Thư viện

Ngày 11-8: Sự kiện về Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các năm

Ngày 11-8-1942, trên Báo Việt Nam Độc lập, Nguyễn Ái Quốc đăng bài thơ “Tặng Toàn quyền Đờ-Cu”, đả kích viên toàn quyền thực dân Pháp theo quan điểm đầu hàng của Chính phủ Pétain:

“Non nước Rồng Tiên rõ mịt mù
Lợi quyền phó mặc bố thằng Cu
Đối dân Nam Việt thì lên mặt
Gặp bọn Phù Tang chỉ đội khu
Về Pháp, không còn e chết đói
Ở đây hút máu béo ni-nu
Cũng như Thống chế Pêtanh vậy
Chú cứ cu cù mãi được ru!?”.

Ngày 11 tháng 8-1945, để chuẩn bị triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng, Bác đề nghị: “Nên họp ngay và cũng không nên kéo dài hội nghị. Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không để lỡ cơ hội”, và thúc giục các đại biểu trên toàn quốc sớm về dự.

Ngày 11-8-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng gia chủ là ông bà Aubrac thăm Cung điện Chantilly, sau đó tiếp J.Sainteny – một chính khách thông hiểu tình hình Việt Nam và có khuynh hướng hòa hoãn.

Ngày 11-8-1961, Bác đi kiểm tra các đoạn đê xung yếu thuộc các xã Đông Mỹ, Sở Thượng, huyện Thanh Trì, Hà Nội, căn dặn lực lượng bảo vệ đê: “Dù nước to đến đâu, cũng phải giữ đê cho chắc. Phải đề phòng mực nước cao nhất, chớ chủ quan khi nước chưa rút hẳn. Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và của cải của nhà nước ở hai vệ sông”.

Ngày 11-8-1963, Báo Nhân Dân đăng bài “Kinh nghiệm “3 xây, 3 chống” của Bác dưới bút danh “Chiến Sĩ”. Bài báo viết: “…Muốn xây dựng một lâu đài mới thì phải phá cái lều cũ ọp ẹp đi. Muốn xây dựng những tiến bộ mới trong nền kinh tế ta thì phải chống những cái cũ kỹ và lạc hậu, ví như chống lãng phí sức người, thời giờ và máy móc…”.

Tháng 8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Australia nổi tiếng W.Burchett về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và đưa ra thông điệp: “…Chúng tôi không có xích mích gì với nhân dân Mỹ. Chúng tôi muốn sống hòa bình và hữu nghị với nhân dân Mỹ. Nhân dân chúng tôi được giáo dục theo tinh thần quốc tế chân chính. Trước đây chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do, với bọn can thiệp và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn đang nâng đỡ chúng”.

Tháng 8-1963, đến thăm Hội nghị Tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm, Bác góp ý: Cần chú trọng hơn nữa về đức dục; phải thực hiện tốt phương châm giáo dục kết hợp với lao động sản xuất trong giảng dạy và học tập; tránh lối dạy nhồi sọ, lối học như vẹt; cần kiệm xây dựng nhà trường và căn dặn: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị, phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

Ngày 11-8-1965, Bác ra sắc lệnh truy tặng Huân chương Chiến công cho liệt sỹ Nguyễn Bá Ngọc, 13 tuổi, ở xã Quang Trung, Quảng Xương, Thanh Hóa, đã dũng cảm cứu bạn khi máy bay Mỹ bắn phá và anh dũng hy sinh, một tấm gương tiêu biểu của thế hệ thiếu nhi thời “chống Mỹ cứu nước”.

Theo tvad.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

QĐND – Thế là đã 65 năm Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta, ngày 9-11-1946. Thời gian là vị quan tòa nghiêm khắc và công minh nhất thẩm định sự đúng sai của những tư tưởng, những quyết sách và nhất là hướng đi. Nhìn lại một chặng đường lịch sử gần hai phần ba thế kỷ, càng hiểu ra sự minh triết của Hồ Chí Minh, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cha đẻ của Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền đích thực của quốc gia ấy.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”! Trong bộn bề những việc cấp bách hằng ngày với thù trong giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp và cho ra đời bản Hiến pháp 1946 mà cho đến nay, giới nghiên cứu về luật pháp đánh giá là bản Hiến pháp mẫu mực nhất: Một hiến pháp dân chủ.

Là người bôn ba khắp năm châu bốn biển, thông hiểu nền văn hóa Tây phương từ một sự hiểu biết sâu sắc triết lý phương Đông và truyền thống văn hóa nước mình, Hồ Chí Minh có điều kiện trải nghiệm để nhìn ra những điều mà người khác có thể không nhìn thấy. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ dân tộc mình, nhân dân mình cần cái gì nhất. Điều đó quy định nội dung của Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946 – lời tuyên bố đĩnh đạc của nhân dân Việt Nam trước thế giới, khẳng định ý chí và khát vọng của dân tộc mình.

Dân chủ nằm ngay trong tên nước và mục tiêu hướng tới, tức cũng là hướng đi, được ghi rõ ngay dưới tên nước: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nước có độc lập thì dân mới có tự do để làm ăn sinh sống, tự do suy nghĩ và hành động để mưu cầu hạnh phúc. Dân chủ là điều kiện tiên quyết để có tự do và có tự do mới thực sự có hạnh phúc!

Bác Hồ bỏ lá phiếu bầu cử tại Hà Nội năm 1960. Ảnh tư liệu.

Thế nhưng, “dân chủ không thể được áp đặt bởi sự màu nhiệm những cơ chế của chính nó, dân chủ cần những người mang nó, sống động trong con người họ, và làm cho nó tồn tại sống động đối với tất cả mọi người”(1), ý tưởng ấy có sức gợi mở cho những tìm tòi về phương thức thực hành dân chủ mà Hồ Chí Minh tìm cách thực hiện. Hiến pháp 1946 là một minh chứng cho điều đó.

Thực ra Hồ Chí Minh hiểu rằng: “trong nhiều xã hội ngoài châu Âu, thông điệp đấu tranh giai cấp nghe xuôi tai hơn thông điệp dân chủ; sự phê phán nhân quyền dễ trót lọt hơn ý tưởng về dân quyền. Và như vậy là vì những lý do lịch sử: Ý tưởng về nhân quyền do bọn thực dân mang tới cho họ, áp đặt bằng nòng súng. Nhân quyền thuộc về kẻ chiến thắng, đương nhiên, trước mắt kẻ thua trận, đó là thứ ngụy trang cho sự thống trị thực dân”(2). Tuy nhiên, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã dẫn ra tư tưởng về nhân quyền, bởi vì “ý tưởng xây dựng xã hội trên nền tảng quyền con người… là một ý tưởng phổ quát, đáp ứng một hy vọng toàn cầu”(3).

Cần nhớ rằng, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Véc-xây năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã đòi “thay đổi chế độ sắc luật bằng chế độ luật…”. Trong “Việt Nam yêu cầu ca” cũng đã có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(4) [phải chăng đây là từ nguyên ngữ “l’esprit des lois” của Montesquieu?].

Trước đó, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra: “nếu có một đảng độc lập tồn tại thì đảng này không phải đi ăn xin một vài quyền tự do mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”… “Rất ôn hòa cả về nội dung lẫn hình thức, các nguyện vọng của chúng tôi nhằm vào những cải cách chủ yếu cho việc giải phóng chúng tôi, và nhằm vào những quyền tự do mà nếu không có chúng thì con người ngày nay chỉ là một kẻ nô lệ khốn nạn”(5).

Dẫn ra những điều trên để hiểu rằng, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã mở đầu Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước dân chủ cộng hòa của mình bằng những câu tiêu biểu nhất về quyền con người, về khát vọng cháy bỏng của con người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Từ “quyền con người”, quyền đương nhiên không phải do ai ban phát cả, Hồ Chí Minh dẫn đến quyền của dân tộc với nội dung như đã dẫn ra ở trên.

Những ý tưởng tiêu biểu ấy được thể hiện một cách thật giản dị, dễ hiểu trong Hiến pháp 1946 với 70 điều. Nội dung tập trung về xác lập quyền của công dân và quyền của nhà nước, quyền giữa các cơ quan nhà nước với nhau, ở đó nổi bật lên hai vấn đề cơ bản nhất: Ngăn cấm sự lạm quyền của quyền lực nhà nước và đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân.

Để làm được điều đó, nội dung của Hiến pháp 1946 làm nổi bật lên nguyên tắc cơ bản: Đặt pháp quyền ở trên nhà nước và quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Nhà nước pháp quyền ấy phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau. Cơ quan Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực là điều mà những Hiến pháp sau này không làm rõ được, thậm chí bỏ quên! Công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Trong nội dung của Hiến pháp 1946, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt Nam. Ngay tại Điều 1 đã nổi rõ lên tinh thần ấy. “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Định chế luật sư cũng đã được đề ra. Thậm chí, trong bối cảnh của một nhà nước mới thành lập, đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài mà đã chững chạc khẳng định: “Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam” trong Điều 16 của Hiến pháp 1946! Càng nghĩ càng thấm thía về tầm nhìn Hồ Chí Minh.

Và rồi, ở một đất nước mà nhà nước mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hỏi xây dựng một “nhà nước đày tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ, nhưng vấn đề là Hồ Chí Minh đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức nhà nước và cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền còn trong trứng nước: “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới chỉ có ý nghĩa khi trung thực và nghiêm cẩn quán triệt điều ấy. Cũng có nghĩa là phải dám chỉ ra những bất cập của các bản Hiến pháp ra đời sau Hiến pháp 1946 và nguyên nhân cơ bản về những bất cập đó. Có như vậy thì việc sửa đổi Hiến pháp 1992 mới có ý nghĩa thiết thực, khỏi lãng phí sức người, sức của khi mà cuộc sống của dân đang còn quá nhiều khó khăn. Mọi sự khoa trương hình thức đều đi ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và sẽ đánh mất niềm tin của dân.

(1) Đại bách khoa toàn thư Pháp
(2, 3) Francois Furet. “Số phận một ý tưởng”. Người đưa tin UNESCO. Hà Nội, 1989, số 6, tr.5
(4, 5) Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập 1. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.5 và tr.10

GS Tương Lai

qdnd.vn

Giải phóng Thủ Đô 10/10/1954: Những chuyện bây giờ mới kể

Nhân dân Hà Nội mừng đón đoàn quân giải phóng ngày 10/10/1954. Ảnh:Tư liệu

Tiếp quản Sở Trước bạ

Hà Nội có Sở Trước bạ và quản thủ điền thổ do người Pháp lập ra từ những năm đầu thế kỷ XX khi tiến hành mở mang thành phố (vì vậy Sở mang tên quản lý ruộng đất – điền thổ – chứ chưa phải quản lý nhà đất như tên gọi ngày nay). Bên cạnh đó là Sở Địa chính phụ trách đất đai cả xứ Bắc kỳ. Lại có Phòng Pháp chế nhà cửa tại tòa Thị chính nơi người dân đến giao dịch mua bán bất động sản.

Tháng 9/1954, cơ sở báo cho cán bộ ta biết đối phương có âm mưu mang theo vào Sài Gòn tất cả những hồ sơ, tài liệu về nhà đất Hà Nội. Những hồ sơ gốc này được bảo mật và sắp xếp trong những ô, ngăn tủ chuyên dụng, bảo đảm yêu cầu tra cứu sử dụng tiện lợi.

Vậy mà tất cả những hồ sơ nhà cửa đất cát sở hữu công và tư nhân, qua đó có thể vẽ lại chân dung diện mạo Thăng Long Hà Nội xưa, đang bị đóng hòm, chuyển xuống Hải Phòng rồi lên tàu thủy đưa vào Nam. Mục đích thâm hiểm của đối phương là sẽ gây cho Hà Nội rối loạn về quản lý nhà đất. Mất hồ sơ gốc thì người dân sẽ dựa vào đâu, chính quyền sẽ dựa trên cơ sở nào để hoạch định phát triển thành phố, để giải quyết những vụ phân chia tài sản, tranh chấp nhà cửa đất đai? Người dân sống ở nhà quê phải có ruộng vườn, ở thành thị phải có nhà đất. Không một tấc cắm dùi là câu tục ngữ nói lên sự gắn bó mật thiết giữa đất với người.

Bất chấp mọi hiểm nguy, những người làm việc ở sở quản lý điền thổ đã bí mật mang từng chồng hồ sơ đi phân tán cất giấu. Cho đến khi ô tô nhà binh xịch đỗ trước cổng sở thì nhân viên vắng mặt, những hòm tài liệu rõ ràng được khóa, niêm phong cẩn thận đã không cánh mà bay!

Vậy mà đúng ngày quy định, khi cán bộ ta về tiếp quản thì các công chức, nhân viên Sở Trước bạ và quản lý điền thổ có mặt đông đủ và các hòm, gói, cặp hồ sơ nhà đất được chở tới cơ quan, sắp xếp gọn gàng trật tự như cũ, trong các ngăn, tủ đúng theo quy tắc quản lý tiên tiến, khoa học, văn minh. Và bất ngờ, ông giám đốc Sở Trước bạ Trần Văn Du xuất hiện, bàn giao cho cán bộ tiếp quản toàn bộ hồ sơ, tài liệu, tài sản của Sở. Mấy ngày qua ông phải đi trốn vì lo bị ngụy quyền bắt vào Sài Gòn, cho dù được hứa hẹn đi theo họ thì sẽ được trọng dụng, lương tăng cao hơn rất nhiều. Và chính ông, những ngày qua đã cùng nhân viên tích cực cất giấu, phân tán những bộ hồ sơ vô giá.

Mấy ai biết những người làm việc trông coi giấy tờ sổ sách điền thổ một thời chưa xa ấy đã lặng lẽ góp phần nhỏ bé vào thành công to lớn tiếp quản Thủ đô và cũng nhờ đó, việc quy hoạch mở mang thành phố, công tác quản lý nhà đất ở Hà Nội những năm sau này được nền nếp, ổn định, để lại tín xác cho những “sổ đỏ” hôm nay.

Trong số công chức lưu dung (danh từ chỉ những người làm việc dưới chế độ cũ ở lại làm việc sau ngày giải phóng Thủ đô) duy nhất có ông Du được Ủy ban Hành chính Hà Nội giữ nguyên chức Giám đốc Sở. Gia đình ông cũng được công nhận là “cơ sở kháng chiến”, được tặng Bằng khen.

“Không phải gạo đâu”

Hà Nội giải phóng được 15 ngày thì dân thành phố nhao lên vì… thiếu gạo ăn. Bề ngoài không khí vẫn vui tưng bừng. Cổng chào dựng khắp nơi, cờ đỏ sao vàng, đèn hoa kết treo lộng lẫy. Tiếng hát sol lá sol, đêm múa sạp vui tưng bừng. Nhưng gạo?…

Những năm người Pháp tạm chiếm Hà Nội, các gia đình được ăn gạo “bông” từ Sài Gòn chở ra. Nhiều người chê gạo bán theo sổ nhân khẩu tuy rẻ nhưng thổi không ngon cơm nên vẫn đong gạo quê từ các “đại lý” có nguồn từ lính ngụy ăn cướp chở về và từ bà con nông dân ngoại thành gánh vào bán lẻ. Lúc này, Hà Nội thiếu gạo! Bọn đầu cơ thính nhạy tung tin gây hoang mang. Các nhà giàu tích trữ gạo. Giá gạo tăng vòn vọt. Đài nước ngoài đưa tin chính phủ Hồ Chí Minh để dân đói!

Theo ngành lương thực báo cáo thì ta không thiếu lương thực. Nhưng khó khăn trước mắt vì các kho của nhà nước chỉ trữ thóc, việc xay xát dựa vào thủ công. Phương tiện vận chuyển rất thiếu thốn. Những người gánh gạo bán rong chẳng hiểu sao mất hút sau ngày tiếp quản. Mà tâm lý người tiêu dùng ở thành phố mới giải phóng rất dễ bị kích động.

Thế rồi. Thật đáng ngạc nhiên, người ta thấy từng đoàn ô tô chở gạo về các kho trong nội thành. Những kho gạo mậu dịch mới đặt thêm ở phố hàng Chiếu, hàng Khoai gần chợ Đồng Xuân chợ Bắc Qua, ga xe lửa đầu cầu Long Biên là nơi ngày đêm rất đông người tụ họp buôn bán. Theo đoàn xe tải là những anh bộ đội áo xanh mũ nan giày vải. Các anh khuân những bao đay căng phồng, nặng trịch, xếp cao tận nóc kho. Nhìn kho, nhìn gạo, các bà nội trợ bảo nhau:

– Cứ nghe tin đồn nhảm nữa đi!

Chẳng ai đong gạo tích trữ nữa, việc làm này bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nhưng cái chính là có thêm nhiều cửa hàng bán lẻ cho khách mua dễ dàng, mua không hạn chế. Người ta còn bảo nhau:

– Ra cảng Phà Đen mà xem, hàng trăm tấn gạo phủ bạt nằm chờ ô tô chuyển vào kho kia kìa.

Chính các bà nội trợ là những người “làm công tác tư tưởng” hiệu quả nhất. Chỉ trong ít ngày, thị trường lương thực ổn định, lòng dân yên.

Là một trong những người được “trưng dụng” tham gia công tác đột xuất ngày ấy, người viết bài này quen bác công nhân bát tê (ngày nay gọi là cửu vạn) biệt danh tên Ba Tạ vì trong một cuộc thi tài ông đã vác nổi trên vai ba tạ gạo. Ba Tạ nốc rượu như uống nước lã, thuộc Kiều, mê truyện Tam quốc. Chiều tà trên phố hàng Muối, ông Ba Tạ mượn chén tự hào khoe mình góp phần phục vụ “chiến dịch” chạy gạo cho dân Hà Nội ngày đầu tiếp quản. Bất chợt ông vỗ đùi khen:

– Cụ Hồ thánh thật! Việt Minh giỏi thật!

Rồi ông ghé tai tôi, nói nhỏ:

– Phục các anh sát đất. Tình cờ tôi phát hiện có nhiều bao không phải là bao gạo!

Một đời làm phu khuân vác, cái vai ông chạm vào bao tải là biết bên trong đựng gạo hay những hạt không phải gạo. Nhưng ông đã giữ kín điều mình biết rõ, vì một điều gì đấy hết sức thiêng liêng.

Hôm nay, tự nhiên ngồi nhớ đến ông Ba Tạ. Ông là người đã góp phần giữ cho dân tình thành phố này yên ổn trong những ngày đầu chính quyền ta tiếp quản thành công. 55 năm đã qua, xin kể lại chuyện này.

Theo baotintuc.vn
Lê Văn Ba (Cựu tù Chính trị Hỏa Lò)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bà tôi và hũ gạo Cụ Hồ

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà nấu thêm một ít, nhưng đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào, hôm nay bà phải bù lại”… Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến vẫn in sâu trong tâm trí tôi…

Cách mạng tháng Tám vừa thành công, âm hưởng của nạn đói kinh hoàng chưa đi qua. Mồ côi mẹ, tôi ở với bà ngoại. Cuộc sống hai bà cháu dựa vào mấy sào vườn cây ăn quả, một đám đất khô mỗi năm hai mùa trồng sắn.

Giặc Pháp trở lại gây hấn ở Nam Bộ, thanh niên nô nức tòng quân. Lúc đó, cả nước còn thiếu ăn, lương thực hoàn toàn trông vào nền kinh tế nông nghiệp èo uột. Bác Hồ phát động phong trào “Hũ gạo kháng chiến” để nuôi quân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, bà ngoại tôi lấy ra một cái hũ to bằng quả dừa để vào bếp. bà gọi đó là hũ gạo cụ Hồ. Đều đặn, trước khi mang gạo đi vo, bà tôi đưa tay vào rá vốc một vốc bỏ vào hũ. Đến cuối tuần, một cán bộ phụ nữ xã đến thu, bà tôi trân trọng bê hũ đóng góp ủng hộ kháng chiến.

Năm ấy quê tôi đói kém. Gạo không còn một hạt, đã hai ngày bà cháu tôi phải ăn sắn trừ cơm. Dì tôi xót ruột, từ chợ Thông gửi về cho bà cháu năm lon gạo. Tôi mừng rỡ chắc mẩm tối nay được bữa cơm no. Đến bữa, tôi xịu mặt vì thất vọng, nhìn vào nồi cơm vơi mà khóc ròng, giận bà ra mặt.

Bà tôi dịu dàng an ủi: “Đáng lẽ ra bà phải nấu thêm một ít, nhưng cháu biết không, đã hai hôm nay hũ gạo cụ Hồ chẳng có vốc nào. Hôm nay bà phải bù lại, cháu chịu khó ăn ít cơm một tí, gắng ăn sắn thêm vào, ngày mai chị V. đến thu lấy cái chi mà ủng hộ”.

Tôi nghe…. mà trong bụng còn ấm ức, nhưng thầm cảm phục bà. Hơn nữa, tôi là một đoàn viên thanh niên cứu quốc, chính tôi là người đã tích cực vận động bà hưởng ứng phong trào hũ gạo kia mà.

Giặc Pháp ngày càng hung hăng, trắng trợn phá hoại hiệp định đình chiến, thanh niên lớp lớp lên đường, theo nhịp bước các khúc quân hành “Xếp bút nghiên”, “Lên đàng” hừng hực khí thế giết giặc cứu nước.

Tôi không sao quên được buổi chiều hôm đó, chân bước liêu xiêu, bà ngoại tiễn chân tôi đến bến đò Làng Hạ. Năm ấy, ngoại tôi đã bảy mươi lăm tuổi. Tôi đi kháng chiến, bà ở lại còm cõi một mình. Bà nắm tay tôi nói trong nghẹn ngào: “Con đi đi, gắng theo cụ Hồ, đi cho đến nơi đến chốn”. Tôi không nói nên lời, bước đi không dám quay đầu lại.

Đã bao năm qua, hình ảnh bà ngoại tôi với hũ gạo kháng chiến cùng những lời dặn dò của bà vẫn in sâu trong tâm trí tôi. Nó là một hành trang giúp tôi vững bước vào đời. Trong suốt cả cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc, lời của bà luôn văng vẳng bên tai. Mỗi khi gặp khó khăn, suýt vấp ngã, lời bà như động viên, thúc giục tôi bền chí vững lòng, bước tiếp trên con đường cách mạng đầy chông gai và gian khổ.

Bà ơi! cho đến bây giờ lời của bà cháu vẫn luôn ghi nhớ…

Lê Đức Minh

bqllang.gov.vn

Gặp ông cụ 7 năm bảo vệ Bác Hồ

Ông Nguyễn Hữu Trực năm nay đã 79 tuổi nhưng ông rất khỏe mạnh và quắc thước

(Dân trí) – Với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ, vẫn thuộc như lòng bàn tay. Giờ đây mỗi khi nhớ lại quãng thời gian đó ông vẫn còn bồi hồi xúc động…

Chúng tôi tìm đến thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang hỏi nhà Đại tá Nguyễn Hữu Trực thì ai cũng biết, đó là một căn nhà nhỏ với vườn cây xanh rợp bóng mát nằm cách cổng làng khoảng chừng 200m.

Khi chúng tôi đến, Đại tá Nguyễn Hữu Trực, từng công tác trong ngành Công an, năm nay đã 79 tuổi, đang phụ cháu vớt bèo ngoài ao cá sau nhà. Tuy đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, mái tóc đã bạc trắng nhưng Đại tá Trực vẫn còn minh mẫn, dáng đi nhanh nhẹn. Nhấp ngụm nước chè, ông bồi hồi nhớ lại khoảng thời gian 35 năm hoat động cách mạng của mình với niềm vinh dự, hạnh phúc và may mắn được làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ trong suốt 7 năm.

Ông sinh năm 1932 trong một gia đình tại thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tháng 10/1950, ông tham gia lực lượng thanh niên xung phong phục vụ các Chiến dịch Biên Giới, Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám.

Sau đó, ông vào công tác trong ngành Công an từ tháng 2/1955. Sau một thời gian huấn luyện nghiệp vụ, lần đầu tiên ông cùng Đội Cảnh vệ tháp tùng Bác đi thăm viếng nghĩa trang liệt sỹ vào dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 10. Ngay sau đó ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch.

Sau bao nhiêu năm bôn ba, tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê hương Nghệ An. Lần đó ông được tham gia bảo vệ Bác về quê. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Vũ Kỳ, ông được trực tiếp bảo vệ và bố trí lịch tiếp khách của Bác trong Phủ Chủ tịch. Cũng vào năm đó ông được kết nạp Đảng.

Dù đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng với ông, khoảng thời gian làm nhiệm vụ bảo vệ bên Bác, từng khóm cây, ngọn cỏ, con mương trong Phủ Chủ tịch ông vẫn nhớ vẫn thuộc như lòng bàn tay. Với ông Trực những lần bảo vệ Bác về quê, đi công tác, thăm nhân dân, bộ đội, các cháu học sinh và thiếu niên nhi đồng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của ông.

“Sau Đại hội Đảng lần thứ ba, Bác muốn đi thăm bà con nông dân thu hoạch mùa màng. Vì lo có chuyện gì không may xảy ra nên chúng tôi đã bố trí một ruộng đang gặt để Bác xuống thăm. Nhưng Bác nhận ra Bác bảo: Các chú lại bố trí rồi! làm gì có bà con nào đi gặt đều ăn mặc quần áo đen giống nhau thế kia. Bác đã không xuống, Bác bảo cứ cho xe chạy tiếp. Đến khu cánh đồng ở huyện Đan Phượng (tỉnh Hà Tây cũ) Bác bảo dừng xe lại. Biết Bác đến mọi người khắp cánh đồng vui mừng, xúc động vội vàng đến bên Bác khi mà trên tay vẫn còn cầm dao gặt lúa và đòn gánh. Anh em chúng tôi được một phen phát hoảng. Rồi vào ngày 30 Tết năm 1960, Bác muốn đi thăm chợ Đồng Xuân, chúng tôi lên kế hoạch cải trang cho Bác nhưng Bác không đồng ý”.

“Lần đó, Bác mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn để che bộ râu đi rồi ra thăm chợ xem cuộc sống của đồng bào chiều 30 Tết như thế nào. Bác đi đến khắp các dãy trong chợ, qua từng cửa hàng nhưng không ai nhận ra Bác. Nhưng khi đi gần hết chợ thì có hai cháu thiếu niên nhận ra Bác. Hai cháu thiếu niên tý nữa thì reo lên “A Bác Hồ”, cũng may là chúng tôi kịp ra hiệu để hai cháu nhỏ không hét lớn lên, ra đến cuối chợ có xe đến đón Bác, khi đó mọi người mới vỡ ra trong tiếc nuối là Bác đến”.

Trong suốt 7 năm phục vụ Bác Hồ, 5 năm ông làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài và 2 năm trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong Phủ Chủ tịch. Những kỷ niệm đó không bao giờ phai nhạt trong ông.

Ông còn nhớ như in, những ngày tháng phục vụ Bác trong Phủ Chủ tịch. Vào ngày nghỉ nào, Bác cũng tổ chức và xem chiếu phim cùng anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ. Những năm bảo vệ bên Bác, ông được ăn Tết cùng với Bác một lần và một lần cùng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ông Trực xúc động nhớ lại: “Bác sống rất giản dị và tiết kiệm. Đi công tác, Bác không vào luôn trụ sở hay nhà máy mà Bác đi thăm cuộc sống, sinh hoạt của mọi người trước và không bao giờ ăn cơm ở đó. Quà Tết các địa phương gửi biếu Bác, Bác không dùng mà gửi tặng các cụ già, thiếu nhi, thương binh và bộ đội…”.

Ông Trực bồi hồi nhớ lại quãng thời gian phục vụ bên Bác Hồ

Đến năm 1962, ông Trực được cử đi học nghiệp vụ tại Liên Xô. Sau hai năm học tập, ông về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, ông được cử về trường Lào (Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào). Đến năm 1990 thì ông nghỉ hưu với hàm Đại tá.

Trong suốt khoảng thời gian 35 năm phục vụ cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, và Huân chương Tự do hạng Nhì của nước bạn Lào.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Hữu Trực có 5 người con, hiện con cái của ông bà đã thành đạt và ra ở riêng. Hàng ngày ông cùng vợ sống trong căn nhà nhỏ nơi thôn Giữa.

Hơn ai hết, những ngày này, ông Trực lại bồi hồi nhớ lại những cảm xúc về khoảng thời gian hạnh phúc, vinh dự được sống và phục vụ bên Bác, được phục vụ Bác và được Bác ân cần dạy bảo những điều hay lẽ phải trong công việc và cuộc sống. Những tình cảm của Bác suốt cuộc đời ông không bao giờ quên…

Theo Nguyễn Khoát – Duy Tuyên
dantri.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Người mẹ Làng Sen

Bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901), thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tôi tin rằng đã là người Việt Nam, ai cũng có mong muốn được một lần về thăm quê Bác Hồ – nơi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã từng sống ngày còn ấu thơ. Về Làng Sen, thăm nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sinh ra, lớn lên và lên núi Động Tranh, đến mộ bà Hoàng Thị Loan để thắp nén nhang tưởng nhớ bày tỏ tấm lòng thành kính biết ơn đối với thân mẫu của Bác – người mẹ anh hùng đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một địa chỉ thiêng liêng trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Hoàng Thị Loan (1901) là con gái của cụ Hoàng Xuân Đường. Bà sinh ra trong một gia đình nho học truyền thống lâu đời, nếp sống hàng ngày của các thành viên trong gia đình mang nhiều phẩm chất văn hóa cao đẹp của quê hương Nam Đàn xứ sở Hồng Lam.

Khi bước vào độ tuổi trăng tròn đẹp nhất của người con gái, Bà Hoàng Thị Loan được mọi người biết đến là một cô gái nết na, thuỳ mị, luôn vui vẻ, hoà nhã, dung nhan tươi đẹp, duyên dáng, ngày thì chăm việc đồng áng, tối về nhà lại miệt mài canh cửi. Con người Bà đã hội tụ đủ bốn đức tính của người phụ nữ truyền thống: công, dung, ngôn, hạnh.

Vào thời kỳ này, người phụ nữ vẫn còn bị ràng buộc nặng nề bởi các lễ giáo phong kiến, đặc biệt là trong hôn nhân. Việc kết hôn phải môn đăng hộ đối: “trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi”. Được sự động viên, ủng hộ của gia đình, Bà Hoàng Thị Loan đã mạnh dạn vượt lên những quan niệm cổ hủ của xã hội để đem lòng yêu thương và kết duyên cùng cậu Nguyễn Sinh Sắc, người mồ côi cả cha lẫn mẹ và được gia đình mình đưa về nuôi cho ăn học trong nhà đã mấy năm nay. Ngày cưới của Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan được tổ chức vào mùa sen nở năm Quý Mùi (1883).

Ông bà Hoàng Xuân Đường dựng ngôi nhà lá ba gian đầu góc vườn phía tây nhà mình cho đôi vợ chồng mới cưới có chỗ ở riêng. Từ đó, cậu học trò Nguyễn Sinh Sắc được học tập trong tình yêu và sự giúp đỡ hết lòng của người vợ trẻ. Tình yêu, sự đảm đang, tháo vát việc nhà và sự hy sinh thầm lặng cho gia đình của Bà Hoàng Thị Loan là nguồn động viên lớn lao, là cơ sở vững chắc trên con đường cử nghiệp của ông. Những tháng ngày vất vả, gian nan trên con đường cử nghiệp của ông Nguyễn Sinh Sắc đều có dấu ấn của người vợ hiền thảo, đảm đang. Bà đã sát cánh bên ông, kiên trì động viên chồng dùi mài kinh sử để đi tới thành công trong cuộc đời thi cử của mình.

Ngôi nhà tranh ba gian ghi đậm dấu ấn những tháng ngày vất vả nhưng đầm ấm, hạnh phúc của gia đình bà. Ngày ngày, “Chồng miệt mài kinh sử, thiếp canh cửi đưa thoi”. Để chồng yên tâm học hành, bà Loan không quản ngại khó khăn, vất vả, một nắng hai sương lao động ngoài đồng ruộng, đến bữa về lo cơm nước cho chồng, cho con, tối đến ngồi trên khung cửi, vừa dệt vải, vừa đưa võng ru con ngủ, nhiều đêm thức tới khuya để động viên chồng ôn luyện văn chương, đỡ phần hiu quạnh. Bà không những chỉ tạo ra cơ sở vật chất đơn thuần, mà bà còn là người nối chí, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho chồng.

Khung cửi dệt vải của bà Hoàng Thị Loan trong ngôi nhà của Bác ở làng Hoàng Trù

Năm 1895, ông Sắc đủ tiêu chuẩn vào làm giám sinh trong Quốc Tử Giám để tu luyện văn chương, chờ kỳ thi Hội tới. Với mong muốn chồng tiếp tục học hành, đậu đạt cao hơn, bà đã gửi con gái đầu lòng mới 11 tuổi ở lại với mẹ già, rồi đưa hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm (7 tuổi) và Nguyễn Sinh Cung (5 tuổi), gồng gánh theo chồng vào Huế để nuôi chồng, nuôi con, tạo điều kiện vật chất và tình cảm để chồng yên tâm học tập ở trường Quốc Tử Giám. Tình yêu, trách nhiệm với gia đình đã giúp Bà vượt qua những khó khăn bỡ ngỡ khi lần đầu tiên đặt chân lên nơi đất khách quê người, tiếp thêm sức mạnh cho Bà làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ.

Hình ảnh người vợ chân đi dép mo cau, vai quẩy đôi gánh, một bên là con nhỏ, một bên là cả gia tài mang theo, vượt qua bao suối, bao đèo giữa những cơn mưa rào, giữa những ngày nắng gắt trên đường vào kinh đô Huế không bao giờ phai mờ trong tâm trí của ông Nguyễn Sinh Sắc. Nếu ảnh hưởng của ông Nguyễn Sinh Sắc đối với các con là nền bác học với một nhân cách yêu nước thương nòi mang đậm tính nhân văn, thì ảnh hưởng từ người mẹ là nền văn hóa dân gian mang đậm truyền thống dân tộc và những phẩm chất của tầng lớp lao động bình dân in đậm trong tình mẫu tử. Bà đã nêu một tấm gương trong sáng về nhân cách đạo đức cho con cái học tập. Ở đâu Bà cũng thể hiện một lối sống vui vẻ, vô tư, có nghĩa, có tình được mọi người hết sức yêu mến và quý trọng. Với tấm lòng nhân hậu và mẫn cảm của người mẹ, bà đã vun trồng, uốn nắn, dạy dỗ con cái bài học đầu tiên về cách sống, về đạo lý làm người. Vì vậy, ngay từ thuở ấu thơ, các con của Bà đã biết nói những điều hay, làm những việc tốt, biết kính trọng người trên, biết sống chan hòa với bạn bè, giàu lòng vị tha, nhân ái, biết nhường nhịn mọi người. Là một người có biết ít nhiều chữ thánh hiền, bà Hoàng Thị Loan đã dành rất nhiều tâm sức để truyền thụ cho con những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên và xã hội. Tất cả những câu hỏi ngây thơ, ngộ nghĩnh của con đều được bà tìm cách trả lởi rõ ràng, cặn kẽ, dễ hiểu. Là một người mẹ cần cù, chăm chỉ, bà đã dạy cho con biết yêu lao động, biết làm những công việc phù hợp với sức lực và lứa tuổi của mình một cách mê say, chịu khó và sáng tạo, tự lập trong cuộc sống. Nhờ vậy, đến năm 1901, sau khi bà mất, Nguyễn Sinh Cung từ Huế trở về Hoàng Trù, mặc dù tuổi nhỏ, đã đỡ đần nhiều việc cho bà ngoại.

Những lời ru, tiếng hát ngọt ngào, chan chứa tình cảm và giá trị nhân văn sâu sắc của mẹ đã góp phần tạo nên tâm hồn rộng mở, tấm lòng nhân ái mênh mông của Bác Hồ. Bà Hoàng Thị Loan đã truyền lại vốn hiểu biết văn học dân gian phong phú của mình cho con qua lời ru ấm cúng, mượt mà nên tuổi thơ của các con đã hấp thụ được những tấm gương nghĩa liệt yêu nước, thương nòi, lời ca tiếng hát đã nhen nhóm vào lòng con tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng phần nào hình thành ý chí quyết tâm làm nghiệp lớn vì nước vì dân trong tâm hồn cậu bé Cung. Để rồi khi lớn lên, cậu quyết tâm bôn ba khắp năm châu bốn bể, ra đi tìm đường cứu nước chỉ với một trí tuệ lớn,một tâm hồn trong sáng, cháy bỏng tình yêu quê hương, đất nước và hai bàn tay trắng:

“Ru con, con ngủ đi nào,
Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng.
Làm trai quyết chí anh hùng,
Ra tay xây dựng vẫy vùng nước non”.

Tiếng ru à ơi của mẹ đã đưa cậu bé Cung vào giấc ngủ say nồng bằng những lời chói ngời đạo lý:

“Con ơi, mẹ dặn câu này,
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm.
Làm người đói sạch rách thơm,
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.

Trong sinh hoạt hàng ngày, Bà sống rất giản dị, tiết kiệm, sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Bà tập cho con làm những điều tốt và thực tế đã trở thành nếp sống quen thuộc hàng ngày của các con. Nếp sống giản dị thanh tao đó của Bà đã được phản ánh rõ ràng trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi cậu bé Nguyễn Sinh Cung mới 10 tuổi, bà Loan bị ốm phải nằm trên giường bệnh vì lao động quá sức, đời sống lại ngặt nghèo, thiếu thốn, sức khỏe suy giảm sau khi sinh người con trai út. Bà qua đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý) khi tuổi đời chỉ mới 33 mùa xuân. Một đời tần tảo vất vả nuôi chồng, nuôi con nhưng khi bà từ giã cõi đời ra đi thì chồng và hai con lớn của Bà đều ở xa không hay biết. 33 năm tuy ngắn ngủi nhưng bà đã sống một cuộc đời đầy ý nghĩa và hạnh phúc bên gia đình, đóng góp quan trọng vào những thành công của chồng, của con.

Thi hài của Bà được mai táng ở núi Tam Tầng bên dòng sông Hương tại Huế. Năm 1922, hài cốt của Bà được cô Thanh – con gái của bà đưa về mai táng tại vườn nhà mình ở Làng Sen – Kim Liên. Năm 1942, cậu cả Nguyễn Sinh Khiêm cải táng thi hài của Bà tại ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ. Năm 1984, để bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã có công sinh thành và dưỡng dục Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ) và lực lượng vũ trang Quân khu 4 thay mặt cho đồng bào và chiến sỹ cả nước đã xây dựng khu mộ của Bà đàng hoàng, khang trang và đẹp đẽ trên núi Động Tranh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Từ chân núi Động Tranh, lối lên phần mộ Bà nằm ở bên trái phần mộ có 269 bậc (con số 69 là năm Bác Hồ mất – 1969), lối xuống bên phải phần mộ có 242 bậc (con số 42 là năm cậu Khiêm; đưa hài cốt mẹ về đây – 1942). Trước phần mộ xuống sân bia 33 bậc, con số 33 là tuổi đời của Bà. Phía trên mộ là dàn hoa cách điệu hình khung cửi – công cụ lao động đã gắn bó với suốt cả cuộc đời Bà. Hai cụm cây hoa Giấy che mát phần mộ Bà được lấy giống từ Huế – nơi bà mất và khu lăng mộ của ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp. Trên nền sân thượng hình bán nguyệt trước mộ, có dựng tấm bia lớn tạc tiểu sử và công lao của Bà Hoàng Thị Loan bằng đá đen.

Từ ngày khánh thành (16/5/1985) đến nay đã có hàng triệu lượt người về đây thành kính thắp nén hương thơm tỏ lòng chân thành, ngưỡng mộ và biết ơn Bà Hoàng Thị Loan, người mẹ của một vĩ nhân, mẹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa Việt Nam, vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước ta.

Tình thương và nỗi nhớ sâu đậm về mẹ kính yêu vẫn luôn thường trực trong trái tim Hồ Chủ tịch. Khi đang bôn ba ở nước ngoài, giữa đêm khuya nghe tiếng một bà mẹ Việt kiều ru con, Người lại thổn thức không ngủ được vì nhớ những làn điệu dân ca, những lời ru gần gũi, thân quen thuở nhỏ của mẹ:

“Xa nhà chốc mấy mươi niên
Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con”.

Cụ Nguyễn Sinh Vinh – người đã gắn bó, giữ gìn mái nhà tranh của Bác Hồ ở quê nội của Người kể lại sự kiện phục dựng ngôi nhà Bác: “Lúc phục dựng ngôi nhà, chúng tôi làm bàn thờ Bà Hoàng Thị Loan bằng gỗ sơn son thiếp vàng và có làm thêm cổng vào nhà cho thêm khang trang”. Lần thứ nhất Bác về thăm quê vào ngày 16/6/1957, bước vào nhà thấy bàn thờ mẹ mình, Bác xúc động nói: “Xưa nhà Bác nghèo, bàn thờ chỉ làm bằng tre, trên trải chiếu mộc, đơn giản thôi”. Sau này, mọi người đã phục dựng lại đúng như hiện trạng nhà cũ ban đầu. Sau hàng chục năm xa quê, ngày trở lại, Người vẫn không quên lối đi nhỏ vào nhà ngày xưa, không quên chiếc rương gỗ nhỏ – của hồi môn ít ỏi của mẹ, khung cửi của mẹ, chiếc phản gỗ và mấy pho sách của cha…

“Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”.

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), nhìn thấy đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa xen em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng, Bác ngậm ngùi: “Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.”

Từ khi chào đời, Bác đã được nhận nguồn sống từ dòng sữa mẹ, trong lời ru, câu ca, điệu hò và chập chững những bước đi đầu tiên được mẹ ân cần dìu dắt. Lớn lên lại chứng kiến nỗi vất vả, tảo tần lao động để lo toan nguồn sống gia đình do tay mẹ vun đắp. Do đó, Bác Hồ đã ảnh hưởng từ người mẹ nền văn hoá dân gian mang đậm bản sắc dân tộc. Bác thấu hiểu những khó khăn, vất vả của mẹ, của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ. Chính vì vậy, trong hành trình tìm đường cứu nước, Bác Hồ là người đề xướng và tiến hành cuộc cách mạng về giải phóng phụ nữ, đưa thân phận người phụ nữ Việt Nam từ cảnh lầm than, khổ cực, bị khinh miệt và đối xử thậm tệ trở thành người công dân có đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò xã hội ngang hàng với nam giới. Người quan niệm rằng: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số dân, để xây đựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đoàn đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về Hà Nội ngày 25/11/1965

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói về Bà Hoàng Thị Loan với những tình cảm chân thành, sâu sắc: “Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cụ – người đã có công sinh thành và nuôi dưỡng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã mang lại vinh quang cho đất nước Việt Nam, người mà mọi người Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ mãi mãi ghi ơn !

Không biết các bạn đã từng nghe bài hát “Người mẹ Làng Sen” chưa, còn với tôi, tôi đã nghe bài hát này không biết bao nhiêu lần. Mỗi khi giai điệu của bài hát được ngân lên, trái tim tôi lại thổn thức và bồi hồi xúc động. Xin được bày tỏ sự kính trọng và tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với Bà Hoàng Thị Loan – người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu nhất, người mẹ vĩ đại đã sinh ra cho đời của những người con anh hùng, sinh ra cho đất nước ta Người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Mẹ làng sen, mẹ làng sen, Người mẹ Việt Nam đã cho đời người con quang vinh…
Mẹ làng sen, mẹ làng sen, Người mẹ Việt Nam đã cho đời người anh hùng Hồ Chí ………Minh.

Thu Hiền

bqllang.gov.vn

Thiên tài Hồ Chí Minh là khả năng tập hợp người yêu nước

QĐND – Như Sự kiện và Nhân chứng từng giới thiệu, nữ nhà văn Mỹ Lê-đi Bớc-tơn là một tác giả, dịch giả nổi tiếng về văn học và văn học sử về đề tài Việt Nam. Bà là một nhà hoạt động xã hội theo lý tưởng của tổ chức cứu trợ Quây-cơ (Quaker), nhưng cuộc sống của nhân dân Việt Nam đã thôi thúc bà cầm bút. Cảm phục thiên tài Hồ Chí Minh, bà đã dịch cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện của Người sang tiếng Anh (Bảo tàng Hồ Chí Minh và NXB Thế giới xuất bản năm 2009), viết sách và nhiều bài báo về vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam.

Nhà văn Lê-đi Bớc-tơn. Ảnh: Khôi Nguyên

Phóng viên (PV): Thưa nhà văn Lê-đi Bớc-tơn,bà bắt đầu nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ năm nào?

Bà Lê-đi Bớc-tơn: Tôi bắt đầu nghiên cứu sâu về Hồ Chí Minh từ năm 1995, sau khi hoàn thành cuốn Tiếp sau nỗi buồn viết về Việt Nam. Tên tiếng Anh của cuốn sách tôi lấy ý từ một tứ thơ trong bài “Trời hửng”, thuộc tập Nhật ký trong tù. Dĩ nhiên là tôi đã quan tâm tới Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu và ngày càng nhận thấy rõ hơn rằng: Khi chúng tôi, những người phương Tây, nghĩ rằng mình đã biết rõ Hồ Chí Minh, thì chính lại là lúc có thể mắc sai lầm rất rõ rệt.

Trong những năm chúng tôi soạn thảo Tiếp sau nỗi buồn, chị Nguyễn Hạc Đạm Thư kể cho tôi nghe những mẩu chuyện về quan sát riêng của chị về Hồ Chí Minh. Một số trong các mẩu chuyện đó đã xuất hiện trong Hồ Chí Minh: Một hành trình của tôi. Tôi thật cảm hứng khi nghe các câu chuyện về Hồ Chí Minh do các bạn bè Việt Nam từng tham gia Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến kể lại. Rồi tôi gặp được những người từng biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh khá rõ để nghe họ kể về Người.

– Chúng ta hãy thử làm một thống kê xem bà đã có mấy cuốn sách về Hồ Chí Minh? Có mấy cuốn về Việt Nam?

– Với sự trợ giúp của bạn bè ở Việt Nam và trên thế giới, tôi vừa viết xong một cuốn sách tiểu sử khổ nhỏ về lãnh tụ Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh, nhan đề Hồ Chí Minh: Một hành trình với nhiều thông tin chưa từng được công bố. Đã có rất nhiều người đóng góp vào tập sách.

Chúng tôi hy vọng bản tiếng Việt cuốn Hồ Chí Minh: Một hành trình sẽ được NXB Thế giới phát hành vào mùa xuân này.

Tôi viết cuốn sách này vì áy náy về những thông tin thiếu chuẩn xác bằng tiếng Anh khi viết về Hồ Chí Minh. Nhiều nhà văn phương Tây đã không nhờ các đồng nghiệp Việt Nam soát xét lại bản thảo của họ. Chúng tôi, những người nước ngoài dễ mắc lỗi khi viết về đề tài Việt Nam. Tôi cũng là người đặc biệt hay mắc lỗi. Nhưng sau mỗi lần như thế, tôi đã học hỏi thêm được nhiều điều. Tôi tập hợp thêm những chi tiết, tìm hiểu sâu hơn vấn đề, rồi những vấn đề mới xuất hiện. Nhờ đó, nội dung cuốn sách Hồ Chí Minh: Một hành trình ngày càng trở nên phong phú.

Mọi người nghĩ tôi đã viết nhiều sách về Việt Nam. Trên thực tế điều này không đúng. Tôi có viết một cuốn sách về người tị nạn đã rời khỏi Việt Nam. Còn về đất nước con người Việt Nam, tôi chỉ viết cuốn After Sorrow, sau đó được dịch sang tiếng Việt (Tiếp sau nỗi buồn), và tiếng Pháp (Vietnam l’après-chagrin). Các bản này đều được NXB Thế giới phát hành.

Bìa cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” do nhà văn Lê-đi Bớc-tơn chuyển ngữ sang tiếng Anh.
Ảnh: Khôi Nguyên

Nhưng tôi có hiệu đính, giúp nghiên cứu, hoặc là đồng tác giả của nhiều cuốn sách. Học giả Hữu Ngọc và tôi cùng biên soạn tập sách song ngữ nhỏ: Những câu thường hỏi về văn hóa Việt.

– Bà đã dịch một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Anh. Những cuốn đó được mọi người đón đọc như thế nào?

– Sát hạch đối với nhà văn hay nhà thơ chính là các tác phẩm của họ liệu có thể được các thế hệ nối tiếp nhau đọc hay không. Hè năm vừa qua, tôi đã đọc một số đoạn của bản tiếng Anh cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện cho những người dân Bô-xtơn(Boston), Mỹ. Trong số những đoạn tôi đã đọc có mẩu chuyện về các phòng thiêu người nơi phát xít Đức tàn sát sáu triệu người Do Thái trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đây là một trong những đoạn văn có sức tố cáo nhất về tội ác diệt chủng đối với người Do Thái. Sau đó, nhiều người, cả dân gốc Do Thái và những người không phải là Do Thái, đã nói rằng họ rất xúc động về đoạn văn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Có những bài viết của bà, ví dụ như “Tài giả dạng của Hồ Chí Minh” là phát hiện mới và độc đáo. Trong bài viết đó, bà trích bài báo của tờ South China morning Post miêu tả vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông 1931-1933. Những tài liệu đó bà khai thác ở Việt Nam hay nước ngoài?

Vài năm trước đây, khi chuẩn bị sang Anh công tác, tôi đã đến hỏi TS. Nguyễn Thị Tình, lúc đó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, rằng tôi có thể tìm hiểu tại Luân Đôn về những gì mà Bảo tàng đang quan tâm. Chị Tình nhờ tôi tìm hiểu những hồ sơ tư liệu có liên quan đến luật sư Lô-giơ-bai (Loseby) và vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Tôi đã tới tra cứu ba ngày tại Lưu trữ Quốc gia Anh.

Tôi đã không tìm được điều gì. Hoàn toàn không. Nhưng trước khi ra sân bay rời Luân Đôn, tôi ngồi “chơi” với mục tìm kiếm trên chiếc máy tính trữ các thư mục của Lưu trữ Quốc gia Anh. Một cách cầu âu, tôi đánh chữ “Nguyen Ai Quoc”. Sau hai tiếng “póp, póp”, đã xuất hiện hai tệp “Vụ bắt giữ Nguyễn Ái Quốc”, một được lưu trữ vào năm 1931, một vào năm 1932. (Hóa ra trước đó tôi đã tìm kiếm bằng những từ khóa không thích hợp. Xin được gợi ý: Nếu tìm hiểu Hồ Chí Minh không nên tìm kiếm bằng từ khóa Tống Văn Sơ khi ở phương Tây. Đây là từ được dịch sang tiếng Việt, không phải từ gốc, chỉ sử dụng trong tiếng Việt. Ở nước ngoài, cần tìm kiếm bằng từ khóa “Sung Man Cho”, hoặc “Nguyen Ai Quoc”).

Nhà văn Lê-đi Bớc-tơn (thứ nhất từ trái sang) chụp ảnh với bà Nguyễn Thị Thập (thứ hai từ trái sang) Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một số nữ cán bộ cách mạng. Ảnh tư liệu

Các thông tin trong hai tệp được trữ dưới dạng micrô phim. Tôi “kéo” được hai cuộn phim từ ô phích đựng phim, in chúng ra, rồi chạy nước rút ra sân bay, vác theo 250 trang tài liệu cùng đồ đoàn của mình.

Vụ án nào cũng có hai bên. Việt Nam từ lâu đã biết về bên “bị” là Hồ Chí Minh, thông qua hồi ức của Người thể hiện trong cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện, cũng như qua chuyến thăm Việt Nam của luật sư Lô-giơ-bai năm 1960. Còn hai cuộn micrô phim kể trên mở đường đến bên “nguyên” của vụ án, bên chống lại Hồ Chí Minh, đó là đế quốc Anh và thực dân Pháp.

Cả thảy, tôi đã dành 5 năm để nghiên cứu Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông trong những chuyến đi công tác ở Pháp, Anh, Hồng Kông, Nhật, và cả khi ở Hoa Kỳ (Vâng, đúng vậy. Nhiều hồ sơ có liên quan đến Người hiện có cả ở Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ!). Các đồng nghiệp tại Bảo tàng Hồ Chí Minh đã dựa vào tư liệu của cả hai phía để biên soạn một cuốn sách về Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Các chuyên gia thiết kế, chế bản của NXB Chính trị Quốc gia đã sáng tạo ra một bố cục sách gây được ấn tượng thật sâu sắc. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa ngừng công việc tìm kiếm sử liệu liên quan đến sự kiện này. Chẳng hạn, chỉ mới gần đây thôi, tôi mới tìm được ra tấm ảnh của Phran-xít Gien-kin (Francis Jenkin), vị trạng sư bào chữa đã biện hộ cho Hồ Chí Minh tại Tòa án tối cao Hồng Kông. Chúng tôi sẽ giới thiệu bức ảnh chân dung của Phran-xít Gien-kin trong bản tiếng Việt cuốn Hồ Chí Minh: Một hành trình sắp ra mắt bạn đọc.

– Bà từng lặn lội sang Luân Đôn để tìm hiểu những ngày Hồ Chí Minh làm việc ở đó – một việc mà rất ít nhà sử học Việt Nam có dịp thực hiện. Đó có phải là lợi thế của bà so với đồng nghiệp Việt Nam khi nghiên cứu về Người?

– Khi ở Luân Đôn, tôi đã phát hiện được một số chi tiết chưa chuẩn xác trên sách báo viết về quãng đời của Hồ Chí Minh tại Luân Đôn, và cũng xác định được rằng đã không thể tìm được tư liệu để minh chứng cho một số sự việc đang cần thẩm định. Chẳng hạn, đã xác định được rằng chàng trai Nguyễn Tất Thành lúc đó chưa rành tiếng Anh đến mức có thẻ vào đọc tại Phòng đọc Hình tròn của Thư viện trung tâm Anh quốc. Hơn nữa, đã không có một bí danh, biệt danh nào của Hồ Chí Minh xuất hiện trên sổ đăng ký bạn đọc, được bảo quản cẩn thận từ những ngày đó.

Tôi cũng xác định được rằng không tìm được các tư liệu từ những năm 1900 thể hiện quá trình Hồ Chí Minh làm việc tại khách sạn Đrây-tơn Coóc-tơ (Drayton Court Hotel), khu Oét I-linh (West Ealing), Luân Đôn (nay là một quán rượu đông khách), hoặc tại Khách sạn Các-tơn (Carlton) sang trọng ở trung tâm Luân Đôn (khách sạn này đã bị bom của Đức phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ II).

Từ cương vị công tác cho một tổ chức phi chính phủ quốc tế, quả thật tôi đã có được ưu thế rõ rệt so với một số đồng nghiệp Việt Nam. Vì cương vị ấy cho phép tôi có những dịp công tác sang các nước ngoài Việt Nam, khi tôi có thể “quá giang”, “lợi dụng” chuyến công tác cho cơ quan để tra cứu về Hồ Chí Minh trong các kho lưu trữ. Từ khi về hưu, tôi đã không còn có được lợi điểm này, trừ chuyến đi mỗi dịp hè từ Hà Nội về Hoa Kỳ để lên lớp tại một khóa học Văn khoa. Cơ hội để tìm thấy một “dấu chân” của Hồ Chí Minh ở Hoa Kỳ hôm nay quả là có phần mỏng manh. Nhưng tôi vẫn ra sức tìm kiếm vào mỗi dịp được về Mỹ.

Có thể tôi có ưu thế trong kỹ năng tìm kiếm, nhờ “lô gích tâm lý” – sự kết hợp giữa tư duy toán học, do từng là giáo viên toán, với phương pháp kết cấu mạch văn. Chẳng hạn, có một số sử gia Hoa Kỳ nói rằng thời gian Hồ Chí Minh sống tại Bô-xtơn là không quan trọng? Có thật như thế? Kết luận như thế quả là ngược với lô gích tâm lý. Một người trẻ tuổi như Hồ Chí Minh lúc đó không học được điều gì trong suốt một năm trời ở một nước ngoài? Nếu điều này đúng, các trường đại học ở Mỹ cử sinh viên của họ sang Việt Nam thực tập một năm để làm gì?

Hãy khảo sát tình hình Bô-xtơn năm 1912-1913. Chúng ta thấy phong trào đấu tranh giành độc lập cho Phi-líp-pin thoát ách đô hộ của Mỹ, thấy bộ luật kỳ thị như Luật áp dụng riêng cho người Hoa (Hồ Chí Minh trong mắt xã hội Mỹ, do ngoại hình, hẳn được nhìn nhận như người Hoa), thấy trào lưu chống phân biệt chủng tộc sục sôi trong cộng đồng Mỹ gốc Phi (những người bị đô hộ trong lòng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), thấy dồn dập những cuộc tuần hành đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Hồ Chí Minh hẳn đã quan sát, học hỏi kinh nghiệm của các làn sóng đấu tranh này.

Giả định chúng ta áp dụng lô gích tâm lý lên tình hình trên đường phố. Chúng ta diễu qua cửa ra vào dành cho nhân viên của Pa-cơ Hao-xơ (Paker House), nơi thấp thoáng trong màn khói bếp, những người nấu bếp bận rộn giữa những đống rau củ, thịt cá. Chúng ta đi trên các phố của thành Bô-xtơn, dùng trí tưởng tượng một cách có lô gích để tư duy, xem người thanh niên có tính cách và tâm lý như Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh sẽ quan tâm đến điều gì. Chúng ta sẽ tiếp tục dòng suy tưởng tại thư viện công. Chúng ta lật các tờ báo, tạp chí, tranh ảnh của những năm 1912-1913, đọc các văn bản, các quảng cáo thời đó, để hình dung những gì Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh đã quan sát được năm 1913.

Tuy nhiên, lần theo dấu chân Nguyễn Tất Thành, chúng ta gần như chưa tìm được những dấu vết chắc chắn. Hiện nhiều câu văn vẫn chỉ mới ở dạng giả định, với các trạng từ như “hẳn”, “chắc là”, “có lẽ” …

– Bà phát hiện sự thú vị trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự nhạy cảm của nhà văn hay là tính chính xác của một giáo viên dạy toán?

– Các chi tiết về Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là một phát hiện đột xuất của tính lô-gích: Khi tôi biên dịch Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, câu trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ khi được dịch ngược sang tiếng Anh lại biến thành một câu khác! Tôi hỏi lại Sác-lơ Phen (Charles Fenn), cựu sĩ quan OSS của Đồng minh, đóng tại Côn Minh năm 1945. Ông Phen trả lời vào tháng 8-1945, theo yêu cầu của Cụ Hồ ông đã gửi sang Hà Nội nguyên bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ cho Người. Nhận thức rằng Hồ Chí Minh khoảng năm 1913 hẳn đã quan sát phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mỹ, rồi tư duy về giá trị của kết luận của Người trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, tôi thấy rõ: Trong khi dịch Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh đã chủ động chuyển hoán lời kêu gọi, sao cho nó bao gồm được cả đối tượng phụ nữ và dân tộc ít người.

– Có nghĩa là trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ không có từ “Tất cả mọi người” như trong Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chí Minh viết?

– Vài năm trước, tôi có phát biểu trước vài trăm sinh viên và hơn mười giáo sư tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Một giáo sư Việt Nam rất giỏi tiếng Anh đã thử thách luận điểm của tôi về cách Hồ Chí Minh trình bày phần đầu bản Tuyên ngôn Độc lập. Ông ấy nói: “Chẳng nhẽ chữ “men” trong tiếng Anh lại không ngụ ý “tất cả mọi người”, tức là “cả đàn ông và đàn bà”?

“Vâng”, tôi đáp. “Vấn đề chính ở chỗ ấy. Nhưng Hồ Chí Minh hẳn đã chứng kiến hàng đoàn biểu tình, tuần hành của phụ nữ Mỹ đòi quyền bầu cử. Và Người hẳn cũng biết rằng từ “men” vào thời Hoa Kỳ ra bản Tuyên ngôn Độc lập không bao gồm phụ nữ.

“Ở hội trường này có bao nhiêu người trên 18 tuổi?”, tôi hỏi, giơ tay mình lên. Một rừng cánh tay giơ lên. “Đây cũng chính là độ tuổi đi bầu cử ở Hoa Kỳ hôm nay. Nhưng nếu chúng ta ở đây đặt mình vào thời Hoa Kỳ ra bản Tuyên ngôn Độc lập thì không một ai trong chúng ta được quyền bỏ phiếu. Không một ai. Vì sao? Vì “men” thời đó có nghĩa là “người da trắng có tài sản lớn”. Tôi là người da trắng duy nhất ở đây, nhưng không phải là người có tài sản gì đáng kể”.

Năm 1913, Hồ Chí Minh chắc chắn đã cảm thấy sự gạt bỏ người Hoa và người Mỹ gốc Phi khỏi diện được hưởng những quyền mà người Mỹ da trắng có tài sản đáng kể được thụ hưởng. Tôi khẳng định chắc chắn rằng Hồ Chủ tịch đã đặt các câu trích từ văn bản nhà nước của Mỹ và Pháp trong đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam xuất phát từ các nguyên nhân về ngoại giao cấp nhà nước. Nhưng tôi cũng nhận thấy Người đã đưa vào bản Tuyên ngôn này các tư tưởng rất quan trọng của mình. Cách sử dụng ngôn từ của Hồ Chủ tịch đã thể hiện mạnh mẽ rằng Việt Nam là cộng đồng bình quyền của mọi dân tộc, và của mọi công dân cả nam và nữ.

– Nghiên cứu về Hồ Chí Minh, bà thấy ở người có điều gì đặc biệt so với các danh nhân khác?

– Chúng ta đã được biết về nhiều nhân vật lỗi lạc, đồng thời biết rằng thiên tài thường bộc lộ trong một mặt cụ thể. Còn ở Hồ Chí Minh, sự lỗi lạc của Người vượt ra khỏi khuôn khổ của một lĩnh vực nhất định. Người có khả năng đọc, nói và viết nhiều thứ tiếng, có khả năng làm thơ cả ở những thể loại khó về niêm luật, đồng thời có khả năng biểu đạt những ý tưởng phức tạp bằng những mệnh đề đơn giản, để người bình thường có thể hiểu được. Người có kiến thức sâu về chiến lược quân sự và đường lối ngoại giao, có trí nhớ tuyệt vời về những ai đã từng gặp trong đời, không phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ, tinh thông về công tác vận động quần chúng. Danh sách này, mỗi chúng ta đều có thể bổ sung vào.

Tuy nhiên, có tài chưa đủ. Và tài năng chưa hẳn là thông thái.

Nhân tài thường bị thách thức bởi những nhân tài khác (cao nhân tất hữu cao nhân trị). Đó là lý do chúng ta thấy biết bao bút chiến và khẩu chiến trong các giới làm khoa học ở mọi nơi trên thế gian này. Nhưng thiên tài ở Hồ Chí Minh còn là khả năng tuyệt vời tập hợp những người yêu nước có chuyên môn và óc sáng tạo. Sau đó, Người cử họ vào các lĩnh vực công tác khác nhau, nơi họ có thể phát huy tốt nhất năng lực của mình cho một nước Việt Nam vừa giành độc lập. Người đưa ra những chỉ thị rõ ràng, động viên cao nhất tính chủ động sáng tạo trong thi hành nhiệm vụ được giao.

Với nhiều sự đóng góp như thế, nhưng Hồ Chí Minh rất sáng suốt khi thể hiện sự khiêm nhường. Người đã tránh được những cám dỗ vật chất, để trở thành mẫu mực cho người dân.

That’s leadership (Bản lĩnh lãnh đạo). Đó chính là đức độ của người lãnh đạo.

Hồng Sơn – Lê Đỗ (thực hiện)

qdnd.vn

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó

Hơn 40 năm làm công tác dân vận – Mặt trận, với trách nhiệm được giao, tôi có hạnh phúc lớn là được tiếp xúc với nhiều chính khách, nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, các vị tiêu biểu của các dân tộc, các tôn giáo, trong đó không ít người đã được Bác Hồ cảm hóa, trở thành cộng sự thân thiết của Bác, tiếp thu tư tưởng của Người và đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất.

Mỗi lần kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần anh chị em làm công tác Mặt trận chúng tôi có dịp được nghe chính những người trong cuộc kể lại những câu chuyện đầy xúc động về tầm nhìn xa, trông rộng, lòng bao dung, độ lượng, sức hút kỳ diệu và tài cảm hóa lạ thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những câu chuyện đó được anh em chúng tôi ghi chép đầy đủ. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi trích đăng chuyện kể của Luật sư Phan Anh, Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa III, tại buổi họp mặt của Mặt trận ngày 10-5-1990 kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ. Không ai nghĩ rằng đây là buổi nói chuyện cuối cùng của Luật sư tại cơ quan Mặt trận vì chỉ sau đó hơn một tháng, ngày 28-6-1990 luật sư Phan Anh đã vĩnh biệt chúng ta. Tiêu đề bài viết này chính là câu kết bài nói của Luật sư.

Ông kể: Theo tôi nhớ, từ trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8-1945, những cuộc thương lượng giữa Chính phủ Trần Trọng Kim với Việt Minh diễn ra dồn dập tại Hà Nội. Mở đầu là việc ông Lê Trọng Nghĩa với vai giáo sư Lê Ngọc đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với Khâm sai đại thần Phan Kế Toại ngay tại Phủ khâm sai trong giờ hành chính. Tiếp đó là cuối tháng 7, Thủ tướng Trần Trọng Kim ra Bắc Bộ để thị sát thực địa và điều đình với Nhật cũng đã được ông Phan Kế Toại bố trí tiếp xúc với đại diện Việt Minh ở Hà Nội.

Trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 18-8 Khâm sai Phan Kế Toại lại gặp các ông Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Trần Đình Long tại Phủ khâm sai, chính thức mời Việt Minh cộng tác với Chính phủ Trần Trọng Kim và sẵn sàng chờ Mặt trận cử người tham gia Chính phủ. Cùng ngày, Bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn cũng xin gặp Việt Minh, mời Việt Minh tham gia Chính phủ mở rộng và đề nghị trong tình hình quân Đồng minh đang trên đường vào Việt Nam mong cuộc thương lượng tiếp tục, Việt Minh nên nắm vùng nông thôn, Chính phủ lâm thời quản lý các thành phố để có danh nghĩa nói chuyện với Đồng minh.

Tất cả các cuộc thương lượng đều không có kết quả. Ông Trần Trọng Kim giao tôi làm thuyết khách cuối cùng với hy vọng: Với “tài hùng biện của Phan Anh” may ra còn cứu vãn được tình thế.

Nể lời Thủ tướng Trần Trọng Kim, tôi nhận lời và chuẩn bị kỹ cho cuộc gặp.

Tôi còn nhớ, ngày 25-8 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội. Ngày 26, Người chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Ngày 28, báo chí Hà Nội công bố danh sách 15 thành viên của Chính phủ cách mạng do Bác làm Chủ tịch. Cũng ngày đó, tôi đến gặp lại giáo sư Hoàng Minh Giám – một trí thức tiêu biểu của nước ta, thầy Hiệu trưởng trường Thăng Long xưa mà tôi đã một thời dạy học ở đó. Ông lúc này là Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ và được Giáo sư cho biết Cụ sẽ tiếp tôi vào 9 giờ sáng hôm sau. Hay tin tôi ra “đấu tranh” với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú Phan Mỹ – em tôi, một cán bộ cách mạng, vội gặp tôi can ngăn:

– Từ trước đến nay, tôi vẫn phục Anh, coi Anh là thần tượng. Nhưng với việc anh định “đấu tranh” với Cụ thì Anh mê muội quá chừng. Anh muốn “đội đá, vá trời” chăng? – Tôi chỉ mỉm cười, chẳng phản đối, cũng chẳng thanh minh.

Đúng giờ, tôi đến địa điểm hẹn. Tôi quá bất ngờ và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đón tôi là một ông Tiên thực thụ. Cụ vận bộ kaki bạc màu, đi đôi bata của đồng bào dân tộc Tày. Cụ không chờ tôi lên mà dáng nhanh nhẹn, Cụ vội bước xuống ngang chỗ tôi đứng bắt tay:

– Tôi đã chờ chú từ lâu. Người nói – Trước khi ra Bắc, chú đã về quê choa chưa?

Tôi bối rối và thực sự xúc động. Những điều lâu nay tôi chuẩn bị công phu nay tan biến cả trước một con người cao sang nhưng không xa cách, một vĩ nhân xa quê hương, đất nước hơn một phần ba thế kỷ nhưng vẫn không quên thổ ngữ thân thương. Tôi ấp úng trả lời:

– Thưa Cụ, con chưa kịp về quê nhà.

Cụ ôm eo tôi cùng bước lên, đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Đàm Quang Trung (1) lúc đó là Đội trưởng đội bảo vệ Bác vào định rót nước mời khách.

Cụ ngăn:

– Chú Phan Anh là khách của Bác, để Bác tiếp. Chú cứ lo việc của chú. Chính tay Bác rót nước mời tôi, thân mật như cha con lâu ngày gặp lại.

Vừa uống nước, Cụ vừa giải thích cho tôi hiểu tình hình thời cuộc và đời sống cùng cực của dân ta hiện nay. Cụ nói ý:

– Dân ta bao năm một cổ đôi tròng, sống dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến và phát xít Nhật. Nay ta đã giành được độc lập, phải mau chóng tái thiết quốc gia để dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Chú là người tài cao, học rộng, tôi đề nghị chú ra gánh vác việc nước và trực tiếp làm Chủ tịch Ủy ban Kiến thiết quốc gia.

Tôi ngỡ ngàng trước một sự việc mà mình chưa bao giờ nghĩ tới, liền thưa:

– Thưa Cụ, con chỉ được đào tạo về luật chứ chưa được đào tạo về kiến thiết xây dựng.

– Thế tôi có được ai đào tạo để làm Chủ tịch nước đâu? Dân giao thì mình phải làm, phải vừa làm, vừa học và làm cho tốt, cho thật tốt.

Bác Hồ của chúng ta là như vậy đó. Ngày 29-8-1945 là ngày mà Bác Hồ đổi đời cho tôi, cho gia đình tôi.

45 năm đã trôi qua, tôi lớn lên theo cách mạng, lớn lên theo sự dìu dắt, bảo ban của Người, của Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Con đường mà Luật sư đi theo cách mạng là như vậy. Luật sư Phan Anh là Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kiến thiết quốc gia của nước ta.

Ngày 2-3-1946 Chính phủ liên hiệp quốc gia được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 7-1946 ông được Chính phủ giao trọng trách Tổng Thư ký Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự Hội nghị Fontainbleau đàm phán với Chính phủ Pháp.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954). Tháng 7-1954, ông là phái viên Phái đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

Luật sư Phan Anh là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VIII, là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII. Ông cùng luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập Hội Luật gia Việt Nam và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Hội và là Ủy viên Thường vụ của Hội Luật gia dân chủ thế giới.

Đối với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất, luật sư Phan Anh là thành viên của Ban Vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Ngày 29-5-1946 khi Hội chính thức được thành lập, ông được cử làm Ủy viên Thường vụ.

Ngày 10-9-1955 MTTQ Việt Nam ra đời, ông tiếp tục được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam cho đến khi Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận trong phạm vi cả nước vào tháng 2-1977.

Tại Đại hội I và Đại hội II MTTQ Việt Nam, luật sư Phan Anh được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch. Và tại Đại hội III ông được cử làm Phó Chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Luật sư Phan Anh là một trí thức tiêu biểu, tài năng và đức độ, một nhà hùng biện nổi tiếng, một trong những nhân vật đã từng được cộng tác mật thiết bên cạnh Bác Hồ trong nhiều năm và đã có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận Dân tộc thống nhất.

 Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

(1) Sau này là Thượng tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam


Đấu tranh giai cấp với tư duy nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Theo báo cáo của mật thám Jean tại Paris trong ngày 9 tháng 2 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã hai lần đến thư viện Sainte Geneviève, rồi sau đó vào các ngày 10, 11, 12, 13, 15, 17, 19 và nhiều ngày nữa vẫn tiếp tục đến đọc sách trong thư viện này. Trong một lần kể chuyện cho một cán bộ, Hồ Chủ tịch nói Bác đã đọc Tư bản luận của Mác bảy ngày liền. Phải chăng Người đã đọc cuốn sách đồ sộ của Mác tại thư viện Sainte Geneviève?

Gần đúng hai tháng sau, ngày 11 tháng 2 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày đề tàiChủ nghĩa Bônsêvích ở châu Á tại Hội nghị những người Thanh niên Cộng sản Pháp quận II, Paris. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Ái Quốc đọc tác phẩm của Lênin về Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa đăng trên báo L’Humanité(Nhân đạo) số ra ngày 16 và ngày 17 tháng 7 năm 1920. Luận cương này đã làm cho Nguyễn Ái Quốc “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao” – một tình cảm và nhận thức mà do nhiều nguyên nhân trước đó Người  chưa có cho đến khi đọc tác phẩm của Mác. Nguyễn Ái Quốc còn viết thư bằng tiếng Pháp gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cho biết: “Luận cương này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan của mình”.

Văn bản đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc nêu tên V.I.Lê nin là bài “ Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa” viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo L’Humanité, ký tên Nguyễn Ái Quốc, ngày 25 tháng 5 năm 1922. Trong bài này, tác giả viết: “Chủ nghĩa Bôn sêvích, trước con mắt người dân bản xứ có nghĩa là sự phá hoại tất cả, hoặc tự giải phóng khỏi ách nước ngoài. Nghĩa thứ nhất, làm cho quần chúng ít học và nhút nhát xa lánh chúng ta, nghĩa thứ hai thì dẫn họ đến chủ nghĩa quốc gia. Cả hai điều đó đều nguy hiểm cả”.

Băn khoăn, suy nghĩ về chủ nghĩa Bônsêvích thực ra là chủ nghĩa Mác áp dụng như thế nào trong một nước thuộc địa có bọn đế quốc thực dân và tay sai, có đông đảo nông dân, một bộ phận nhỏ công nhân mới hình thành cùng với nhiều tầng lớp xã hội khác – như ở Việt Nam – là một chuỗi dài tháng năm tư duy, chọn lọc, tìm kiếm của Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc đã đi từ nhận định: “Ở Đông Dương có hai con người: Người được bảo hộ và người đi bảo hộ” (báo Le Paria, số 16 tháng 7 năm 1923) đến kết luận: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” (Báo Le Paria, số 25 tháng 5 năm 1924) và “ chỉ có hai loại người: Thiện và Ác”.

Trong bài Phong trào cách mạng ở Ấn Độ đăng trên Tạp chí Cộng sản tiếng Pháp, số 18 – 19 tháng 8, 9 năm 1921, Nguyễn Ái Quốc viết: “Thảm họa của đất nước đã xóa bỏ, sự phân biệt đẳng cấp và tôn giáo, người giàu, người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo đều hiệp sức đoàn kết”.

Trong năm 1924, tại Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã được mời đến giảng tại một lớp học của những đảng viên cộng sản Đức, văn bản đã được nhà sử học Pháp Alain Rusico công bố dưới đề mục Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Người đọc báo cáo này được đánh giá là một người am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác và thực tế lịch sử Việt Nam trong quá khứ và hiện tại… Nguyễn Ái Quốc nói: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) không diễn ra giống như ở phương Tây”.

Tại sao vấn đề đấu tranh giai cấp – hòn đá tảng để phân biệt những người cách mạng chân chính hay cơ hội, là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng như Mác – Lênin đã nêu, lại “không diễn ra ở phương Đông, ở Việt Nam, giống như phương Tây”? Nguyễn Ái Quốc, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, với một tư duy độc lập nhằm mục đích cao nhất là tìm ra một phương pháp tối ưu, phù hợp với Việt Nam để giải phóng dân tộc, đã lập luận rằng: “Xã hội Đông Dương về mặt cấu trúc kinh tế không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời Cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó (ở Đông Dương, Việt Nam) không quyết liệt như ở đây (ở châu Âu)”.

“Chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó (ở Đông Dương). Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”.

Nguyễn Ái Quốc nói tiếp: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”.

Ở đây ta có thể thấy tư duy của phương Đông, của Việt Nam (mà Nguyễn Ái Quốc là một đại diện), khác với châu Âu. Triết học ở phương Tây thiên về lý, duy lý, có lúc đơn thuần, duy nhất, cực đoan. Ở Việt Nam có một triết lý khác: có cả lý và tình. Trong cái xấu còn có thể tìm ra cái tốt, ở cái mạnh vẫn bộc lộ điểm yếu, trong âm có dương…

Nguyễn Ái Quốc dẫn ra lý luận của Mác: “Sự tiến triển của xã hội phải trải qua 3 giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản và trong mỗi giai đoạn ấy đều có đấu tranh giai cấp tuy có khác nhau”. Nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cảnh báo: “Chúng ta phải coi chừng. Các dân tộc Viễn Đông có trải qua 2 giai đoạn đầu không?”

Nguyễn Ái Quốc không phủ nhận “đấu tranh giai cấp” ở châu Âu theo chủ nghĩa Mác, mà suy tính vận dụng chủ nghĩa Mác vào Việt Nam như thế nào để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.

Trên thực tế, ở Việt Nam “chủ nghĩa dân tộc còn là động lực lớn nhất của đất nước”. Từ quá trình lịch sử hình thành dân tộc Việt, người Việt từ xa xưa đã có một tinh thần dân tộc cao, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ chống thiên tai, ngoại xâm. Từ đó nảy sinh ra tình yêu nước, thương dân cao cả. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước”.

Tình yêu nước ấy gắn bó tất cả những người Việt, những cộng đồng các dân tộc chung sống với dân tộc Việt trên đất Việt Nam thành một thành viên chung được gọi là đồng bào. Hồ Chí Minh định nghĩa đồng bào “nghĩa hẹp là gia đình, anh em họ hàng, bạn bè, nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng hơn nữa là cả loài người”.
Theo mạch tư duy riêng của mình, Hồ Chí Minh không định nghĩa cách mạng theo cách châu Âu là biến đổi bất ngờ và táo bạo trong cơ cấu kinh tế xã hội, là khởi nghĩa, nổi dậy, nổi loạn, bước ngoặt cơ bản, bước nhảy vọt bất ngờ từ một tình trạng chất lượng này sang một chất lượng khác, cuộc biến đổi lớn thông qua đấu tranh giai cấp… Trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã định nghĩa ngay từ năm 1927 – trong Đường Kách mệnh: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Như vậy, làm cách mạng ở Việt Nam đâu nhất thiết theo cách hiểu của phương Tây?

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chủ trương ở nước Việt Nam bị đô hộ, vấn đề trước hết là phải nêu cao chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết dân tộc, đoàn kết mọi giai cấp có thể đoàn kết được để giải phóng dân tộc, chớ chưa phải và không phải là đấu tranh giai cấp chống địa chủ, tư bản tràn lan. Có giải phóng được dân tộc mới có điều kiện giải phóng được giai cấp nông dân, công nhân. Quan điểm này đã khiến Quốc tế Cộng sản và nhiều học trò, đồng chí của Nguyễn Ái Quốc không tán thành, ủng hộ, và cho rằng Nguyễn Ái Quốc coi nhẹ đấu tranh giai cấp là cải lương, dân tộc chủ nghĩa, khiến cho Nguyễn Ái Quốc đã từng trở thành một lữ hành cô đơn (câu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn giữ quan điểm của mình.

Trong sách Sửa đổi lối làm việc viết năm 1947, ký tên X.Y.Z, Hồ Chí Minh đã nhắc cán bộ rằng: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh  mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Tiếp đó, trong bàiDuy vật biện chứng và duy vật lịch sử ký tên X.Y.Z, đăng trên tờ Sinh hoạt nội bộ, Ban Chấp hành Liên chi khu bộ tái bản năm 1950, Hồ Chí Minh viết: “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương đấu tranh là một điều ngu ngốc. Việc gì cũng phải đúng với địa điểm, điều kiện và thì giờ thì mới thành công”. Ba điều đúng (địa điểm, điều kiện, thời cơ) đó chính là thực tiễn – thực tiễn Việt Nam.

Hồ Chí Minh viết tiếp: “Chính sách mà Đảng cách mạng lập ra trên sự cần kíp của xã hội, trên lực lượng chính của sự phát triển xã hội, chớ không phải lập ra trên những lý luận mênh mông”.

Đi từ thực tiễn Việt Nam, đối chiếu với chủ nghĩa Mác, theo Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh có lần giải thích rằng: “Chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam là đại đoàn kết”. Đại đoàn kết tất cả các giai tầng xã hội, theo Hồ Chí Minh không phải là đoàn kết vô nguyên tắc, mà chỉ là đoàn kết những người yêu nước, phụng sự Tổ quốc, không đoàn kết với những kẻ phản bội Tổ quốc, những kẻ tham ô, tham nhũng.

Trong cải tạo công thương nghiệp tư doanh trên miền Bắc, sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất, Hồ Chủ tịch đã nói trong một hội nghị cán bộ cao cấp rằng: “Không nên coi tư sản dân tộc là đối tượng cách mạng, mà nên coi họ là đồng minh”.

Nguyễn Ái Quốc đã từng vận dụng đấu tranh giai cấp ở Pháp, ở Hoa Nam, ở Xiêm trong đồng bào người Việt Nam. Năm 1941, sau 30 năm học tập lý luận, đối chiếu thực tiễn, qua kinh nghiệm hoạt động của bản thân, với những luận điểm riêng của mình đã được Quốc tế Cộng sản chấp nhận bước đầu qua Đại hội VII của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Việt Nam với đầy đủ kinh nghiệm để thực hiện đại đoàn kết. Người viết trên tờ trên tờ báo Việt Nam độc lập rằng: “Lực lượng chúng ta là ở chỗ đoàn kết, đoàn kết toàn dân, đoàn kết người đàn ông, đoàn kết đàn bà, người già, trẻ con, đoàn kết người làm ruộng, làm thợ, đi buôn, người làm việc cho Tây, người đi lính cho Tây”, “không phải đoàn kết nhất thời mà đoàn kết mãi mãi”.

Đại đoàn kết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – một vận dụng sáng tạo đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác ở Việt Nam, đã tập hợp, đại hòa hợp được tất cả con Rồng, cháu Tiên, nông dân, công nhân, trí thức, đại tư sản…, nghĩa là gần như tất cả những người dân yêu nước, chỉ trừ những kẻ phản quốc, Việt gian, kẻ chống lại Tổ quốc, dân tộc. “Đại đoàn kết ấy thực sự là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Là một di sản quốc bảo của Hồ Chí Minh, của Tổ quốc ta, dân tộc ta, bài học về đại đoàn kết, đấu tranh giai cấp này mãi mãi vẫn là một nhân tố quyết định đồng hành với thắng lợi của đất nước ta trong thế kỷ mới. Đối với một số quốc gia, dân tộc, di sản này còn là một phương án tham khảo tích cực.

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Ts Nguyễn Văn Khoan

daibieunhandan.vn

Nhà báo Nga vạch trần thông tin bịa đặt về Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. (Nguồn: Internet)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cảm phục về Người, đã có nhiều chuyên gia và phóng viên nước ngoài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tất cả lòng kính trọng.

Vietnam+ xin giới thiệu bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhà báo người Nga Sergey Afonin:

Trong những ngày Thu năm 2010, cả nước Việt Nam long trọng kỷ niệm 65 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam, mở ra một trang sử mới trên con đường đấu tranh giành độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam.

Lúc sinh thời, Hồ Chủ tịch coi bản tuyên ngôn được chính Người viết tại một căn nhà bí mật ở Hà Nội là tác phẩm tâm đắc nhất của mình. Căn nhà đó, nay trở thành di tích lịch sử của đất nước. Ấy vậy mà lại có một số kẻ mang trong mình dòng máu Việt lại trắng trợn xuyên tạc là đã có người viết giúp Hồ Chí Minh bản tuyên ngôn đó.

Không dừng lại ở đó, chúng còn lôi kéo một số người Việt lưu vong tham gia vào việc bôi nhọ, xuyên tạc cuộc đời hoạt động cách mạng, đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh.

Vì lòng tôn kính đối với lãnh tụ của Việt Nam – Hồ Chí Minh, vì tình yêu đối với đất nước và người dân Việt Nam, xuất phát từ cuộc đời của mình từng gắn bó với Việt Nam, tôi nhận thấy rằng: chính những người đồng chí đã kề vai sát cánh với Bác Hồ trên con đường cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước; chính người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế có dịp tiếp xúc, làm việc với Hồ Chí Minh mới là những người đánh giá khách quan nhất về Bác.

Tôi may mắn được 3 lần gặp Bác Hồ vào các năm 1961, 1964 và 1969 tại Hà Nội. Ấn tượng cá nhân của tôi về Hồ Chí Minh – đó là một con người hết sức thông thái, nắm vững tình hình thế giới, trân trọng lý luận của Lenin và kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga.

Tôi cũng đã từng nhiều năm làm chuyên viên tại Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đã có rất nhiều dịp được tiếp kiến, trò chuyện lúc thì ở Hà Nội, khi thì ở Mátxcơva với các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, Tố Hữu, Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định… Hầu hết những nhà lãnh đạo đó đã trải qua tù đầy, hoạt động bí mật và cũng như Hồ Chí Minh, họ giữ gìn đạo đức cách mạng và lòng trung thành đối với dân tộc.

Tôi đã gặp vô số nông dân, công nhân, trí thức, chiến sỹ lão thành cách mạng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ở Việt Nam. Qua những cuộc tiếp xúc với họ, tôi mới cảm nhận được tình yêu và sự kính trọng từ trong lòng mình của toàn thể nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình.

Đối với họ, Bác Hồ là một con người thông thái nhưng giản dị, bằng cả trái tim mình lo cho đồng bào và vận mệnh nước nhà. Thời gian sẽ cho chúng ta thấy rõ, bất chấp những lời vu khống và bịa đặt, hình ảnh gần gũi và giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi là tấm gương mẫu mực cho tất cả những ai có thiện chí trên thế giới này.

Vì vậy, tôi không thể nào đồng ý với những người làm ra cuốn DVD “Sự thật Hồ Chí Minh,” trong đó nhận định Hồ Chí Minh đã coi thường lợi ích của nhân dân mình, đưa dân tộc này đi theo con đường sai lầm. Chỉ cần tập hợp tất cả những hồi ký, bài viết về Hồ Chí Minh của mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, tôi chắc rằng đó sẽ là một thư viện khổng lồ và chân thực nhất về Người.

Di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh ngày nay đang được nghiên cứu, giảng dạy và vận dụng tại Việt Nam, tư tưởng này có ý nghĩa quốc tế rất cao do được cả thế giới tiến bộ thừa nhận. Di sản to lớn đó ngày càng được phổ biến rộng rãi trên hành tinh. Và thực tế đó là đúng đắn nhất, khác với những gì kẻ thù bịa đặt về con người vĩ đại này.

Tôi và tiến sỹ sử học Evgheny Kobelev (hiện nay là lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông – Viện Hàn lâm Khoa học Nga) đã viết 2 cuốn sách về Hồ Chí Minh, đọc hầu hết những tác phẩm của Người và những hồi ký về Người. Hoạt động tích cực của Hồ Chí Minh tại Quốc tế Cộng sản đã tạo điều kiện cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và điều đó báo hiệu cho những thắng lợi tiếp theo của Cách mạng Việt Nam sau này.

Trong nhiều năm, Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, sau đó phải chống bọn xâm lược Pháp một lần nữa và cuối cùng là chống Mỹ xâm lược. Trong thời khắc nóng bỏng của cuộc chiến tranh cuối cùng này, tháng 6/1966, Hồ Chủ tịch tuyên bố: “Nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do!.” Tôi được tận mắt chứng kiến khẩu hiệu đó đã cổ vũ nhân dân Việt Nam ở miền Bắc và miền Nam đạt được những chiến công rực rỡ như thế nào. Câu nói về giá trị của Độc lập và Tự do đã được ghi tạc trong lăng của Người ở thủ đô Hà Nội.

Có thể coi Lời di chúc của Hồ Chí Minh là một trong những tài liệu quan trọng nhất chứng minh rõ tư duy triết học của Người, tình yêu vô bờ bến đối với đồng bào, niềm tin không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng, tính lạc quan và niềm tin vào bạn bè trên thế giới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc, nhân dân Việt Nam đang xây dựng xã hội mới hạnh phúc, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, ổn định, dân chủ và phồn vinh, đúng như ước nguyện của Hồ Chủ tịch. Điều đó đã khiến tất cả những người bạn của nhân dân Việt Nam cảm thấy vui mừng. Chính mắt tôi đã chứng kiến những đổi thay to lớn trên đất nước Việt Nam trong chuyến đi tham dự Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2010.

Trong chuyến công du gần đây nhất đến Việt Nam cuối tháng 10/2010, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cũng đã khẳng định 10 năm qua, Việt Nam đã phát triển và thay đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hơn. Tuy nhiên, những thành tựu mà Việt Nam đạt được lại gây nên sự ghen tị, thù hằn và bực tức cho những kẻ thù của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là những kẻ sống lưu vong ở nước ngoài.

Chúng không thể nào hài lòng với thực tế này nên một số kẻ âm mưu gieo rắc những thông tin sai lệch về Bác Hồ. Mục đích của bọn chúng nhằm gây ra sự hỗn loạn ở Việt Nam sẽ không bao giờ đạt được. Hình ảnh của Bác Hồ không ai có quyền xuyên tạc và xúc phạm bởi đó là hình ảnh một danh nhân văn hóa đã được Tổ chức Văn hóa và giáo dục Liên hợp quốc thừa nhận.

Trong lịch sử khó tìm thấy hai sự đối lập vĩnh viễn – đó là Sự thật và Bịa đặt. Không gì có thể bào chữa được cho những kẻ phản bội Tổ quốc mình và làm những gì mà chủ của nó sai khiến, những kẻ muốn tước đoạt những thứ không bao giờ có thể lấy lại được. Không ai có thể phá hoại những thành tựu của nhân dân Việt Nam, uy tín xứng đáng của Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam./.

(Vietnam+)

vietnamplus.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và 6 điều Người dạy lực lượng CAND

Trung tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thứ trưởng Bộ Công an.

Trung Tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Thứ Trưởng Bộ Công An

Cách đây tròn 100 năm ngày 5/6/1911, từ cảng Sài Gòn, với thẻ làm việc mang tên Nguyễn Văn Ba, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc trên con tàu Latuche de Tréville đi Pháp với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu1.

Ra đi trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân chìm trong đau khổ, Nguyễn Tất Thành đến với phương trời xa lạ mang mỹ từ: “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” để tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau vẻ mỹ miều của cụm từ đó và cả tận cùng của sự thật với mong muốn: “Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta2. Cuộc hành trình lênh đênh qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia với nhiều nghề để vừa kiếm sống, vừa thâm nhập đời sống của những người cần lao, hòa mình trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành thấu hiểu: Chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở chính quốc cũng như các nước thuộc địa. Cũng chính cuộc hành trình đó đã giúp Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đến được với Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, để từ đó hoàn toàn tin tưởng theo Lênin và quyết định “bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia Quốc tế III3  (ngày 30/12/1920). Sự gặp gỡ Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Lênin đã đưa Người trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, người Cộng sản chân chính tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình theo con đường cách mạng của Lênin.

Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận khoa học và bản chất cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định, đó là chủ nghĩa “cách mạng nhất, chân chính nhất“. Đi sâu nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, bởi độc lập, tự do không thể cầu xin mà có…; trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cần phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền; một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ. Quan điểm đó xuyên suốt trong cả quá trình hoạt động, lãnh đạo cách mạng của Người và hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và an ninh quốc gia.

Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản thành một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam, đánh dấu chuyển biến về chất của cách mạng nước ta, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, xác định rõ con đường cứu nước, cứu dân, thể hiện tính quy luật lịch sử của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XX: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” 4.

Bến cảng Nhà Rồng.

Xây dựng lực lượng Công an nhân dân – công cụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng

Ngay khi Đảng ta mới thành lập, bằng kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn đã được trải nghiệm, ngày 23/4/1931, Người viết thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lưu ý nhiệm vụ đề cao cảnh giác và giữ gìn bí mật để bảo vệ lực lượng cách mạng. Người căn dặn: “Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho lộ. Hoặc có đứa phản chăng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?… Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi thì hại cho công việc quá!… Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác…5.

Thực hiện sự chỉ đạo của Người, Đảng ta đã kịp thời đối phó với âm mưu khủng bố của địch, bảo vệ lực lượng cách mạng và phong trào đấu tranh của quần chúng. Đầu năm 1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã thông báo cho các Xứ ủy chủ trương tổ chức Đội tự vệ công nông. Tháng 3/1931, Đảng ra Nghị quyết về tổ chức Đội tự vệ; đó là lực lượng nòng cốt đầu tiên bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Tháng 3/1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng, qua tổng kết công tác đấu tranh chống phản cách mạng, công tác giữ gìn bí mật được Đảng ta coi là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động của Đảng. Đại hội còn có riêng một nghị quyết về đội tự vệ để lực lượng đó làm nhiệm vụ “hộ vệ quần chúng hàng ngày trong các cuộc tranh đấu6.

Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, những nguyên tắc hoạt động bí mật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút được từ thời kỳ hoạt động bí mật ở nước ngoài, đã được quán triệt sâu sắc trong việc phát triển lực lượng, các cuộc hội họp và phát triển tổ chức của Đảng và các tổ chức tiền thân của lực lượng Công an nhân dân. Năm 1943, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “về công tác giữ bí mật“, nêu rõ: “Nguy cơ bại vong của giặc Nhật mỗi ngày một gần; vì vậy, chúng ra tay khủng bố bừa bãi để phá hoại phong trào cách mạng và làm hậu thuẫn cho chính sách bóc lột táng tận của chúng. Do vậy, công việc của chúng ta khó khăn vô cùng. Một vô ý là đã làm tan vỡ một tổ chức và nguy hại cho bao nhiêu quần chúng ở chung quanh. Cho nên, các đồng chí phải biết áp dụng nguyên tắc bí mật cho triệt để mới mong tránh được gươm súng của quân thù7.

Chính vì thực hiện tốt nguyên tắc hoạt động bí mật theo chỉ thị của Người nên lực lượng cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa được bảo vệ an toàn và phát triển mạnh mẽ, mặc dù kẻ địch ráo riết thực hiện các chiến dịch săn lùng, khủng bố.

Tháng 8/1945, với thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa, chính quyền cách mạng đã được thành lập trong cả nước. Lực lượng Công an nhân dân ra đời trong những ngày tháng sục sôi cách mạng đó, triển khai ngay nhiệm vụ bảo vệ thành quả mà cách mạng vừa mới giành được. Trên cương vị là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Bác Hồ đã ý thức sâu sắc về tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, cam go, phức tạp. Bác nhấn mạnh rằng, để bảo vệ lực lượng và thành quả cách mạng, lực lượng Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng. Người thường xuyên quan tâm vấn đề xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng. Người đã dày công nghiên cứu, vận dụng Tư tưởng của Lênin “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn” để đưa ra phương hướng và biện pháp thích hợp trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhằm giữ vững chính quyền cách mạng. Theo tư tưởng của Người, cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là cuộc đấu tranh thường xuyên, lâu dài. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (tháng 1/1956), Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng, một là Quân đội, để đánh thắng ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hoà bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hoà bình. Lúc chiến tranh thì Quân đội đánh giặc, lúc hoà bình thì luyện tập. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại. Chúng nhằm phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa (…) Nhiệm vụ của Công an là phải chặn tay bọn phá hoại (…). Địch không phải tài tình gì đâu. Nó phá hoại được vì ta sơ hở, chủ quan. Nếu Công an ta biết giữ gìn và biết dựa vào nhân dân, làm cho nhân dân cũng biết cách giữ gìn, không để sơ hở thì nhất định địch không làm gì được8.

Nhưng để làm được việc đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Công an nhân dân phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối của Đảng. Tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang (tháng 3/1959), Người nói: “Công an nhân dân vũ trang, hay là Quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế”9. Quan điểm này của Người tiếp tục được khẳng định trong bài phát biểu tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 14: “Công tác Công an rất cần, rất quan trọng nhưng đồng thời cũng rất khó. Tình báo, gián điệp đế quốc rất nguy hiểm… Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối chính trị của Đảng; nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì dù khéo mấy cũng không kết quả10.

Nội dung tư tưởng, quan điểm Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự còn thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết toàn dân, dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng. Trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện của Người, tư tưởng đó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thể hiện một quan điểm nhất quán và sâu sắc. Trong lớp chỉnh huấn khoá 2 (ngày 16/5/1959) của Bộ Công an, Người chỉ ra rằng: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công”. Đây chính là vấn đề căn bản nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về an ninh, trật tự mà nội dung cốt lõi được Người đặc biệt nhấn mạnh là tư tưởng về xây dựng tư cách người Công an cách mạng. Người khẳng định: nếu không dựa vào dân, không được dân tin yêu thì lực lượng Công an sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng để được dân tin, dân yêu và giúp đỡ Công an thì mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an phải “trau dồi đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, có như vậy “mới xứng đáng là người cán bộ được Đảng và nhân dân tín nhiệm“.

Bác Hồ với các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam (1969)

Ngày 11/3/1948, trong thư gửi đồng chí Giám đốc Công an Khu XII, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người Công an cách mạng phải có, đó là:

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính;
Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ;
Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành;
Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép;
Đối với công việc phải tận tụy;
Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo.

Sáu điều Bác Hồ dạy người Công an cách mạng là đạo lý, nguyên tắc, phương châm, thái độ đối nhân xử thế, là chuẩn mực về nhân cách mà mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh công tác nào đều phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu. Sáu điều Bác Hồ dạy là di sản quý báu thể hiện đậm nét nhất tư tưởng, quan điểm của Bác về xây dựng người Công an cách mạng suốt đời vì nước, vì dân.

Sống, chiến đấu, công tác và học tập theo lời Bác dạy

Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo, xây dựng và dìu dắt, hơn 65 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì nhân dân phục vụ. Suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an luôn tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện sáu lời dạy của Bác với những nội dung sáng tạo, thiết thực, hình thức phong phú, bám sát yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng.

Việc học tập, thực hiện 6 điều Bác dạy không chỉ dừng lại ở chỗ nghiên cứu, thấm sâu nhận thức, mà còn biến thành hành động, thể hiện ở những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày của từng người. Trong suy nghĩ và việc làm, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an dù là lãnh đạo, chỉ huy hay cán bộ, chiến sĩ đều lấy 6 điều dạy của Bác, tấm gương đạo đức của Bác để tự soi mình, tự sửa mình, phấn đấu để không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, nêu cao vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Cũng từ việc học tập, thực hiện sáu lời dạy của Bác, lực lượng Công an nhân dân đã không ngừng xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; dựa vào dân để công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, tích cực tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong quá trình công tác và chiến đấu, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong“; ra sức phấn đấu, học tập, rèn luyện, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy 6 điều Bác dạy Công an nhân dân làm tiêu chuẩn rèn luyện phẩm chất, tư cách đạo đức và nâng cao năng lực công tác của mỗi người.

Việc thấm nhuần sâu sắc lời của Bác và tích cực tham gia phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ; đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Phong trào luôn được duy trì và liên tục phát triển, thực sự là động lực quan trọng thúc đẩy, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Mỗi giai đoạn cách mạng, phong trào học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân được triển khai một cách thiết thực, hiệu quả bằng những nội dung và phương thức cụ thể, song mục đích hướng tới không nằm ngoài tư tưởng chỉ đạo của Người. Bởi vậy, thời kỳ nào lực lượng Công an nhân dân cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đã có ngày càng nhiều tập thể, cá nhân công tác tận tụy, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường và chủ động hội nhập quốc tế, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới không thể xem thường. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ những nhiệm vụ hết sức nặng nề trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, đó là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch…11, trong đó giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà lực lượng Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Để triển khai có hiệu quả nhiệm vụ vẻ vang đó, cùng với việc quán triệt sâu sắc yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, lực lượng Công an nhân dân càng phải nỗ lực phấn đấu, đề cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, với ý chí vượt lên mọi khó khăn, thử thách; chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân; cải tiến, đổi mới nội dung, phương thức công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, thường xuyên tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Học tập, thực hiện sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân” gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

***

Kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và 121 năm Ngày sinh của Người, lực lượng Công an nhân dân ngày càng nhận thức sâu sắc đường lối cách mạng mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho dân tộc Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; phương pháp bảo vệ chính quyềnđược Người chỉ đạo áp dụng là dựa trên tư tưởng “Giành chính quyền đã khó, bảo vệ chính quyền càng khó hơn“; phương pháp công tác Công an theo Người là: “phải dựa vào dân, không được xa rời dân” và phẩm chất đạo đức mà người Công an cần có chính là 6 lời dạy của Người.

Lực lượng Công an nhân dân nguyện tiếp tục đi theo lý tưởng cách mạng cao đẹp của Người, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, thường xuyên nâng cao ý thức tự phê bình và phê bình, tăng cường gắn bó máu thịt với nhân dân, bồi đắp ý chí quyết tâm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của Bác Hồ lúc sinh thời, đáp ứng tình cảm và mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đã và đang dành cho lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

——-

(1) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 1, tr.94
(2) Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994. tr.13
(3) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, SĐD, tập 1, tr.94.
(4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.10
(5) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.78
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.91
(7) Văn kiện Đảng, tập 1, BNCTKLS Bộ Công an xuất bản, 1967, tr.314-315
(8) Hồ Chí Minh, Về an ninh, trật tự, Viện CL và KHCA, NXB CAND, Hà Nội, 2005, tr.81,82
(9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.117

(10) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

T.Đ.Q

cand.com.vn

Những thành phố anh hùng của Liên Xô

Kỷ niệm 66 năm Ngày Chiến thắng phát xít Đức (9-5-1945/9-5-2011)

QĐND – Để ghi nhớ Chiến thắng phát xít Đức, Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô đã ra Sắc lệnh về phong tặng danh hiệu vinh dự “Thành phố anh hùng” cho 13 thành phố. Danh hiệu vinh dự này được phong tặng cho những thành phố mà những người bảo vệ nó đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng dũng cảm và kiên cường trước quân thù trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống phát xít Đức xâm lược…

Ngày 8-5-1965, 7 thành phố: Mát-xcơ-va, Lê-nin-grát, Xta-lin-grát, Ki-ép, Ô-đe-xa, Xê-va-xtô-pôn và Pháo đài Brét đã được Đoàn Chủ tịch Xô-viết Tối cao Liên Xô ra Sắc lệnh phong tặng danh hiệu Anh hùng. Ngày 14-9-1973, hai thành phố: Nô-vô-rô-sích và Kerch; ngày 26-6-1974: thành phố Min-xcơ, ngày 7-12-1976: Thành phố Tu-la, ngày 6-5-1985: Hai thành phố Múc-man-xcơ và Xmô-len-xcơ tiếp tục được xét tặng danh hiệu cao quý này.

Quần thể tượng đài kỷ niệm trên đồi Ma-mai-ép tại thành phố Vôn-ga-grát.

Sau đây là 4 trong số 13 thành phố Anh hùng tiêu biểu:

* Thành phố-Pháo đài Anh hùng Brét

Pháo đài Brét được xây dựng vào năm 1833-1842 thời nước Nga Sa hoàng, cách thị trấn Brét 2km về phía Tây, bên hữu ngạn sông Buga-Tây, sát biên giới với Ba Lan. Thời Liên Xô đây là nơi đồn trú của quân đội biên phòng Xô-viết.

Ngay từ ngày đầu quân Đức bội ước tấn công Liên Xô (22-6-1941), quân số của quân đội Xô-viết ở đây kể cả lực lượng thuộc Bộ Nội vụ không tới 3,5 nghìn chiến binh. Quân phát xít với lực lượng vượt xa cả về quân số và vũ khí-quân đoàn 12 thuộc “Cụm quân Trung tâm” cùng 3 trung đoàn pháo binh phối hợp, đã hùng hổ tấn công tưởng rằng nhanh chóng nuốt chửng pháo đài này. Trước sức tấn công của bộ binh, pháo binh, xe tăng và không quân Đức, Brét bị rơi vào vòng vây chặt của quân thù. Trong tình thế hiểm nghèo, các chiến sĩ bảo vệ Brét đã thành lập Bộ chỉ huy phòng thủ, đứng đầu là Đại úy I.N. Giu-ba-chốp và chính ủy E.M. Pô-min. Từ ngày 22 cho tới 30-6-1941, quân địch với lực lượng đông gấp rất nhiều lần và vũ khí đủ loại đã nhiều đợt tấn công đồng loạt từ các hướng vào Brét.

Các chiến sĩ Xô-viết với tinh thần quả cảm và mưu trí đã giữ vững được trận địa nhiều ngày, đồng thời mở những đợt phản công quyết liệt, gây cho địch nhiều thiệt hại lớn. Tuy nhiên ở vào thế bị cô lập và không được bổ sung quân số, đạn dược cũng như thiếu thức ăn, nước uống, thuốc men… do những khó khăn lớn và thiệt hại nặng nề của quân đội Xô-viết những ngày đầu chiến tranh, pháo đài Brét dần dần bị quân thù đánh lấn. Các chiến sĩ bảo vệ phải chia lẻ lui dần vào các hang hốc, hầm ngầm để chống cự cho đến hơi thở cuối cùng. Tới ngày 20-7-1941, nhiều chiến sĩ đã hy sinh, một số vì kiệt sức và bị thương đã rơi vào tay giặc, số ít còn lại thoát được vòng vây trở về tham gia phong trào du kích.

* Thành phố anh hùng Mát-xcơ-va – trái tim của đất nước Xô-viết

Từ ngày 30-9-1941, bắt đầu trận chiến ngoại ô thủ đô Mát-xcơ-va, một trong những chiến dịch lớn nhất của Chiến tranh thế giới thứ II. Với ý đồ chiến lược là chiếm cho được Mát-xcơ-va, theo kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng”, Bộ Tổng chỉ huy Đức đã tung vào đây một lực lượng vượt trội so với quân đội Xô-viết: Quân số gấp 1,4 lần (1,8 triệu so với 1,25 triệu); Vũ khí lớn gấp 1,8 lần (14.000 đơn vị so với 7.600); Xe tăng gấp 1,7 lần (1.700 chiếc so với 990); máy bay gấp 2 lần (1.390 chiếc so với 677).

Các đơn vị của Phương diện quân miền Tây, Quân khu Mát-xcơ-va, nhân dân lao động nội và ngoại thành đã kiên cường đánh trả quân thù. Từ các vùng, miền, các nước Cộng hòa trong Liên bang đã nhanh chóng đưa tới mặt trận này những đội quân, những đoàn tàu, xe chở vũ khí để góp sức cùng quân, dân Mát-xcơ-va đánh địch. Dựa vào hậu phương vững chắc, với tinh thần quả cảm, các chiến binh Xô-viết hết đợt này tới đợt khác giành giật với quân thù từng tấc đất, ngôi nhà, từng thôn xóm, làng mạc ở ngoại ô thành phố.

Báo “Sự thật” – Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô ra lời kêu gọi: “Không để quân thù tiến thêm một bước tới Mát-xcơ-va!”. Ngày 5 đến 6-12-1941 bắt đầu cuộc phản công của các lực lượng vũ trang Xô-viết. Khắp nơi trên ngoại thành Mát-xcơ-va mịt mù lửa đạn. Các phương diện quân Miền Tây, Ka-li-nin, Bri-an-xcơ, Tây-Nam, các tập đoàn không quân đã phối hợp chiến đấu, từng bước đẩy lùi quân phát xít ra khỏi ngoại ô Thủ đô và các vùng rộng lớn bao quanh hơn 11 nghìn điểm dân cư. 38 sư đoàn thiện chiến thuộc “Cụm quân Trung tâm” của địch bị đánh tan. Hơn nửa triệu lính và sĩ quan Đức bị tiêu diệt. 1.300 xe tăng, 2.500 đại bác, hơn 15 ngàn xe quân sự, 1.600 máy bay địch bị phá hủy và bắn rơi. Quân Đức bị đẩy lùi khỏi vùng Mát-xcơ-va từ 100 đến 350km.

* Thành phố mang tên Lê-nin – cái nôi của cách mạng Tháng Mười Nga

Là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học và văn hóa lớn nhất của Liên Xô, do vậy khi vạch kế hoạch tấn công Liên Xô, phát xít Đức đã đặt mục tiêu xâm chiếm Lê-nin-grát (Xanh Pê-téc-bua) trong thời gian gần và nhanh nhất. Với mục tiêu chính trị và chiến lược: xóa bỏ khỏi bản đồ thế giới “cái nôi” cách mạng này, Hít-le đã đưa vào chiến dịch “Cụm quân Bắc” gồm 23 Sư đoàn bộ binh, 6 Sư đoàn xe tăng-cơ giới và Tập đoàn không quân số 1 (760 máy bay chiến đấu các loại). Ngoài ra, một lực lượng hùng hậu của quân đội Phần Lan và Na Uy cũng phối hợp với quân Đức tập kích từ phía Bắc và Tây Bắc thành phố. Bộ Tổng tư lệnh Tối cao Xô-viết đã dùng một lực lượng lớn không-hải-lục quân phía Bắc đất nước cho chiến dịch phòng thủ đặc biệt. Toàn thể cư dân thành phố, từ trẻ em, phụ nữ, người già đến công nhân, viên chức nhà nước… đều dũng cảm chịu đựng mọi hy sinh gian khổ để bảo vệ thành phố.

Trong 900 ngày đêm bao vây Lê-nin-grát, quân phát xít đã trút xuống thành phố hơn 100.000 quả bom cháy, bom na-pan, hơn 4000 quả đạn phá, gần 150 nghìn đạn đại bác; hơn 16.000 người bị giết, hơn 33.000 người bị thương; hơn 10 nghìn ngôi nhà bị phá hủy và hỏng nặng, song quân và dân của thành phố mang tên Lê-nin đã dũng cảm, kiên cường đánh trả kẻ thù, từ phòng thủ dần chuyển sang thế chủ động phản công.

Người chiến sĩ giải phóng” – tượng của Vút-xê-tích. Ảnh tư liệu

Từ ngày 12-1-1943, các cánh quân của Phương diện quân Lê-nin-grát, Phương diện quân Vôn-khốp cùng Hạm đội Ban-tích và Giang đoàn hồ La-đôi bắt đầu phản công để giải vây thành phố. Vào cuối tháng 1-1944, thành phố đã hoàn toàn được giải phóng sau 900 ngày đêm bị quân thù bao vây phong tỏa.

* Thành phố Anh hùng Xta-lin-grát (Vôn-ga-grát) – nơi diễn ra trận thắng tạo bước ngoặt quyết định

Là trung tâm công nghiệp và văn hóa, đầu mối giao thông nối miền Nam với vùng Trung tâm của Liên Xô, Xta-lin-grát là một vị trí chiến lược rất quan trọng. Do vậy, trong lúc đang bao vây Lê-nin-grát và đang bị đánh trả quyết liệt ở ngoại ô Mát-xcơ-va, Bộ Tổng chỉ huy Đức vẫn dùng một lực lượng rất lớn là “Cụm tập đoàn quân B”, trong đó có Tập đoàn quân số 6 thiện chiến do Thống chế F. Paulus chỉ huy hòng mau chóng chiếm được thành phố này, để từ đó làm chủ được vùng rộng lớn phía Nam Liên Xô.

Sau 125 ngày phòng thủ, cầm cự, từ 19-11-1942, quân đội Xô-viết chuyển sang phản công, chia cắt và bao vây quân địch từng cụm để tiêu diệt chúng. 75 ngày đêm tiếp theo là cuộc phản công chiến lược của quân đội Liên Xô. Cho tới ngày 2-2-1943, quân dân Xta-lin-grát đã đánh tan Tập đoàn quân số 6, Tập đoàn xe tăng số 4 của Đức, Tập đoàn quân số 3 và 4 Ru-ma-ni, Tập đoàn quân số 8 I-ta-li-a. Kết quả là 1,5 triệu binh lính, sĩ quan và tướng tá Đức, Ru-ma-ni và I-ta-li-a bị tiêu diệt và bắt sống (trong đó có Thống chế Paulus); phá hủy 2 ngàn xe tăng, hơn 10 ngàn đại bác vào pháo; bắn rơi gần 3000 máy bay các loại.

Chiến thắng Xta-lin-grát đã tạo bước ngoặt lịch sử quyết định của cuộc chiến. Từ đây, quân đội Liên Xô chuyển sang tấn công toàn diện quân xâm lược Đức trên khắp các mặt trận. Ngày 28-11-1943, tại Tê-hê-ran (thủ đô I-ran) đã diễn ra hội nghị các nguyên thủ của 3 cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh. Tại đây, Thủ tướng Anh Sớc-sin (Churchill) đã chuyển món quà đặc biệt – là thanh kiếm danh dự của nhà vua Anh Gê-oóc-ghi (Gheorghi) VI tặng quân và dân Xta-lin-grát. Trên thanh kiếm khắc dòng chữ: “Quà của vua Gheorghi VI tặng những người có trái tim thép, các công dân Xta-lin-grát với lòng kính trọng của nhân dân Anh dành cho họ”. Xta-lin đã nhận và chuyển món quà đầy ý nghĩa đó cho các công dân thành phố Anh hùng này ngay sau khi từ hội nghị trở về.

Xuân Hữu
qdnd.vn