Thư viện

Bệnh thành tích hay bệnh nói dối

(ĐCSVN)- Thành tích, theo đúng nghĩa đó là cái mà người ta đạt được cao hơn mức bình thường. Ở mỗi cuộc thi, thường thì thành tích được chỉ những cá nhân hay một tập thể nào đó đoạt giải; trong công việc hoặc học tập là những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt thứ hạng cao trong học tập, được cơ quan, đơn vị khen thưởng, đồng đội nể phục.

Nhìn từ góc độ tâm lý mọi con người đều thích được khen; mỗi khi làm được việc gì hay, tốt đẹp hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ người ta đều muốn được đánh giá đúng và khi nhận được sự khen ngợi, tâm trạng của chúng ta đều rất phấn khởi; nhưng nếu bị chê thì không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, cho dù đó là những lời chê đúng. Đối với một cấp, một ngành hay một cơ quan, tổ chức nào đó cũng vậy.

Sẽ là rất tốt nếu thành tích đạt được là thật. Và sự khen thưởng đúng sẽ như một liều thuốc bổ khuyến khích người được khen càng cố gắng nỗ lực hơn, chí ít là phấn đấu để giữ vững thành tích cũ, không bị tụt hạng. Còn đối với những người khác, với đồng nghiệp thì cũng lấy đó làm tấm gương để phấn đấu, vươn lên “cho bằng chị, bằng em”. Vậy nếu xét về góc độ tích cực thì thành tích chính là động lực để chúng ta phấn đấu và người yêu thành tích không thể coi là xấu mà ngược lại đó là nét đẹp nên khuyến khích.

Nhưng tại sao lâu nay chúng ta lại thường dùng cụm từ bệnh thành tích hay chạy theo thành tích để gán ghép cho những kết quả ảo trong Giáo dục, y tế, trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội… ?

Thực ra thành tích không có tội. Tội là của sự hám danh, sự đại khái, không dám chịu trách nhiệm dẫn đến giả dối trong báo cáo của cấp dưới đối với cấp trên và sự quan liêu, thậm chí là thiếu khách quan, nhân nhượng trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới.

Thực tế cho thấy có không ít cơ quan, đơn vị mặc dù kết quả hoạt động không được bao nhiêu, song do có “cách làm báo cáo tốt” nên đã được khen thưởng; song cũng có những đơn vị, nếu so kết quả thì không kém gì đơn vị kia, nhưng vì trung thực, làm được bao nhiêu báo cáo bấy nhiêu, nên không những không được khen mà thậm chí còn bị phê bình, bị chê… Chúng ta thường nói “khen thưởng là con dao hai lưỡi”, nếu khen thưởng đúng sẽ có tác dụng kích thích mọi người phấn đấu vươn lên; nhưng nếu khen không đúng sẽ cho “tác dụng ngược”. Sự quan liêu, thiếu khách quan trong việc đánh giá của cấp trên đối với cấp dưới sẽ vô tình “khuyến khích” và “nhân rộng” tính nói dối của cấp dưới. Bởi nếu cùng ngang nhau mà cơ quan này được khen còn cơ quan kia lại bị phê bình thì tất nhiên sẽ gây nên sự so bì ghen tỵ lẫn nhau hoặc nếu nể nang nhau thì họ sẽ học cách báo cáo thiếu trung thực để được khen. Mặt khác việc đánh giá, khen thưởng thiếu chính xác, không xứng đáng với thành tích thực cũng sẽ làm thui chột động cơ phấn đấu của mọi người vì chỉ cần cứ hoạt động bình bình, không mắc khuyết điểm gì là sẽ đạt “trong sạch vững mạnh”, “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”…. được khen thưởng….

Một nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh nói dối” trong báo cáo còn do sự chủ quan trong việc đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu của các cấp, ngành. Thông thường muốn phát triển người ta đều phải đặt ra những mục tiêu cao hơn để phấn đấu vươn tới. Song mục tiêu đó cần phải dựa vào thực lực, có cơ sở khoa học, và phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đơn vị, chứ không phải bằng mong muốn chủ quan.

Một người chưa biết tiếng Anh mà đặt ra mục tiêu trong một tháng vừa học vừa thi phải lấy được Chứng chỉ B thì dứt khoát chất lượng không phải là thật; một lớp học với quá nửa học sinh yếu mà đưa ra chỉ tiêu phải lên lớp trên 100% thì là điều không tưởng. Tương tự như vậy, một đoàn thể muốn đưa ra chỉ tiêu phát triển đoàn viên, hội viên thì trước hết phải có nguồn, quần chúng nơi đó có tự nguyện, thiết tha tham gia đoàn thể mình hay không và phải tính đến trình độ của cán bộ có khả năng vận động quần chúng tham gia hay không…; không đủ những yếu tố đó mà đưa ra những chỉ tiêu chủ quan thì sẽ tạo ra áp lực làm cho cấp dưới phải phấn đấu quá sức, khi không đạt thì vì sợ không được khen, lại bị phê bình, bị chê, nên dẫn đến báo cáo sai sự thật (trong thực tế đã có những đoàn thể xóa tên trong danh sách hàng chục ngàn hội viên, đoàn viên danh nghĩa); ở cơ sở do bị áp lực mà nói dối, cấp trên không kiểm tra hoặc đại khái trong việc đánh giá, chấp nhận kết quả đó và vô tình đã tiếp tay cho sự dối trá, tự mình nói dối mình, trở thành “nói dối có hệ thống”….

Tệ hại hơn là dựa vào những những báo cáo thiếu chính xác, những kết quả không có thực đó để tiếp tục hoạch định chính sách và lại đưa ra những chỉ tiêu không sát thực tế, mà không sát thực tế thì khó thực hiện đạt, nếu báo cáo không đạt thì sợ mất thi đua, không được khen, nên đành phải báo cáo sai sự thật, khiến cho cả hệ thống cứ trượt dài trong thành tích ảo. Và như vậy suy cho cùng cái mà lâu nay chúng ta thường gọi “bệnh thành tích” chính là “bệnh nói dối”.

Thiết nghĩ, một cơ thể có bệnh, muốn chữa khỏi thì trước hết phải tìm được đúng bệnh và những nguyên nhân gây ra bệnh đó; chẩn đoán sai đồng nghĩa với việc chữa trị sai, không những không khỏi bệnh mà còn có thể gây hại. “Bệnh thành tích” và “bệnh nói dối” hoàn toàn không đồng nhất với nhau cho nên cần phải phân ra rạch ròi. Bệnh thành tích, đó chỉ là biểu hiện của sự mong muốn; nhưng nói dối, báo cáo sai sự thật thì đã thể hiện trong hành vi, vì vậy cần phải kiên quyết ngăn chặn, phê bình, kiểm điểm nghiêm khắc, có như vậy chúng ta mới có được những kết quả thực trong hoạt động.

Tạ Trung Dũng

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền kinh tế mở

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một cơ sở sản xuất. Ảnh: Tuấn Anh

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam không có tên trên bản đồ thế giới. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh viết và công bố trước toàn thế giới là một sự kiện trọng đại, đánh dấu thắng lợi mở đầu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quốc hiệu, quốc huy, quốc ca, quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập từ đó hiên ngang trên chính trường quốc tế, khẳng định quyền được bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới.

Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đất nước bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới tự chủ. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép lại mà là tự lực, tự cường, là sự tự vận động bằng chính các nguồn lực sẵn có ngay trong lòng dân tộc mình, đất nước mình, không trông chờ, ỷ lại vào bất cứ nguồn viện trợ nào dù đó là sự viện trợ vô tư và khách quan nhất (trong thực tế không có sự vô tư và khách quan tuyệt đối đó); đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ và hợp tác với các nước khác trên tinh thần đoàn kết và cùng có lợi, cùng vì mục tiêu hòa bình và phát triển. Hồ Chí Minh viết: “Những nguyên tắc của Lênin về quyền dân tộc tự quyết, về chung sống hòa bình, không can thiệp vào việc nội bộ của các nước khác, về quyền bình đẳng và quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tất cả các nước, những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Liên Xô, đang chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường đấu tranh giành thống nhất và độc lập dân tộc”.

Một nền kinh tế mở trước tiên phải xuất phát từ một nền xã hội mở, và một nền văn hóa mở. Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam hòa nhập cùng cách mạng thế giới, tự nguyện là một bộ phận của cách mạng thế giới. Sự nghiệp cách mạng của Người là cuộc đấu tranh bền bỉ để toàn nhân loại bị áp bức thoát khỏi kiếp nô lệ, tiến tới thế giới đại đồng. Người kêu gọi: “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới. Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại !”. Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc là sự mở rộng khẩu hiệu của V.I.Lênin và cả khẩu hiệu của C.Mac và F.Enghen trước đó. Nó cụ thể hơn, bản chất hơn rằng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã bước vào kỷ nguyên toàn thể nhân loại bị áp bức đồng loạt đứng lên “chặt đứt cả hai cái vòi của con đỉa” là chủ nghĩa đế quốc thực dân “hút máu” người lao động ở thuộc địa và cả ở chính quốc; rằng, đã đến lúc lao động toàn thế giới phải cùng nhau giành lại bằng được tất cả những quyền lợi mà chủ nghĩa tư bản dùng mọi thủ đoạn đã tước đoạt của họ, để từ đó bắt tay vào xây cuộc đời mới, cuộc đời tự do cho chính mình.

Đối với xã hội loài người, sự phát triển và tiến bộ của nó trước tiên và cũng là cứu cánh là làm sao thỏa mãn tối đa nhu cầu lao động của toàn thể nhân loại (thỏa mãn nhu cầu lao động chứ không phải thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ).

Lao động đã biến con người tự nhiên thành con người xã hội. Trong lao động và những thành quả của lao động mà con người đạt được, những giá trị của lao động được tích tụ thành những lớp trầm tích văn hóa để rồi từ đó lại tiếp tục kích thích con người lao động sáng tạo ra những văn hóa mới. Quá trình tích tụ văn hóa tiếp diễn không ngừng ngay cả trong các hình thái kinh tế – xã hội phân chia giai cấp; bởi chính nhu cầu sáng tạo trong lao động của người lao động tự giác duy trì nó, chứ không phải do mục đích của chế độ bóc lột duy trì nó. “Đỉnh cao” của chủ nghĩa tư bản khiến con người sớm nảy sinh mâu thuẫn đối kháng với nó, kịch liệt lên án nó, dễ dàng đồng lòng chống nó vì nó đã đưa sự bóc lột lao động thành “nghệ thuật”. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người lao động bị vô sản hóa. Họ bị tước đoạt quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, mất cả quyền sở hữu cá nhân về mọi mặt; quyền ăn, ở, đi lại, phát biểu, ngôn luận,…Họ bị dồn vào các đô thị, họ đi lang thang. Họ buộc phải làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ,.. sức lao động của họ trở thành hàng hóa và mặc sức để bọn chủ bóc lột giá trị thặng dư của mình (điều mà C.Mác đã phát hiện). Ở thuộc địa, người lao động còn bị đối xử thậm tệ hơn. Bọn chủ tư bản coi họ chỉ là những công cụ biết chuyển động. họ bị áp bức bằng chính sách ngu dân, chủ yếu là rượu và thuốc phiện (điều mà Nguyễn Ái Quốc đã công khai vạch trần ngay tại quê hương của chủ nghĩa tư bản). Một “đỉnh cao” khác cũng thuộc bản chất của chủ nghĩa tư bản là “nghệ thuật” tạo ra hố ngăn cách ngày càng rộng và sâu giữa giàu và nghèo có tính toàn cầu, gây cho thế giới sự mất ổn định triền miên, làm cho các dân tộc hùng hằn lẫn nhau. Và, có thể coi tâm lý ảo tưởng về “tự do”, “bình đẳng”, về cuộc sống “phồn hoa” hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ, gieo rắc dưới mọi hình thức và mọi thủ đoạn, là một “đỉnh cao” khác của chủ nghĩa tư bản. “Nghệ thuật gieo rắc” này, điển hình ngày nay là Mỹ, càng đạt hiệu quả dẫn đến sự kiện Liên Xô tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Bức tranh về một thế giới hiện đại dưới sự ảnh hưởng tác động trực tiếp của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhất là những mặt trái của nó, hiện đang đẩy xã hội loài người vào sự khủng hoảng toàn diện và đồng thời nảy sinh những mâu thuẫn đối kháng quyết liệt. Bằng nhãn quan kiệt xuất và tâm hồn trong sáng, Hồ Chí Minh đã dự cảm đúng về tương lai cách mạng Việt Nam trong xu thế phát triển của thế giới ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX. Người đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, con đường đi tới của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Người mong muốn và vận động, giáo dục nhân dân phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh trên cơ sở thực hiện đời sống mới để cải tạo bản thân, cải tạo bản thân, tiếp tục hun đúc cho nền văn hóa dân tộc ngày thêm bền vững và tỏa rạng mãi mãi. Tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh gây xúc động mạnh mẽ tới nhà báo Liên Xô Ôxip Medenxtam ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Trên báo Ogonok số 39 ngày 23 tháng 12 năm 1923, Medenxtam viết: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Văn minh Châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che dấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Sau này, đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng khẳng định điều đó khi tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” và “Danh nhân văn hóa kiệt xuất” và tổ chức kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người trên toàn thế giới.

Khi xây dựng một xã hội mở, một nền văn hóa mở thì nền kinh tế trong đó không thể khép kín. Đó là một lôgic tất yếu. Kinh tế có phát triển không và phát triển như thế nào đều phụ thuộc trước tiên và cuối cùng cũng là nhân tố con người, trong đó quan trọng lại là ý thức lao động của quần chúng nhân dân. Tiến hành cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc thì đồng thời giải phóng nhân dân hỏi kiếp nô lệ; nhưng, để toàn dân có ý thức lao động đúng đắn thì cách mạng phải tiếp tục thực thi những nhiệm vụ nặng nề nhằm gột rửa những thói hư tật xấu do chế độ thực dân và phong kiến cai trị tạo ra đã ăn sâu thành thói quen, thành sức ì trong tâm thức người lao động. Hồ Chí minh là người thấu triệt sự cấp bách “phải có giáo dục đạo đức công dân”, phải “giáo dục tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính” không chỉ nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt mà cho cả công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước trong dài lâu. Ý thức lao động chuyển từ địa vị kẻ nô lệ sang người chủ đất nước trong người lao động là sự dịch chuyển vừa có tính đột biên vừa chậm chạp, có tác động ảnh hưởng, trực tiếp hay gián tiếp, tới quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, tới quá trình xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất. Ý thức lao động ấy nếu không được giáo dục vận động thường xuyên lại có cơ hội nảy nở và phát triển những mặt xấu, tiêu cực một cách tràn lan như cỏ dại. Hồ Chí Minh đã nói: “ Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới”; và, bằng nhiều cách lý giải khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau, Người kiên trì giáo dục cán bộ đảng viên và nhân dân rèn luyện đạo đức cách mạng. Bản thân Hồ Chí Minh luôn là tấm gương trong sáng về sự tự rèn luyện ấy.

Nội dung “Đời sống mới” do Hồ Chí Minh đề xuất bao hàm mối quan hệ hữu cơ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần do người lao động tạo dựng trực tiếp và chính họ trực tiếp hưởng những thành quả đó, vậy họ phải ý thức được ý nghĩa của việc thực hành cần, kiệm, liêm, chính và lợi ích mà đời sống mới đem lại cho họ. Sự tự ý thức ấy chẳng có con đường nào khác là phải học để giệt giặc dốt trong bản thân mình, để nâng cao hiểu biết và từ đó có khả năng đổi mới tư duy. Vấn đề là ở chỗ cán bộ – những người tổ chức và hướng dẫn quần chúng – có tự nguyện và chân thành làm công bộc của dân hay không ?, có ham học hỏi, có tự tu dưỡng đạo đức cách mạng hay không ? cán bộ không gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính không đi đầu thực hiện đời sống mới, thì hiển nhiên dân không kính, không yêu, vì dân không còn tin cán bộ.đó là những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên lượng và thường xuyên nhắc nhở cán bộ đảng viên.Người luôn chỉ ra rằng dân là tất cả, dân là trên hết, Đảng và Nhà nước có nhiệm vụ lo cho dân về mọi mặt, từ cái lớn đến cái nhỏ, bằng việc tổ chức cho nhân dân cách thức xây dựng cuộc sống, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tổ chức tốt thì phát huy được tính sáng tạo của dân, sức dân, để đưa đất nước đến giàu mạnh. Đồng thời phải biết tiết kiệm tiền của của dân để phát triển lâu dài. Thời còn bôn ba trên đất khách quê người Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng: Từ một nước thuộc địa đứng dậy giành độc lập, tự do và xây dựng xã hội mới, dân tộc Việt Nam sẽ thiếu thốn mọi điều kiện, trong đó cái thiếu quan trọng nhất là thiếu trình độ tổ chức. Người đã dày công tìm hiểu và viết tác phẩm “Đường Kách mệnh”. Nội hàm của tác phẩm chính là phương thức tổ chức để tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà việc áp dụng hình thức hợp tác xã là một trong những biện pháp tổ chức sản xuất quá độ từ thánh phần kinh tế cá thể lên thành phần kinh tế tập thể, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một điều kiện tất yếu của tổ chức sản xuất, điều kiện đó đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với Việt Nam mới giành được độc lập, nền kinh tế đang ở tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Trong “Thư gửi các giới công thương Việt Nam” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới công thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập vào “công – thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”. Chính sách mở cửa của chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên nguyên tắc bảo đảm quyền độc lập tự chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu thẳng thắn như sau: “Có thể rằng: Những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vổn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét ra cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia. Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”.

Phép “ Dĩ bất biến ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng vào bất cứ hoàn cảnh nào, trong mọi lĩnh vực đối nội và đối ngoại, trong chính trị, văn hóa, kinh tế, quân sự. Nguyên tắc độc lập, tự chủ là trên hết, là bất di bất dịch, không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể lay chuyển nổi. Chỉ như vậy mới bảo đảm độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Bất cứ ai, việc gì làm lợi và có lợi cho nước, cho dân thì có thể sử dụng, huy động đến mức tối đa. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và khôn khéo, linh hoạt, tùy cơ ứng biến, thì mọi cái khó thì trở nên dễ dàng. Người viết: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng vào việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta không lo gì thiếu cán bộ”.

Năm 1946 thời điểm đầy sóng gió đối với cách mạng Việt Nam, vận mệnh của nước Cộng hòa non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc, trước khi lên đường sang Pháp làm thượng khách, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng. Người nói với cụ Huỳnh cái phép “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Người nói chuyện với đồng bào:

“Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tồ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó.…Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích nước lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”. Và, Người gửi thư tới đồng bào Nam bộ với lời lẽ thiết tha, xúc động: “Tôi xin đồng bào cứ bình tĩnh. Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước… Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi !”.

Tại Pháp, với cương vị là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng tài tình phép “Dĩ bất biến ứng vạn biến” để nhằm đạt được mục tiêu của mình cũng như nguyện vọng chung của dân tộc. Với tinh thần, như Người trả lời phỏng vấn của báo Franc – Tireur: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thề với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp”. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm mọi điều, bằng mọi cách để quảng bá chủ trương, chính sách đối ngoại của nước Việt Nam độc lập, để đấu tranh với tính ích kỉ, lòng hẹp hòi của những người cầm quyền Chính Phủ thực dân Pháp. Thông qua các cuộc tiếp xúc với đủ tầng lớp nhân dân tại Pháp, Người tuyên truyền lòng yêu chuộng hòa bình và ý chí sắt đá bảo vệ hòa bình của dân tộc Việt Nam, tinh thần tự lực tự cường phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường; Người vận động kêu gọi tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa nhân dân hai nước Việt – Pháp vì tương lai của một thế giới đại đồng. Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1946) do Hội Liên hiệp Việt kiều và Hội Hữu nghị Pháp – Việt tổ chức tại Paris, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi tin tưởng rằng nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác. Nước Pháp mới đặt ra cho mình mục đích là giải phóng các dân tộc. Tại sao nước Pháp mới lại vô tình trước số phận của nhân dân các nước đang theo đuổi những lí tưởng của chính mình? Vả lại, hoàn toàn độc lập quyết không có nghĩa là đoạn tuyệt. Nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng những lợi ích văn hóa và kinh tế của Pháp trên đất nước Việt Nam; hơn thế nữa, Việt Nam còn sẵn sàng phát triển nó bằng sự hợp tác anh em và trung thực. Việt Nam độc lập, chẳng những không làm hại đến lợi ích của Pháp, mà còn tăng cường vị trí và củng cố uy tín của Pháp ở Châu Á.

Sự đóng góp của Việt Nam cho sự vĩ đại của nước Pháp và cho sức mạnh của Liên hiệp Pháp, điều đó tất nhiên tùy thuộc vào mức độ phồn vinh của Việt Nam, mà sự chia rẽ và chia cắt không thể mang lại phồn vinh. Thật là phi lý nếu toan tính dựa vào nước Việt Nam suy yếu, chia rẽ và bị chia cắt để đạt được sự hùng mạnh của Liên hiệp Pháp. Liên hiệp Pháp chỉ có được vai trò với điều kiện nó giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó củ nó, và điều kiện đó chỉ có thực hiện được khi mỗi thành viên của nó cũng giữ được sự vững chắc, thống nhất và gắn bó của mình. Đó là cái giá phải trả cho tương lai của Liên hiệp Pháp. Chúng ta biết rằng nhân dân tất cả các nước ở Pháp quốc hải ngoại đều quan tâm đến việc thực hiện điều này. Thực vậy, việc liên kết các dân tộc tự do, bình đẳng và bác ái, gắn bó bởi một trong những sợi dây mạnh mẽ nhất, một lý tưởng chung, đó là lý tưởng dân chủ; việc liên kết đó hấp dẫn biết bao. Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong xã hội trong việc tổ chức xã hội loài người. Là một nước dân chủ, thành viên của Liên hiệp Pháp, nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hòa bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên Hợp quốc”.

Cần thiết phải trích dẫn như trên là để thấy rõ một cách đầy đủ và logic của lý luận của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết các mối quan hệ đa chiều giữa lịch sử và thời đại, giữa chính trị, kinh tế và văn hóa, giữa dân tộc và quốc tế… Thực tiễn ngót một thế kỷ qua đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng chứng minh rằng, do bản chất và dã tâm đen tối của các đế quốc thực dân đã cố tình làm mất đi những cơ hội cho những hợp tác tốt đẹp trên nguyên tắc đảm bảo tính tự quyết của mỗi dân tộc và các bên cùng có lợi.

Trong “Lời tựa” cho lần xuất bản cuốn thứ nhất cuốn “ Pari – Sài Gòn – Hà Nội” , Philippe Devillers viết: “Năm1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa thôi là chúng ta đã có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản một sự liên kết, hơn thế nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn khổ một tổng thể mà hai bên sẽ cùng nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt”. Điều này cho thấy một sự nuối tiếc của những công dân nước Pháp, họ ý thức được những mất mát trong lịch sử Pháp – Việt đã đem lại thiệt thòi cho cả hai dân tộc đáng lí không nên có. P.Dellivers cũng thừa nhận: “Ngay từ cuối 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu nhân dân Việt Nam phải tập phân biệt giữa những người Pháp: Một bên là thực dân đế quốc, một bên là những người dân chủ tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng, bác ái và hành động đi đôi với lòng tin” và “Bất hạnh đã đến, không phải không được kiểm soát cẩn thận. Sau đó, Chính phủ Pháp không muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí mật, một chính sách mà lịch sử ngày nay lên án”. Trong cuốn sách này cũng trích thư của Charle de Gaulle gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 2 năm 1966: Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau đại chiến thế giới thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giằng xé đất nước ngài hôm nay”. Đây thực sự là một nhận thức muộn màng. Vì cách đó hai mươi năm, ngày 18 tháng 6 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời Hãng thông tấn AFP: “Tôi rất tin cậy ở kết quả hội nghị Pháp – Việt này. Hai nước Pháp – Việt xa nhau không phải vì văn hóa, lý tưởng mà chỉ vì quyền lợi của một vài cá nhân. Mục đích của Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái, nếu Pháp thi hành đúng thì chắc chắn sẽ mua được tình thân thiện của nước Việt Nam”. Ngày ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng tất cả mọi nỗ lực để tránh cho hai dân tộc một cuộc chiến tranh đổ máu, đồng thời mở ra mối quan hệ cho sự phát triển trong hòa bình, độc lập. Song, chiến tranh đã đóng sập cánh cửa của sự phát triển đó không chỉ trong chín năm mà kéo dài tới tận tới năm 1975. Xâm lược Việt Nam và sau này đánh phá miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ theo vết xe đổ của thực dân Pháp tự mình chuốc lấy những thất bại đắng cay và cũng lại phải chua xót thừa nhận những đắng cay của mình, chẳng hạn như trường hợp của Robert S.McNamara – cượu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ. Trong cuốn “Nhìn lại quá khứ – tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, tuy bảo thủ và không được chân thành như người Pháp, nhưng McNamara vẫn phải rút ra “11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam” và đi đến nhận định: “Tóm lại đó là những thất bại chính của chúng ta. Mặc dù chúng xuất hiện rời rạc nhưng ở một mức nào đó, chúng có liên quan với nhau: Thất bại ở một khía cạnh này lại góp phần tạo nên thất bại ở khía cạnh khác. Mỗi thất bại đó, đến lượt mình, lại trở thành mớ bòng bong”. Thực ra, thất bại của đế quốc Mỹ trong cuộc xâm lược Việt Nam đã bắt nguồn từ lúc Chính phủ Hoa Kỳ chưa chính thức can thiệp vào Đông Dương. Cũng ngay từ năm 1946, ngày 16 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đường lối đối ngoại và thiện chí của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thư gửi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “…mục tiêu của chúng tôi là hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”. Tiếp theo, trong “Lời kêu gọi liên hợp quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “….nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kĩ nghệ của mình.
b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

Trong cuộc đấu tranh vì quyền thiêng liêng của mình, nhân dân Việt Nam có một niềm tin sâu sắc rằng họ cũng chiến đấu cho một sự nghiệp chung: Đó là sự khai thác tốt đẹp những nguồn lợi kinh tế và một tổ chức hiệu quả hiệu quả cho an ninh ở Viễn Đông”.

Chính sách mở cửa của Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước thế giới một cách thẳng thắn, chân thành và mạch lạc. Tư duy của Hồ Chí Minh cho thấy: Tuy mới thoát khỏi ách nô lệ kéo dài gần tám mươi năm nhưng khi dành được độc lập, dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng hội nhập với thế giới trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau sâu sắc và tầm nhìn thời đại. Đó là thái độ chủ động của một tư duy lược về sự hợp tác để đem lại những lợi ích thiết thực cho mọi quốc gia, cho mọi dân tộc, xóa bỏ những hận thù, những âm mưu, thủ đoạn can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của quốc gia này đối với quốc gia khác. Nhưng lịch sử – chính lịch sử của các cuộc xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã ngăn cản và làm chậm bước tiến đến hiện thực mà tư duy trong sáng của Hồ Chí Minh đã nêu lên từ giữa thế kỷ XX, để sau này bản thân họ phải hối tiếc cho chính những việc làm thiển cận của mình. Bởi, chiến tranh không chỉ đem đến cho dân tộc Việt Nam tang thương và thiệt thòi mà cũng đã cướp đi của dân tộc Pháp, dân tộc Mỹ và các quốc gia tham chiến những người con ưu tú, làm hoen ố những giá trị tinh thần cao cả và để lại những kí ức nặng nề cho các thế hệ sau đó. Tuy nhiên, mặc dù đã tự rút ra những bài học xương máu từ cuộc gây chiến với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc nói chung, đế quốc Mỹ nói riêng vẫn chưa chịu sửa chữa những lỗi lầm, tiếp tục gây ra xung đột vũ trang trên thế giới và can thiệp vào các quyền tự quyết của các dân tộc khác. Hiện thực đó nói lên rằng: Bản chất của chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản – là không thay đổi; mặt khác nó biểu hiện con đường suy thoái không thể tránh khỏi của một hình thái kinh tế – xã hội đang mắc vào sự khủng hoảng toàn diện và triền miên không tìm ra lối thoát. Các nhà trí thức tiến bộ phương Tây đã và đang tiếp tục tìm kiếm cách lí giải sự bế tắc này dưới nhiều góc độ khác nhau trên các lĩnh vực kinh tế văn hóa, xã hội từ đó phê phán tùy theo mức độ và theo các quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, Alain Touraine nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, trong cuốn “Phê phán tính hiện đại” đã phân tích những vấn đề do tính hiện đại đặt ra trong quá khứ cũng như hiện nay dưới góc độ triết học, cũng là sự tự phê phán chính những kinh nghiệm về tính hiện đại của Phương tây. A.Touraine viết: “Chúng ta ngày càng sợ rằng sự tăng trưởng phá vỡ mất những cân bằng tự nhiên cơ bản, làm tăng thêm những bất bình đẳng ở trình độ thế giới, áp đặt lên tất cả mọi người một cuộc chạy đua kiệt sức tới sự thay đổi. Đằng sau những nỗi lo ngại ấy đang hiện là một sự hoài nghi sâu xa hơn: Loài người phải chăng đang phá bỏ sự liên kết của nó với tự nhiên, đang trở thành dã man khi nó tưởng rằng đã được giải thoát khỏi sự bó buộc truyền thống và làm chủ được số phận của mình ?”. Điều này có nghĩa là, trải qua mấy trăm năm tồn tại, chủ nghĩa tư bản đem lại rất ít tiến bộ cho xã hội, ở chỗ nó không giải phóng thực sự để con người tự làm chủ số phận của mình, trái lại nền văn minh vật chất tăng trưởng ngày càng biểu hiện những mặt tiêu cực đến độ dã man trong các mối quan hệ ứng xử giữa con người với nhau. Người phương Tây đang phải tự nhìn lại chính mình và đối chiếu tư tưởng triết học của họ với tư tưởng minh triết phương Đông. Và, trong sự đối chiếu ấy họ nhận thức được Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết, rằng Người đã quy tụ và phát huy một cách đầy đủ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, của cả phương Đông và phương Tây đến độ thăng hoa của thế kỷ XX và trở thành “ Anh hùng giải phóng dân tộc” và “ Danh nhân văn hóa kiệt xuất” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đã nhất tôn vinh nhân dịp kỉ niệm 100 năm Ngày sinh của Người. UNESCO cũng đồng ý với nhận định: Hồ Chí Minh là “Hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định diện mạo của mình và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau”.

Thực tế cho thấy, muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau thì các dân tộc, các quốc gia phải thực sự và thành tâm “mở lòng” mình bằng việc xây dựng chính sách đối ngoại mở, chính sách kinh tế mở trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác để cùng nhau phát triển, tức là ai cũng có lợi trong sự hợp tác ấy. Những phát biểu của Hồ chí Minh đều xuất phát từ quyền lợi của dân tộc, của nhân dân mình và gắn với quyền lợi chung của các dân tộc trên thế giới, vì nền hòa bình thế giới và vì một thế giới đại đồng. Quan điểm về một nền kinh tế mở là một bộ phận khăng khít trong toàn bộ hệ thống quan điểm cách mạng của Người. Đề ra chính sách mở cửa và hợp tác với các nước trong mọi lĩnh vực, hơn ai hết Hồ Chí Minh rất thấu hiểu tình cảnh của một dân tộc bị o bế bởi phương thức sản xuất tự cấp tự túc, rằng nền kinh tế tiểu nông chỉ đem lại nghèo nàn và lạc hậu, không tạo ra được những cơ hội tiếp thu kĩ nghệ tiên tiến và như vậy không có cơ may để tiến kịp các dân tộc khác. Không những thế, chính sách “khai hóa” của thực dân, đế quốc (kiểu cũ hay kiểu mới cũng cùng bản chất) càng nhấn chìm dân tộc Việt Nam xuống bùn đen. Đấu tranh dành độc lập dân tộc, một mặt để thoát khỏi ách nô lệ, mặt khác để vươn ra thế giới, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh. Một quốc gia không có nền độc lập, tự chủ thì không thể và không bao giờ đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh.

Ngược lại, khi đã giành được độc lập mà không có chính sách mở cửa và hợp tác với các nước khác trên cơ sở của các nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế quy định, thì quốc gia cũng không thể phát triển theo đúng quỹ đạo,có khi còn lâm vào tình trạng bế tắc, thậm chí bị các quốc gia mạnh hơn chi phối và đi đến mất quyền độc lập và tự chủ. Thực tế của thế giới ngày nay đã diễn ra như vậy. Vì vậy, xây dựng một xã hội mở, trong đó nền kinh tế mở có vai trò trực tiếp và quan trọng, là một yêu cầu khách quan. Một nền kinh tế mở là một nền kinh tế bao gồm đầy đủ hai nhóm nhân tố: Nội lực và ngoại lực; trong đó nhóm nhân tố nội lực mang tính quyết định. Tư duy của Hồ Chí Minh đã giải quyết thấu đáo mối quan hệ nhân quả này ngay từ khi Người còn bôn ba trên thế giới và đặc biệt sáng tỏ, khúc chiết sau khi nước nhà giành được chính quyền và lập nên nhà nước dân chủ nhân dân. Cho dù tư duy của Người đã bị các thế lực phản động ngăn cản bằng các cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, thì tính đúng đắn của tư duy ấy vẫn được Đảng và nhân dân của Người thực hiện thành công, để cuối cùng dành được thắng lợi huy hoàng. Chính thực lực vốn có và thực lực ấy luôn được phát huy cao độ vừa là nhân tố thu hút sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ tận tình của bầu bạn và nhân dân trên thế giới, vừa là nhân tố quyết định đánh bại ý chí xâm lược của các cường quốc đế quốc mạnh gấp nhiều lần và đó cũng là nền tảng để sau khi chiến tranh chấm dứt, dân tộc Việt Nam đã “khép lại quá khứ”, “gác lại hận thù” nhanh chóng bắt tay với các nước trên tinh thần học hỏi để khôi phục và xây dựng đất nước giàu mạnh. Tư duy về một nền kinh tế mở của Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược, vì đã kết tinh đầy đủ tính dân tộc và tính thời đại, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới ngày nay.

Theo NXB Thanh Niên
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tìm hiểu thực chất và ý nghĩa của tư tưởng triết học Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tuấn Anh

Trong các bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.

Là học trò của C.Mác, Ph. Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duy triết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác – Lênin. Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm triết học như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biện chứng của tự nhiên, Bút ký triết học… Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt động cách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường và nhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Chính nhiệm vụ này đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gần gũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điều giản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm. Rõ ràng, phải có một trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoá thành triết học của cuộc sống. Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tình hình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả; đồng thời không rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí cũng như giáo điều, xét lại; mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữ triết học. Nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc. Hồ Chí Minh đã dựa chắc vào vấn đề cơ bản triết học để giải quyết mối quan hệ giữa việc nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa phát triển sản xuất với củng cố hệ thống chính trị, tăng trưởng kinh tế với phát triển giáo dục văn hoá và nhiều mối quan hệ khác như mối quan hệ giữa xây dựng đất nước với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, giữa kháng chiến với kiến quốc. Rõ ràng, khi giải thích hàng loạt các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nói tới triết học, bàn tới triết học và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh thể hiện rõ những giá trị nhân văn đặc sắc, tràn đầy tinh thần biện chứng duy vật. Trong đó có sự hoà quyện đến nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh hoa văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây và lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê nin.

Với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, chúng ta nhận thấy ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phép “biến dịch” của triết học phương Đông và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thế giới quan Hồ Chí Minh là thế giới quan khoa học. Trong đó, thế giới quan triết học Mác – Lênin đóng vai trò quyết định bản chất khoa học, cách mạng. Thế giới quan của Người còn ảnh hưởng của tư tưởng triết học dân tộc, của tinh hoá văn hoá, triết học phương Đông, phương Tây. Về khuynh hướng tư duy, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đi sâu lý giải các vấn đề xã hội và nhân sinh. Bởi lẽ, xuất phát từ hoài bão lớn lao và mục đích chính trị cao cả là “cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc” nên Người đặc biệt chú trọng xây dựng lý luận về chính trị – xã hội, đạo đức cách mạng nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn hơn là hình thức học thuyết triết học, nhận thức và lôgíc học như các nhà triết học vẫn thường làm.

Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Người có vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng, quan điểm triết học của Người cùng với triết học Mác – Lênin luôn là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cách mạng Việt Nam. Chúng ta không thể hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh nếu như không hiểu cái gì là cốt lõi quy định cách nhìn, cách nghĩ và phương pháp cách mạng cũng như cái gì là trung tâm dẫn dắt đồng bào ta vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đã đi vào thực tiễn xã hội Việt Nam, lấy cái cốt lõi là giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống hoà bình, tự do, ấm no, hạnh phúc cho đồng bào làm mục đích hướng tới, đạt tới. Đây thực chất là những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ và phát triển triết học Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử mới, nhất là việc phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Những cống hiến của Hồ Chí Minh trong phát triển triết học Mác -Lênin là tư tưởng về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực ra, hai khái niệm này đều được Hồ Chí Minh dùng cùng một nội hàm như nhau. Đối với Hồ Chí Minh, thực tế không đối lập với thực tiễn, nó chỉ rộng hơn thực tiễn mà thôi. Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của triết học Mác -Lênin, Hồ Chí Minh dùng khái niệm thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn thì Người thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, khái niệm thực tiễn và thực tế được nhân dân ta hiểu và sử dụng cùng nghĩa (xem Từ điển Tiếng Việt 1991). Trong thế giới quan triết học của Hồ Chí Minh, vấn đề con người chiếm vị trí hết sức quan trọng. Phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề con người ở Hồ Chí Minh không phải là chung chung, trừu tượng, phi lịch sử như trong triết học nhân bản mà là con người hiện thực, con người lao động “đồng bào tôi”. Trọn đời mình, Người phấn đấu, hy sinh là nhằm mục đích đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm cho đồng bào. Chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả của Hồ Chí Minh thể hiện ở lòng thương yêu con người, tôn trọng, tin tưởng ở nhân dân, coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân. Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạt đến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác – Lênin mà cốt lõi là tư duy biện chứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phương Đông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thống luận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội …có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học Hồ Chí Minh có một số đặc trưng cơ bản như sau:

Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động. Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động. Thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người. Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam. Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng. Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.

Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúng nhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết học duy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừu tượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ được bản chất khoa học, cách mạng của nó. Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: Nắm vững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấy hiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân.

Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phương châm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu, kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vật mác-xít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phương Đông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm, quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác – Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác – Lênin, nhất là một số vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu có thêm kho tàng lý luận Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta.

Theo cpv.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Chiến lược Hồ Chí Minh về đào tạo người cán bộ, công chức

Chúng tôi cho rằng những chủ trương của Hồ Chủ tịch liên quan đến xây dựng và rèn luyện cán bộ, trong đó có việc đào tạo kiến thức và rèn luyện phẩm chất cán bộ của Người mang tính chiến lược. Nhưng trong toàn bộ di sản của Người hầu như không dùng từ “chiến lược” trong các giáo huấn cũng như các hoạt động của người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Vậy vấn đề xây dựng đội ngũ ở tầm chiến lược thể hiện như thế nào? Xin được nêu lại mấy giáo huấn sau đây của Người cho thấy tầm chiến lược của vấn đề này:

Đưa sự hiểu biết của người dân trong đó có cán bộ ở tầm “quốc hồn” của dân tộc khi Người nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, nếu muốn không dốt thì phải học, học liên tục, học suốt đời để dân tộc đó có trí tuệ bền vững, nghĩa là việc học là việc chiến lược, liên tục, lâu dài;

Một trong những việc làm đầu tiên trong hoà bình kiến quốc là việc học để “diệt giặc dốt”. Coi việc học của công dân như là việc đánh giặc rõ ràng là vấn đề đó được đặt ở tầm quốc sách, chiến lược!

Một trong những đánh giá tiêu chuẩn cán bộ rất đơn giản nhưng cũng đầy bao quát về người cán bộ cũng mang tầm chiến lược dùng người và rèn luyện nhân cách: Tiêu chuẩn tài và đức. Tài mà thiếu thì khó làm mọi việc, đức thiếu thì vô dụng. Phẩm chất của công chức chính là vấn đề chiến lược của Đảng và Chính phủ trong việc cải cách nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị.

Chúng tôi dùng chữ “chiến lược” để nhận thức vấn đề đào tạo và xây dựng đội ngũ trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ cơ sở nhận thức như vậy.

Có thể nói những giáo huấn Hồ Chí Minh liên quan đến yêu cầu nâng cao sự hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện chuyên môn đa phần nhằm vào công việc của người cán bộ trong bộ máy hành pháp. Thực ra, ở giai đoạn này những khi Hồ Chủ tịch đưa ra những chỉ thị giáo dục cán bộ, công chức cũng chưa phân biệt người làm việc trong bộ máy của Đảng và người làm việc trong bộ máy nhà nước. Nói cụ thể đa phần những bài nói hay viết của Người phần lớn liên quan đến đội ngũ những người làm trong bộ máy nhà nước.

Chính Hồ Chủ tịch là người Việt Nam đầu tiên chỉ ra vị trí cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước. Vì vậy Người có những lời dạy đối với đảng viên thì phần lớn là những đảng viên trong bộ máy chính quyền. Hơn nữa, ở vào thời kỳ này vấn đề phân quyền ở nước ta cũng chưa có điều kiện bàn tới như một phần của khoa học chính trị mà chỉ thể hiện trong cấu trúc thiết chế của Hiến pháp. Nhưng sự vận hành của bộ máy hành pháp là hoạt động cơ bản, bao trùm vì thời kỳ này nước ta đang trong giai đoạn của thời kỳ kháng chiến.

Vì vậy, những gì Người nói về đạo đức, về tác phong, về yêu cầu học tập của cán bộ cũng liên quan nhiều nhất đến đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành pháp.

Nhận xét về những chỉ giáo Hồ Chí Minh liên quan đến kiến thức, hiểu biết nói chung của cán bộ, công chức, chúng tôi thấy chúng không chỉ dừng lại như những kiến thức văn hoá, thậm chí kiến thức chuyên môn, mà còn cả những kiến thức về chính trị, đạo đức, nhân văn. Muốn có kiến thức phải học tập. Việc học diễn ra trong nhà trường, ở cơ quan, đoàn thể, ở trong xã hội và trong nhân dân…

Xin nêu một số chủ đề dưới đây:

Học để phụng sự Tổ quốc và nhân loại; phụng sự nhân dân và phụng sự giai cấp. Đó là yêu cầu chính trị vừa là sứ mệnh của công dân trước Tổ quốc, vừa là trách nhiệm của một con người trước nhân loại. Người phụng sự trực tiếp cho Tổ quốc chính là người làm việc trong bộ máy công quyền, là những cán bộ và công chức. Mỗi cá nhân là thành viên của một nhà nước và mỗi quốc gia là một tế bào tạo nên thế giới của nhân loại.

Với sự thấm nhuần giữa quốc gia, dân tộc với những nguyên lý mác xít về sứ mệnh chung của mỗi thành viên đối với sự tiến bộ nhân loại, những giáo huấn của Người thường không dừng lại ở quan hệ của mỗi cá nhân đối với Tổ quốc và còn mở rộng thành quan hệ trong một thế giới đồng loại.

Vì thế, khi đề cập mục đích học tập để phục vụ Tổ quốc thì Người nhấn mạnh trong mối quan hệ với mục tiêu cho nhân loại (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.684). Nếu chỉ nói ở cương vị một người đứng đầu nhà nước phải chăng Người đề cập trách nhiệm công dân trước Tổ quốc là đủ và nói tới nhân loại là nói theo tinh thần vô sản quốc tế Mác – Lê-nin? Theo chúng tôi đúng là như vậy.

Đối với một quốc gia, Hồ Chủ tịch đã nói: Một dân tộc dốt là dân tộc yếu (T.4, Tr.8). Như thế một thế giới gồm nhiều quốc gia thất học thì thế giới đó không thể có nhiều tiến bộ được.

Nếu từ đó mà liên hệ tới giáo huấn của Người về việc học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân cũng có thể khẳng định rằng, một nền hành chính gồm những người cán bộ, công chức dốt thì không thể hoàn thành bổn phận công bộc cho dân được, không thể tạo ra sức mạnh của bộ máy nhà nước được…

Học để làm cán bộ, để làm việc

Có thể nói, đây chính là giáo huấn giành riêng cho cán bộ, công chức và đoàn thể. Tư tưởng về sự cần thiết phải học tập để có kiến thức cho mỗi con người nói chung và cho những người công bộc của dân nói riêng xuất phát từ mấy quan điểm cơ bản:

Xã hội nào cần con người thích hợp cho nó; muốn có chủ nghĩa xã hội cần có con người xã hội chủ nghĩa; muốn vậy phải là người có học người cán bộ là người cần học trước hết (để phụng sự nhân dân và để giúp dân chống sự dốt nát đó là một loại giặc ở bên trong của quốc gia).

Nói theo hiệu quả của công việc, cán bộ tốt là vốn liếng của đoàn thể (cán bộ, công chức tốt càng là vốn liếng của Nhà nước và của dân tộc, quốc gia); không có cán bộ tốt thì hỏng việc. Tốt là một phạm trù bao gồm hai phẩm chất hồng và chuyên… Nếu chỉ có hồng mà không có chuyên thì làm việc cũng khó (ngày nay có những việc nếu không học thì không thể làm được việc lớn); người tốt bụng là rất đáng quý nhưng Người cho rằng như thế là chưa đủ vì làm cán bộ là làm việc chứ không làm “Ông Bụt”!

Học là một công việc trau dồi kiến thức. Nhưng học không có nghĩa là chỉ học ở nhà trường. Trong điều kiện đất nước còn khó khăn của những năm kháng chiến gian khổ, việc học lại càng khó khăn hơn. Từ thực tiễn của việc học và điều kiện khó khăn của nước nhà, Hồ Chủ tịch đã chỉ cho mọi người thấy phương pháp để có thể học được, đó là:

Học ở trường học ở sách vở (đại học thì làm gì, trung học, tiểu học thì làm gì, Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.509).

Học ở nhân dân, Người nói thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ, nếu cán bộ, công chức không học thì thành ra lạc hậu, vậy phải học để “tiến bộ đuổi kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.8, Tr.215).

Cán bộ, công chức phải tự học và tự mình học lấy những cái mới mỗi người cần phải rèn luyện và coi việc học như một nhu cầu (của sự hứng thú và của công việc). Vì vậy, Người nói người học phải “học không biết chán” (còn người dạy thì “dạy không biết mỏi”).

Thật là đúng đắn và khoa học, vì rằng chẳng có dân tộc nào mà ở đó việc học ở trường là công việc suốt đời, những đời người thì sự hiểu biết luôn ở phía trước. Không ai là người bình thường lại có thể nói việc học đối với họ là kết thúc vì không còn gì là họ không thành thạo!

Cho nên tự học không những là phương pháp mà còn là phương châm của hành động. Hồ Chủ tịch nói: Lấy tự học làm cốt; sắp xếp thời gian và bài học cho khéo (cho hợp lý – N.H.Kh), không phải có thầy thì học (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.273). Ngày nay, cán bộ, công chức được hưởng những điều kiện hoàn toàn mới: được ưu đãi về thời gian, được giành ngân sách cho học tập, được lượng hoá kiến thức trong lộ trình thăng tiến đã nói lên rằng: học là một phần trong đời công vụ của công chức và vấn đề học mà Hồ Chủ tịch kêu gọi thực sự là vấn đề chiến lược.

Thực tiễn cũng là trường học. Nguyên lý của việc học đã được Hồ Chí Minh đúc kết và giáo dục cán bộ: học phải đi đôi với hành (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.294; T.6, Tr.50; T.5, Tr.235). Để tránh sự giáo điều, sách vở của những người chỉ thuần tuý ham chữ, Người cho rằng nếu chỉ có lao động trí óc mà không có lao động chân tay thì chẳng khác nào người ta bị “bán thân bất toại” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.9, Tr.174); tách rời thực tế thì người có học chỉ như “cái hòm đựng chữ” mà thôi (Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.5, Tr.234).

Để phòng ngừa bệnh kiêu ngạo của một số người được học Người đã chỉ ra những căn bệnh của người có học: xa rời thực tiễn, nói thì cái gì cũng thông nhưng động vào thực tiễn (những tình huống cụ thể) thì lại lúng túng như từ “trên trời rơi xuống”! Người nói rằng những người vì có ít chữ mà đã cho là trí thức thì chưa phải là “trí thức hoàn toàn”, nếu ai coi thường, khinh rẻ lao động thì chúng ta “kiên quyết chống lại”.

Chúng tôi xin dẫn một số quan điểm còn rất thời sự mà Hồ Chủ tịch phát biểu tại Hội nghị Giáo dục toàn quốc năm 1948 (1):

Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Đây có phải là quan điểm giáo dục phải đáp ứng nhu cầu của xã hội? Theo chúng tôi đúng là như vậy. Quan điểm này thể hiện rõ trong giáo dục đào tạo và bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ, công chức.

Qua thực tiễn những năm vừa qua, chúng tôi thấy quan điểm của Hồ Chủ tịch còn rất có ý nghĩa thực tiễn cho việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay là:

Không thể cứ dạy theo kiểu người dạy cứ nói, người nghe cứ nghe. Người dạy không giải đáp được những vấn đề của thực tiễn khi người học có câu hỏi muốn làm rõ. Vì vậy, chương trình cũ, không phù hợp cần phải thay thế hoặc sửa đổi một cách phù hợp với thời kỳ đổi mới; đổi mới giai đoạn đầu (giai đoạn hội nhập trên “giấy”) phải phù hợp với giai đoạn tiếp theo (giai đoạn hội nhập thực tế).

Chúng ta phải sửa đổi cách dạy. Cách dạy ở đây bao hàm cả cách dạy của giáo giới và cách dạy theo đối tượng: Dạy ai cái gì và ai đi học cái gì? Có nên tiếp tục hay kéo dài việc đào tạo công chức theo kiểu “tiền bổ” như hiện nay, nghĩa là một người giữ chức vụ rồi (do bầu hay do bổ nhiệm) mới “cắp sách đi học”?

Thực tiễn giáo dục và đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như trong hệ thống công vụ hành chính đang trở thành vấn đề rất đáng quan tâm. Đó là sự cách biệt giữa cái học trong nhà trường và cái cần ngoài xã hội.

Phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ. Đây là quan điểm có thể sát hợp với quan điểm chuẩn hoá kiến thức cho cán bộ, công chức trong đó có những người của bộ máy hành chính. Giúp đỡ theo chúng tôi chính là bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho những cán bộ, công chức khi có những chính sách hay tình huống mới của quản lý đặt ra.

Nước ta đã từng tồn tại chế độ “hậu bổ”, nghĩa là một người học đáp ứng với tiêu chuẩn quy định cho một chức vụ thì mới được bổ nhiệm vào chức vụ (Tất nhiên cũng không thể cực đoan việc học một lần là xong, mà cần có sự bồi dưỡng có tính cập nhật. Việc này hoàn toàn khác với tình hình hiện nay là có người được bầu hay bổ nhiệm vào chức vụ lại phải đi học để có một bằng cấp cao hơn kiến thức họ có).

Vận dụng như thế nào?

Trong thời kỳ đổi mới với bao khó khăn và thử thách từ nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh và quốc phòng. Thực tiễn kinh tế – xã hội và những tình huống chiến lược cũng như những nhiệm vụ cụ thể nhiều khi chúng ta tỏ ra bế tắc chỉ vì việc học. Bế tắc không phải chúng ta không chú ý đến việc học tập đối với nền giáo dục quốc dân và đối với bộ máy nhân lực của Chính phủ chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc.

Nếu không, làm sao chúng ta đứng vững cho đến ngày nay với một nhà nước độc lập tự chủ, kinh tế phát triển đều đặn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Vì vậy, xin được miễn nói những gì là thành tựu. Chỉ xin nói thêm về những thực trạng cần có đổi mới trong việc học tập cho cán bộ và công chức từ giáo huấn Hồ Chí Minh:

Chưa có chương trình cụ thể để gắn việc học với điều kiện của thực tiễn. Làm cái gì thì học cái đó trước, cái đó nhiều, cái đó suốt đời. Đưa người đã học vào bộ máy công chức là chính, lấy người chưa học là phụ (tránh tình trạng hiện nay: sinh viên thất nghiệp, công chức đi học tại chức!).

Đưa thực tiễn vào tất cả các khâu: phân bổ thời gian; bố trí con người “dạy thực tiễn” (như dạy sinh viên hành chính là trưởng phó phòng, chủ tịch, phó chủ tịch, dạy tiếp dân…).

Tiếp cận cách thức đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức trong nước với thế giới để tránh tình trạng bất cập có thể có: một bên là Việt Nam và một bên là thế giới còn lại!

Thiết nghĩ một trong những điều mà giáo huấn Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh chính là giá trị “đi cùng thời đại” của những giáo huấn đó.

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, T.5, Tr.462.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Khiên
Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Xưa và nay trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh TL).

Cần phải thấy rằng Cụ Hồ thuộc lớp người “xưa nay hiếm” vì hiếm thấy những người như Cụ đã giải quyết nhuần nhị vấn đề xưa và nay. Cụ nhuần nhị cái xưa, nhuần nhị cái nay và kết hợp xưa nay cũng rất nhuần nhị, kỳ lạ. Cụ xem xét, tìm hiểu “xưa”, gạn đục khơi trong là để soi sáng hiện tại, phục vụ nay. Cụ nghiên cứu nay, chắt lọc tinh hoa hiện đại, học chủ nghĩa Mác – Lênin và “học tinh thần xử lý mọi việc”, là “học lập trường, quan điểm, phương pháp” để kiểm nghiệm lại “xưa”, cùng hướng tới nay. Cụ Hồ nói “trung với nước, hiếu với dân” là sự chứng minh không đoạn tuyệt cái xưa, mà đưa nội dung mới vào cái cũ. Cách chuyển “xưa” qua “nay” như vậy là rất nghệ thuật, tinh vi. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Cụ Hồ là đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội. Tức là cụ đã đi từ cái quí của người Việt Nam từ ngàn xưa lưu truyền lại đến tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân.

Ai cũng rõ không phải một mình Cụ Hồ nghiên cứu lý luận của Khổng Tử. Nhưng chỉ có Cụ Hồ nói rằng: “Lý luận của Khổng Tử không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và sự trang nhã” (1). Cụ Hồ là người cộng sản chân chính. Và chính vì là người cộng sản chân chính mà Cụ biết thâu thái tất cả những giá trị chân chính của người xưa đã đạt được. Theo Cụ Hồ, Châu Á có Khổng Tử với thuyết Đại đồng là một trong những lý do cho phép chủ nghĩa cộng sản dễ thích nghi ở Châu Á hơn là bên Châu Âu. Có một lần tiếp chuyện phóng viên báo Đảng và Thông tấn xã Cộng hòa Dân chủ Đức là Irê-nê Pha-ba. Cụ Hồ đã nhận xét: “Nguyễn Du là một nhà thơ cổ điển vĩ đại của chúng tôi…Những người cộng sản chúng ta rất quí trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”(2). Người cũng nhiều lần dạy rằng: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa”. Tình nghĩa ở đây theo tôi hiểu chính là giá trị văn hóa tinh thần từ ngàn xưa của con người Việt Nam.

Nhớ lại cuộc hành trình vạn dặm của Cụ Hồ đi tìm đường cứu nước. Cụ đã đi từ môi trường văn hóa nông thôn đậm đặc tư tưởng Nho giáo ra môi trường văn hóa thành thị, từ “Tứ thư, ngũ kinh” đến “Tự do, bình đẳng, bác ái”. Cụ đi từ Đông sang Tây, từ Nho học đến Tây học, từ dân tộc tới nhân loại, từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đến chủ nghĩa Mác-lênin. Rồi ngược lại, đan xen và hòa quyện. Đấy là một cuộc hành trình văn hóa khép kín Đông – Tây, kết hợp hài hòa, biện chứng giữa cổ truyền với hiện đại vì mục tiêu giải phóng con người và mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cụ Hồ quan niệm cái xưa, cái nay với một phương pháp tư tưởng hết sức biện chứng, không rập khuôn, cứng nhắc. Cụ phân biệt “cái cũ mà xấu”, “cái cũ phiền phức” và “cái cũ mà tốt”, “cái mới mà hay”, từ đó để có thái độ phá bỏ và xây dựng đúng mức. Lời dạy của Cụ Hồ là:

Xóa bỏ triệt để những cái cũ mà xấu, sửa đổi những cái cũ phiền phức, phát triển những cái cũ mà tốt; phải triệt để làm những cái mới mà hay; phải xây dựng nếp sống “thuần phong mỹ tục”, phải tẩy sạch những gì mà giáo dục thực dân để lại. Từ phương pháp tư tưởng đó trong tư tưởng Cụ Hồ, ta dễ dàng nhận thấy khi xem xét, đánh giá xưa nay, Cụ Hồ thường tìm lấy mẫu số chung là sự “mưu cầu hạnh phục của loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội” làm điểm tương đồng, chứ không phải vì nó là “xưa” hay là “nay”. Cụ Hồ chẳng đã từng “cố gắng làm người học trò nhỏ” của cả Khổng Tử, Giêsu, cả Mác và Lênin đó sao? Về vấn đề này, Cụ Hồ viết: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng. Song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”(3). Người lại viết: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời”(4).

Cụ Hồ đề cao tư tưởng tốt đẹp của người xưa không có nghĩa là quá lưu tâm tới cái xưa, đi hẳn vào cái xưa, là “nệ cổ”, “phục cổ”, là đóng khung quanh chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ, tách mình ra khỏi những vấn đề của thế giới hiện đại. Xưa, nay trong tư tưởng Cụ Hồ là sự hòa quyện và được xem xét bằng một thái độ khách quan, khoa học, cách mạng.

Liên quan tới xưa, nay và lớn hơn thế là vấn đề đặc điểm dân tộc, tình hình thực tế của nước ta với chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm của các nước anh em. Trong lĩnh vực này, Cụ Hồ là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cụ Hồ dạy “Chúng ta phải học chủ nghĩa Mác – Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta…Hiện nay đứng về mặt xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta. Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến với những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”(5).

Thiết nghĩ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xưa và nay sẽ rất bổ ích cho sự nghiệp cách mạng đổi mới hôm nay. Bởi vì như Lênin đã dạy: “Việc dạy dỗ, giáo dục và rèn luyện thanh niên phải xuất phát từ những vật liệu mà xã hội cũ đã để lại cho chúng ta. Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản từ tổng số những kiến thức, các tổ chức và thiết chế, bằng cái số dự trữ nhân lực và vật lực mà xã hội đã để lại cho chúng ta”(6).

——————————

(1) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, NXB Tác phẩm mới, 1985, tr.294.
(2) Bác Hồ với văn nghệ sĩ, NXB Tác phẩm mới, 1985, tr 335-336.
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, ST. H. 1985, tr. 336.
(4) Hồ Chí Minh với các lực lượng vũ trang nhân dân, QĐND, 1962, tr.124.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7.1987. ST. H 1987, tr. 782.
(6) Lê nin. Toàn tập, tập 41, NXB Tiến Bộ. Mátxcơva. 1987, tr. 357

Theo cuốn Hồ Chí Minh – Hiện thân của Văn hóa hòa bình.
Anh Tú (st)

bqllang.gov.vn

Quá trình nhận thức về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

(Ảnh minh hoạ).

(TCTG) – Thống nhất với tư tưởng các bậc thầy của giai cấp vô sản thế giới về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng đã từng bước nêu ra những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

1. Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội ưu việt, tiến bộ hơn các xã hội trước đó về các đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa… Để có được xã hội đó, những người cộng sản phải phác thảo ra được những đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội. Nếu không phác thảo ra được những đặc trưng đó thì rất khó định hướng để xây dựng chủ nghĩa xã hội và biến nó trở thành hiện thực.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã phác thảo ra một số nét cơ bản về một xã hội tương lai với 6 đặc trưng:

Một là, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí.

Hai là, chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

Ba là, chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.

Bốn là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
Năm là, nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.

Sáu là, chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện sự bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.

Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Là kết quả của việc nhận thức tình hình kinh tế – xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong sự đối chiếu, so sánh với chủ nghĩa tư bản đương thời, những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được các nhà kinh điển đưa ra thể hiện trình độ phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản.

2. Thống nhất với tư tưởng các bậc thầy của giai cấp vô sản thế giới về những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh trong thực tiễn chỉ đạo cách mạng đã từng bước nêu ra những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Quan niệm khoa học, hệ thống của Người dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời có bổ sung một số đặc trưng phản ánh đặc điểm, truyền thống của Việt Nam. Trong đó, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và con người được thể hiện rõ, đó là, “nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc”. Vì vậy, “nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất”(1).

Chủ nghĩa xã hội là “một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”(2), trong đó có “công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến”(3). Người nhấn mạnh: “Chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình”(4), vì “chủ nghĩa xã hội là do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên”, “là chế độ do nhân dân lao động làm chủ”(5), là xã hội “không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng”(6). Cũng theo lời Người, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy chính quyền cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ của dân”(7). Đặc biệt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng… Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt”(8). Luận đề tổng quát đó được Người cụ thể hóa là “chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”(9) và “chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”(10)…

3. Quán triệt những tư tưởng có tính chất định hướng, dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng tìm tòi về mặt lý luận và tổng kết thực tiễn để đưa ra một mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp ở Việt Nam.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng, gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991, mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng bao gồm 6 đặc trưng:

– Do nhân dân lao động làm chủ;

– Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;

– Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

– Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân;

– Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;

– Có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới;

Sau 5 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, với những đặc trưng ưu việt trên, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn: GDP bình quân hằng năm thời kỳ 1991-1995 đạt 8,2%, lạm phát từ 67,1% năm 1991 xuống còn 12,7% năm 1995. Đầu tư toàn xã hội bằng nguồn vốn trong và ngoài nước so với GDP năm 1990 là 15,8%, năm 1995 là 27,4%. Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu mỗi năm 2 triệu tấn gạo.

Tiếp đó, trong 5 năm (1996-2000), mặc dù chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực, cùng với thiên tai nghiêm trọng liên tiếp xảy ra nhưng nhân dân ta tiếp tục đạt nhiều thành tựu quan trọng: GDP tăng 7%/năm, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,7% so với mục tiêu đề ra 4,5 – 5%. Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2000 đạt 4,3 tỷ USD, gấp hơn 1,7 lần so với năm 1995. Trên cơ sở đó, Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) đã khẳng định những thành tựu mà nhân dân ta thu được qua những năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong thời kỳ 2001-2005, vượt qua những khó khăn, thách thức, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta ra sức phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và đã đạt những thành tựu rất quan trọng: tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,51%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến rất quan trọng.

Tại Đại hội Đảng lần thứ X (4-2006), trên cơ sở đánh giá những thành tựu to lớn mà nhân dân ta đạt được đã nhấn mạnh: “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”(11).

Trên cơ sở tổng kết, bổ sung, phát triển những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh năm 1991 và Đại hội X (4-2006), Đại hội Đảng lần thứ XI (1-2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 2011 (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó nêu rõ 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội:

– Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

– Do nhân dân làm chủ;

– Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

– Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

– Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

– Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

– Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

– Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới;

Các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng được nêu trong Cương lĩnh (bổ sung phát triển năm 2011) là kết quả của công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Đó cũng là thành quả của sự kết hợp hài hòa giữa cái phổ biến và cái đặc thù, cái chung và cái riêng để tạo nên mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận của Đảng ta trong quá trình tìm tòi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam./.

(1), (3), (8), (9) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.10, tr.312, 13, 591, 317.
(2), (4), (5), (6) – Sđd, t.9, tr.24, 298, 299, 312.
(7) – Sđd, t.6, tr.515.
(10) – Sđd, t.8, tr.226.
(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr.68.

Theo tuyengiao.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nguồn lực con người – từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển như vũ bão, toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu, kinh tế tri thức trở thành một đặc trưng của nền kinh tế thế giới thì vai trò động lực, vị trí trung tâm của con người trong quá trình phát triển đã thực sự được khẳng định. Con người và phát huy nhân tố con người thu hút sự quan tâm, chú ý, được thảo luận rộng rãi trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Trong tiến trình phát triển, cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh: Nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại. Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”(1); nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Xây dựng và chăm lo cho con người ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn, bước đầu góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Làm thế nào xây dựng nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả nhất của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi. Nó trở thành mục tiêu, lý tưởng, được toả sáng trong từng suy nghĩ, cử chỉ, hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta thấy toát lên nội dung quan niệm về con người như sau:

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”(3). Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai, Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

1. Con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Nhân tố con người là vốn quý nhất, quyết định thắng lợi được Hồ Chí Minh đề cập ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ; mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Hồ Chí Minh nói: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “cán bộ là gốc của công việc”; “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “chúng ta phải biết quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội”…

Tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã được bàn nhiều trong lịch sử mà tiêu biểu nhất là trong Nho giáo. Nhưng đến Hồ Chí Minh, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” đã thể hiện một sắc thái mới, với tư thế mới. Nói đến “Dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nói đến toàn thể nhân dân, nói đến dân chủ. Điều này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Dân vận” (15-10-1949), Người viết:

“Nước ta là nước dân chủ.

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã tới chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4).

Như vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội: lợi ích, quyền hạn, công việc, trách nhiệm, chính quyền, đoàn thể (tức là Đảng), quyền hành và lực lượng đều nhằm vào mục tiêu: Của dân, do dân, vì dân, ở nơi dân. Nó xác định vai trò dân chủ: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.

Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”, thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần.

Hồ Chí Minh nói: “Vì chúng ta quên một lẽ rất đơn giản dễ hiểu: Tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”; quần chúng còn là người sáng tác nữa (các giá trị văn hóa – tinh thần). Hồ Chí Minh giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(5).

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” để rồi khái quát ở tầm chân lý: “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong”(6).

Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Mà mục tiêu tổng quát là: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Mục tiêu đó biểu hiện thành các mục tiêu cụ thể:

Giai đoạn trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc. Người nói: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, thì mục tiêu: Ăn, mặc, ở, học hành lại được ưu tiên hơn. Ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”.

Sau năm 1954, miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành tốt việc sửa sai, từng bước phát triển kinh tế tập thể. Giai đoạn này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Bước sang năm 1958, kết thúc thời kỳ khôi phục kinh tế, mở đầu thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội những mục tiêu cơ bản nhằm giải phóng con người. Trong bối cảnh tập trung mọi nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế và tiến hành đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến con người. Tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn.

Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”.

Nếu Tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Hồ Chí Minh nói: “Tất cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện thiết thực của mình mà tiến dần”.

Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.

Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa – đạo đức – truyền thống là những yếu tố cấu thành đời sống tinh thần, tâm linh con người. Con người không chỉ tồn tại bằng đời sống vật chất, mà còn tồn tại cả trong đời sống tinh thần. Con người không chỉ chịu sự chi phối của các quy luật vật chất khách quan, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật tình cảm, các chương trình kế thừa về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Giải phóng con người về mặt chính trị – xã hội là điều kiện tiên quyết, nhưng mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ. Con người tồn tại hài hòa trong môi trường đã được nhân tạo hóa dưới dạng: Đạo đức, pháp luật, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… gọi chung là văn hóa – đạo đức – truyền thống. Bản chất của nó được thể hiện trong các giá trị vật chất, tinh thần, tập trung nhất ở nhân cách và lối sống con người.

Lý tưởng mà suốt đời Hồ Chí Minh theo đuổi là mưu cầu độc lập cho dân tộc, người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một xã hội mới theo Hồ Chí Minh quan niệm là một xã hội trong đó con người được tự do, bình đẳng, hạnh phúc. Con người có sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có những quan hệ với tự nhiên, xã hội… trong sự biểu hiện cao nhất về văn hóa – đạo đức – truyền thống. Do đó, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng, không chỉ ở thể chế chính trị dân chủ, cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hiện đại, mà còn là một cơ cấu có giá trị văn hóa-đạo đức nhân bản. Sự phát triển kinh tế nếu không chú ý đến văn hóa – đạo đức thì không đạt tới sự phát triển bền vững. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc nhấn mạnh: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa, muốn có những con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là con người có thể được phát triển sớm hơn so với sự phát triển kinh tế-xã hội. Xây dựng con người không chỉ bồi dưỡng về chính trị, văn hóa, chuyên môn kỹ thuật mà đặc biệt là đạo đức. Sự tiến bộ xã hội, sự tiến bộ của con người có thể dựa vào tiêu chí tiến bộ về văn hóa – đạo đức, coi như trình độ người trong phát triển. Ưu tiên văn hóa – đạo đức trong phát triển xã hội “là sự phát triển rút ngắn”, nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong đó “phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ là “cơ cấu lại” hệ thống các chuẩn mực văn hóa – đạo đức khách quan, mà ở chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống, nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận “phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân”; phải “dựa vào: lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân” và “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

2. Con người là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội.

Với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nước ta từ thiếu đói đã tiến đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn.

Lại một lần nữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựa vào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quan tâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng ta phát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng của mỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng.

Bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìm đắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của quốc gia dân tộc.

Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữa tích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đường chúng ta đi. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cách dùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sự xứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay.

Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó trước hết là cuộc cách mạng của con người, vì con người và do con người. Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủ nghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến. Đó phải là kết quả những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động và tính tích cực chính trị – xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng.

Trong sự nghiệp cách mạng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Trên thực tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó. Sự nghiệp chăm lo cho hạnh phúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đã được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm. Lời dạy của Bác – “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với tư cách là Đảng cầm quyền.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định mục tiêu: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn, đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”(7)./.

(1), (2), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.41, 76, 216-217.
(3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.5, tr.644, 698, 295, 293.

PGS, TS. PHẠM NGỌC ANH

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề nâng cao tri thức của cán bộ, đảng viên

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất đã từng nói: Tri thức không chỉ là nguồn ánh sáng nội lực mà còn là sức mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tổ chức, lãnh đạo quần chúng thực hiện những mục tiêu của cách mạng. Vì lẽ đó, để có thể gương mẫu, lôi cuốn quần chúng, mỗi cán bộ đảng viên của Đảng không chỉ cần có phẩm chất chính trị vững vàng, tư­ cách đạo đức trong sáng, mà còn phải luôn phấn đấu vươn lên để làm giàu vốn tri thức của chính bản thân mình bằng cách không ngừng học tập.

Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề cán bộ và năng lực lãnh đạo của người cán bộ đối với sự phát triển của phong trào cách mạng, từ cuộc đời hoạt động cách mạng bền bỉ của mình, từ thực tế công tác lựa chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ, đảng viên của Đảng qua mỗi giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra yêu cầu: Cán bộ phải là những người vừa hồng vừa chuyên. Song thực tiễn cho thấy, để người cán bộ đảng viên có đức vẹn tài, có vốn tri thức, có một năng lực trí tuệ nhất định, thì không thể không khổ công học tập, trau dồi kiến thức.

Dành trọn tuổi thanh niên của mình cho những năm tháng bôn ba tìm con đường cứu nước, khi tìm thấy “cẩm nang thần kỳ của Lênin”, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định trở về Tổ quốc, vạch ra con đường giải phóng đất nước và nhân dân khỏi kiếp nô lệ lầm than. Tuy nhiên, chính sách cai trị hà khắc, phương pháp cai trị “làm cho dân ngu để dễ trị” của thực dân Pháp đã làm cho đại đa số nhân dân ta mù chữ. Vì vậy, điều kiện xuất thân của phần lớn đội ngũ cán bộ, đảng viên thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền dường như chư­a hoặc ít có điều kiện học hành đến nơi đến chốn. Mặc dù rất trung thành và nhiệt tình, dũng cảm và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, như­ng “lý luận còn thiếu, kinh nghiệm còn ít”. Vì vậy, khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, mở ra một thời kỳ lịch sử mới với những nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, bên cạnh việc chăm lo rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm sâu sát đến vấn đề nâng cao trình độ năng lực cho mỗi cán bộ, đảng viên. Từ tình hình thực tiễn sau khi nước nhà được độc lập, cách mạng yêu cầu: Cán bộ đảng viên là người không chỉ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, mà còn phải là người lãnh đạo quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng. Vì họ “1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…3. Phải tổ chức sự kiểm soát…”(1), nên hơn lúc nào hết, điều kiện mới với những nhiệm vụ mới đòi hỏi người cán bộ đảng viên phải có năng lực lãnh đạo (bao gồm cả năng lực trí tuệ và khả năng tổ chức thực hiện). Yêu cầu này đã trở thành tiêu chuẩn, th­ước đo góp phần quan trọng vào vào việc đánh giá hiệu quả công việc của ngư­ời cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, muốn có đ­ược năng lực đó, dù đảm nhiệm cương vị công tác nào ng­ười cán bộ đảng viên cũng phải chịu khó học tập, rèn luyện, vì “cách mạng cũng là một nghề, làm nghề gì cũng phải học. Vậy làm cách mạng cũng phải học”(2).

Trở thành người đứng đầu nhà nước kiểu mới, nhà nước của dân do dân vì dân, dù bận trăm công nghìn việc, nhưng chăm lo xây dựng Đảng, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng vừa hồng vừa chuyên vẫn là ưu tiên đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay trong năm đầu kháng chiến, năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh đến cách học của mỗi cán bộ đảng viên: Đó là Huấn luyện lý luận, Huấn luyện chính trị, Huấn luyện văn hoá và Huấn luyện nghề nghiệp. Việc này được thực hiện “trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”. Cũng theo Người, cách học (huấn luyện) không phải theo lối áp đặt, nhồi sọ, bởi rằng: Học và hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được. Hơn nữa, với mỗi người cán bộ đảng viên, những người đại diện cho “trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc” thì học lý luận, học trong sách vở thôi chư­a đủ, còn phải học kinh nghiệm của nhân dân. Khi đến thăm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tháng 9/1949 (nay là Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), Người ghi câu mở đầu trong quyển sổ vàng là: “Học để làm việc, làm ng­ười, làm cán bộ”(3). Không chỉ có vậy, để xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân thì mỗi cán bộ dảng viên “không nên kiêu ngạo mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn”(4), nên còn phải được huấn luyện về chính trị. Đó là việc “xem báo, thảo luận và giải thích những vấn đề quan trọng”, là “thảo luận những nghị quyết, những chương trình, những tuyên ngôn của Đảng và Chính phủ”(5) và học những bài học kinh nghiệm của Đảng đư­ợc tổng kết qua mỗi kỳ Đại hội, vừa học vừa hành, đem lý luận áp dụng vào thực tiễn, bổ sung những kết luận mới đư­ợc rút ra từ thực tiễn sinh động của quá trình lãnh đạo cách mạng.

Ở giai đoạn cách mạng tiếp theo, tuy có yêu cầu cụ thể về nhiệm vụ khác nhau, song “để thạo việc”, đủ năng lực lãnh đạo, có thể giải quyết kịp thời, đúng đắn các vấn đề do tình hình cách mạng trong nước và thế giới đặt ra, người cán bộ đảng viên không thể lãnh đạo chung chung đ­ược. Hồ Chí Minh từng yêu cầu: Cán bộ chính trị cũng phải giỏi chuyên môn, “không biết, chỉ nói chính trị suông thì không thể lãnh đạo được”, vì vậy, họ phải có tri thức. Muốn đạt được điều đó, “tất cả cán bộ đảng viên của Đảng phải vì Đảng vì dân mà hăng hái phấn đấu. Phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật để nâng cao năng lực, làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống của nhân dân ngày càng no ấm, tươi vui”(6) và việc học này phải được “huấn luyện lâu dài”, không phải một sớm, một chiều. Vừa nhấn mạnh yêu cầu Đảng phải có kế hoạch huấn luyện, tạo điều kiện để cán bộ đảng viên nâng cao trình độ về mọi mặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đồng thời chỉ rõ việc phải chú trọng công tác huấn luyện cán bộ, lựa chọn cẩn thận người phụ trách công tác này. Từ việc chỉ rõ: “Những người lãnh đạo cần tham gia việc dạy” và “không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện”, đề cao việc được học tập và tinh thần tự giác học tập để nâng cao năng lực của mỗi cán bộ đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Khi cất nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định”(7).

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã đi xa hơn 40 năm, nhưng lời Người ghi tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc tháng 9/1949: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại vẫn còn đó. Giờ đây, đất nước ta đang từng ngày từng giờ đổi mới. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế n­ước nhà là mục tiêu mà Đảng, Nhà nư­ớc và nhân dân ta đang phấn đấu, để đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp giàu mạnh. Muốn có khả năng tư duy độc lập, muốn có phư­ơng pháp làm việc khoa học, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ và trở thành mực thư­ớc cho nhân dân thì mỗi người cán bộ, đảng viên càng phải luôn luôn chịu khó học hỏi, không ngừng tiến bộ. Và muốn sáng tạo, tránh giáo điều, giảm bớt sai lầm, vấp váp thì mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải làm giàu vốn tri thức của bản thân, phải trở thành một người cộng sản có văn hoá. Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng “Cách mạng tiến lên mãi, Đảng tiến lên mãi. Cho nên người cách mạng cũng phải tiến lên mãi”(8). Vì vậy cán bộ, đảng viên nhất thiết phải học và có học mới làm đư­ợc cán bộ tốt, cán bộ gương mẫu.

Tinh thần học tập và học tập không ngừng như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng tự tin vào bản thân mình, đồng thời nâng cao hơn nữa quyết tâm phấn đấu cho độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Chỉ có học tập và kiên trì học tập, phấn đấu để trở thành người cộng sản có học thức mới biến quyết tâm đó trở thành những hành động thiết thực, để họ, những cán bộ, đảng viên của Đảng xứng đáng vừa là ngư­ời lãnh đạo, ngư­ời đầy tớ trung thành của nhân dân như­ mong muốn của Người. Thế kỷ XXI, khi nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, văn minh của nền kinh tế tri thức, khi UNESCO để ra 4 trọng tâm về việc học: Học để biết; Học để làm; Học để chung sống; Học để làm người thì lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về không ngừng học tập, nâng cao tri thức cách mạng càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Muốn có tầm nhìn xa, muốn xử lý đúng mọi tình thế, muốn tiến bộ thì mỗi cán bộ đảng viên nhất định phải tự hoàn thiện mình suốt đời và vấn đề này không chỉ là yêu cầu cấp bách của Đảng, của cách mạng mà còn là hành động thiết thực của mỗi người trong việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiện nay và mãi mãi về sau./.

Chú thích:
(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H.1996, t5., tr.285
(2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.224
(3). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.684
(4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.285
(5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.271
(6). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.231
(7). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.212
(8). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.292

Theo Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Học tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học tự nhiên và công nghệ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội và nhân văn đã được nghiên cứu và trình bày trong nhiều tác phẩm, riêng về khoa học tự nhiên và công nghệ còn chưa được phổ biến thoả đáng. Giữa khoa học xã hội – nhân văn với khoa học tự nhiên và kỹ thuật (công nghệ) luôn có mối quan hệ khăng khít. Bài viết này trình bày một số vấn đề với những nét đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ để mong góp phần hoàn hảo hệ tư tưởng lớn.

Khoa học và công nghệ cho chiến thắng

Trong kháng chiến chống thực dân và chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng để vạch ra các đường lối chiến lược cho chiến thắng mà nổi bật nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực hiện “tất cả cho chiến thắng”, trong đó có khoa học và công nghệ cho chiến thắng.

Kháng chiến chống lại kẻ thù có sức mạnh quân sự vào loại hàng đầu của thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng chiến lược là phải “trường kỳ kháng chiến” để “nhất định thắng lợi” với phương pháp phát triển chiến đấu “càng đánh càng mạnh”.

Để thực hiện định hướng chiến lược và phương pháp phát triển chiến đấu nói trên thì khoa học và công nghệ phải được chuẩn bị và được ưu tiên nguồn lực để phát triển sớm, trước hết là nguồn nhân lực mà chú trọng đặc biệt các nhân tài. Trong tình hình nước ta hồi giữa thế kỷ XX thì việc có các cơ sở ban đầu của công nghiệp quốc phòng, bảo đảm được các vũ khí thông dụng, nhất là vũ khí đặc biệt lợi hại của chiến tranh du kích, là cực kỳ quan trọng cho chiến thắng.

Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, đường lối khoa học và công nghệ phục vụ công cuộc kháng chiến trên đây là rất đúng đắn và có hiệu quả cao.

Ngay từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Đảng đã chuẩn bị các vấn đề liên quan đến đấu tranh vũ trang, năm 1944 “chiến thuật du kích” được phổ biến và huấn luyện, trong đó trình bày khá chi tiết về các loại vũ khí của chiến thuật du kích, đặc biệt là các biện pháp công nghệ về phá hoại cơ sở địch, các phương tiện thông tin liên lạc…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua nhiều hiểm nguy tới Pháp năm 1946, một mặt để đấu tranh ngoại giao, mặt khác thu hút về nước một số chuyên gia khoa học và công nghệ người Việt Nam yêu nước, trong đó có chuyên gia về vũ khí là đồng chí Trần Đại Nghĩa.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc sắp bùng nổ, trên Báo Cứu quốc, giữa tháng 9 năm 1946 đã có bài phân tích và vai trò quyết định của lục quân, các loại binh khí công nghệ cần thiết cho lục quân kể cả xe tăng, các hình thức chiến tranh và vũ khí hiện đại lúc đó và “công việc khẩn cấp bấy giờ” là làm khí giới. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì ở rừng Việt Bắc đã hình thành và ngày càng phát triển một tổ hợp nghiên cứu và chế tạo, sản xuất các vũ khí từ đơn giản (lựu đạn, mìn..) đến hiện đại (Ba-dô-ka, SKZ).

Sau khi mở thông biên giới phía Bắc, bắt đầu có sự giúp đỡ vũ khí thì lực lượng quân giới trong nước đã trưởng thành, một mặt tiếp tục nghiên cứu, sản xuất phát triển lực lượng của mình, mặt khác tiếp thu công nghệ mới và thích nghi hoá các loại vũ khí cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, nhất là điều kiện của khí hậu nhiệt đới ẩm. Như vậy khoa học và công nghệ quốc phòng đã thực hiện thành công tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này, nghĩa là càng đánh càng mạnh.

Bác đã có bức thư nổi tiếng dưới đây trong kháng chiến chống Pháp

Thư gửi các ông Phạm Văn Bạch và Nguyễn Văn Tây.

Chú Bạch, chú Tây và các đồng chí.

Dưới đây là một cách giải thích rất đơn giản, dễ hiểu về con đường trường kỳ kháng chiến, viết ra cho anh em dùng.

Chào thân ái và quyết thắng.
Ngày 7 tháng 3 năm 1947.
Hồ

Sơ đồ giải thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trình bày quan điểm đó cho thấy tính biện chứng của quá trình này. Quỹ đạo của ta là một hình Pa-ra-bon dương, của kẻ thù là một hình Pa-ra-bon âm. Đoạn giao nhau tương ứng với lúc ta “gay go” và kẻ thù tạm thời có ưu thế. Tuy nhiên, do ta kiềm chế được kẻ địch qua giai đoạn “gay go”, cuối cùng cũng tiến tới thắng lợi (Xem sơ đồ).

Sau khi kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân thắng lợi, miền Bắc chuyển vào thời kỳ phục hồi kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội làm chỗ dựa cho giải phóng miền Nam và miền Nam lại chuyển sang thời kỳ đấu tranh chống Mỹ giải phóng dân tộc. Như vậy yêu cầu về khoa học và công nghệ cho chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước càng cao, vì lần này công nghệ đứng hàng đầu thế giới.

Tiếp tục phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ quốc phòng, kết quả là chúng ta đã đối phó thành công với mọi loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại mà đối phương có (trừ vũ khí hạt nhân). Điển hình là thắng lợi của ta trong trận phá tan phong toả “thuỷ lôi từ tính” và “bom từ trường” và nhất là trận “Điện Biên Phủ trên không”. Đây là loại chiến tranh có nội dung chủ yếu của chiến tranh điện tử số hoá.

Khoa học và công nghệ gắn với sản xuất và xã hội

Ngày 18.5.1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam, trong đó nhiệm vụ của khoa học được nhấn mạnh “chúng ta đều biết rằng trình độ khoa học, kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém. Lề lối sản xuất chưa cải tiến được nhiều. Cách thức làm việc còn nặng nhọc. Năng suất lao động còn thấp. Phong tục tập quán lạc hậu nhiều”.

Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó. Khoa học là tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột và đấu tranh giữa con người với thiên nhiên. Ở đây chỉ nói riêng về khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

Khoa học phải tự sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.
Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ là sự phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về khoa học và công nghệ trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những yếu tố của quan điểm về khoa học và công nghệ của tư tưởng Hồ Chí Minh có thể thấy là:

Thứ nhất là, khoa học và công nghệ liên kết chặt chẽ với sản xuất, nhất là của một nước còn nghèo, phục vụ sản xuất phát triển; đồng thời sản xuất lại cũng là động lực thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta là nước chậm phát triển, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, chúng ta phải hết sức tranh thủ áp dụng các thành tựu từ thấp đến cao của khoa học và công nghệ trên thế giới, đồng thời từng bước xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta hướng tới khoa học và công nghệ hiện đại. Khoa học và công nghệ làm cho sản xuất phát triển nhanh, tạo điều kiện nâng cao đời sống của nhân dân lao động, trước hết là bảo đảm các nhu cầu cơ bản, xoá đói giảm nghèo.

Thứ hai là, khoa học và công nghệ có nhiệm vụ phục vụ sự phát triển xã hội, “cải biến” xã hội nước ta, nghĩa là phát triển toàn diện văn hoá, vừa giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, xoá bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, tiến tới một xã hội văn minh. Khoa học và công nghệ cũng là một bộ phận của văn hoá, có ảnh hưởng quan trọng đến lối sống tinh thần của nhân dân góp phần xây dựng nền văn minh tinh thần tiến bộ của đất nước.

Thứ ba là, khoa học và công nghệ phải góp phần bảo vệ đất nước, khoa học và công nghệ phải luôn gắn chặt với quốc phòng, cung cấp cho quân đội các phương tiện chiến đấu, hậu cần. Đối với các chế độ của giai cấp bóc lột thì khoa học và công nghệ được sử dụng để xoá bỏ. Ngược lại trong chiến tranh giải phóng thì khoa học và công nghệ được sử dụng tối đa một cách sáng tạo để chiến thắng. Hơn nữa, đối với những nước mà kinh tế còn thấp kém như nước ta, vừa thoát khỏi chế độ thực dân lại phải huy động lực lượng toàn dân trường kỳ kháng chiến để bảo vệ độc lập dân tộc, thì sự phát triển khoa học và công nghệ lại từ quốc phòng, an ninh mở rộng ra kinh tế – xã hội.

Thứ tư là, khoa học và công nghệ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Đúng là khoa học và công nghệ ở các nước tư bản phát triển rất cao và được giai cấp tư sản triệt để lợi dụng để củng cố chế độ bóc lột, nâng cao lợi nhuận. Nhưng chủ nghĩa xã hội cũng chứng tỏ tiềm năng phát triển nhanh, khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (ví dụ: sự phát triển ngành năng lượng nguyên tử và hàng không vũ trụ, các ngành công nghiệp nặng của Liên Xô trước đây và của Trung Quốc hiện nay). Ngày nay khi chuyển sang kinh tế tri thức thì vai trò của khoa học và công nghệ bảo đảm sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội càng quan trọng.

Việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng cho thắng lợi của hai cuộc kháng chiến và trong sự phát triển thắng lợi của đất nước ta. Ngày nay, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ lại càng cần thiết.

Khoa học và công nghệ xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi

Vai trò của khoa học và công nghệ trong việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở các mặt: khoa học và công nghệ gắn với sản xuất bảo đảm thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường thiên nhiên, trước mắt phải cải thiện môi trường hạn chế hậu quả của thiên tai và chiến tranh trước đây, của công nghiệp hoá hiện nay; khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người.

Liên kết chặt chẽ giữa khoa học và công nghệ với sản xuất, một điểm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Ngày nay, trong thế giới hiện đại với sự phát triển chưa từng có của khoa học và công nghệ làm xuất hiện nền kinh tế tri thức. Đồng thời cùng với sự phát triển đó là xu thế toàn cầu hoá. Trong điều kiện như vậy càng phải phát huy cao hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ mà chủ yếu là vấn đề “nghệ thuật” phối hợp giữa tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới và phát triển công nghệ nội sinh, từ đó từng bước tiến lên một nền khoa học và công nghệ hiện đại đáp ứng các yêu cầu của nền sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta còn phải trải qua một thời gian dài của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm. Do đó, việc phát huy cao độ trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam, xét cho cùng, chính là cách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đây, chúng ta thấy rằng phải tập trung nguồn lực và tạo ra cơ chế cần thiết để khoa học và công nghệ có thể sớm tạo ra “vũ khí” cho thắng lợi của cuộc chiến tranh xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu để tiến lên “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” và cũng là thắng lợi của CNH, HĐH.

Quan điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề khoa học và công nghệ bảo vệ môi trường dựa trên tình hình thực tiễn Việt Nam đã được hình thành sớm, từ trước khi có phong trào bảo vệ môi trường trên thế giới (sau khủng hoảng dầu hoả đầu năm 70). Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua tác phẩm và hành động, đã phát triển một triết lý hết sức sâu sắc về mối quan hệ không chỉ “thân thiết” mà còn “thương yêu” giữa con người và thiên nhiên, cũng là người đề xướng Tết trồng cây vào năm 1959: “…mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965… chúng tôi sẽ có 90 triệu cây… và trong mười năm nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. “Phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống… phải làm đúng khẩu hiệu “trồng cây nào, tốt cây ấy”.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề bảo vệ môi trường là phải chú trọng trước hết đến việc cốt lõi, mà ở nước ta là vấn đề cây xanh, nói rộng ra là thảm thực vật, là rừng. Vấn đề bảo vệ môi trường ở nước nghèo chỉ có thể giải quyết được, nếu nó được gắn liền với việc cải thiện đời sống của nhân dân. Cũng không thể làm một cách thiếu khoa học mà phải ứng dụng khoa học công nghệ tiến bộ vào việc chọn giống cây, ươm cây con và trồng cây sao cho cây sống và xanh tốt.

Gần đây tình trạng phá rừng ở nước ta có chững lại, độ che phủ bắt đầu tăng lên vài phần trăm. Công trình trồng mới 5 triệu hec-ta rừng bắt đầu triển khai, các Tết trồng cây được duy trì và mở rộng. Đây chính là những việc phát huy cụ thể tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác bảo vệ môi trường. Ngày nay, tiến hành CNH và HĐH có rất nhiều vấn đề môi trường đặt ra, chúng ta luôn ghi nhớ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này để quyết tâm giữ gìn sao cho phong cảnh của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải rất tươi đẹp.

Chủ nghĩa tư bản đã phá hoại nghiêm trọng môi trường trái đất, họ không thể có khả năng giải quyết vấn đề này, vì lẽ không thể tư nhân hoá được bầu trời, đại dương và vũ trụ. Phục hồi lại môi trường trái đất sẽ là nhiệm vụ cao cả nhất của chủ nghĩa xã hội, mà chính ở đây khoa học và công nghệ bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi, một chủ nghĩa xã hội có phong cảnh xanh tươi, đẹp đẽ, không phải chỉ là bê tông và màu xám.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (1951), phần mở đầu nói về tình hình thế giới trong nửa đầu thế kỷ “Trong 50 năm đó, đã có những phát minh như chiếu bóng, vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình (television) cho đến sức nguyên tử”. Ngày nay ngành công nghệ dẫn đầu là công nghệ thông tin – máy tính chính là sự phát triển ở tầm cao các phát minh đã được nhắc đến ở báo cáo chính trị nói trên.

Khi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh không đi về phương Đông như phong trào Đông kinh nghĩa thục, mà lại đi về phương Tây, vì ở đó có lời giải về sự yếu kém của phương Đông: Thiếu khoa học và công nghệ hiện đại để tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ được hình thành trong một không gian mở, tiếp thu những cái mới tiến bộ không chỉ bằng lý trí uyên bác mà còn với nhiệt tình của lòng yêu nước nồng nàn.

Ngày nay, những người cộng sản cũng sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng chủ nghĩa xã hội vẫn phát triển ở phương Đông. Vì lẽ cũng chính Các Mác, trước đây hơn 100 năm, đã khuyên rằng ở các nước vốn có một cơ sở cộng đồng trong dân cư bền vững thì không phải trải qua khổ đau của chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

Theo GS. Vũ Đình Cư
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi vùng cao Việt Bắc (1960)

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam có ghi: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”. Đây là một công tác trọng đại, phải tiến hành rất công phu. Trong bài này, tôi viết đôi điều suy nghĩ ban đầu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc này, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội, đồng thời tiếp tục thúc đẩy đợt sinh hoạt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như Chỉ thị số 03-CT/TW Bộ chính trị (khoá XI) vừa mới ban hành (14-5-2011). Làm tốt việc đúc kết và xây dựng này rất cần thiết đối với việc giáo dục đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, đồng thời có thể sẽ đóng góp lớn vào củng cố và vun đắp nền tảng tinh thần của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam

Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam có ghi: “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”. Đây là một công tác trọng đại, phải tiến hành rất công phu. Trong bài này, tôi viết đôi điều suy nghĩ ban đầu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc này, góp phần triển khai Nghị quyết Đại hội, đồng thời tiếp tục thúc đẩy đợt sinh hoạt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như Chỉ thị số 03-CT/TW Bộ chính trị (khoá XI) vừa mới ban hành (14-5-2011). Làm tốt việc đúc kết và xây dựng này rất cần thiết đối với việc giáo dục đạo đức xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên, đồng thời có thể sẽ đóng góp lớn vào củng cố và vun đắp nền tảng tinh thần của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.

Viết về Hồ Chí Minh, cả trong nước và ở nước ngoài, đến nay, có đến hàng nghìn công trình, mà nhiều bạn đọc cũng là tác giả. Hơn nữa, từ những năm 20 thế kỷ trước, và nhất là từ năm 1941, rồi 1944, đặc biệt từ tháng Tám 1945, tên tuổi Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã thấm dần thành sức mạnh tinh thần vô song. Bắt đầu từ các chiến sỹ cách mạng, rồi đến từng người dân, cả một dân tộc đứng lên vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khó, giành độc lập dân tộc, thống nhất giang sơn, đổi mới đất nước. Mấy thập kỷ nay Việt Nam – Hồ Chí Minh đã gắn kết thành một tên riêng chỉ “Tinh thần Việt Nam”, “Tâm hồn Việt Nam” – “Giá trị Việt Nam”. Từ đó, và qua tham khảo những bài viết của nhiều nhà lãnh đạo, nhà chính trị, nhà khoa học, ở ta và trên thế giới, dưới góc độ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị học, như GS. Trần Văn Giàu đã tổng kết “Hồ Chủ tịch – kết tinh của các giá trị truyền thống và đạo đức cách mạng Việt Nam”. Trong công trình “Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay” (Phạm Minh Hạc, 2010), tôi đã lấy chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo nghiên cứu giá trị, nhằm mục tiêu đúc kết và xây dựng hệ giá chung của người Việt Nam đi vào công nghiệp hoá (CNH), theo hướng hiện đại, hội nhập.

Giá trị gắn liền với đời sống hằng ngày của chúng ta, ai cũng biết. Khái niệm “giá trị” chỉ cái gì có ý nghĩa đối với sự tồn tại của con người, nói đại thể, có giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Dưới góc độ giá trị học, thuật ngữ “giá trị” nói chung thường dùng để nói tới giá trị tinh thần, có khi còn gọi là giá trị văn hoá, giá trị lịch sử, giá trị truyền thống; nhiều nhà nghiên cứu giá trị học gọi là “giá trị nội tại” (F.C.Brentano, 1838 – 1917, Đức; G.E.Moore, 1873 – 1958, Anh) – cũng còn gọi là “giá trị con người”, “giá trị bản thân” (bao gồm cả các thái độ giá trị), ở cấp vĩ mô, ví dụ, dân tộc, hệ giá trị của dân tộc nói lên “bản sắc dân tộc” – đó chính là sức mạnh, lực lượng bản chất, của con người, và sức mạnh của cộng đồng, quốc gia – dân tộc bắt nguồn từ đây.

Ý tưởng đầu tiên về giá trị học có từ Cổ đại do Pơrôtago (Protagore, 481 – 411 TCN, Hy Lạp) nêu lên. Sau Cách mạng 1776, nước Mỹ rất chú ý vấn đề này. Giá trị học hiện đại mới hình thành ít lâu trước Đại chiến thế giới thứ hai ở nước Đức, lúc đó có nhiều vấn đề rối ren trong đời sống tinh thần, và cho đến nay phát triển mạnh ở Mỹ. Nhiều nơi coi triết học gồm thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan. Giá trị quan được đưa vào dạy trong chính trị học, có “ngoại giao giá trị quan”, gần đây có một quan niệm, mới xem có vẻ hơi kỳ dị nhưng cũng nên lắng nghe, quan niệm này phân loại các nước như sau: – Các nước đứng đầu xuất khẩu giá trị; – Các nước hạng hai xuất khẩu kỹ thuật; – Các nước hạng ba xuất khẩu hàng hoá và lao động (Giấc mộng Trung Hoa, 2010).

Từ “Lịch sử khuyết danh” viết vào thế kỷ XIII, rồi qua sử sách, văn học dân gian các thế kỷ sau, các công trình nghiên cứu, trong nước và nước ngoài, như nhà sử học hàng đầu thế giới nửa sau thế kỷ XX là Tôienbi (2002) đã kết luận nhân loại có 31 nền văn minh, trong đó có văn minh (văn hoá, văn hiến – hệ giá trị) Việt Nam, cả thế giới quan tâm tìm hiểu. Tiếp nối các vị tiền bối, ngày nay chúng ta cần tiếp tục đúc kết và xây dựng hệ giá trị Việt Nam. Đặc biệt, theo đường lối đổi mới (từ 1986), nước nhà đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, rất quan trọng, nhưng mặt khác, như nhận định của Tiểu ban tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 đã trình Đại hội XI: “Mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã gây không ít tác động tiêu cực; còn lúng túng trước sự biến động của một số giá trị trong nhân cách con người dẫn đến sự xuống cấp của đạo đức xã hội, có một số mặt đáng lo ngại”. Trong hai thập kỷ qua (1991 – 2010) một số chương trình khoa học cấp nhà nước đã nghiên cứu vấn đề giá trị cho thấy trong đời sống tinh thần của xã hội đang đầy mâu thuẫn, thang giá trị nhiều chỗ bị đảo lộn, định hướng giá trị có nơi cảm thấy rối ren, bức bối, đau lòng, vô cùng phức tạp, thước đo giá trị quá nhiều bất hợp lý (Phạm Minh Hạc, 2007). Một số nhà lãnh đạo ở ta cũng bắt đầu nói tới “định hướng giá trị”, “thước đo giá trị”…; các phương tiện truyền thông gần đây cũng hay đề cập đến vấn đề này. Một số trường dạy ngoài giờ “Giá trị sống và kỹ năng sống”. Việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH theo hướng hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, như Đại hội XI đã đặt ra, là một công việc cấp thiết.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, khái quát lại có thể nói, Người đã để lại cho chúng ta một di sản quý báu nhất là Hệ giá trị – một vấn đề khoa học và vận dụng vào thực tiễn hết sức phong phú. Ở đây, tôi mạnh dạn nêu một số thu hoạch sơ bộ.

Sau 30 năm (1911 – 1941) bôn ba năm châu bốn biển, Bác Hồ đã tìm ra đường cứu nước, cứu dân, các bạn đồng nghiệp đã nói và viết nhiều. Ở đây, tôi xin tập trung vào một thiển ý, mà mới là bước đầu. Sinh ra và lớn lên trong văn hoá dân tộc, đi các nước tiếp thu, chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, hoà quyện lại với nhau, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong việc đúc kết, xây dựng, phát huy giá trị quý báu của dân tộc ta, của con người Việt Nam, thành một sức mạnh vô biên của cả một dân tộc đến từng cán bộ, chiến sỹ, nhân dân, tạo dựng nên một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử mấy ngàn năm của đất nước ta. Học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh, chúng ta cần đi đến xây dựng thành công và công bố chính thức Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế.Theo dòng suy nghĩ đó, tôi xin nêu lên hệ giá trị, qua nghiên cứu một số trước tác của Người.

Thứ nhất là, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là 3 giá trị nền tảng tinh thần mở đầu thời đại mới của nước nhà, thời đại độc lập dân tộc theo chế độ Dân chủ Cộng hoà, nhân dân làm chủ, bắt đầu hưởng quyền công dân, quyền con người. Trên đường tìm đường cứu nước,
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu nhiều điều tinh hoa nhất trong Hệ giá trị Hoa Kỳ và Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Suốt đời Người, như Hồ Chủ tịch nói với đồng bào trước khi sang Pháp (30-5-1946), “những khi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo” đều vì lý tưởng đó.

Thứ hai là, giá trị nhân cách. Như mọi người đều biết, Bác Hồ vô cùng coi trọng đạo đức, gần như đọc bài nào của Bác cũng có thể tìm thấy điều căn dặn về đạo đức. Một trong những tài liệu đầu tiên Bác viết để giảng dạy đào tạo cán bộ năm 1927 ở Quảng Châu là tác phẩm “Đường cách mệnh”, mở đầu bằng bài “Tư cách người cách mệnh”, nêu lên 23 điều gộp thành 3 nhóm: (1) Tự mình phải (thái độ đối với bản thân) có 14 điều; (2) Đối người phải (thái độ với người khác) có 5 điều; (3) Làm việc phải (thái độ với công tác) có 4 điều. Tâm lý học gọi đây là 23 giá trị nhân cách, có thể coi là một trong những viên gạch đầu tiên của Hệ giá trị mới của người Việt Nam. Người cán bộ có nhân cách với 23 thái độ đúng đắn đó, mới có thể làm việc vì nước vì dân. Đấy là chỉ dẫn phương pháp luận vô cùng quan trọng để chúng ta đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay.

Thứ ba là, cần, kiệm, liêm, chính. Tháng 5 và tháng 6 năm 1949, Hồ Chủ tịch viết 4 bài báo về 4 đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, sau gộp thành một cuốn sách với tiêu đề “Cần kiệm liêm chính”. Dưới góc độ giá trị học, đây là 4 giá trị đạo đức cơ bản nhất của người cán bộ, nay gọi chung là viên chức nhà nước, làm việc ở các cấp trong bộ máy của Đảng và chính quyền, đoàn thể. Chưa quán triệt và thực hành 4 điều này – coi như chưa học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ có quán triệt và thực hành 4 điều này từ trên xuống, từ trong ra, thì mới có thể khắc phục được “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội…, yếu kém trong quản lý… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe doạ sự ổn định và phát triển của đất nước”(1). Một con người chân chính không thể thiếu 4 giá trị này. Ai cũng theo đây mà tu dưỡng sẽ có cuộc sống hạnh phúc thật sự, đất nước sẽ có một xã hội tốt đẹp.

Thứ tư là, thời đại khai sáng ở Việt Nam. Trên đường tìm đường cứu nước, trong những năm 20 thế kỷ trước, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần chính sách ngu dân thâm độc của bọn thực dân đã đặt dân tộc ta ngoài lề của nền văn minh thế giới. Đồng thời Người đã tìm hiểu các giá trị có tác dụng thúc đẩy tiến triển xã hội phương Tây; trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” (1924), đã đưa ra ý kiến: “… sự Tây phương hoá ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông”, đặc biệt quan tâm đến kinh nghiệm phát triển giá trị giáo dục (lý trí, học vấn, khoa học, công nghệ…), vận dụng vào nước ta, mở ra Thời đại khai sáng. Như mọi người đều biết, thế kỷ XVIII được gọi là Thế kỷ khai sáng (Thế kỷ Ánh sáng, Thế kỷ giáo dục), góp phần chuẩn bị quan trọng cho Cách mạng 1789 thành công và đưa xã hội tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá. Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập với tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục, coi đây là một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạng, kháng chiến, kiến quốc và ngày nay cùng với khoa học – công nghệ trong Đổi mới được coi là “quốc sách hàng đầu”. Đã có rất nhiều tài liệu viết về vấn đề này. Ở đây, tôi xin tóm tắt mấy tư tưởng về giáo dục của Hồ Chủ tịch như sau: – Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; – Dốt là một thứ giặc, nguy hiểm như giặc đói, giặc ngoại xâm.- Hết sức coi trọng vai trò của giáo dục: Có phát triển nền giáo dục tốt, thì đất nước mới tươi đẹp, non sông mới vẻ vang, mới sánh vai cùng các cường quốc năm châu; – Phải xây dựng một nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập.- Mục tiêu của giáo dục: đào tạo người công dân tốt; – Trong công tác giáo dục đặt việc đào tạo và chăm sóc đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục lên hàng đầu; – Dù khó khăn đến đâu cũng phải dạy tốt, học tốt; – Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa; – Học thường xuyên, học suốt đời, v.v. Tiếp tục Thế kỷ khai sáng, vận dụng tư tưởng (giá trị) giáo dục Hồ Chí Minh để chấn chỉnh, củng cố, phát triển, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, tích cực triển khai chủ trương của Đại hội XI “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo”(2). Không có nền giáo dục tốt – khó có thể tiến hành CNH theo hướng hiện đại đạt kết quả thực chất. Đây đúng là khâu đột phá cực kỳ quan trọng đưa đất nước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ này, như Chiến lược 2011 – 2020 Đại hội XI đã thông qua.

Thứ năm là, các giá trị đạo đức của các ngành, các giới. Về nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài nói hay viết cho các ngành, các giới, các địa phương, Bác rất chú ý chỉ ra những chuẩn mực đạo đức cần phải có để xây dựng ngành mình, giới mình, địa phương mình và cả nước nói chung. Đây là một công việc to lớn, phải dày công tìm tòi, phát hiện, sẽ đóng góp rất nhiều cho việc đúc kết và xây dựng hệ giá trị của người Việt Nam ngày nay, tạo động lực mới thúc đẩy sự phát triển con người, tăng cường giá trị của người dân, từ đó sẽ có cuộc sống thịnh vượng.

Thứ sáu là, giá trị bản thân con người – mục tiêu tối thượng. Hệ giá trị Hồ Chí Minh là kết tinh của Hệ giá trị Việt Nam, lấy chủ nghĩa nhân văn làm nền tảng. Từ ngày ra đi tìm đường cứu nước, bằng những bài viết trên báo Người cùng khổ (1922) đến Di chúc (1965), như Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2001) đã tổng kết, Bác Hồ luôn nghĩ về con người Việt Nam, coi đó là giá trị cao quý nhất, và là mục tiêu tối thượng của cách mạng. Nói khái quát, đó là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh có cội nguồn từ chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, đồng thời đã đưa chủ nghĩa nhân văn Việt Nam lên một giai đoạn phát triển chất lượng mới, có thể tóm lược nội dung như sau:

– Yêu thương con người.
– Tôn trọng con người.
– Trọng dụng con người, nhất là những người tài đức.
– Khoan dung.
– Tranh đấu vì con người – giải phóng con người.

Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi đề xuất: Hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế (gọi tắt là Hệ giá trị chung) mà chúng ta cần xây dựng. Đó là: 1. Các giá trị chung của loài người: tính người, tình người, Chân-Thiện-Mỹ; 2. Các giá trị toàn cầu: hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; 3. Các giá trị dân tộc: tinh thần dân tộc, yêu nước, trách nhiệm cộng đồng; tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 4. Các giá trị gia đình: hoà thuận, hiếu thảo; 5. Giá trị bản thân:

– Yêu nước.- Dân chủ.
– Trách nhiệm với xã hội, cộng đồng, gia đình, bản thân.
– Cần cù: chăm học, chăm làm.
– Khoa học: tư duy duy lý, tác phong công nghiệp, tay nghề thành thạo.
– Chính trực: chân thật, đứng đắn, liêm khiết
– Lương thiện: quan hệ người – người tốt đẹp, tôn trọng và thương người, tương trợ giúp đỡ nhau.
– Gia đình hoà thuận, hiếu thảo.
– Thích nghi và sáng tạo.
– Chí hướng: cầu tiến.

Vấn đề cốt lõi nhất là từng người, với sự hỗ trợ của nhà trường, gia đình, xã hội, tạo lập, phát huy được giá trị bản thân, Nhà nước có chính sách sử dụng tốt giá trị bản thân của mọi người, xã hội có môi trường thuận lợi cho giá trị bản thân của mọi người phát triển, theo quan điểm phát triển Đại hội XI đã xây dựng: “… phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”(3)

——————

(1) – Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG – Sự thật, 2011, tr. 173.(2) – Sđd, tr.77.(3) – Sđd, tr.30.

GS.VS Phạm Minh Hạc
Theo Tạp chí tuyên giáo
Tâm trang (st)

bqllang.gov.vn

Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

(Ảnh minh hoạ)

(TCTG) – Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy tư duy sâu rộng của mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng quân sự, quốc phòng, an ninh, kháng chiến, mà kháng chiến bao giờ cũng đi liền với kiến quốc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển đất nước theo tinh thần “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” chính là quy luật của cách mạng Việt Nam. Nội dung của quy luật này gồm học thuyết giải phóng và học thuyết phát triển, trong đó chứa đựng cả xây dựng và bảo vệ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, gồm cả xây dựng kinh tế, chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân) văn hóa, xã hội, đặc biệt là xây dựng con người mới. Trong nội dung xây dựng có cả bảo vệ Tổ quốc và là một cách tự bảo vệ có hiệu quả nhất. Bởi vì chỉ có dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì đất nước mới đứng vững được trước mọi sự chống phá điên cuồng của kẻ thù.

Bảo vệ Tổ quốc là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đúc kết: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ngay từ những ngày đầu trứng nước của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã tuyên bố: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập”; “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Để bảo vệ Tổ quốc XHCN, Người nhấn mạnh “chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi một người Việt Nam yêu nước. Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy tư duy sâu rộng của mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là tư tưởng quân sự, quốc phòng, an ninh, kháng chiến, mà kháng chiến bao giờ cũng đi liền với kiến quốc. Xây dựng Đảng, Nhà nước chính là nhằm bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Đảng, Nhà nước là phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nhà nước. Trong xây có chống. Phải tập trung chống lại những thói hư tật xấu trong Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước. Chống cũng nhằm xây, và đó chính là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ Đảng và chế độ.

Hồ Chí Minh đã sớm cảnh báo về những căn bệnh của Đảng cầm quyền. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, nhũng lạm, lãng phí, thiếu tinh thần trách nhiệm, xa dân… của cán bộ đảng viên sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là nguy cơ sống còn của Đảng, của chế độ. Theo Hồ Chí Minh, xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng chính là bảo vệ Đảng và chế độ. Một khi nhân dân đã mất lòng tin vào Đảng và Chính phủ là mất tất cả.

Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa không có nghĩa chỉ chống kẻ thù xâm lược và các thế lực thù địch. Điều quan trọng nhất là chống giặc nội xâm, khó chiến thắng hơn giặc ngoại xâm. Chính chủ nghĩa cá nhân sẽ tạo ra loại kẻ thù không gươm không súng, vô ảnh vô hình nhưng vô cùng nguy hiểm. Nếu chúng ta không cảnh giác, loại kẻ thù nội xâm này sẽ làm tiêu tan chế độ này, đảng này bất cứ lúc nào bằng cách làm cho đảng viên, cán bộ tự diễn biến. Hồ Chí Minh dạy: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân” (1). Tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy không ai có thể bôi nhọ được chúng ta ngoại trừ chúng ta tự bôi nhọ; không ai có thể làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta ngoại trừ chúng ta tự thay đổi bằng chính tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng, xa dân, vô cảm trước đời sống nhân dân, dẫn tới mất lòng tin của nhân dân. Quan điểm này thật sự chứa đựng hàm lượng khoa học và cách mạng trong tư duy Hồ Chí Minh về mối quan hệ hữu cơ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các nội dung đó trong tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng quan điểm của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới không phải chỉ là vấn đề của quốc phòng – an ninh, tăng cường quốc phòng, an ninh mà là “phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội”.

Với tư duy mới mẻ đó, một lần nữa cần nhấn mạnh và khẳng định trong bảo vệ có xây dựng, trong xây dựng có bảo vệ; xây dựng chính là bảo vệ và bảo vệ nhằm tạo điều kiện cho xây dựng. Muốn bảo vệ Tổ quốc cần phải chống lại các cản lực, mà trở lực lớn nhất trên con đường phát triển của đất nước chính là sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo.

Mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN trong giai đoạn hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng trong khi khẳng định tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa, đặc biệt chú trọng xử lý tốt các mối quan hệ, trong đó có mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đây là một đòi hỏi tất yếu khách quan.

Lãnh tụ V.I. Lênin chỉ rõ: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”(2). Từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên xuất hiện cho đến nay, nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN luôn luôn được nhận thức, quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên CNXH và bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta càng ý thức sâu sắc sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng” (3). Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng ra Nghị quyết chuyên đề về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, tiếp tục khẳng định quan điểm kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh trong quá trình thực hiện các phương hướng để đạt được mục tiêu khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa “xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Trong định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Cương lĩnh chỉ rõ: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng an ninh. Phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn”(4).

Theo tinh thần Đại hội XI, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tạo thành một thể thống nhất, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Bản chất của mối quan hệ này là sự gắn bó mật thiết giữa xây dựng và bảo vệ, trong xây dựng có bảo vệ, trong bảo vệ có xây dựng. Đảng ta đặt lên hàng đầu “sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng – an ninh”, nhưng lại xác định “tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân” (5). Quan điểm này cần được hiểu, đời sống kinh tế – xã hội là gốc của quốc phòng – an ninh; xây dựng kinh tế – xã hội là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Gốc này có vững chắc thì quốc phòng – an ninh mới vững. Biểu hiện của vững chắc là ổn định và phát triển. Mà muốn ổn định và phát triển, trong ổn định và phát triển cần có bảo vệ. Mặt hoạt động này là điều kiện của hoạt động kia và ngược lại. Bởi vì xây dựng và bảo vệ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu. Bảo vệ không chỉ là phòng ngừa hay chống lại, đánh trả. Chúng ta xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, hiện đại, tinh nhuệ là để phòng ngừa, không phải răn đe; để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc nếu các thế lực thù địch có dã tâm muốn thôn tính nước ta.

Điều quan trọng là phải chăm lo xây dựng mọi mặt của đất nước ngày càng mạnh, ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục các nguy cơ về chính trị, kinh tế, đặc biệt là các vấn đề xã hội bức xúc, tạo môi trường hòa bình và ổn định. Nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa sống còn là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Bởi vì Đảng ta là một đảng cầm quyền. Sự vững mạnh hay yếu kém của Đảng liên quan đến vận mệnh của đất nước. Cách đây mười hai năm, trong bài viết Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ rõ: “Bọn thù địch chống phá ta bằng “diễn biến hòa bình”, chúng biết nhân dân ta là kiên cường không thể coi thường, chúng biết Đảng ta với chỗ mạnh và chỗ yếu có thể khai thác. Chúng chờ cơ hội. Điều đáng sợ là “diễn biến hòa bình” từ nội bộ Đảng ta” (6). Tại Đại hội XI Đảng ta nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”(7). Chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác chính là nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây cái tốt, đẩy lùi cái xấu theo tinh thần “phò chính trừ tà” là điều kiện vững chắc cho bảo vệ. Như vậy bảo vệ là một bộ phận hợp thành của xây dựng. Càng xây dựng tốt bao nhiêu, càng có điều kiện bảo vệ tốt bấy nhiêu. Xây dựng chính là tự bảo vệ; ngược lại bảo vệ tốt lại tạo điều kiện để xây dựng tốt. Một nấc thang của xây dựng gắn chặt với một nấc thang của bảo vệ; một nấc thang của bảo vệ lại tạo ra một thành quả của xây dựng, vì bảo vệ trong tiến trình xây dựng.

Mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ còn được thể hiện ở lực lượng xây dựng cũng là lực lượng bảo vệ và lực lượng bảo vệ cũng là lực lượng xây dựng, tức là toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị. Xây dựng không chỉ là việc riêng của kinh tế – xã hội, của dân sự mà cũng là câu chuyện của quốc phòng – an ninh. Củng cố quốc phòng – an ninh không phải chỉ là việc riêng của quốc phòng, của bảo vệ mà còn nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội, theo yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới của tình hình khu vực và thế giới, trước yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới được Đảng ta xác định trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn. Đây là tư duy hết sức khoa học, thể hiện tính nhất quán chặt chẽ vừa xuyên suốt, vừa cụ thể trên cả hai mặt thời gian và không gian. Quan điểm này khắc phục những nhận thức hời hợt, chỉ thấy chiến lược mà không thấy cụ thể từng kế hoạch, từng quy hoạch, từng chính sách; chỉ thấy vĩ mô mà không quan tâm tới vi mô; chỉ thấy tầm quan trọng ở Trung ương mà không thấy vai trò trọng yếu của địa phương; chỉ thấy kinh tế mà không thấy quốc phòng – an ninh; chỉ thấy địa bàn này là ưu tiên kinh tế, địa bàn khác ưu tiên quốc phòng mà không thấy địa bàn nào cũng có cả kinh tế – xã hội – quốc phòng – an ninh,v.v..

Phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc một cách khoa học và cách mạng rằng, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh chỉ có thể thắng lợi khi mà quốc phòng – an ninh được giữ vững, môi trường hòa bình được bảo đảm, tình hình chính trị ổn định. Từng giờ, từng phút, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá chúng ta, không muốn cho chúng ta được sống trong hòa bình. Vì vậy phải quan tâm đúng mức, luôn luôn nêu cao cảnh giác đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù. Chỉ có như vậy thì mới có điều kiện để xây dựng đất nước. Bên cạnh đó, phải thấy rằng, chỉ khi kinh tế phát triển nhanh, bền vững, các lĩnh vực xã hội được bảo đảm thì nền độc lập của chúng ta mới được giữ vững. Những quan điểm chỉ muốn làm giàu về kinh tế bằng mọi giá, không quan tâm đến quốc phòng an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cần phải được lên án mạnh mẽ.

Trong những năm tới, “nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp” (8). Vì vậy, muốn bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì phải tiếp tục nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

_____________________

(1) – Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H.1996, t.9, tr.291.
(2) – V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. CTQG, H.2005, t.37, tr.145.
(3) – ĐCSVN: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, H.1991, tr.10.
(4) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG, H.2011, tr.82.
(5) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.82.
(6) – Tạp chí Cộng sản, số 10, tháng 5-1999 và Báo Nhân dân, ngày 15-5-1999.
(7) – ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr.173.
(8) – Sđd, tr. 185.

Theo PGS, TS. BÙI ĐÌNH PHONG
(tuyengiao.vn)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng của Bác về đánh giá cán bộ

Hầu như mọi người đều thuộc lòng lời dạy của Bác Hồ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1). Đó là một chân lý. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta từ ngày thành lập tới nay đã chứng minh sức sống bất diệt của chân lý đó.

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay đang đứng trước những thời cơ “rồng mây gặp hội” và cả những “bão tố phong ba”, những nguy cơ, những thách đố ngặt nghèo. Hơn bao giờ hết chân lý “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, càng phải trở thành ánh lửa soi sáng lương tri của toàn Đảng, của các cấp lãnh đạo, quản lý đất nước, trước hết là ở cấp chiến lược.

Cán bộ và công tác cán bộ từ lâu đã được coi là công việc quan trọng bậc nhất, việc làm thường xuyên trong công tác lãnh đạo của Đảng, trong đó việc đánh giá cán bộ giữ vai trò then chốt.

1. Đánh giá cán bộ nhằm mục đích gì?

Ở mỗi thời kỳ cách mạng đều có những mục tiêu cụ thể, phải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể. Vì vậy, Đảng vừa phải xác định cho đúng mục đích cuối cùng, thể hiện ở Cương lĩnh cách mạng (Cương lĩnh như ngọn cờ vẫy gọi, hải đăng chỉ đường, la bàn định hướng), vừa phải xác định được chương trình hành động trong giai đoạn 5 năm, 10 năm, 20 năm…

Căn cứ vào các nghị quyết đã được thông qua, những mục tiêu đã đề ra, những nhiệm vụ phải làm, những yêu cầu phải đạt để định rõ các tiêu chuẩn cán bộ cần phải có. Căn cứ vào kết quả thực hiện nghị quyết để đánh giá cán bộ.

Không xác định rõ chuẩn mực sẽ không thống nhất trong việc xem xét, kiểm sát và đánh giá cán bộ, sẽ dễ rơi vào chủ quan, cảm tính, thiên vị. Việc đánh giá cán bộ thực ra cũng là việc con người (dù là theo nguyên tắc tập trung dân chủ) đánh giá con người. Mà đã là con người thì ai cũng có những tình cảm riêng, các mối quan hệ riêng (tính tình, sở thích, họ hàng, bè bạn…). Đó là lẽ bình thường, là sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận. Vậy thì cần phải đề ra các chuẩn mực khách quan (cụ thể, không chỉ dừng ở khái niệm chung) như cái thước đo, được xác định như là một chuẩn mực đo lường quốc gia. Hồ Chí Minh xác định “dùng cán bộ cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ”(2). Đó là căn cứ khách quan, mà đã khách quan thì người (hoặc tập thể) khi đánh giá cán bộ phải phục tùng, phải vượt qua tình cảm riêng, quan hệ riêng.

Đường lối, nghị quyết, chính sách, pháp luật suy cho cùng cũng chỉ là những hệ chuẩn mực chung của từng thời kỳ. Trong tiến trình lịch sử, nó có thể được điều chỉnh. Lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước là thước đo bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, của Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi y án tử hình Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân lương trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã chỉ rõ: Tội lớn nhất mà y phải nhận sự trừng phạt cao nhất của pháp luật là y đã hành động dẫn tới làm mất lòng tin của dân đối với Đảng và Chính phủ.

Dư luận chung cho rằng việc đánh giá cán bộ và xử lý một số vụ việc vừa qua có thể coi là tích cực, nhưng cũng còn không ít vụ việc chưa hẳn đã được đa số nhân dân đồng tình. Thiết nghĩ các đồng chí có trách nhiệm cần lắng nghe để hiểu thấu lòng dân, vì như Bác Hồ đã dạy “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(3).

Mục tiêu của cách mạng, yêu cầu của nhiệm vụ và lòng tin của dân là một hệ giá trị để xác định mục đích của việc đánh giá, sử dụng cán bộ, trong đó lòng tin của dân là giá trị trung tâm và chi phối toàn bộ hệ giá trị.

2. Kiểm soát và chọn cán bộ làm công tác kiểm soát.

Như trên đã nói, việc đánh giá cán bộ là việc con người đánh giá con người. Nếu như mục đích là “cái thước đo” phải đạt chuẩn quốc gia thì người làm công tác đánh giá, kiểm soát (người cầm thước) cũng phải đạt chuẩn quốc gia. Để đánh giá đúng cán bộ thì việc cần phải làm trước tiên là làm tốt công tác kiểm tra và chọn người đảm trách tốt công tác kiểm tra (tổ chức – cán bộ và kiểm tra).

Hồ Chí Minh chỉ rõ “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện chỉ có một cách khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.

Song muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”(4).

Thực tiễn cho thấy cả hai điều trên, chúng ta đều đã làm nhưng chưa thường xuyên, chưa làm đồng bộ mang tính hệ thống và rất tiếc là còn không ít cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, thanh tra đã mắc nhiều khuyết điểm, thậm chí có người đã bị lợi ích cá nhân, vì đồng tiền mà tư túng, bao che, biến đen thành trắng.

Để đánh giá cán bộ đúng thì cần có cơ chế kiểm tra thường xuyên và phải có cán bộ kiểm tra có động cơ đúng đắn, phải có khả năng và dũng khí cách mạng. Không ai lúc nào cũng tốt, cũng đúng, cũng cứng rắn, đủ sức mạnh để vượt qua mọi cám dỗ. Vì vậy, phải tạo ra một cơ chế nhằm tăng sức mạnh của tập thể tiếp sức cho cán bộ, vừa bảo vệ được cán bộ, vừa nâng đỡ, động viên cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Việc kiểm tra cơ quan và cá nhân làm công tác kiểm tra cần phải được quy định thành chế độ công vụ nghiêm ngặt.

Có một thực tế cần chú ý là diện cán bộ thuộc cấp trên quản lý thường rất dễ rơi vào vòng ngoài của sự kiểm tra. Tổ chức cơ sở đảng nơi đồng chí đó công tác thường e dè, nể nang thậm chí tự ti, không dám kiểm tra tư cách, đạo đức, tác phong của cán bộ lãnh đạo với tư cách họ là đảng viên, bởi vì sợ họ là cấp trên, là người quyết định liên quan đến mọi lợi ích của các thành viên trong Chi ủy, Đảng ủy cơ sở. Các đồng chí thuộc diện cấp trên quản lý thường ỷ vào bận nhiều việc nên coi thường sinh hoạt đảng, tự ý tách mình ra khỏi kỷ luật đảng, tự mình tung hoành. Cấp trên thì xa (có thể cũng quan liêu), tổ chức cơ sở đảng thì né tránh nên cán bộ tự do, muốn sao làm vậy, coi trời bằng vung. Việc này, Bác Hồ đã phê phán nghiêm khắc “Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách mạng làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(5).

Hàng loạt những vụ việc tiêu cực xảy ra trong thời gian gần đây cho thấy công tác kiểm tra của tổ chức cơ sở đảng còn có nhiều yếu kém, cần sớm được khắc phục để việc đánh giá cán bộ không bị động, nhầm lẫn, thậm chí sai lầm.

Tóm lại, cả “thước đo”, “người cầm thước” và cơ chế vận hành của tổ chức đảng cần quán triệt sâu sắc Tư tưởng của Bác để chấn chỉnh, sửa đổi.

3. Giải pháp.

Một là, cần rà soát lại quy trình đánh giá cán bộ, quy rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức, không để có kẽ hở dẫn tới đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức, nhất là giữa cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước. Hiện nay, có hiện tượng ỷ vào việc phân cấp diện cán bộ do Ban Bí thư quản lý để lảng tránh trách nhiệm của thủ trưởng đối với cán bộ ở cơ quan, đơn vị mình là việc làm thiếu tính đảng và thiếu ý thức chấp hành Pháp lệnh cán bộ, công chức.

Hai là, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Thanh tra Chính phủ và Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ trong công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ.

Ba là, cần phát huy sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng. Đã từ lâu trên thế giới, trong các nước phát triển, người ta đã rất chú trọng tới tiếng nói phản biện, phản hồi của nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng. Dựa vào nhân dân là một cách làm hữu hiệu để kiểm soát và đánh giá cán bộ. Và, đó cũng là cách để cán bộ có thông tin giúp mỗi người hiểu được xã hội đang định giá trị cho mình như thế nào. Đó cũng chính là thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh: Dựa vào dân chúng mà giáo dục, đánh giá và cất nhắc cán bộ.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức – cán bộ, thanh tra, kiểm tra, đồng thời có chính sách bảo đảm lợi ích và động viên tinh thần để vừa phát huy tính tích cực cách mạng của họ, vừa đảm bảo cho họ có những điều kiện giúp họ giữ được đức thanh liêm, khách quan vô tư và toàn tâm toàn ý với công việc. Có quy định để vừa tôn vinh, bảo vệ những người thanh tra, kiểm tra trung chính, vừa có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với việc nhận định, đánh giá không đúng về cán bộ (cả tâng bốc, đánh bóng ưu điểm lẫn bôi đen, sai sự thật). Có quy định cho từng cán bộ làm công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ được giữ ý kiến độc lập của mình và có thể gửi báo cáo bằng văn bản vượt cấp về những vấn đề mình nhận định (nếu những nhận định đó không được cấp trên trực tiếp, hoặc cấp ủy cùng cấp đồng tình), đồng thời phải chịu trách nhiệm về tất cả nội dung đã báo cáo.

___________________

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.269 và 273. (2, 3) Sđd, tr.279. (4) Sđd, tr.287. (5) Sđd, tr.72.

Theo PGS. TRẦN ĐÌNH HUỲNH
Viện trưởng Viện Công nghệ quản trị nhân sự Châu Á
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn