Thư viện

“Điểm mặt” những bộ tem nước ngoài về Bác Hồ


tem 1
Hai mẫu tem đặc sắc của Ấn Độ và Madagascar phát hành năm 1990, nhân dịp kỷ niệm
100 năm 
Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tính đến nay, có khoảng 15 quốc gia, vùng lãnh thổ phát hành tem bưu chính về Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa kiệt xuất, Anh hùng giải phóng dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam.

Bộ tem bưu chính đầu tiên của thế giới về Hồ Chủ tịch là bộ tem “Kỷ niệm 80 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” gồm 7 mẫu tem, do cố họa sĩ Felix René Mederos Pazos (1933 – 1996) thiết kế, được Cộng hòa Cuba chính thức phát hành vào ngày 19/5/1970. Họa sĩ này đã 2 lần sang Việt Nam thực tế vào các năm 1969 và 1972 để vẽ một số tranh về chiến tranh Việt Nam. Bộ tem “Kỷ niệm 80 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” của Cuba thể hiện sinh động cảnh sinh hoạt và chiến đấu của quân dân hai miền như: Công binh xưởng, gặt lúa, lớp học dưới địa đạo… Trong đó, có 1 mẫu tem với giá mặt cao nhất 13 centavo (xu) mang hình chân dung Hồ Chủ tịch trên nền cờ đỏ sao vàng. Phong bì ngày đầu tiên có chân dung Người, bản đồ Việt Nam bị chia cắt tượng trưng bởi 2 màu xanh đỏ và hình ảnh người nông dân Việt Nam.

tem 2

Ngày 2/9/1970, kỷ niệm 1 năm Ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 25 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bưu điện Cộng hòa dân chủ Đức đã phát hành 1 tem nằm trong loạt 7 tem có phụ thu mang tiêu đề “Việt Nam bất khả chiến bại” để gây quỹ ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Mẫu tem này mang hình chân dung Hồ Chủ tịch với dòng chữ tiếng Đức màu đen “Tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh” và màu đỏ “Việt Nam bất khả chiến bại”, giá mặt là 20 + 5 pf (xu).

Tiếp đó, vào ngày 19/5/1972, Cuba phát hành bộ tem “Hội nghị lần thứ ba về phản đối chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương” gồm 3 mẫu tem, trong đó có 1 mẫu tem giá mặt 3 centavo mang hình ảnh Jose Marti và Hồ Chí Minh, 2 lãnh tụ cách mạng vĩ đại của hai nước trên nền hình ảnh cách điệu của quốc kỳ Cuba và Việt Nam. Ngày 19 tháng 5 là Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày mất của lãnh tụ Cuba Jose Marti.

tem 3

Ngày 17/2/1973, để chào mừng Hiệp định Paris về Việt Nam vừa được ký kết, Algeria đã phát hành 1 con tem giá mặt 0,40 dinar. Con tem mang hình ảnh bản đồ Việt Nam thống nhất màu nâu đỏ nổi bật trên bán đảo Đông Dương màu vàng nằm bên biển Đông xanh thẳm với chân dung Hồ Chủ tịch đặt trang trọng trong khung hình oval. Con tem mang dòng chữ tiếng Pháp “Tôn vinh nhân dân Việt Nam” và ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam “27/1/1973”.

te4

Kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 12/7/1980, Liên Xô đã phát hành 1 tem giá mặt 6 kopeck. Trên mẫu tem này, chân dung Bác được thể hiện rất đẹp bằng màu xanh lam nổi bật trên nền lá cờ đỏ sao vàng, bên cạnh cột cờ Hà Nội.

tem 5
Bộ tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 1 năm ngày mất của Chủ tịch Kim Nhật Thành, ngày 8/7/1995, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên phát hành bộ tem “Lãnh tụ vĩ đại Kim Nhật Thành sống mãi với chúng ta” gồm 1 blốc tem và 3 tờ tem nhỏ. Bộ tem được thiết kế dựa theo ảnh tư liệu thể hiện hình ảnh Kim Chủ tịch với các nhà lãnh đạo thế giới. Trong đó, có 1 tờ tem nhỏ gồm 2 tem giá mặt 30 jon (xu) mang hình ảnh Kim Chủ tịch đàm đạo với Hồ Chủ tịch tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam Dân chủ cộng hòa tháng 11 năm 1958 của Kim Chủ tịch và hình ảnh Kim Chủ tịch đón tiếp người Anh hùng huyền thoại Che Guevara tháng 12 năm 1960.

Ngày 15/3/1999, Cộng hòa quần đảo Marshall phát hành tờ tem “Thập kỷ của hiểm họa và phát triển 1950-1959” gồm 15 tem giá mặt 60 cent nằm trong loạt tem “Thế kỷ 20”. Tờ tem này thể hiện nhiều sự kiện quan trọng trong thập niên 50 của thế kỷ 20. Con tem thứ 9 trong tờ tem mang tên “Hoàng hôn trên đế chế thực dân” (Sun Sets on Colonial Empires) với chân dung Hồ Chủ tịch bên cạnh bản đồ Việt Nam màu đỏ rực bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 và hình ảnh những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phất cao lá cờ đỏ “Quyết chiến, quyết thắng” trên nóc hầm tướng Pháp Đờ Cát trong Chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954.

Năm 2000, Dominica Liên hiệp, một quốc gia nhỏ ở vùng Caribbe đã phát hành tờ tem “Thế kỷ 20, 1960 – 1969” gồm 17 tem giá mặt 55 cent nằm trong loạt tem “Thiên niên kỷ 1000 – 2000”. Tờ tem này được in rất đẹp với hình ảnh nhiều sự kiện lớn trong thập niên 60 của thế kỷ 20, trong đó có có 1 tem về sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần năm 1969. Trên tem là hình chụp lại một khung ảnh chân dung Hồ Chủ tịch có chữ ký của Người, đặt trên nền cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam với dòng chữ “Hồ Chí Minh, lãnh tụ Bắc Việt Nam, từ trần”. Cũng trong năm 2000, xuất hiện một tờ tem mang quốc hiệu Afghanistan gồm 9 tem, thể hiện chân dung 9 chính trị gia lớn của Thế giới trong thế kỷ 20, trong đó có Hồ Chủ tịch.

Năm 2001, Rwanda phát hành bộ tem “Thiên niên kỷ” gồm nhiều tờ tem nhỏ, mỗi tờ có 4 tem với giá mặt 300 Rwanda Franc để tôn vinh các vĩ nhân thế giới trên mọi lĩnh vực trong Thiên niên kỷ vừa qua. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiện diện trên tờ tem thập kỷ 40 với bức chân dung đeo kính rất phúc hậu, râu tóc bạc phơ. Trên lề tờ tem này là hình ảnh người thanh niên Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở Tours (Pháp) tháng 12 năm 1920 và hình ảnh Hồ Chủ tịch cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm bộ đội diễn tập năm 1957.

Kỷ niệm 25 năm Hiệp ước hợp tác hữu nghị Lào-Việt, ngày 18/7/2002, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào phát hành bộ tem “Hợp tác Lào-Việt” gồm 2 mẫu, trong đó có 1 tem giá mặt 3.500 kip mang hình ảnh Hồ Chủ tịch đang đàm đạo với Chủ tịch Kaysone Phomvihan, Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Hình ảnh 2 vị lãnh tụ trên tem được vẽ giản dị bằng 2 màu đen trắng.

Năm 2008, Cộng hòa Djibouti (vùng Đông Phi) phát hành 1 blốc gồm 2 tem về hoa lan và chim ruồi, trong đó mẫu tem 250 Djibouti franc giới thiệu loài hoa lan hài mang tên Hồ Chí Minh (Paphiopedilum Ho Chi Minh) do nhà trồng lan người Đức tên là Popow lai tạo năm 1999.

tem7Mẫu tem về loài lan hài mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngoài ra, chân dung Hồ Chủ tịch cũng xuất hiện trên lề tờ tem “Thiên niên kỷ 2000 – Thế giới trong chiến tranh” gồm 6 mẫu do Saint Vincent và Quần đảo Grenadines (vùng Caribbe) phát hành năm 2000 giới thiệu một số sự kiện chính từ Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1941 đến Chiến tranh Việt Nam năm 1972 và trên lề tờ tem “Chiến tranh Việt Nam” gồm 6 mẫu do CH Guinea phát hành năm 2007.

Đặc biệt, trong năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người được UNESCO tôn vinh là Danh nhân văn hoá kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc, đã có 5 quốc gia trân trọng phát hành tem về Người, đó là:

– Liên Xô: Ngày 3/2/1990 phát hành 1 tem giá mặt 10 kopeck. Chân dung Hồ Chủ tịch trên tem mang vẻ đẹp nghiêm nghị, dựa theo ảnh chụp của Người trong thập niên 60; trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh 1890 – 1969” bằng tiếng Nga.

– Cuba: Ngày 19/5/1990, phát hành 1 tem giá mặt 50 centavo. Chân dung Hồ Chủ tịch trong bộ quân phục màu xanh lá trên tem dựa theo ảnh chụp “Bác Hồ sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954”. Nền tem là hình ảnh cách điệu của Quốc kỳ Việt Nam và Cuba liền một dải hình chữ Z. Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Tây Ban Nha. Phong bì ngày đầu tiên của con tem này có in hình chân dung Hồ Chủ tịch trên một lá cờ đỏ được dập nổi và in tinh khắc rất đẹp.

– Lào: Ngày 11/5/1990, phát hành bộ gồm 3 tem mang thể hiện các hình ảnh về Hồ Chủ tịch nói chuyện với đồng bào (40 kip), Hồ Chủ tịch bắt tay Hoàng thân Xuphanuvong (1909 – 1995) – Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (60 kip), Hồ Chủ tịch giơ tay vẫy chào (160 kip). Trên tem có dòng chữ “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh” bằng tiếng Pháp và Lào. Phong bì ngày đầu tiên của bộ tem này có hình Hồ Chủ tịch đeo kính gần giống với phong bì ngày đầu tiên của Việt Nam nhưng dấu hủy đặc biệt là hình chân dung của Người.

tem 8Mẫu tem kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Bác Hồ được Ấn Độ phát hành ngày 17/5/1990.

– Ấn Độ: ngày 17/5/1990, phát hành 1 tem giá mặt 2 rupee mang hình chân dung Hồ Chủ tịch và ngôi nhà sàn tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội. Họa sĩ đã dùng 2 màu nâu và xanh mạ làm nổi bật chân dung Người. Trên tem có dòng chữ “Hồ Chí Minh” bằng chữ Ấn Độ và chữ Latine. Phong bì ngày đầu tiên của tem này được minh hoạ bằng bức ảnh “Hồ Chủ tịch sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954” và bức ảnh nổi tiếng của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Lâm Hồng Long “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” chụp ngày 03/9/1960.

– Madagascar: Ngày 19/10/1990, phát hành 1 tem giá mặt 350 Franc Malagasy thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch rất phúc hậu như tiên ông với khuôn mặt đầy đặn, hồng hào; râu tóc trắng như cước; nụ cười hiều hậu luôn nở trên môi. Trên tem có dòng chữ tiếng Pháp “Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam”.

Theo Baomoi.com
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Bác Hồ và người bạn Pháp – Raymond Aubrac

Với nhân dân Việt Nam, ông Aubrac được biết đến qua mối quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những đóng góp của ông với hòa bình của Việt Nam

ban BH a1Ông Raymond Aubrac

Ông Aubrac sinh ngày 31/7/1914 trong một gia đình người Do Thái tại Vesoul, Pháp. Ông có tên thật là Raymond Samuel.

Ông Aubrac là người đồng sáng lập phong trào “Giải phóng miền Nam” của Pháp và là một trong những lãnh đạo cuối cùng của phong trào Kháng chiến thống nhất, đã sát cánh bên nhà đấu tranh nổi tiếng Jean Moulin.

Với nhân dân Việt Nam, ông Aubrac được biết đến qua mối quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và những đóng góp của ông với hòa bình của Việt Nam, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước của Việt Nam.

Tình bạn lớn giữa nhà cách mạng Pháp và Hồ Chủ tịch.

Năm 1946, sau cuộc đàm phán với Pháp không kết quả, nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp với danh nghĩa Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủcộng hoà từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9 năm 1946.

ban BH a2Bác Hồ và gia đình ông Raymond Aubrac những ngày ở Pháp

Thời gian Bác thăm Pháp lâu, vì ở Pháp lúc đó có cuộc bầu cử Quốc hội và phải thay đổi Chính phủ. Cũng trong khoảng thời gian này ở Pháp có Hội nghị Phông-ten-nơ-blô giữa Pháp và Việt Nam. Đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó cũng ở Pa-ri, nhưng không tham gia Đoàn Việt Nam ở Hội nghị. Sau khi Hội nghị Phông-ten-nơ-blô kết thúc, Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, còn Bác ở lại để cùng với Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Hải ngoại, đại diện Chính phủ Pháp ký bản Tạm ước với hy vọng cứu vãn hoà bình. Ngày 19-9-1946, Bác lên tàu ở cảng Tu-lu, trở về nước.

Ngày 27-7-1946, Việt kiều ở Pháp đã tổ chức một cuộc chiêu đãi tại Vườn Hồng Bagatelle ở Pa-ri để chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Raymond Aubrac có mặt trong buổi chiêu đãi. Sau đó, ông mời Bác về ở nhà mình, ở ngoại ô Pa-ri.

Bác đến ở nhà ông Raymond Aubrac 6 tuần, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9 năm 1946. Nhà ở Soissy-sous-Monmorency, phía Bắc Pa-ri đi khoảng 20 phút xe hơi. Nhà được xây dựng từ thế kỷ 18, để làm nhà nghỉ cho một gia đình quý tộc.

ban BH a3Hồ Chủ tịch, bà Lucia Aubrac và người con gái Elisabeth Aubrac
của gia đình ông Aubrac đã nhận Bác làm cha đỡ đầu.

Xung quanh nhà có vườn rộng, cách đường cái một bức tường có hàng cây dẻ và một vài cây anh đào. Trong vườn có mấy cụm hoa lớn, còn lại là thảm cỏ. Nhà có ba tầng với một tầng hầm và một tầng sát mái. Lúc đó gia đình ông Aubrac có hai vợ chồng, hai con nhỏ, bà mẹ vợ và một người giúp việc.

Trong thời gian ở cùng gia đình, lúc đầu bà Aubrac và mẹ bà nấu cho Bác ăn. Nhưng sau này thấy bận và Bác có nhiều khách, nên anh em đã cử ông Ty, một Việt kiều yêu nước đến nấu ăn cho Bác. Ông Ty có một cửa hàng ăn ở khu sinh viên Quartier la-ting, nhưng ông đã đóng cửa, đến phục vụ Bác.

Mỗi buổi sáng người nhà ông Aubrac mang đến cho Bác sách báo tiếng Pháp và báo chí tiếng Anh, Đức, Nga… Bác thường đọc báo ngay trên thảm cỏ.

Hàng ngày Bác cũng tiếp khách ở ngoài vườn. Chính phủ Pháp dành cho Bác một tầng trong một ngôi nhà lớn ở gần Khải hoàn môn, nhưng Bác thường không vào Paris tiếp khách, mà mời về nhà ông Aubrac…

Đoàn đại biểu của ta tại Hội nghị Fontainebleau ngày nào cũng đến làm việc với Bác. Ở đây Bác tiếp và chiêu đãi nhiều nhân vật thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, các nhà văn, nhà báo…

Ông Aubrac kể lại rằng cuối tháng 7, nhân ngày sinh của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh của họa sĩ Vũ Cao Đàm, một trí thức Việt kiều yêu nước.

Bức tranh tả một bà mẹ mới sinh con, đang vươn cánh tay dài với những ngón tay mảnh dẻ vuốt đầu cháu bé. Ít lâu sau, bà Aubrac sinh cháu Elisabeth. Bác đã đến Nhà Hộ sinh Port – Royal ở Paris thăm, tặng hoa và nhận là người đỡ đầu. Từ đó trở đi, năm nào đến ngày sinh của cháu Babette, Bác cũng đều gửi quà mừng.

ban BH a4Ông Aubrac gặp gỡ Đại tướng Võ Nguyên Giáp
trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007

Ông bà Aubrac tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là những người tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát xít.

Ông bà chịu ảnh hưởng của những người cộng sản, thời đó gọi là những người “bạn đồng hành” của những đảng viên cộng sản, là những người luôn đứng về phái công lý.

Hai ông bà là những chiến sĩ kiên cường trong kháng chiến chống phát xít Đức, bí mật tham gia kháng chiến ở Li-ông. Ông góp phần thành lập Bộ Tham mưu quân đội bí mật.

Bố mẹ ông Aubrac cũng bị phát xít Đức giết chết. Ông bị phát xít Đức bắt, ngày 15-6-1943 được lực lượng kháng chiến cứu thoát. Ngày 21-6-1943, ông bị Gét-xta-po bắt và đưa đi xử bắn. Bà Lucie đã tổ chức một cuộc tập kích giải thoát cho chồng. Bị lộ, hai vợ chồng theo Tướng Đờ-gôn sang Anh.

Ông Aubrac kể khi ông làm đại diện Chính phủ Pháp tại Mác-xây năm 1944-1945, ở đó có rất nhiều lính thợ Việt Nam được Chính phủ Pháp tuyển mộ sang Pháp từ năm 1939 để thay thế cho thanh niên Pháp nhập ngũ.

Phát hiện ra tại các trại này anh em bị bọn côn đồ đàn áp, ông đã giải tán Ban Chỉ huy, thay bằng những người tốt và cho anh em tự bầu ra một Ban Tư vấn bên cạnh Ban Chỉ huy. Từ đó anh em biết ơn ông và năm nào đến dịp lễ, Tết đều mời ông dự.

Ông cho rằng cũng vì vậy mà ông được mời dự cuộc chiêu đãi ở Bagatelle và được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh, ông trở thành anh hùng kháng chiến, được cử làm đại diện Chính phủ Pháp tại Mác-xây, rồi về làm việc ở Bộ Xây dựng. Ông là kỹ sư công chính. Còn bà Aubrac được cử làm đại biểu Hội đồng Tư vấn, một nhân chứng lịch sử đấu tranh giải phóng. Sau đó, bà làm giáo viên của Trường Trung học Enghien.

Hai ông bà đều có quan hệ gắn bó với Bác Hồ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Ông thường nói ngày được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 27-7-1946 đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời ông, cho tận đến bây giờ, một giai đoạn gắn bó với đất nước Việt Nam.

Sau năm 1946, ông Aubrac đã gặp Bác hai lần. Một lần vào năm 1955, ở Bắc Kinh, khi Bác đang thăm Trung Quốc. Bác đã mời ông ăn sáng và mời sang Hà Nội, gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, để giúp giải quyết vấn đề buôn bán giữa Việt Nam và Pháp. Ông đi xe lửa từ Bắc Kinh đến Lạng Sơn, sau đó đi xe Jeep đến Hà Nội. Ông ở Việt Nam khoảng nửa tháng, đi thăm Hà Nội và vịnh Hạ Long.

Lần thứ hai, năm 1967, ông cùng Viện trưởng Viện Pasteur Herbrt Marcovitch sang để trao đổi về tình hình Việt Nam. Bác cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ông tại Nhà sàn, Hà Nội. Sau 12 năm xa cách, ông được gặp Bác. Đây cũng là lần cuối cùng.

Ông viết cuốn sách “Où s’ attarde la mémoire” (Những gì để nhớ), xuất bản năm 1946, trong đó kể lại những kỷ niệm gắn bó với cuộc đời của ông. Bác Hồ và Việt Nam đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng vợ chồng Raymond Aubrac. Ông bà đã trở thành những người bạn thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Ngày 14-3-2007, bà Aubrac qua đời, tại Pa-ri, thọ 95 tuổi. Lễ Truy điệu bà được tổ chức trọng thể tại Cung Invalides với sự có mặt của Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Đài Truyền hình Pháp đã dành hai buổi chiếu cuốn phim về đời hoạt động của bà. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gửi điện chia buồn.

Theo giaoduc.net
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Giải bóng đá mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh tại Chi-lê

Nhân dịp Quốc khánh 2/9, tại thành phố Cerro Navia, thuộc vùng Santiago, nước Cộng hòa Chi-lê đã diễn ra vòng Chung kết giải bóng đá Thanh thiếu niên mang tên lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Đây là sáng kiến của nhân dân khu phố Hermida de la Victoria để tiếp tục truyền thống của thế hệ đi trước, những người đã dành nhiều tình cảm cho nhân dân Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Giải bóng đá Hồ Chí Minh lần thứ nhất được Đại sứ quán Việt Nam tại Chi-lê bảo trợ, với sự tham gia của 12 đội bóng và 140 cầu thủ trong độ tuổi từ 10-15.

chile a1
Quốc kỳ hai nước trong trận chung kết

Chiều 2/9/2012, Đại sứ Việt Nam tại Chi-lê đồng chí Hà Thị Ngọc Hà và ông Luis Plaza Sanchez, Thị trưởng thành phố Cerro Navia đã đến dự trận chung kết và trao Cúp cho đội vô địch Hermida de la Victoria.

Nhân dịp công tác tại Chi-lê, Đoàn đại biểu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam do ông Vi Kiến Thành, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm cũng tham dự và trao giải cho các đội tham gia vòng Chung kết. Đoàn đã nhận được nhiều tình cảm của nhân dân địa phương.

Thành phố Cerro Navia là nơi có công viên mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành từ những năm cuối thập kỷ 60 từ phong trào ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Với tấm lòng kính yêu Bác Hồ, các bà nội trợ, cư dân khu Hermida de la Victoria đã ghép những mảnh gốm thành bức phù điêu chân dung Hồ Chí Minh với những vần thơ trong cuốn Nhật ký trong tù của Người: “Thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao”.

Giải bóng đá Hồ Chí Minh sẽ được chính quyền địa phương và nhân dân Cerro Navia tổ chức thường niên để thế hệ trẻ hiểu thêm về truyền thống của cha ông và duy trì tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam – Chi-lê.

chile a2
Đại sứ Việt Nam tại Chilê đồng chí Hà Thị Ngọc Hà trao cúp cho đội vô địch

chile a3
Ông Luis Plaza Sanchez, Thị trưởng thành phố Cerro Navia cũng đến dự trận chung kết

chile a4
chile a5
chile a6
chile a7
chile a8
chile a9
chile a10

Phương Hòa/Từ Chile
Theo dantri.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam

Có một thời, phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam được coi là Đồng minh và là bạn của nhân dân Việt Nam. Sự kiện này mở đầu cho mối quan hệ bang giao Việt – Mỹ, khi cách mạng Việt Nam đang còn non trẻ trong trứng nước, với muôn vàn khó khăn… Nhờ thế, mà chúng ta đã tập hợp và tranh thủ được sự giúp đỡ của những người bạn Đồng minh chống phát – xít, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

4 phicong1755-400aChủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số
thành viên nhóm tình báo “Con Nai” tại Hà Nội năm 1945.

Những phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam đều xuất hiện trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Những bí mật về cuộc đời họ còn nhiều chi tiết chưa được tiết lộ.

Từ chuyện cứu phi công Mỹ William Shaw năm 1944…

Khoảng tháng 10 năm 1944, có một Trung uý phi công Mỹ tên là William Shaw trong khi làm nhiệm vụ lái máy bay trên vùng trời biên giới Việt Nam – Trung Quốc đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) – Đó là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh – một tổ chức do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, không những tập hợp mọi lực lượng trong nước, mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước, với đại diện của các nước phe Đồng minh trong mặt trận chống phát – xít.

Bởi thế, Bác Hồ đã chỉ thị phải bảo vệ, chăm sóc Trung uý Shaw cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó: “Khi ở trên trời là người của họ, xuống đây là khách của ta, phải đón tiếp chu đáo”. Vậy là, sau khoảng 3 tuần trèo đèo, lội suối, băng rừng ròng rã, vượt qua sự lùng sục bao vây của quân Nhật, viên phi công Mỹ nêu trên đã được đưa về Pác Bó gặp Bác.

Sau này, Thượng tướng Phùng Thế Tài – người đầu tiên bảo vệ Bác từ khi Người về nước – đã kể lại tâm trạng của người phi công Mỹ ngày đó trong một hồi ký của mình:

“Sau gần một tháng trời có miệng như câm, có tai như điếc, được gặp Bác, được nghe tiếng nói của quê hương xứ sở, viên phi công Mỹ bàng hoàng sung sướng đến phát khóc. Anh ta hoàn toàn bất ngờ không hiểu tại sao giữa núi rừng của nước Việt Nam xa xôi này có cụ già trông rất giản dị lại nói tiếng Anh giỏi đến thế. Ngạc nhiên hơn, anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.

Tấm lòng nhân hậu của Người có tác dụng cảm hóa Trung uý Shaw mạnh mẽ. Bác còn tặng người phi công Mỹ này bản “Chương trình Việt Minh” đã được Người trực tiếp dịch ra tiếng Anh. Sau đó, Trung uý Shaw đã trở thành “cầu nối” để Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Tướng Claire Chennault (1893 – 1958), Tư lệnh Không đoàn 14, có biệt danh là đơn vị “Hổ Bay” của Mỹ, đại diện cho lực lượng Đồng minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Để có cuộc gặp “không hẹn trước” với viên Tướng Mỹ kể trên, Người đã phải đi giày cỏ, theo đường bộ, vượt hàng ngàn kilômét từ Pác Bó (Việt Nam) tới Côn Minh (Trung Quốc), trong sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng thù địch.

Khi tới Côn Minh, với cái cớ cần trao trả phe Đồng minh viên Trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, Bác Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ, để thăm dò và vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát – xít. Trong số đó có Trung uý Charles Fenn – một Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Côn Minh, làm nhiệm vụ tại cơ quan Hỗ trợ cho không quân tại mặt đất (AGAS).

Với tài ngoại giao của mình Người đã chinh phục hoàn toàn Charles Fenn. Ông rất cảm tình với Mặt trận Việt Minh, đã nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Bác Hồ đã đề nghị Charles Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp và hội đàm với Tướng Chennault, Tư lệnh đơn vị mang biệt hiệu “Hổ Bay” của Mỹ, đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam – Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của quân Đồng minh tại khu vực.

Tướng Chennault đã rất cảm động về sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh đối với Trung uý phi công Shaw. Có lẽ, ông đã nhận thấy trong lời nói của Hồ Chí Minh là quyết tâm của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, đứng về phe Đồng minh chống phát – xít: “Hiện nay, phong trào du kích của chúng tôi tuy đang lên rất cao nhưng vũ khí, thuốc men rất thiếu thốn. Chúng tôi muốn các ngài tạo điều kiện giúp đỡ để hai nước chúng ta có thể mau chóng đánh bại phát – xít Nhật…”.

Thái độ chân tình, thẳng thắn của Bác cũng đã chinh phục được Chennault. Viên Tướng Mỹ này đã hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Người và hứa sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Hai bên đã thoả thuận: Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích và mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho Không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở miền Bắc Đông Dương… Ngược lại, phía quân Đồng minh có trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp đỡ Việt Nam huấn luyện quân sự, đồng thời trang bị vũ khí, điện đài và các trang thiết bị khác.

Chennault kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Người tấm ảnh của mình với dòng chữ: “Bạn chân thành của tôi”. Sau đó, viên Tướng Mỹ này đã chỉ thị cho Trung uý Charles Fenn thuộc cơ quan Chiến lược tình báo Mỹ tại Trung Quốc thực hiện hợp tác với Mặt trận Việt Minh.

Khi Người về nước, đã có hai người Mỹ là Frank Tan và Mac Shin cùng sang giúp chúng ta về điện đài. Về sau còn có John, một báo vụ viên OSS và một số người khác nữa. Những người bạn Mỹ được Việt Minh đón tiếp chu đáo, tạo mọi điều kiện để làm việc. Họ đã giúp Việt Minh một số điện đài, vũ khí và hướng dẫn người của ta sử dụng.

Căn cứ của Mặt trận Việt Minh sau đó cũng được chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) sang Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi hơn cho sự phát triển lực lượng với các hoạt động lớn sau này.

Đến nhóm đặc nhiệm “Con Nai” và quan hệ Việt – Mỹ năm 1945.

Theo thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Mỹ Chennault, tháng 7 năm 1945, một đơn vị Tình báo đặc nhiệm mang bí danh “Con Nai” (The Deer Team) thuộc tổ chức OSS (The Office of Strategic Services tiền thân của CIA Mỹ) đại diện cho quân Đồng minh đã nhảy dù xuống Tân Trào để phối hợp với Việt Minh chống phát – xít Nhật.

Lũng Cò (nay thuộc thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) có một dải đất rộng khoảng 4 ha, nằm trong một thung lũng hẹp, bốn xung quanh được bao bọc bởi các ngọn núi và những quả đồi thấp cây cối um tùm, rậm rạp, rất phù hợp để xây dựng một sân bay dã chiến tiếp nhận máy bay chở hàng viện trợ của quân Đồng minh.

Giữa tháng 6 năm 1945, khoảng 200 người dân địa phương đã lao động với tinh thần cố gắng hết mình. Dự kiến công việc làm trong một tuần, nhưng với quyết tâm cao và nhiệt tình cách mạng, nên chỉ sau có hai ngày phát dọn, san gạt, đầm, một sân bay dã chiến đã hình thành. (Có lẽ, đó là một trong những “kỷ lục” xây dựng sân bay!).

Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét, đường băng trải dài theo hướng Nam – Bắc. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu, loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là “Sân bay quốc tế” đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam.

Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng minh, do phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa những người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.

phi cong my 2Đại đội Việt – Mỹ làm lễ xuất quân.

Tiếp đó, nhóm đặc nhiệm “Con Nai”, đã cùng các chiến sỹ Việt Minh thành lập “Đại đội Việt – Mỹ” khoảng 200 người, do đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu I, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) làm Chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm Cố vấn, nhằm chung mục tiêu chống phát – xít Nhật.

Chính đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau khi Quốc dân Đại hội và Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa. Họ đã cùng chúng ta hành quân qua Thái Nguyên, về tận Hà Nội. Cho dù sau đó những người lính Mỹ này đã được lệnh cấp trên “án binh bất động” (họ ngồi im xem Việt Minh và Nhật đánh nhau), thì đó vẫn là lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trước khi trở về nước, những thành viên của của nhóm “Con Nai” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm một sứ mệnh đặc biệt: Chuyển giúp thư của Người đến Chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam! Nhưng tiếc là thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung quan tâm đến châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á. Và lịch sử đã đi theo hướng khác: Hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm…

Nửa thế kỷ sau, vào ngày 12/10/1995, tại Hà Nội, có cuộc gặp với những người bạn Mỹ, Charles Fenn có mặt. Sau 50 năm, Charles Fenn đã ở tuổi gần 80 nhưng những ấn tượng sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên vẹn trong ông: “Chúng tôi gặp một người có vóc dáng mảnh khảnh, đi dép tại quán cà phê Đông Dương. Người này có đôi mắt sáng ngời, có sức hấp dẫn đặc biệt. Đó chính là Hồ Chí Minh. Tướng Chennault cảm ơn về việc Việt Minh cứu viên phi công Mỹ rồi hỏi: “Chúng tôi có giúp gì được các ông không?”. Hồ Chí Minh nói: “Tôi muốn có tấm hình của ông làm kỷ niệm. “Rồi hai người ngồi uống nước rất thân mật với nhau. Tôi nhớ lúc đó, Cụ Hồ đã nói với các cán bộ đi theo rằng: “Người Mỹ là bạn của chúng ta, như Tướng Chennault là bạn của tôi đây này”. Những ngày tháng bên cạnh Hồ Chí Minh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh”

Đặng Vương Hưng
Theo cand.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về những tấm ảnh Bác Hồ đang được trân trọng lưu giữ ở Tokyo

Một chiều tháng 5, tôi đến thăm Toà soạn Báo và Hãng phim Tư liệu NIHON-DENPA-NEWS tại khu Azabuyuban, Thủ đô Tokyo.

Trong căn phòng nhỏ trên tầng ba, chung quanh là những tấm ảnh Hồ Chủ tịch và nhiều kỷ vật trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi được nghe câu chuyện về nguồn gốc những bức ảnh chụp vị Chủ tịch vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Giám đốc Tòa soạn Misao-Ischizaki hiện nay, người đã gắn bó với Việt Nam trong suốt hơn 30 năm (một trong những nhà quay phim đã quay Lễ Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản quyền duy nhất của Tòa soạn NIHON-DENPA-NEWS, đã được trình chiếu tại Việt Nam nhân kỷ niệm 63 năm Quốc khánh Việt Nam và 39 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh) kể lại: “Tôi tới Việt Nam lần đầu tiên vào những ngày cuối tháng 8, khi đó, nghe tin Chủ tịch Hồ Chí Minh ốm rất nặng, cả Đoàn chúng tôi lặng người đi. Ngày 9/9/1969, tại Quảng trường Ba Đình, chúng tôi có mặt trong Lễ Quốc tang của Người, chứng kiến cả dân tộc Việt Nam khóc tiễn đưa vị lãnh tụ của mình. Tại Nhật Bản chưa từng có thời khắc lịch sử nào như vậy…Tôi nhìn thấy giọt nước mắt lăn trên má Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh. Tôi nghe cả tiếng khóc than rất lớn của những người dân đứng cạnh. Trái tim tôi bật khóc, mặc dù tôi chưa được gặp người bao giờ và lắng sâu ý nghĩa hai từ mà người Việt Nam gọi vị lãnh tụ của mình là Bác Hồ…”

bh o TOKYO2
Hồ Chủ tịch tiếp Đoàn nhà báo, làm phim
của NIHON-DENPA- NEWS năm 1966 tại Phủ Chủ tịch.

Lật lại cuốn album của Tòa soạn NIHON-DENPA-NEWS, tôi cùng ông Ishizaki quay về quá khứ cách đây 50 năm. Lúc đó Tòa soạn này mới thành lập được hai năm, Đoàn nhà báo do cố Tổng biên tập Yasuo-Yanagisawa, người sáng lập Tòa soạn, có mặt tại Thủ đô Hà Nội vào ngày 28/6/1962 và được vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay lập tức, nhà nhiếp ảnh Okozima (thành viên trong đoàn) đã chớp được hình ảnh quí báu Đoàn nhà báo của Tòa soạn ngồi bên Người tại chân cầu thang Phủ Chủ tịch, tấm ảnh đầu tiên về Chủ tịch Hồ Chí Minh của NIHON-DENPA-NEWS.

bh o TOKYO
Hồ Chủ tịch tại cuộc mít tinh chào mừng ngày quốc tế lao động 1/5/1965.

Kể từ đó, NIHON-DENPA- NEWS càng gắn bó với Bác Hồ và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Bức ảnh thứ hai chụp Bác Hồ của nhà nhiếp ảnh nổi tiếng Nhật Bản Suzuki tại cuộc mít tinh chào mừng Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1965. Bức ảnh lột tả sinh động chân dung một vị lãnh tụ vĩ đại gần dân. Sau lễ mít tinh, Bác Hồ đã Chỉ huy dàn nhạc tấu bài ca Kết đoàn.

bh o TOKYO3
Bác Hồ với thiêú nhi 1969 (ảnh lấy từ tư liệu phim)

bh o TOKYO4
Phóng viên tòa soạn Takesi-Yanasisawa phỏng vấn
phi công Mỹ bị bắt tại Phố Huế, Thủ đô Hà Nội, tháng 9 năm 1967 .

 

bh o TOKYO5
Hai nam nữ dân quân Việt Nam chia xẻ niềm vui chiến thắng.

Một năm sau (1966), Đoàn nhà báo, nhiếp ảnh gia, quay phim của NIHON-DENPA-NEWS một lần nữa lại có cơ hội tiếp kiến Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe từng người, căn dặn các thành viên trong Đoàn nên lưu ý chớp những thước phim miêu tả về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. Người nhấn mạnh, lịch sử không quay lại mà chỉ những thước phim mới giúp chúng ta nhìn nhận đúng về giá trị của lịch sử…Chi tiết xúc động nhất đối với các thành viên trong Đoàn là cử chỉ rất đời thường nhưng chan chứa tình thương cao cả của một bậc lãnh tụ Bác Hồ chọn những bông hoa đẹp nhất, tặng cho nhà nhiếp ảnh Suzuki và các phóng viên trong đoàn với lời khen “Các chú chụp đẹp lắm”

bh o TOKYO6
Trưởng đoàn Xuân Thủy và cố Tổng Thư ký
Tòa soạn NIHON- DENPA-NEWS tại Hội nghị Pari 1972.

bh o TOKYO7
Giám đốc Isizaki với chiếc máy quay phim và kỷ vật thời chiến tranh ở Việt Nam.

Nghe theo lời căn dặn của Bác, NIHON-DENPA-NEWS đã thiết lập chi nhánh tại Hà Nội trong suốt những năm tháng chiến tranh cho đến ngày đất nước Việt Nam thống nhất…Tòa soạn đã cho ra đời hơn 2000 bộ phim tài liệu, phóng sự, tin tức và hàng trăm bức ảnh về Việt Nam. Căn phòng cuối Tòa soạn trở thành một góc bảo tàng nhỏ trưng bày ảnh Hồ Chủ tịch và các tư liệu quí về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Từ những bức ảnh chụp với ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri năm 1972 cho tới những bức ảnh chụp phóng viên Tòa báo phỏng vấn phi công Mỹ trên phố Huế bị dân quân Hà Nội bắt sau khi máy bay bị bắn rơi tháng 9 năm 1967. Rồi cả bức ảnh hai nam nữ dân quân ngoại thành Hà Nội uống chung bi đông nước, chia sẻ niềm vui chiến thắng….

bh o TOKYO8
Ông Ishizaki kể về cuộc gặp đầu tiên giữa
Hồ Chủ tịch và Ban Lãnh đạo NIHON-DENPA-NEWS.

Bức ảnh cuối cùng của Tòa soạn và Hãng phim tài liệu NIHON-DENPA-NEWS chụp Bác Hồ với thiếu nhi năm 1969 hiện vẫn còn phim lưu giữ. Lúc đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đang bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, các thành viên trong Tòa soạn và hãng phim không biết đó là lần cuối cùng được gặp Người. Ông Ishizaki xúc động bày tỏ: “Tôi nghe câu chuyện từ các bậc đàn anh trong Tòa soạn, trong những tháng năm kháng chiến gian khổ, Bác Hồ là hiện thân về tài năng lãnh đạo xuất chúng, một tư tưởng vĩ đại. Người thật giản dị nhưng cũng thật thanh cao. Dành cả cuộc đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng tôi thường nói với nhau, cuộc sống của một vị lãnh tụ mà không một chút xa hoa, được mọi người dân yêu quí. Hình ảnh của Người, tư tưởng của Người sẽ sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân Nhật Bản và bạn bè thế giới…”

Bh o Tokyo9
Ông Isizaki tự hào về bức ảnh chụp Hồ Chủ Tịch tại cuộc mít tinh 1/5/1965.

Giờ đây, gần như tất cả những nhân vật được gặp Bác Hồ của NIHON-DENPA-NEWS đã qua đời, song những kỷ vật quí giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hóa thế giới vẫn đang được trân trọng lưu giữ như những báu vật giữa lòng Thủ đô Tokyo.

Theo Nguyễn Thu Hà /Tinmoi.vn
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Tượng đài Bác Hồ giữa lòng Thủ đô Argentina

Ngày 30 tháng 8 năm 2012, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể ở Thủ đô Buenos Aires trong sự khâm phục của nước bạn đối với nhân dân Việt Nam và đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

1
Bộ trưởng Môi trường và không gian công cộng
thành phố Buenos Aires, Diego Santilli phát biểu tại buổi lễ

Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Môi trường và không gian công cộng thành phố Buenos Aires, Diego Santilli, bày tỏ sự khâm phục của nhân dân thế giới đối với nhân dân Việt Nam và đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời nhấn mạnh công trình tượng đài là một biểu tượng của tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

2
Đại sứ nước ta tại Argentina Nguyễn Văn Đào

Về phần mình, Đại sứ nước ta tại Argentina Nguyễn Văn Đào nêu bật cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Thực hiện Di chúc của Người, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, phấn đấu đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

3
Bộ trưởng Santilli và Đại sứ Nguyễn Văn Đào
đã cùng kéo tấm vải phủ tượng Bác

Bộ trưởng Santilli và Đại sứ Nguyễn Văn Đào đã cùng kéo tấm vải phủ tượng Bác, chính thức khai trương công trình có nhiều ý nghĩa đối với quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

4
Ông Miguel Carlos Contreras, con của ông Miguel Contreras,
một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Argentina

Tham dự buổi lễ có ông Miguel Carlos Contreras, con của ông Miguel Contreras, một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Argentina và từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hai lãnh tụ tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 tại Mátxcơva (Liên Xô) năm 1924.

5
Các đại biểu tham dự lễ khánh thành chụp ảnh
lưu niệm tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông Miguel bày tỏ niềm tự hào vì có người cha từng có dịp tiếp xúc, trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh việc khánh thành tượng đài vinh danh Người là một sự kiện chính trị rất quan trọng, vì có nghĩa là Argentina cùng với các nước Nam Mỹ khác đang làm theo tấm gương mà Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại để cùng nhau đấu tranh vì công lý xã hội, xóa đói nghèo và làm cho thế giới tốt đẹp hơn.

6
Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tại công viên mang tên
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc địa phận quận 12, Thủ đô Buenos Aires

Tượng đài đặt tại công viên mang tên Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc địa phận quận 12. Trung tâm của tượng đài là bức tượng bán thân bằng đồng dựa theo mẫu của nhà điêu khắc Trần Văn Lắm. Đây là món quà đầy ý nghĩa của Chính phủ nước ta tặng Thủ đô Buenos Aires và cũng là bức tượng Bác đầu tiên đặt tại khu vực Nam Mỹ.

Nhân dịp này, báo chí Argentina đã có bài viết hoặc phỏng vấn Đại sứ Nguyễn Văn Đào. Đại sứ quán nước ta cũng nhận được nhiều bức điện của các tổ chức Đảng, tổ chức xã hội và cá nhân chúc mừng sự kiện khánh thành tượng đài Bác, trong đó nêu bật Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là tấm gương đạo đức cách mạng cao đẹp, luôn đấu tranh vì một thế giới không có người bóc lột người.

Sự kiện khai trương tượng đài Bác là một trong những hoạt động được tổ chức tại Buenos Aires chào mừng 67 năm Quốc khánh 2/9. Trước đó, ngày 29 tháng 8, Trung tâm Việt Nam – Argentina đã ra mắt tại Thủ đô Buenos Aires nhằm quảng bá văn hóa Việt Nam tại quốc gia Nam Mỹ này, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.

7
Đại diện ngoại giao của hai nước tham dự buổi lễ khánh thành

Đại diện Bộ ngoại giao, Bộ Văn hóa, chính quyền và nghị viện thành phố, Viện Văn hóa Argentina – Việt Nam (ICAV), Đoàn ngoại giao, cùng đông đảo bạn bè của Việt Nam đã tham dự buổi lễ khánh thành.

Theo Dantri.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được trân trọng ở Thái Lan

Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng.

HCM luon duoc tran trong o thai lanCác thanh thiếu nhi là con em Việt kiều múa hát trong dịp kỷ niệm
Ngày sinh của Bác tại Làng hữu nghị. (Ảnh: Ngọc Tiến/Vietnam+)

Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp để làm tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

            Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu, bốn biển, trong đó có Thái Lan. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm đối với đất nước, con người xứ sở này.

Làng hữu nghị Thái – Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian năm 1928 – 1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11 năm 1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ Bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các Bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), Bản Đông thuộc tỉnh Phichít, Bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

            Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp Lễ kỷ niệm lần thứ 121 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái – Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành Khu Di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các Huân chương, Huy chương và Bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng ở đây. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp.”

“Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các Khu Di tích lưu niệm về Bác Hồ ở Bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những Khu Di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới” – Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các Khu Di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19 tháng 5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm Ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân./.

Theo dangcongsan.vn
Kim Yến (st)

“Chúng tôi đã rơi nước mắt khi nghe kể về Bác”

“Ngày ngày Mặt trời đi qua trên Lăng. Thấy một Mặt trời trong Lăng rất đỏ…”, có lẽ nhà thơ Viễn Phương cũng không thể nghĩ rằng những câu thơ đầy cảm xúc ông viết trong một chuyến ra Bắc thăm Lăng Bác lại được một người dân Lào khe khẽ ngâm trong một sáng mùa hè giữa Thủ đô Hà Nội…

Doan dai bieu Lao 1Đoàn đại biểu Lào vào Lăng viếng Bác. Ảnh: Tuấn Việt

Trong khuôn khổ Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt Nam – Lào, sáng ngày 17/7, Đoàn đại biểu Lào tham dự Liên hoan đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm nơi ở và nơi làm việc của Người. Nắng sớm Hà Nội không gắt, khẽ khàng phủ từng tia sáng lên đoàn người đang bước chầm chậm vào Lăng. Sau nghi thức đặt vòng hoa và viếng Bác, những đại biểu đến từ đất nước Triệu Voi đã tới Khu Di tích Nhà sàn, nơi Bác từng sống và làm việc. Tại đây, những người con xứ Lào đã không kìm được xúc động khi tận mắt chứng kiến sự đơn sơ, giản dị trong nếp sống mà sinh thời vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam vẫn duy trì.

Đầu giờ sáng, sương ở những bụi cây xung quanh Khu Di tích vẫn chưa tan hết, không gian chợt thanh thoát một cách kỳ lạ. Đoàn người đứng quanh chiếc bàn Bác Hồ từng làm việc, nghe hướng dẫn viên kể những câu chuyện về Bác. Dường như, trong một khoảnh khắc nào đó, thời gian như dừng lại nơi đây. Một vài mế Lào lén chấm nước mắt; một vài mế khác để mặc sự xúc động cứ thế tuôn trào.

Mế Chanhthep Bounthilath đến từ thành phố Viêng Chăn, một trong những người đã từng che chở và giúp đỡ chuyên gia, quân tình nguyên Việt Nam đã vô cùng xúc động khi nghe kể về cuốn sách nhỏ nằm trên bàn làm việc của Bác. Giữa những chồng sách được sắp xếp một cách cẩn thận, cuốn sách nhỏ nằm khiêm tốn trên bàn. Nhưng đó lại là một trong những cuốn sách mà Bác Hồ quý nhất và luôn mang theo bên người. Cuốn sách là những ghi chép về gương người tốt, việc tốt mà lúc sinh thời Bác vẫn thường đọc và kể cho mọi người nghe. Nghẹn ngào, mế Chanhthep kể rằng, khi còn trẻ, mế đã được nghe rất nhiều câu chuyện về Bác Hồ, có những câu chuyện về sự vĩ đại, cũng có câu chuyện rất đời thường, nhưng chưa bao giờ mế được gặp Bác. Đó là một tâm nguyện mà mế nghĩ mình mãi không bao giờ đạt được. Lúc này đây, được tới thăm Lăng Bác, tận mắt thấy nếp sống và những kỷ vật giản dị của Người, hiểu được thế nào là tinh thần Hồ Chí Minh, mế nói mình đã thỏa được tâm nguyện.

Doan dai bieu Lao 2JPGNghe hướng dẫn viên kể những câu chuyện về Bác ở Khu Di tích Nhà sàn. Ảnh: Tuấn Việt

Trong số những đại biểu Lào ở đây, không phải ai cũng như mế Chanhthep lần đầu thăm Lăng Bác. Có người đã thăm vài lần, cũng có người không nhớ nổi số lần vào Lăng viếng Bác, nhưng họ đều gặp nhau ở một khoảng không gian riêng, nơi đó có sự xúc động, nghẹn ngào cùng niềm cảm phục khôn nguôi. Ông Bounxu Nammachak, Giám đốc Sở Công an thành phố Viêng Chăn, Chủ tịch Hội Hữu nghị Lào – Việt thành phố Viêng Chăn đã có nhiều năm tháng gắn bó với Việt Nam. Học trung học, đại học, thạc sĩ rồi làm tiến sĩ ở Việt Nam, ông Nammachak nói rằng, quãng thời gian đẹp nhất thời hoa niên của ông gắn liền với đất nước anh em bạn bè này. Trong những năm về sau này, ngoài các chuyến công tác đến Việt Nam, năm nào ông Nammachak cũng dành thời gian trở lại Việt Nam.

Trong âm thanh trầm trầm của hướng dẫn viên, ông Nammachak khẽ khàng chia sẻ những cảm nghĩ về lãnh tụ của nhân dân Việt Nam: “Đồng chi Cay-xỏn Phôm-vi-hản của chúng tôi đã từng nói: Bác Hồ là người vĩ đại trong vĩ đại, giản dị trong giản di, khiêm tốn trong khiếm tốn. Đó là đức tính mà không phải lãnh tụ nào cũng có được. Nói về Bác Hồ, ai cũng cảm phục. Thời học sinh chúng tôi, mỗi khi nghe những câu chuyện về Bác Hồ, về quá trình Bác tìm đường cứu nước Việt Nam, hầu như ai cũng rơi nước mắt, thương và cảm phục Bác. Lúc nãy chúng tôi cũng vậy, khi nghe hướng dẫn viên kể về những năm tháng Bác sống và làm việc ở Khu Di tích Nhà sàn này, nhiều người trong đoàn đã rơi nước mắt”, ông Nammachak xúc động nói. Chủ tịch Hội Hữu nghị Lào – Việt thành phố Viêng Chăn nói rằng, ông và những đồng chí trong đoàn đều tâm niệm rằng phải phấn đấu học theo đức tính giản dị và hy sinh của Bác, noi gương Bác. “Không chỉ là tâm niệm cho cá nhân chúng tôi, mà khi về nước, chúng tôi sẽ phát động những phong trào và khuyến khích thanh niên trẻ Lào học tập theo tấm gương Bác”, ông Nammachak cho hay.

Doan dai bieu Lao 3Cho cá ăn ở Ao cá Bác Hồ. Ảnh: Tuấn Việt

Ông Kongkeo Xaysongkham, Chủ tịch Hội Hữu nghị Lào – Việt tỉnh Bô-ly-khăm-xay không thể nhớ nổi mình đã vào thăm Lăng Bác bao nhiêu lần. Không phải bởi ông vô tâm, mà bởi vì một năm ông đến Việt Nam không dưới ba lần và hầu như lần nào ông cũng dẫn con đến thăm Lăng Bác. Từng học tại Việt Nam, mối duyên của ông Xaysongkham với đất nước Việt Nam trở nên sâu đậm hơn khi ông cưới một cô gái Việt Nam. Xaysongkham nói ông nghĩ mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào là mối quan hệ hiếm có. “Vì sao? Hiếm có một dân tộc nào lại động viên và tiễn con mình, em mình đi chiến đấu và hy sinh vì xương máu cho một đất nước khác. Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã từng nói: Ở nơi nào có một giọt máu của người dân Lào đổ xuống, nơi đó cũng có một giọt máu của quân tình nguyện Việt Nam. Chỉ câu nói đó thôi đã đủ thay cho ngàn vạn lời hoa mỹ”, ông Xaysongkham bồi hồi nhớ lại.

Thời gian không có nhiều, dù rất lưu luyến, nhưng các bạn Lào vẫn phải kết thúc chuyến thăm Lăng Bác để tham gia nhiều chương trình khác của Liên hoan. Có một điều thú vị là khi đang trên đường sang Khu Di tích Nhà sàn thì Đoàn đại biểu Lào gặp các cháu thiếu nhi Việt Nam cùng các du khách nước ngoài cũng vào Lăng viếng Bác. Một cách tình cờ, họ đã nhập thành một đoàn. Và, chỉ trong một đoạn hành trình ngắn ngủi, một đại biểu Lào (biết tiếng Việt) đã kịp trao đổi với một bé gái Việt Nam về câu chuyện Bác Hồ chia kẹo cho các cháu thiếu nhi và tình thương của Bác với các cháu.

Theo Thu Trang/Báo Quân đội nhân dân
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Tiếp tục củng cố mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga trong thực hiện các nhiệm vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân giữ gìn thi hài Bác cho muôn đời con cháu về sau, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương và xây dựng công trình Lăng làm nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người và phục vụ nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhìn lại chặng đường 40 năm kể từ khi trái tim Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam ngừng đập, nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài của Người đã trở thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt. Để có được sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt đó, tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đội ngũ các chuyên gia Liên bang Nga đã làm việc hết mình, khắc phục khó khăn, chủ động nắm bắt các quy trình và kỹ thuật trong lĩnh vực y tế, vận hành an toàn các thiết bị công trình, bảo đảm tốt thông số kỹ thuật, đáp ứng nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TT Cuong tai Nga.y teJPG
Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương trực tiếp làm việc
với các chuyên gia tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va

Trong chương trình công tác năm 2012 và thực hiện các kế hoạch hợp tác khoa học và kỹ thuật giai đoạn 2011 – 2015, từ ngày 09/6/2012 đến ngày 23/6/2012, Đoàn cán bộ Ban Quản lý Lăng do Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng dẫn đầu đã sang làm việc trực tiếp với Viện Khoa học quốc gia Nghiên cứu dược liệu và tinh dầu Liên bang Nga (GNUVILAR), Viện Nghiên cứu khoa học Cao su, các công ty của Liên bang Nga và Ucraina. Cùng đi với Đoàn có các đồng chí trực tiếp phụ trách về công tác y tế và khoa học kỹ thuật. Đây là dịp củng cố mối quan hệ hợp tác truyền thống giữa Ban Quản lý Lăng và các nhà khoa học Liên bang Nga, Ucraina, trực tiếp là vấn đề y tế, kỹ thuật, trang trí tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và một số nội dung trong thực hiện Đề án “Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới” đã được Chính phủ phê duyệt. Chương trình làm việc của Đoàn tập trung vào việc thực hiện nhiệm vụ y tế năm 2012, một số nội dung hợp tác tiếp theo của Dự án VN01, công tác kỹ thuật phục vụ cải tạo, nâng cấp Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

TT Cuong tai Nga. Cao su
Đoàn đã trao đổi về dây chuyền công nghệ với cán bộ của
Viện Nghiên cứu khoa học Cao su Liên bang Nga

Về nhiệm vụ y tế: Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng đã làm việc với Viện Khoa học quốc gia Nghiên cứu dược liệu và tinh dầu Liên bang Nga (GNU VILAR). Qua trao đổi, hai bên đều nhất trí đánh giá kết quả công tác y tế thường xuyên về giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài từ năm 2010-2011 do các chuyên gia Việt Nam tiến hành đúng với các yêu cầu quy định về y tế – kỹ thuật được GNU VILAR xây dựng. Đồng thời, hai bên cũng xem xét kết quả thực hiện nhiệm vụ tăng cường hợp tác khoa học và y tế nhằm bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện các kiến nghị của Hội đồng Khoa học cấp Nhà nước và các nội dung hợp tác nghiên cứu khoa học ưu tiên đến năm 2015.

Đoàn đã trực tiếp làm việc với Viện Nghiên cứu khoa học Cao su Liên bang Nga bàn về các nội dung thực hiện Dự án VN01. Sau khi thăm trực tiếp các cơ sở sản xuất, đồng thời trao đổi, thảo luận về nhiệm vụ thiết kế cho dây chuyền công nghệ do phía thiết kế đề xuất, hai bên đã đạt được thỏa thuận sớm tiến hành công tác chuẩn bị cho việc ký kết chính thức. Nhận thấy khả năng, kinh nghiệm sản xuất của đối tác, lãnh đạo Ban Quản lý Lăng đã thống nhất với các bên liên quan các phương án thiết kế, cùng nỗ lực, nhanh chóng thúc đẩy việc ký kết, triển khai thực hiện.

Liên quan đến các nội dung cải tạo, nâng cấp Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, lãnh đạo Ban Quản lý Lăng đã có buổi làm việc với các đối tác tại Liên bang Nga và Ucraina. Trực tiếp khảo sát thực tế, làm rõ khả năng về kỹ thuật, công nghệ và năng lực kinh nghiệm cũng như nguyện vọng hợp tác trong thực hiện thay thế các tấm đồng họa tiết trang trí tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, lựa chọn một số loại đá granite có tính chất cơ – lý, màu sắc phù hợp và có giải pháp gia công bề mặt để thay thế đá ốp, lát.

TT Cuong tai Nga.duc dongJPG
Đoàn thăm và làm việc với
các đối tác Liên bang Nga về công nghệ đúc đồng

Năm 2012, kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ trực tiếp giữa Ban Quản lý Lăng và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va (thuộc GNU VILAR) , Ban Quản lý Lăng đã có chủ trương tổ chức Hội nghị tổng kết và phối hợp với Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh làm phim tài liệu nhân dịp kỷ niệm đặc biệt này.

Từ năm 1992 đến nay, hàng năm, các chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va tiếp tục sang Việt Nam giảng dạy và hợp tác nghiên cứu khoa học, cùng với các chuyên gia y tế Việt Nam làm thuốc lớn định kỳ thi hài Bác. Phía Việt Nam cũng cử cán bộ sang Liên bang Nga học tập và nghiên cứu khoa học để phục vụ cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, từ năm 2004 đến nay, cán bộ y tế Việt Nam cùng chuyên gia y tế Liên bang Nga đã tiến hành pha chế dung dịch đặc biệt tại Việt Nam.

Qua hơn 40 giữ gìn thi hài của Người và 20 năm chính thức thiết lập quan hệ trực tiếp, Ban Quản lý Lăng và Trung tâm nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va mà trực tiếp là các chuyên gia làm việc tại Việt Nam đã không ngừng củng cố tinh thần hữu nghị, đoàn kết hợp tác cùng vì nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ này thành công như ngày hôm nay, đó chính là kết quả của sự hợp tác hữu nghị giữa hai phía Việt Nam – Liên bang Nga nói chung, giữa Ban Quản lý Lăng và Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Mát-xcơ-va nói riêng. Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên bang Nga dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cũng như những đóng góp của các nhà khoa học tham gia nhiệm vụ giữ gìn thi hài. Sự giúp đỡ đó là nền tảng, cơ sở vững chắc cho nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đi cùng với sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, Công trình Lăng ngày càng được tôn tạo, sửa chữa khang trang sạch đẹp, đón tiếp và phục vụ tận tình, chu đáo đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu nặng, biết ơn và nguyện đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Hàng năm, Ban Quản lý Lăng và các cơ quan có liên quan của Liên bang Nga luôn duy trì quan hệ hợp tác nhiều mặt, tập trung nghiên cứu khoa học, kỹ thuật đưa ra các giải pháp mới phục vụ nhiệm vụ giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôn tạo Công trình Lăng của Người và các công trình kiến trúc liên quan, góp phần phát huy ý nghĩa chính trị, lịch sử, văn hoá của Công trình Lăng – nơi hội tụ niềm tin, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng như tình hữu nghị anh em hai nước Việt Nam – Liên bang Nga./.

Tâm Trang
bqllang.gov.vn

“Các bạn Việt Nam đã may mắn có được một lãnh tụ là Hồ Chí Minh”

Hơn 40 năm Bác đã đi xa, nhưng trong lòng chúng ta không lúc nào vắng Bác. Người đã để lại cho chúng ta một di sản văn hoá to lớn, đó là tư tưởng vĩ đại và tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời!

Nha bao HCMChủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội

Trong bài “Đạo đức và nhân cách đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh”,Giáo sư Trần Văn Giàu đã nhắc lại ý kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng, “Trung với nước, hiếu với dân thuộc về đạo… Còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là thuộc về đức”. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành, hoa quả. Như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.

Trải qua lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, là một nước nhỏ luôn phải đối đầu với những kẻ thù lớn hơn mình gấp bội, muốn tồn tại chúng ta không thể chỉ dựa vào số người, mà phải dựa vào những con người chiến đấu, những con người dũng cảm, hy sinh, trung với nước, hiếu với dân.

Từ cái gốc “Trung với nước, hiếu với dân” mà chúng ta sẽ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, sẽ có lòng nhân ái, yêu thương con người, sống có tình có nghĩa và không chỉ yêu mến nhân dân mình mà còn có lòng yêu thương nhân loại, có tình quốc tế trong sáng.

Bác Hồ thường nói: Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức cách mạng của con người. Có lúc Bác lại nói đó là bốn thang thuốc cách mạng, để chữa những căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu. Bác nói và Bác đã làm. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như cuộc đời của Bác vốn thế, chứ không phải chỉ là để làm gương mà thôi.

Nhà thơ Đa-giô (In-đô-nê-xia) khi nói về Bác Hồ của chúng ta, đã viết:

“Người không màng danh dự ghế suy tôn
Ngồi vào đấy, với Người không có nghĩa
Khi đức độ đã ngời như ngọc quý
Thì có nghĩa gì, chiếc ghế phủ nhung êm…”

Yêu nước, yêu dân, cống hiến cả đời mình cho hạnh phúc của nhân dân, cho độc lập của Tổ quốc, đó là cái gốc đạo đức Hồ Chí Minh.

Ngược lại với đạo đức cách mạng là chủ nghĩa cá nhân, và Bác nói: “Chủ nghĩa cá nhân, đó là mẹ đẻ ra tất cả mọi thói hư tật xấu, là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Nạn tham ô, lãng phí, quan liêu, sự tha hoá về phẩm chất, lối sống chính là từ chủ nghĩa cá nhân mà ra.

Với sự nhạy cảm chính trị của một nhà lãnh đạo, với trách nhiệm to lớn của một lãnh tụ sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong những ngày lễ lớn của đất nước, Bác thường phát biểu hoặc viết những bài báo, nhằm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân. Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1950, cách đây hơn 60 năm, trên Báo Sự Thật số 140, Bác đã viết bài: “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”. Ngày thành lập Đảng mồng 3 tháng 2 năm 1969, Bác lại viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Micheal Houdey, đạo diễn điện ảnh người Anh đã ba lần sang làm phim ở Việt Nam cảm nhận: Điều lạ nhất đối với tôi là ở Việt Nam, dù đó là Hà Nội hay ở Kim Liên, Bến Cảng Sài Gòn… tôi đều thấy không mấy ai gọi ông Hồ là Chủ tịch, mà đều gọi Người là Bác một cách tự nhiên và yêu quý như một người thân thiết trong gia đình mình vậy. Một lần, tôi hỏi một cháu bé về bông hoa nhỏ cài trên ngực áo, cháu phấn khởi trả lời: “Cháu vừa được phần thưởng cháu ngoan Bác Hồ”. Điều đó làm tôi rất xúc động. Một điều nữa đã gây ấn tượng lớn cho tôi, là mặc dù 24 năm liền được trao chức quyền cao nhất, nhưng nếu không phải là duy nhất thì Hồ Chí Minh cũng là một trong số rất hiếm những nguyên thủ quốc gia trên thế giới, chưa từng bị lôi cuốn vào sức mạnh của quyền lực. Đây là một vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân văn lớn lắm. Vì thế, tôi không thể không làm một bộ phim về Người, để giới thiệu rộng rãi với nhân dân Anh.

Khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: Nước lấy dân làm gốc. Quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân, và Người làm Chủ tịch là làm người đầy tớ trung thành của nhân dân, nhà đạo diễn Anh nói: “Trong lịch sử Đông – Tây, thời nào quyền lực cũng là chiếc gươm thiêng của những người cầm quyền. Chiếc gươm ấy được trao vào tay những người yêu nước, thương nòi sẽ mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Còn nếu nó được trao vào tay những bạo chúa thì đó là một thảm hoạ cho con người…”. Và nhà đạo diễn người Anh ấy nói: “Các bạn Việt Nam đã may mắn có được một lãnh tụ là Hồ Chí Minh!”.

Không phải chỉ có chúng ta, con cháu của Người học tập đạo đức Hồ Chí Minh, mà có những nhà lãnh đạo của các nước khác cũng công khai nói họ muốn học ông Hồ. Nghị sĩ Agienđê, sau này là Tổng thống Chi-lê, khi một nhà báo phỏng vấn: Những phẩm chất nào mà ngài muốn có, và nhà hoạt động chính trị nào mà ngài cho là một tấm gương để noi theo? Ông đã thẳng thắn trả lời: Đó là tính trọn vẹn, lòng nhân đạo và sự khiêm tốn, giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Còn nhà sử học Pháp, Saclơ Phuốc-ni-ô đã viết: “Người mặc bộ quần áo nâu như tất cả mọi nông dân Việt Nam, đầu đội mũ vải và tay chống cây gậy nhỏ. Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi thẳng vào vấn đề, không chút nghi thức. Giờ phút được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm ấy, là một trong những giờ phút đáng ghi nhớ trong đời tôi… Người không tìm cách dạy tôi một bài học về đạo đức hay chính trị, nhưng càng nghe tôi càng thấy Người vừa nói về một vấn đề lớn của đất nước, vừa dạy cho tôi một bài học về luân lý chính trị”.

Đã bao lần đọc những phát biểu, những cảm nhận, những bài viết của các bè bạn nước ngoài về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta không những cảm động về tình cảm kính trọng, yêu quý của bạn bè đối với Việt Nam, với Bác Hồ, mà còn qua đó, ta nhận ra một cách sâu sắc sự vĩ đại của Người, mà nhiều khi đứng gần chân núi ta không nhìn thấy những đỉnh cao.

Ngay những đồng chí đã có hạnh phúc ở gần Bác nhiều năm cũng nói, còn nhiều điều chúng ta chưa thật hiểu hết về Người. Và như một nhà nghiên cứu đã nói, có hiểu được Bác thì ta mới thật sự hiểu được dân tộc mình.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong những năm qua làm tất cả chúng ta suy nghĩ sâu sắc hơn về những giá trị văn hoá Hồ Chí Minh, về tư tưởng và đạo đức của Người.

Học Bác là chúng ta làm theo một tấm gương suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị. Học tập đạo đức của Bác cũng chính là chúng ta thực hiện Nghị quyết Trung ương IV về xây dựng Đảng, làm cho Đảng thực sự là đạo đức và văn minh, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân.

Song tư tưởng và đạo đức là những công việc cần phải rèn luyện thường xuyên và suốt đời, để góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, nó phải trở thành ý thức tự giác của mọi người, làm cho mỗi người Việt Nam trở thành một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta trở thành một rừng hoa đẹp, như lòng mong muốn của Bác kính yêu!

Theo Bùi Công Bính/Báo Nam Định online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Gặp nhà báo nước ngoài cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ

Tôi gặp Marta Rojas, nữ nhà báo Cuba nổi tiếng tại khuôn viên của Đại sứ quán Việt Nam tại La Habana trong một buổi chiêu đãi. Đại sứ Phạm Tiến Tư giới thiệu: “Đây là một nhà báo từng sát cánh cùng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong suốt 10 năm chiến tranh, từng gặp và phỏng vấn Bác Hồ”.

bac ho - dai bieu my la tinhBác Hồ gặp gỡ các đại biểu Châu Mỹ Latine. Ảnh : tư liệu

Hiện bà là Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập báo Gramma của Đảng Cộng sản Cuba. Đại sứ Tư tiết lộ, vào dịp mùng 2 tháng 9 này, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập nước, chị Marta được Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị mời sang Việt Nam dự cuộc gặp mặt “Những người bạn quốc tế của Việt Nam”.

Hôm sau, chúng tôi đã được gặp lại bà tại trụ sở của Hội Hữu nghị Cuba với các nước. Việt Nam là một phần cuộc đời của Marta Rojas, người nữ phóng viên chiến trường từng viết và gửi về Cuba trên 300 bài báo về cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1965-1975.

Nhờ những bài báo bằng tiếng Tây Ban Nha của Marta, không riêng gì hơn chục triệu người Cuba mà các lực lượng tiến bộ khắp châu Mỹ Latine đã thấu hiểu, cảm phục, và đấu tranh, ủng hộ dân tộc Việt Nam kiên cường quả cảm.

Bà xúc động nói: “Việt Nam luôn ở trong trái tim tôi. Điều làm tôi xúc động nhất, ngoài việc được sống và viết về các chiến sỹ quân giải phóng trong rừng, chính là lần trực tiếp được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong một cuộc phỏng vấn chỉ 2 tháng trước khi Người qua đời…”.

Năm 1959, khi Fidel tấn công trại lính Moncada, Marta vừa tốt nghiệp ĐH Báo chí. Cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Batista thành công, Marta vào làm phóng viên tại tòa soạn báo cách mạng của Đảng Cộng sản Cuba.

Năm 1964, giữa lúc cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đang cam go quyết liệt, Marta đã chủ động tìm tới đại diện của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTGPMN) tại La Habana để xin tới Việt Nam viết báo.

Mấy ngày sau, đích thân Fidel gọi Marta lên và giao nhiệm vụ: “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã sẵn sàng đón tiếp, hãy lên đường ngay!”. Cùng đi sang Việt Nam với Marta còn có nam nhà báo Raul Valdes Vivo làm cho Báo Ngày Nay (cũng thuộc Đảng Cộng sản Cuba, sau này hai báo nhập làm một và lấy tên là Gramma).

Nhà báo Raul sau đó từng làm đại sứ Cuba tại Việt Nam trong một thời gian dài, về nước ông làm Trưởng ban Đối ngoại của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, và hiện nay là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Giám đốc trường Đảng.

Marta và Raul tới Việt Nam qua đường Campuchia rồi luồn rừng vào Tây Ninh. Sáu tháng đầu tiên sống cùng các chiến sỹ quân giải phóng miền Nam, hàng loạt bài báo và bản thảo một cuốn sách đã được Marta liên tục gửi về nước. Nhờ đó, lần đầu tiên nhân dân Cuba và cả Châu Mỹ La tinh đã biết được những chi tiết sống động và chân thực nhất về cuộc chiến đấu kiên cường, mưu trí và dũng cảm của nhân dân Việt Nam.

 ma ta và ca chien si gp quanMarta và các chiến sỹ quân giải phóng tại miền Nam Việt Nam năm 1967 (Ảnh tư liệu)

            Suốt trong giai đoạn 1965 – 1975, cứ đều đặn mỗi năm 2 tháng, Marta lại có mặt tại chiến trường miền Nam để viết báo. Năm 1972 chị cũng đã có mặt tại Pháp để đưa tin về cuộc Hội đàm Pa-ri lịch sử.

Có ở Cuba những ngày tháng Tám lịch sử này, mới thấu hiểu tình cảm của tất thảy mọi người dân hòn đảo trong lành và xinh đẹp với Bác Hồ, với Việt Nam vẫn còn sâu đậm, thủy chung đến nhường nào.

Có một sự thực là, khi chúng tôi tới bất cứ đâu dọc theo chiều dài dải đất mang hình con cá sấu kiên cường cũng bắt gặp những lời nói, ánh mắt và nụ cười nồng ấm tràn đầy ngưỡng mộ về Bác Hồ, về Việt Nam của người dân Cuba.

Khi tôi hỏi về cuộc phỏng vấn Bác Hồ do chị thực hiện, Marta không giấu nổi xúc động, mắt rớm lệ đưa tay lên ngực rồi nói: “Đến giờ tôi vẫn giữ nguyên trong trái tim mình, nhớ như in từng chi tiết, không thể nào quên được!”.

Chị cho biết, đây là cuộc phỏng vấn cuối cùng của một nhà báo nước ngoài trước lúc Người đi xa, đó là vào một buổi sáng tháng 7 năm 1969, chị bồi hồi nhớ lại…

7h sáng, Bác mặc một bộ quần áo trắng giản dị ra tận cửa đón chúng tôi. Một điều hết sức bất ngờ là Bác đã chủ động chào tôi trước bằng tiếng Tây Ban Nha rất chuẩn, sau đó Người vui vẻ hỏi thăm sức khỏe của tôi, hỏi thăm sức khỏe của Fidel cũng bằng tiếng Tây Ban Nha. Ấn tượng đầu tiên trong lần đầu gặp Bác, đó là một con người vĩ đại song hết sức giản dị và lịch thiệp. Hôm ấy, Người đi một đôi dép quai hậu không tất…

Tôi đến với mục đích để phỏng vấn Bác, nhưng rốt cục Bác lại là người chủ động “phỏng vấn” tôi trước. Người nói, “Nào chúng ta hãy cùng nhau trò chuyện”.

Bác hỏi về cảm nhận của tôi khi chứng kiến trực tiếp cuộc sống và chiến đấu của bộ đội ra sao, rồi hỏi về tình hình dân chúng tại những nơi tôi đã đi qua kể từ sau chuyến đi đầu tiên vào năm 1965, nhất là thời gian ở Tây Ninh. Bác tiếp tôi tại ngôi nhà nhỏ gần Phủ Chủ tịch, Người đã dành một buổi nói chuyện dài với tôi và phần lớn thời gian là Người hỏi tôi.

Tôi có cảm nhận Người như một nhà hiền triết, một nhà cách mạng chân chính ham hiểu biết. Tôi hiểu Người đang muốn biết thêm thật nhiều về đời sống, tình cảm của dân chúng và các chiến sỹ thông qua một nhà báo nước ngoài như tôi.

Sau khi nghe tôi kể lại, Người xúc động nói: “Nỗi đau của nhân dân Việt Nam cũng chính là nỗi đau của tôi. Tôi dành cả cuộc đời mình cho nhân dân tôi”. Người mong muốn có một nước Việt Nam mười lần tươi đẹp hơn.

Sau này khi được đọc Di chúc của Bác, tôi nhận ra một số điều được viết trong di chúc cũng đã được Người nói với tôi hôm đó, nhưng bằng những lời lẽ giản dị hơn, tôi đã lắng nghe và viết lại trong một bài báo xuất bản vào năm 1969.

Tôi hỏi Người: “Dựa vào đâu mà Chủ tịch hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi trước một kẻ thù hùng mạnh về kỹ thuật, đang ra sức đã tàn phá làng mạc Việt Nam bằng bom đạn suốt ngày đêm như vậy? ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi tin vào sức mạnh và sự vĩ đại của nhân dân Việt Nam cùng sự đoàn kết ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới trong đó có nhân dân Cuba anh em.

Mỗi khi nhân dân Cuba từ bên kia bán cầu tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình thể hiện tình đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân chúng tôi, điều đó đã động viên chúng tôi rất nhiều, và nhất là những lời phát biểu của Chủ tịch Fidel Castro làm chúng tôi vô cùng cảm kích. Chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng”.

Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước chúng tôi sẽ còn gặp nhiều khó khăn và gian khổ, nhưng nhất định chúng tôi sẽ giành được thắng lợi!”.

Mục đích gặp để phỏng vấn Người, song Người đã chủ động giới thiệu tất cả về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội Việt Nam với tôi. Người nói, trước đây Người cũng từng làm báo.

Tôi nói lời chia tay với Người rằng “Tôi tin tưởng Việt Nam sẽ chiến thắng”, Người cũng nói “Nhân dân Việt Nam có quyết tâm chiến đấu đến cùng và nhất định sẽ thắng lợi!”.

Hai tháng sau, tôi sững sờ khi nghe tin Bác mất. Hồi đó, Việt Nam bị tàn phá khốc liệt. Tôi lại tiếp tục lên đường sang Việt Nam.

 nha bao ma taAnh Đoàn Văn Thái, Bí thư Trung ương Đoàn tới thăm và tặng quà nữ nhà báo Marta, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba – Việt Nam tại La Habana. Ảnh: Việt Hùng

            Tôi tò mò hỏi bà: “Là một phụ nữ nước ngoài, lặn lội sang Việt Nam đầy bom đạn như vậy, bà không sợ sao, động lực nào đã đưa bà tới Việt Nam?”. Marta nói ngay: “Người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé, gian khổ như vậy mà vẫn kiên cường. Điều đó làm tôi vô cùng xúc động và đã giúp tôi vượt qua mọi khó khăn”.

Hồi mới sang, Marta sợ nhất ếch, đỉa và vắt, sợ hơn cả máy bay ném bom của Mỹ. Mỗi khi luồn rừng hay lội qua sông, suối thấy đỉa bám lên người mà các cô gái Việt Nam thản nhiên cầm vứt ra, người nữ phóng viên ngoại quốc tròn xoe mắt.

Marta kể, tôi thấy các chiến sỹ trẻ quân giải phóng bị vắt cắn rất nhiều, song họ chỉ lấy ra và để lại trên lá cây. Tôi hỏi vì sao không giết chúng đi? Họ hóm hỉnh trả lời: Đây cũng là vũ khí thiên nhiên để chống lại giặc Mỹ!

Một lần khác, chúng tôi nấp ở ven rừng cùng quân giải phóng nhìn ra đường thấy hai bà cụ cứ thỉnh thoảng lại nhặt một cái gì đó cho vào chiếc túi nhỏ. Tôi thấy lạ bèn hỏi các chiến sỹ đi cùng mới biết, lát nữa sẽ có 1 chiến sỹ nhận chiếc túi để biết đã có bao nhiêu lính Mỹ ngụy đi qua con đường này trong ngày vì 2 bà cụ không biết chữ.

Có chứng kiến tận nơi tôi mới thực sự hiểu sức mạnh chiến tranh toàn dân của người Việt Nam. Chính vì vậy tôi đã hiểu vì sao Bác Hồ lại tin tưởng vào nhân dân của mình, vào cuộc thắng lợi đến thế.

Được hỏi về sự mất mát của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh mà bà chứng kiến, Marta đã thực sự xúc động, giọng bà lạc đi khi kể cho tôi nghe về một vài chi tiết vẫn còn hằn trong ký ức bà: Đi cùng các đơn vị giải phóng quân, qua một đêm lại thấy thiếu đi vài gương mặt quen quen, hỏi được biết họ đã nằm lại đâu đó sau một trận chiến.

Đêm trước Mỹ ném bom Napal xuống một ngôi làng, tôi nhìn thấy ánh sáng rất lạ, không hiểu là cái gì. Sáng hôm sau tôi tới tận nơi thấy xác dân thường nằm la liệt vẫn còn phát sáng, khung cảnh thảm khốc khiến tôi vô cùng xúc động. Đường mòn Hồ Chí Minh chúng tôi đi qua bị rải chất độc da cam, mặc dù trời vừa mưa to, chạm vào lá cây mà da chúng tôi còn bị bỏng rộp…

Khi cầm bút viết những dòng này tôi chợt nhớ tới câu nhận xét của nữ nhà báo Cuba đầy kính trọng cũng là nhà báo nước ngoài cuối cùng được phỏng vấn Bác Hồ trong phần cuối câu chuyện của bà về chiến tranh Việt Nam: “Bất cứ lúc nào, nơi nào tôi cũng thấy nhân dân Việt Nam rất lạc quan, vẫn nhảy múa ca hát mặc cho bom rơi đạn nổ, vẫn trồng lúa, gặt hái bình thường trên mảnh đất có nền văn hiến hàng nghìn năm của mình, và cuối cùng họ đã chiến thắng”.

Theo Việt Hùng/vietbao.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Báo chí Lào ca ngợi công ơn đạo đức Hồ Chí Minh

Nhân kỷ niệm lần thứ 122 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các báo của Lào đã đăng nhiều bài viết về công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, cách mạng Lào và tấm gương đạo đức cao cả của Người.

Một bài báo ca ngợi BHMột bài báo ca ngợi Bác Hồ. (Ảnh: Hoàng Chương/Vietnam+)

Các báo Pasason, Pathet Lao ngày 18 tháng 5 đã đăng các bài viết ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, một con người chí công vô tư có nếp sống giản dị, khiêm tốn là tấm gương sáng cho tất cả chúng ta noi theo.

Báo Lao Phatthana cũng có bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí” ôn lại những lời dạy của Người đối với những người làm báo để trở thành những nhà báo trung thực.

Báo VientieneMai viết về đạo đức cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu rõ Người đã dành trọn cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Đông Dương và các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lý luận vĩ đại, nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc, là Anh hùng của dân tộc Việt Nam, chiến sỹ cách mạng kiệt xuất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Người luôn có niềm tin sâu sắc đối với nhân dân, gần gũi và quan tâm đến nhân dân; là tấm gương sáng về những đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết đấu tranh chống nạn quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, coi những căn bệnh đó là kẻ thù bên trong.

Đạo đức cách mạng cao quý, tinh thần anh dũng, sự giản dị, và tính nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn kính, quý trọng sâu sắc./.

Theo Vietnam+/VTN
Kim Yến

bqllang.gov.vn