Thư viện

Cô giáo ba lần vinh dự được gặp Bác Hồ

Nghe tiếng Đông Ngạc đã lâu, hôm nay tôi mới có dịp về thăm. Đông Ngạc với nét giản dị, cổ kính, những cánh cổng theo kiến trúc cổ mà tuổi thọ có lẽ hơn cả một đời người và những con đường lát gạch thẳng tắp, những bờ tường có hoa leo chạy dài san sát… Đông Ngạc có được vẻ đẹp như thế là do sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền phát huy truyền thống quê hương và công sức của rất nhiều người có tấm lòng thơm thảo, có trách nhiệm với xóm làng, trong đó không thể không nhắc đến cô Hiệu trưởng đã nghỉ hưu Nguyễn Kim Oanh, người 3 lần vinh dự được gặp Bác Hồ.

ba-lan-gap-bac1
Cô Nguyễn Kim Oanh khi đã về hưu, sống cùng gia đình nhỏ

Nhà cô Oanh ở xóm 2 thôn Đông Ngạc, khách đến thăm sẽ có nhiều thú vị với khuôn viên của gia đình, từ cánh cổng được xây năm 1935 đến ngôi nhà cổ mà theo lời gia chủ được dựng lên từ đời vua Minh Mạng, nhẩm ra cũng ngót 190 năm. Nơi khoảng sân nhỏ, những chậu cảnh với nhiều loại cây được xếp đặt ngay ngắn, đẹp mắt, phía trên có những giò lan xinh xắn đang trổ hoa. Cô Oanh hẳn yêu hoa lắm, dường như ở đâu cũng thấy hoa, từ vườn cho đến phòng khách trong nhà làm cho không gian càng thêm ấm cúng, thanh tao.

Cô Kim Oanh sinh năm 1938 tại xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Khi còn nhỏ, cô theo gia đình lên Thái Nguyên sinh sống. Những năm tháng trước cách mạng, tuy tuổi còn nhỏ nhưng cô đã sớm được hòa mình trong khí thế cách mạng sục sôi ở Thủ đô kháng chiến. Ngay trong gia đình, cụ thân sinh cô tham gia Ban Mặt trận Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, người anh cả trong gia đình cô tham gia Thanh niên cứu quốc, trở về Mỹ Hào cùng nhân dân phá kho thóc, anh hai tham gia bộ đội.

16 tuổi, cô bé Kim Oanh gia nhập Đội Thiếu nhi Tháng Tám, tiền thân của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ngày nay. Năm 1955, cô về học ở Hà Nội. Chính nơi đây, cô đã  3 lần gặp Bác Hồ đầy cảm động, đó là những bước ngoặt đã làm thay đổi cuộc đời cô mà đến nay, những hình ảnh, phút giây ấy vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.

Ba lần gặp Bác

Lần đầu cô gặp Bác trong dịp sinh nhật của Người, ngày 19-5-1956. Cô theo đoàn học sinh Thủ đô đến Phủ Chủ tịch chúc thọ Bác. Cô kể: “Được nghe nhiều, hôm ấy mới có dịp gặp Người. Vừa nhìn thấy Bác, tất cả reo vang tên Người và chạy ùa lại. Tôi nhường các em nhỏ chạy trước. Người giản dị, ân cần phát kẹo và hỏi chuyện các cháu như một người ông hiền từ. Suốt ngày hôm ấy, tôi cứ lâng lâng một niềm vui sướng, hạnh phúc không nói nên lời”.

Lần thứ hai cô được gặp Bác vào tháng 7-1956, khi Người đến thăm Trường phổ thông cấp III Hà Nội, nơi con em cán bộ kháng chiến theo học. Thời điểm đó, học sinh đang được hướng nghiệp, Bác vừa đến, tất cả học trò đều chạy ùa ra đón. Trong lần gặp này, Người nói về vai trò của các thầy cô, về ý nghĩa của sự nghiệp trồng người trong quá trình kiến thiết nước nhà, xây dựng CNXH. Cô Oanh kể lại, khi ấy cô đang có mơ ước trở thành công nhân ngành dệt, nhưng lời Bác nói đã gieo vào lòng cô những suy nghĩ về trách nhiệm bản thân, nhen lên ngọn lửa nhiệt huyết của tuổi trẻ, thôi thúc cô không ngừng học tập, rèn luyện để cống hiến sức mình cho sự nghiệp chung. Sau đó, cô đã chuyển sang ngành sư phạm, phấn đấu trở thành một nhà giáo giỏi, truyền đạt kiến thức và vun đắp ước mơ cho các thế hệ học trò. Đây chính là một bước ngoặt lớn, một quyết định đã làm thay đổi cuộc đời cô.

Lần thứ ba gặp Bác là tháng 10-1957, khi cô đang học Trường Trung cấp Sư phạm Trung ương, nay là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Khi đến, Người đi thăm nhà ăn, khu sinh hoạt trước khi vào hội trường. Người trò chuyện cùng giảng viên, sinh viên, nhấn mạnh lý tưởng của thanh niên và trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân. Lời Bác giản dị, dễ hiểu, gửi gắm trong đó  tình yêu thương, sự kỳ vọng của Người đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là những thầy giáo, cô giáo tương lai, bởi đây chính là đội ngũ sẽ đào tạo ra một lớp trí thức mới, phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà. Nếu như trong lần gặp thứ hai, lời Bác đã giúp cô lựa chọn nghề nghiệp thì lần gặp gỡ thứ ba này đã giúp cô vững tin hơn vào con đường mình đang đi.

Nhiệt huyết với sự nghiệp trồng người

Năm 1959, sau khi tốt nghiệp, cô xung phong đi Lạng Sơn nhưng cấp trên phân công về Hưng Yên dạy ở Trường cấp II Ân Thi. Phụ trách lớp 5, cô Oanh trở thành nữ giáo viên đầu tiên của trường. Năm 1960 về huyện Yên Mỹ làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên, thấm nhuần lời dạy của Bác, cô đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi, có ý nghĩa thiết thực như “gánh cỏ xanh”, “đấu tranh thống nhất”, cắm trại… Với những nỗ lực và cống hiến không mệt mỏi, năm 1964, mặc dù tuổi còn rất trẻ, cô đã được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Tân Lập (Yên Mỹ). Ở đây, cô Oanh đã phát huy sức trẻ, đề ra nhiều kế hoạch, ý tưởng xây dựng trường, đào tạo đội ngũ giáo viên, đưa các hoạt động giảng dạy, học tập vào nề nếp. Từ năm 1964 đến năm 1969, Trường liên tục là lá cờ đầu trong ngành giáo dục của tỉnh Hưng Yên. Tháng 6-1968, cô vinh dự được kết nạp vào Đảng.

Năm 1969, cô chuyển công tác về Hà Nội, làm Hiệu phó Trường cấp II Dịch Vọng (Cầu Giấy) đến năm 1972. Tuy chỉ vẻn vẹn 3 năm nhưng cô Oanh đã phát huy được năng lực và kinh nghiệm quản lý, có những đóng góp không nhỏ vào thành tích chung của trường. Tháng 8-1972, cô được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường cấp II Đông Ngạc (Từ Liêm). Trong 16 năm chèo lái, cô Oanh đã khéo léo tập hợp được một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong giảng dạy, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào cấp III cao, xây dựng nhà trường kiểu mẫu, hoạt động nền nếp, liên tục giữ vững danh hiệu trường tiên tiến của Ngành Giáo dục Thủ đô. Với lòng yêu nghề và tâm huyết của một nhà giáo, cô thường xuyên quan tâm, gần gũi, yêu thương, tận tình chỉ bảo các em học sinh, kịp thời động viên khuyến khích các em có những cố gắng, tiến bộ trong rèn luyện. Để nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng giảng dạy của Trường, cô thường xuyên tìm tòi, ứng dụng những phương pháp giảng dạy, phương pháp quản lý mới, đảm bảo khoa học, hợp lý, nhờ đó hiệu quả công việc được nâng lên rõ rệt.

Là Hiệu trưởng, đồng thời là Bí thư Chi bộ, cô luôn coi trọng vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, quan tâm xây dựng khối đoàn kết giữa chi ủy và ban giám hiệu, chú trọng phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên. Chi bộ đảng nhà trường nhiều năm liền giữ vững danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Với những đóng góp, cô Oanh đã 6 lần nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua và Bằng khen của Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Nội.

Tuổi hưu, tinh thần chưa hưu

Năm 1988, sau 16 năm trên cương vị Hiệu trưởng, cô Oanh về nghỉ hưu tại xóm 2, thôn Đông Ngạc. Với tâm huyết của một nhà giáo mẫu mực, một đảng viên gương mẫu, một công dân có trách nhiệm với quê hương, cô nhiệt tình tham gia nhiều hoạt động ở khu dân cư, góp sức mình làm quê hương Đông Ngạc giàu đẹp. Nhận thấy môi trường đang bị ô nhiễm, mất vệ sinh, cô cùng trưởng thôn họp dân, lập ra Ban vệ sinh xóm, thống nhất một số quy ước, phân chia các tổ ở ba khu vực. Từ đó, mỗi tuần một buổi, nhân dân trong thôn Đông Ngạc cùng nhau tham gia vệ sinh đường làng, ngõ xóm. Tuy môi trường đã sạch sẽ nhưng nhận thấy con đường của thôn đã xuống cấp, cô nảy ra ý tưởng bê tông hóa lề đường. Nghĩ là làm, cô lại bàn với trưởng thôn, sau đó cùng các cán bộ trong thôn vận động bà con góp tiền làm bê tông lề đường, riêng đoạn ngõ nhà mình, cô cùng gia đình gương mẫu làm trước. Tuy vậy không phải gia đình nào cũng hưởng ứng ngay, có những ngõ phải họp, vận động 3 lần mới xong. Bằng sự kiên trì giải thích, thuyết phục của cô và cán bộ thôn, lần lượt các ngõ thôn Đông Ngạc đều được bê tông hóa.

Năm 2009, xóm 2 Đông Ngạc khuyết xóm trưởng trong thời gian dài, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh nhưng không có người giải quyết. Trước tình hình đó, cô Oanh đã xung phong làm trưởng xóm trong 2 năm. Việc đầu tiên cô thực hiện là xã hội hóa việc làm cổng làng nhằm khôi phục nét cổ kính của Đông Ngạc, chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Từ tháng 4-2009 đến 7-2010, cô đã tổ chức họp dân thông qua mẫu cổng, bàn phương thức đóng góp, thảo thư ngỏ, tổ chức ngày hội quyên góp tiền xây cổng, kết quả đã xây dựng được cổng làng đúng dịp chào mừng 1000 năm Thủ đô.

Phát huy vai trò người đảng viên, cô Oanh luôn thẳng thắn đóng góp ý kiến trong các buổi sinh hoạt đảng, nhiều ý kiến của cô đã giúp chi bộ đề ra được những nghị quyết đúng đắn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của thôn Đông Ngạc. Trong quan hệ với các cán bộ, đảng viên và nhân dân, cô chan hòa, gần gũi, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn. Nói như đồng chí Văn Thúy Hoa, Bí thư Đảng ủy xã Đông Ngạc: “Cô Kim Oanh từ khi còn là Hiệu trưởng đến lúc về hưu luôn phát huy tốt vai trò người đảng viên, gương mẫu trong công việc, giản dị, gần gũi trong đời thường, hòa mình vào cuộc sống của bà con xóm làng. Đảng bộ xã Đông Ngạc rất cần những đảng viên như thế”.

Ở tuổi 75 nhưng cô vẫn tâm huyết với các hoạt động xây dựng quê hương giàu đẹp. 3 người con của cô đều thành đạt với gia đình yên ấm. 75 tuổi với 3 lần được gặp Bác Hồ, luôn học tập và làm theo Bác, được gắn bó và cống hiến cho sự nghiệp trồng người, giờ sống những tháng ngày tuổi già thanh thản. Một cuộc đời rất ý nghĩa và tự hào!

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đồng chí Cù Văn Chước – một cán bộ nhiệt thành, một cuộc đời tận tuỵ phục vụ Bác Hồ

1. Từ rất sớm một lòng theo cách mạng

Đồng chí Cù Văn Chước sinh ngày 18 tháng 1 năm 1928 tại xã Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, và mất ngày 30 tháng 6 năm 2007 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi, cái tuổi được coi là “ẩn tuổi” của Bác Hồ, người mà ông đã phụng sự suốt đời.

Tham gia cách mạng từ rất sớm, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, năm 1946, khi mới 18 tuổi, đồng chí Cù Văn Chước đã tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Năm 20 tuổi, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, công tác ở Huyện ủy, rồi làm Thư ký cho Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Hạ Hòa, rồi được điều về công tác ở Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ. Như vậy, ngay từ những bước chân đầu tiên trên đường đời, đồng chí đã chọn con đường theo Đảng, theo cách mạng và được Đảng tin cậy.

Thế nhưng, chỉ đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp “thần thánh” của dân tộc, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mở “trường học lớn”, chỉ thị tổ chức Đoàn Thanh niên xung phong (TNXP) để rèn luyện thế hệ trẻ, tạo thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến và phục vụ trực tiếp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ thì đó mới chính là cơ hội thử sức cho đồng chí Cù Văn Chước. Năm 1953, Đoàn TNXP được thành lập, Bác Hồ cử đồng chí Vũ Kỳ làm Đoàn trưởng, ông Tạ Quang Chiến – Đội trưởng đội 36 phụ trách an ninh – xây dựng – hậu cần khu ATK Trung ương, thì đồng chí Cù Văn Chước được giao phụ trách hậu cần, làm Chủ nhiệm cung cấp cho toàn đoàn.

Đầu năm 1954, Đoàn TNXP được chỉ thị phục vụ trực tiếp cho chiến dịch Điện Biên Phủ, với nhiệm vụ chính là mở đường cho bộ đội, cũng như vận chuyển lương thảo, vũ khí ra mặt trận, và bảo đảm giao thông thông suốt trong toàn bộ chiến dịch. Sau chiến dịch này, Đoàn TNXP còn được giao nhiều nhiệm vụ quan trong khác, trong đó có việc thực hiện chỉ thị của Bác Hồ mở một con đường chiến lược từ biên giới Lai Châu – Vân Nam (Trung Quốc) về thị xã Lai Châu (dài gần 100km). Toàn bộ việc hậu cần cho các hoạt động trên của Đoàn TNXP đều do đồng chí Chước đảm nhiệm. Là người phụ trách hậu cần của hàng chục ngàn người trong suốt nhiều năm song đồng chí luôn là người liêm khiết, minh bạch, không bị lợi ích vật chất cám dỗ. Đó cũng là một trong phẩm chất mà sau này, đồng chí được tổ chức tin cậy, giao cho nhiệm vụ chăm lo cuộc sống hàng ngày của Bác Hồ.

2. Những tháng ngày tận tụy bên Bác

Sau ngày Thủ đô giải phóng, giữa tháng 10-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ về Hà Nội. Từ chối ngôi nhà Phủ Toàn quyền sang trọng, Bác Hồ chọn ngôi nhà 1 tầng xây gạch, sàn nhà lát gỗ, nằm phía bên trái Phủ Chủ tịch, gần hồ nước, vốn là nơi nghỉ tạm của những người thợ điện phục vụ Phủ Toàn quyền cũ (nay gọi là nhà 54), làm nơi ở cho mình.

Năm 1956, khi đang làm Chủ nhiệm cung cấp của Tổng đội TNXP (tức Đoàn TNXP), đồng chí Cù Văn Chước được cấp trên điều về nhận nhiệm vụ mới ở Văn phòng Chủ tịch nước (có mật danh là Cơ quan 41). Sau mấy tháng phụ trách Nhà khách Phủ Chủ tịch, đồng chí được các đồng chí Phan Mỹ – phụ trách Văn phòng và Vũ Kỳ – Thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công làm việc tại phòng Văn thư, trực tiếp phục vụ Bác Hồ trong công việc và đời sống hàng ngày. Cũng từ Đoàn TNXP về làm việc tại Văn phòng Chủ tịch nước, ngoài các đồng chí Vũ Kỳ, Cù Văn Chước còn có các đồng chí Vận, Lãm, Quỳnh… Cán bộ phòng Văn thư có khoảng trên 10 người, làm mọi công việc phục vụ Chủ tịch điều hành đất nước. Văn phòng tiếp nhận, phân loại và chuyển giao tài liệu tới các cơ quan có trách nhiệm, theo dõi, đôn đốc các công việc có liên quan, trình Bác rồi trả lời các bộ, ngành, địa phương. Ngoài ra là các công việc như trực ban, làm vườn, làm bếp, lái xe… Phòng Văn thư còn trực tiếp phục vụ Bác làm việc, hội họp, tiếp khách… Bác không có gia đình riêng, do vậy những cán bộ, nhân viên làm việc ở đây như là những người thân trong gia đình với Bác. Đồng chí Chước là một trong những người như thế.

Khoảng cuối năm 1957, việc làm một ngôi nhà khác để Bác Hồ ở và làm việc được đặt ra. Việc thiết kế ngôi nhà được giao cho đồng chí Nguyễn Văn Ninh (1908-1975), quê ở Đông Kinh, Lạng Sơn, Kiến trúc sư tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương làm việc ở Cục Thiết kế, Bộ Kiến trúc đảm nhiệm. Theo yêu cầu của Bác, đó phải là một ngôi nhà sàn theo kiểu nhà của đồng bào Việt Bắc, có thể nhìn ra ao cá trong vườn. Việc thi công ngôi nhà được giao cho đơn vị bộ đội thuộc Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần quân đội, trong vòng hơn 1 tháng, từ đầu tháng 4/1958 đến giữa tháng 5/1958 thì hoàn thành. Trong thời gian làm nhà sàn, đồng chí Chước được giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, đôn đốc và đáp ứng các yêu cầu của việc thi công. Đồng chí đã làm việc rất tích cực, không kể ngày đêm, phối hợp chặt chẽ với kiến trúc sư và đơn vị thi công để ngôi nhà sớm được hoàn thành. Ngày 15/5/1958, ngôi nhà khánh thành, mọi việc đều khiến Bác Hồ hài lòng. Hai ngày sau, ngày 17/5/1958, Người chính thức chuyển sang ngôi nhà mới. Cũng từ đó, ngôi nhà đã đi vào lịch sử với tên gọi “Nhà sàn Bác Hồ”.

Sau này, đồng chí Chước còn vinh dự là người trực tiếp theo dõi, đôn đốc và đáp ứng các yêu cầu của đơn vị thi công một công trình quan trọng khác tại Phủ Chủ tịch, đó là công trình Hầm 66 (xây dựng năm 1966). Công trình Hầm 66 dành cho Bác (và cả các đồng chí Trung ương khác đến gặp Bác) tránh bom trong những năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đối với Khu nhà làm việc của Bác ở Đá Chông – Ba Vì (có mật danh K9), đồng chí Chước tuy không trực tiếp trong Ban chỉ đạo thi công, nhưng vẫn thường xuyên được đồng chí Vũ Kỳ ủy nhiệm đến kiểm tra, trao đổi với đơn vị thực hiện để công trình đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Trong những năm 60, đồng chí Chước được cấp trên phân công làm Phó phòng rồi Trưởng phòng Văn thư, kiêm Bí thư chi bộ cơ quan. Đồng chí đã cùng anh em tận tụy phục vụ Bác Hồ cho đến khi Người qua đời (9-1969). Một trong những công việc quan trọng mà đồng chí trực tiếp phục vụ đó là việc tổng hợp tin tức và trực tiếp đọc sách, báo, điểm tin cho Bác.

Từ năm 1962, sức khoẻ của Bác Hồ bắt đầu giảm sút, đồng chí Chước và đồng chí Lê Hữu Lập được phân công đọc báo, tổng hợp tin tức, đề xuất ý kiến về các vấn đề báo chí nêu để Bác xem xét. Công việc này cần trình độ tri thức tổng hợp, sự nhạy cảm nắm bắt được đúng và đủ những thông tin hợp yêu cầu của Bác. Đồng chí Lập về sau chuyển sang Văn phòng Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng nên một mình đồng chí Chước đảm nhiệm toàn bộ công việc điểm tin đọc báo phục vụ Bác Hồ.

Hàng ngày, thông thường đồng chí làm tin, báo phục vụ Bác hai lần: Trước giờ nghỉ trưa và sau bữa cơm chiều. Bác nghe trực tiếp tin tức trên radio bằng nhiều thứ tiếng. Bác đọc các bản tin do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng gửi đến từ sáng sớm mỗi ngày. Phần đồng chí Chước, đọc và lựa chọn những tin tức bài viết quan trọng từ các bản tin của Thông tấn xã Việt Nam, báoNhân dân, Quân đội nhân dân và các báo địa phương. Khi đọc có tin hay, Bác nói đưa mọi người cùng đọc. Bác theo dõi tình hình chiến sự ở hai miền Nam – Bắc rất sát sao. Khi cần làm việc với các cơ quan, các đồng chí lãnh đạo và đồng chí Vũ Kỳ thường giao cho đồng chí Chước liên hệ, nêu yêu cầu và trực tiếp liên lạc để đón lên làm việc với Bác. Buổi tối, đồng chí Chước cũng thường đọc sách cho Bác nghe.

Sách Bác đọc có nhiều thể loại và từ nhiều nguồn khác nhau. Sách của tác giả, của nhà xuất bản gửi biếu Bác, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng Bác qua Bộ Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác… Thời gian cuối đời, Người nghe đồng chí Chước đọc cuốnCuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII (Tác giả: Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1968). Chính Bác đã khen ngợi hai tác giả qua đồng chí Cù Văn Chước: “Không biết hai cô chú này có phải vợ chồng không mà viết tâm đắc thế?”

Đồng chí Chước cũng là người được Bác giao cho nhiệm vụ cắt những bài báo phản ánh về gương người tốt việc tốt dán thành từng chuyên đề gương chiến đấu, sản xuất, thiếu nhi học giỏi dũng cảm… Sau này, Bác chỉ đạo đồng chí Hà Huy Giáp, Phan Hiền in thành các tập sáchNgười tốt việc tốt.

Những ngày cuối cùng của đời mình, Bác Hồ vẫn đọc báo và nghe đọc báo. Trên bàn làm việc của Người ở nhà sàn cũng như ngôi nhà Người chữa bệnh và qua đời vẫn còn nguyên chồng báo Người đang xem. Đó là những tờ báo xuất bản vào thời điểm tháng 8 và tháng 9 năm 1969. Đây cũng là những ngày vô cùng sôi động của cách mạng cả hai miền. Miền Nam tin chiến thắng ròn rã. Miền Bắc với khí thế quyết giành vụ mùa thắng lợi và sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển biến. Hội nghị Pari về Việt Nam tiếp tục diễn ra căng thẳng… Tất cả những tin tức đó đều được báo chí phản ánh kịp thời và được Bác theo dõi đều đặn. Có tới 29 tờ báo Bác đã đọc và nghe trong thời gian cuối đời. Người trực tiếp đọc báo cho Bác nghe trong những ngày này là đồng chí Chước và đồng chí Trần Văn Vượng. Các đồng chí chỉ dừng việc đọc báo cho Bác nghe từ sau ngày 24/8/1969, khi Bác đã quá mệt, rồi một tuần sau đó Bác đi về “cõi người hiền” (2/9/1969).

Một công việc quan trọng và thường xuyên khác mà bộ phận văn phòng đảm nhiệm đó là chăm lo sức khỏe và đời sống thường nhật cho Bác Hồ. Việc chăm sóc sức khỏe của Bác do các bác sĩ đảm nhiệm, nhưng việc chăm lo bữa ăn hàng ngày và các sinh hoạt khác thì đồng chí Chước phụ trách, có việc phân công cho người khác, có việc đồng chí trực tiếp làm. Mọi thứ mua về đều được kiểm tra và bảo quản sao cho hợp vệ sinh. Trong việc ăn uống, Bác Hồ rất giản dị, nhất là những năm tháng ở chiến khu. Nhưng từ khi về Hà Nội, do có điều kiện hơn nên bữa ăn của Bác đã được cải thiện rất nhiều. Với trách nhiệm chăm lo trực tiếp đời sống cho Bác, đồng chí Chước đã cùng với các đồng chí Đinh Văn Cẩn, Đặng Văn Lơ (sau này được phân công sang phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng) tìm mọi cách nâng cao chất lượng bữa ăn cho Bác, đảm bảo cho Bác ăn ngon miệng, để có đủ sức khỏe gánh vác việc dân việc nước.

Hàng tuần, vào mỗi tối chủ nhật, Văn phòng còn tổ chức để Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem phim tại phòng khách Phủ Chủ tịch. Bác lại muốn có các cháu thiếu nhi (thường là con em cán bộ văn phòng) xem cùng, thế nên đồng chí Chước thường cùng anh em nhau bàn bạc chọn phim, chọn người chiếu phim, tìm người phiên dịch ở Bộ Ngoại giao nếu chiếu phim nước ngoài. Đồng chí Chước còn cùng với đồng chí Chiêm bên cảnh vệ bàn và thực hiện việc cấp giấy mời để quản lý người vào xem, phân công phục vụ, thu xếp chỗ ngồi cho phù hợp với từng đối tượng. Sau mỗi lần xem phim hay xem biểu diễn văn nghệ, theo chỉ thị của Bác, các đồng chí Vũ Kỳ, Cù Văn Chước còn phải chuẩn bị kẹo để Bác chia cho các cháu.

Có thể nói, việc quản trị đời sống ở Văn phòng Phủ Chủ tịch cơ bản do đồng chí Chước đảm nhiệm. Các khoản thu chi của Bác (trừ sổ tiết kiệm do đồng chí Lê Hữu Lập giữ), gồm lương, phụ cấp đại biểu Quốc hội, nhuận bút, hóa đơn, chứng từ…, tất cả đều do đồng chí Chước quản.Các chứng từ bao giờ đồng chí Chước cũng là người kiểm tra cuối cùng trước khi báo cáo lên lãnh đạo. Cứ 6 tháng một lần, đồng chí báo cáo tổng hợp tài chính chi tiêu trong quỹ lương của Bác. Mọi việc đều chỉn chu, ngăn nắp. Các giấy tờ sổ sách ghi lại công việc này hiện nay còn lưu giữ thường có chữ ký của đồng chí Chước, đúng với vai trò một “Quản gia” của Bác Hồ.

3. Góp công xây dựng bảo tàng, gìn giữ di sản Bác Hồ

Sau khi Bác Hồ qua đời, cùng với đồng chí Vũ Kỳ và một số cán bộ Văn phòng Chủ tịch nước trước đó, đồng chí Cù Văn Chước tiếp tục được vinh dự gắn bó cuộc đời mình với Bác Hồ, bằng việc đảm nhận nhiệm vụ mới: Gìn giữ và phát huy di sản của Bác. Đồng chí được giao nhiều chức vụ quan trọng như Phụ trách Văn phòng Ban Quản lý xây dựng công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh (1969-1977), Chánh Văn phòng (1977-1979) rồi Trưởng Ban Nghiệp vụ Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh (1979-1982), Phó Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh (1983-1987), Phó Giám đốc (1988-1990) rồi Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990-1999).

Ngay từ đầu những năm 1970, Trung ương Đảng đã có chỉ thị về việc giữ gìn và phát huy di sản của Người bằng việc tiến tới thành lập Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội và hình thành hệ thống bảo tàng, di tích và khu tưởng niệm Hồ Chí Minh trong cả nước.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh trong những ngày đầu là khẩn trương tiến hành việc đạc họa, chụp ảnh, kiểm kê, bảo quản toàn bộ hiện vật và di tích có liên quan đến Bác Hồ trong khu vực Phủ Chủ tịch; Quy hoạch các khu vực trong di tích cần bảo vệ… Các văn bản kiểm kê di sản Bác Hồ hiện còn lưu giữ đều có chữ ký xác nhận của đồng chí Chước và chữ ký nhận bàn giao nhập kho bảo tàng của đồng chí Lưu Quang Lập.

Đồng chí Chước cũng trực tiếp phụ trách việc đo đạc chính xác ngôi Nhà sàn Bác Hồ, phục vụ cho việc làm một ngôi nhà khác thay thế, để ngôi nhà thật được bảo quản tại một nơi an toàn, tránh sự đánh phá của bom Mỹ. Sau này (sau năm 1975), những số liệu đo đạc ấy còn dùng làm mô hình cho Nhà sàn Bác Hồ ở Quân khu V (cũng do đồng chí Chước tham gia chỉ đạo thực hiện), để đồng bào miền Trung có cơ hội được nhìn thấy ngôi nhà của Bác.

Những hiện vật và di tích có giá trị lịch sử, liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước tại khu vực Phủ Chủ tịch đã được bảo quản và lập hồ sơ khoa học và đó chính là cơ sở để Khu Di tích Phủ Chủ tịch chính thức được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 15/5/1975.

Năm 1979, kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, hưởng ứng sáng kiến của Bộ Thủy sản, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã cùng với Bộ Thủy sản và Bộ Nông nghiệp phát động phong trào “Vườn quả Bác Hồ”, “Ao cá Bác Hồ” trong toàn quốc và lấy Vườn quả, Ao cá Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch làm hình mẫu. Đồng chí Chước là người thay mặt Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với hai cơ quan trên tổ chức thực hiện. Đó quả là một phong trào xã hội rộng lớn, có ý nghĩa kinh tế và giáo dục ở nước ta cuối thập kỷ 70 và cả thập kỷ 80 của thế kỷ XX.

Cũng trong những năm 1978-1979, khi Trung Quốc gây căng thẳng và tiến hành chiến tranh biên giới, đồng chí Chước cũng là người trực tiếp tổ chức tốt việc đóng gói và vận chuyển an toàn gần 300 hòm hiện vật quý của Bác Hồ tới nơi bảo quản an toàn.

Về việc xây dựng Công trình Lăng (1973-1975) và Bảo tàng Hồ Chí Minh (1985-1990), đồng chí Cù Văn Chước với vai trò, trách nhiệm của mình, đã cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Hà Huy Giáp, Đặng Xuân Kỳ góp phần tích cực cho sự thành công của hai công trình đặc biệt quan trọng này. Trong suốt gần hai mươi năm xây dựng các công trình Lăng và Bảo tàng, đồng chí Chước đã làm việc hết sức mình, chú ý lắng nghe ý kiến của chuyên môn và hợp tác chặt chẽ với các đơn vị thi công để hai công trình đạt chất lượng cao. Đặc biệt, với công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh, đồng chí Chước có những đóng góp trực tiếp và to lớn hơn. Là một trong những người trong Ban Phụ trách xây dựng (do đ/c Đỗ Mười làm Trưởng Ban), đồng chí Chước liên tục được cử đi về giữa Liên Xô và Việt Nam, làm việc với các chuyên gia Liên Xô về kiến trúc, thiết kế và trưng bày bảo tàng, lo nhập khẩu máy móc, kỹ thuật; hợp tác chặt chẽ với các đơn vị như Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng, Bộ Kiến trúc, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia kỹ thuật phụ trách thi công công trình, lắp đặt thiết bị để công trình Bảo tàng đạt chất lượng cao nhất và kịp tiến độ.

Năm 1990, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Bác Hồ kính yêu, Bảo tàng Hồ Chí Minh được khánh thành. Đây cũng là năm đồng chí Cù Văn Chước chính thức thay thế người đàn anh của mình, đồng chí Vũ Kỳ, làm giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Như vậy, không chỉ là một trong những người có công đầu trong việc xây dựng Bảo tàng, đồng chí Chước còn là người tiếp nhận chức vụ, mà cũng là trách nhiệm trực tiếp cao nhất của một cơ quan chuyên trách việc trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản Bác Hồ kính yêu.

4. Trên cương vị Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Với cương vị làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh trong suốt 9 năm (1990-1999), đồng chí Cù Văn Chước – con người đã trung thành, tận tụy với Bác Hồ, càng có nhiều điều kiện hơn để đóng góp sức mình cho sự nghiệp bảo tồn, gìn giữ di sản và làm sáng danh Bác. Trong nhiệm kỳ Giám đốc của mình, đồng chí Chước gần như không xem nhẹ bất kỳ mặt công tác nào trong 6 mặt công tác bảo tàng, chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, kiện toàn Hội đồng khoa học và chỉ đạo xây dựng kế hoạch chuyên môn dài hạn. Đồng chí cũng đã chỉ đạo thực hiện nhiều chuyến sưu tầm tài liệu và hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh có quy mô ở nước ngoài, như ở Liên Xô (1991), Trung Quốc (1997), Pháp… Những cống hiến của đồng chí Chước là toàn diện, trên nhiều mặt, tuy nhiên chúng tôi muốn nhấn mạnh đến 2 đóng góp lớn nhất của đồng chí, đó là: 1. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đầu tiên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh; và 2. Chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo xây dựng giúp nước bạn Lào xây dựng Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản thành công, khánh thành đúng tiến độ thời gian.

Về đóng góp thứ nhất, có thể khẳng định đồng chí Chước là một trong những người có công lớn nhất trong việc đào tạo, bồi dưỡng, tạo dựng lớp cán bộ đầu tiên cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Sự thực, ngay từ những ngày đầu với vai trò: Phụ trách công tác hành chính của Ban Nghiệp vụ của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, rồi Phó Viện trưởng, Giám đốc kiêm Bí thư Đảng bộ cơ quan Bảo tàng Hồ Chí Minh, đồng chí Chước đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành đội ngũ cán bộ này.

Trong những ngày đầu, Trung ương đã phân công về Viện bảo tàng Hồ Chí Minh những cán bộ khoa học có chuyên môn giỏi trong nhiều lĩnh vực: Kiến trúc, kỹ thuật, khoa học xã hội, mỹ thuật… để làm nòng cốt, nền tảng cho công tác nghiên cứu, gìn giữ và phát huy di sản Hồ Chí Minh. Đội ngũ đó theo thời gian cứ đông dần lên, với trình độ chuyên môn cao hơn, sát thực hơn với công tác nghiên cứu và nghiệp vụ của bảo tàng. Vai trò của đồng chí Chước trong vấn đề này từ chỗ là người chấp hành chỉ đạo của cấp trên để xây dựng đội ngũ cán bộ, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt để các cán bộ chuyên môn được đào tạo, bồi dưỡng, đến chỗ phụ trách trực tiếp và toàn diện việc xây dựng và phát triển đội ngũ này. Bản thân đồng chí không được trải qua các cấp đào tạo có hệ thống về chuyên môn, nghiệp vụ bảo tàng, nhưng đồng chí có tâm huyết với Bác Hồ, với sự nghiệp phát huy di sản của Bác, có năng lực tổ chức giỏi nên đã có công trực tiếp tạo ra nhiều lớp cán bộ chuyên môn cho bảo tàng. Tổng cộng, từ khi Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh được thành lập cho đến năm 1990, khi công trình Bảo tàng khánh thành, đã có hơn 90 cán bộ trình độ đại học và trên đại học được đào tạo để phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản Hồ Chí Minh. Dấu ấn của đồng chí Chước trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ này là rất lớn, cụ thể ở việc tham gia lập kế hoạch, xin chỉ tiêu đào tạo, đặt quan hệ với các đối tác trong nước và nước ngoài để hợp đồng đào tạo, lựa chọn những người cụ thể gửi đi học, chăm lo, hỗ trợ các điều kiện học tập và sắp xếp, sử dụng cán bộ chuyên môn… Vai trò đó còn được thể hiện rõ hơn và mang tính quyết định kể từ khi đồng chí chính thức được bổ nhiệm làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cho rằng, dấu ấn của đồng chí Chước không hoàn toàn chỉ là ở số lượng cán bộ được bồi dưỡng, đào tạo, ở trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, mà còn ở tình cảm và lòng kính yêu Bác Hồ, trách nhiệm đối với nghề nghiệp, với sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản của Bác. Bởi đó cũng chính là những phẩm chất của đồng chí Chước để từ đó trở thành tấm gương sáng cho mọi cán bộ, đảng viên trong cơ quan học tập và noi theo.

Về đóng góp thứ hai, có thể khẳng định đồng chí Chước là người có công đầu trong việc giúp nước bạn Lào xây dựng Bảo tàng vị lãnh tụ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào – Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản. Việc xây dựng công trình này diễn trong những năm 1992-2000, đúng khoảng thời gian đồng chí Chước làm Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bởi thế, đồng chí càng có điều kiện dành nhiều tâm huyết của mình cho công trình, với tinh thần: “Giúp bạn là mình tự giúp mình” mà hơn ai hết, đồng chí là người ghi nhớ và thấm nhuần lời dạy đó của Bác Hồ.

Công trình Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản bắt đầu được thực hiện từ năm 1992 do Việt Nam giúp Lào xây dựng (với kinh phí trước sau khoảng 3 triệu USD), trong đó Bảo tàng Hồ Chí Minh được sự phân công của Trung ương, trực tiếp là của Bộ Văn hóa – Thông tin, chủ yếu đảm trách nội dung trưng bày và đào tạo cán bộ, với các nhiệm vụ cơ bản: Giúp Bạn sưu tầm tài liệu hiện vật về Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản, về cách mạng Lào hiện có tại Việt Nam; Giúp Bạn đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn phục vụ cho hoạt động của bảo tàng; Giúp Bạn xây dựng ý tưởng trưng bày, chuyển giao kinh nghiệm tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, phía Bạn gặp rất nhiều hạn chế, do vậy Bảo tàng Hồ Chí Minh, dưới sự dẫn dắt của đồng chí Chước, đã khéo léo thuyết phục cấp trên, đồng thời quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, vượt qua cả những giới hạn của nhiệm vụ được giao ban đầu để giúp Bạn. Những đóng góp của Bảo tàng Hồ Chí Minh do đồng chí Chước lãnh đạo đối với Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản không chỉ dừng lại ở công tác chuyên môn, nghiệp vụ và đào tạo, mà còn có cả kinh phí và thiết bị phục vụ trưng bày, không chỉ dừng ở mức “chuyển giao kinh nghiệm”, mà còn thực sự bắt tay vào thực hiện, với sự hoạt động tích cực của các cán bộ, chuyên gia của Bảo tàng Hồ Chí Minh do đồng chí Chước trực tiếp lựa chọn và đích thân chỉ đạo.

Trong lịch sử đối ngoại của Bảo tàng Hồ Chí Minh, việc giúp nước Bạn Lào xây dựng thành công và khánh thành đúng thời gian Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản là thành quả lớn nhất. Thành quả ấy có được dưới thời đồng chí Chước làm Giám đốc và cũng chính là người trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả này.

5. Một cuộc đời, một tấm lòng tận trung vẹn nghĩa với Bác Hồ

Từ sau năm 1999, đồng chí Cù Văn Chước nghỉ hưu, song không vì thế mà đồng chí thôi gắn bó với sự nghiệp gìn giữ và phát huy di sản Bác Hồ. Cho đến nhiều năm sau, theo lời hẹn với các đồng nghiệp trẻ, đồng chí vẫn kiên trì, thường xuyên đến cơ quan giúp việc xác minh, hoàn thiện các tài liệu, hồ sơ hiện vật về Bác Hồ.

Đến đây, nhìn lại những cống hiến của đồng chí Cù Văn Chước, từ những ngày đầu tôi luyện trong “trường học lớn” là Đoàn TNXP do Bác Hồ sáng lập, trải qua những năm tháng trực tiếp phục vụ, chăm lo cho Bác từ bữa ăn, giấc ngủ, tiếp khách, hội họp, đến những năm đứng đầu cơ quan Bảo tàng Hồ Chí Minh, và cả đến những năm cuối đời, có thể khẳng định đồng chí Cù Văn Chước đã dành trọn cuộc đời mình, đã hiến dâng tấm lòng tận trung vẹn nghĩa của mình cho Bác Hồ.

Đi sau và kế tục bậc đàn anh tiền nhiệm Vũ Kỳ, đồng chí Cù Văn Chước là một trong những người cuối cùng của thế hệ những người đã vinh dự được sống và trực tiếp phục vụ Bác Hồ, đồng thời là một trong những người có công đầu trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy di sản của Bác, cho hôm nay và cho muôn đời sau.

Do điều kiện chiến tranh và phục vụ Bác Hồ, đồng chí Cù Văn Chước không có thời gian được cử đi đào tạo bài bản, ông trưởng thành trong thực tiễn công tác. Bằng trí thông minh và sự cầu thị, ông tự học ngay trong đường đời và học chính ở vị lãnh tụ mình được phục vụ. Do vậy, dù không có bằng cấp cao, nhưng ông quản lý cơ quan khoa học hết sức suôn sẻ bằng chính cái Tâm, cái Tầm, cái Tài, cái Tình của mình.

Sinh ra và lớn lên từ một làng trung du nghèo, được nuôi dưỡng bởi truyền thống văn hóa – lịch sử của vùng quê rừng cọ – đồi chè, ven con sông Cái quanh năm nặng đỏ phù sa, đồng chí Cù Văn Chước được mang đậm dấu ấn: “Trọng tình, trọng người” của quê hương Đất Tổ. Dấu ấn đó theo ông đi suốt cuộc đời và cho đến hôm nay, khi ông về với Tổ tiên, tiếp tục đi theo phục vụ Bác Hồ ở thế giới bên kia, ông vẫn là tấm gương sáng về mọi mặt:

– Nghiêm túc, tận tụy, chỉn chu với công việc;

– Cân nhắc cẩn trọng trong lời nói và việc làm;

– Luôn cầu thị lắng nghe, tôn trọng, khuyến khích và quan tâm tới mọi người;

– Và hơn nữa, ông là tấm gương thủy chung với gia đình, dòng họ và quê hương Hạ Hòa – Phú Thọ.

Hôm nay nhân kỷ niệm 85 năm ngày sinh của ông, chúng tôi đã tập trung về đây để cùng tưởng nhớ tới ông – người đồng chí, người thủ trưởng mẫu mực và kính mến./.

Theo TS. Chu Đức Tính – Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chuyện của người làm nhà cho Bác Hồ

Những ngày được gần Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi thực hiện nhiệm vụ làm nhà cho Bác tại chiến khu Việt Bắc, để lại trong ông Lê Nhạ, xã Đức Trung, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, những kỷ niệm không bao giờ quên.

Câu chuyện cuộc đời, gắn với trọng trách gần 60 năm về trước như cuốn phim quay chậm hiện dần trong ký ức ông.

chuyen-ngươi-lam-nha-1

“Chú Kiệm”, tên do Bác Hồ đặt tên, quàng khăn, hàng cuối. Ảnh: Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Vinh dự được Bác đặt tên

Ông Lê Nhạ trào nước mắt nhìn về cõi xa xăm: “Được sống, làm việc và phục vụ Bác Hồ ngày ấy thật hạnh phúc. Những năm qua, bạn bè, đồng chí lần lượt ra đi, số còn lại chắc cũng chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay. Phần lớn họ đều là người nổi tiếng, được nhiều người biết đến. Riêng tôi, chỉ là một công nhân quốc phòng…”.

Ông nhớ lại, một buổi sáng mùa thu năm 1949, khi sương chưa tan trên đỉnh núi, ông cùng với ba anh em thợ mộc được ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, lúc đó đang phục vụ Bác Hồ, gọi “đi nhận nhiệm vụ đặc biệt”. Một người ốm không đi được nên ông và hai người bạn khác lên đường.

Ba người đi theo ông Chiến đến giữa rừng rậm, bốn bề cây rừng cổ thụ, dốc đá cheo leo, phía dưới thung sâu là một con suối nước xanh trong như ngọc. Tại một ngôi nhà, đúng hơn là một cái lán bằng tranh tre, nứa lá dựng tạm, thì xuất hiện một cụ già cao thanh mảnh, hiền từ chào hỏi: “Các chú đến đây có biết đi mô không?”.

Ông Nhạ ngập ngừng, lúng túng, quên không chào bằng Bác mà lại buột miệng chào “ông Cụ”. “Bởi lúc ở quê, tôi chỉ biết và nghe người ta nói với nhau là “Cụ Hồ” mà thôi”, ông Nhạ giải thích.

Sau khi nghe ông Nhạ và hai người bạn báo cáo về việc được phổ biến đi làm công nhân, Bác ôn tồn nhắc các ông cất hành lý và dụng cụ rồi nhận nhiệm vụ.

Phía bên kia, cách mấy hàng cây cổ thụ, ông Nhạ thấy có khoảng vài chục người chừng tuổi như mình đang cần mẫn lao động.

Bác tự tay rót nước mời ba người thợ mới tới, nhẹ nhàng căn dặn: “Các chú đến đây thì ở lại làm việc cùng anh em. Mọi người làm gì thì các chú làm nấy. Ai cũng phải tuyệt đối giữ bí mật”.

Nói xong, Bác Hồ nhìn từng người rồi ân cần đặt tên theo một trong những từ theo khẩu hiệu Người nêu ra trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí, Công, Vô, Tư…  Ông Nhạ được Bác Hồ đặt tên là Kiệm, ông Ưng (Nghệ An) là Cần và ông Ngụ (Hà Tĩnh) là Liêm. Ba ông được ông Tạ Quang Chiến tiến cử làm nhà cho Bác.

Bác dạy câu chuyện cảnh giác và tính giản dị

“Khi được gặp Bác Hồ, chúng tôi ai nấy đều xúc động không nói nên lời, mắt đỏ hoe”, “chú Kiệm” bồi hồi tâm sự. Rồi ông kể, chờ qua cơn xúc động, Bác Hồ ôn tồn căn dặn chúng tôi, đại ý, công việc các chú làm không đơn thuần là chặt gỗ, đục nhà mà là công việc liên quan đến cách mạng, đến kháng chiến nên phải hết sức giữ bí mật, nêu cao cảnh giác, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà…

Sau khi về lán làm việc, vâng theo lời căn dặn của Bác Hồ, ông Nhạ cùng với hai người bạn, ai lo công việc nấy. Mỗi tiếng chặt, cưa, xẻ gỗ, mỗi tiếng đục, đẽo… các ông đều đặc biệt chú ý, không để phát ra tiếng động mạnh. Họ tuân thủ không tiếp xúc với ai khi chưa có lệnh của người chỉ huy.

Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo trực tiếp của ông Chiến, chẳng bao lâu ba người và một số anh em khác đã hoàn thành ngôi nhà sàn để Bác làm việc và ở.

Nói là ngôi nhà sàn “cho oai” nhưng thực chất rất đơn sơ: Ngôi nhà chỉ bốn cây gỗ đục ra, cao khoảng 5m. Sàn nhà được lát bằng gỗ, phía trên là những tấm phên đan vội để Bác ở và làm việc. Phía dưới trệt là nền đất, có kê những khúc gỗ tròn làm ghế ngồi, và những “chiếc bàn” bằng tre và nứa dùng làm nơi họp Bộ Chính trị.

“Xung quang nhà được đan bằng phên nứa, gió và rét của núi rừng Việt Bắc lọt qua, lạnh thấu xương. Mỗi đợt gió mùa đông bắc kéo về rét tê tái, lòng chúng tôi vô cùng thương cảm Bác”, ông Nhạ buâng khuâng kể lại.

Sau này, ông Cần có “sáng kiến” đan và thưng (cài) thêm một lớp phên nữa để ngôi nhà được kín gió hơn nhưng Bác nhất quyết không đồng ý, vì lý do: ” Khi nào lán của tất cả các chú có hai lớp phên thưng xung quanh thì lúc đó mới thêm phên cho ngôi nhà Bác ở”.

Cảm động và thương Bác cháy lòng, để Người rét ba người thấy mình như có lỗi, nên ai nấy ra sức lao động để có đủ phên thưng hai lớp đỡ rét cho bản thân và cho Bác. Nhưng khi phên đan sắp đủ, do yêu cầu giữ bí mật, các ông được lệnh cùng Bác và Bộ Chính trị dời sang một địa điểm mới, vào sâu hơn trong núi rừng vẫn thuộc chiến khu Việt Bắc (Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn).

“Bác vẫn nhớ mình!”

“Trong suốt hơn ba năm ở, công tác và trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, chúng tôi đã ba lần dời địa điểm để đảm bảo bí mật và an toàn cho Bác Hồ và Chính phủ. Những ngày được bảo vệ Bác là những ngày hạnh phúc của cả đời người mà không bao giờ tôi quên bởi gần người ấm áp đến lạ thường”, “Chú Kiệm” kể tiếp.

Tuy Người rất bận công việc quốc gia đại sự nhưng cũng không quên những người công nhân, bảo vệ… Năm 1952, ông Nhạ được điều về xây dựng căn cứ địa ở chiến khu Việt Bắc, không còn được trực tiếp làm việc và bảo vệ Bác Hồ. Đầu năm 1953, khi ông đang lao động trên công trường thì được Bác đến thăm. Trong lúc anh em công nhân vui mừng khôn xiết  râm ran chào Bác, Người nói với cán bộ bảo vệ đi cùng: “Chú Kiệm đang làm việc trên đó kìa”. Xúc động trước chân tình của vị lãnh tụ, ông Nhạ chạy đến bên Bác.

“Một người công nhân, một chiến sĩ bảo vệ như tôi, xa Bác có dễ gần một năm, nay đến thăm công trường, Bác vẫn nhớ làm tôi vô cùng sung sướng vì vinh dự…”, ông Nhạ bày tỏ.

Theo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh

Thanh Huyền (st)
bqllang.gov.vn

Họa sĩ Trần Từ Thành tự hào với “Bức tranh Bác Hồ”

“Bức tranh Bác Hồ” đặt trên nóc Nhà Thông tin Thành phố Hà Nội, số 93 Đinh Tiên Hoàng, hơn 30 năm qua, là niềm tự hào không chỉ của riêng tác giả Trần Từ Thành.

Tác phẩm tái hiện hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đang tươi cười bế một em bé trên nền chim hòa bình ngậm cành ô liu. Nét vẽ chim bồ câu được họa sĩ cách điệu từ hình chữ S (biểu hiện bản đồ Việt Nam) có bố cục chặt chẽ, màu sắc đơn giản. Bức tranh mang thông điệp về niềm khát khao hòa bình và đoàn kết dân tộc. Tác phẩm, đặt giữa trung tâm Thủ đô, hàng chục năm qua đã trở thành hình ảnh thân quen, gắn liền với mỗi người dân Hà Nội.

Họa sĩ Trần Từ Thành 1

Bức tranh mang niềm khát khao hòa bình.

Chia sẻ về ý tưởng hình thành nên tác phẩm này, họa sĩ Trần Từ Thành kể: Năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông hào hứng tìm đề tài cho bức tranh tham dự cuộc Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc đầu tiên tổ chức vào đầu năm 1976 tại khu triển lãm Vân Hồ, Hà Nội.

Sau nhiều cân nhắc lựa chọn, vị giảng viên Đại học Mỹ thuật Công nghiệp đã dựa trên ý thơ của nhà thơ Tố Hữu trong bài Ta đi tới: “… Lòng ta không giới tuyến. Lòng ta chung một Cụ Hồ. Lòng ta chung một Thủ đô. Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam…”.

Họa sĩ Trần Từ Thành 2

Họa sĩ tự hào vì tác phẩm của mình
trở thành hình ảnh quen thuộc nơi góc phố lớn tại Hà Nội.
 

Bức tranh được trao giải Nhì tại triển lãm năm đó và được Bộ Văn hóa – Thông tin lúc bấy giờ in và phát hành trên toàn quốc. Ngoài ra tác phẩm còn được treo ở Bảo tàng Lênin ở Matxcơva (Nga), La Habana (Cuba)….

Gần đây, nhiều nhà sưu tập trong nước và quốc tế “dạm mua” bản gốc của bức tranh nhưng Trần Từ Thành đều từ chối, bởi với ông “đó là kỷ vật riêng của đời mình”.

Ngọc Điệp

Theo http://vnexpress.net

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Cố hoạ sĩ Vũ Cao Đàm và món quà của người xa xứ

Sinh năm 1908 tại Việt Nam, mất năm 2000 tại Pháp, Họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là tác giả của nhiều tranh, tượng sáng giá, được săn lùng trong các phiên giao dịch quốc tế…

Co hoa sy 1Tượng Bác Hồ do Vũ Cao Đàm thực hiện năm 1946

Lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng (ông là em ruột của bác sĩ Vũ Đình Tụng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương binh; là anh ruột của dược sĩ Vũ Công Thuyết, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), năm 1946, nhân chuyến Hồ Chủ tịch sang thăm Pháp, Vũ Cao Đàm đã tới chào và xin được nặn tượng Người, trở thành nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất được nặn tượng Người trong chuyến công cán năm ấy…

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu khai giảng khóa I từ năm 1925, với 8 sinh viên đầu tiên là các họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Tam, Mai Trung Thứ, Lê An Phan và George Khánh. Vũ Cao Đàm là sinh viên khóa II của trường này, nhưng là khóa đầu tiên của Khoa Điêu khắc (1926-1931). Thoạt đầu, Vũ Cao Đàm tham gia cả hội họa và điêu khắc, nhưng tới năm thứ nhì thì ông chuyển hẳn sang điêu khắc. Về việc này, ông từng kể: “Thầy Tardieu (Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – NV) thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cho cha tôi, ông khen đẹp. Cho nên năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi rất thích, sau đó tôi chuyển về chân dung”.

Năm 1931, Vũ Cao Đàm tốt nghiệp khóa học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với kết quả xuất sắc. Ông được nhận học bổng sang Pháp nghiên cứu và nâng cao kiến thức về tạo hình tại Bảo tàng Louvre. Năm 1938, Vũ Cao Đàm kết hôn với nghệ sĩ dương cầm Pháp Renee. Trong thời gian diễn ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), việc làm tượng trở nên hết sức khó khăn. Lý do là ở thời kỳ ấy, nhất là khi quân đội Đức chiếm đóng nước Pháp, họ sẵn sàng tịch thu những vật dụng bằng đồng để phục vụ việc đúc vũ khí. Việc đổ khuôn đồng bị cấm. Vũ Cao Đàm phải nặn tượng bằng đất nung rồi đánh bóng (như các bức ông dựng chân dung vợ chồng thi sĩ Jean Tardieu, con trai thầy dạy cũ của mình). Tình thế khiến Vũ Cao Đàm quyết định chuyển từ làm tượng sang vẽ tranh. Ông vẽ, thoạt tiên là tranh lụa, rồi sơn dầu. Lý do chuyển sang sơn dầu, ngoài sự đam mê khám phá còn xuất phát từ sự bất tiện trong việc thực hiện cũng như bảo quản tác phẩm. Ông cho biết: “Tôi thấy tranh lụa bị giới hạn bởi kích thước của bức tranh, vì có miếng kính che gìn giữ cho lụa cho nên không thể vẽ to được”.

Co hoa sy 2Hoạ sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm (thứ hai từ trái qua) thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Cùng với các họa sĩ Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu…, bằng những sáng tác giàu tìm tòi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật truyền thống phương Đông và hội họa phương Tây, Vũ Cao Đàm đã góp phần nâng cao vị thế của người họa sĩ Việt Nam với bạn bè quốc tế. Nếu như ở Pháp, từng có thời kỳ, mỗi cuộc triển lãm mở ra, tranh của Vũ Cao Đàm chỉ bán được một vài bức, thì sau này, Vũ Cao Đàm đã có thể bán tranh cho các galery ở Mỹ và Bỉ. Trong các họa sĩ từng định cư tại nước ngoài, cùng với Lê Phổ, Vũ Cao Đàm là họa sĩ có giá tranh bán luôn ở mức cao và liên tục nhiều năm. Ngoài tranh lụa, tranh sơn dầu, Vũ Cao Đàm còn tham gia sản xuất tranh in đá. Cách đây ít lâu, một bức tranh in đá của ông đã được nhà đấu giá Sothebys bán với giá lên tới 30.000 USD.

Bây giờ, xin được nói kỹ hơn về việc họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm thực hiện bức tượng và phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người sang thăm Pháp năm 1946.

Chúng ta đã biết: Ngày 31/5/1946, Bác Hồ bắt đầu thực hiện chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo ông Raymond Aubrac sau này kể lại thì ngày 27/7 năm ấy, trong một cuộc chiêu đãi do các Việt kiều ở Pháp tổ chức để chào mừng người đứng đầu của nước Việt Nam mới, ông Aubrac đã mời Bác Hồ về ở nhà mình – một căn nhà được xây dựng từ thế kỷ XVIII, có vườn tược rộng rãi, nằm ở phía Bắc Thủ đô Paris và cách Paris khoảng 20 phút xe hơi. Bác vui vẻ nhận lời và ngoài ăn ở, sinh hoạt, Người còn thường xuyên tiếp khách tại nhà ông Aubrac. Ông Aubrac còn nhớ rõ, tháng 7 năm ấy, nhân ngày sinh nhật của ông, Bác đã tặng ông một bức tranh ghi cảnh một bà mẹ đang vươn cánh tay dài với những ngón mảnh dẻ vuốt đầu đứa con mới sinh của mình. Bức tranh do họa sĩ Vũ Cao Đàm thực hiện.

Trong biên niên sử về Hồ Chí Minh có ghi: Ngày 1/7/1946, họa sĩ Vũ Cao Đàm đến chào Hồ Chủ tịch, xin phép được vẽ và nặn tượng Người. Cùng ngày hôm ấy, một số văn nghệ sĩ Pháp tên tuổi như Richard Bloch, Aragon, Triolet, Moussinac, Borne, Masson cũng đến diện kiến Người.

Hiện nay, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có lưu giữ một bức phù điêu tròn và tấm ảnh chân dung Bác Hồ do đích thân họa sĩ Vũ Cao Đàm chụp, phía sau ảnh có chữ ký và bút tích của Bác: “Tặng vợ chồng chú Đàm và các cháu – Thân ái. Hồ Chí Minh”. Hai kỷ vật này họa sĩ Vũ Cao Đàm trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân chuyến người em trai ông – dược sĩ Vũ Công Thuyết có chuyến công tác tại Pháp năm 1976.

Con gái họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm là họa sĩ Yanick Vũ, trong một bài viết đã kể lại: Sau buổi tiếp chuyện Vũ Cao Đàm, Bác Hồ đã tặng nhà họa sĩ ảnh và huy hiệu của Người. Tấm huy hiệu đó đã được Vũ Cao Đàm “nhân bản” thành nhiều bức phù điêu tại một cơ sở đúc tiền. Và những bức phù điêu này đã được phái đoàn của ta dùng làm quà tặng chính thức trong thời gian công cán ở Pháp. Có thể nói, để thực hiện công việc giàu ý nghĩa này, Vũ Cao Đàm đã gặp nhiều khó khăn. Sau khi cuộc chiến tranh Pháp – Việt nổ ra, nhà của Vũ Cao Đàm thường xuyên bị nhà chức trách Pháp kiếm cớ khám xét, lục soát. Có lần, do bị người gác cổng tố giác nên cảnh sát đã ập đến khám xét nhà Vũ Cao Đàm. May mà ông kịp giấu ảnh và các tấm phù điêu chân dung Bác Hồ vào hòm đàn dương cầm nên cảnh sát không tìm ra. Tuy nhiên, họ đã bắt nhà họa sĩ đưa đi tra vấn tới gần sáng mới thả.

Năm 1950, 20 tấm phù điêu về Chủ tịch Hồ Chí Minh do Vũ Cao Đàm thực hiện và giấu ở một chỗ kín trong phòng khách đã bị cảnh sát tịch thu, đem đi mất. Cũng trong năm này, do phổi yếu, Vũ Cao Đàm phải chuyển xuống sống ở miền Nam nước Pháp cho phù hợp với điều kiện dưỡng bệnh. Để bảo toàn được bức tượng mà chúng ta thấy sau này, ông đã gửi nhờ gia đình một người nông dân Pháp sống ở Béziers, một thành phố thuộc tỉnh Hérault, nằm ở miền Nam nước Pháp cất giữ. Đến năm 1967, vợ chồng tác giả trở lại tìm bức tượng. Một chuyện thật cảm động: Mặc dù đã già yếu và trong tình cảnh bệnh nặng, gần như mất trí nhớ, nhưng sau khi nghe vợ Vũ Cao Đàm gợi chuyện, người nông dân nọ đã hỏi: “Thưa bà, bà đi tìm bức tượng Hồ Chí Minh phải không?”. Thì ra, bức tượng được cất giấu trong kho đồ cũ, dưới một lớp rơm. Năm sau, gia đình Vũ Cao Đàm định chuyển bức tượng này về Việt Nam thì đúng thời điểm diễn ra cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968) nên không xin được hộ chiếu.

Bức tượng gốc vốn được làm bằng chất liệu thạch cao. Để lưu giữ được lâu dài tác phẩm đặc sắc này, năm 1996, họa sĩ Yanick Vũ đã mang bức tượng sang Tây Ban Nha, tìm một cơ sở đúc đồng nổi tiếng để chuyển bức tượng từ chất liệu thạch cao sang chất liệu đồng. Bức tượng nặng 35 kg, trong đó phần chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được làm bằng chất liệu đồng đen, cao 45,7 cm, và phần bệ bằng đá màu ghi đen, cao 11, 8cm. Năm 1998, bức tượng đã được gia đình họa sĩ Vũ Cao Đàm tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Bức tượng đã nhiều lần xuất hiện trong các cuộc triển lãm tổ chức tại đây và công chúng đã rất ấn tượng với một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện được phong thái của vị lãnh tụ kính yêu trong thời điểm vận nước hết sức khó khăn. Câu chuyện càng trở nên có ý nghĩa khi bức tượng là tác phẩm của một nghệ sĩ Việt kiều đầu tiên và duy nhất nặn tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến Người thăm Pháp năm ấy.

Năm 2000, tức là hai năm sau khi bức tượng được tặng lại cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam, họa sĩ, điêu khắc gia Vũ Cao Đàm qua đời. Hẳn ông rất thanh thản bởi trước khi ra đi nơi đất khách quê người, ông đã trọn nghĩa vẹn tình với quê hương yêu dấu…

Tạ Ngọc Châu
Theo http://cand.com.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Người tài xế 20 năm lái xe cho Bác Hồ và Bác Tôn

(Dân trí) – Dáng người quắc thước, cao to, năm nay đã ngoài 80 tuổi nhưng giọng nói vẫn trầm ấm, truyền cảm, ông là Nguyễn Văn Mùi, người có gần 10 năm lái xe cho Bác Hồ và 11 năm lái xe cho Bác Tôn.

 Ông Nguyễn Văn Mùi tại tư giaÔng Nguyễn Văn Mùi tại tư gia

Nhiệm vụ cao cả

Ông Nguyễn Văn Mùi quê gốc ở xã Xuân Hùng, huyện Xuân Trường (Nam Định), hiện sống trong khu tập thể văn phòng Chính phủ ngõ 4 phố Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội. Đón khách bằng cái bắt tay đầm ấm, khi được hỏi về nghiệp lái xe cho đời Chủ tịch nước, ông như được sống lại một thời hào hùng mà thiêng liêng, khi có tới hơn 20 năm cầm vô lăng, giữ an toàn cho mọi chuyến đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

“Là con út trong gia đình có 7 anh em nhưng cũng như bao lớp thanh niên khác, tuổi 17 tôi đã tham gia du kích, cùng toàn dân đứng lên chống Pháp. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, thực dân Pháp trắng trợn quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa. Quê tôi cũng bị giặc Pháp đàn áp, bóc lột. Lúc này, Đảng và Bác Hồ quyết tâm không chịu làm kiếp nô lệ nên phát động toàn dân kháng chiến, trường kỳ kháng chiến.

Năm 1949, cũng như các anh chị em trong làng, tôi tình nguyện tham gia vào đội quân du kích địa phương đoàn kết đánh giặc. Rồi hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến, không để Pháp bóc lột, đầu năm 1950, tôi lên chiến khu Việt Bắc tham gia hoạt động cách mạng. Ban đầu làm ở xưởng đúc tiền cho Chính phủ rồi mon men học hỏi dần tôi trở thành người lái xe. Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ rời ATK về tiếp quản Thủ đô, tôi nằm trong đội hình lái xe về Hà Nội năm ấy. Rồi cuối năm 1961, tôi vinh dự được lái xe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh”, ông Mùi kể lại.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đám phán Hiệp định Giơ-ne-ver, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Đồng chí Vũ Hoàng, lãnh đạo Ban kiểm tra 12 đã “nhắm” cậu thanh niên quê gốc Nam Định lái xe trong đội hình tháp tùng Bác Hồ và Chính phủ về tiếp quản Hà Nội.

Chuyến đi năm ấy, đoàn xe có 4 chiếc Gat 69, và 3 xe Gat 51 (Bác Hồ đi trong nhóm xe Gat 69) về Thủ đô Hà Nội. Khoảng hơn 9 giờ sáng ngày 19/9/1954, đoàn đi qua tỉnh Phú Thọ, đến đường rẽ vào Đền Hùng, Bác yêu cầu dừng nghỉ, tập hợp bộ đội lại nói chuyện. Và tại đây, Bác đã có câu nói nổi tiếng: “Các vua Hùng đã có công dựng nước/Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Năng động, chắc chắn, linh hoạt đến từng việc làm nên năm 1961, ông Nguyễn Văn Mùi trở thành người lái xe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vinh dự được gần gũi người Cha già dân tộc!

Đến bây giờ, khi đã lui về nghỉ ngơi, nhắc lại quãng thời gian được lái xe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Mùi vẫn thấy rất bồi hồi. Gần 10 năm trời được gần gũi bên Bác, ông Mùi có biết bao nhiêu kỷ niệm không thể nào quên.

“Ngày đó, tôi được giao phụ trách lái chiếc xe Gat do Liên Xô cũ sản xuất để chở Bác Hồ đi công vụ. Sau này, nước bạn Liên Xô có tặng Người một chiếc xe Zít-nanh-đơ, xe này sản xuất cho các nguyên thủ thời ấy nên rất sang, xe có cả kính chắn đạn. Tuy nhiên, Bác không thường xuyên đi xe này bởi vì xe sang quá đi công vụ sợ nhiều người để ý, không gây được sự thân thiện với đông đảo đồng bào cũng như quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy, tuy văn phòng Chính phủ có ý định đổi xe cho Bác nhưng Người một mực từ chối, sau này Người chuyển sang đi xe Pô-pê-đa” – ông Nguyễn Văn Mùi kể.

Ông Mùi bảo, trong suốt 10 năm ấy, mỗi ngày ông đều không thể kể hết những việc làm, những hành động, cử chỉ giản dị, cẩn thận và liêm khiết của Người. Lúc đi công tác, gặp các cụ già, em nhỏ, người kém may mắn, Bác Hồ đều dành những tình cảm nâng niu đặc biệt. Rồi chuyện Người lo cái ăn, chỗ ngủ cho những chiến sĩ đang ngày đêm chịu rét, chịu đói… Cho đến khi Bác Hồ đi vào cõi vĩnh hằng (năm 1969), ông Nguyễn Văn Mùi còn là người vinh dự được cử đứng túc trực bên linh cữu của Người.

Những người bảo vệ Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh TriếtNhững người bảo vệ Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Tháng 10/1969, sau khi Bác Hồ mất, Văn phòng Chính phủ tiếp tục tín nhiệm ông Nguyễn Văn Mùi lái xe cho Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. “Thấy tôi đã gần 10 năm lái xe cho Bác Hồ mà không để xảy ra sai sót nào, Văn phòng Chính phủ tiếp tục tín nhiệm tôi lái xe cho Bác Tôn thêm 11 năm nữa. Cũng như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, đức tính giản dị của Bác Tôn đã để lại trong tôi những tình cảm đẹp đẽ, thân ái” – ông Mùi tâm sự.

Phục vụ Bác Tôn, ông Nguyễn Văn Mùi có nhiệm vụ quản lý 2 chiếc xe, một chiếc Volga và chiếc Commăngca. Trong trường hợp phải đi tiếp khách nước ngoài, Bác Tôn mới sử dụng chiếc Volga cho lịch sự, còn phần lớn đi lại làm việc trong nước, Bác sử dụng chiếc Commăngca cho bình dân, gần gũi với quần chúng lao động. Sau ngày Chủ tịch Tôn Đức Thắng mất, ông Nguyễn Văn Mùi còn lái xe cho các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng như bác Nguyễn Lương Bằng, Võ Chí Công, Đỗ Mười… trong suốt thời gian dài cho đến khi về nghỉ hưu.

Nguyễn Duy – Ngọc Thái
dantri.com.vn

Câu chuyện của người phụ nữ khuyết tật thêu chân dung Bác Hồ

Là một nghệ nhân của làng thêu lớn tại Hà Nội, vượt lên sự nghiệt ngã của số phận, cô Hoàng Thị Khương (sinh năm 1965) đã tự tìm tòi, học hỏi để thêu nên những bức tranh tinh xảo. Nhưng trong những bức tranh đó, việc lựa chọn và cố gắng để hoàn thành bức chân dung về Bác Hồ chính là điều đáng nhớ nhất trong hơn ba mươi năm làm nghề thêu của người phụ nữ nhỏ bé nhưng đầy nghị lực  này.

Bắt đầu từ niềm yêu thích với những bức ảnh của Bác Hồ

Nghe nhan.anh bacCô Hoàng Thị Khương cùng bức chân dung Bác Hồ

Sinh ra và lớn lên ở làng thêu Quất Động (Huyện Thường Tín – Hà Nội), trong một gia đình đã có bốn đời làm nghề thêu nên việc đi theo nghề đối với cô Khương là một lựa chọn đầu tiên. Từ khi mới lọt lòng, cô đã được sống trong môi trường của nghề thêu. Hình ảnh cô nhớ đầu tiên về mẹ cũng chính là hình ảnh người mẹ chăm chú, cần mẫn bên từng đường kim, mũi chỉ.

Trong suốt hơn ba mươi năm thêu, cô đã thêu rất nhiều những bức tranh sống động. Và cách đây khoảng mười năm, cô bắt đầu ý tưởng thêu tranh chân dung Bác Hồ. Cô bảo hồi bé mỗi lần được nhìn thấy ảnh Bác Hồ cô đều thích lắm. Có lẽ, chính tình yêu từ khi còn bé đó đã thôi thúc cô quyết tâm thêu bức chân dung của Bác.

Khi được hỏi về việc thêu tranh chân dung của Bác, cô Khương chia sẻ: “Đối với một bức tranh bình thường, mình thêu sao cho khéo, cho có hồn đã rất khó rồi. Nhưng đối với một bức tranh chân dung thì lại càng khó khăn hơn rất nhiều, đối với chân dung của Bác Hồ lại càng là một thử thách không nhỏ. Hơn thế, vào thời điểm đó, cô chưa từng thêu một bức tranh chân dung nào. Tay nghề dù đã có vài chục năm nhưng đó vẫn là sự lựa chọn không hề dễ dàng”.

Nghe nhan.anh bac.2Bức chân dung luôn được treo trân trọng ở chính giữa ngôi nhà của cô Khương

Cô Khương không thể nhớ là mình đã phải mất thời gian bao nhiêu lâu để hoàn thiện được bức chân dung đầu tiên về Bác và đã bao nhiêu lần cô phải tháo từng đường kim mũi chỉ để làm lại vì không bằng lòng với bức chân dung mình đã thêu. Đến nay, dù đã mười năm trôi qua, cô vẫn còn giữ lại cho mình bức chân dung đầu tiên về Bác mà cô đã thêu. Bởi với cô, đó là một kỷ niệm không thể quên trong suốt cuộc đời gắn bó với nghề.

Nhớ về quãng thời gian hoàn thành bức chân dung đầu tiên của Bác Hồ, cô Khương nói: “Không chỉ phải sửa đi sửa lại từng mũi kim, đường chỉ mà cô phải chú ý thay đổi trong cách phối màu. Bởi nếu thêu theo đúng ba-ren như bức ảnh được dập thì khuôn mặt của Bác sẽ bị tối ở một bên góc. Vì thế khi thêu cô phải thay đổi cách phối màu sắc để khuôn mặt của Bác không bị tối. Bức chân dung phải sáng, phải có hồn thì mới được coi là một bức tranh thêu chân dung thực sự”.

Theo cô Khương, trong bức chân dung Bác Hồ, ba chi tiết khó nhất là mắt, miệng và râu. Cô lý giải: “Bởi thần thái của Bác trong bức tranh rất quan trọng, phải thêu làm sao để toát lên được thần thái cao quý mà rất mực gần gũi của Bác. Người ngắm tranh mà thấy như Bác đang cười với mình vậy”.

Việc thêu chân dung của Bác Hồ hoàn toàn xuất phát từ sự tôn kính Bác của người phụ nữ khuyết tật này. Đối với cô, hình ảnh của Bác là hình ảnh của cả dân tộc ta. Từ việc yêu thích, kính trọng Bác, cô đã ấp ủ và cố gắng thực hiện bằng được điều ý nghĩa này. Dù biết là khó khăn, là thử thách lớn nhưng cô vẫn quyết tâm để thực hiện.

Đã từng liên hệ để gửi tặng bức chân dung Bác Hồ đến chương trình Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội nhưng rất tiếc ý định đó không hoàn thành được. Bức chân dung ấy giờ được cô giữ lại và treo một cách trân trọng tại gia đình cô. Theo lời cô Khương, cô sẽ vẫn thực hiện những bức chân dung về Bác Hồ cũng như các khung cảnh, đồ vật đã gắn bó Bác.

Người phụ nữ của tinh thần “ tàn nhưng không phế”

Đôi chân của cô Khương bị tật do một cơn sốt khi cô mới chỉ được vài tháng tuổi. Mặc dù gia đình đã cố chữa chạy nhưng mọi hy vọng đều không thể giúp đôi chân của cô lành lặn được. Cô lớn lên nhưng đôi chân lại teo đi, những bước chân dần trở nên khó khăn, yếu ớt nhưng cô không chán nản. Không thể bước đi bình thường như những người khác, cô chọn làm nghề thêu để giúp ích cho gia đình.

Nghe nhan.3Hàng ngày, cô Khương vẫn tỉ mỉ bên từng mũi thêu

Cô tâm sự: “Đến với nghề là một chuyện nhưng tình yêu nghề, sự bền bỉ mới là điều quan trọng nhất. Chính yếu tố đó đã giúp cho cô có được nghị lực để gắn bó với nghề thêu vốn cần lắm sự tỉ mỉ này”. Và có lẽ đối với một người khuyết tật như cô, nếu không có được nghị lực mạnh mẽ lắm thì cô đã không thể có được những tác phẩm thêu sống động như bây giờ.

Không được đào tạo bài bản, mọi kỹ thuật thêu cơ bản của cô đều được truyền dạy từ chính người mẹ của mình. Nhìn rồi bắt chước, học hỏi mọi người rồi cuối cùng cô đã dần dần học được kỹ thuật thêu một cách thành thạo. Cô bảo: “Không chỉ học thêu đâu, học gì cũng vậy thôi, mình đều phải luôn luôn học hỏi, chịu khó nhận những ý kiến đóng góp của mọi người. Nếu cứ nghĩ mình giỏi thì không thể tốt lên được. Và hơn thế, mình đã quyết định làm một điều gì đó thì phải quyết tâm làm cho bằng được. Nếu không quyết tâm mạnh mẽ thì làm gì cũng sẽ nhanh chán nhanh nản. Thành công hay không thì đều ở mình mà ra hết!”.

Là một nghệ nhân, cô luôn đề cao việc chỉn chu cho từng tác phẩm thêu. Cô nhắc đi nhắc lại điều mà cô tâm niệm với tôi. “ Đã làm nghề thì mình phải thật sự tập trung, bỏ cả tâm trí vào đó. Mình không để cả tâm trí để làm thì tác phẩm đó sẽ không thể có hồn được. Bởi tranh là để ngắm để người ta yêu, để nhớ đến và trân trọng” – cô Khương khẳng định.

Từ nghị lực của mình, cô đã giúp cho nhiều người khuyết tật khác học được nghề thêu cũng như có việc làm nhất định. Đến nay, xưởng sản xuất của cô có khoảng bảy người thợ thêu là những phụ nữ khuyết tật. Cô đã từng được nhận Giấy khen vì đã có thành tích đóng góp cho thành công của Ngày Di sản văn hóa Việt Nam lần thứ VI với chủ đề “Dấu ấn Thăng Long – Hà Nội và Tuổi trẻ với Di sản văn hóa Việt Nam”.

Còn nhớ vào “Tết hòa bình đầu tiên”, trong dịp đến thăm anh chị em ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội, Bác Hồ đã dặn dò: “Thương binh tàn nhưng không phế”. Và đối với người khuyết tật như cô Khương, lời dạy ấy cũng chính là phương châm sống. Đó chính là động lực giúp cô có được sự kiên trì, bền bỉ để vươn lên, vượt qua sự thiệt thòi của số phận để trở thành một người có ích cho xã hội./.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

Những nghệ sĩ ngâm thơ chúc Tết của Bác Hồ

Trong cuộc đời làm nghệ thuật của mình, rất nhiều nghệ sĩ đã vinh dự và có niềm hạnh phúc lớn là được gặp Bác Hồ, được biểu diễn phục vụ các đoàn khách quốc tế, các đồng chí lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước ta. Trong số đó, đặc biệt có các nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm và Kim Liên.

Những lần được gặp Bác, được ngâm thơ cho Bác nghe là những kỷ niệm lớn còn ghi mãi trong đời làm nghệ thuật của các nghệ sĩ.

Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết là con gái của bà Nguyễn Thị Phúc – một nghệ nhân ca trù nổi tiếng, tài sắc một thời của nước ta. Thừa hưởng tài năng của mẹ và học tập không ngừng, Trần Thị Tuyết từ khi vào Ðài Tiếng nói Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, cả nước biết tên. Một lần, chị nhận lệnh theo xe thu thanh của Ðài Tiếng nói Việt Nam vào Phủ Chủ tịch, được giao nhiệm vụ tặng hoa chúc mừng Bác Hồ vừa tròn 75 tuổi. Chị Tuyết kể: Tôi chưa kịp cầm bó hoa lên chúc Bác, thì Bác đã giơ tay chào và nói:

– Năm mới, Bác chúc các cháu khỏe!

Tôi vội vàng chạy lại:

– Thưa Bác, nhân dịp năm mới, chúng cháu ở Ðài Tiếng nói Việt mừng Bác mạnh khỏe, sống lâu trăm tuổi.

Bác Hồ nhận bó hoa, rồi vui cười nói:

– Bác cảm ơn, nhưng Bác tặng lại bó hoa đẹp này để các cô chú ở Ðài mang về đón Tết.

Vào phòng khách, Bác chỉ chỗ cho chúng tôi ngồi rồi vui vẻ trò chuyện. Ðồng chí lãnh đạo của Ðài xin phép được thu lời Chúc mừng năm mới của Bác để phát trên Ðài Tiếng nói Việt Nam vào đêm giao thừa.

ngam tho 1Nghệ sĩ Trần Thị Tuyết

Ðồng chí Vũ Kỳ chuyển đến Bác tấm thiếp chúc mừng năm mới màu hồng có in hình Quốc huy. Bác Hồ vui vẻ hỏi:

– Các chú đã chuẩn bị xong chưa? Sau đó Bác bắt đầu đọc:

“Ðồng bào thân mến!

Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời chúc mừng thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc và miền Nam, toàn thể chiến sĩ và cán bộ, đến các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng, đến kiều bào ta ở nước ngoài.

Tôi thay mặt đồng bào ta gửi lời chúc mừng tốt lành nhất đến nhân dân các nước anh em…”

Chúng tôi ngồi lắng nghe từng lời của Bác, thật không ngờ mình lại vinh dự là những người đầu tiên được nghe Bác chúc mừng năm mới. Tiếp đó, Bác đọc bài thơ Chúc mừng năm mới của Bác:

Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới
Ðồng bào hai miền thi đua sôi nổi
Ðấu tranh anh dũng, cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

Chúng tôi đã thu xong bài Chúc mừng năm mới của Bác, bỗng Bác quay lại phía tôi, vui vẻ:

– Cháu Tuyết thử ngâm lại cho mọi người nghe đi!

Tôi vội đứng dậy cầm lấy tấm thiếp của Bác, vừa mừng vừa lo, song tôi đã trấn tĩnh cất giọng ngâm. Nào ngờ nghe xong Bác vỗ tay khen, rồi Bác cầm những bông hoa hồng bạch trên bàn tặng chúng tôi mỗi người một bông. Ðồng chí Vũ Kỳ nói:

– Ðây là hoa trong vườn Bác, do chính tay Bác vun trồng và chăm sóc đấy!

Chúng tôi nâng niu bông hoa Bác tặng, mà thấy lòng mình rưng rưng cảm động.

Còn đây là câu chuyện về nghệ sĩ Linh Nhâm. Một lần Linh Nhâm cùng Ðoàn Ca múa quân đội vào biểu diễn ở Phủ Chủ tịch. Nghe Linh Nhâm hát, Bác Hồ khen có giọng ca tốt. Song Bác ân cần hỏi:

– Cháu có biết ngâm thơ không? Linh Nhâm thưa thật với Bác là cháu chưa biết. Bác bảo:

– Thế thì cháu phải học ngâm thơ để phục vụ bộ đội tốt hơn, vì bộ đội ta rất yêu thơ cháu ạ!

ngam tho 2Nghệ sĩ Linh Nhâm

  Từ đó, nghe lời Bác, Linh Nhâm quyết tâm học ngâm thơ. Chị mở đài nghe giọng thơ của các chị Trần Thị Tuyết, Châu Loan… lại được chồng là nhạc trưởng của Ðoàn góp thêm ý kiến. Linh Nhâm chọn những bài thơ chị thích như “Lá thư Bến Tre” của Tố Hữu, “Quê hương” của Giang Nam, “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi” của Nam Hà để rèn luyện và tìm cho mình một phong cách riêng.

Sau này, những bài thơ ấy đã trở thành những tiết mục đặc sắc của Linh Nhâm trong các buổi biểu diễn phục vụ quân đội. Và đúng như Bác Hồ đã nói, bộ đội ta rất yêu thơ và hoan nghênh nhiệt liệt.

Còn nghệ sĩ Kim Liên, chị kể lại: Tháng Chạp năm Mậu Thân 1968, chúng tôi đang gấp rút dựng vở “Tấm vóc đại hồng” tại nơi sơ tán, thì tôi được lệnh cấp trên điều lên Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Tôi nghĩ, có lẽ trên muốn thu một vài bài hát Chầu văn vì Chầu văn là tiết mục của Nam Ðịnh được cả nước yêu thích. Nhưng thật bất ngờ, đến nơi thì đồng chí Trần Lâm, Giám đốc Ðài Tiếng nói Việt Nam báo cho tôi biết là chuẩn bị để ngâm bài thơ Chúc mừng Xuân mới, xuân Kỷ Dậu của Bác Hồ. Bài thơ này của Bác còn có các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm thể hiện. Tôi thật sự lo lắng. Các chị Trần Thị Tuyết và Linh Nhâm là những nghệ sĩ đã ngâm thơ chúc Tết của Bác nhiều lần, còn tôi tuy đã nhiều lần được gặp Bác, nhưng ngâm thơ chúc Tết của Bác là công việc mới mẻ.

ngam tho 3Những kỷ niệm về Bác Hồ năm xưa vẫn luôn in hằn trong ký ức của nghệ sĩ Kim Liên.

 Chị nhớ lại những lần cùng Ðoàn Chèo của quê hương lên phục vụ Trung ương, được gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Ðồng. Rồi lần tham gia Ðoàn nghệ thuật sang biểu diễn tại Pháp vào dịp Hội nghị Paris đang họp, do nhà thơ Huy Cận dẫn đầu, đã được bà con Việt kiều nhiệt liệt hoan nghênh. Sau lần đó, chị vinh dự được ăn cơm trưa cùng Bác. Bác bảo Kim Liên là bông sen vàng, quê Bác cũng có nhiều sen lắm. Bác còn dặn đồng chí Vũ Kỳ chuẩn bị bánh kẹo cho Kim Liên mang về cho các cháu. Sự quan tâm của Bác, khiến bây giờ chị càng lo lắng. Chị đã đọc nhiều lần bài thơ của Bác. Bài thơ chỉ có sáu câu lục bát, nhưng là một tầm nhìn chiến lược, là mệnh lệnh cho quân dân ta tiến lên giành chiến thắng cho ngày Bắc Nam sum họp, thống nhất nước nhà. Chị đã chọn giọng sa mạc và lẩy kiều để thể hiện bài thơ của Bác.

Bài thơ Chúc mừng Xuân Kỷ Dậu lịch sử của Bác đã được ba nghệ sĩ: Trần Thị Tuyết, Linh Nhâm và Kim Liên thể hiện. Bác Hồ đã khen cả ba cô đều thể hiện thành công. Và đúng giao thừa năm ấy, các chiến sĩ và đồng bào cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài đã được nghe bài thơ Xuân của Bác:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Bùi Công Bính
Theo http://www.baothaibinh.com.vn

Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Dùng tiền hưu dựng tượng và xây nhà thờ Bác Hồ

Nói về chuyện xây dựng tượng đài và nhà thờ Bác Hồ tại nhà, ông Tử Vi Dân tâm sự: “Mình là lính Cụ Hồ, tại sao mình không dựng tượng đài Bác nơi đây để tỏ lòng tôn kính cũng như để giáo dục cháu con học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh?

Nghe vợ chồng cựu chiến binh Thiếu tá Tử Vi Dân (nguyên Trưởng Ban Tuyên huấn Cục Hậu cần Quân khu V) và Huỳnh Thị Thuyền (chiến sĩ quân y thời chống Mỹ) bỏ ra hơn 100 triệu đồng để dựng tượng đài và xây nhà thờ Bác Hồ ngay tại vườn nhà tại thị trấn miền núi Bắc Trà My đã khiến nhiều người ngạc nhiên. Ngạc nhiên bởi một lẽ, giữa cái thị trấn miền núi ấy, 100 triệu đồng là cả một tải sản khổng lồ, vậy mà vợ chồng cựu binh Tử Vi Dân ấy mang đi dựng tượng đài và xây nhà thờ Bác Hồ mà theo ông, “làm vì tình thương mến với Bác Hồ”.

Dung tien huu xay tuong bacNgười lính già Tử Vi Dân bên tượng đài Bác do chính mình dựng.

Người lính già…

Đến thị trấn Bắc Trà My, vào một quán cà phê, tôi hỏi chị chủ quán đường đến nhà ông Vũ Như Thông, tức Tử Vi Dân, người xây tượng đài Bác Hồ, theo giới thiệu của ông Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch huyện Bắc Trà My, Quảng Nam.

Ông đang đứng ngắm và dọn dẹp lại một số thứ quanh ngôi nhà ba gian bốn mái còn thơm mùi vôi vữa, dưới chân tượng Bác Hồ. Mảnh vườn rộng chừng gần 1.000 mét vuông, phía trước trồng nhiều hoa và cây cảnh. Bên cạnh ngôi nhà cấp bốn kiểu miền Trung cũ kỹ là một tượng đài Bác Hồ đang vẫy tay chào bằng đá trắng Non Nước rất đẹp, được đặt trên một đài xây bằng đá xanh cao quá đầu người.

Phía sau lưng tượng đài Bác là cái nhà bốn mái, phía trước là đôi sư tử bằng đá Non Nước. Thấy người lạ, ông phủi tay chào khách. Ông mặc bộ đồ lính đã ngả màu, nét mặt quắc thước, nhanh nhẹn như người lính không ai nghĩ ông đang ở cái tuổi “xưa nay hiếm” – cái tuổi 75.

Trong các tuần trà hầu chuyện, ông giải thích vì sao lại có tên Tử Vi Dân. Ông sinh ra và lớn lên tại xã Điện Nam (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) anh hùng. Cái tên đầu tiên của ông là Võ Như Thông, do cha mẹ đặt. Đến năm 1955, ông tập kết ra Bắc, để bảo đảm bí mật, ông đổi thành tên Vũ Như Tống.

Đến năm 1964, ông nhận lệnh vào Nam chiến đấu. Để đảm bảo bí mật, một lần nữa ông đổi tên. Đang khí thế hừng hực vào Nam chiến đấu giải phóng quê hương, ông đặt tên mình là Tử Vi Dân, mà theo lời giải thích của ông là “sẵn sàng chết vì nhân dân”.

…Và tượng đài Bác Hồ trong vườn nhà

Hòa bình lập lại, vợ chồng người lính Tử Vi Dân chọn mảnh đất Bắc Trà My – căn cứ Khu V xưa – nơi ông có một thời gian dài chiến đấu để định cư. Dù trong chiến tranh mưa bom bão đạn hay thời bình đè nặng bởi áo cơm vợ chồng người lính già vẫn giữ cho mình tư thế của người lính Cụ Hồ và mơ ước một ngày “mời Bác về quê”.

Hai chục năm trước, vợ chồng ông đã đặt ảnh Bác lên bàn thờ gia tiên, và cứ đến ngày 2 tháng 9 hàng năm, vợ chồng ông cùng con cháu làm giỗ Bác như giỗ ông bà, cha mẹ. “Bác muốn hai miền Nam – Bắc thống nhất, nhưng khi đất nước thống nhất thì bác đi xa, không nhìn thấy được niềm vui thống nhất. Chính vì thế, tôi ước nguyện là một ngày mời Bác về thăm quê miền Nam” – ông kể.

Rồi đến cuối năm 2008, sau khi tích cóp được một khoản tiền kha khá, ông bàn bạc với vợ dựng tượng đài Bác ngay trong vườn nhà. Ông bỏ ra 50 triệu đồng để ra tận làng đá Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) tạc tượng Bác cao 1,6 mét “thỉnh” về Bắc Trà My. Ông dùng đá xanh – một loại đá đặc trưng của Bắc Trà My – xây dựng đài cao 1,7 mét để an vị tượng. Nghe ông đặt tượng Bác Hồ trong vườn nhà, người ủng hộ ông rất nhiều và ông thực hiện ước nguyện của mình “mời” Bác về thăm quê Bắc Trà My.

Không những thế, ông tiếp tục bỏ ra hơn 50 triệu đồng để xây dựng một căn nhà 3 gian, bốn mái để thờ Bác, để trưng bày những hình ảnh, sách báo về Bác Hồ. Khi đi bất cứ nơi đâu, ông cũng sưu tầm hình ảnh, sách báo và những câu chuyện kể về Bác để trưng bày trong nhà thờ Bác sau này. Thậm chí, ông sưu tầm cả những bức Thư pháp viết những bài thơ của Hồ Chí Minh rồi về đóng khung treo.

Nói về chuyện xây dựng tượng đài và nhà thờ Bác Hồ tại nhà, ông tâm sự: Trong kháng chiến thì theo lời Bác chiến đấu thà chết chứ không làm nô lệ; trong thời bình, mình cũng theo lời Bác xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp.

“Mình là lính cụ Hồ, tại sao mình không dựng tượng đài Bác nơi đây để tỏ lòng tôn kính cũng như để giáo dục cháu con học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh? Một mai tui chết đi, gia tài của tui để lại cho con cháu là tượng đài Bác, là những hình ảnh, sách báo nói về Người” – ông Tử Vi Dân tâm sự.

Đông Nghi
Theo cand.com.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Tâm huyết tuyên truyền về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(ĐCSVN) – Bác Nguyễn Ngọc Truyện năm nay 83 tuổi, đã có 60 năm tuổi Đảng, ngụ khóm Đông An I, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tâm huyết trong công tác sưu tầm tư liệu, hình ảnh, biên soạn thành sách để tuyên truyền phổ biến có hiệu quả lớn về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức Bác Hồ. 

Bác Truyện, nguyên là sinh viên trường Mỹ thuật Gia Đinh, khi ra trường bác tạm xếp bút nghiên theo tiếng gọi non sông hoạt động trong tổ chức thanh niên Cứu quốc từ năm 1947, rồi gia nhập bộ đội chính quy. Những tháng năm làm việc ở Thủ đô Hà Nội, nhiều lần bác Truyện được gặp Bác Hồ. Tài năng và đức độ Bác Hồ đã thôi thúc khát vọng mãnh liệt cho bác Truyện phải viết về Bác Hồ. Năm 1982, bác Truyện nghỉ hưu, sau khi nghỉ hưu, bác Truyện tham gia công tác địa phương, phụ trách công tác tuyên giáo tại phường Mỹ Xuyên. Từ đó, bác Truyện thực hiện sưu tầm tư liệu, hình ảnh Bác Hồ để viết thành sách xoay quanh cuộc đời và đạo đức cao cả của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, để cho thế hệ trẻ hiểu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ.

Từ cuối những năm 1990, bác Truyện bắt tay vào việc sưu tầm và biên soạn lại cho súc tích và logic những mẩu chuyện về Bác Hồ để sinh hoạt trong các cuộc họp và in trên tờ tin hàng tháng của phường. Trong sưu tầm tư liệu và hình ảnh về Bác Hồ, bác Truyện rất chịu khó, dày công chắt lọc rồi sắp xếp thể hiện lại sinh động về Bác Hồ trong từng trang giấy, không bỏ sót thông tin tư liệu nào về Bác Hồ mà bác có được. Bác Truyện tiêu dùng thật tiết kiệm dành một khoản lương hưu ít ỏi đặt mua bảy đầu báo và tạp chí để có thêm tư liệu và hình ảnh Bác Hồ. Khi có được tư liệu, bác Truyện dành nhiều thời gian nghiên cứu biên soạn lại cho súc tích để tuyên truyền cho người nghe dễ hiểu, cảm động và nhớ lâu, và để sau này in thành sách. Suốt 30 năm dày công sưu tầm tư liệu, rồi viết lại thành những mẩu chuyện về Bác Hồ bằng vốn hiểu biết và trí sáng tạo của mình. Đến nay, bác Truyện đã thực hiện trên 5.000 bài viết, mẩu chuyện, hình ảnh về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Từ kho tàng này, bác chọn 100 mẩu chuyện và hình ảnh khái quát về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi chào đời đến lúc đi xa. Những bài học quí giá về đường lối cách mạng, quan điểm, đạo đức, tác phong của Bác Hồ được bác Truyện trình bày thành một cuốn sách có logic theo thứ tự thời gian, trang trí hình thức phù hợp với tựa đề “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Bác Truyện gửi nhà xuất bản Thanh Niên và được in ấn, phát hành rộng khắp vào dịp kỷ niệm 115 sinh nhật Bác Hồ (năm 2000), cuốn sách này đã phục vụ rất thiết thực cho Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” phát động vào đầu năm 2007.

Sau khi cuốn sách thứ nhất được xuất bản và phát hành, bác Truyện tiếp tục nỗ lực sưu tầm, biên soạn chuẩn bị cho cuốn sách thứ hai về Bác Hồ và đã được nhà xuất bản Thanh Niên phát hành nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2008), với tựa đề “Hồ Chí Minh-cứu tinh dân tộc Việt”. Cuốn sách này hoành tráng hơn cuốn thứ nhất cả về nội dung và hình thức. Cuốn sách dày gần 600 trang đánh vi tính giấy khổ A4 với 240 mẩu chuyện về Bác Hồ. Mỗi bài viết đều có hình ảnh minh họa kèm theo và gồm 5 phần: Từ làng Sen ra đi tìm đường cứu nước, lãnh đạo Cách mạng thắng lợi, ra đi Bác dặn còn non nước và phần cuối là tiểu sử gia đình Bác Hồ. Cuốn sách này được đưa vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh ( có logo tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh).

Ngoài hai cuốn sách trên, bác Truyện đã sưu tầm và biên soạn, trình bày thêm hai cuốn sách về Bác Hồ với tầm cao hơn, sâu sắc hơn: Cánh sen vàng với 120 mẩu chuyện và Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác với 79 mẩu chuyện nói về lòng dân đối với Bác Hồ, với mong muốn hai tác phẩm này được xuất bản để thế hệ trẻ hiểu thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và không quên cội nguồn dân tộc.

Bộ sách về Bác của tác giả Nguyễn Ngọc Truyện là công trình có giá trị cả về học thuật lẫn sáng tạo, mà ở đó, khi đọc xong nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ đều có thể tìm thấy chất liệu cho sáng tác của mình, bởi ở đó, chất liệu tinh lọc, dòng chảy thời gian và giá trị tư tưởng… đã hòa quyện trong lớp vỏ phương ngôn Nam Bộ mà ông đã cố ý se duyên”./.

Theo TTXVN
Vkyno (st)

Hơn 40 năm sưu tầm tem về Bác Hồ

Bác HồThường xuyên vào Nam, ra Bắc và không ít lần đi nước ngoài chỉ để sưu tầm được một con tem về Bác Hồ, hơn 40 năm bôn ba khắp nơi, ông đã sưu tầm được hàng nghìn con tem về Bác Hồ qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Nếu xâu chuỗi những con tem về Bác Hồ của ông thì cũng đủ để kể hằng trăm câu chuyện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với những cột mốc lịch sử. Chủ nhân của bộ sưu tầm tem về Bác Hồ quý hiếm trên là ông Nguyễn Banh, 57 tuổi, trú tại số 173 Trần Huy Liệu, phường Phú Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Từ thuở thiếu niên, ông Nguyễn Banh đã theo học nghề kim hoàn, nhưng lại đam mê với việc sưu tầm tem. Ông Banh bắt đầu sưu tầm tem về Bác Hồ khi mới 17 tuổi. “Lần đầu tiên sưu tầm tem về Bác Hồ là nhờ một người bạn ở nước ngoài tìm cho được con tem mình thích để mua lại bằng bất cứ giá nào”- ông Banh nhớ lại. Những con tem đầu tiên sưu tầm được, ông Banh mang về dán vào sách, vở, đồ dùng học tập…

Bộ tem đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát hành vào năm 1946 là những con tem ông Banh sưu tập được đầu tiên. Trên con tem đầu tiên này, hình Bác Hồ được in chính giữa, mép trên in tên nước, phía dưới in tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Con tem này còn độc đáo ở chỗ có thêm bốn chữ: “phụ – thu – cứu – quốc” và được in trên giấy dó rất bền, có năm màu: xanh lục, hồng, vàng, xanh dương, tím. Chỉ nhìn vào những con tem được phát hành đầu tiên, ông Banh cũng đã kể được cả một câu chuyện dài về hoạt động của Bác Hồ trong những ngày tháng đất nước mới giành được chính quyền. Đó là dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, ngày 2/9/1945. Sau khi giành được độc lập, đất nước lại đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Lời kêu gọi toàn thể nhân dân cùng “phụ – thu – cứu – quốc” ra đời từ trong hoàn cảnh đó.

Ở một góc khác trong bộ sưu tầm, lại có không ít con tem thể hiện tình cảm gần gũi, thân thương của Bác Hồ với toàn thể đồng bào ta trong thời kỳ kháng chiến. Cảm động nhất là ảnh “Bác Hồ tưới cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng” trong bộ tem được phát hành ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975. Theo ông Banh, con tem đã nói lên rằng: “Đồng bào miền Nam luôn ở trong trái tim của Người. Miền Nam được giải phóng, non sông đất nước thống nhất đã thỏa lòng ước mong khi Người còn sống”. Cũng năm 1975, ông Banh còn sưu tầm được bộ tem về các anh hùng ở miền Nam ra thăm và quây quần bên Bác Hồ. Hay như bộ tem được phát hành năm 1963 khiến không ít người xem xúc động trước tình cảm của Bác Hồ dành cho đồng bào miền Nam. Trên con tem này in hình Bác Hồ ân cần thăm hỏi giáo sư Nguyễn Văn Hiếu – Trưởng đoàn đại biểu đầu tiên của Mặt trận Dân tộc giải phòng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc…

Với em Nguyễn Hạnh Nhi và những người bạn học cùng lớp tại Trường Trung học cơ sở Thủy Biểu, thành phố Huế, lại xúc động nhất với bộ tem phát hành năm 1960 có tựa đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi”. Trên tem in hình Bác Hồ mở rộng vòng tay, ôm chặt lấy ba em thiếu nhi đến tặng hoa nhân dịp 70 năm ngày sinh của Người. Em Nguyễn Hạnh Nhi, nói: “qua những bài hát, bộ phim, em thấy Bác Hồ vốn đã rất gần gũi và luôn quan tâm đến thiếu nhi. Nay, được xem ảnh, thiếu nhi quây quần trong vòng tay yêu thương của Bác Hồ, em thêm kính yêu Người hơn”. Cũng có một số học sinh thắc mắc: “Thế sao Bác Hồ lại mặc bộ quân phục của các chú lính hải quân”. Ông Banh điềm đạm, giải thích: “Con tem này được phát hành năm 1980 để kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập Hải quân Việt Nam. Vào dịp kỷ niệm ngày lễ, nhà nước đều phát hành tem về Bác Hồ. Trên những con tem đó thể hiện Bác Hồ không chỉ luôn quan tâm đến thiếu nhi, mà còn quan tâm đến tất cả mọi người”.

Bộ sưu tầm tem về Bác Hồ với các vị nguyên thủ trên thế giới cũng được ông Banh cất giữ cẩn thận. Ấn tượng nhất là bộ tem được phát hành năm 1957 có ảnh “Bác Hồ với Chủ tịch Vôrôsilop” nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Hay những bộ tem có in ảnh Bác Hồ với nguyên thủ các nước Trung Quốc, Lào, Ấn Độ, Cu ba… Tất cả ảnh của Bác Hồ trên những con tem này đều toát lên sự giản dị, thân mật, gần gũi với bạn bè khắp năm châu. Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nước Cu ba, Angieria… đều phát hành tem về Bác Hồ. Bên cạnh đó, ông Banh còn sưu tầm được tem về Bác Hồ do các nước: Nga, Ấn Độ, Ba Lan, Lào… phát hành nhân dịp kỷ niệm nhiều sự kiện.

Với ông Banh, sưu tầm tem cốt là để cho con cháu biết được nhiều hơn về tấm gương, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo ông, sự cần mẫn, kiên trì, tìm tòi… trong công việc sưu tầm tem về Bác Hồ chưa đủ, vượt lên tất cả là cần phải có cái tâm trong sáng. Ông Banh đã nhiều lần hiến tặng những con tem quý về Bác Hồ cho các bảo tàng. Và bộ sưu tầm tem về Bác Hồ của ông cũng đạt được nhiều giải thưởng trong những lần triển lãm, trưng bày… nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước./.

(Theo TTXVN)
Vkyno (st)

Nữ cảnh vệ Việt Nam đầu tiên kể chuyện bảo vệ lãnh đạo

Đại tá Thuận, nữ cảnh vệ đầu tiên của Việt Nam kể lại những kỷ niệm đáng nhớ về những năm tháng bảo vệ các lãnh đạo cấp cao.

Ở căn nhà nằm sâu trong một ngõ nhỏ tại Hà Nội, Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận, nguyên là Phó Cục trưởng thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (Bộ Công an) vẫn minh mẫn, khỏe mạnh dù năm nay đã ngoài 90 tuổi. Trong số những cán bộ được vinh dự bảo vệ Bác, bà là nữ cảnh vệ được đào tạo chuyên nghiệp đầu tiên.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Bà Thuận kể, lần đầu được thấy Bác là trong ngày Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập. “Tôi nhìn Bác chăm chú, nhớ ra đã thấy ảnh Bác in trong sách do mật thám Pháp in để nghiên cứu, tìm hiểu Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp có một người bạn đưa cho tôi xem, nhưng lúc ấy tôi đâu biết đó là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

Nu canh ve 1 Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận – Ảnh: Thanh Phong

Lần thứ hai bà Thuận được gặp Bác là lần chúc Tết Bác dịp Tết Bính Tuất năm 1946, Tết đầu tiên của đất nước Việt Nam độc lập.

“Lúc đó tôi và một chị nữa tranh nhau đứng cạnh Bác. Lúc ấy, Bác rất tinh tế khi đứng giữa hai chị em chúng tôi rồi chụp ảnh. Một cử chỉ tuy nhỏ nhưng khiến chúng tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Người”, bà Thuận nói.

Khép kín, tuyệt mật

Theo bà Thuận, rất nhiều nguyên tắc và phương pháp bảo vệ của ngành công an sau này đều thừa hưởng từ điều mà Bác dạy: “Không ngừng học hỏi và luôn dựa vào nhân dân, vào đồng chí, cơ quan. Học những phương pháp của nước ngoài là tốt, nhưng phải ứng biến, vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam”.

Năm 1961, bà Thuận là một trong những sinh viên tốt nghiệp khóa đầu tiên ở Đại học Y Dược với tấm bằng đỏ.

Nhận nhiệm vụ từ ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an khi đó, nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thuận được chuyển sang làm công tác cảnh vệ.

Trong lần đầu được điều động làm công tác bảo vệ an ninh cho Đại hội Đảng lần thứ III, bà Thuận làm việc cùng một nữ cảnh vệ chuyên trách an ninh cho Chủ tịch Mao Trạch Đông của Trung Quốc.

Nữ chuyên gia Trung Quốc tỏ ra vô cùng ngạc nhiên trước những phương pháp kiểm định thực phẩm cực nhanh và chuẩn của bà Thuận.

Nếu dùng phương pháp kiểm định chính quy, thường phải 1 tuần mới cho kết quả, trong khi bà Thuận chỉ mất vài giờ đồng hồ để cho kết quả tuyệt đối khớp với chuyên gia Trung Quốc.

“Lúc đó tôi làm bằng phương pháp nghiệp vụ kết hợp kiến thức khoa học, vẫn đảm bảo tính an toàn nhưng quan trọng là phải nhanh, chuẩn trong điều kiện Việt Nam chưa có nhiều tiềm lực tài chính để mua sắm trang thiết bị đắt tiền”, bà Thuận nói.

Bảo đảm an toàn tuyệt đối về thực phẩm là nhiệm vụ quan trọng nhất của lực lượng kỹ thuật bảo vệ trong ngành công an.

Ít ai biết rằng, bà Thuận là một trong những chiến sĩ có công đầu trong việc vận chuyển những bó hoa Lay ơn tươi rói sang cho Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô (cũ) lần thứ 22, được tổ chức năm 1962.

Nu canh ve 2Đại tá Thuận là nữ cảnh vệ đầu tiên của Bác Hồ – Ảnh: Thanh Phong

Lần đó, bà Thuận đứng đầu đội cán bộ đưa những củ hoa Lay ơn đã qua chọn lọc xuống trồng tại Hải Dương. Đến ngày thu hoạch, bà Thuận lại xuống tận nơi, kiểm tra từng bông hoa một để đảm bảo tuyệt đối an toàn rồi sau đó “áp tải” hoa sang tận Matxcơva.

Các đại biểu dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô đã vô cùng bất ngờ và thích thú khi thấy những bông hoa Lay ơn rực rỡ khoe sắc trong phòng họp giữa mùa Đông giá lạnh ở Matxcơva.

Bà Thuận cũng từng trực tiếp làm việc với nhiều chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô trong đội ngũ bảo vệ Mao Trạch Đông, Stalin. Năm 1962, bà được cử sang Liên Xô làm việc cùng các chuyên gia cao cấp trong đội bảo vệ Stalin. Tại đây, bà Thuận có dịp tiếp xúc những kỹ thuật tối tân của thế giới thời đó.

Cảm phục sự thông minh, chăm chỉ của nữ chiến sĩ cảnh vệ Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô tặng bà quyển sổ tay ghi chép những biện pháp tuyệt mật về những khâu kiểm định an toàn. Kinh nghiệm quý báu của các chuyên gia Liên Xô sau này được bà vận dụng rất thành công và truyền dạy lại cho những thế hệ cán bộ tiếp theo.

“Cho đến nay, lực lượng cảnh vệ nói chung và lực lượng kỹ thuật bảo vệ nói riêng chưa từng để xảy ra sai sót nào đáng kể, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các lãnh đạo trong những chuyến công tác trong và ngoài nước”, bà Thuận nói với giọng tự hào.

Nhân chứng lịch sử

Đầu tháng 1/1947, trước Tết Nguyên đán Tân Hợi, bà Thuận được giao nhiệm vụ “mã” bức thư đánh qua điện đài mật của Trung ương vào mặt trận Liên khu I.

Đó là bức thư của Bác Hồ: “… Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em.

Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau…”.

Nu canh ve 3Nguyên Phó cục trưởng Cục Cảnh vệ – bà Nguyễn Thị Bích Thuận
– Ảnh: Báo điện tử Đảng Cộng sản

Trong kháng chiến chống Pháp, bà được mã hóa bức điện Bác gửi vào cho cán bộ chiến sỹ mặt trận Liên khu I. Bức điện lịch sử được gửi đi từ cơ sở bí mật tại Mễ Trì, Hà Nội.

Nội dung là lời Bác căn dặn chiến sỹ quyết tâm bảo vệ nền độc lập nước nhà: “Các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Câu nói ấy sau này qua nhiều lần hội thảo, qua nhiều lần xác nhận, đã được UBND TP Hà Nội xây dựng đài tưởng niệm tại Vườn hoa Hàng Đậu xưa, nay là Vườn hoa Vạn Xuân…

Theo nguyên tắc giữ bí mật, bà Thuận không được lưu giữ bức điện và các công văn, giấy tờ khác.

Sau đó, bà Thuận lại “dịch” bức điện của Liên khu I hứa với Trung ương Đảng và Bác Hồ, thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, thể hiện quyết tâm hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Ít người biết rằng, bà Thuận là người sau này đã kiên trì 8 năm liên tục kiến nghị để sửa lại câu khẩu hiệu cho đúng như lời của Bác Hồ là: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

“Bác viết là “để”, chứ không phải là “cho”, hoặc “để cho”, vì Bác Hồ của chúng ta là người làm việc vì dân, vì Đảng, phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng.

Bác không bao giờ lấy cương vị Chủ tịch nước, lãnh tụ Đảng để đặt mình cao trên Tổ quốc, trên nhân dân.

Vì vậy, Bác không dùng từ “cho”, hoặc “để cho” – từ thường dùng của người bề trên với kẻ dưới. Bác dùng từ chuẩn xác, trọn nghĩa, dễ thấm, dễ hiểu, hợp với đức “vì mọi người” của Bác”, bà Thuận kể lại với giọng xúc động.

Văn Việt
Theo http://vtc.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn