Thư viện

Nhớ lời dạy của Bác về Cao Bằng

Ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã đưa ra một trang giấy nhỏ, là bút tích việc chuẩn bị bài nói mà Bác Hồ đã chuẩn bị: Chúc đồng bào pi mư đạy lai (tiếng Tày nghĩa là: Chúc đồng bào năm mới nhiều tốt đẹp). Cao Bằng phải cao bằng những tỉnh tốt nhất, tốt nhất là Cao Bằng vượt mức cao không ai bằng.

Nghiên cứu di sản và cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi tự rút ra cho mình một nhận xét, tuy là không mới nhưng là điều tôi hướng theo khi nói về tư tưởng Hồ Chí Minh hay ở một bình diện khác: Văn hoá Hồ Chí Minh. Trên báo Ogoniok (Liên Xô), số 39, ra ngày 23/12/1923, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng O.Mandenxtam đã có một tiên cảm tinh tế, chính xác về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dáng dấp con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra thật lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai” (Thăm chiến sĩ cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc).

Đúng! đó là một nền văn hoá tương lai nhưng nền văn hoá tương lai đó không đến từ hư không mà là kết quả sự dung nạp, chắt lọc từ nhiều nền văn hoá, tư tưởng, kết hợp với nền văn hoá dân tộc truyền thống. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng nói: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Cơ Đốc giáo có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm: chính sách của nó thích hợp với những điều kiện nước ta.

Các vị đó có những điểm chung. Họ đều nghĩ về nhân loại mà mưu cầu hạnh phúc, vì xã hội mà mưu cầu phúc lợi. Tôi gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy“.

Như vậy là trong “người học trò” nhỏ ấy có tư tưởng tiến bộ của Chúa Giêsu, có Đức Phật, có Mác – Lê nin, có Tôn Dật Tiên, có Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… và cả Trạng Quỳnh nữa! Điều nổi bật nhất trong suy nghĩ, trong cách nói, cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là có chất trí tuệ uyên bác, tiên tri của Trạng Trình và chất hài hước, dí dỏm, cách nói đa nghĩa của Trạng Quỳnh! Có thể nói, 2 ông Trạng Việt Nam đó luôn có ở trong con người Hồ Chí Minh, do đó trong cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán những sự kiện lớn cực kỳ chính xác (Việt Nam độc lập năm 1945, Mỹ thua trên bầu trời Hà Nội 1972 v.v…). Còn cách nói nước đôi, hài hước, dí dỏm, cách chơi chữ thì ngay từ những truyện, ký Người viết ở nước ngoài, những bài thơ trong “Nhật ký trong tù”, trong những bài báo in trên những tờ báo trong và ngoài nước.

Sau 20 năm, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pắc Bó (Cao Bằng – 1961).

Cách nói đa nghĩa và chơi chữ là cách Người hay dùng, chẳng hạn đầu xuân năm 1961, trong lần trở lại thăm Cao Bằng, trong buổi nói chuyện với các cán bộ lãnh đạo của tỉnh, Bác hỏi: “- Cao Bằng giờ có dám phấn đấu để không ai cao bằng mình không?

Đồng chí Hồng Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy, đứng dậy nhìn các cộng sự của mình, rồi thưa rằng:

– Dạ, phong trào cả tỉnh đang nhiều mặt yếu, Bác dạy thế cao quá, Cao Bằng khó lòng đạt được.

Sau vài giây suy nghĩ, Bác hỏi:

– Vậy thì, Cao Bằng chí ít cũng phải phấn đấu để cao bằng người ta.

Đó là yêu cầu tối thiểu, đồng chí Hồng Kỳ thay mặt Đảng bộ hứa sẽ quyết tâm thực hiện bằng được lời Bác dạy“. (Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa ở Cao Bằng, kỷ yếu hội thảo Bác Hồ với Cao Bằng – 1994). Trong cuộc hội thảo Bác Hồ với Cao Bằng, tổ chức tại tỉnh Cao Bằng nhân kỷ niệm 70 năm Bác Hồ về nước (1911 – 2011), ông Trần Viết Hoàn, nguyên Giám đốc Khu di tích lịch sử Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã đưa ra một trang giấy nhỏ, là bút tích việc chuẩn bị bài nói mà Bác Hồ đã chuẩn bị. Nội dung đoạn bút tích đó như sau:

Chúc đồng bào pi mư đạy lai (tiếng Tày nghĩa là: Chúc đồng bào năm mới nhiều tốt đẹp).

Cao Bằng phải cao bằng những tỉnh tốt nhất, tốt nhất là Cao Bằng vượt mức cao không ai bằng.

Đó là nỗi niềm, là lòng mong ước, là lời dạy của Bác Hồ đối với nhân dân Cao Bằng thật dễ nhớ, dễ thuộc, dễ khắc sâu, bởi ý nghĩa sâu xa, bởi lối chơi chữ biến ảo: Chữ Cao Bằng, danh từ chỉ địa danh đổi thành tính từ so sánh. Tôi nghĩ cách nói này của Bác Hồ vừa dân dã vừa linh hoạt, ít chữ mà nội dung tải được lại rất nhiều so với cả một đoạn dài được chuẩn bị rất bài bản mà Bác Hồ đọc trong buổi mít tinh đón Người tại sân vận động thị xã Cao Bằng, năm 1961: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như trước đây Cao Bằng là tỉnh gương mẫu trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc“.

Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ lên thăm Cao Bằng lần cuối cùng và để lại những lời dạy quý báu, Cao Bằng đã không ngừng phấn đấu vươn lên, nhưng buồn thay ước muốn của Bác Hồ về sự đi lên, sự gương mẫu, sự cao bằng người… vẫn còn xa vời lắm. Cao Bằng vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất nước, nhiều ngành “đứng đầu” cả nước… tính từ dưới lên! (như ngành Giáo dục – đào tạo). Mà Giáo dục là quốc sách. Giáo dục mà như thế, Cao Bằng làm sao cao bằng người được! Trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Cao Bằng cũng đã có nhiều nỗ lực, nhưng điều cần học tập nhất là làm sao để Cao Bằng cao bằng người lại dường như bị lãng quên. Thế mới biết, nói thì dễ làm sao mà làm mới khó làm sao!

Năm mươi năm nữa, một trăm năm nữa và mãi mãi, lòng mong ước, lời dạy của Bác Hồ với Cao Bằng: Cao Bằng phải cao bằng người hay “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không…” vẫn luôn vang vọng, dẫn dắt toàn dân đi lên trên con đường hướng tới một xã hội tươi đẹp: Ấm no, hạnh phúc, công bằng, dân chủ văn minh

Nhà văn Hoàng Quảng Uyên

cand.com.vn

Bác Hồ và nước Việt Nam


Bác Hồ là vị lãnh tụ tối cao, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu về Bác, học tập Bác là một điều phải làm suốt cả cuộc đời và cho cả nhiều thế hệ mai sau. Với một sự hiểu biết rộng lớn, một tâm hồn bao la rộng mở, Bác đã để lại cho mọi người trên toàn thế giới sự ngưỡng mộ và kính phục lớn lao.

Năm 1890, Nguyễn Sinh Cung, chú bé sau này mang tên Hồ Chí Minh, cất tiếng khóc chào đời trên mảnh đất Việt Nam khi đất nước Việt Nam đang bị thực dân Pháp chiếm đóng. Lớn lên, vào tuổi trưởng thành, năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi, bôn ba khắp bốn phương trời để mở đầu cho sự nghiệp cứu nhà, cứu nước.

Với một sự hiểu biết rộng lớn, một tâm hồn bao la rộng mở, Bác đã để lại cho mọi người trên toàn thế giới sự ngưỡng mộ và kính phục lớn lao.

Trong thời điểm lịch sử mà cả thế giới loài người đang trong cuộc đối đầu, đối địch lẫn nhau, Hồ Chí Minh đã đi đầu đấu tranh cho sự hòa hợp của các dân tộc trên toàn thế giới. Bác không chỉ mưu cầu cho sự nghiệp cứu nhà, cứu nước, đồng thời còn có lòng mong muốn giải phóng loài người khỏi cuộc sống lầm than.

Hồ Chí Minh là người tiếp thu mọi giá trị tư tưởng của loài người từ Đông sang Tây, từ châu Phi cho đến châu Mỹ. Bác đến với Chủ nghĩa Cộng sản, tiếp cận cả với tinh hoa của cách mạng tư sản và phong trào giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa Cộng sản với Bác Hồ là một Chủ nghĩa Cộng sản tôn trọng cá nhân, vì con người đúng nghĩa.

Hồ Chí Minh là một con người kết hợp những tư tưởng duy lý của phương Tây với sự hài hòa của văn hóa phương Đông. Bác tìm hiểu các tư tưởng kinh điển của châu Âu, tư tưởng Mác – Lênin của phương Tây và cả Nho học, Khổng giáo lẫn Lão tử của phương Đông. Theo Bác, Khổng Tử, Mác, Lênin, Đức Phật, Jesus và Tôn Dật Tiên nếu còn sống thì các vị ấy sẽ sống thoải mái với nhau như những người bạn.

Bác là một nhà chính trị lỗi lạc, đồng thời là một nhà báo, nhà văn, một nhà thơ, biết vẽ, biết đóng kịch và thấu hiểu các nền văn hóa kinh điển, lãng mạn và hiện đại, nói được nhiều ngoại ngữ của các dân tộc trên thế giới. Bác luyện cả võ công.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Bác quen biết với tất cả các danh nhân, vĩ nhân trên thế giới. Ai gặp Bác lần đầu cũng đều cảm mến và Bác luôn luôn được coi là con người bình dị giữa mọi người. Sự hiểu biết rộng lớn của Bác không làm lu mờ bản chất văn hóa Việt Nam.

Hồ Chí Minh quan tâm từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc vạch ra đường lối giải phóng dân tộc, lãnh đạo quản lý đất nước cho đến việc đồng áng, trồng rau, nuôi cá và dạy dỗ trẻ con. Cái đặc biệt của Bác Hồ là một con người rất vĩ đại, đồng thời là một con người rất dung dị. Bác có ham muốn tạo dựng cuộc sống tốt đẹp cho mọi người và chỉ muốn có được một cuộc sống bình thường dung dị cho riêng mình.

Chúng ta ai cũng biết nhiều về các hoạt động chính trị của Bác, về vai trò lãnh đạo của Bác, nhưng không phải ai cũng hiểu hết về cuộc sống đời thường của Bác. Cuộc sống đời thường của Bác lại là một bài học lớn cho tất cả mọi người từ già tới trẻ trong cuộc sống của mình.

Bác là một lãnh tụ tối cao, nhưng Bác không cao đạo, không sùng bái cá nhân. Những con người bình thường ở khắp mọi nơi khi được tiếp xúc với Bác đều lưu giữ những kỷ niệm khó quên.

Vào nhà dân, Bác ngồi bệt xuống đất, bế trẻ vào lòng cho bé vuốt râu. Ra đồng, xắn quần lên cùng dân tát nước. Thử hỏi mấy ai trong số những lãnh tụ tối cao trên cõi thế gian này có một cuộc sống hòa đồng với mọi người như Bác.

Cái nhân cách, cái phẩm chất lớn lao nhất của Hồ Chí Minh là ở chỗ đó. Một con người hiếm có ở cõi thế gian.

Phương Đông và phương Tây, Quốc gia và Quốc tế, Lý trí và Tình cảm, Lãnh tụ và Dân thường, tất cả đều hòa nhập làm một trong một con người. Hồ Chí Minh đã giải quyết những mâu thuẫn ấy trong bản thể của mình một cách biện chứng và tuyệt vời. Bác không chỉ vĩ đại khi đứng ở một Cực mà đã nối liền các Cực hòa quyện trong bản thân, Âm Dương hợp nhất trong một bản thể. Một con người có nhân cách lớn, một con người theo đúng nghĩa làm Người. Vì vậy, Bác đã được thế giới tôn vinh là “Danh nhân văn hóa, Anh hùng giải phóng dân tộc”. Bác Hồ là một “Vị Thánh của Cách mạng”. Bác Hồ đồng thời là một Nhà tiên tri.

Trong thế kỷ XX, Bác Hồ là một vị lãnh tụ tối cao đã đem tài đức của mình ra để giải phóng đất nước thoát khỏi sự xâm lăng của nước ngoài.

Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đang đứng trước những cơn biến động lớn. Việc xây dựng đất nước trong hòa bình đang đứng trước nhiều khó khăn nan giải. Một số lớn người dân vẫn đang còn sống trong cảnh cơ cực. Một số người đang bị biến chất.

Bác đã ra đi nhưng vẫn đang còn hiện hữu trên cõi đời này. Bác đang theo dõi từng bước đi của mỗi một con người, để vực con người ra khỏi sự mê lầm vấp ngã trước cái thế giới đang chứa đựng rất nhiều hiểm nguy, giả tạo.

Mỗi một con người Việt Nam hiện nay đều đang lắng nghe từ trong tâm khảm của mình tiếng vọng của Bác dội về để mà sống để mà thương yêu, đoàn kết dìu dắt nhau cùng vượt qua bước ngoặt lịch sử này.

Cung cấp nhiều tư liệu quí về Hồ Chủ tịch

Đây là chương trình lớn với nhiều thông tin, tư liệu quý giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh, để kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và được truyền hình trực tiếp trên VTV1 lúc 20h ngày 4/6/2011. Chương trình sẽ cung cấp cho khán giả nhiều tư liệu quý giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thư của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin học trường thuộc địa, chân dung Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và quyết định tìm đường cứu nước lịch sử qua cuộc phỏng vấn với TS. Sophie Quin-Jugde; Nhà sử học, nhà báo, nhà Việt Nam học Evgeny Kobelev; GS sử học Alain Ruscio hay ông Raymond Aubrac, người bạn Pháp thân thiết của nhân dân Việt Nam… Khán giả cũng biết thêm về những quyết sách tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng khó khăn nhất của cách mạng Việt Nam… thông qua cuộc trò chuyện với hai vị khách mời là PGS-TS. Bùi Đình Phong, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Trần Trọng Trung.

Thái Hoàng

cand.com.vn

Lời kể nhân chứng người Việt

Động đất và sóng thần Nhật Bản

QĐND – “Kể từ khi xảy ra động đất cho đến bây giờ (12 giờ trưa giờ Tô-ki-ô ngày 12-3), dư chấn vẫn còn tiếp tục, cứ cách 30 phút hoặc 1 tiếng là nhà cửa lại rung. Cái cảm giác lo sợ, đôi chân không đứng vững vẫn tồn tại trong tôi”. Anh Trần Quang Tuấn hiện đang làm việc và sống tại quận Shibuya, gần nhà ga Shibuya, một trong những nhà ga bận rộn nhất của Tô-ki-ô, kể lại.

Sóng thần tại Mi-y-a-kô.

Đối với mọi người thì chuyện động đất ở Tô-ki-ô là bình thường, thế nên khi động đất bắt đầu xảy ra thì mọi người chỉ nhìn nhau và nói động đất, vậy thôi! Ngày 10-3 cũng đã xảy ra một đợt chấn động kéo dài mạnh khoảng 3 độ rích-te. Nhưng, lần này độ rung ngày càng mạnh, mọi người bắt đầu cảm thấy bất thường. Người Nhật thì chui xuống gầm bàn, còn người Việt thì do đây là lần đầu nên mọi người đứng quan sát và làm theo nhưng không có chuyện hoảng loạn. Dần dần, chấn động ngày càng mạnh, tòa nhà mới đầu lắc bên trái, phải rồi chuyển sang trước sau, rung chuyển ngày càng tăng. Trưởng phòng bắt đầu kêu gọi mọi người chạy lánh nạn.

Lúc này, tôi chỉ biết kiểm tra túi áo xem có điện thoại, ví đầy đủ chưa và vớ vội lấy cái áo khoác. Và rồi mọi người chạy ra cầu thang, chạy một cách trật tự để không xảy ra tai nạn. Trong quá trình chạy, mọi người tranh thủ chia sẻ với nhau về chuyện nên lánh nạn ở đâu, không nên đứng ở đâu vì một số người chưa có nhiều kinh nghiệm về động đất. Xuống đến tầng một, tôi thấy tất cả mọi người đã chạy ra khỏi tòa nhà. Một số công ty chuẩn bị cho nhân viên rất kỹ: Có người hướng dẫn tránh nạn và phân phát mũ bảo hiểm cho từng người.

Một bé gái 14 tháng tuổi được cứu sống từ đống đổ nát ở I-si-nô-ma-ki. Ảnh: Daily mail

Lẫn trong những người tránh nạn, rất dễ thấy những khuôn mặt sợ hãi, nói không nên lời và chỉ biết khóc vì đây là lần đầu tiên họ trải nghiệm những chuyện như vậy.

Không chỉ có người Việt mà ngay cả người Nhật cũng cảm thấy sợ hãi và lo lắng cho người thân ở xa. Với tôi, dù đã qua nhiều trận động đất mạnh 3-4 độ rích-te nhưng lần này thật là đáng sợ, tôi không thể tin được những gì đang xảy ra.

Ai cũng có điện thoại nhưng tất cả đều mất sóng, chỉ còn mạng 3G hoạt động, mọi người chủ yếu liên lạc bằng Yahoo Chat hoặc Facebook.

Sau khoảng 30 phút, những tưởng mọi việc đã trở lại bình thường thì bất ngờ một trận chấn động khác lại tiếp tục xảy ra, tòa nhà một lần nữa rung chuyển. Chúng tôi chạy thật nhanh đến công viên ở gần công ty. Ở Nhật, các khu công viên để lánh nạn thì hầu như nơi nào cũng có. Trong khi đứng ở công viên, chúng tôi quan sát thấy các tòa nhà cao tầng cứ rung lắc lư, và mặt đất rung chuyển khiến chúng tôi khó lòng đứng vững.

Sau 2 tiếng rưỡi, chúng tôi quay lại nơi làm việc nhưng dư chấn vẫn tiếp diễn. Mọi người muốn về nhưng không được vì toàn bộ các tuyến tàu điện đã ngưng hoạt động, kể cả xe ta-xi, xe buýt cũng không chạy vì đường sá đã bị kẹt hàng chục cây số. Mọi người trong công ty không ai muốn ở lại vì văn phòng ở tận tầng 9, nhưng về nhà thì cũng không xong. Mọi người đành ở lại công ty và sống trong cảm giác lúc nào cũng phải đề phòng và chuẩn bị sẵn sàng.

Đường phố ngày càng đông hơn, các siêu thị đông nghẹt. Rồi các quán ăn dần dần đóng cửa, mì gói và các món ăn tạm qua bữa cũng không còn. Những người bạn có vợ con đang ở nhà thì càng lo lắng hơn khi chưa liên lạc được với người thân. Cuối cùng, nhờ chat mà mọi chuyện cũng xong. Tất cả mọi người đều an toàn, ở nhà đồ đạc có đổ vỡ nhưng vẫn có điện, chỉ có ga là bị ngắt vì nguy cơ cháy nổ cao.

Còn tôi, sau 3 tiếng đồng hồ mới liên lạc được với bạn gái. Cô ấy vô cùng hoảng loạn, không biết phải làm gì khi không thể liên lạc bằng điện thoại. Cô ấy cũng không nghĩ đến chuyện dùng Yahoo Chat hay Facebook mặc dù ngày nào cũng online.

Nhà tôi ở Chiba nhưng may mắn là không gần nơi nhà máy lọc dầu bị cháy nổ. Sáng nay, các tuyến tàu điện đã hoạt động trở lại, thông thường từ nhà đến công ty mất khoảng 1 tiếng thì bây giờ là 3 tiếng. Tại các ga, mọi người vẫn xếp hàng trật tự, chính nhờ ý thức người dân như vậy mà thiệt hại động đất giảm.

Cuối cùng, chúng tôi cũng về nhà và cảm thấy an tâm khi liên lạc được với gia đình, bạn bè. Siêu thị cũng trở lại hoạt động bình thường, không có chuyện lợi dụng nạn động đất mà tăng giá.

Nếu như Nhật không phải là một quốc gia phát triển, người dân không được giáo dục và chuẩn bị kỹ để đối phó với động đất, tôi nghĩ con số thiệt hại sẽ rất kinh khủng.

Hiện nay, chúng tôi cập nhật thông tin động đất qua ti-vi và rất xót xa khi thấy số người chết, bị thương ngày càng tăng. Xem cảnh sóng thần tàn phá sân bay, cuốn trôi máy bay, xe, tàu như những món đồ chơi mà người tôi cứ run lên.

Với tôi, Nhật Bản như một phần quê hương mặc dù tôi chỉ mới sống ở đây có 5 năm. Tôi có cảm giác như người trong cuộc đang hòa vào nỗi đau mà người dân Nhật Bản đang gánh chịu.

Kim Anh (Theo ABC)
qdnd.vn

Quyền lực và đạo đức

Quyền lực, quyền uy, đạo đức trong xã hội có giai cấp, trong điều kiện đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức đúng điều này sẽ góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, chống suy thoái về đạo đức.

…………………………………………..

Theo “Từ điển tiếng Việt”, quyền lực được hiểu là “quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”… Còn theo “Từ điển từ và ngữ Hán – Việt” của Giáo sư Nguyễn Lân thì quyền lực được hiểu “sức mạnh của quyền lực được giao để bắt buộc người khác phải theo (ví dụ: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước). Còn quyền uy – cũng theo Nguyễn Lân – là quyền lực và uy thế.

Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, đối với chính đảng của mình và đối với chính đảng và các giai cấp khác…. Những khái niệm về thiện và ác, về lương tâm và danh dự, nghĩa vụ và quyền lợi, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… là những phạm trù thuộc ý thức đạo đức. Đạo đức mang tính giai cấp. Đạo đức chiếm vị trí chi phối, giữ địa vị thống trị đạo đức xã hội là đạo đức của giai cấp cầm quyền.

Như vậy, quyền lực, quyền uy, đạo đức trong xã hội có giai cấp, trong điều kiện đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức đúng điều này sẽ góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, chống suy thoái về đạo đức.

Không nhận thức đúng về quyền lực sẽ dẫn tới suy thoái đạo đức

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến tận cuối đời, Bác Hồ luôn trăn trở với sứ mệnh cầm quyền của Đảng. Nỗi bận tâm của người sáng lập Đảng là hoàn toàn có cơ sở, vì nước ta là nước dân chủ, nghĩa là dân làm chủ và dân là chủ.

Từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Đảng có quyền lực chính trị lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn diện đất nước, lãnh đạo toàn dân xây dựng xã hội mới. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền lấy dân làm gốc. Quyền lực của Đảng do dân uỷ thác.

Theo Hồ Chí Minh, “Đảng cầm quyền trong một nước dân chủ, thì việc giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi. Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào.

Gương sáng thì dân soi, gương mờ thì dân quay lại

Hồ Chí Minh (1890-1969) là nhà cách mạng, một nhà văn hóa kiệt xuất, góp phần làm nên lịch sử đất nước, lịch sử thế kỷ 20 một phần bởi sự nghiệp văn hóa to lớn người đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam và nhân loại.

Về mặt lý luận và thực tiễn, giành chính quyền đã khó, giữ và xây dựng chính quyền còn khó hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chống đế quốc phong kiến là tương đối dễ, thắng nghèo nàn lạc hậu khó khăn hơn nhiều”. Chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng (cần hiểu theo tinh thần Hồ Chí Minh là hư hỏng cả tổ chức và con người), để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là một cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nêu việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng. Tại sao như vậy?

Bởi vì Đảng ta là đảng cầm quyền, mọi sai, đúng về đường lối, tư tưởng, phẩm chất đạo đức tốt, xấu không bó hẹp trong nội bộ Đảng mà tác động tới toàn xã hội. Hệ thống chính trị mà đứng đầu là Đảng là tấm gương của xã hội, gương sáng thì dân soi, gương mờ thì không soi được, dân quay lưng lại. Như vậy, Đảng giữ vị trí quan trọng hàng đầu của mọi tầm quan trọng.

Quy luật của cuộc sống là đập tan thì dễ, xây dựng, mà thật sự xây dựng thì khó. Cái khó ở đây không phải chỉ ở quy mô của sự nghiệp cách mạng, mà vấn đề là làm sao trong điều kiện Đảng cầm quyền, có được đội ngũ cán bộ đảng viên đủ trí tuệ, bản lĩnh, cái tâm, cái đức để phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Trong xây dựng đất nước, Đảng phải có tư duy mới, bố trí lực lượng mới, phương pháp cách mạng và hành vi mới…

Ngay từ sau khi giành được độc lập, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác Hồ đã cảnh báo những nguy cơ và chỉ ra những căn bệnh của Đảng cầm quyền và của cán bộ, đảng viên do chủ nghĩa cá nhân gây ra, trong đó rất đáng chú ý những căn bệnh như quan liêu, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, “hữu danh vô thực”, xu nịnh a dua, kéo bè kéo cánh, mất dân chủ, nhũng lạm (lạm dụng quyền lực để nhũng nhiễu dân), dìm người tài…

Con người thì ai cũng có cái xấu trong lòng, nhưng không phải ai cũng có thể đục khoét được nhân dân và không phải ai cũng được người ta đút lót. Bác Hồ đã chỉ ra rằng trong điều kiện Đảng cầm quyền, những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Như vậy, theo tinh thần của Bác Hồ, ta hiểu tham nhũng không chỉ là tham nhũng kinh tế, mà gốc rễ là tham nhũng quyền lực, và đó là bệnh của cán bộ, công chức.

Thực tiễn cho thấy, nếu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, chủ chốt có chức, có quyền mà không tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, trở thành những tấm gương sáng trong xã hội, thì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Bởi vì, cán bộ, đảng viên là tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm; là lực lượng tiên phong, nòng cốt của dân tộc: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Quyền lực nếu được trao vào tay cán bộ thiếu đức, dưới tầm thì việc lộng quyền, kéo bè kéo cánh, thiếu ý thức phục vụ nhân dân, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm là tất yếu, và cũng tất yếu sẽ dẫn tới tha hóa, biến chất. Ngược lại, nếu quyền lực đó được trao vào tay cán bộ có đức, có trí thì sẽ biến thành sức mạnh, động lực góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

Phải rèn luyện đạo đức thật sự

Trong khi nói và viết để giáo dục cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh thường dùng hai chữ “thật sự”, như bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân… Trong Di chúc, Người viết : “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tại sao trong một đoạn ngắn, Hồ Chí Minh lại dùng đến bốn lần cụm từ “thật”, “thật sự”? Bởi vì “thật sự” là đối lập với giả dối, lừa lọc, mà giả dối là bản chất đạo đức của giai cấp bóc lột.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta rèn luyện đạo đức mới, đạo đức cách mạng tức là đạo đức phục vụ cách mạng, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, mà lõi cốt là vì độc lập tự do, hạnh phúc của nhân dân. “Thật sự” là bản chất của một đảng cộng sản chân chính cầm quyền, có sứ mệnh lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng đó phải là đạo đức, là văn minh như Bác Hồ đã chỉ ra. Rèn luyện thật sự là để chống lại thói nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói ít làm ít, nói ít không làm, nói một đằng làm một nẻo.

Phải có cơ chế kiểm soát quyền lực

Nhiều nơi trên thế giới có tham nhũng. Ở đâu có quyền lực thì ở đó có tham nhũng. Nếu tham nhũng trước hết là tham nhũng quyền lực, thì phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Theo Hồ Chí Minh, đã kiểm soát quyền lực, nhất là quyền lực của người lãnh đạo, thì phải kiểm soát từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sai lầm đó.

Trong sinh hoạt Đảng, phê bình và tự phê bình, thật sự bảo đảm dân chủ của đảng viên theo tinh thần Hồ Chí Minh là “để đảng viên dám mở mồm ra, dám nói, dám làm” là cách kiểm soát theo nguyên tắc tập trung dân chủ cần phải thực hành triệt để. Cần xây dựng cơ chế trách nhiệm người đứng đầu, trong đó có cơ chế từ chức, được nâng lên thành “văn hóa từ chức”. Vấn đề từ chức rất cần sức mạnh của dư luận xã hội, như là một nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận.

Qua dư luận xã hội, mà một kênh rất quan trọng là báo chí, những người có chức quyền tự cảm thấy xấu hổ, lạc lõng giữa quần chúng, đứng về phía đối lập với cái đẹp. Bản chất của vấn đề là “đức trị”, tức là tăng cường giáo dục đạo đức. Nhưng đối với kẻ tham nhũng, chỉ có giáo dục đạo đức không thôi thì không thể tiêu diệt được tham nhũng. Cần kết hợp “đức trị” với “pháp trị”.

Rất cần “pháp trị” với ý nghĩa là tính khoa học, minh bạch của bộ máy trong điều kiện nhà nước pháp quyền; mặt khác phải nghiêm minh và công bằng về pháp luật. Nếu xử nhẹ kẻ tham nhũng, ăn hối lộ và hối lộ thì sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ. Bài học của Bác Hồ về kết hợp chặt chẽ giữa “đức trị” với “pháp trị” vẫn còn nguyên giá trị trong tình hình hiện nay.

PGS – TS BÙI ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Theo Lao Động

Tuổi trẻ Online

Hầm ngầm là lòng dân

Trước câu hỏi của khách về việc ngôi nhà nơi Bác ở có lối bí mật xuống hầm ngầm an toàn bằng “bấm nút” không?”. Bác Hồ hơi ngạc nhiên, nhưng chân thật nói ngay: “Chúng tôi đã có hầm ngầm là nhân dân…”.

Bác Hồ và ông Nguyễn Lương Bằng (ngồi giữa) ở miếu Đá Chông ngày 23/2/1958

Chúng tôi được nhiều dịp nghe các vị lão thành từng vinh dự giúp việc Bác Hồ kể về những nơi ở của Người từ khi trở thành Chủ tịch nước. Các vị đều nhấn mạnh rằng, qua nơi ở của Người, ta không chỉ nhận rõ một nhân sinh quan mang tính nhân bản sâu sắc, mà còn thấy thể hiện những quan điểm nhất quán trong tư tưởng và thiên tài Hồ Chí Minh.

Chuyện làm hầm

Tháng 4/2007, chúng tôi hăm hở đi cùng ông Tạ Quang Chiến – người cận vệ được Bác đổi tên, trở lại chiến khu xưa – ATK Việt Bắc. Thăm ba căn hầm khoét sâu trong lòng núi ở Kim Quan, Yên Sơn, Tuyên Quang – nơi làm việc của Chính phủ, Trung ương Đảng và Bác Hồ, tôi hỏi: “Một dạo có đồn đại rằng do ta đánh Điện Biên Phủ, phòng Mỹ liều lĩnh ném bom nguyên tử mà đào hầm…?”.

Ông Chiến cười: “Đề phòng cũng không thừa. Có điều, Bác tính toán từng đường đi nước bước rồi. Hiện vẫn còn tấm ảnh: Hội đồng Chính phủ họp ngoài cửa hang, Bác đứng điều khiển phiên họp dưới lá cờ Tổ quốc. Đây là pha duy nhất được dàn dựng theo yêu cầu của nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định để làm… tư liệu”.

Còn thực tế hồi ấy, theo lời ông Chiến, xem qua bản thiết kế căn hầm có chỗ làm việc, ăn ngủ…, Bác cười bảo: “Làm cho Bác căn lán ở gần cửa hang là đủ rồi”.

Nhà sàn đầu tiên

Từ tháng 4/1954, ông Chiến cùng Chánh văn phòng Phan Mỹ và đội trưởng Cảnh vệ Hoàng Hữu Kháng nhận lệnh Bác về Đại Từ, Thái Nguyên tìm địa điểm mới, gần Hà Nội hơn, dự phòng chiến tranh kết thúc.

Đang là Đội trưởng Thanh niên xung phong Đội 36 phục vụ ATK, ông Chiến điều hai đại đội 272 và 273 về Vai Cày dựng hai khu nhà kỹ thuật cao: một, dinh Đại sứ ở xã Hùng Sơn, và nhà sàn Bác Hồ ở La Bằng – Bản Ngoại. Nay là Di tích quốc gia, dựng Đài kỷ niệm.

Nhà sàn của Bác ở Vai Cày khá cao bên bờ suối, trông bề thế, khác hẳn mọi lều lán Người từng ở trước đó thường kín đáo dưới lùm cây giữa rừng già.

Chính tại đây, sáng 26/7/1954, Bác tiếp người nước ngoài cuối cùng trước khi về Thủ đô – nhà đạo diễn điện ảnh Xô Viết nổi tiếng Roman Carmen. Đáp câu phỏng vấn: “Thưa Chủ tịch, trong một ngày Chủ tịch làm việc mấy giờ?” – Bác trả lời rất hay, mộc mạc mà thanh tao đúng với một tâm hồn nghệ sĩ: “Chim rừng đánh thức tôi, còn tôi đi nằm lúc trên nền trời các vì sao xuất hiện…” (Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử, tập 5, trang 514).

Nhà sàn đầu tiên của Bác ở Vai Cày, Đại Từ, Thái Nguyên

Tìm trước nơi sơ tán

Ông Vũ Kỳ (1921 – 2005, thư ký của Bác) cho biết đã mấy lần theo Bác lên vùng Ba Vì dự các cuộc tập trận, thử súng đạn của bộ đội. Và, lần ấy, trưa 23/2/1958, Bác, anh Cả Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) và Bí thư Tỉnh ủy Hà Tây đã dừng lại, nghỉ ăn trưa tại “cụm đá chồng-vợ-con” bên trên bờ sông Đà, rồi cắm đất dựng nhà.

Những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, Bác thường sơ tán lên đây. Nay nhà tôn tạo lại to đẹp làm nhà lưu niệm, xung quanh sân vẫn rải sỏi như ý Bác: để đêm hôm người lạ đi vào gây tiếng động và anh em đi bộ tập luyện được “xoa bóp” bàn chân.

Lối dốc xuống sông gần cụm đá ba hòn chông, tới đây ai cũng ngậm ngùi thương nhớ Bác khi nghe kể hồi Bác sắp đi xa vẫn cố tập luyện đôi chân ở đây mong được vào Nam.

Chuyện dựng nhà sàn trong Phủ Chủ tịch

Ông Cù Văn Chước (1928 – 2007), tôi viết báo lạm phép gọi là vị “Tổng quản của Bác Hồ” – đại diện “bên A” lo việc dựng nhà sàn trong Phủ Chủ tịch với bên B Cục Doanh trại Quân đội khi còn sống kể rằng sáng 1/3/1958, Bác gặp đoàn đại biểu các dân tộc Việt Bắc tại Phủ Chủ tịch. Người có hỏi qua các lều, lán ngày kháng chiến còn không.

Hôm sau, Bác lên Thái Nguyên và trên đường về Người nói ý định dựng nhà sàn bên kia ao. Mọi việc xong xuôi, ngày 15/4 sau đó khởi công.

Bác dặn kỹ: Phải bí mật, tiết kiệm, đơn giản, không dùng gỗ quý, nhặt nhạnh từng cái đinh, mẩu gỗ thừa, vỏ bào, mùn cưa gom quét làm củi đun, tính việc phân công người làm, không lãng phí công sức, tránh ồn ào…

Thỉnh thoảng Bác ra thăm, anh em hết sức phấn khởi, ra sức thi đua hoàn thành căn nhà trong một tháng để mừng thọ Bác 68 tuổi.

Ngày 15/5, khánh thành nhà, mọi việc gói gọn trong buổi sáng. Bác nói ông Chước trích lương “chủ nhà” đãi thợ bữa liên hoan, tặng họ Huy hiệu và mời chụp ảnh kỷ niệm với Bác.

Chiều 4 giờ, mọi người ra trước nhà sắp hàng. Bác tới, nhìn khắp lượt chưa thấy kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh. Nhìn ra, ông đang lững thững đi tới: “À, chú Kiến!”, Bác lên tiếng. Ai cũng ngạc nhiên. Người giải thích: “Kiến là kiến trúc sư, nhưng… bò – mọi người phải đợi”. Mọi người cười rộ, vỗ tay…

Bỗng, Bác quay về phía mọi người đã xếp hàng: “Hừm! Thế này ngược sáng rồi. Quay lại phông phía bờ ao! Ảnh thuận sáng cho đẹp…”.

Anh em ai cũng nghĩ, tiếc không lấy được nhà sàn làm kỷ niệm. Không hiểu được ý Bác: Bí mật!

Nhà sàn trong Phủ Chủ tịch

Hầm ngầm dưới nhà sàn?

Nguyên thủ một nước anh em sang thăm, lúc thân tình ngỏ ý muốn thăm tư thất Chủ tịch như Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao Liên Xô K.Vôrôsilôv từng thăm khi Bác còn ở phòng nghỉ trưa của anh thợ điện.

Câu nói của Nguyên soái Vôrôsilôv cũng đến tai vị này rằng “Tận mắt thấy nơi ở của Hồ Chủ tịch, tôi thật xấu hổ nghĩ tới tiện nghi mình ở trong Điện Kremli”…

Bác tiếp khách dưới sàn. Khách muốn xem tầng sàn. Chủ nhà mến khách nói nhỏ “Xin mời! Chỉ đề nghị lên 6 người một, kẻo sập nhà tôi”.

Khách xem, hết sức ngạc nhiên, nhận xét rằng ngôi nhà là một công trình độc nhất vô nhị của thế giới cả về kiến trúc học và tư chất chủ ngôi nhà. Nhưng khách vẫn hỏi có lối bí mật xuống hầm ngầm an toàn bằng “bấm nút” không?”.

Bác Hồ của chúng ta hơi ngạc nhiên, nhưng chân thật nói ngay: “Chúng tôi đã có hầm ngầm là nhân dân…”.

Tự hào biết bao hai tiếng NHÂN DÂN! Đó là tư tưởng, là đạo đức Hồ Chí Minh – một tinh hoa truyền thống dân tộc có thể suy rộng lịch sử từ câu ca tiền nhân:

Giặc tan đất nước thanh bình
Phải đâu đất hiểm – bởi mình có nhân.

Trịnh Tố Long
Theo Tiền Phong

Tuổi trẻ Online

Bác Hồ với miền Nam – Miền Nam với Bác Hồ

Bác Hồ vun xới cây vú sữa của đồng báo miền Nam gửi ra biếu Bác - Ảnh tư liệu

Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam

Tấm lòng của Bác với miền Nam

…. Năm 1963, ba năm sau Đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng triệu tập tôi ra Hà Nội báo cáo tình hình. Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đế chỗ Bác. Vào đến phòng họp, tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam. Vừa ngồi được một tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo nâu, đi chân đất. Bác nói:

– A, chú Cúc đấy phải không. Chú ở miền Nam ra, trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân miền Nam. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ trung ương cục đóng ở đâu?

Tôi chỉ Tây Ninh và thưa:

– Thưa Bác đóng ở Tây Ninh ạ.

Bác liền hỏi:

– Tôi nghe là ở Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến chống Pháp, các đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà và ban lãnh đạo Phân liên khu miền Đông rất khó khăn về gạo, phải tích từng lon. Thế bây giờ thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người được bao nhiêu?

– Thưa Bác, gần 30 ki-lô-gam.

– Tới gần 30 ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú hay chiến sĩ?

– Dạ, đó là anh em chiến sĩ thanh niên, chứ chúng cháu không ăn hết được.

– Thế thì tốt lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?

– Dạ, đó là nhờ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau Đồng khởi, bà con ở Miền Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh chính trị, theo đường lối “hai chân, ba mũi”, vừa chống địch càn quét đánh phá, vừa đẩy mạnh sản xuất nên bây giờ bà con đã có đủ gạo ăn và nuôi khánh chiến. Ta cũng đã phá được thế bao vây chia cắt của địch giữa các vùng. Cho nên đảm bảo được những nhu cầu cần thiết yếu cho cả đồng bào và chiến sĩ, không đến nỗi khó khăn như thời kháng Pháp.

– Tốt lắm các chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng liệu có được lâu không?

– Thưa Bác, khi chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã làm rồi thì càng thấy rõ trên thực tế là đường lối của Đảng rất đúng. Cho nên chắc chắn là sẽ giữ được lâu dài.

Quả thật, những năm về sau, mãi đến mùa xuân năm 1975, đồng bào và chiến sĩ miền Đông vẫn không bị đói. Hồi năm 1952, ở miền Đông Nam Bộ ta chỉ có hai trung đoàn, mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân dân và bộ đội đều bị đói, phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội xuống miền Tây (vùng Đồng Tháp) để có gạo ăn. Số còn lại mỗi người mỗi tháng chỉ có năm lít gạo.

Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sĩ cán bộ. Từ câu hỏi đó, Bác hỏi đến phong trào tình hình chung, rồi Bác phân tích, Bác khen làm như thế là giỏi và hướng dẫn, chỉ vẽ thêm cách làm cho thời gian tới.

Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng đồng chí Trần Độ. Đồng chí Vũ Kỳ (thứ ký của Bác, hôm đó cũng có mặt) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.

Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.

Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết rằng nếu đồng bào và chiến sĩ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ lo lắng biết bao nhiêu.

Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này Bác đã mệt nhiều, khi tôi  được vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp chuyện nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn còn đang khỏe. Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu cán bộ Bộ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!

Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết. Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.

Miền Nam hướng về vị cha già dân tộc

Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, nó phải thả. Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo: “Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!”. Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

….Hay như những năm 1955 – 1956, sau khi Mỹ – ngụy dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng địch tạm chiếm. Ở viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải). Nhiều nhà tri thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn, v.v….

Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho trước khi Đồng Khởi, có chi bộ bị chúng bắn giết chết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó.

Sau đó, Xứ ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch – ta và góp ý kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15, Bác đã đóng góp rất nhiều ý kiến.

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là Lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

NGUYỄN VĂN LINH
Nguyên Tổng Bí thư BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam

(Trích “Bác Hồ với Miền Nam – miền Nam với Bác Hồ”,
NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986)
Tuổi trẻ Online

Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế…

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (1954)

TT – Ngày 1-8-1969, một ngày thu Hà Nội rất đẹp, trời Ba Đình như xanh hơn, rộng hơn. Chim trong vườn Bác thi nhau hót líu lo, rộn ràng.

Đúng 5g30 sáng, đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, đã có mặt ở chân cầu thang nhà sàn, cũng đúng lúc Bác từ trên cầu thang thong thả bước xuống.

Hai người như hai chiếc đồng hồ, không chênh nhau một giây, như anh chị em trong Văn phòng Chủ tịch thường kháo nhau.

Đưa cánh tay trái lên đỡ cánh tay phải của Bác, rồi dắt Bác bước ra con đường ven hồ, Vũ Kỳ hỏi thăm sức khỏe Bác:

– Thưa Bác, đêm qua Bác có ngủ được không ạ?

– Cũng tàm tạm! Bác cố đọc cho xong mấy cuốn Người tốt, việc tốt vừa nhận được, để hôm nay làm việc với các chú bên Ban Tuyên huấn trung ương.

– Thưa Bác, theo hẹn, đúng 8g30 các anh ấy sang. Tối hôm qua anh Hà Huy Giáp lại gọi điện nhắc.

– Chú ấy thật chu đáo, cẩn thận.

Đi thêm một đoạn, Bác dặn người thư ký:

– Danh sách mười thương binh hôm qua Bác thưởng huy hiệu, chú cần trích ngang thành tích, lát nữa chuyển cho chú Giáp để chú ấy khỏi mất công đi sưu tầm. Văn phòng Chủ tịch nước cần nêu gương giành việc về mình để đỡ cho các cơ quan khác.

Cứ thế, hai bác cháu, kẻ trước, người sau vừa đi, vừa hít thở không khí trong lành, vừa nói chuyện rủ rỉ. Gió sớm mai mát lành vờn bay trên mái tóc bạc như cước của Bác. Lúc này trông Bác giống như một tiên ông vừa giáng trần, theo sau là chú tiểu đồng thấp bé, lủn củn nhưng dáng vẻ tinh nhanh lạ thường.

Ngay cả quạt máy Bác cũng không dùng. Quanh năm, Bác chỉ dùng quạt giấy hay quạt làm bằng lá cọ lấy trong vườn. Khi thấy Bác dùng lá cọ làm quạt, nhiều đồng chí trong cơ quan cũng dùng.

Để tránh thất lạc, Bác dùng đầu thuốc lá châm thành chữ B vào quạt của mình. Và một chiếc quạt như thế đã theo Bác đến tận cuối đời.

Chúng ta xem phim Những giây phút cuối đời của Bác Hồ sẽ thấy hình ảnh đồng chí Vũ Kỳ ngồi ở đầu giường bệnh của Bác, tay phe phẩy chiếc quạt lá cọ quạt mát cho Bác.

Khi hai người ra đến sân ximăng, cái sân tiếp giáp với ngôi nhà của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thì chú tiểu đồng bước chậm lại để tiên ông vượt lên trước, vung hai tay thoải mái. Đến cột bóng rổ, Bác dừng lại, rướn người, cố đưa cánh tay phải lên sát vòng lưới nhiều lần.

Đây là một trong những bài tập mà các thầy thuốc Trung Quốc đề ra cho Bác hồi năm 1966, 1967 khi Bác đi nghỉ ở Ôn Tuyền, Quảng Châu… Đến lượt rướn cuối cùng, có lẽ là cao nhất, Bác đưa mắt cho người thư ký. Người thư ký vội vàng chạy đến, rút trong túi ra mảnh giấy và ghi lại mức rướn mà Bác vừa đạt được…

Đợi người thư ký ghi xong, Bác vui vẻ hỏi:

– Tốt chứ?

– Thưa Bác, kém hôm qua hai phân.

Nghe thế, Bác thoáng vẻ không vui nhưng ngay sau đó Bác lại động viên người thư ký:

– Nhưng không sao. Ngày mai ta lại cố gắng.

Trên đường trở về, Bác ngước lên cửa sổ tầng hai nhà thủ tướng, khum bàn tay làm loa, gọi với lên:

– A lô a lô, chú Tô dậy chưa? Xuống tập thể dục.

Chờ một lát không thấy trả lời, người thư ký thưa với Bác:

– Đêm qua thấy anh Tô thức rất khuya, chắc là chuẩn bị cho ngày mai họp Bộ Chính trị về qui hoạch xây dựng thủ đô và sau đó bàn tiếp về tình hình miền Nam và đấu tranh ngoại giao.

– Thế thì Bác cháu ta về để cho chú ấy ngủ thêm.

8g30, ngay dưới nhà sàn, Bác làm việc với Ban Tuyên huấn trung ương và Thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp về việc xuất bản sách Người tốt, việc tốt. Bác khen sách của một số nhà xuất bản đẹp và nhắc cần giữ phong trào cho thường xuyên.

Bác nhấn mạnh đào tạo con người là vấn đề chiến lược. Phong trào “Người tốt, việc tốt” chính là một trong những biện pháp quan trọng của chiến lược đó.

Làm việc xong, tiễn khách ra về, Bác quay lại dặn đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú nhắc nhà bếp chiều nay làm cơm để Bác tiếp đồng chí Mười Cúc nhé. Chú cùng dự với Bác và mời cả chú Tô nữa.

 

Thế Kỷ, là bút danh của đại tá Nguyễn Thế Kỷ. Ông nguyên là trưởng ban tổng kết lịch sử Quân chủng Phòng không.

Cơ duyên khiến ông có cơ hội tiếp xúc lần đầu với Vũ Kỳ, người thư ký riêng của Bác Hồ bắt đầu từ năm 1986, khi Bảo tàng Hồ Chí Minh gửi công văn sang Bộ Quốc phòng đề nghị biệt phái ông sang bảo tàng nhằm chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vào thời gian này, đồng chí Vũ Kỳ đang giữ chức giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đại tá Nguyễn Thế Kỷ đã được chọn làm người thể hiện hồi ký đồng chí Vũ Kỳ. Tháng 4-1989, cuốn Bác Hồ viết di chúc của Vũ Kỳ do Thế Kỷ thể hiện được Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành.

 

Đúng 16g15, Bác nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng, phó bí thư Trung ương Cục, báo cáo tình hình miền Nam.

Bác đặc biệt quan tâm đến chiến dịch “Bình định cấp tốc” của Mỹ ngụy đang thực hiện trong cả bốn vùng chiến thuật. Bác căn dặn đồng chí Nguyễn Văn Linh là trong bất cứ tình huống nào cũng phải bám chắc vào dân, dựa vào dân để mà tồn tại…

Mới cách đây chưa đầy ba tháng, Bác vừa viết xong những dòng cuối cùng của di chúc hết sức cảm động: “Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người xưa nay hiếm, nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?…”.

Khi viết những dòng này, Bác vừa tròn 79 tuổi. Bác đang thanh thản chờ đợi ngày ra đi, ấy thế mà sáng nay vẫn lo lắng đến việc đào tạo con người, chăm lo xây dựng người tốt, việc tốt cho ngày hôm nay và cho mai sau.

Và chiều nay lại gửi trọn vẹn cả tấm lòng về với miền Nam thân yêu, nơi mà Bác đã từng nói “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”.

* Buổi sáng 3-8-1969, lại có những biểu hiện của những cơn đau thắt ngực. Hội đồng bác sĩ đưa máy móc vào kiểm tra toàn diện cho Bác, trao đổi cặn kẽ với bác sĩ Nhữ Thế Bảo và Lê Ngọc Mẫn về cách điều trị, đặc biệt tránh không được đi lại nhiều và hết sức tránh xúc động.

Cơn đau thắt ngực rạng sáng hôm nay do ảnh hưởng của buổi chiều làm việc với đồng chí Nguyễn Văn Linh hôm qua.

Mấy năm nay, hầu như mỗi lần nghe báo cáo về sự hi sinh của đồng bào miền Nam và sự tàn bạo của kẻ thù là trái tim Bác không sao ngăn được xúc động.

* May sao, ngày 5-8-1969 lại là một ngày vui của Bác. Khi nghe người thư ký báo cáo hai ông bà luật sư Trịnh Đình Thảo và đoàn cán bộ Liên minh các dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam vừa ra miền Bắc xin được vào thăm Bác, Bác vui vẻ nói ngay:

– Người ta ở xa đến, cần được nghỉ ngơi, mình phải đến tận nơi thăm hỏi mới phải lẽ.

– Thưa Bác, hội đồng bác sĩ vừa căn dặn Bác nên hạn chế đi lại.

Nghe nói vậy, Bác hơi nghiêm nét mặt:

– Đối với miền Nam thì không có hạn chế nào cả. Chú chuẩn bị xe và sang nói với chú Tô cùng đi thăm phái đoàn miền Nam với Bác.

Trong suốt buổi làm việc, nhiều lần Bác phải lấy mùi xoa lau nước mắt khi nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh, phó bí thư Trung ương Cục, báo cáo về sự tàn bạo của kẻ thù và những hi sinh mất mát của đồng bào và chiến sĩ miền Nam.

Bác tâm sự với đồng chí Nguyễn Văn Linh:

– Bác đã đề đạt nguyện vọng với trung ương là chuẩn bị cho Bác vào Nam một chuyến. Bác đã bảo chú Vũ Kỳ để râu cải trang nhưng trung ương chưa chấp nhận, cho là tình hình trong đó đang khó khăn. Bác nói là khi còn khó khăn, gian khổ để cho Bác vào mới quí.

Nhưng trung ương bảo hãy chờ một thời gian nữa. Hôm nay gặp đại diện của miền Nam ở đây, Bác lại xin bày tỏ nguyện vọng của Bác. Chú về bàn với các chú trong đó cố gắng làm sao để Bác có thể vào thăm đồng bào và chiến sĩ miền Nam càng sớm càng tốt.

Nghe Bác nói, mọi người đều xúc động, cùng rơm rớm nước mắt và càng thương Bác vô cùng.

Bác biết rất rõ luật sư Trịnh Đình Thảo là một trí thức nổi tiếng tham gia phong trào yêu nước từ năm 1945 ở Sài Gòn – Chợ Lớn, tích cực chống thực dân Pháp xâm lược.

Từ năm 1955 tham gia phong trào hòa bình chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam VN, ba lần bị kẻ thù bắt giam nhưng vẫn một lòng hướng về cách mạng.

Sau năm 1968, luật sư ra chiến khu và tháng 6-1969, tại Đại hội Quốc dân miền Nam VN, được cử giữ chức phó chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam VN.

15g ngày 5-8-1969, ông bà luật sư Trịnh Đình Thảo cùng các ông Lâm Văn Tết, Lê Văn Giáp không ngờ lại được đón Bác đến thăm. Còn Bác thì phấn khởi ra mặt. Bác ôm hôn từng người với nụ cười rạng rỡ, nói rất vui:

– Dân tộc VN nhất định thắng đế quốc Mỹ vì dân tộc VN đại đoàn kết.

* Chiều 12-8, Bác lên hồ Tây thăm phái đoàn đàm phán của ta ở Paris vừa về Hà Nội, không may trên đường về lại gặp cơn dông. Mặc dù người thư ký đã cẩn thận, chu đáo mang theo cho Bác chiếc áo bông nhưng Bác vẫn bị cảm lạnh.

Sáng hôm sau, hội đồng bác sĩ hội chẩn kết luận Bác bị cảm lạnh dẫn đến viêm phế quản, sốt cao, bạch cầu tăng và quyết định điều trị bằng kháng sinh.

Kể từ đó, bệnh tình của Bác có những diễn biến phức tạp và bắt đầu từ ngày 17-8, Bác không ở nhà sàn nữa mà chuyển xuống nhà H67 ở gần nhà sàn, theo chế độ bất động.

Ngôi nhà này xây xong từ năm 1967 nên có ký hiệu là H67, mục đích là để Bác vừa làm việc, vừa có thể xuống hầm tránh máy bay ngay cạnh đấy khi có báo động phòng không. Ở đấy có một chiếc giường một bằng gỗ mộc cho Bác nằm.

Trên giường trải một chiếc chiếu trơn không vẽ hoa, và một chiếc gối một, cũng là gối trơn không có thêu thùa gì cả. Thật ra lúc đầu các đồng chí phục vụ cũng chuẩn bị sẵn cho Bác chiếu hoa và gối thêu hoa nhưng Bác bảo cất đi, Bác không dùng.

Đặc biệt trời Hà Nội nóng nực như thế mà bao nhiêu lần các cán bộ phụ trách đề nghị lắp máy điều hòa nhiệt độ nhưng Bác đều từ chối. Bác nói:

– Các chú thay nhau đề nghị nhiều lần như thế thì chắc đã có máy rồi, vậy các chú chuyển máy điều hòa xuống bệnh viện để bệnh nhân nặng dùng.

Hồ Chủ tịch vĩ đại

TT – Ngày 26-8-1969, thấy tình hình sức khỏe của Bác diễn biến càng xấu, được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương ra quyết định thành lập ban chỉ đạo công tác giữ gìn thi hài Bác, trực thuộc Quân ủy trung ương, do thiếu tướng Lê Quang Đạo, ủy viên Trung ương Đảng, ủy viên Quân ủy trung ương, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm trưởng ban.

Trước mắt ban chỉ đạo tổ chức ngay một đoàn xe có nhiệm vụ vận chuyển, hộ tống thi hài Bác trên những con đường và địa điểm mà thi hài Bác sẽ đi qua, bảo đảm bí mật, an toàn tuyệt đối. Đội xe thành lập xong là tổ chức huấn luyện ngay.

Cứ đêm đến là cả đoàn tập hành quân theo phương án đã được phổ biến. Xuất phát từ vườn Bách thảo, đi hết đường Phan Đình Phùng, rẽ phải sang đường Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, xuống Trần Thánh Tông, theo lối cổng sau về Viện Quân y 108.

Tại Viện 108, từ cuối năm 1968 đã hoàn thành một công trình đặc biệt mang mật danh 75A, do một tiểu đoàn công binh làm suốt mấy tháng trời. Họ làm ban đêm, từ 7g tối đến 4g sáng, đào đắp hàng trăm mét khối đất đá. Sau công trình 75A là một công trình tương tự ở dưới sân khấu hội trường Ba Đình, mang mật danh 75B.

Chỉ những đồng chí có trách nhiệm ở cấp cao mới biết công trình 75A là nơi sẽ tiến hành phẫu thuật phục vụ việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác, còn công trình 75B là nơi sẽ để thi hài Bác trong suốt mấy ngày liền phục vụ cho lễ tang quốc gia.

Toàn thể cán bộ chiến sĩ từng ngày đêm lao động cật lực xây dựng công trình, các chiến sĩ lái xe trong đoàn xe đặc biệt, các đồng chí cảnh vệ đêm đêm làm nhiệm vụ đứng gác trên các ngả đường ở Hà Nội… tuyệt nhiên không một ai hay biết là việc mình đang làm phục vụ mục đích gì.

Và đặc biệt, chính Bác Hồ cũng không biết những điều đó. Bác không hề biết rằng sau ngày sinh nhật thứ 77, Bộ Chính trị đã họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Duẩn bàn chuyện chăm sóc sức khỏe cho Bác và việc giữ gìn thi hài khi Bác qua đời.

Và đúng ngày 2-9-1967, một tổ bác sĩ gồm ba người được Đảng và Nhà nước ta cử sang Liên Xô học chuyên đề về giữ gìn thi hài. Đó là Nguyễn Gia Quyền – chủ nhiệm khoa giải phẫu Viện 108, Lê Ngọc Mẫn – chủ nhiệm khoa nội tiết Bệnh viện Bạch Mai, Lê Điều – chủ nhiệm khoa ngoại Bệnh viện Việt – Xô.

Cho đến cuối tháng 8-1969, mọi công việc chuẩn bị cho việc giữ gìn thi hài Bác và lễ quốc tang đã cơ bản chuẩn bị xong. Bộ Chính trị đã bố trí thời gian trực tiếp nghe báo cáo và chính thức mời đoàn chuyên gia thi hài Liên Xô sang Hà Nội.

Trong lúc đó, các thầy thuốc giỏi của Trung Quốc do Đảng và Nhà nước ta mời sang từ đầu tháng tám vẫn ngày đêm phối hợp chặt chẽ với hội đồng bác sĩ của ta chăm sóc chạy chữa cho Bác.

Chiều tối 23-8, Viện Quân y 108 cử một tổ công tác gồm hai bác sĩ, hai y tá, một chủ nhiệm khoa dược vào hỗ trợ tổ công tác điều trị cho Bác. Y tá Oanh và Quý được đồng chí Vũ Kỳ trực tiếp giao nhiệm vụ đặc trách làm công tác hộ lý.

Những đêm khuya vắng lặng, trong phòng chỉ còn lại ba ông cháu, những lúc tỉnh, Bác hỏi chuyện về quê hương, gia đình, học tập, công tác và đôi khi hát cho Bác nghe. Y tá Ngô Thị Oanh còn nhớ một lần hát xong, Bác tặng cho một bông hoa hồng.

Ngày 28-8-1969, trên điện tâm đồ xuất hiện diễn biến rối loạn nhịp tim, báo hiệu một cơn nhồi máu khó tránh khỏi. Những cơn đau thắt ngực tăng lên. Hai cháu Oanh và Quý thay nhau xoa ngực cho Bác. Hội đồng bác sĩ mời đoàn chuyên gia y tế Trung Quốc cùng hội chẩn.

Buổi chiều, Bác thiếp đi một lúc vì quá mệt, tỉnh dậy đã thấy vợ chồng đại tướng Võ Nguyên Giáp và chị Đặng Bích Hà đứng bên cạnh, trên tay là một bó hoa huệ 10 bông. Một nụ cười rất tươi nở trên môi Bác.

Có lẽ đây là nụ cười cuối cùng của Bác dành cho hai con người mà Bác rất mực yêu quí. Bác ra hiệu gọi đồng chí Vũ Kỳ và cháu Ngô Thị Oanh lại bên giường, bảo cháu Oanh cắm hoa vào lọ và bảo đồng chí Vũ Kỳ rằng Bác muốn uống một ngụm nước dừa ở cây dừa đầu nhà.

Các bác sĩ tỏ ý không muốn Bác uống nước dừa vì không thích hợp với bệnh tình hiện nay của Bác. Bác đã nói một câu làm cho ai nấy đều xúc động:

– Biết vậy! Nhưng đây là dừa miền Nam.

Ai cũng biết đây là cây dừa do đồng bào miền Nam tặng Bác và suốt 15 năm qua Bác đã chăm sóc với tất cả tình thương yêu tha thiết.

Ngày 29-8-1969, bệnh tình Bác càng nặng thêm. Các đồng chí Bộ Chính trị thay nhau túc trực bên giường Bác.

Bộ Chính trị đã cho kiểm tra lần cuối cùng mọi công tác chuẩn bị. Các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh đã tiếp đoàn chuyên gia thi hài của Liên Xô sang giúp ta.

Sau 20 năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pắc Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pắc Bó vô cùng xúc động! - Ảnh tư liệu

Đoàn gồm sáu người do đồng chí S. Đêvôp, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, phó chủ tịch Viện Hàn lâm y học Liên Xô, viện trưởng Viện Khoa học giữ gìn thi hài Lênin, làm trưởng đoàn. Các đồng chí đã trực tiếp đến kiểm tra các cơ sở 75A, 75B.

Tối 30-8-1969, Bác lại phải trải qua một cơn đau và sau đó đi vào hôn mê. Những biện pháp tốt nhất được hội đồng bác sĩ khẩn trương sử dụng để cấp cứu. Bác dần dần tỉnh lại. Thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang đứng bên cạnh, Bác hỏi ngay:

– Các chú chuẩn bị lễ kỷ niệm quốc khánh đến đâu rồi?

Sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo, Bác dặn:

– Các chú nhớ phải bắn pháo hoa để cho nhân dân và các cháu nhỏ vui mừng đón ngày độc lập của đất nước.

Tiếp đó, Bác lại hỏi tình hình lũ lụt và nhân dịp này Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo với Bác ý kiến của Bộ Chính trị đề nghị Bác lên khu sơ tán của trung ương ở Hòa Bình để tiện việc chăm sóc, điều trị cho Bác. Nghe xong, Bác tỏ vẻ không vui và nói ngay:

– Bác không đi đâu cả. Bác không bỏ dân mà đi. Các chú phải tích cực tìm mọi biện pháp bảo vệ cho được đê điều để bảo vệ dân.

Ngày 31-8-1969, sáng sớm, Bác được báo cáo là hôm qua bộ đội tên lửa Hà Nội lập công xuất sắc, bắn rơi một máy bay không người lái của Mỹ. Bác rất vui nói với đồng chí Vũ Kỳ tổ chức gửi tặng một lẵng hoa cho đơn vị lập công.

Cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 không thể biết Bác Hồ, người tặng hoa cho họ hôm nay, đang sắp phải từ biệt thế giới này.

Ngày 1-9-1969 là một ngày căng thẳng đầy lo âu của mọi người đang túc trực quanh Bác. Lần đầu tiên những người phục vụ nghe tiếng rên của Bác. Điện tâm đồ luôn xuất hiện những ký hiệu xấu. Các đồng chí trong Bộ Chính trị hầu hết đều có mặt, vẻ đau buồn hiện rõ trên từng ánh mắt. Cả dân tộc đang sắp phải gánh chịu một mất mát lớn không gì bù đắp được.

Tuy nhiên, Bác vẫn chưa ra đi. Người thư ký suốt một đời tận tụy với Bác từ những ngày đầu dựng nước lại được Bác giao thêm một nhiệm vụ: nhân dịp kỷ niệm lần thứ 24 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vòng hoa tới viếng các liệt sĩ tại nghĩa trang liệt sĩ Hà Nội.

Sau đó Bác còn bảo ông lo tổ chức gửi tặng lẵng hoa của Chủ tịch nước nhân dịp Quốc khánh cho đội cảnh sát khu vực 4, khu phố Ba Đình, đội bảo đảm giao thông đường bộ I.

Ngày 2-9-1969, cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Quốc khánh. Không ai biết người khai sinh ra ngày độc lập của dân tộc đang chuẩn bị lên đường đi xa mãi mãi.

Trời mưa, bộ phận phục vụ đã căng bạt ngoài sân, kê thêm nhiều ghế. Mới tờ mờ sáng, hình như có mối tâm linh mách bảo, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chính trị đều có mặt đông đủ.

Khoảng 9g, một cơn đau đột ngột làm cho Bác phải quặn nghiêng người và cứ thế lịm dần. Máy điện tim chỉ còn thoi thóp và chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô yếu ớt. Lúc này, các thầy thuốc Trung Quốc từ từ lần lượt lui ra ngoài.

Bộ phận hồi sức cấp cứu chủ yếu của Viện 108 tập trung làm các động tác hô hấp nhân tạo. Tất cả những người có mặt trong nhà H67 như nín thở, chờ đợi, hi vọng…

Đồng hồ chỉ đúng 9g47 phút.

Nhiều tiếng khóc bỗng òa lên rồi cố nén. Các đồng chí Bộ Chính trị và lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đứng xếp hàng quanh giường Bác mặc niệm, rồi lần lượt bước ra ngoài theo yêu cầu của chuyên môn.

Riêng ba đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cố nán lại, đặt tay lên trán Bác, lên ngực Bác, nước mắt lưng tròng. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương phải giục lần nữa mời rời khỏi giường Bác.

Nhưng sau đó vài phút, đại tướng Võ Nguyên Giáp lại một mình quay trở lại, đứng nhìn Bác một lúc lâu nữa.

Đúng 11g, đoàn xe đặc biệt năm chiếc sau bao nhiêu ngày luyện tập, chờ đợi, có mặt ở trước cổng Phủ chủ tịch. Bốn chiếc đỗ lại bên ngoài dàn đội hình theo phương án đã chuẩn bị, chỉ có chiếc hồng thập tự mang biển số PH1468 do đồng chí Nguyễn Văn Hợp lái được lệnh đi tiếp vào nhà H67 chuyển Bác lên xe đi về 75A Viện 108.

Xe Bác đi theo đường Phan Đình Phùng, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Lê Thánh Tôn, Trần Thánh Tông, như bao chiếc xe khác đang di chuyển trên đường. Không ai biết, không ai ngờ trong chiếc xe đó có một con người vĩ đại, Bác Hồ yêu quí của toàn dân tộc đang đi về cõi vĩnh hằng.

Ngày lễ độc lập, hai bên hè phố người đi lại tấp nập, nhất là ở các ngã ba, ngã tư. Những lá cờ đỏ sao vàng làm bằng giấy nổi bật giữa những chiếc áo mới màu xanh và khăn quàng đỏ của các em thiếu nhi. Lại có cả tiếng trống ếch nữa.

Ngày lễ độc lập bao giờ cũng là ngày lễ lớn của các em với những bài hát ca ngợi Bác Hồ. Bác Hồ đã đem độc lập, tự do về cho đất nước, cho các em. Đời đời các em nhớ Bác.

Mùng 2-9-1945, mùa thu Hà Nội, Bác về…
Mùng 2-9-1969, mùa thu Hà Nội, Bác đi xa…

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên và đẹp đẽ. Vì vậy, cả dân tộc càng nhớ đến Người. Hồ Chí Minh vĩ đại!

THẾ KỶ