, tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực hiện và phổ biến rộng rãi. Hàng trăm nghìn lớp học được tổ chức, thu hút hàng chục triệu người tham gia học tập, nghiên cứu 10 chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nhiều tác phẩm văn học, báo chí, tuyên truyền về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh đã được giới thiệu rộng rãi ở trong nước và nước ngoài.

Ðây là lần đầu Ðảng ta phát động và tổ chức đợt nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh với quy mô rộng lớn và được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học. Ðặc biệt là, cùng với việc nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tổ chức, đoàn thể và học tập qua trường, lớp, qua sách, báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương đã chỉ đạo hướng dẫn và tổ chức các cuộc thi báo cáo viên giỏi về tư tưởng Hồ Chí Minh từ cấp cơ sở đến toàn quốc; làm cho hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh thêm sinh động hấp dẫn, hiệu quả, ấn tượng và lan tỏa. Các hội thi từ cơ sở đã thu hút sự tham gia của hàng vạn báo cáo viên ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi, là cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức, nông dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên… Ðỉnh cao của các hội thi là cuộc thi chung khảo toàn quốc được tổ chức rất trang trọng, hoành tráng, ấn tượng, cảm động và đầy ý nghĩa tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội vào đúng dịp kỷ niệm lần thứ 114 Ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-2004).

Sau hơn một năm thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW của Ban Bí thư, hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng sâu sắc hơn. Hoạt động nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành sinh hoạt chính trị rộng lớn, góp phần nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, những băn khoăn, vướng mắc, hoài nghi dao động trong nhận thức về mục tiêu lý tưởng và nền tảng tư tưởng của Ðảng, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, về bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế v.v… của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đã được giải đáp sáng tỏ hơn.

Trên cơ sở nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận, đợt sinh hoạt chính trị lần này đã góp phần củng cố, nâng cao niềm tin và sự kiên định đối với nền tảng tư tưởng của Ðảng ta là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng và tương lai, tiền đồ của dân tộc, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã từng bước tỏa sáng trong trái tim, khối óc của mỗi người Việt Nam, hướng về cội nguồn dân tộc, trân trọng, tự hào và giữ gìn các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống mà Bác Hồ là biểu tượng và mẫu mực của sự kết tinh các giá trị phương Ðông và giá trị nhân loại. Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là dịp để mỗi người Việt Nam tự nhìn nhận lại chính mình, theo tinh thần Bác Hồ đã dặn: Học để hành, để làm người, để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự giai cấp và nhân loại. Với ý nghĩa đó, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục khơi gợi tinh thần độc lập tự chủ, đổi mới và sáng tạo để nhìn nhận các vấn đề của dân tộc và thời đại sâu sắc hơn, tỉnh táo hơn, bản lĩnh hơn, trong mỗi chúng ta. Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là thêm một lần khẩu hiệu “sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” lại được khắc sâu vào tâm trí mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo động lực tinh thần cho chúng ta tự tin, vững bước đi lên trên con đường mà Ðảng và Bác đã lựa chọn.

Tuy nhiên, trong năm qua, giữa bộn bề khó khăn, thách thức, lo toan, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta tất nhiên khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Ðiều dễ nhận thấy là còn ít các công trình nghiên cứu khoa học, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí ngang tầm với tư tưởng và sự nghiệp của Bác và đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Tinh thần độc lập tự chủ, đổi mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu đầy đủ sâu sắc. Tư tưởng của Người chưa được vận dụng một cách toàn diện và gắn chặt với những lĩnh vực cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng tổ chức, đơn vị. Việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng của Người được tổ chức trên diện rộng nhưng chưa thật sâu; lan tỏa song chưa tạo được sự chuyển biến thật sự trong hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phải chăng vì nội dung nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục chưa được chuẩn bị thật công phu từ cơ sở; hình thức và phương pháp tuyên truyền, giáo dục ở nhiều nơi còn đơn giản, xuôi chiều. Tính khoa học, tính chiến đấu trong tuyên truyền, giáo dục chưa thật sâu sắc. Một bộ phận cán bộ làm công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là ở cơ sở, chất lượng còn hạn chế, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ.

Ðể đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới và nguyện vọng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, để xứng đáng với công lao to lớn của Bác Hồ và tầm tư tưởng vĩ đại của Người, nghiên cứu công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải được tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, tiến xa hơn nữa trong thời gian tới.

Ban Bí thư Trung ương Ðảng ra Thông báo kết luận về “Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 23 ngày 27-3-2003 và đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới” đã chỉ rõ, trong năm 2004, 2005 các cấp ủy, địa phương, đơn vị cần làm tốt một số nhiệm vụ sau:

“Tiến hành rà soát để bổ sung xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm việc nghiên cứu, học tập nghiêm túc, thiết thực, phù hợp thực tế của địa phương, đơn vị; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và chú ý học tập những lời dạy của Người đối với ngành, đoàn thể, địa phương mình. Coi trọng việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, học đi đôi với hành. Gắn việc học tập với rèn luyện, làm theo tư tưởng, đạo đức, lối sống cao đẹp của Người, nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên; khắc phục những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân; liên hệ, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị. Ðẩy mạnh hoạt động nghiên cứu tổng kết thực tiễn làm cơ sở cho việc bổ sung Cương lĩnh và phương hướng, nhiệm vụ của Ðại hội X của Ðảng. Ðấu tranh phê phán, bác bỏ có hiệu quả các quan điểm sai trái, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị quan trọng thường xuyên của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân; là nội dung trọng yếu trong công tác xây dựng Ðảng, là tình cảm, nguyện vọng thiết tha của mọi người Việt Nam. Nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh phải nhằm mục đích lâu dài, nhất quán, là biến tư tưởng của Người thành hiện thực; hình thành và phát triển tố chất Hồ Chí Minh, tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo trong mỗi con người Việt Nam.

Nguyễn Viết Thông
Phó trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa T.Ư

cpv.org.vn

Nhận thức về đối tượng nghiên cứu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong thực tiễn cách mạng, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, dân tộc ta và nhân dân ta. Chính vì vậy, việc giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường trong xã hội nói chung, trong quân đội ta nói riêng có vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Sự ra đời của hệ thống Khoa và Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện nhà trường quân đội đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục một cách cơ bản và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trong quân đội. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường quân đội hiện nay; vẫn cần tiếp tục giải quyết đúng đắn, hợp lý nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó có việc xác định đối tượng môn học. Bởi lẽ, nhận thức đúng đắn về đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một trong những điều kiện, yêu cầu cơ bản nhất để nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, có quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với việc xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp môn học này.

Hiện nay, nghiên cứu, giảng dạy, học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh dựa chủ yếu vào Giáo trình chuẩn quốc gia môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng trong giáo trình này chưa có bài “Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp môn Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Ở “Lời nói đầu” của giáo trình có những đoạn viết liên quan ít nhiều tới việc xác định đối tượng môn học: “Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là hệ thống tri thức mang tính qui luật về đối tượng, đòi hỏi phải có thời gian mới có điều kiện xác lập được một cách đầy đủ và chính xác. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được phản ánh trong văn kiện, tác phẩm của Người mà còn được quán triệt trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta do Người đứng đầu, trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp Cách mạng mà Người để lại cho chúng ta. Những nội dung đó đều phải được xem là đối tượng nghiên cứu của bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh … Giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, một bộ môn lý luận – tư tưởng, thuộc lĩnh vực triết học, cũng phải làm rõ khái niệm, từ khái niệm mà hình thành tư tưởng”. Cách đặt vấn đề như thế chưa phải là lời giải đáp một cách đầy đủ, thoả đáng về đối tượng môn học.

Giáo trình môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1996 ở trang 6 viết; “Đối tượng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là nghiên cứu những di sản tư tưởng của Người. Quá trình nghiên cứu, dạy – học môn học phải làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển và hệ thống các quan điểm tư tưởng về các mặt chính trị, nhân văn, đạo đức… của Hồ Chí Minh và hiện thực hoá nó trong xã hội, từ đó chỉ ra giá trị lý luận, thực tiễn tư tưởng của Người với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới”. Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Phân viện Hà Nội thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1997 ở trang 7 viết: “Trước hết chúng ta cần phân biệt hai khái niệm khác nhau, tuy có quan hệ rất chặt chẽ với nhau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” có nội dung khách quan là đối tượng nghiên cứu của khoa học và “Tư tưởng Hồ Chí Minh” với tư cách là một bộ môn khoa học”. Tập bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh được xuất bản năm 2001 ở trang 13 xác định rằng, đối tượng môn học này là “Nghiên cứu, học tập hệ thống quan điểm lý luận, chính trị toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, “là luận giải những đóng góp sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với văn minh nhân loại, đặc biệt là đối với chủ nghĩa Mác – Lênin”, “được thể hiện vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới hiện nay”. Tập bài giảng môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn xuất bản năm 2003 ở trang 18, 19 viết: “Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học nghiên cứu về hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội được đúc kết bằng chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Như vậy, từ các giáo trình, tập bài giảng trên, ta thấy việc xác định đối tượng môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh tuy đã có nhiều điểm tương đồng, nhưng tính khái quát chưa cao, vẫn có sự khác biệt và những điểm chưa được xác định thật rõ. Điều đó gây khó khăn không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu giáo dục, tuyên truyền, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Thêm vào đó, chính sự nhận thức chưa thống nhất, chưa thật đầy đủ, rõ ràng, chính xác về đối tượng bộ môn đã dẫn đến những khó khăn trong việc xây dựng, xác lập, phân định về phạm vi chương trình, nội dung giảng dạy của nhiều học viện, nhà trường quân đội. Trên thực tế, ngay cả ở Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị quân sự, việc nghiên cứu, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ do Khoa (bộ môn) Tư tưởng Hồ Chí Minh đảm nhiệm, mà còn có một số khoa khoa học xã hội khác cũng thực hiện nhiệm vụ này. Có khoa giảng một số chủ đề, thậm chí có khoa xây dựng hẳn thành một phần về Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nội dung, chương trình dạy học.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh là một giá trị đa diện nên không chỉ có Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nhiều khoa khác quan tâm nghiên cứu, nhưng góc độ nghiên cứu và mục đích, yêu cầu nghiên cứu của các khoa là khác nhau. Chẳng hạn như: nếu khoa học (môn học) Tư tưởng Hồ Chí Minh nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh, nhằm chỉ ra quy luật vận động, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, của cách mạng thế giới được phản ánh trong tư duy Hồ Chí Minh, thì Triết học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, góp phần làm sáng tỏ những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; môn Giáo dục học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là nhằm góp phần làm sáng tỏ các quy luật, các quy tắc chung về giáo dục, và môn Xây dựng Đảng nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu là nhằm góp phần làm rõ các quy luật, các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, Đảng của giai cấp công nhân. Thành thử, giảng viên của các khoa khoa học xã hội đều rất cần nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh. Song, quá trình nghiên cứu không phải để nhằm giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là góp phần nâng cao nhận thức về cơ sở lý luận để giảng dạy nội dung của chuyên ngành mình ngày càng đạt chất lượng cao hơn.

Các giáo viên nghiên cứu, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải nghiên cứu các môn lý luận Mác – Lênin, nghiên cứu lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, và cả các học thuyết, các khuynh hướng tư tưởng đối lập, sai trái, Nhưng, nghiên cứu những nội dung ấy không phải để giảng dạy Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Lịch sử dân tộc, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mà để có tri thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn nhằm góp phần giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh tốt hơn, hấp dẫn hơn, thuyết phục hơn. Bởi lẽ, giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là hoạt động mô tả đơn giản các câu nói, bài viết, các sự kiện, các biến cố lịch sử cụ thể có liên quan tới tư tưởng, thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, mà là luận giải các luận điểm mang tính quy luật về các mặt cơ bản của cách mạng Việt Nam một cách khoa học. Vì vậy, có tri thức toàn diện, có nắm vững lý luận Mác – Lênin, nhận thức sâu sắc về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…, thì mới có cơ sở vững vàng để khi giảng một tư tưởng, một luận điểm nào đó trong Tư tưởng Hồ Chí Minh để có thể trình bày rõ ràng, chính xác, hấp dẫn về lịch sử hình thành luận điểm, về nội dung luận điểm, về cơ sở lý luận và thực tiễn gắn liền với giá trị lý luận và thực tiễn của luận điểm; mới có phương hướng vận dụng, phát triển luận điểm đó vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam và phê phán các học thuyết, các khuynh hướng tư tưởng sai trái trong xã hội, quân đội hiện nay.

Tóm lại, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các giáo trình, tập bài giảng trước, gắn liền với thực tiễn công tác giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các học viện, nhà trường quân đội trong mười năm qua, cùng với sự phân tích trên, bước đầu có thể nêu ra kết luận: Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ môn khoa học nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh nhằm làm sáng tỏ quy luật hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh ở các lĩnh vực cơ bản (chính trị, kinh tế, quân sự, đạo đức…) của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới được phản ánh trong tư duy Hồ Chí Minh và quy luật vận dụng, phát triển tư tưởng của Người trong thực tiễn cách mạng nước ta.

Đại tá, TS Nguyễn Đình Tu
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 1-2005

cpv.org.vn

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự vận dụng thuần thục phương pháp biện chứng duy vật Mácxít.

Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp. Nhưng trong thực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo và nhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật Mácxít kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên một hệ thống phương pháp riêng của mình, rất Mácxít mà cũng rất Hồ Chí Minh, không trộn lẫn được. Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sắc Việt Nam – Hồ Chí Minh và bằng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung.

Vậy nội dung và đặc điểm của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là gì?

Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, đó là quan điểm cốt lõi nhất của nhận thức luận Mácxít và cũng là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Theo quan điểm của C.Mác: “ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy”. Nói cách khác, lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của mỗi dân tộc.

Hồ Chí Minh cũng quan niệm: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét so sánh thật kỹ lượng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế, đó là lý luận chân chính”.

Theo quan niệm đó, Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện của đời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho tư duy và hành động, lấy mục tiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ để xem xét lý luận, để lựa chọn con đường và bước đi cho cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà tránh được giáo điều, rập khuôn (do chỉ biết lặp lại cái chung), đồng thời cũng tránh để không rơi vào cơ hội, xét lại (do quá nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù).

Đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, nhưng Hồ Chí Minh biết rút ra từ học thuyết cách mạng và khoa học rộng lớn này những vấn đề cần thiết cho giai đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tức là từ độc lập dân tộc tiến lên CHXH.

Tiếp theo, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ đứng vững trên quan điểm thực tiễn và đường lối độc lập tự chủ, một mặt, chúng ta vẫn tranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước XHCN anh em, mặt khác, chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiến trường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CHXH.

Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào thời kỳ quá độ lên CHXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: “Chúng ta phải đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên CHXH” và Người nhắc nhở: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”.

Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.

Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.

Theo quan điểm Mácxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển.

Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn. Người viết: “Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có sinh có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới. Đó là những mâu thuẫn sẵn có trong mọi sự vật”.

Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đối kháng. Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật. Hồ Chí Minh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn.

Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược, sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng.

Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định nhân dân Việt Nam có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiên tay sai, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lập cho dân tộc và chống phong kiên đem lại ruộng đất cho dân cày.

Tuy xác định xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản, nhưng trong việc xử lý mâu thuẫn, Hồ Chí Minh không coi hai mâu thuẫn đó ngang nhau, phải tiến hành song song, đồng thời. Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn nổi lên gay gắt nhất, trở thành mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và bọn tay sai, có giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết được vấn đề dân chủ. Vì vậy, ngay trong Chính cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh cũng chỉ nêu chủ trương “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công, chia cho dân cày nghèo” mà chưa nêu khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, cũng chủ trương tạm gác khẩu hiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu “giảm tô, giảm tức”, chia lại ruộng công,…

Làm.như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật, nếu dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũng không sao giải quyết được. Cuộc Cách mạng tháng 8/1945 đã lôi cuốn hàng chục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng hái tiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giành lại nền độc lập cho dân tộc. Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng của Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch – ta, nêu tấm gương về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạn quân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng vạn quân Anh – Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta. Nếu kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, có gần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta. Cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải phân hoá kẻ thù, bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.

Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhất chiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh Chu Phúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh. Chúng giống nhau về mục tiêu “diệt cộng, cầm Hồ” để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ cho mưu đồ lâu dài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân. Biết Lư Hán vốn có tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã bị Pháp tịch thu mấy chuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng Côn Minh), Hồ Chí Minh đã chủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ cho vợ chồng Tiêu Văn một số đặc quyền kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc Thành… Nhờ đó, chúng ta buộc họ phải thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã sử dụng được lực lượng quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn chặn quân đội Pháp đang lăm le ra miền Bắc.

Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánh diều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ (Dargenlieu), cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại tướng Lơcléc (Leclerc), tổng chỉ huy quân đội viễn chinh. Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Lơcléc: “Ngài là một đại quân nhân và là một nhà ái quốc. Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anh dũng kẻ xâm lăng nước ngài… Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánh một dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tác như anh em với nước ngài sao?”.

Lòng tụ trọng bị tổn thương, ít lâu sau Lơcléc từ chức Tổng chỉ huy, xin chuyển về Pháp, mở đầu cho sự liên tục thay đổi Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

Đánh giá sách lược của Hồ Chí Minh

Trong giai đoạn này, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”.

Nhắc lại những năm tháng đó, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng viết: “Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Đối với mâu thuẫn địch – ta, chỉ có một cách xử lý duy nhất là “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải kiên quyết đánh đuổi nó đi”. Còn với mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Hễ là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọi lực lượng “miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc”, “Không được phép bỏ một lực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia”.

Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là lấy cái chung, cái tương đồng để khắc phục cái riêng, cái dị biệt, lấy nhân ái, khoan đung để cảm hoá, lấy nhân nhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết bất đồng, “biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự”. Người phê phán một số cán bộ chỉ biết “chia rẽ, bênh vực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hoà thuận với nhau… quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết, không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung”.

Như vậy, trong mâu thuẫn nội bộ nhân dân (mâu thuẫn không đối kháng), có mặt thuận và mặt nghịch, bên cạnh mặt mâu thuẫn còn có mặt thông nhất, để tồn tại trong sự thống nhất, phải biết lấy thuận chế nghịch, lấy cái chung, cái đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dị biệt. Đó là biện chứng trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giũa mâu thuẫn và thống nhất các mặt đôi lập.

Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.

Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương Đông, xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếu nắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời đất (hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnh chế động, lấy nhu thắng cương…

Phép biện chứng duy vật Mácxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn và thống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biên và vạn biên trong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết học phương Đông và Việt Nam. Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”, ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì có thể đối phó với vạn biên (dù có dữ dội như sấm sét).

Vậy ta hiểu “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theo cách nói của triết học, có thể hiểu “bất biên” là quy luật, vì chỉ có quy luật (tự nhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn “vạn biến” là hiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm ra quy luật tương ứng.

Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự phát triển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất, đứng im là tương đối. Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coi nhẹ, thậm chí bỏ qua cái “bất biến” (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điều kiện tồn tại của sự vật).

Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù “bất biến”. Hoá học được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng. Công thức có thể biến hoá, nhưng trị số thì không đổi. Năng lượng học dựa trên định luật bảo toàn năng lượng. Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không đổi. Về mặt xã hội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã hội nào người ta cũng vẫn cần đến ăn, mặc, ở… tức là vẫn phải có sản xuất và phân phối, nghĩa là sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về cách thức sản xuất và cách thức phân phối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội nào cũng vẫn phải có. Cũng có thể gọi đó là các hằng số xã hội. Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứng Mácxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông. Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi tới cái khả biến của xã hội và con người. Thí dụ, Người nói: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”. Khi nghe một vị ủy viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướng mới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính” xem ra vừa không đủ, vừa cổ… thì Hồ Chí Minh ngắt lời: “Cổ, lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa, bây giờ mình ăn cũng cổ à?”. Theo Người, ăn cơm, uống nước, hít thở khí trời… không bao giờ cũ, xưa nay và sau này đều phải làm. Cần, kiệm, liêm, chính cũng vậy.

Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh có một câu: “Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ta hiểu đó là Người nói đến mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược. Mục tiêu của chúng ta là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân, đó là điều bất biến còn phương pháp – sách lược có thể tuỳ tình hình mà biến hoá đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến. Người nói: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”.

Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng này một cách rất hiệu quả trong chỉ đạo cách mạng, đưa tới những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: “Chính sự kết hợp mà không ai bắt chước nổi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linh hoạt về chính trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyền thông yêu nước với sự phân tích Mácxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông Hồ Chí Minh”.

Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông – Tây kết hợp này, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhị các mối quan hệ biện chứng giữa truyền thông và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dân tộc và giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực – thế, thời… mà do phạm vi của bài viết, chúng tôi không có điều kiện bàn hết ở đây.

Tóm lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quan trọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Về bản chất, đó là phương pháp biện chứng duy vật Mácxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có sự kết hợp với tư duy biện chứng phương Đông, in đậm dấu ấn phương Đông và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc để từng bước đi lên CHXH. Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng do đó mà có vai trò rất to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế đang chuyển biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay.

Tư tưởng về con người, bộ phận cơ bản của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và màu da.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người có thể tóm tắt lại trong ba nội dung cơ bản:

Con người là vôn quý nhất, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, lịch sử là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, chứ không phải do vài ba cá nhân anh hùng nào, vì vậy chúng ta phải yêu dân, quý dân, trọng dân, vì “có dân là có tất cả”. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Do đó, “trong xã hội không có gì tất đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.

Từ đó, ta thấy nổi lên ở Hồ Chí Minh một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với con người, một niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, một ý chí kiên quyết đấu tranh để giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu. Cũng có thể coi đó là những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người hoàn toàn xa lạ với các quan điểm xem con người như là công cụ, như là phương tiện. Mọi chính sách tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hoá của Hồ Chí Minh đều hướng tới con người. Người nói: “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân”, “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”, “chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân và do nhân dân tự xây đựng lấy”.

Qua đó, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người – mục tiêu và con người – động lực là thống nhất, vì dân và do dân là thống nhất.

Để phát huy vai trò động lực của con người, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một hệ thống nội dung và biện pháp (vật chất và tinh thần) nhằm tác động vào cái động cơ thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người đồng thời, cũng chỉ ra những nội dung và biện pháp làm triệt tiêu các trở lực nhằm thúc đẩy sự phát triển theo hướng tiến bộ.

Trong hệ thống các động lực chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng… đồng thời không coi nhẹ vai trò tác động của các nhân tố tinh thần khác, như văn hoá, khoa học, pháp luật… đặc biệt, Người chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi “thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”.

Là nhà duy vật Mácxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người luôn gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp chính trị – tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ qua các động lực vật chất, khéo léo kết hợp các loại động lực với nhau, tạo sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, chủ trương kết hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho “Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi”.

Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm sự phát triển của con người, trong đó “căn bệnh mẹ” cực kỳ nguy hiểm là chủ nghĩa cá nhân phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ

Tư tưởng về chiến lược “trăm năm trồng người”

Từ quan điểm về con người đến quan điểm về chiến lược “trồng người” là một bước phát triển hợp logic của tư tưởng triết học Rồ Chí Minh. Để thực hiện chiến lược kinh tế – xã hội thì chiến lược con người phải đi trước một bước. Từ rất sớm, Người đã nêu ra một luận điểm nổi tiếng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người XHCN”. Do đó, “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc).

Quan điểm “trồng người” của Hồ Chí Minh rất toàn diện và phong phú, ở mỗi thời kỳ cách mạng, Người nêu ra những yêu cầu khác nhau. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhấn mạnh đến các yêu cầu sau đây:

Có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham ô, lãng phí, quan liêu, có ý thức làm chủ và tinh thần tập thể.

Có ý chí học hỏi, không ngừng vươn lên làm chủ những thành tựu văn hoá, khoa học – kỹ thuật, những hiểu biết mới của thời đại.

Có tinh thần tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, biết vận dụng nó vào thực tế công tác để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng người là một hệ thống chặt chẽ, phong phú, vừa khoa học, vừa cách mạng, là một bộ phận hợp thành của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào việc làm phong phú triết học về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cứu dân, cứu nước, tìm một con đường phát triển mới để canh tân đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến nhiều học thuyết Đông – Tây, trên hết là chủ nghĩa Mác – Lênin, đã học hỏi, tiếp thu, dung hợp, tích hợp, hình thành cho mình một thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Mácxít, tạo nền tảng triết học để xây đựng lý luận, đường lối và phương pháp cho cách mạng Việt Nam.

Triết học Hồ Chí Minh là triết học thực tiễn, biện chứng Hồ Chí Minh là biện chứng thực hành, nó được thể hiện và xuyên thấm trong toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp và trước tác của Hồ Chí Minh. Từ những hoạt động thực tiễn phong phú ấy của Người, phân tích, hệ thống hoá, có thể rút ra tư tưởng và phương pháp triết học của Hồ Chí Minh. Đó là một việc làm công phu và lâu dài. Mấy nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh được trình bày trên đây mới chỉ là những khái quát bước đầu, chắc chắn cần được bổ sung và hoàn chỉnh cùng với những thành tựu mới trên con đường lâu dài nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh./.

Nguồn: Tạp chí Triết học
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.

Hồ Chí Minh dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau: “Lý luận đi đôi với thực tiễn”, “Lý luận kết hợp với thực hành”, “Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”, “Lý luận phải liên hệ với thực tế” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Dù nói “đi đôi”, “gắn liền”, “kết hợp” nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: Thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.

Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên “chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Những cán bộ ấy quên rằng, “kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234). Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234 – 235). “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 47). Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều. Người khẳng định, “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 235). Như vậy cũng có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy. “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5 tr. 234). Do đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều. Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phải phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn – lý luận, lý luận – thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.

Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 – 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học… Như vậy, mỗi năm có tới hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Điều này đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tế như thế nào.

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Để làm tốt điều này thì một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế. Nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Điều quan trọng nữa theo Người là phải chống giáo điều ngay trong học tập chủ nghĩa Lê-nin. Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu học học thuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, “học sách vở Mác – Lênin nhưng không học tinh thần Mác – Lênin” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9 tr. 292). Đó là học theo kiểu “mượn những lời của Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Theo Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 497). “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 9, tr. 292). Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên “học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498). Như vậy, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải vì học tập thuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc cả với tổ chức. Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Cho nên người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác – Lênin là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Có như vậy thì việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác – Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà. Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin. “Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449). Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 243). Người còn nhấn mạnh “ …cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 417). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh. “Làm như thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn” (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 498).

Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có ý nghĩa hết sức to lớn hiện nay, khi mà chúng ta đang tìm lời giải đáp cho nhiều vấn đề thực tiễn đổi mới đặt ra. Bởi lẽ, để tìm lời giải cho những vấn đề đó chúng ta phải tìm ở cả trong chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như ở chính thực tiễn đổi mới hiện nay ở nước ta. Nghĩa là phải bằng phương pháp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổng kết những vấn đề thực tiễn hôm nay một cách có lý luận.

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn