Thư viện

Cựu phóng viên chiến tranh TASS viết về 3 lần gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ tiếp lãnh đạo Đoàn TNCS Lênin tại Việt Nam (tháng 12/1964).

“Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh)”.

Sergei Afonin là cựu phóng viên chiến tranh của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) tại Việt Nam. Ông đã công bố cuốn sách “Những năm tháng nóng bỏng” nói về những trải nghiệm của mình cùng với nhân dân Việt Nam trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Hiện nay cựu phóng viên chiến tranh của TASS đang sống cùng với vợ và đứa con trai út trong một căn hộ nhỏ ở ngoại ô phía Nam Moskva. Trong căn hộ của họ không có những đồ vật đắt tiền, nhưng nó lại rất giàu những vật kỷ niệm được đưa từ Việt Nam về: Hội họa sơn mài, những bức tranh đại chúng từ làng Đông Hồ, những hộp khảm xà cừ, những búp bê, những tấm bưu thiếp… Vợ ông, Ludmila Afonina không nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng yêu Việt Nam với tình yêu nồng nhiệt như chồng bà. Những năm tháng tuổi trẻ hạnh phúc của họ đã diễn ra ở Hà Nội. Dưới đây là lời kể của ông về ba lần được gặp Bác Hồ.

***

Tôi vô cùng may mắn và hạnh phúc đã ba lần được gặp và được nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kỷ niệm về niềm hạnh phúc này tôi sẽ giữ mãi cho đến trọn đời.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên

Đó là vào năm 1961, tôi đến thực tập tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi là sinh viên làm luận văn tốt nghiệp và là người phiên dịch ngoài biên chế trong Đại sứ quán Liên Xô và cơ quan đại diện thương mại. Thỉnh thoảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi trên chiếc xe hơi “Chiến thắng” đến cơ quan đại diện thương mại của Liên Xô để xem những bộ phim Xôviết mới trong phòng chiếu phim đầy đủ tiện nghi. Vì Bác Hồ thông thạo tiếng Nga nên ở đó không cần phiên dịch.

Vào một trong những buổi chiều như thế, khi ở cửa ra của phòng chiếu phim, Bác Hồ đã trông thấy tôi, trong chốc lát Người dừng lại và hỏi tôi bằng tiếng Nga:

– Cháu nói được tiếng Việt không?

Quả thật, tôi đã đứng ngây người ra, chính vì đấy là lần đầu tiên tôi được trông thấy con người huyền thoại ấy gần đến như thế. Tôi vô cùng hồi hộp và xúc động, và sau giây lát im lặng, tôi đã trả lời:

– Dạ, cháu nói không được nhiều lắm ạ…

– Vậy cháu có thích ở đây không?

– Cháu rất thích, cháu yêu Việt Nam.

Hồ Chủ tịch mỉm cười và khi chia tay, Người đã nói bằng tiếng Việt:

– Này cháu, cháu cần phải học thật tốt tiếng Việt đấy nhé. Chúc cháu nhiều thành công…

Cuộc gặp gỡ thứ hai

Vào tháng 12/1964, trong thành phần của Đoàn đại biểu thanh niên Xôviết, tôi đã đến thăm Việt Nam. Dẫn đầu đoàn đại biểu là Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin Iuri Torxuev, tôi là chuyên viên Ban quốc tế của Ban chấp hành Trung ương Đoàn. Trước ngày cuối cùng của cuộc đi thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp chúng tôi. Người đã nồng nhiệt ôm hôn các vị khách, mời khách uống trà. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe mạnh và tràn đầy nghị lực. Người hơi gầy, đôi mắt hiền từ tinh anh, chòm râu bạc, giọng nói dịu dàng, bộ quần áo giản dị, đôi dép xăng-đan…

Chủ tịch hỏi chúng tôi đã có những ấn tượng gì về cuộc đi thăm. Tôi đã dịch những lời phát biểu trả lời của đồng chí Trưởng đoàn đại biểu ra tiếng Việt, đương nhiên tôi nhớ đến lời khuyên của Hồ Chủ tịch đã dành cho tôi ba năm trước trong lần gặp đầu tiên. Sau đó Bác Hồ đã kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng Người đã sống ở Liên Xô. Người đã hết sức khâm phục nghị lực và chí hướng vươn tới mục tiêu, mà nhờ đó nhân dân Xôviết đã dốc lòng xây dựng một xã hội mới trong những năm hai mươi và ba mươi. Về tình hình ở Việt Nam, nơi những tên xâm lược Mỹ đã gây chiến tranh ở miền Nam và bắt đầu ném bom miền Bắc, Chủ tịch đã nói ngắn gọn: “Một khi chúng đã xâm phạm đến đất nước chúng tôi, nhân dân chúng tôi nhất định sẽ đánh đuổi được kẻ thù“. Trong đó Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tình đoàn kết quốc tế với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. Trong thời kỳ đó, trong phong trào Cộng sản quốc tế đã có những sự bất đồng nghiêm trọng, và Hồ Chí Minh đã không đề cập đến chủ đề ấy. Đơn giản Người chỉ nhấn mạnh niềm tin của mình vào quê hương của Cách mạng tháng Mười.

Cuộc gặp gỡ thứ ba

Vào tháng 2/1969, Đoàn đại biểu thanh niên Xô-viết do đồng chí Bí Thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin Evghenie Chiajenikov dẫn đầu đã sang thăm nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Khi đó, với cương vị là phóng viên thường trú của Thông tấn xã Liên Xô (TASS) và của Báo “Sự thật Đoàn Thanh niên Cômxômôn”, và đã làm việc ở Hà Nội được mấy năm, tôi được đưa vào thành phần của đoàn đại biểu này.

Chúng tôi đã đi thăm những khu vực khác nhau của miền Bắc Việt Nam, đã gặp gỡ với thanh niên trong các nhà máy, ở các vùng nông thôn, trong các trường học, trên các trận địa trực chiến và chúng tôi đã cảm nhận được hoàn toàn ý chí hướng tới chiến thắng không gì lay chuyển được của nhân dân Việt Nam, bất chấp những tội ác khủng khiếp nhất của giới quân phiệt Mỹ. Nhân dân Việt Nam anh hùng tuân theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập và tự do“, đã giáng trả bọn xâm lược những đòn chí mạng và đã làm tất cả vì giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Ngày đáng nhớ 25/2/1969 ấy sẽ không bao giờ quên được. Đoàn đại biểu của chúng tôi đã có vinh dự gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuộc trò chuyện thân tình đã diễn ra trong ngôi nhà nhỏ một tầng, được xây dựng trong những năm chiến tranh trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Chủ và khách trao nhau những vòng tay ôm, những nụ hôn bè bạn, những cái bắt tay nồng ấm. Khi mọi người đã ngồi vào bàn, Bác Hồ lấy ra chiếc bót thuốc lá và mời hút thuốc lá. Tôi không biết vì sao nữa – chúng tôi đã từ chối, và rồi sau đó mới hiểu ra rằng, đương nhiên là như vậy, cần phải đón nhận từ tay Người những điếu thuốc lá này như là món quà tinh thần. Bác Hồ đã không châm thuốc hút và bắt đầu cuộc trò chuyện:

– Chúng tôi rất rất vui mừng chào đón các bạn đã đến Việt Nam. Chắc các bạn đã thấy rõ là người dân chúng tôi có một tình yêu chân thành và nồng ấm như thế nào đối với nhân dân Xô-viết. Khi có đất nước các bạn cùng với chúng tôi, chúng tôi tin tưởng vào tương lai hạnh phúc của mình. Hồ Chí Minh đã nói rất mặn nồng về Liên Xô, Người đã nhớ lại những sự kiện khác nhau trong cuộc sống ở Moskva.

– Hồi ấy, là thời kỳ khó khăn của những năm hai mươi và ba mươi, cũng giống như bây giờ ở đất nước chúng tôi – Người nhấn mạnh.

– Nhưng hồi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm, các bạn chỉ có một mình, còn bây giờ nhân dân chúng tôi không đơn độc…

– Sau đó những người Xô-viết đã sống tốt hơn – Hồ Chủ tịch nói tiếp – Có một lần tôi đã hỏi một cô gái (Hồ Chí Minh nói bằng tiếng

Nga: Hỏi cô Phifa), tại sao cô ấy mặc chiếc áo choàng lụa sáng tươi, tô điểm đôi mắt và đi giày cao gót. Cô ấy đã tự hào trả lời ngay: “Chính vì tôi chịu khó làm việc và đây là do tôi làm ra”. Sau đó ở Moskva đã xuất hiện tàu điện ngầm, có thêm nhiều xe hơi…
Chúng tôi đã nghe những hồi tưởng của Bác Hồ, chăm chú nhìn khuôn mặt bộc trực của Người. Xuyên qua cặp mắt kính lão, đôi mắt tinh anh, cho dù đã có phần mệt mỏi, của Người đang nhìn chúng tôi. Người ngồi đó đầu đội mũ lưỡi trai, cổ quàng khăn ấm (trời hôm ấy rất lạnh).

Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson

Hồ Chí Minh châm thuốc hút rồi bắt đầu kể về việc năm 1925 Người đã làm việc ở Quốc tế Cộng sản như thế nào, đã thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và mấy năm sau thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam…

Vâng, tầm vóc của con người Hồ Chí Minh, tôi thiết nghĩ, hãy còn chưa được thấy rõ đến tận cùng. Phía sau Người là một cuộc đời đầy những thử thách cam go của Nhà cách mạng, của Người yêu nước và của Người chiến sĩ quốc tế vĩ đại. Người đã bị những tên thực dân Pháp kết án tử hình, đã trải qua suốt hàng chục nhà tù ở Hongkong và Trung Quốc. Từ năm 1941 Người còn tiên đoán rằng Liên Xô sẽ đánh tan nước Đức phát xít vào năm 1945, và rằng cũng vào năm đó Việt Nam sẽ giành được độc lập. Điều tiên đoán đó đã xảy ra đúng như thế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Vệ quốc chống lại những tên thực dân Pháp và những tên xâm lược Mỹ. Hồ Chí Minh đã cho chúng tôi xem một số bức ảnh ghi lại những cuộc gặp gỡ của Người với thanh niên miền Bắc Việt Nam, và với các chiến sĩ lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.

– Thanh niên chúng tôi – Người nhấn mạnh, thật anh hùng, đó là lực lượng xung kích của chúng tôi.

Trên một trong những bức ảnh là hình một cô gái Việt Nam mảnh dẻ đang áp giải tên phi công Mỹ to béo.

– Rất nhiều người đến đất nước chúng tôi và họ rất ngạc nhiên, tại sao một đất nước nhỏ và kém phát triển như thế, lại đương đầu thành công cuộc xâm lược của Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh nói – Nhưng khi đưa bức ảnh này ra, mọi chuyện đã trở nên rõ ràng. (Về sau chúng tôi được biết rằng bức ảnh nổi tiếng này do phóng viên Phan Thoan chụp ngày 20/9/1965 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nữ du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai đã áp giải viên phi công Mỹ William Robinson).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết thúc buổi gặp mặt bằng những lời biết ơn Lênin và Cách mạng tháng Mười:

– Tất cả những thắng lợi của chúng tôi đều gắn liền với tên tuổi của Lênin, tất cả chúng tôi đều biết ơn quê hương của Cách mạng tháng Mười.

(Theo Nhat-Nam.ru)
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

TGĐ UNESCO ca ngợi tấm gương học tập suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Một số sản phẩm kim khí tự tạo của em Ngô Viết Sơn, lớp 8 C trường Phổ thông công nghiệp cấp III Đống Đa – Hà Nội tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân sinh nhật Người năm 1965.

Tại lễ khai mạc, bà Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO khẳng định: “Triển lãm này đã tôn vinh cam kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Đó cũng là một tầm nhìn mà UNESCO luôn thúc đẩy và hướng tới”. Bà Irina Bokova cho rằng, Hồ Chí Minh trước hết là một nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, do vậy Người nhận thức rõ về sức mạnh của tri thức, tri thức đó không chỉ thu nạp một lần ở tuổi ấu thơ và là quá trình học tập suốt đời. Người đã áp dụng điều này và không bao giờ ngừng học hỏi.

Khái niệm “Học tập suốt đời” là coi học tập diễn ra dưới mọi hình thức, cả chính quy, không chính quy thông qua những giai đoạn khác nhau của cuộc đời con người, từ độ tuổi mầm non cho tới khi về già.

Học tập suốt đời khuyến khích, hỗ trợ và động viên việc con người tìm đến tri thức trên cơ sở tự nguyện, tự giác vì những lý do cá nhân hay lý do chuyên môn.

Bà cũng đánh giá, Việt Nam đang trên đà phát triển nhanh chóng, tăng trưởng kinh tế tạo đà phát triển cho văn hoá-giáo dục…và vui mừng khi được biết Việt Nam chi 20% ngân sách quốc gia cho giáo dục. Điều đó thể hiện cam kết của Việt Nam đối với học tập. UNESCO cam kết sẽ sát cánh với Việt Nam cả về nhân lực, vật lực trong các dự án về giáo dục. Điển hình là việc UNESCO sẽ hỗ trợ “Học tập suốt đời” tại Việt Nam.

Với gần 300 tài liệu hiện vật, phim ảnh, triển lãm tập trung giới thiệu về truyền thống khuyến tài, khuyến học của Việt Nam. Nêu cao tấm gương tự học mẫu mực và vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc thúc đẩy học tập suốt đời cho mọi người dân Việt Nam

Việt Nam luôn coi trọng nhiệm vụ giáo dục học tập suốt đời và coi đó là chìa khóa quan trọng góp phần xây dựng xã hội bình đẳng và tiến bộ hơn. Vì học tập suốt đời có vai trò trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội toàn diện của Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nêu rõ: “ Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở-mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt,đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục”.

Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”. Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, tr.215).

tutuonghochiminh.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ (Kỳ 4)

“Các ông sẽ phải bỏ cuộc”

QĐND – … Từ núi rừng Việt Bắc vào những tháng trước khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc,  ông Hồ qua máy vô tuyến điện của Trung úy phi công Mỹ Giôn đã liên hệ thăm dò người Pháp ở Côn Minh.

Những bức điện ông nhờ Trung úy Giôn chuyển hộ đến tay Lê-ôn Pi-nhông (Léon Pignon), một chính trị gia chuyên nghiệp Pháp (về sau là Cao ủy Pháp ở Đông Dương) và Thiếu tá Giăng Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny), sĩ quan của lực lượng Pháp Tự do (Đại diện Pháp ở Bắc Việt Nam). Cả hai người khi đó đang ở Côn Minh. Sau khi đọc bức điện của ông Hồ yêu cầu Pháp cam kết trao trả độc lập trong vòng năm đến mười năm, Pi-nhông và Xanh-tơ-ni trả lời họ sẵn sàng thương lượng nhưng lại không nói rõ thời gian và địa điểm. Vào lúc này người Mỹ trở thành một vấn đề đối với người Pháp. Đầu tháng 4-1945, chính quyền Mỹ dỡ bỏ lệnh của Ru-dơ-ven không giúp đỡ các lực lượng hoạt động bí mật ở Đông Dương, Cục Tình báo Chiến lược Mỹ (O.S.S.) bắt đầu tiến hành việc tái huấn luyện và cung cấp trang bị cho khoảng 2000 lính Pháp vừa chạy sang Côn Minh sau đảo chính của Nhật, có kế hoạch cho các toán Pháp – Mỹ nhảy dù xuống Đông Dương và tiếp theo sẽ thả đồ tiếp tế trang bị nếu có thể tổ chức được các đội du kích kháng chiến. Thật sự lúc này người Pháp một mặt sẵn sàng nhận mọi giúp đỡ vật chất của Mỹ nhưng lại rất muốn tránh bất cứ sự dính líu trực tiếp nào của Mỹ vào Đông Dương. Tướng Hi-li-oen, cựu Cục trưởng O.S.S. sau này đã nói: “Hết sức rõ ràng là vào tháng 6-1945, người Pháp hoàn toàn chỉ nghĩ đến việc tìm cách giữ không để người Mỹ vào Đông Dương hơn là lo việc đánh bại Nhật hoặc làm cái gì khác để đưa cuộc chiến tranh đến kết thúc thắng lợi trong vùng này”.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. Ảnh tư liệu

Người Mỹ vào Đông Dương không nhiều, nhưng đã có một số toán O.S.S. được thả dù xuống vùng rừng núi và có giúp lực lượng ông Hồ một số súng tiểu liên, các-bin. Vào lúc chiến tranh kết thúc, bộ đội Việt Minh được bổ sung thêm vũ khí lấy được của Nhật ráo riết chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Khắp toàn Đông Dương nổi lên phong trào độc lập. Dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội ngày 17-8-1945. Một tuần sau, một chiếc máy bay của lực lượng Pháp Tự do đưa Thiếu tá Xanh-tơ-ni nhảy dù xuống Hà Nội cùng với Thiếu tá Mỹ A-si-mét Pa-ti (Archimedes Patti) của O.S.S. Nhiệm vụ của Pa-ti là giải phóng tù binh chiến tranh. Để làm việc này, Pa-ti phải có sự hợp tác của người Nhật bởi vì lúc này quân Trung Quốc làm nhiệm vụ tiếp quản chưa tới. Xanh-tơ-ni cảm thấy mọi hoạt động của mình đang bị Việt Minh và người Nhật cản trở với lý do bảo đảm an ninh cho ông ta. Nhưng Xanh-tơ-ni cho là do có sự nương nhẹ của Pa-ti, Việt Minh đã cầm giữ mấy trăm người Pháp trong khách sạn Metropole. Xanh-tơ-ni bất bình, sau năm ngày đến Hà Nội, ông về Can-cút-ta (Calcutta), Ấn Độ: “Đang có một âm mưu cấu kết của Đồng minh nhằm hất người Pháp ra khỏi Đông Dương”. Nhưng thật ra chỉ là chuyện tình cờ chứ không phải câu kết.

Mấy tuần sau thêm một số người Mỹ đến Hà Nội, trong đó có một số sĩ quan cao cấp của Bộ tư lệnh Chiến đấu Mỹ từ Trung Quốc. Họ tỏ ra cởi mở, có cảm tình với Việt Minh, đặc biệt là với ông Hồ. Thiếu tá Pa-ti không giấu giếm việc ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Theo nguồn tin của Pháp, Pa-ti có nói sẽ giúp ông Hồ xin vũ khí và một vị tướng Mỹ nói ông ta có quan hệ với giới kinh doanh ở Mỹ và họ có thể gửi giúp chế độ mới ở Việt Nam các máy móc hạng nặng để tái kiến thiết đất nước. Việc ông Hồ cần sự giúp đỡ thì đã rõ. Ha-rôn I-dắc (Harold Isaacs), một đồng nghiệp của tôi làm việc ở Newsweek đã được gặp ông Hồ vào tháng 11-1945 kể rằng, ông Hồ có nói ông sẵn sàng để cho người Pháp giữ được địa vị kinh tế của họ ở Việt Nam nếu họ công nhận nền độc lập của Việt Nam. Ông Hồ hỏi lại: “Sao lại không? Chúng tôi đã phải trả bằng xương máu hàng mấy thập kỷ rồi. Ví phỏng chúng tôi phải trả thêm mấy trăm triệu đồng nữa để giành được tự do thì không đáng hay sao?”.

… Cảm tình của người Mỹ đối với ông Hồ vào cuối năm 1945 và đầu năm 1946 thể hiện trong việc thành lập Hội Hữu nghị Việt-Mỹ. Cuộc họp đầu tiên của hội ở Hà Nội có một tướng Mỹ và các sĩ quan Mỹ dự. Đáp lại những lời hoan nghênh, ca ngợi hữu nghị đối với nước Mỹ, vị tướng Mỹ mong muốn rồi đây sẽ có những việc như trao đổi sinh viên giữa hai bên.

Thiếu tá Xanh-tơ-ni một lần gặp một chuyện ông cho là sỉ nhục khi đang ngồi xe Jeep có treo cờ Pháp bị quân Nhật bắt giữ, sau đó được thả nhờ có sự can thiệp của một đại tá Mỹ. Đối với người Mỹ, Xanh-tơ-ni có nhận xét: “Tinh thần chống chủ nghĩa thực dân ấu trĩ đã làm mờ mắt hầu hết người Mỹ”. Tuy gặp nhiều chuyện không hài lòng, chính Xanh-tơ-ni hơn bất cứ người Pháp nào, lại có cảm tình với Hồ Chí Minh và đã cố gắng thúc đẩy chính sách hợp tác thực sự với ông.

Sau hai lần gặp ông Hồ vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10-1945, Xanh-tơ-ni có nhận xét ông Hồ là “một nhân vật đầy nghị lực và đáng kính”. Sau này trong cuốn sách “Chuyện một nền hòa bình bị bỏ lỡ, 1945-1947”, Xanh-tơ-ni đã viết: “Con người rất mực giản dị này, với khuôn mặt ta thoáng nhìn đã thấy ngay sự thông minh mẫn tiệp, tài giỏi, tinh tế, là một nhân vật thuộc lớp người có những phẩm chất cao quý nhất, là một người chẳng bao lâu sẽ đứng vào hàng đầu trên cục diện châu Á”.

Xanh-tơ-ni là người đã tham gia phần lớn việc thương lượng với ông Hồ và đạt được Hiệp định ngày 6-3-1946. Trong cuốn sách của mình, Xanh-tơ-ni có trích dẫn lời ông Hồ nói: “Khi chúng tôi muốn tự cai quản đất nước mình… chúng tôi sẽ cần đến các chuyên gia, các kỹ sư và nguồn tư bản của các ông để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hùng mạnh”. Xanh-tơ-ni nói: “Ông Hồ muốn có một Liên hiệp Pháp được xây dựng, trong đó Việt Nam là hòn đá tảng… Ông ấy muốn đất nước ông phải được độc lập và muốn nền độc lập ấy có vai trò của người Pháp… Thật đáng tiếc là nước Pháp đã không đánh giá đúng con người đó và không hiểu hết giá trị và sức mạnh của ông ấy”.

… Một lần, trong thời gian Hội nghị Fontainebleau (1946), ông Hồ đã nói với Xanh-tơ-ni và Ma-ri-uýt Mu-tê (Marius Moutet): “Nếu chúng tôi phải chiến đấu để giành độc lập thì chúng tôi sẽ chiến đấu. Các ông có thể giết được mười người của chúng tôi và chúng tôi chỉ giết được một người của các ông nhưng cuối cùng các ông sẽ là người phải bỏ cuộc”.

Rô-bớt Sáp-lân, sinh năm 1917, thường xuyên viết cho các báo The New Yorker, Herald Tribune, Newsweek ; trong Thế chiến II là phóng viên chiến tranh của Newsweek trên mặt trận Thái Bình Dương. Do tính chất công việc, R. Sáp-lân biết khá nhiều chuyện về Việt Nam trong những năm chiến tranh. Ông cũng là bạn của Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, của Giáo sư La-ri Bơ-man (Larry Berman), tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”. Sau 1975 ông có trở lại thăm Việt Nam.

Cuốn “The Lost Revolution” (Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ) của R. Sáp-lân ra mắt độc giả từng phần lần đầu tiên trên các báo từ năm 1955, sau đó xuất bản thành sách, liên tục tái bản có bổ sung vào những năm 1962, 1963, 1964, 1965. Điều đáng chú ý là trong cuốn sách của Mỹ, tác giả phê phán Pháp và Mỹ liên tục sai lầm, đã bỏ lỡ cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 của nhân dân Việt Nam, bỏ lỡ nhiều cơ hội hợp tác với Cụ Hồ Chí Minh do không hiểu được nguyện vọng cháy bỏng của Cụ Hồ là độc lập dân tộc cho nhân dân Việt Nam, không tin Cụ Hồ thành thật muốn hợp tác với Đồng minh để chống Nhật cứu nước và sẵn sàng quan hệ với phương Tây để xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ
Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh
Kỳ 3: “Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 3

“Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

QĐND – Cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc bị mật vụ của Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giữ. Họ biết ông là cộng sản nhưng cứ gán ghép cho là “gián điệp của Pháp” và bắt ông vào tù ở Liễu Châu. Cũng giống như những người Trung Quốc từ lâu, khi nhìn sang Bắc kỳ, Quốc dân đảng lúc ấy đã có ý đồ gây dựng riêng một phong trào “độc lập’ chống Pháp, đứng đầu là những người Việt thân Trung Quốc mà họ thu nhặt được. Tuy nhiên, chẳng bao lâu họ nhận ra rằng chỉ có các nhóm du kích cộng sản của Mặt trận Việt Minh do Nguyễn Ái Quốc tổ chức là những người duy nhất có kinh nghiệm hoạt động thực sự ở Đông Dương. Không ai khác ngoài Việt Minh có thể có một mạng lưới điệp viên ở đó, trừ một ngoại lệ. Trường hợp ngoại lệ này, kỳ cục thay lại là một tổ chức tình báo do một nhóm nhân viên dân sự đứng đầu gồm khoảng một chục nhà kinh doanh có quyền lợi ở Đông Dương thuộc các nước Đồng minh, mỗi người trong nhóm có tổ chức cộng tác viên riêng gồm người Pháp, Hoa và Việt; lúc đầu, mục đích của họ là làm mọi cách có thể được để bảo vệ tài sản các nước Đồng minh ở Viễn Đông. Sau trận Trân Châu Cảng, tổ chức duy nhất này bắt đầu hợp tác với du kích của ông Hồ để thu thập tin tình báo cung cấp cho lực lượng không quân của Đồng minh đóng căn cứ ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Đầu năm 1943, từ trong nhà tù, Nguyễn Ái Quốc gửi một bức thư cho Trương Phát Khuê, viên lãnh chúa quân phiệt nam Trung Hoa, cũng là một thủ lĩnh quan trọng của Quốc dân đảng, từng tranh chấp quyền bính với Tưởng Giới Thạch và thường có quan điểm riêng của mình về Đông Dương. Nguyễn Ái Quốc nói với Trương Phát Khuê nếu được trả tự do, ông sẽ tập hợp mạng lưới tình báo của mình ở Đông Dương và sẽ cộng tác với Trương. Nhận được bức thư, Trương ra lệnh thả ông ra khỏi nhà tù ở Liễu Châu không cần báo cáo cho Tưởng Giới Thạch biết. Và chính từ thời điểm Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, trước hết là để giấu lai lịch đối với Tai Li, trùm mật vụ của Tưởng. Với tên Hồ Chí Minh, ông trở thành người cầm đầu một tổ chức tập hợp rộng rãi các nhóm cách mạng người Việt gọi là Đồng minh Hội, được Trung Hoa Quốc dân đảng ủng hộ, còn Việt Minh do cộng sản tổ chức lúc đầu cũng chỉ là một bộ phận của tổ chức này.

Trong năm 1943 và 1944, Việt Minh tăng cường xây dựng lực lượng chính trị và đến cuối năm 1944, họ có một lực lượng quân sự độc lập gồm hàng vạn người dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, một luật sư kiêm nhà giáo trẻ tuổi, lúc bấy giờ đã bộc lộ tài năng xuất sắc về quân sự. Do tính độc lập của Việt Minh ngày càng tăng, mối quan hệ của ông Hồ với Trung Hoa Quốc dân đảng ở Trùng Khánh và Côn Minh không tránh khỏi trở nên căng thẳng. Trong tình hình đó, Trương Phát Khuê – người đã bảo trợ ông Hồ cũng chẳng làm được gì. Về phía người Pháp thì cả chính phủ Vichy (thủ tướng Pétain – ND) lẫn phe nước Pháp tự do (của tướng De Gaulle – ND) cũng đều lo lắng trước tình hình hoạt động của ông Hồ, cả hai thế lực này đã dẹp mối bất đồng có từ lâu để trao đổi tin tức mật về ông Hồ.

Trong nửa năm cuối 1944, ông Hồ bắt đầu nhìn sang phía người Mỹ, và những gì xảy ra trong hai năm tiếp sau đó, kể cả câu chuyện thơ mộng lạ lùng trong rừng giữa ông Hồ với những người lính trẻ như Giôn, đã mang âm hưởng một vở kịch vui nhưng câu chuyện trên thực tế lại có một kết thúc buồn. Vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, ông Hồ đã 4 lần đến cơ quan Cục Tình báo Chiến lược của Mỹ ở Côn Minh để yêu cầu viện trợ vũ khí, đáp lại Việt Minh sẽ tiến hành các hoạt động tình báo và phá hoại chống Nhật, tiếp tục hoạt động cứu trợ các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi. Nhưng lần nào đề nghị của ông cũng bị bác bỏ. Theo lời kể của P. E. Hi-li-oen (P. E. Helliwell), Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược Mỹ ở Trung Quốc luôn luôn nhất quán trong chủ trương không giúp những người đã biết rõ là cộng sản như ông Hồ vì lo ngại sẽ có hậu quả rắc rối sau chiến tranh.

Tuy nhiên, cùng thời gian ấy, vẫn theo lời kể của Hi-li-oen, dù chính sách của Tổng thống Ru-dơ-ven đã công bố là Mỹ không dính dáng gì với phong trào kháng chiến ở Đông Dương – sau này Hi-li-oen có nói rằng, bản thân ông ta không hề nhận được lệnh trực tiếp nào về vấn đề này – mà việc quyết định không giúp ông Hồ lúc đó chủ yếu là do ông Hồ không chịu cam kết chỉ dùng số vũ khí nhận được để chống Nhật chứ không dùng để chống Pháp.

Nhưng ông Hồ vẫn kiên trì thương lượng. Cuối cùng, Hi-li-oen trao cho ông 6 khẩu súng ngắn và 20.000 viên đạn, nhưng chỉ coi đó là quà tặng đáp lại việc Việt Minh cứu được 3 phi công Mỹ. Sau đó, vào thời gian Mỹ hứa trao trả độc lập cho Phi-líp-pin, ông Hồ viết thư cho Ri-sác Hép-nơ (Richard Heppner), Cục trưởng Cục Tình báo Chiến lược Mỹ ở Trung Quốc thời kỳ cuối chiến tranh Thế giới thứ II, yêu cầu Mỹ giúp đỡ bằng cách gây áp lực với Pháp trao trả độc lập cho Đông Dương. Sự thực là ông Hồ cũng còn nhận được vài sự giúp đỡ khác của Cục Tình báo Chiến lược và một số cơ quan khác của Mỹ và Đồng minh nhiều hơn 6 khẩu súng ngắn của Hi-li-oen, nhưng sự giúp đỡ về vật chất đó chẳng có gì là to lớn như khi họ hào hứng hứa hẹn khích lệ ông. Một quan chức tình báo cao cấp ở Viễn Đông đã nói: “Ông Hồ muốn làm việc với chúng ta nhưng chúng ta không bao giờ bắt tay ông ấy vì chúng ta không thể cung cấp tài chính cho ông ấy”.

Ông Hồ còn thăm dò nhiều nguồn viện trợ khác trong các nước Đồng minh. Trung tướng Cle Chen-nôn (Claire Chennault), Tư lệnh Tập đoàn không quân 14 của Mỹ đã được các bạn bè Quốc dân đảng Trung Quốc báo trước, phải tránh liên hệ với ông Hồ nhưng rồi có lần đã có người giới thiệu “một ông già người Việt” đến xin gặp. Cũng chẳng có gì xảy ra sau lần gặp đó, nhưng người Anh thì tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ hơn và vào tháng 11-1944, sau khi ông Hồ bí mật trở lại Bắc Kỳ với một lực lượng Việt Minh khoảng hai trăm người, họ đã thả dù tiếp tế cho những người Pháp thuộc phe kháng chiến (phe De Gaulle – ND) và cho du kích Việt Minh. Cùng đi với ông có một người trước đây có quan hệ với các nhà cựu kinh doanh Mỹ ở Đông Dương, những người này đã có lúc cộng tác với người của ông Hồ. Nhóm bí mật này vốn lúc đầu làm việc cho Cục Tình báo Chiến lược, nhưng lúc này lại thuộc quyền của một cơ quan của Lục quân Mỹ, Cơ quan Yểm trợ Không-Lục (AGAS-Air Ground Aid Service).

Số vũ khí mà ông Hồ và nhóm người ít ỏi của ông đưa về Bắc Kỳ lúc đó một phần là từ các nguồn của Cục Tình báo Chiến lược (O.S.S) mặc dù ngay từ đầu số vũ khí ấy phân phát ra không phải vì mục đích đó, một phần là lấy từ các kho vũ khí khác của Mỹ.

Ngay giữa miền rừng núi phía Bắc của Bắc Kỳ, trong một vùng hỗn tạp có đủ các loại: Phỉ Trung Quốc, tàn quân Pháp tự do, một số lính Mỹ nhảy dù xuống và nhiều nhóm quốc gia khác tích cực hoạt động, Hồ Chí Minh đã lập đại bản doanh cách mạng của mình. Bộ đội Việt Minh dưới quyền của ông Giáp, người chỉ huy trẻ tuổi, đã thành công trong hoạt động quấy rối quân Nhật, tuyên truyền vận động cho công cuộc giải phóng Việt Nam, cứu thêm được một số phi công Đồng minh. Một người Mỹ đã từng sống với ông Hồ tại cơ quan chỉ huy trong rừng của ông trong thời kỳ đó nay còn nhớ nét nổi bật nhất ở ông Hồ là “một con người có tính cách mạnh mẽ, ý chí kiên định”. Anh ta nhận xét về ông Hồ như sau: “Muốn đánh giá một con người cần dựa trên cơ sở xem người đó đang đeo đuổi cái gì. Ông Hồ không thể là người theo Pháp, và ông biết cách đánh Pháp theo cách của mình. Ông rất e ngại Trung Hoa Dân quốc, và không thể cộng tác với họ vì ông biết họ lúc nào cũng rất tham lam. Mát-xcơ-va thì ở quá xa… Nếu không đứng về phía Đồng minh trong cuộc chiến tranh, tất nhiên là ông Hồ không có thêm cơ hội giành lại độc lập cho đất nước từng bị sự thống trị lâu dài của chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhưng bây giờ (năm 1965), ông Hồ đã ngồi lên lưng ngựa rồi, mặc dù không rõ con ngựa ông đang cưỡi là loại ngựa gì. Nhưng có thể nói chắc chắn là vào thời gian đó ông ta đã giúp chúng ta (Mỹ). Chúng ta và người Pháp lúc ấy đang ở trong thế có thể giúp ông trong tương lai. Tôi nghĩ, sau này ông ấy sẽ vẫn sẵn sàng giữ quan hệ tốt với phương Tây”./.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ
Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh

Kỳ 4: Các ông sẽ phải bỏ cuộc.

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 2

Bức thư của Hồ Chí Minh

QĐND – Ông Hồ và Giôn đã từng uống rượu, ăn gan hổ ninh nhừ. Ngày nay nhắc lại chuyện cũ, Giôn thú thật sự ngây thơ của mình là hồi ấy anh cứ nghĩ rằng ông Hồ không phải là người cộng sản. Nhưng dù ông đúng là cộng sản, Giôn vẫn tin chắc rằng ông Hồ rất thành thật muốn hợp tác với phương Tây, đặc biệt với Pháp và Hoa Kỳ. Giôn hiện còn giữ hai lá thư viết bằng tiếng Anh của ông Hồ gửi cho anh ta lúc ở trong rừng. Một lá thư viết không bao lâu sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào lúc Việt Minh sắp sửa nắm được quyền kiểm soát phong trào quốc gia, toàn văn như sau :

Trung úy (Giôn) thân mến,

Từ lúc chia tay với ông đến nay sức khỏe của tôi có kém đi. Có lẽ tôi sẽ phải nghe lời khuyên của ông di chuyển đến một vùng khác dễ tìm lương thực để sức khỏe được tốt hơn.

Tôi gửi tặng ông một chai rượu, hy vọng ông sẽ vừa ý. Mong ông vui lòng cho tôi biết những tin tức về tình hình quốc tế ông đã nhận được.

Nhờ ông gửi tới Đại bản doanh của ông bức điện sau đây :

1. Đại Việt (một tổ chức quốc gia chống Việt Minh) đang có kế hoạch tiến hành hoạt động khủng bố người Pháp ở nhiều nơi rồi đổ trách nhiệm cho VML (Mặt trận Việt Minh). VML đã chỉ thị cho hai triệu hội viên và dân chúng thuộc quyền của mình hết sức cảnh giác và khi có điều kiện phải chặn đứng âm mưu tội ác của Đại Việt. VML tuyên bố trước thế giới mục tiêu của mình là độc lập dân tộc. VML đấu tranh bằng biện pháp chính trị và nếu cần sẽ bằng biện pháp quân sự. Nhưng không bao giờ dùng hành động tội ác và bất lương. 

2. Ủy ban Giải phóng Dân tộc của VML đề nghị các nhà chức trách của chính phủ Hoa Kỳ thông báo cho Liên hợp quốc tình hình sau đây. Chúng tôi đã đứng về phía Liên hợp quốc đánh Nhật. Ngày nay Nhật đầu hàng, chúng tôi đề nghị Liên hợp quốc thực hiện lời hứa của mình là mọi dân tộc sẽ được hưởng dân chủ và độc lập. Nếu Liên hợp quốc quên lời hứa long trọng của mình và không trao độc lập hoàn toàn cho Đông Dương, chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi giành được độc lập mới thôi.

Ký tên: Ủy ban Giải phóng của VML.

Xin cảm ơn ông vì đã làm phiền ông nhiều. Xin gởi ông lời chúc tốt đẹp

Thân ái chào ông, Hồ (sic)

(“sic” có nghĩa là “giữ đúng nguyên văn tiếng Anh” của người viết bức điện – ND).

Ngày 19-8-1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh, mở đầu cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh tư liệu

Điều gì có thể cắt nghĩa được sự khác biệt giữa hai thời kỳ 1945 và 1965, giữa những ngày chung sống thân thiết của Giôn với ông Hồ Chí Minh ở trong rừng-thời kỳ mà Mỹ đang có uy tín rộng lớn ở châu Á-với tấm thảm kịch phức tạp của cuộc chiến tranh Việt Nam ngày nay, khi mà người Mỹ đang tiến hành cuộc ném bom đất nước của ông Hồ? (Sách này tái bản lần thứ 5 vào năm 1965).

Những người cho rằng lẽ ra cần phải tranh thủ ông Hồ về phía chúng ta nay vẫn giữ quan điểm đó mặc dù từ lâu họ biết rõ sự thực ông Hồ không bao giờ chao đảo khỏi con đường Mác-xít – Lê-nin-nít. Mặc dù những quan điểm tư tưởng của ông thuộc lớp người chính thống Mác – Lê-nin (mà cũng có thể chính vì những quan điểm đó rất chính thống), và cũng do Đông Dương ở xa Mát-xcơ-va của Xta-lin mà ông Hồ đã viết nên bản tiểu sử cách mạng độc đáo riêng của mình. Vào thời kỳ đó, ông không tỏ ra là một kẻ ly khai phong trào cộng sản quốc tế mà lại càng bộc lộ là một chiến sĩ Bôn-sê-vích có quan điểm độc lập, một Mô-hi-can Mác-xít cuối cùng giữa chốn hoang vu Đông Nam Á chống chế độ thực dân. Nếu cho rằng đó chẳng qua là ông ta đã mê hoặc được vài người Mỹ để tạo mối quan hệ bạn bè vui vẻ nhưng nguy hiểm trong những tháng trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhưng lại có thể kể ra nhiều loại bằng chứng khác nữa ngoài câu chuyện của Trung úy Giôn để chứng minh một cách chắc chắn rằng ông Hồ đã thật lòng với điều ông nói, ông rất muốn kết thân với những người Mỹ và những người Pháp có tư tưởng tự do, những người mà ông hy vọng có thể giúp ông tìm ra một con đường ôn hòa để giành lại tự do cho Việt Nam. Phải chăng đó chỉ là một nước cờ của ông Hồ, một diễn viên tuyệt vời, và phải chăng ông đã lợi dụng một số ít bạn bè người nước ngoài để xúc tiến sự nghiệp cháy bỏng của mình theo viễn ảnh của Mát-xcơ-va? Có khá nhiều bằng chứng về sự thành thực của ông Hồ để bác bỏ kết luận quá giản đơn đó. Chẳng phải do Mát-xcơ-va ở quá xa, không giúp gì cho ông Hồ một cách cụ thể trong những năm khó khăn trước đó, nhưng điều quan trọng là lúc bấy giờ nước Trung Hoa cộng sản chưa ra đời. Vậy thì lúc đó có ai hơn người Mỹ – những người đang tỏ ra tích cực chống chủ nghĩa thực dân khi vạch ra kế hoạch cho thế giới sau chiến tranh – đang có tư thế có thể giúp ông Hồ giành lại tự do cho đất nước từ tay người Pháp và đồng thời ngăn chặn được sự xâm nhập của Trung Hoa Quốc dân Đảng?

Chính sách của chính quyền Mỹ trong thời gian chiến tranh đối với vấn đề Đông Dương có lúc tỏ ra tích cực nhưng cũng có lúc mập mờ. Tổng thống Ru-dơ-ven (Roosevelt) có lúc đã nhận được sự chấp thuận có tính chất thăm dò của Xta-lin và Tưởng Giới Thạch về việc thực hiện chế độ ủy trị đối với Đông Dương sau chiến tranh, mặc dù trước đó cả hai nước này đã tán thành ý kiến trao trả độc lập cho người Việt Nam. Sớc-sin (Churchill) đã có phản ứng tiêu cực đối với đề nghị thực hiện chế độ ủy trị và Ru-dơ-ven đã chê trách ông ta là một kẻ theo chủ nghĩa đế quốc già cỗi. Tuy nhiên Ru-dơ-ven lại có thái độ có phần mập mờ khi có thời cơ cần phải làm cái gì đó để mở đường thực hiện độc lập cho Việt Nam. Tháng 10-1944, ông ta nói với Bộ trưởng Ngoại giao Co-đen Hun (Cordell Hull): “Chúng ta không được có bất cứ quan hệ nào đối với các nhóm kháng chiến ở Đông Dương”. Và khi một phái đoàn của phe nước Pháp tự do tới Kandy (Xây-lan) để yêu cầu Bộ tư lệnh Đông Nam Á của Đồng minh giúp đỡ, Ru-dơ-ven đã ra lệnh: “Không một đại diện nào của Mỹ ở Viễn Đông, bất kể là dân sự hay quân sự, được phép có bất cứ quyết định nào liên quan đến các vấn đề chính trị với người Pháp hay bất cứ người nào khác”.

“Người nào khác” có thể bao gồm cả ông Hồ Chí Minh mặc dù Ru-dơ-ven chưa từng nghe nói về ông ta. Ông Hồ từ lâu vốn là người bí ẩn, có nhiều tên gọi. Về điều này, ta chỉ cần nhớ lại thời kỳ 1939, khi ông Hồ còn lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Năm ấy, tiếp theo sự thất bại của Mặt trận Bình Dân ở Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương do ông Hồ xây dựng phải phân tán và đi vào hoạt động bí mật. Khi quân Nhật tràn vào Bắc Kỳ tháng 9-1940, những người cộng sản và những người quốc gia không cộng sản đã tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống cả Pháp và Nhật, nhưng đã nhanh chóng bị đàn áp. Tháng 5-1941, sau khi Nhật dựng lên chế độ bù nhìn gồm những người Pháp theo chính phủ Vichy, ông Hồ cùng những người cộng sản Việt Nam khác đã tổ chức cuộc họp với một số người theo chủ nghĩa quốc gia tại Tsin Li trên đất Trung Quốc gần biên giới Bắc kỳ. Họ đã tập hợp nhiều bộ phận đang hoạt động phân tán vào tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh-gọi tắt là Việt Minh-và linh hồn lãnh đạo của tổ chức này, người được bầu làm người đứng đầu, là ông già để râu Nguyễn Ái Quốc, người bất ngờ xuất hiện trong buổi họp, mặc dù trước đó nhiều người tin rằng ông đã chết vì bệnh lao ở trong rừng nhiều năm rồi. Không hề phô trương mình là người cộng sản, ông Hồ đã cùng với bạn bè tập trung vào việc thành lập một mặt trận quốc gia chung để tiếp tục cuộc chiến đấu chống cả Nhật và Pháp để giành tự do cho Việt Nam.

Quang Doãn
(giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 1: Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ

Kỳ 3: “Ông già người Việt” và những cuộc gặp với người Mỹ

qdnd.vn

Tầm nhìn Hồ Chí Minh qua con mắt một nhà báo Mỹ – Kỳ 1

QĐND – Trong cuốn sách của mình, Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ (The Lost Revolution), được xuất bản năm 1965, nhà báo Mỹ Rô-bớt Sáp-lân (Robert Shaplen) cho rằng, Pháp và Mỹ đã không nhận định đúng về Cụ Hồ Chí Minh và không biết ứng xử một cách thực tế vào năm 1945 và 1946 đối với cuộc Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam, gây ra hai cuộc chiến tranh tàn bạo và phi lý, để rồi cùng phải chịu thất bại thảm hại nặng nề nhất trong lịch sử đối với cả Pháp và Mỹ. Cuộc cách mạng bị bỏ lỡ chủ yếu nói về tình hình Việt Nam, những diễn biến trong những tháng trước cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1965, khi Mỹ đẩy mạnh leo thang chiến tranh Việt Nam.

Xin trích giới thiệu với bạn đọc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Ma-ghi-uýt Mu-tê (Marius Moutet) ký bản tạm ước Việt – Pháp ngày 14-9-1946. Ảnh tư liệu

Câu chuyện của viên Trung úy Mỹ

Trong những tháng trước và sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nếu như mối quan hệ giữa người Mỹ và Việt Minh ở Nam Kỳ chưa bao giờ vượt qua tính chất thăm dò thì ở phía Bắc, mối quan hệ đó lại có phần chặt chẽ hơn rất nhiều. Có nhiều thời điểm trong lịch sử đã xảy ra những sự kiện mà sau này nhìn lại dù còn mờ mịt hay rời rạc, những sự kiện ấy vẫn gợi ra rất nhiều giả định về khả năng phát triển tình hình tiếp sau đó: Giá như vào thời điểm đó những sự kiện ấy đã được đánh giá một cách khác đi, giá như cứ để cho những sự kiện ấy được tiến triển thuận chiều… thì cả chuỗi sự kiện tiếp theo có thể đã khác đi rồi chăng? Ngày nay (năm 1965), chúng ta có cơ sở để tin rằng đã từng có những mối quan hệ giữa ông Hồ Chí Minh và một số người Mỹ trong năm 1945 và 1946, và đặc biệt hơn là mối quan hệ của ông Hồ với một nhóm nhỏ nhà chính trị và ngoại giao Pháp. Ngày nay, người ta có thể dễ dàng gạt bỏ những sự kiện ấy và cho rằng ý nghĩa của chúng chẳng có gì quan trọng nếu cứ đinh ninh rằng những người cộng sản và đặc biệt là ông Hồ chưa bao giờ có một ý đồ nào khác ngoài việc lập một quốc gia cộng sản theo hình ảnh Mát-xcơ-va ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo quan điểm của một số người với từng mức độ am hiểu tình hình chính trị khác nhau sau chiến tranh thế giới II và từng góp phần tạo nên lịch sử của thời kỳ đó, những giả thiết xa xôi như thế chỉ là sự giản đơn hóa quá mức cả một chuỗi tình huống chính trị hết sức tế nhị và phức tạp lúc bấy giờ.

Tôi vẫn luôn có chung quan điểm với rất nhiều, nếu không nói là phần lớn những người đã theo dõi tình hình Đông Dương, là vào thời kỳ đó cả người Pháp và Mỹ, đặc biệt là những nhà vạch chính sách chủ chốt của nước Pháp ở Pa-ri lúc bấy giờ, đã phạm một sai lầm nghiêm trọng không biết ứng xử một cách thực tế hơn với ông Hồ Chí Minh vào năm 1945 và 1946, và bởi đó, toàn bộ tiến trình các sự kiện tiếp sau đó có thể đã diễn biến khác đi, dẫn đến chiến tranh đổ máu. Trong những năm gần đây (giữa thập kỷ 1960 – ND), một số quan chức Mỹ ở cấp cao nhất đã nói với tôi rằng, theo họ nghĩ đáng lẽ ra cần phải đi một nước cờ táo bạo với ông Hồ Chí Minh vào thời đó. Lịch sử, trái với lòng tin của nhiều người, rất hiếm khi tự lặp lại và cũng rất hiếm khi có được thời cơ lần thứ hai. Đây là một trong những thảm kịch đặc biệt của chính sách Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tiên.

Có nhiều cách thuật lại khác nhau trong việc ông Hồ tìm cách liên lạc với phương Tây trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng ta hãy bắt đầu bằng một chuyện tuy có phần chất phác đơn sơ, nhưng lại nói lên được rất nhiều thực tế lúc bấy giờ. Đó là câu chuyện về  một cựu Trung úy Lục quân Mỹ – trong câu chuyện này tôi chỉ được gọi anh ta là Giôn (John) – người vào tháng 5-1945 đã nhảy dù xuống khu căn cứ của ông Hồ nằm trong rừng gần làng Kim Lũng ở Việt Bắc để thực hiện nhiệm vụ thiết lập một đường dây bí mật giải thoát các nhân viên quân sự Đồng Minh. Làng Kim Lũng ở ven khu rừng già, nằm khuất sau lùm cây rậm. Những thung lũng nhỏ hẹp lọt giữa những dãy núi cao và ở một trong những thung lũng nhỏ đó, khu căn cứ của ông Hồ Chí Minh gồm 4 chiếc lán nhỏ cất bên cạnh một dòng suối dưới chân một đỉnh núi cao cách biệt với thế giới bên ngoài. Mỗi lán chỉ rộng khoảng 1,2 mét vuông, cột tre đỡ sàn cao cách mặt đất khoảng 1,2 mét. Ông Hồ cũng sống kham khổ như những người khác.

Chính giữa cái nôi cách mạng nguyên sơ nằm sâu trong vùng Nhật kiểm soát, Trung úy Giôn đã có cơ hội độc nhất được sống và làm việc với ông Hồ trong nhiều tháng. Anh ta nhận thấy, ông Hồ hoàn toàn có thái độ hợp tác khi ông phái các toán du kích đi trinh sát lùng sục yểm trợ, kể cả một lần đi cứu một số người Pháp bị giam giữ gần biên giới Trung Quốc. Giôn đã dùng chiếc máy vô tuyến xách tay của anh để giúp ông Hồ bắt liên lạc lần đầu tiên với những nhân viên thương lượng người Pháp lúc bấy giờ đang ở Côn Minh, Trung Quốc, những người mà chẳng bao lâu sau đó có thể sẽ cùng tranh luận với ông Hồ ở Hà Nội về tương lai của Đông Dương sau chiến tranh. Nhưng chính bản thân Giôn đã đóng một vai trò trực tiếp hơn liên quan tới những vấn đề của Việt Nam trong câu chuyện thân mật với ông Hồ khi ông đang chuẩn bị cho bản Tuyên ngôn Độc Lập.

Giôn kể lại: “Ông Hồ nhiều lần hỏi tôi có thể nhớ được lời văn của bản Tuyên ngôn Độc lập của chúng ta (Mỹ) không. Tôi chỉ là một người Mỹ bình thường, làm sao tôi nhớ được. Tất nhiên, nếu cần tôi có thể điện về Côn Minh xin thả dù cho tôi một bản”. (Có một điều ít người biết, chính ở sân bay Lũng Cò – Tuyên Quang, một bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã được Không đoàn 14 thả xuống theo yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc… – “Đường dẫn đến Tuyên ngôn độc lập” của Đại tá Thế Kỷ, người giúp việc cho ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ – theo Báo Tuổi Trẻ cuối tuần 31-8-2008).

Nhưng điều cốt yếu mà ông Hồ cần lại chính là tinh thần toát lên của bản tuyên ngôn đó. Càng trao đổi ý kiến với ông, tôi càng thấy thực sự ông biết nhiều hơn tôi. Trong hầu hết mọi chuyện tôi trao đổi với ông, ông đều biết rõ hơn tôi, nhưng thấy yêu cầu của ông rất kiên quyết, buộc lòng tôi cũng phải nói lên ý kiến của mình và thật là một điều lạ là ông rất chú ý lắng nghe tôi nói. Ông Hồ thật sự là một người hết sức dễ mến. Nếu như tôi phải nêu lên một đức tính về ông già đang ngồi trên ngọn đồi trong khu rừng ngày ấy, thì đó là đức tính hiền hậu ở con người ông”.

Quang Doãn
(Giới thiệu và biên dịch)

Kỳ 2: Bức thư của Hồ Chí Minh

qdnd.vn

Đi tìm tư liệu về Bác Hồ ở nước Nga

Bác Hồ vào năm 1933 khi vừa từ Trung Quốc trở lại Nga (ảnh do Bảo tàng Hồ Chí Minh thu thập được trong chuyến công tác tại Nga cuối năm 2006)

TT – “Sau một tháng sang Nga tìm tư liệu về Bác, chúng tôi đã có không phải ba trang mà 1.000 trang, trong đó có khoảng gần 30% là tư liệu mới” – ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, chia sẻ những thông tin mới nhất mà các cán bộ bảo tàng mới mang về từ nước Nga.

Là một người làm lưu trữ hơn 20 năm, chị Phạm Thị Lai – trưởng phòng tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, người phụ trách nhóm công tác – cẩn trọng: “Tất cả sẽ được công bố sau khi chúng tôi đã phân loại, nghiên cứu và trình kết quả lên cấp có thẩm quyền. Có những bí mật mà tôi không đủ thẩm quyền công bố, và thật ra thì ngay ở Nga nó cũng chưa được giải mật”.

Chị Lai kể về một tháng tìm kiếm, làm việc kể từ khi đặt chân xuống sân bay Domodedovo đến khi xách những chiếc vali nặng trĩu tài liệu quí về nước: “Lưu trữ lịch sử chính trị quốc gia Nga là cơ quan lưu trữ lớn nhất nước Nga, có tới 685 phông lưu trữ (phông là đơn vị lưu trữ lớn nhất theo thuật ngữ của chuyên ngành lưu trữ) với 2,1 triệu hồ sơ lưu trữ. Trong đó tư liệu về Đảng Cộng sản VN và Bác Hồ chỉ là một mục lục trong một hồ sơ, với số lượng tài liệu hiện vật khoảng 7.000 trang. Trước đây, thời Liên Xô, các bạn có tặng chúng ta hầu hết các tài liệu mà họ lưu giữ, song chỉ là bản sao chụp, đen trắng, không rõ nét, nay chúng tôi phải tìm cách tiếp cận với hồ sơ gốc để scan. Qui định của cơ quan lưu trữ Nga là mỗi người mỗi ngày chỉ được đọc 5 đơn vị hồ sơ, 1.000 trang cũng tính là một đơn vị mà 1 trang cũng tính là một đơn vị, mà đặt tài liệu vào thứ hai thì thứ tư mới có để đọc”.

Trong số tài liệu mang về, chị Lai thích nhất bức ảnh Bác Hồ vào năm 1933, khi từ Trung Quốc quay lại Nga, với áo dài, khăn, giày, kính như một phú thương Trung Hoa (ảnh). Chị Lai kể: “Bảo tàng của chúng tôi có trưng bày cả bộ quần áo ấy, cả khăn, mũ kính ấy, nhưng chưa có một tài liệu nào, hình ảnh nào cho thấy Bác đã mặc chúng như thế nào. Khi nhìn thấy bức ảnh ấy lần đầu trong lưu trữ Nga, tôi đã nghẹn ngào vì sung sướng. Hay là tấm thẻ Bác chụp để đi dự Đại hội lần 7 của Quốc tế cộng sản năm 1935, với bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp và Đức, Bác đã gầy và già đi bao nhiêu so với tấm ảnh trong thẻ dự đại hội 5 Quốc tế cộng sản vào năm 1924. Rồi tấm thẻ đảng viên Đảng Cộng sản Pháp năm 1922 với tên Henri Tchen (Henri Trần). Chúng tôi từng thống kê Bác có hơn 160 tên, nhưng mỗi lần gặp một tài liệu với một tên mới của Bác, vẫn không bao giờ hết ngạc nhiên về khả năng phi thường của Người”.

Chị Lai cho biết chuyến đi Nga lần này của đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh có nhiều điều thú vị: phát hiện khá nhiều thư Bác gửi các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô, hầu hết viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, được trợ lý của họ dịch ra tiếng Nga và được cơ quan lưu trữ Nga gìn giữ rất cẩn thận, dù chỉ là hai dòng bút tích. Cũng có những bức thư viết bằng tiếng Nga, rất tình cảm, đặc biệt khi trình bày về các vấn đề thuộc địa. “Chúng tôi cũng đã tìm thấy những bức thư Bác gửi Quốc tế cộng sản xin được quay về Đông Dương, về VN hoạt động. Có những tư liệu về Bác chúng tôi tìm thấy không phải ở “Lưu trữ cá nhân – Nguyễn Ái Quốc” trong Lưu trữ quốc gia, mà ở Lưu trữ cá nhân của Stalin. Tôi hi vọng trong thời gian tới có thể nghiên cứu, báo cáo và công bố những tư liệu này” – chị Lai cho biết.

THU HÀ
Tuổi trẻ Online

Hòa thượng Nhật Bản 96 tuổi làm thơ khóc Bác Hồ

Tháng 11/2007, khi tháp tùng Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Phu nhân thăm chùa Thanh Thuỷ nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản, Hoà thượng Seihan Mori, trụ trì chùa Thanh Thuỷ hiện nay có nói về câu chuyện này… Vừa rồi, nhân chuyến đi Kyoto, Đại sứ Nguyễn Phú Bình và tôi quay lại thăm chùa, gặp Hoà thượng Seihan Mori và được nghe lại câu chuyện trên. Là nhà ngoại giao Việt Nam đang ở trên đất nước hoa anh đào, tôi thực sự xúc động khi được nghe Hòa thượng Nhật Bản kể lại câu chuyện này và quyết định viết lại để chia sẻ cùng độc giả.

Đó là câu chuyện vị hòa thượng trụ trì chùa Thanh Thủy cách đây gần 40 năm viết thơ khi hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Bài thơ gây xúc động lòng người sau bao thăng trầm cuối cùng đã được trao tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh vào năm 1990.

Kiyomizu dera, âm Hán Việt là Thanh Thủy tư, có nghĩa là chùa có dòng nước trong xanh. Chùa được đặt tên theo thác nước dưới chân núi Otowa, nằm trong khuôn viên chùa, được xem là một trong 10 thác nước sạch, linh thiêng nhất ở Nhật.

Được xây dựng vào năm 778 ở phía Đông thành phố Kyoto, Chùa là một trong ba ngôi chùa xưa nhất, nổi tiếng nhất ở Nhật Bản. Tượng được thờ ở chánh điện là tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Cùng với chùa Asakusa ở Tokyo, đây là hai chùa nổi tiếng về sự linh thiêng mầu nhiệm của đức Quan Âm từ ngàn xưa. Chánh điện và sàn sân được xây dựng vào năm 1633, được liệt vào hàng quốc bảo của Nhật. Năm 1994, toàn bộ khuôn viên chùa Thanh Thủy đã được UNESCO xếp hạng Di sản Văn hóa Thế giới.

Nói đến chùa Thanh Thủy không thể không nhắc đến cố Hòa thượng Onishi Ryokei (1875-1983), người trụ trì và có công rất lớn đối với chùa Thanh Thủy thời cận đại, là một trong những người có tuổi thọ cao nhất ở Nhật và rất có cảm tình với Việt Nam. Trước năm 1975, Hòa thượng Onishi cực lực phản đối sự tham chiến của quân đội Mỹ vào Việt Nam. Đặc biệt, năm 1969, khi hay tin Bác Hồ mất, Hòa thượng Onishi (lúc bấy giờ 94 tuổi) đã làm một bài thơ chữ Hán theo kiểu thất ngôn tứ tuyệt. Chính tay Hòa thượng viết bài thơ lên một khổ giấy lớn để tỏ lòng kính tiếc… Khi viết xong, Hòa thượng đã nhờ người mang sang Việt Nam, nhưng có lẽ do giao thông cách trở, ý nguyện đó không thực hiện được.

Đúng 20 năm sau, vào năm 1989, đệ tử của Hòa thượng Mibu Shojun (một người bạn tâm giao của Hòa thượng Onishi), trụ trì chùa Hoa Tạng ở Tokyo, đã tìm thấy bài thơ này được cất giữ cẩn thận trong kho lưu trữ và trao trả về cho chùa. Ngày 24/10/1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ, chùa Thanh Thủy đã long trọng tổ chức lễ trao bài thơ truy điệu đó cho Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản lúc bấy giờ là Đại sứ Võ Văn Sung, với sự chứng kiến của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Bài thơ đó hiện nay được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Phiên âm Hán – Việt của bài thơ :

Cứu quốc chân nhân thăng bích không
Mê đồ dân chúng khốc bi trung
Cổ kim hi kiến lão anh kiệt
Nhất diệp phong phiên thu sắc mông.
Nhật Bản tăng Diêu điệu Hồ Chí Minh đại thống lãnh các hạ thệ khứ Cửu thập lục tẩu

Tạm dịch :
Người thực sự cứu nguy dân tộc đã trở về cõi vĩnh hằng
Toàn dân tộc đang trong lầm than khóc thương Người
Xưa nay tôi chưa từng thấy vị hào kiệt nào vĩ đại như Ngài
Than ôi ! Gió cuốn một chiếc lá bay đi làm cho mùa Thu thêm ảm đạm.
Lão tăng Nhật Bản, 96 tuổi, truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lê Đức Lưu
Tổng Lãnh sự Việt nam tại Osaka

“Chúng ta sáng tạo! Chúng ta xây dựng! Chúng ta tiến lên”

 – “Ông Hồ phàn nàn là tình hình sẽ rất khó khăn và có chiều hướng hoàn toàn xấu. Nhưng ông Hồ nói cuối cùng thì Việt Nam cũng sẽ được giải phóng khỏi người Pháp, Trung Quốc hay bất kỳ nước ngoài nào khác…. Trong một phút linh cảm, ông Hồ đã nhận xét là sẽ có đổ máu trong tương lai. Nếu người Trung Quốc thực sự chống đối lại nền độc lập của Việt Nam, nhân dân ông  nhất định sẽ kháng cự lại bằng vũ khí…  Và nếu sự đe dọa của người Pháp trở thành hiện thực thì sẽ có cuộc chiến tranh toàn diện… Ông cho biết là sự có mặt của quân đội Trung Quốc đã làm ông phiền muộn”.

Đó là ghi chép và nhận thức của Thiếu tá Archimedes Patti, người đứng đầu cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ (OSS) đang có mặt tại Hà Nội sau cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 10/9/1945 về tình thế phức tạp của đất nước ta vào thời điểm đó.

Cuộc gặp này diễn ra ngay sau khi người đúng đầu nhà nước Việt Nam chiêu đãi Tướng Tiêu Văn, người chỉ huy đơn vị quân đội của Trung Hoa Quốc dân Đảng vừa kéo vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật.

“Người ta mỗi ngày ai cũng rửa mặt, vài hôm phải tắm giặt để giữ cho thân thể sạch sẽ, mạnh khoẻ. Người cách mạng cũng thế, trước hết là cán bộ chính quyền và Đoàn thể cách mạng, mỗi người cũng phải rửa các mặt tinh thần, tư tưởng của mình, để tẩy sạch những chứng bệnh, những khuyết điểm. Chính quyền và Đoàn thể cũng cần thường thường rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng”Trích bài “Chỉnh đốn Đoàn thể và Chính quyền” của Bác, với bút danh X.Y.Z đăng trên báo “Sự Thật” ngày 10/9/1950.

fChủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến đi thăm Pháp 1946.

Ngày 10/9/1960, tại phiên bế mạc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Bác được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương và cương vị Chủ tịch Đảng.

Trong diễn văn bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà… Mười lăm năm trước đây, chỉ có 5000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi.

Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng nhất định lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà đến thắng lợi… Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn cản được chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ Ba đọc ngày 10/9/ 1960.

Cách đây 68 năm, ngày 10/9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do kết thúc gần 13 tháng (kể từ 29/8/1942) bị các thế lực quân phiệt Trung Hoa giam giữ tại 30 nhà tù thuộc 13 huyện ở Quảng Tây.

Bài thơ thứ 134 nhan đề “Kết luận” cũng khép lại tập thơ “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù). Bài thơ chữ Hán này nhằm bày tỏ lời cám ơn với Hầu Chí Minh là người đã trực tiếp ký lệnh trao trả tự do. Bài thơ được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch ra quốc ngữ:  “Sáng suốt, nhờ ơn Hầu chủ nhiệm/ Tự do trở lại với mình rồi/ Ngục trung nhật ký từ đây dứt/ Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người” cho thấy cách ứng xử của Bác rất có hậu đối với những người mình mang ơn.

X&N

bee.net.vn

“Hoan nghênh các người bạn Mỹ của chúng tôi”

– Chiều ngày 17/7/1945, một đơn vị vũ trang mang biệt danh “Con Nai” (The Deer) của cơ quan Tình báo Chiến lược Mỹ (OSS) do Thiếu tá A. Thomas chỉ huy, theo sự thoả thuận của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhảy dù xuống Tân Trào và được Việt Minh đón tiếp.

Theo kế hoạch đơn vị này sẽ tham gia huấn luyện để cùng các chiến sĩ Việt Minh thành lập một “Đại đội Việt Mỹ” do Võ Nguyên Giáp làm tư lệnh, Đàm Quang Trung làm đại đội trưởng và Thomas làm cố vấn.

Về cuộc đổ bộ đường không này, “Nhật ký của Đội Con Nai” do Thomas viết mô tả: “Chúng tôi được… 200 lính bảo vệ có vũ trang của Đảng Việt Minh chào đón… Tiếp đó chúng tôi đuợc dẫn đi qua các đường rừng và đi qua một cái cổng chào bằng tre có khẩu hiệu bằng tiếng Anh “Hoan nghênh các người bạn Mỹ của chúng tôi”.

Tháng 8/1945 HCM chụp kỷ niệm cùng đơn vị OSS (Mỹ) tại Hà NộiTháng 8/1945 HCM chụp kỷ niệm cùng đơn vị OSS (Mỹ) tại Hà Nội.

Tiếp đó, chúng tôi được hướng dẫn tới bản doanh của mình vừa mới được xây dựng… Rồi chúng tôi được gặp ông Hồ, lãnh đạo của Đảng. Ông Hồ đã ân cần đón tiếp chúng tôi và đưa cho chúng tôi thịt bê rán và mấy chai bia Hà Nội dùng cho bữa tối của chúng tôi. Chúng tôi đã trải qua một đêm yên ổn và sung sướng vì cuối cùng đã đến nơi…”

Ngay trong cuộc tiếp xúc đầu tiên, người đứng đầu Mặt trận Việt Minh đã khẳng định mục tiêu của sự hợp tác Việt-Mỹ là chống phát xít Nhật giành độc lập cho các dân tộc Đông Dương, lên án những âm mưu của nước Pháp thực dân. Về Chủ tịch Hồ Chí Minh, A. Thomas viết: “Lý lịch của ông C.M.Hồ (cách viết họ và tên của người phương Tây)… là cả một sự bí hiểm đối với chúng tôi. Hồ là bí danh của ông ta. Sau này khi trở thành Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Minh ở Hà Nội, ông ta mới công bố tên thật là Hồ Chí Minh…

Tôi có một cuộc thảo luận với ông Hồ về vấn đề người Pháp. Ông khẳng định rằng: “Đảng Việt Minh hay là mặt trận, là một sự hợp nhất của các đảng phái chính trị được tổ chức ra với một mục đích duy nhất là đánh đổ tất cả các chính quyền nước ngoài và đấu tranh cho tự do và hoàn toàn độc lập của Đông Dương…

Ông ta khẳng định rằng có ít nhất 85% số dân ở Bắc Kỳ là hội viên hoặc có cảm tình với những mục tiêu đấu tranh của Việt Minh. Người quan sát bình thường nhất cũng có thể thấy rõ ràng là những người nông dân không hiểu danh từ chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là gì, thế nhưng họ hiểu được tự do-độc lập…”.

X&N
bee.net.vn

Nhà báo Pháp và “Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh”

 – Ngày 15/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của nhà báo Charles Fourniau, đai diện thường trú của Đảng Cộng sản Pháp và tờ báo L‘Humanité (Nhân Đạo) tại Hà Nội. Đây cũng là cuộc phỏng vấn trực tiếp cuối cùng của Bác.

Với câu hỏi “Chủ tịch đã tìm thấy tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách nào?”, Bác kể lại: “Khi tôi nêu ra câu hỏi: Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế thứ Ba. Rồi một đồng chí đưa tôi đọc Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc của Lênin vừa đăng rên báo “Nhân Đạo”.

eNguyễn Ái Quốc thời gian ở Pháp.

Bài đó khó hiểu, vì có những từ ngữ mà tôi không biết rõ. Nhưng tôi đọc đi đọc lại và dần dần tôi hiểu ý nghĩa của nó một cách sâu sắc. Bản Luận cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên. Ngồi một nình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó tôi đã có một sự lựa chọn: tán thành Quốc tế thứ Ba và hoàn toàn tin Lênin”.

Nhận thức về Lênin, Bác nói với nhà báo Fourniau: “Trước con mắt các dân tộc phương Đông, Lênin không phải chỉ là một lãnh tụ, một người chỉ huy. Đó cũng là một người thầy có sức hấp dẫn; tĩnh coi thường sự xa hoa, lòng ham mê công việc, đời sống trong sách, sự giản dị và tâm hồn cao thượng của Người làm cho chúng tôi hướng về Người không gì ngăn cản nổi… Đối với chúng tôi là những người bị ngược đãi, sỉ nhục, Lênin là hiện thân của tình bác ái” và khẳng định:“Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin… Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi như đồng chí đã biết…” .

Nội dung cuộc phỏng vấn này được công bố trên báo “Nhân Dân” ngày 5/3/1970. Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch. Fourniau đã thuật lại cuộc phỏng vấn này trong bài viết “Một giờ với đồng chí Hồ chí Minh”và cho biết rằng trong lúc đang diễn ra cuộc phỏng vấn, có một cán bộ đến xin phép được tình bày với Bác một việc riêng. Bác trao đổi xong với người cán bộ của mình đã lịch thiệp quay sang nói với vị khách nước ngoài rằng đó là câu chuyện một số cơ quan đề nghị chương trình tổ chức những ngày lễ lớn trong năm 1970, trong đó có ngày Quốc khánh, ngày sinh của Lênin và ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều là năm chẵn.

Sau khi nghe xong những đề nghị trên, Bác đã chỉ thị phải tổ chức chu đáo ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin nhưng riêng với ngày sinh của Bác thì hãy dành toàn bộ kinh phí để in sách giáo khoa cho học sinh nhân năm học mới…

X&N
bee.net.vn

Hồ Chí Minh và viên tướng Mỹ

 Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Tướng Mỹ Claire Chennault, Tư lệnh không đoàn số 14 của Mỹ, cũng là người đại diện cao nhất của Đồng Minh ở vùng Hoa Nam, Trung Quốc để thoả thuận sự hợp tác chống phát xít Nhật ở Đông Dương.

Cuộc gặp này được bố trí bởi Trung uý hải quân Charles Fenn, công tác tại cơ quan Cứu trợ mặt đất của Mỹ ở Trung Hoa (AGAS), người đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Hồ Chí Minh cách đó 10 ngày (18/3/1945).

Sau này, trong cuốn sách viết về tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh xuất bản bằng tiếng Anh vào năm 1973 của Ch.Fenn, được trích dẫn lại trong cuốn “Tại sao Việt Nam?”(Why Vietnam?) của Đại tá Archimedes Patti, chi tiết này được đánh giá như một bước ngoặt quan trọng vì sự xác lập được mối quan hệ đồng minh giữa Việt Minh và Hoa Kỳ cũng như xác lập được vị thế “đứng về phía Đồng Minh” trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít của Hồ Chí Minh nói riêng và lực lượng Việt Minh nói chung.

Tháng 8-1945, tạ Hà Nội,Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS củ (90KB)Tháng 8/1945, tạ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp ảnh kỷ niệm với đơn vị OSS.

Ch.Fenn cho biết, ông đã được nghe nói về một người An Nam tên gọi là “Hu Tze-ming” đã giúp cho viên phi công Mỹ tên là trung uý Shaw, nằm trong số 9 viên phi công trên những phi cơ tham gia các cuộc không kích ở vùng sông Sài Gòn bị quân Nhật bắn hạ. Trung uý Shaw được Việt Minh cứu sống và Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng tổ chức đưa viên phi công này qua Côn Minh (Trung Quốc) để giao lại cho Đồng Minh.

Thực hiện đề nghị của Hồ Chí Minh, Ch.Fenn đã bố trí cuộc gặp này và thuật lại trong hồi ức của mình: “Chelnault rất cảm ơn ông Hồ về việc người phi công được cứu thoát, ông Hồ đáp lại bao giờ ông cũng sung sướng được giúp đỡ người Mỹ và đặc biệt là giúp tướng Chelnault mà ông ta hết mực ca tụng. Họ trò chuyện về đội “Hổ Bay” (biệt danh của các đơn vị tinh nhuệ trong Tập đoàn không quân số 14 của viên tướng này)… Họ bàn chuyện cứu các phi công bị nạn.

Không ai nói gì đến người Pháp hoặc nói chuyện chính trị. Tôi thở phào khi mọi người sắp từ biệt nhau. Lúc đó ông Hồ nói rằng ông muốn xin một vật kỷ niệm nhỏ… và tất cả cái mà ông ta muốn chỉ là một cái ảnh của tướng Chelnault.”

Viên tướng Mỹ vốn rất hãnh diện với diện mạo và những chiến tích của mình đã đưa ra một sấp ảnh khổ 8X10cm và đề nghị Hồ Chí Minh chọn lấy một chiếc. “Ông Hồ cầm lấy một chiếc và hỏi tướng Chelnault có vui lòng cho xin chữ ký? Chelnault liền viết ở dưới tấm ảnh “Bạn chân thành của Anh. Claire L.Chelnault”.

Sau này cả hai viên sĩ quân tình báo của đơn vị OSS (Cơ quan tình báo chiến lược), tiền thân của CIA sau này, là Ch.Fenn và A.Patti, đều đánh giá rằng nhà cách mạng Việt Nam đã khôn khéo sử dụng tấm ảnh có lời đề tặng này để gây thanh thế đối với các nhà lãnh đạo Trung Hoa cũng như lực lượng người Việt đang có mặt tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

 Hơn thế từ cuộc gặp mặt này những mục tiêu của Hồ Chí Minh đã được thực hiện nhằm xác lập vị thế của Việt Minh và những sự hỗ trợ cụ thể (chủ yếu là phương tiện thông tin, vũ khí, tin tức tình báo) giữa hai bên góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tháng Tám giành độc lập cho dân tộc Việt Nam gắn với cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít Nhật.

Về sau này, trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc, kể cả việc Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, 2 cựu sĩ quan Mỹ này vẫn giữ được sự trân trọng đối với cá nhân cũng như sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Chelnault đã cảm ơn việc cứu phi công Mỹ và hỏi Việt Minh có sẵn sàng giúp cứu phi công Đồng Minh bị rơi ở Đông Dương không? Hồ Chí Minh trả lời rằng “bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những việc có thể làm được để giúp đỡ Đồng Minh”.

Trước khi chia tay, viên tướng Mỹ đã tặng Hồ Chí Minh một tấm chân dung của mình kèm theo lời đề tặng “Bạn chân thành của ông”. Sau cuộc gặp này nhiều hoạt động chuẩn bị được thiến hành và tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về nước đưa theo 2 báo vụ viên và một số thiết bị liên lạc về chiến khu Việt Bắc.

X&N
bee.net.vn