Thư viện

GS Hoàng Minh Giám kể về những ngày vận nước “nghìn cân treo sợi tóc” (P 1)

Kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám, Báo DVT. vn trân trọng giới thiệu lời kể của GS Hoàng Minh Giám về những ngày “trứng nước” của nền cộng hòa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tướng Leclerc, và Sainteny.

LỜI NÓI ĐẦU

GS Hoàng Minh Giám sinh năm 1904, tại làng Đông Ngạc, ngoại thành Hà Nội; mất năm 1995; cuộc đời trải dài gần trọn thế kỷ XX.

Phụ thân ông là cụ Phó bảng Hoàng Tăng Bí; mẫu thân là cụ bà Cao Nộn Thúy, con gái cụ Cao Xuân Dục, Thượng thư Bộ Học, Hiệp biện Đại học sĩ, Tổng tài Quốc sử quán.

Sinh ra và lớn lên trong một danh gia vọng tộc tầm cỡ lớn nhất đất nước, được xã hội đương thời ưu đãi, song, ngay từ thời trẻ, GS Hoàng Minh Giám đã căm ghét chế độ thực dân Pháp và hướng về Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông trở thành một cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Là một gương mặt đại trí thức của thế kỷ XX, ông cũng là một nhân chứng lớn của lịch sử nước ta thời hiện đại.

Với tư cách Phó Tổng Biên tập, rồi Tổng Biên tập tạp chí Tổ Quốc, tôi may mắn được làm việc gần gũi GS Hoàng Minh Giám trong khoảng mười năm (1979 -1989), khi Giáo sư giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Biên tập tạp chí này (Chủ tịch Hội đồng Biên tập là GS Nguyễn Xiển). Vì thế, tôi được Giáo sư cho phép ghi nháp một số trang hồi ký. Bản ghi nháp ban đầu còn vụng về ấy, sau đó, được đích thân Giáo sư sửa chữa và nhuận sắc kỹ để bảo đảm độ trung thực và chuẩn xác tối đa.

Trân trọng giới thiệu một số trang hồi ký của Giáo sư với bạn đọc Báo DVT.vn.

HÀM CHÂU

PHẦN 1

Ngày 9/3/1945, quân đội Nhật đảo chính Pháp, lật đổ bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.

15 ngày sau (24/3/1945), chính quyền Pháp do De Gaulle cầm đầu, lưu vong ở nước ngoài, ra một tuyên ngôn, nói rằng sau chiến tranh, Pháp vẫn sẽ trở lại Đông Dương.

Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng các nước Đồng minh. De Gaulle vội vàng cử tướng Leclerc chỉ huy quân đội viễn chinh đi tái chiếm Đông Dương, và cử thủy sư đô đốc d’Argenlieu làm Cao ủy Cộng hòa Pháp ở Đông Dương (tức là toàn quyền Đông Dương, với một nhãn hiệu mới). Chính phủ De Gaulle cử một “quan cai trị thuộc địa” tên là Cédille làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ (tức là thống đốc Nam Kỳ), và một “quan cai trị thuộc địa” tên là Messmer làm ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ (tức thống sứ Bắc Kỳ).

Lúc đó, Cách mạng Tháng Tám đã thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thành lập. Tên Cédille nhảy dù xuống vùng Tây Ninh. Tướng Gracey chỉ huy quân đội Anh (được các nước Đồng minh ủy nhiệm giải giáp quân đội Nhật) ra sức giúp Leclerc và Cédille bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược miền nam nước ta. Leclerc huênh hoang tuyên bố sẽ “bình định Nam Kỳ” trong vòng bốn tuần lễ.

Tên Messmer nhảy dù xuống vùng Bắc Ninh, bị dân quân địa phương bắt được, nhưng dân quân vì sơ suất, để nó sổng mất.

Trong thời gian đó, một sĩ quan tình báo Pháp tên là Sainteny, chỉ huy một đơn vị tình báo Pháp đóng ở Côn Minh (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), đi nhờ một máy bay Mỹ đến Gia Lâm, bị quân đội Nhật phát hiện, đưa về Hà Nội, giam lỏng ở phủ toàn quyền.

Một ngày trong khoảng giữa tháng 9/1945, tôi đang làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở Bộ Nội vụ, đồng thời là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh), một đồng chí cảnh vệ gác cổng vào báo cáo có hai người nước ngoài xin gặp một quan chức Việt Nam. Được cho vào, hai người kia nói: “Chúng tôi là hai sĩ quan Pháp, giúp việc ông Sainteny, gặp đại diện của Chính phủ Việt Nam để trao đổi ý kiến về vấn đề quan hệ giữa hai nước”.

Họ nói tiếp: “Ông Sainteny hiện đang ở trong phủ toàn quyền, nhưng quân đội Nhật không cho phép liên lạc với bên ngoài. Hai chúng tôi phải đánh lừa bọn lính Nhật, mới đến được đây. Từ nơi chúng tôi bị giam lỏng, chúng tôi đã theo dõi cuộc mít-tinh ngày 2/9 của các ông, rất đông người dự, nhưng rất trật tự, để lại cho chúng tôi một ấn tượng sâu sắc.”

Tôi ghi tên hai người Pháp, và bảo họ tôi sẽ trả lời sau.

Tôi báo cáo với Bác Hồ và anh Võ Nguyên Giáp (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ) và nói thêm rằng tôi đã nghe nói về Sainteny: Y là con rể của Albert Sarraut, nguyên toàn quyền Đông Dương; tên thật của y là Jean Roger, và y cũng đã là chủ của một hãng bảo hiểm ở Hải Phòng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny cùng các đại diện Đồng minh sau lễ ký kết Hiệp định sơ bộ (6/3/1946). Trong ảnh: Người thứ nhất bên trái là GS Hoàng Minh Giám.
(Ảnh: Gia đình GS Hoàng Minh Giám cung cấp)

Bác nói: “Chú Giáp có thể cho anh ta gặp, xem anh ta nói gì”.

Tôi báo cho Sainteny đến gặp anh Giáp, và sau đó, anh Giáp cho biết: “Thái độ của Sainteny là mềm mỏng, nhưng lập trường của anh ta thì không khác lập trường của tuyên ngôn ngày 24/3 của De Gaulle”.

Lúc đó, tình hình rất phức tạp:

1. Ở miền nam, cuộc kháng chiến của đồng bào ta là vô cùng anh dũng, và gây cho địch nhiều khó khăn, nhưng giặc Pháp được thực dân Anh ủng hộ ra sức đẩy mạnh khủng bố, càn quét, lấn chiếm.

2. Ở miền bắc, 180.000 quân Tưởng nhếch nhác, đói khát, bệnh tật, ăn bám, vừa là một gánh nặng, vừa là mối đe dọa. Bọn Việt Nam quốc dân đảng (thường được gọi là “Việt quốc”) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (thường được gọi là “Việt cách”) luôn luôn quấy rối, yêu sách, chống đối.

3. Giữa Tưởng và Pháp có mâu thuẫn rõ ràng: quân đội Tưởng còn ở đó, thì quân đội Pháp không thể kéo vào. Mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp, trên một khía cạnh nào đó, có lợi cho ta; nhưng Bác và Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã thấy trước rằng hai tên kẻ cướp kia, một ngày nào đó, sẽ đi đến dàn xếp với nhau “trên lưng” chúng ta.

Quả nhiên, tháng 1/1946, ta được tin đại diện của Pháp và đại diện của Tưởng đang mặc cả với nhau ở Trùng Khánh.

Thời gian đó, Bác và Sainteny đã bắt đầu có những cuộc gặp nhau. Phải gặp nhau một cách bí mật. Giúp việc Bác, chỉ có tôi. Giúp việc Sainteny, chỉ có Pignon. Chỉ họp buổi tối, sau 20 giờ. Họp trong ngôi nhà hiện nay mang số 38 Lý Thái Tổ, trên một phố vắng người, gần nơi ở của Sainteny và nơi làm việc của Bác. Bảo vệ an toàn và bí mật các buổi họp do phía ta đảm nhiệm.

(Còn nữa)
Theo DVT

dvt.vn

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn (*)

Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 - Ảnh tư liệu

Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy.

>> Nghe Hồ chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập

……………………………………………

Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bảnTuyên ngôn Độc lập.

Mọi việc chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ 11 đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ thứ 15 đời Lê, đến Tuyên ngôn Độc lập thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ thứ 20, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn năm.

Kể từ ngày thứ ba, 28 tháng 8 năm 1945 ấy, tức là ngày 21 tháng 7 Ất Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác cùng chúng tôi thường ăn sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Nửa đêm hôm ấy, tôi chợt thức giấc, thấy Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Tôi trở dậy, bước thật nhẹ ra phía hành lang, nhìn xuống đường. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mõi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô, đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.

Chỉ mới cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, thoáng thấy mầu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng len như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

***

Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình, một quang cảnh vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:

– Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc Tuyên ngôn Độc lập thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”

Đọc được một đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể đồng bào, cất tiếng hỏi:

– Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng đáp lại liền ngay như sấm:

– Có!

Người dân và Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.

Càng về cuối bản Tuyên ngôn Độc lập, giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.

“Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhân quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy!”

Cùng với ngày 2 tháng 9 năm 1945, bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy. Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.

VŨ KỲ
Thư ký giúp việc Bác Hồ từ năm 1945 đến 1969
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

(trích Nhớ mãi những phút giây đầu tiên)

………………………………….

(*): tựa đề do TTO đặt

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ cuối

Ngày hội của niềm tin

TT – 90% dân mù chữ, khó khăn bủa vây, thế nhưng họ đã tham gia bầu cử với tất cả lòng nhiệt huyết, chân thành và trong sáng. Bởi vì người VN lần đầu tiên có chính quyền nhân dân, lần đầu tiên được tham gia ngày hội về quyền con người: bầu cử.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài
>> Kỳ 2: Tiếng dân trên báo
>> Kỳ 3: Lá phiếu trong khói lửa
>> Kỳ 4: Bầu cử ở miệt cù lao

Khí thế ngùn ngụt

Đúng 7g sáng 6-1-1946, cả Hà Nội cùng vang dậy tiếng chiêng, trống, chuông…, báo hiệu ngày hội tổng tuyển cử đầu tiên của nước VN độc lập bắt đầu. Giáo sư Lê Mậu Hãn – Đại học Quốc gia Hà Nội, nhà nghiên cứu lịch sử Quốc hội – kể: Tất cả phố phường đều rợp cờ, apphich, băngrôn. Thủ đô thức dậy cùng những tiếng hô khẩu hiệu, đồng thanh hát những bài ca cách mạng. Các điểm bầu cử đều được tổ chức chu đáo từ lối ra, lối vào; cửa soát thẻ cử tri đến bàn viết phiếu đều trang trọng, lộng lẫy.

Ông Nguyễn Ngọc Liên – nguyên là cử tri của hòm phiếu đặt tại ngã ba Phố Huế – Nhà Rượu (phố Nguyễn Công Trứ ngày nay) – kể rằng lúc đó bà con rất hào hứng đi bầu. Bất cứ ứng cử viên nào là người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cử tri bỏ phiếu. Ngày bầu cử, nhiều nơi tin yêu Cụ Hồ và các nhà cách mạng như ông Võ Nguyên Giáp, ông Trần Huy Liệu, ông Khuất Duy Tiến… nên dù đã biết những người con cách mạng này không ứng cử ở địa phương mình nhưng họ vẫn cứ bầu!

Hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu ở hòm phiếu đặt tại số 10 Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ, Hà Nội) trong tiếng hô vang chào đón không ngớt của cử tri. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình, Cụ Hồ đến thăm một số phòng bỏ phiếu ở các phố Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, làng Hồ Khẩu (nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ) và Ô Đông Mác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt cảm động khi chứng kiến những cụ già 70, 80 tuổi vẫn được con cháu cõng đi bỏ phiếu, hoặc nhiều người khiếm thị vẫn nhờ người nhà dẫn đến hòm phiếu để tự tay mình làm nhiệm vụ công dân.

Kế hoạch ban đầu sẽ tổng tuyển cử vào ngày 23-12-1945 nhưng sau đó vì muốn mở rộng thời gian để các ứng viên tham gia đông thêm nên đã hoãn đến 6-1-1946. Tuy nhiên, nhiều nơi khác vẫn có thể tổ chức bầu cử từ 23-12-1945. Vậy nên những ngày cuối năm dương lịch ở khắp chốn thôn cùng ngõ hẻm, núi cao rừng sâu trên đất nước đều bừng bừng khí thế ngày hội đổi đời.

Tại Phúc Yên (Mê Linh, Vĩnh Phúc ngày nay), mittinh, cổ động vang trời còn có từng đoàn xe ngựa chạy rầm rập khắp thành phố tung hô tổng tuyển cử. Phố đêm nhà nào cũng thắp đèn nẹp đỏ rực rỡ thâu canh. Tại Thái Nguyên có lễ hội rước đuốc sáng rực núi rừng. Ở Kiến An (nay thuộc Hải Phòng) tổ chức diễn kịch, vở kịch có cảnh đi bỏ phiếu. Tuyên Quang và nhiều nơi khác còn tiến hành bầu cử thử để rút kinh nghiệm và “hâm nóng” không khí đợi ngày chính thức. Nhiều nơi còn treo giải thưởng cho làng nào đi bầu đông đủ nhất, mở cuộc thi dự đoán ai sẽ trúng cử.

Hầu hết các nơi tổ chức bầu cử bình yên, suôn sẻ nhưng tại một số vùng, quân Tưởng và các đảng phái chống đối ra sức chống phá. Tại Phú Thọ, ông Nguyễn Thiện Ngữ (đại biểu Quốc hội khóa 1) nhớ lại: Quân Tưởng và lực lượng Việt Quốc, Việt Cách ngày nào cũng cho quân vác súng sục sạo đe dọa, gây khó dễ cho tổng tuyển cử. Nhiều nơi phải di chuyển điểm bầu cử. Nhưng trước khí thế ngùn ngụt của những con người đòi được quyền làm người, mọi thế lực ngăn cản đều thất bại.

Dân quê bầu cử

Cử tri Hà Nội bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa 1 (6-1-1946) - Ảnh tư liệu

Dù Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng ngọn lửa được sống làm người, nhưng ngôi làng có tới 1/3 dân số chết đói vẫn còn đầy tử khí, thê lương. Đó là làng La Tỉnh, Tứ Kỳ (Hải Dương). Giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học, kể về những ngày bầu cử ở quê mình rằng trên những con đường vỡ sụt lầy lội của làng có từng đoàn thanh niên cầm loa tuyên truyền ngợi ca Hồ Chủ tịch, về quyền con người, độc lập và bầu cử… Tiếng trống chèo kêu bung bung khắp ngõ trên xóm dưới.

Khắp nơi là những khẩu hiệu và vang lên bài ca cách mạng, những băng giấy đỏ viết chữ quốc ngữ: “Cách mạng Tháng Tám muôn năm”, “Quốc hội là đại biểu của dân”, “Mỗi người hãy thực hiện quyền bầu cử của mình”… Cửa đình, quán chợ, gốc cây, cổng chùa… xuất hiện apphich, băngrôn, cáo thị. Thanh niên trí thức và cán bộ Việt Minh chia nhau đến từng nhà các tuần phủ, kỳ hào, chánh tổng, lý trưởng và cả nhà dân để giải thích, tuyên truyền về tổng tuyển cử: Làng ta sẽ đặt hòm phiếu ở đình, người này là Việt Minh đã tham gia Cách mạng Tháng Tám, người này là chí sĩ yêu nước đã chịu lao tù…

Đến ngày 6-1-1946, khi bóng đêm và giá rét còn u ẩn sau lũy tre thì tiếng trống thì thùng đã vọng từ đình làng. Lũ trẻ kéo từng đoàn vừa hát vừa hô khẩu hiệu ngoài ngõ, thúc giục bà con dậy đi bầu cử. Lúc ấy đang bắt đầu vào vụ, làng lại kiêm cả nghề buôn bán nên việc đi bầu khởi sự sớm. Người già, người trẻ, hào phú, nông dân, học sinh, trí thức, cán bộ, đồ nho… lục tục kéo nhau ra đình.

Cổng đình hôm ấy được kết lá cọ có cài hoa dâm bụt đỏ rực và dán hàng chữ giấy điều: Điểm bầu cử làng La Tỉnh. Trong đình có hai cái bàn gỗ, kê hai chiếc ghế dài, ai đến thì được mời ngồi. Bên kia là các thanh niên và cán bộ ủy ban bầu cử phát phiếu bầu cho cử tri. Họ còn có nhiệm vụ viết giúp những người chưa biết chữ và được gọi là “Tiểu ban viết giúp”. Tiểu ban có một người thuộc ban bầu cử và hai người còn lại là do dân làng cử ra. Trước giờ bầu cử, hòm phiếu được kiểm tra. “Tiểu ban viết giúp” đứng dậy tuyên thệ: viết đúng lời người đi bầu và giữ bí mật. Cán bộ ban bầu cử nói thêm: Tiểu ban đã đạt các tiêu chí thật thà, kín đáo, trong sạch, nhanh nhẹn và không gắt gỏng, không cẩu thả, không cả nể. Một người viết, hai người còn lại kiểm tra, giám sát.

Một chiếc hòm nhỏ đặt gần bên để bà con bỏ phiếu. Danh sách ứng cử viên in trên giấy. Giáo sư Văn Tạo nhớ rằng ông nhận được một lá phiếu to bằng 1/4 quyển vở. Trên in tên ba ứng cử viên và con dấu của ủy ban bầu cử; phiếu viết tay, in litô. Phần lớn bà con không hỏi nhiều, họ chỉ biết mình đang bầu cho chính quyền cách mạng, bầu cho Việt Minh. Nhiều người không đọc được chữ nhưng tất cả đều tin cậy và tự nguyện, sốt sắng. Đến trưa thì hòm phiếu chỉ đợi người đi chợ về. Gần chiều thì cả làng đã bỏ phiếu xong. Bà con làng xóm lúc đó hân hoan vì lâu lắm làng quê mới có một ngày hội rộn rã như thế. Người dân tham gia bầu cử sốt sắng là vì tin tưởng vào chính quyền cách mạng, tin tưởng vào Cụ Hồ sẽ đem lại no ấm, tự do cho người nông dân đã bao đời đói khổ lam lũ.

Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu

Sáng 5-1-1946, lời kêu gọi quốc dân đi bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các báo đều đăng:

“Ngày mai, mồng 6 tháng giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

…..

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thành thực câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc…”.

(Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia 2002)

QUANG THIỆN

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 4

Bầu cử ở miệt cù lao

Hàng vạn nhân dân Hà Nội đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội (5-1-1946) - Ảnh tư liệu

TT – “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, nghị viện của mình…”. Chàng trai miệt vườn của xứ cù lao Lục Sĩ Thành năm xưa rưng rưng hát lại những lời ca mà 61 năm trước ông và 12 chàng trai khác đã hát liên tục để tuyên truyền cho cuộc bầu cử đầu tiên của nước VN giữa khói lửa ngút trời trên vùng đất Tây Nam bộ.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài
>> Kỳ 2: Tiếng dân trên báo
>> Kỳ 3: Lá phiếu trong khói lửa

“Tiến lên đường máu”

Chàng trai của ngày xưa ấy là Mười Mẫn, tức Hồ Minh Mẫn, nguyên bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long. Vào ngày 6-1-1946, ông 17 tuổi, là ủy viên ban chấp hành Đoàn Thanh niên cứu quốc xã Hậu Thành (một trong ba xã của cù lao Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, thuộc Cần Thơ thời ấy).

Đó là những ngày tháng khói lửa mịt mù dâng ngập xứ cồn. Quân Pháp đã tái chiếm Vĩnh Long, theo dòng Măng Thít xuôi về chiếm Tam Bình, Trà Ôn và vòng lên cướp lấy Cần Thơ rồi quay về đóng đồn trấn tại huyện lỵ Trà Ôn. Khói lửa chiến tranh lan thành hình vòng cung kéo vệt từ Vĩnh Long đến tận Cần Thơ. Khi tiếng súng nổ rền vùng sông nước heo hút cũng là lúc những cụm lửa bừng lên trên khắp mọi làng xóm: lửa tiêu thổ kháng chiến bốc lên theo lời kêu gọi của Ủy ban Hành chính kháng chiến. Vườn không nhà trống, quân đối phương lấn đến đâu, dân đốt lên ngọn lửa tiêu thổ báo hiệu thêm một lần nữa cảnh nước mất nhà tan giữa đất trời miền Tây Nam bộ. Những cột khói lan ra từ dinh quận Trà Ôn đến tận những ngôi nhà kiên cố một chút tận kênh xa, sông rộng. Pháp chiếm Trà Ôn, hơn 60 người dân Việt bị bắn.

Ở vùng quê nghèo Lục Sĩ Thành phần lớn người dân không biết chữ. Ruộng đất thì làm mướn cho điền chủ, tháng mười âm lịch vác nóp với cái vòng gặt đi qua Ba Xuyên, Bảy Sào gặt mướn tới giáp tết được có 3-4 đồng bạc mang về. Giá lúa hơn hai cắc một giạ. Làm đổ mô hôi, sôi nước mắt, đùng một cái quân Nhật vô vơ vét sạch. Nghèo đói và tăm tối, ấy vậy mà khi cách mạng nổ ra tháng 8-1945, cả cù lao hưởng ứng. Rồi người dân nô nức gia nhập các hội đoàn cứu quốc, gia nhập Thanh niên Cộng hòa vệ binh” (lực lượng chủ lực) và Quốc gia tự vệ cuộc (lực lượng công an). Lần đầu tiên, người dân nghe nói đến những từ độc lập, tự do, dân chủ…

Với ông Mười Mẫn và những chàng trai xứ Lục Sĩ Thành, không khí của những ngày tiền khởi nghĩa vẫn còn ấm nóng. Thời của những bài hát hào hùng của Lưu Hữu Phước với những giai điệu thúc giục những người trai ra đi vì lý tưởng vẫn con nguyên vẹn. Ông Mười Mẫn lúc ấy nhận lãnh nhiệm vụ lập một tổ tuyên truyền gồm 12 thanh niên đoàn viên cứu quốc. Một sự kiện mà ông nhớ đến 61 năm sau là bài hát Tiến lên đường máu trầm hùng, thôi thúc nhiều ngả đường: “Tiến lên đường máu, Quốc dân Việt Nam, non nước nát tan vì quân thù xâm lấn…”. Sau đó, bài hát đã được ông Tư Trân, trưởng ban tuyên truyền bầu cử của Trà Ôn, cải biên thành “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, Nghị viện của mình….”. 12 chàng trai trong tổ tuyên truyền mặc áo bà ba, cầm loa mo cau, hát say sưa chào mừng sự kiện lần đầu tiên người dân VN được đi bầu. Họ tuyên truyền làm sao để những nông dân tay lấm chân bùn miệt cù lao hiểu được ý nghĩa lớn lao của việc cầm lá phiếu bầu người đại diện cho mình sẽ khác với việc bầu hội đồng mà từ cha sinh mẹ đẻ tới giờ họ biết có vài lần.

Ông Hồ Minh Mẫn: “Ai cũng muốn tận tay mình bầu một lá phiếu cho nền dân chủ Việt Nam” - Ảnh: T.Hùng

Thùng phiếu nhuộm đỏ máu đào

Trong ngày bầu cử 6-1-1946 tại Nam bộ, câu hỏi được nhiều người dân hỏi nhất là: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có ứng cử không?”. Nhiều người thậm chí chưa biết nhiều về khái niệm Quốc hội, nhưng đối với họ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là một khái niệm gần nhất để họ hình dung về đất nước. Nhiều người khi bỏ phiếu đã cẩn trọng hỏi tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở đâu trong lá phiếu để bầu cho đúng. Ban tổ chức đã phải nhiều lần thanh minh rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tận Hà Nội chứ không ứng cử ở đây, người Cần Thơ phải bầu những người ở chính Cần Thơ để đại diện cho mình. Ông Mẫn nhớ lại: “Không có cảnh một người đi bầu cho cả nhà. Ai cũng muốn tận tay mình bầu một lá phiếu cho nền dân chủ Việt Nam”.

Ông Mười Mẫn đã đẽo thanh tre cho thiệt đẹp rồi chấm vô đĩa mực tàu, viết nắn nót dòng chữ: “Toàn dân tích cực tham gia tổng tuyển cử bầu Quốc hội”. Tờ giấy có chiều cao hơn gang tay, dài chừng sải tay thành một băngrôn treo ngay trước điểm bầu cử. Những tấm đệm bàng được căng lên thành những phòng đăng ký danh sách, phòng bỏ phiếu kín. Một cái bàn gỗ mượn từ nhà dân được đặt cạnh thùng phiếu, những người trong đội tuyên truyền ngồi tại chỗ hướng dẫn người dân cách thức bỏ phiếu hợp lệ, viết giúp phiếu bầu cho phần lớn những người dân chưa hề được cầm viết một ngày.

Bên kia bờ sông là xã Vĩnh Xuân bị quân đối phương chiếm đóng ngày đêm, bên này đường người ta rục rịch kéo nhau đi bầu cử. Ngày 6-1-1946, những thùng phiếu từ bên kia đường chuyển sang bên này đường, đến từng ngôi nhà rồi vội vàng được chuyển đi tránh con mắt hội tề. Các xã bị chiếm đóng của Trà Ôn bấy giờ là Mỹ Hòa, Đông Thành… cũng phải bầu cử như vậy. Nhiều nhân viên bầu cử phải ôm thùng phiếu ra vào nhiều lần mới lấy hết số phiếu cử tri. Rất nhiều nhân viên các tổ bầu cử đã hi sinh khi làm nhiệm vụ ôm thùng phiếu đến các khu dân cư trong vùng quân đối phương chiếm đóng. Máu họ nhuộm đỏ những thùng phiếu cho khát vọng độc lập, chủ quyền.

Tất cả những ứng cử viên vùng Cần Thơ ngày ấy đều là những trí thức, những nhà cách mạng ít nhiều đã có những đóng góp cho phong trào kháng chiến. Cần Thơ lúc bấy giờ có sáu đại biểu là Phan Lương Báu, Trần Ngọc Danh, Đặng Văn Quang, Trần Ngọc Quế, Đỗ Văn Y và Nguyễn Đăng. Họ đều là những người trí thức được đồng bào tín nhiệm. Ông Mười Mẫn cho hay tiêu chí duy nhất để người dân tín nhiệm là thời gian tham gia công cuộc giành và giữ chính quyền của các ứng cử viên.

NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG

Quốc hội khóa I (1946-1960) bầu ngày 6-1-1946

Tổng số đại biểu: 403.

Gồm 333 đại biểu được dân bầu, 70 đại biểu không qua bầu cử, trong đó có 20 đại biểu thuộc Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và 50 đại biểu thuộc Việt Nam quốc dân đảng.

Thành phần xã hội trong Quốc hội khóa I như sau:

– Trí thức: 61%.

– Công kỹ nghệ gia: 0,6%.

– Buôn bán: 0,5%.

– Thợ thuyền: 0,6%.

– Nông dân: 22%.

Về tuổi tác:

– Đại biểu từ 18 đến 25 tuổi: 0,7%.

– Đại biểu từ 26 đến 40 tuổi: 70%.

– Đại biểu từ 41 đến 50 tuổi: 18%.

– Đại biểu từ 51 đến 70 tuổi: 0,5%.

(Nguồn: 60 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2006, NXB Thông Tấn 2006)

Ngày 6-1-1946, thủ đô Hà Nội thức dậy cùng những tiếng hô khẩu hiệu, đồng thanh hát những bài ca cách mạng. “Chúng tôi tham gia là vì tin tưởng vào chính quyền cách mạng, tin tưởng vào cụ Hồ”. Lần đầu tiên họ được tham gia ngày hội về quyền con người.

Kỳ tới: Ngày hội của niềm tin

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 3

Lá phiếu trong khói lửa

Nhân dân Nam bộ đi bầu cử ngày 6-1-1946 - Ảnh tư liệu

TT – Chúng tôi chuẩn bị bỏ phiếu, một chiếc máy bay Nhật quần đảo trên đầu rồi giội bom xuống. Khói lửa ngút trời. Ai đó hét cho mọi người tản ra rồi chờ ngớt khói lửa thì quay lại bỏ phiếu tiếp. Ở nội thành Sài Gòn, họng súng của quân Pháp lăm le giương cao, sẵn sàng xả đạn để phá hoại cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước VN độc lập.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài
>> Kỳ 2: Tiếng dân trên báo

Lá phiếu thấm máu

26 tuổi, tôi rời Trường Luật ở Hà Nội, trở về miền Nam với gánh nặng của lời thề tại đền thờ vua Hùng ở miền Bắc. Tôi nhớ ngày ấy, luật sư Dương Đức Hiền (sau này là bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ Hồ Chí Minh) đã gióng 10 tiếng chuông lễ và trịnh trọng đọc lời thề: “Thề trước vong linh tổ tiên rằng tuổi trẻ chúng tôi nguyện tiếp tục sự nghiệp cứu nước của cha ông, không hề lùi bước trước cạm bẫy, đàn áp của quân cướp nước”. Cho tới tận bây giờ, tôi không thể nào quên cảnh hàng ngàn học sinh, sinh viên đã cúi rạp người lên tiếng: “Xin thề!” vang vọng cả núi rừng. Gánh nặng trên vai ấy càng nặng hơn khi tôi trở thành ứng cử viên đại biểu Quốc hội trong đợt tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới thành lập.

Chứng nhân lịch sử: ông Huỳnh Văn Tiểng sinh năm 1920, đắc cử đại biểu Quốc hội năm 1946, là thành viên liên tục năm khóa của Quốc hội từ năm 1946-1975. Ông là giám đốc đầu tiên của Đài truyền hình TP.HCM - Ảnh: T.Hùng

Trưởng ban tổ chức tổng tuyển cử thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ là anh Nguyễn Văn Tư, anh em còn gọi là Tư Carê, vốn là công nhân Hãng Ba Son, ủy viên ban lãnh đạo Công đoàn Sài Gòn, ủy viên Ủy ban kháng chiến nội thành Sài Gòn.

Ngày đó, ban tổng tuyển cử sau khi bàn bạc, quyết định công tác tuyên truyền sẽ được chia làm hai địa bàn với tính chất khác nhau. Địa bàn thứ nhất gồm các vùng ngoại thành: Vườn Thơm, Gò Xoài, Bình Chánh, Bình Xuyên, Bà Quẹo, Bà Điểm, Thủ Đức, An Phú Đông, Nhà Bè… Khu vực này chính quyền cách mạng làm chủ, có thể chủ động tổ chức tuyên truyền ngày cũng như đêm về thể lệ, yêu cầu về mục đích ý nghĩa của một cuộc tổng tuyển cử. Người dân ngoại thành ồ ạt đăng ký vào danh sách cử tri. Ban tổ chức lập ra nhiều tiểu ban kiểm tra các phòng phiếu.

Những đợt bỏ phiếu liên tục bị ngắt quãng vì những trận càn quét dưới đất và trên không. Cuộc phổ thông đầu phiếu vùng ngoại thành diễn ra suốt ngày đêm 6-1-1945, như một “phép thử” đối với chính quyền cách mạng còn non trẻ của vùng ngoại thành Sài Gòn.

Địa bàn thứ hai, địa bàn khó nhất, là nội thành Sài Gòn. Bởi chúng tôi biết Sài Gòn những ngày bị tái chiếm là họng súng, lưỡi lê, là mạng lưới mật thám sẵn sàng rình rập, bắt bớ ngăn cản, thậm chí ám sát các đại biểu để có thể chặn đứng cuộc tổng tuyển cử đầu tiên. Tuy du kích nội thành hoạt động sôi nổi để “trừ gian, diệt tề” và gần như làm chủ thành phố về đêm và được sự hỗ trợ của lực lượng du kích ngoại thành từ miền Tây, miền Đông, Bình Xuyên…, nhưng đó là những cuộc chiến thoắt ẩn, thoắt hiện và về mặt chính thức, ban tổ chức tổng tuyển cử không thể mở những cuộc tuyên truyền rộng lớn như ngoại thành.

Trong bối cảnh đó, cán bộ ban tổ chức len lỏi từng gia đình giải thích ý nghĩa, mục đích của tổng tuyển cử và vận động đồng bào nội thành đến tham gia sinh hoạt ở các vùng ven đô. Sau đó, ban tổ chức bí mật đưa các đoàn đại biểu nội thành qua các vòng vây của đối phương ở Phú Thọ, Bà Quẹo…, để qua các vùng đầm lầy của khu vực nông trường Lê Minh Xuân, Phạm Văn Cội bây giờ để đến với An Phú Đông.

Và máu đã đổ. Những cuộc phục kích, bố ráp của quân đối phương đã diễn ra. Có những chuyến đi trót lọt, nhưng chuyến về trở thành những giao tranh đẫm máu. 37 cán bộ ban tổ chức bầu cử đã ngã xuống để bảo vệ những thùng phiếu và những cử tri của mình. Và anh Tư Carê cũng đã ra đi trong ngày gần cuối của đợt bầu cử. Lá phiếu đã thấm đượm nhiều máu, cái giá của độc lập chủ quyền được trả bằng máu của đồng đội, bạn bè tôi.

Ở tuổi 26, tôi đã trở thành một trong những nghị viên đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Kế sách Hồ Chí Minh

Anh Hoàng Quốc Việt thúc giục liên tục: Chuẩn bị lên đường, chuẩn bị lên đường gấp! Vừa bỏ xong lá phiếu của ngày 6-1-1946, chúng tôi lên đường ra Bắc. Nhiệm vụ của những ứng cử viên miền Nam ngoài chuyện bảo vệ bản thân mình khỏi những âm mưu ám sát, bắt cóc của đối phương còn phải có mặt kịp thời tại miền Bắc sau khi có kết quả bầu cử. Chúng tôi phải có mặt tại Hà Nội để chứng minh có một Quốc hội hợp pháp đại diện cho cả dân tộc VN đã được người dân Việt bầu chọn. Đại biểu Nam bộ sẽ là một minh chứng hùng hồn nhất về Quốc hội của nước VN thống nhất.

Ngoài đại biểu Tôn Đức Thắng đi bằng thuyền, những người còn lại trong đoàn của Sài Gòn đi bằng đường bộ. Chúng tôi phải sử dụng toàn bộ các phương tiện có được, từ đi ngựa, đi bộ, đi voi, thuyền… vượt qua rừng sâu núi cách để bằng mọi giá phải về tới Hà Nội đúng ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội đầu tiên. Lúc đầu, chúng tôi đi thuyền. Có đoạn ở cực Nam Trung bộ phải đi bằng ngựa, voi, có lúc bị cọp Khánh Hòa rình rập, nhiều lần bị phục kích ở Quảng Nam, Thừa Thiên.

Từng có hàng chục ngày, anh em trong đoàn sống bằng gạo muối và rau tàu bay. Ra đến Hà Nội, tất cả bị sốt rét. Tôi không dự được ngày họp đầu tiên của Quốc hội. Đến lần họp sau (15-3-1946), tôi đại diện cho đại biểu miền Nam đứng lên tố cáo việc Pháp chiếm đóng trái phép Nam bộ và việc chỉ định 70 đại biểu của Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội vào Quốc hội mà không qua bầu cử. 26 tuổi, tôi – một trí thức trẻ – đầy ắp nhiệt tình và hết sức hùng biện.

Sau cuộc họp, tôi được Bác Hồ gọi lên và chắc mẩm mình sẽ được khen vì bài hùng biện. Không ngờ, Bác nói đơn giản: “Chú nói rất tốt nhưng phải lưu ý kiểm tra được những điều mình đang nói!”. Tôi bối rối: “Thưa Bác, tất cả những điều đó cháu đã bàn bạc với đoàn trước khi nói”. Bác bảo: “Biết rồi, nhưng ta có thể nói một cách khác mà!”. Tôi hỏi cách nào, Bác lúc đó đứng cách tôi 2m, cầm lấy cây viết chì của Người rồi bất ngờ quăng vào bụng tôi. Tôi giật thót người. Bác cười: “Đó là cách thứ nhất. Và đây là cách thứ hai”. Người nhặt cây bút chì lên, đưa tận tay tôi: “Hãy cầm và đưa trong yên ổn, hòa bình!”. Tôi bừng tỉnh trong một cảm giác có chút xấu hổ và tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy cho một bài học đầu tiên về ứng xử trong thời cuộc đầy thách thức.

Một hiện tượng chính trị đầu năm 1946 ở Sài Gòn (sau khi bị thực dân Pháp tái chiếm 3-4 tháng) là Ủy ban hành chính thành phố (đóng ở ngoại ô tây nam) đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. 40.000 cử tri nội thành đã bỏ phiếu bầu những đại biểu xứng đáng: Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Tư. Không có phòng bỏ thăm cố định cho mỗi khu phố nhưng ở khu phố nào, kể cả các khu phố trung tâm, đều có cán bộ chiến sĩ đem thùng phiếu tới nhà, tới ngõ cho đồng bào bỏ thăm. Cả Sài Gòn – Chợ Lớn có hàng trăm thùng phiếu như vậy. 42 cán bộ, chiến sĩ ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã hi sinh.

(Nguồn: Địa chí văn hóa TP.HCM và 60 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2006, NXB Thông Tấn 2006)

HUỲNH VĂN TIỂNG (Nguyễn Văn Tiến Hùng ghi)

Khói lửa chiến tranh lan thành hình vòng cung từ Vĩnh Long đến tận Cần Thơ. Bên kia đường là đối phương chiếm đóng ngày đêm, bên này đường người ta kéo nhau đi bầu cử. Ai cũng muốn tận tay mình bỏ phiếu cho nền dân chủ Việt Nam.

Kỳ tới: Bầu cử ở miệt cù lao

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 2

Tiếng dân trên báo

TT – Dù cả nước có tới trên 90% người mù chữ, nạn đói vẫn hoành hành, phương tiện và công nghệ truyền thông lạc hậu, thiếu thốn; nhưng không khí tự do, dân chủ, minh bạch và công bằng trên các tờ báo giấy đen, in viết thủ công cũng đủ thổi vào đời sống từ thành thị đến thôn quê một luồng cảm hứng chính trị nồng nhiệt, chân thành. Đó là cảm hứng của người làm chủ cuộc đời.

>> Kỳ 1: Thu phục thù trong giặc ngoài

“Bạn cố mà vận động đi”

Những tháng đầu năm 1945, báo chí cũng giống như mọi lĩnh vực khác đều trở nên nghèo nàn, uể oải bởi chiến sự, nạn đói và loạn lạc. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là khi sắc lệnh tổng tuyển cử được ban hành thì chưa bao giờ báo chí, nhân dân quan tâm đến chính trị như vậy. Các đảng phái, lực lượng ngoài Việt minh có khá nhiều ấn phẩm như Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm… thì Việt minh và các tổ chức dân chủ yêu nước có các báo Độc Lập, Cứu Quốc, Sự Thật, Cờ Giải Phóng… và các báo địa phương như Việt Nam Độc Lập của Việt Minh Cao Bắc Lạng. Các báo đều dành 80-100% lượng thông tin về tổng tuyển cử. Diễn đàn báo chí đăng tải đủ mọi quan điểm, vùng miền, tầng lớp, mọi giới quyền lợi xung quanh ứng cử và bầu cử.

Đặc biệt, Quốc Hội là tờ nhật báo duy nhất chuyên phản ánh, tuyên truyền cho tổng tuyển cử. Sứ mệnh của tờ báo này chỉ tồn tại đến khi kết thúc tổng tuyển cử. Báo mang tên Quốc Hội do ông Trần Hữu Tri làm chủ nhiệm, trụ sở tại 71 Hàng Trống, Hà Nội (địa chỉ của báo Nhân Dân ngày nay), giá bán 8 hào/tờ. Bình thường ra hai trang/số. Những số đặc biệt ra bốn trang. Báo ra tổng cộng 15 số, từ 17-12-1945 đến 6-1-1946 (thỉnh thoảng có ngày không xuất bản).

Mục đích của báo: định rõ giá trị tổng tuyển cử đối với người trong và ngoài nước; giải thích thể lệ tổng tuyển cử cũng như quyền hạn bổn phận của cử tri và giúp những người ứng cử một cơ quan vận động để giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình của mình… Số đầu tiên, báo đã có bài hướng dẫn người tự ra ứng cử. Bài viết: “Bạn cố mà vận động đi! Vận động bằng bất cứ cách nào bạn thích: truyền đơn, biểu ngữ, báo chí, vô tuyến truyền thanh, diễn thuyết… Bạn cứ việc vận động một mình nhưng cũng không ai cấm bạn đi tìm mấy người nữa cùng ra ứng cử trong hạt của bạn… Muốn tất cả mọi công việc được dễ dàng bạn nên liên lạc với ủy ban vận động tuyển cử…”.

Chuyên mục cố định “Chúng tôi phỏng vấn” của báo Quốc Hội số nào cũng đăng bài trao đổi của phóng viên với 1-4 ứng viên. Những nhân vật được phỏng vấn thuộc đầy đủ các giới, lực lượng, tầng lớp. Các ứng viên đưa ra những quan điểm, chương trình kế sách khác nhau nhưng đều chung tâm nguyện: độc lập, đoàn kết và vì nhân dân. Các ứng viên rất thẳng thắn góp ý với dự thảo hiến pháp như: cắt bớt quyền hạn của chính quyền địa phương hay tăng quyền tự chủ của nhân dân. Nhà thơ Xuân Diệu nói: “Tôi sẽ bênh vực cái quyền bãi miễn của dân chúng. Có cái quyền ấy thì mới không ăn hiếp dân được. Không gì khả ố bằng sự ăn hiếp dân”. Phát biểu trên báo, ứng viên nào cũng nói về sở trường, thế mạnh của mình như về tài chính, chăn nuôi, kinh doanh thương mại, y tế, giáo dục… kèm theo những mong muốn có điều kiện giúp dân giúp nước.

“Muốn lo việc nước thì ra ứng cử”

Nhật báo Quốc Hội ra 15 số để phục vụ tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà - Ảnh: Q.Thiện

Trên trang 2 báo Quốc Hội số 3 ra ngày 19-12-1945 trong mục thông báo có đoạn: Thể lệ phát thanh dành cho tất cả mọi người có nhu cầu tự vận động bầu cử trên đài phát thanh. Thời gian từ 5g30-6g30 mỗi buổi chiều. Bất cứ ứng viên nào cũng có thể tham gia, chỉ cần đăng ký và nộp tiền.

Ứng viên sẽ đem đến nhà đài các bài viết giới thiệu về mình hoặc về các chương trình kiến thiết quốc gia của mình và thuê đài đọc. Giá tiền 40 đồng Đông Dương/trang. Khổ giấy thương mại 21×27, chữ đánh máy cách nhau hai dòng. Trên nửa trang thì tính tiền cả trang. Dưới nửa trang cũng tính nửa trang. Bài phải qua kiểm duyệt (theo thể lệ vận động: không đả kích lăng mạ người khác, không phản lại quyền lợi dân tộc, tinh thần độc lập, dân chủ…). Đưa bài trước 24 tiếng để rao cho công chúng đón nghe… Nhà nghiên cứu Lê Mậu Hãn nói: đây là một trong những hình thức vận động bầu cử tiến bộ, dân chủ và công bằng nhất trên thế giới lúc đó.

Ngoài ra các ứng viên còn ra sức in truyền đơn, tổ chức các buổi tuần hành, mittinh, diễn thuyết, đối thoại với công chúng. “Toàn là những phương pháp lịch sự, nhã nhặn với một tinh thần rộng rãi, một ý nghĩa cao quí” (báo Quốc Hội số 5 ngày 21-12-1945). Bất cứ một dấu hiệu thiếu minh bạch hay thiếu công bằng nào cũng có thể bị phát giác và đả kích. Trên các diễn đàn tranh cử cũng luôn nóng bởi những cuộc tranh luận. Tinh thần “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử” được Hồ Chủ tịch hiệu triệu thấm nhuần đến tất cả những nhà cách mạng, nhân sĩ trí thức, kỳ hào và cả những người giới cần lao…

Mặc dù dân trí, công nghệ và các phương tiện vận động hết sức đơn giản thô sơ nhưng tỉnh nào cũng có số ứng viên gấp rất nhiều lần tỉ lệ trúng cử. Chủ yếu là người tự ứng cử. Hà Nội lấy sáu đại biểu thì số người ứng cử tới 47. Kiến An lấy 7 thì ứng cử 60. Hà Nam lấy 7 thì cũng ứng cử 52. Và vì vậy Quốc hội đầu tiên của VN đã có 333 đại biểu và 43% số đó là những đại biểu không thuộc đảng phái nào. 57% còn lại thì cũng đại diện cho nhiều đảng phái khác nhau. Chính Quốc hội khóa này, những vị đại biểu này đã trực tiếp chèo lái con thuyền đất nước vượt qua muôn trùng sóng gió buổi khai sinh để đi đến hôm nay.

Cử tri Hà Nội xem danh sách và tiểu sử ứng cử viên trong ngày bầu cử Quốc hội 6-1-1946 - Ảnh tư liệu

Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả có 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu. Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh là trước ngày tổng tuyển cử, tại Hà Nội, 118 chủ tịch các ủy ban nhân dân và tất cả các đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị yêu cầu cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào: “Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khác khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Tôi xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Chiều 5-1-1946, Bác đến khu học xá (nay là Trường đại học Bách khoa Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri. Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác nói với các ứng viên: “Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó”. Bác nhắc nhở các ứng cử viên: “Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung”. Hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”.

Hơn 90% tổng số cử tri đã tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà.

(Nguồn: TTXVN và tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ)

QUANG THIỆN

_____________________

Tại Sài Gòn, những đợt bỏ phiếu liên tục bị ngắt quãng vì những trận càn quét dưới đất và trên không. “Chúng tôi chuẩn bị bỏ phiếu, một chiếc máy bay Nhật quần đảo trên đầu rồi giội bom xuống. Khói lửa ngất trời”.

Kỳ tới: Lá phiếu trong khói lửa

Tuổi trẻ Online

Ngày bầu cử đầu tiên – Kỳ 1

Thu phục thù trong giặc ngoài

TT – 7g sáng 6-1-1946, tiếng trống, chuông, chiêng… cùng vang dậy khắp Hà Nội, báo hiệu ngày hội tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc VN bắt đầu. Tại miền Nam, người dân cũng nô nức tham gia ngày bầu cử theo lời ca giục giã vang khắp mọi nơi: “Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, nghị viện của mình…”.

Các lực lượng chống đối ra sức phá hoại, nhưng trước khí thế ngùn ngụt của những con người đòi được quyền làm người, mọi thế lực ngăn cản đều thất bại.

Cổ động cho kỳ bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên tại Hà Nội - Ảnh tư liệu

Để tiến hành tổng tuyển cử, chính quyền nhân dân tuy non trẻ nhưng phải đối mặt với rất nhiều thù trong giặc ngoài. Sách lược ứng phó khôn khéo duy nhất đúng lúc đó là: giương cao ngọn cờ đoàn kết, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc.

Vượt qua khó khăn

Giáo sư Lê Mậu Hãn nhớ lại: Trên các tuyến đường lớn từ phía Bắc đổ về Hà Nội rầm rập gót chân của 20.000 quân Tưởng. Phía Nam, quân Pháp đã quay lại nổ súng. Hàng vạn quân Nhật vẫn còn vũ khí đang đồn trú tại VN. Tại Hà Nội, nhiều đảng phái chính trị chống chính phủ nhân dân ra đời. Đặc biệt là lực lượng Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần nắm giữ. Một số vùng như Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái đã bị họ chiếm giữ. Các tờ báo, truyền đơn chống phá Việt Minh được phát tán khắp nơi. Luận điệu đòi loại bỏ các bộ trưởng là đảng viên cộng sản khỏi Chính phủ mới được đẩy cao.

Đường phố Hà Nội lúc này chưa hết những đoàn hành khất rách rưới, vạ vật. Khắp các thôn làng xơ xác, tiêu điều. Hơn 2 triệu người VN đã chết vì đói ăn. Đây là một trong những tàn tích rùng rợn nhất của chế độ cũ để lại. Chính phủ nhân dân đã ra đời nhưng lại chưa được quốc tế công nhận. Để tập hợp được sức mạnh toàn dân và thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, chính phủ mới cần phải chính danh, điều đó nghĩa là Chính phủ phải được Quốc hội bầu, và Quốc hội phải do dân bầu.

Mittinh vận động cứu đói tổ chức trước Nhà hát lớn Hà Nội. Hàng ngồi đầu tiên từ phải sang trái: cụ Nguyễn Văn Tố (nhân sĩ), tướng Mỹ Gallager (đại diện lực lượng Đồng minh), Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố vấn Vĩnh Thụy, cụ Ngô Tử Hạ (nhân sĩ) - Ảnh tư liệu

Để nhân dân thật sự được hưởng quyền tự do, dân chủ thì đất nước phải có hiến pháp. Tại phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Hồ Chủ tịch đã nói: chính phủ phải tổ chức tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu càng sớm càng tốt. Năm ngày sau, sắc lệnh về tổng tuyển cử được ban hành: công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên được tự do bầu cử và ứng cử; thành lập ủy ban dự thảo thể lệ, hiến pháp, các sắc lệnh…

Quân Tưởng và các lực lượng Việt Quốc, Việt Cách ra sức công kích, xuyên tạc trên các diễn đàn thông tin, kèm các hành vi bạo động nhằm phá hoại tổng tuyển cử. Hồ Chủ tịch và chính phủ lâm thời xác định cuộc tổng tuyển cử này còn là cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh nhân dân hết sức cam go. Các chính sách đối nội, đối ngoại, cứng rắn, mềm dẻo đòi hỏi linh hoạt cao.

Chính phủ mới ra đời đã chủ động hòa giải với tướng Tiêu Văn (quân Tưởng) và Việt Cách thông qua bản Thỏa ước đoàn kết và hợp tác ngày 23-10-1945. Nhưng ít ngày sau, Nguyễn Hải Thần tự xé bỏ. Chính phủ lần thứ hai chủ động thảo luận với họ. Họ đòi thay quốc kỳ, lập lại chính phủ, xóa bỏ chế độ ủy ban nhân dân… Việt Quốc thì đòi nắm giữ bộ Nội vụ, Tài chính, Kinh tế, Giáo dục, Quốc phòng, Thanh niên; đòi hoãn tổng tuyển cử và đòi chia 1/3 số ghế Quốc hội, tương đương ghế của Việt Minh….

Ngày 19-11-1945, ba phái Việt Minh, Việt Quốc và Việt Cách cùng tướng Tiêu Văn nhóm họp dưới sự chủ trì của Hồ Chủ tịch đã tìm ra được tiếng nói chung. Mấy ngày sau, văn bản mang tên “Đoàn kết tinh thành” được ba phái chung bút ký. Nhưng tình hình chỉ thật sự dịu đi khi Hồ Chủ tịch tiếp tục thương lượng thêm nhiều bước để ba phái đồng tình với văn bản Biện pháp đoàn kết với ba điều quan trọng nhất là: Độc lập, đoàn kết trên hết; ủng hộ tổng tuyển cử và đình chỉ công kích lẫn nhau. Tổng tuyển cử lúc này mới có thể bắt đầu.

Ngày 6-1-1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra trên đất nước VN. Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người dân VN từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ đều được hưởng quyền bầu cử và ứng cử Quốc hội. Hơn 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu. Nhân dân cả nước đã bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Hà Nội và đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%.

(Nguồn: Chính phủ VN 1945 – 2003, NXB Thông Tấn 2004)

“Lịch sử nhân loại có thể phải kinh ngạc trước cuộc cách mạng ở một dân tộc nhỏ bé hàng trăm năm nô lệ với 90% dân mù chữ và vừa trải qua một nạn đói khủng khiếp đến mất tính người – giáo sư Lê Mậu Hãn nhận định – Tôi không bàn về ý nghĩa của cách mạng mà nói về một hành vi ứng xử của cách mạng”. Đó là việc Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) ứng cử đại biểu Quốc hội và được làm cố vấn Chính phủ lâm thời – một vị vua của chế độ cũ lại được trở thành thành viên cao cấp của bộ máy lãnh đạo mới, được phép thành người đại diện của dân chúng, sau khi ông đã thoái vị làm thường dân. Đây là một trong những minh chứng về tinh thần dân chủ và đại đoàn kết dân tộc vô cùng cao quí của chính quyền cách mạng.

Ngay sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chủ tịch đã quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử với quan điểm: dân chủ và tôn trọng người tài năng, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm với quyền lợi dân tộc. Hồ Chủ tịch nói: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, nòi giống, giai cấp, đảng phái…”.

Khi soạn thảo các văn kiện quan trọng trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và quyền dân chủ, Hồ Chủ tịch đều thành lập những ban soạn thảo có đủ mọi thành phần, đảng phái miễn là người có tài, có tâm với dân tộc. Ủy ban dự thảo hiến pháp gồm bảy người thì có cả những nhân vật ngoài Việt Minh như Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai. Ủy ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử gồm chín người thì có đại diện đủ cả các giới, các ngành.

Đến ngày 4-1-1946, Hồ Chủ tịch viết thư gửi đồng bào VN ở Lào và Xiêm (Thái Lan) kêu gọi những người Việt xa quê đoàn kết một lòng và không ngừng hướng về Tổ quốc. Kết quả của tinh thần đó đã thể hiện trong Quốc hội đầu tiên của dân tộc là một cơ quan hội tụ đầy đủ nhất những người ưu tú, tài đức thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, tôn giáo vùng miền, không phân biệt đẳng cấp, quan điểm, văn hóa nhưng đều chung tinh thần đoàn kết, lý tưởng độc lập, dân chủ. Đó là các nhà cách mạng lão thành từng bôn ba hải ngoại như Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng… đến những trí thức trẻ đầy nhiệt huyết như Nguyễn Đình Thi.

Các thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô đến các nhà văn hóa như Nguyễn Văn Tố, Đặng Thai Mai, Hoàng Đạo Thúy… Các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, thượng tọa Thích Mật Thể, chưởng quản Cao Triều Phát (Cao Đài) cùng các đảng phái chính trị như Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng…

QUANG THIỆN

________________________

Một không khí tự do, dân chủ, minh bạch và công bằng trên các tờ báo đã thổi vào đời sống từ thành thị đến thôn quê một luồng cảm hứng chính trị nồng nhiệt, chân thành trong kỳ bầu cử.

Kỳ tới: Tiếng dân trên báo

Tuổi trẻ Online