Thư viện

Bác Hồ – một tình yêu bao la

Bác Hồ, Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân. Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam…”. Đó là một đoạn trong bài hát rất hay và tràn đầy xúc cảm mà nhạc sĩ Thuận Yến đã viết và kính dâng lên Người.

Có thể nói, trong suốt quãng đời thơ ấu cho đến lúc truởng thành, sự hòa nhập giữa những giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị đạo đức mới, đã đúc kết nên tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho quan niệm và tư tưởng đạo đức của Người luôn gần gũi, dễ hiểu đối với nhân dân. Những người lao động vốn vất vả tìm kế mưu sinh đã đến với Người vì Người đã thấu hiểu được tất cả ước mơ, khát vọng bình dị của họ.

Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của Hồ Chí Minh. Bác yêu thương con người không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già hay trẻ, gái hay trai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái của Người. Nhưng trước hết Bác dành tình yêu cho những người cùng khổ, những người bị áp bức, bóc lột. Bởi lẽ, hơn ai hết, Người đã chịu đựng và chứng kiến những nỗi đau đẫm máu và nước mắt của những người đi phu, những nhà yêu nước bị tàn sát, khủng bố.

Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, cho áo ấm, cơm no của mọi người nhưng riêng mình thì sống vô cùng giản dị và thanh đạm, bởi vì lẽ sống của Người là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ.

Người luôn đặt mình trong cùng nỗi đau khổ của nhân loại. Trái tim Người đập cùng nhịp đập với nhân dân. Người mong muốn những gì dân tộc ta mong muốn. Tấm lòng của Người được thể hiện bằng những câu nói chân thành nhất và những hành động cụ thể, thiết thực nhất. Suốt đời Người chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là hòa bình, độc lập cho nhân dân, cơm ăn áo mặc cho mọi người.

Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”, Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác dành cả tiền lương tháng, tiền nhuận bút, cả quần áo, khăn mặt để tặng cho các chiến sĩ và gia đình thương binh, liệt sĩ.

Khi biết con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác đã gửi đến ông bức thư. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến ông – một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la!

Ngày nay, theo bước chân Người, trên đất nước ta đâu đâu cũng có những tấm lòng, những hành động thiết thực thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Làm được như vậy, Bác cũng thấy vui lòng.

Năm 1961, khi Bác về thăm lại Pắc Bó – chiến khu xưa, mặc dù đã là Chủ Tịch nước nhưng việc gì Bác cũng tự làm, ai cũng thương, cũng giúp. Bác tắm cho trẻ, chữa ghẻ, chốc cho các cháu. Đứa nào cũng được Bác cho quà và trò chuyện thân mật như ông với cháu. Bọn trẻ đứa nào cũng thích dù đó chỉ là những gói kẹo nhỏ. Hầu như tết Trung thu nào Bác cũng gửi quà và viết thư chúc Tết Trung thu cho các cháu thiếu niên nhi đồng với những tình cảm yêu mến thiết tha:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng.

Trong những buổi gặp gỡ với các cháu tại phủ Chủ tịch, Bác luôn muốn bồng bế các cháu nhỏ, ôm hôn tất cả.

Có người chiến sĩ từng bảo vệ Bác, kể lại trong niềm xúc động: có cán bộ cứ nghĩ rằng đạo đức cách mạng chỉ để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác, thấy ngay cả lúc ăn cơm, Bác cũng dạy ta thế nào là đạo đức cách mạng. Mỗi khi có món gì ngon là Bác chia sẻ cho người này, người kia cùng ăn. Cầm chén cơm, đôi lúc Bác như tư lự về điều gì đó. Bác yên lòng sao được khi miền Nam phải ăn cơm giữa mưa bom, bão đạn, ở đâu đó, các cụ già, em nhỏ đói rách, lang thang, các chiến sĩ dầm mưa chịu đói rét để kịp giờ hành quân.

Ngay cả lúc bệnh tình của Người ngày một xấu đi, Bác vẫn luôn trăn trở, thăm hỏi tình hình chiến sự ở miền Nam, bởi lẽ, miền Nam ruột thịt luôn ở trong trái tim Người.

Tuy nhiên, ở Bác, chỉ có tình yêu thương con người là chưa đủ mà nó phải gắn liền với thái độ tôn trọng con người, biết cách nâng đỡ, giáo dục con người, rộng lượng, khoan dung, đồng thời phải biết nghiêm khắc với bản thân.

Đối với những cán bộ, đảng viên có lỗi, Bao giờ Người cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm. Người dạy rằng: mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải đập cho tơi bời.

Tấm lòng nhân ái bao la của Bác luôn khoan dung cho tất cả mọi người. Nhờ vậy, Bác đã tập hợp được cả dân tộc, cả những thành phần trước đây đối lập với Người trong cuộc cách mạng giành độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Với tinh thần đánh kẻ chạy đi không đánh người chạy lại, Bác đã cảm hóa được những người ở bên kia chiến tuyến, những phạm nhân trong lao tù. Năm 1946, Bác tới trại giam Hỏa Lò để thăm hỏi, khuyên bảo những phạm nhân ở đây. Bác ân cần ngồi bên họ, khuyên bảo họ, nghe họ phân trần, và Người đã rưng rưng nước mắt. Trong bức thư gửi cho người Pháp, Bác nói: than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau.

Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Hồ Chí Minh – Người là vầng thái dương rạng ngời, ấm áp!

Ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường, chúng ta đang từng bước hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc hại du nhập vào nước ta. Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước đang trong tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời quần chúng nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà quên mất mình là “đày tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy.

Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một trong những giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực trạng trên. Song song đó, việc rèn luyện, củng cố và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi người phải là việc làm thường xuyên và liên tục.

Riêng bản thân tôi, một người làm việc trong ngành văn hóa thông tin, những câu chuyện viết về Người thật sự là những tài liệu vô cùng quý giá. Chúng tôi là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến công chúng. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức mà nhất là phải tăng cường học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có như thế, chúng tôi mới đủ bản lĩnh, năng lực, và cảm thấy mình xứng đáng là những tuyên truyền viên, thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Võ Thị Cẩm Hiền (Bảo tàng Cần Thơ)

doandcdcantho.org.vn

Người dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” của chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Tày – Nùng

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên khắp đất nước ta có rất nhiều người con đất Việt học và làm theo Bác. Trong đó mỗi người học và làm theo Bác một cách khác nhau. Ở thị xã Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) có ông Hoàng An – người dân tộc Tày đã thực hiện việc học Bác theo một cách khá đặc biệt. Việc ông làm suốt 3 năm nay là dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” ra tiếng Tày-Nùng để người dân Tày-Nùng cùng được đọc thơ Bác và cùng học Bác.

nhatkytrongtu1.jpgTác phẩm Nhật ký trong tù của chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tuấn Anh

Sau khi ngâm nga một vài câu thơ của Bác bằng tiếng Tày ông Hoàng An tâm sự với chúng tôi: “Từ khi Đảng ta tiến hành Cuộc vận động, tôi cứ trăn trở và suy nghĩ là phải làm một việc gì đó có ích mà hợp với sức của mình. Cuối cùng tôi quyết định dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Bác ra tiếng Tày – Nùng. Trước đó, tôi cũng đã từng dịch Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm ra tiếng Tày và được Nhà xuất bản văn hoá dân tộc phát hành rộng rãi, được bà con dân tộc Tày –Nùng đón đọc rất nhiều, tôi tin rằng bản dịch “ Nhật ký trong tù” cũng sẽ vậy.”

Ông Hoàng An sinh ra và lớn lên ở Cao Bằng, trải qua 40 năm dạy học ở các vùng quê đã giúp ông tích luỹ được vốn từ ngữ Tày – Nùng khá phong phú. Ông am hiểu sâu cả 3 thứ tiếng Hán, Việt và Tày – Nùng. Theo ông, tiếng Tày – Nùng rất giàu ngữ điệu, âm thanh và hình ảnh, phong phú đa dạng mà sâu thẳm như cảnh sắc thiên nhiên của núi rừng. Tiếng Tày – Nùng đã được dùng để sáng tác các tác phẩm: “9 chúa tranh ngôi”, “Báo luông sao cải”, “Khảm hải”, “àng Kim”…

Để dịch “Nhật ký trong tù”, ông đã phải tham khảo rất nhiều bản dịch quốc ngữ và nguyên bản cuốn “Ngục trung nhật ký”, sưu tầm và tra cứu nhiều từ điển Hán – Việt và Tày- Nùng. Rồi trong căn phòng nhỏ hẹp, ông giáo già 76 tuổi cứ thế miệt mài, cân nhắc từng con chữ, mỗi câu, mỗi bài sau khi dịch xong ông lại mang đến tham khảo ý kiến bạn bè và những người có kinh nghiệm để họ đọc, thẩm định và góp ý kiến, để chỗ nào đáng sửa thì sửa. Cứ như thế suốt 3 năm nay ông đã dành mọi tâm huyết cho công việc này. Đến nay bản thảo “Nhật ký trong tù” đã tương đối hoàn chỉnh, bao gồm 300 trang A4 gồm cả nguyên bản chữ Hán và thơ tiếng Tày.

Nhận xét về bản dịch này, nhà thơ Ngô Lương Ngôn cho biết, “Nhật ký trong tù” vốn ý tại ngôn ngoại, vô cùng uyên sâu. Để dịch ra chữ quốc ngữ đã rất khó sát nghĩa huống chi là ra ngôn ngữ Tày – Nùng. Nếu người dịch không có vốn ngôn ngữ dân tộc phong phú thì không thể dịch nổi. Tuy nhiên, khi đọc bản thảo của Hoàng An tôi vô cùng khâm phục vì rất sát nghĩa và làm cho người Tày Nùng đọc, nghe đều hiểu mà vẫn thấy hay.”

Mặc dù không  được tài trợ nhưng hơn 3 năm ông Hoàng An vẫn miệt mài làm công việc này một cách thầm lặng với một suy nghĩ vô cùng đơn giản là: muốn đồng bào mình ai cũng được đọc thơ Bác và hiểu thơ Bác rồi làm theo Bác.

Tôi còn nhớ trong lịch sử Việt Nam có ghi rằng: thời kỳ Bác về Pắc Pó để soạn thảo Điều lệ Việt Minh rồi cho dịch ra tiếng Tày – Nùng bằng văn vần nên nhiều người có thể đọc và hiểu được mà đi theo Cách mạng. Phải chăng khi cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác được ông Hoàng An dịch ra tiếng Tày – Nùng mà được xuất bản thì hiệu quả cũng tương tự như thế!

Việc làm của ông Hoàng An không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mà còn là một món quà vô giá dành cho đồng bào dân tộc Tày – Nùng để có thêm tài liệu tham khảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, từ đó có thể học tập tấm gương đạo đức Bác một cách hiệu quả hơn./.

(Theo: TTXVN)

hochiminhhoc.com

Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi!

Cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi lại thấy bâng khuâng, nao nức. Hơn 10 năm qua, gia đình tôi tạc hàng nghìn pho tượng Bác Hồ xuất phát từ nỗi niềm biết ơn và sự kính trọng chân thành!”-bà Nguyệt, 79 tuổi ở thôn Quảng Bố, xã Quảng Phú (Lương Tài) xúc động tâm sự với chúng tôi.

Xã Quảng Phú nổi tiếng từ xưa bởi đa dạng nhiều ngành nghề cơ khí, luyện kim, đúc đồng, đồ gia dụng… nhưng người nặng lòng theo đuổi nghề tạc hình ảnh Bác thì duy nhất chỉ có gia đình bà Nguyệt. Từng công tác ở Tổng cục chính trị với nhiệm vụ đúc huân huy chương cho cán bộ và chiến sỹ, khi trở về quê được thừa hưởng nghề truyền thống đúc đồng, để tỏ lòng kính yêu cảm phục vị lãnh tụ dân tộc, gia đình bà đến với công việc đúc hình tượng Bác một cách thầm lặng. Bước khởi đầu vào nghề đầy khó khăn và gian nan, nhiều pho tượng phải làm đi làm lại nhiều lần, vất vả nhất là ở khuôn mặt Bác, đòi hỏi người thợ phải có đức tính kiên trì và tâm huyết. Song khó khăn nhất vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bà phải đi khắp nơi để giới thiệu sản phẩm, tìm đầu ra cho sản phẩm nghệ thuật độc đáo này. Thời gian đã nuôi dưỡng và cất cánh ước mơ hoài bão lớn của cuộc đời khi sản phẩm tượng Bác Hồ đã có đơn đặt hàng thường xuyên từ Bộ Quốc Phòng, Tổng cục chính trị… điều đó đã tạo nguồn lực cho bà mở rộng quy mô sản xuất. Hiện nay, cơ sở của gia đình bà Nguyệt mỗi năm sản xuất được khoảng 1500-2000 pho tượng các loại, tạo việc làm ổn định cho gần 20 lao động với mức thu nhập từ 2-3 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, còn có một số thợ lành nghề như anh Tạ Văn Công, thôn Tuyên Bá (Quảng Phú) sau khi được bà truyền dạy những kỹ năng, đã có thể tự mang vật liệu về gia đình sản xuất. Anh Công tâm sự: “Tôi gặp bà Nguyệt và đến với nghề cũng bởi cái duyên.  Tình yêu và sự tôn thờ của bà về Bác, khiến những người thợ ai cũng mến phục làm theo. Mỗi khi hoàn thiện một pho tượng về Bác là tôi cảm thấy mình như lớn khôn và hạnh phúc “Bác Hồ sống mãi trong trái tim tôi!”.

Anh Đỗ Huy Long (con trai út bà Nguyệt) tận tình giới thiệu cho chúng  tôi các khâu công đoạn gia công pho tượng: từ nung chảy kim loại đổ vào khuôn, rồi thực hiện các thao tác kỹ thuật gọt rũa đánh bóng, hoàn thiện sản phẩm. Nghe qua thì giản đơn, nhưng để tạo ra một bức tượng không dễ chút nào, đòi hỏi người thợ phải có trí tưởng tượng, sức bền bỉ, lòng kiên trì và niềm đam mê sáng tạo. Anh Lê Văn Thảo, công nhân kỹ thuật (Quảng Ninh) chia sẻ: “Đúc tượng là một quá trình làm việc vất vả với những kỹ thuật phức tạp, lắm công phu. Lúc đầu về đây làm rất khó khăn, nhưng nhờ sự tận tình hướng dẫn các thao tác tôi đã dần quen và thành thục.

Trong ngôi nhà khang trang giữa làng, chúng tôi nhãn mãn chiêm ngưỡng tượng Bác Hồ ken chặt kín, phong phú đủ loại nhỏ to, chất liệu. Hình tượng Bác trong các tác phẩm điêu khắc luôn hiện lên vẻ mềm mại và sống động lạ thường.  Anh Long cho biết: Đúc tượng chân dung là một lĩnh vực rất khó vì chân dung mỗi người có một hình dáng khác nhau, nhất là khi đúc chân dung vị cha già của dân tộc thì đòi hỏi người nghệ nhân phải thổi được hồn để tạo lên một sản phẩm tượng đồng giống như thật người bên ngoài. Được biết trong tháng 7 tới, khoảng 500 pho tượng Bác Hồ của gia đình bà Nguyệt được hoàn thiện giao cho Bộ Quốc Phòng hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Bức tượng Bác Hồ không chỉ thể hiện sự phát triển vượt bậc của nghệ thuật đúc đồng nơi đây đạt độ tinh sảo độc đáo, giầu tính nghệ thuật mà còn bày tỏ niềm tôn kính, tình yêu thiêng liêng dành trọn của những người thợ đúc đồng Lương Tài với Bác.

Bài: Đông Bích – Mạnh Tiến

baobacninh.com.vn

Hình ảnh Bác Hồ trong lòng đồng bào các dân tộc thiểu số qua ca dao

Trong lịch sử văn học dân tộc và thế giới, chưa có danh nhân nào được “ca dao hóa” nhiều như Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Nhà thơ Lê Anh Xuân đã từng viết:

Điệu lục bát, khúc dân ca
Việt Nam là Bác, Bác là Việt Nam

Sinh thời, Bác rất thích dùng ca dao, tục ngữ trong các bài viết của mình để mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tuyên truyền cách mạng. Những ngày bệnh trọng, Bác vẫn thèm nghe “một câu hò xứ Nghệ” – một khúc hát dân ca. Ngay trong bản “Di chúc” thiêng liêng trước lúc đi xa, Người vẫn còn dặn lại đồng bào, đồng chí bằng một câu ca dao lục bát biến thể:

Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Có thể nói: Bác và Ca dao, Ca dao và Bác đã có sự “hóa thân” hài hòa và nồng thắm. Còn gì đẹp hơn, tự hào hơn khi nhân dân ta từ núi rừng, hải đảo xa xôi tới bưng biền Đồng Tháp đã dành những vần ca dao chứa chan tình nghĩa, biết ơn về Bác để dâng lên Người:

Bác Hồ là vị Cha chung
Là sao Bắc đẩu, là vầng Thái dương.

Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Bác sống như trời đất của ta”, Bác như ánh sáng, như khí trời không thể thiếu được trong cuộc đời mỗi con người Việt Nam, và ai cũng cảm thấy:

Tự hào biết mấy Bác ơi
Bác cho con cả cuộc đời tự do.

Hình ảnh Bác Hồ trong ca dao của đồng bào các dân tộc thiểu số được thể hiện trước hết là ở chỗ: Bác Hồ là hiện thân của sự đoàn kết dân tộc. Trong “Thư gởi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam” họp tại Plây Ku ngày 19-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xơ đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ có nhau, no đói giúp nhau”.

Đồng bào Tây Nguyên đã có bài ca dao về Bác Hồ với những so sánh liên tưởng thật xúc động:

Hồ Chí Minh – người là con sông lớn
Người là mặt trời, Người là mặt trăng
Mùa lạnh nhắc tên Hồ Chí Minh – cái bụng ấm
Mùa nắng nhắc tên Hồ Chí Minh – mây thêu mặt trời hồng
Mùa thu nhắc tên Hồ Chí Minh – mây lắng trời trong
Mùa xuân nhắc tên Hồ Chí Minh – cây cỏ đâm nhựa trổ bông.
Người dân Tây Nguyên nhận ra rằng:
Vùng Tây Nguyên rừng thiêng nước độc
Tám, chín năm ở với Bác Hồ lúa mọc đầy nương
Ba năm ở với “quốc gia” khổ sở trăm đường
Nay bắt phu, bắt lính, nói gạt nói lường hại dân
(Ca dao dân tộc Mơ- Nông)

Người Hơ-rê chất phác, nói “bụng Bác Hồ” đẹp hơn cả hoa Ê-pan nhất buôn, nhất rừng của họ. Cũng như người Ê-đê thấy “bụng Bác Hồ” tốt với dân tộc mình thế nào. Họ cho thấy:

Người cứu dân tộc mình
Cho suối đánh đàn, cho hoa Gơ- ma nở
Cho nương đầy lúa, rẫy đầy khoai
Cho núi sông đầy cá nước hoa ngàn
Cho con gái cườm đeo quanh cổ
Là Bác Hồ Chí Minh!
(Ca dao dân tộc Ê-đê)

Đồng bào dân tộc Êđê, Giarai, Ba-na cũng thường hát:

Người Ê đê chưa gặp mặt Bác Hồ
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ
Người Gia rai chưa được ra miền Bắc
Mà trong bụng thương hơn cha hơn mẹ

Vì vậy mà, chỉ cần nhắc đến tên Bác:

Lên rừng nhắc tên Hồ Chí Minh/quên cả chân chồn, leo dốc nhanh
Xuống đồng nhắc tên Hồ Chí Minh/cấy lúa suốt ngày không thấy mệt
Bữa ăn nhắc tên Hồ Chí Minh/đôi đũa và cơm như và ngọc
Nằm ngủ nhắc tên Hồ Chí Minh/ trời tan bóng tối, ấm năm canh.
Đồng bào Hơ rê thấy được tấm lòng của Bác, thấy “bụng Bác Hồ đẹp hơn nhiều”
Con chim Prắc kêu to/ Con chim Siên kêu nhỏ
Nước nhiều nguồn đã họp thành sông
Người khác nhau đã thành một chi
Ở mỗi ngả nhưng cùng một Bok Hồ
Nước chảy mãi về sông…
Hỡi hoa ê pang soi mình bến nước
Mày đẹp nhất rừng, mày đẹp nhất buôn
Nhưng bụng Bác Hồ còn đẹp hơn nhiều
– Bụng Bác Hồ đẹp hơn hoa ê pang
Bác Hồ dạy khắp nơi đoàn kết
Bụng Bác Hồ còn đẹp quý hơn chiêng
Bác Hồ bảo là cơm no áo tốt.
Và đồng bào đã thể hiện tấm lòng theo Bác, theo Đảng một cách chất phác:
Người Tây Nguyên/ Đã giữ rừng. Đốn cây to phải ngã
Tát suối sâu phải cạn
Nhổ cỏ không còn rễ dưới chân
Người Xơ đăng không theo con cú vọ
Người Nơ ngao không theo con diều hâu
Chúng ta theo hoa đỏ/ Chúng ta theo Cụ Hồ.

(Đồng bào Hơ rê)

Bác Hồ ơi! Bác Hồ ơi!
Người Ka dong nhớ lời Bác dạy
Cố bắt con vắt cho sạch
Cố đuổi con cú cho bay
Mong Bác về rừng núi Tây Nguyên
Để dân làng mang chiêng cồng đi đón
(Đồng bào Ka dong)

Đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, Mông… ở Việt Bắc, Tây Bắc luôn cảm nhận được tình cảm của Bác dành cho họ:

Đất nước ta có Cụ Hồ
Cụ Hồ thương dân đất Mường ta, sông bể không bằng
Qua nghìn hoạn nạn mới được như ngày hôm nay

Đồng bào Khmer, Chăm, Hoa cũng luôn tin tưởng và biết ơn Bác:

Cụ Hồ với dân như chân với tay
Như chày với cối, như cội với cành

hay:

Nhưng rồi ngẫm lại mà coi
Có Đảng, có Bác, châu chấu đá voi lộn nhào
Hoặc đồng bào nói cụ thể hơn:
Ai về nhắn nhủ cùng ai
Có Đảng, có Bác chẳng sợ chông gai bùn lầy.

“Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Lời Bác rất thấm thía. Biết nói làm sao hết những lời ca cất lên từ đáy lòng của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Bác.

TRẦN XUÂN TOÀN

sites.google.com

Người “mê” sưu tầm những câu chuyện về Bác Hồ

Ông Thái Bá Đắc miệt mài ghi chép những mẩu chuyện về Bác Hồ

(Congannghean.vn)- Từng học khoa Văn tại Trường Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc những năm 1954, sau 3 năm miệt mài, ông trở về nước theo học tại Trường bổ túc công nông Hà Nội. Tại đây, 2 lần ông được gặp Bác Hồ.

Lần theo từng ngõ nhỏ, từng con hẻm, tôi có mặt tại nhà ông vào một buổi xế chiều mưa, se lạnh. Ông đi vắng, mỗi mình bà ở nhà.

Ngỡ ngàng trước những chồng sách vở được bày biện ngăn nắp trong tủ để giữa sân, hiếu kỳ trước một tấm bảng đen với một cái lịch dày đặc những việc mà ông phải hoàn thành trong tháng đã khiến cho tôi tò mò, cố nán lại để hi vọng được gặp ông. Ông là Thái Bá Đắc (79 tuổi) ở xóm 12, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Là tấm gương sáng của Hội người cao tuổi huyện Đô Lương.

Thật may mắn cho tôi khi được trò chuyện cùng ông. Từng học khoa Văn tại Trường Sư phạm Quảng Tây, Trung Quốc những năm 1954, sau 3 năm miệt mài, ông trở về nước theo học tại Trường bổ túc công nông Hà Nội. Tại đây, 2 lần ông được gặp Bác Hồ.

Nhắc đến đó, mắt ông Đắc sáng rực lên, ông nở một nụ cười hiền từ, chia sẻ: “…Thời đó, lớp chúng tôi mới chuyển từ Trung Quốc về, đang còn gặp phải rất nhiều khó khăn. Bác đến mang theo một gói trà xanh động viên lớp Văn chúng tôi. Hôm đó, khi xem xong cuốn sổ học tập của lớp, Bác tiến lại gần và hỏi tôi học tập thế nào. Tôi trả lời Bác: “Thưa Bác, cháu thường được điểm 4 ạ!” (Trước đây, điểm 5 là điểm cao nhất, tương tự điểm 10 bây giờ). Nghe xong, Bác liền nói cả lớp: “Tất cả các cháu phải học được điểm 5 thì nhân dân, đất nước mới được nhờ… ”. Lần khác, trong một đợt tổng kết năm học của trường, Bác đến dự lễ. Hôm đó, Bác đề cập rất nhiều vấn đề nhưng tôi nhớ mãi câu nói của Bác: “Các cháu nên nhớ là: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Cốt cách và việc làm của Bác Hồ đã theo ông suốt những năm tháng dạy học. Với ông Đắc, Bác Hồ là một hình tượng đẹp nhất, Người đã giúp ông trở thành một giáo viên dạy giỏi.

Đã mấy chục năm trôi qua, ông luôn trau dồi, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xem đó là mục tiêu phấn đấu của mình. Lời Bác Hồ dạy luôn sáng mãi trong ông.

Năm 1968, ông trở thành 1 trong 5 giáo viên dạy giỏi của tỉnh và điều mà ông “sướng” nhất là thường xuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn của Nghệ An tham dự các kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc đạt giải cao. Trong các dịp hè, ông trực tiếp giảng dạy, truyền thụ kinh nghiệm cho các giáo viên cấp 2. Với những nỗ lực ấy, ông đã được ngành giáo dục tặng Bằng khen.
Năm 1985, ông về hưu, Trường cấp 3 dạy nghề huyện Đô Lương ngỏ ý mời ông về dạy Văn và Anh văn. Theo giảng dạy được 4 năm, sau đó ở nhà ông hăng say nghiên cứu văn học, báo chí và nhiều lĩnh vực khác.

Đặc biệt, sáng nào cũng vậy, bên chiếc bàn làm việc, ông cặm cụi sưu tầm các mẩu chuyện, bài viết về Bác Hồ trên tất cả các loại sách báo. Ông ghi chép, tập hợp lại thành các tập sách.

Để có thể ghi chép ra những cuốn sách viết về Bác Hồ, ông Đắc đã tận dụng những tờ lịch cũ, đóng thành quyển và chép ra phía sau của tờ lịch. Để có những cuốn sách ghi chép đó, ông đã phải đến nhà bạn bè để mượn, có những cuốn mượn đến hàng tháng trời.

Đến nay, ông đã chép tay được 329 mẩu chuyện về Bác với 45 tác phẩm truyện, thơ viết về Bác như cuốn: Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế, Thơ chúc Tết của Bác Hồ, Ca dao về Bác Hồ…

Bên cạnh sưu tầm, ghi chép lại những mẫu chuyện, những câu thơ về Bác, ông Đắc còn có sở thích sưu tầm những bức ảnh chụp về Bác theo từng thời kỳ hoạt động cách mạng của Người. Trong tập ảnh: “Bác Hồ về thăm đền Hùng”, ông đã sưu tầm từ đầu chí cuối từ lúc Bác Hồ đến cho đến rời khỏi đền Hùng như thế nào, hay những bức hình Bác Hồ chụp với lực lượng vũ trang nhân dân.

Đến nay, ông Đắc đã có trên 200 ảnh chụp về Bác Hồ với những dấu ấn lịch sử. Ông tâm sự: “Tôi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thứ nhất để trả lại cái ơn của Người, thứ hai, sưu tầm những tấm ảnh, ghi chép những mẩu chuyện về Bác Hồ sẽ cho tôi một kho tàng tư liệu quý giá để sau này con cháu mình học tập và noi theo”.

Không những là một người thích sưu tầm, ông Đắc còn tham gia viết báo, bình thơ và còn là một thầy thuốc giỏi. Trong nhà ông có một vườn cây thuốc nam. Ông tự mày mò, nghiên cứu chế ra nhiều loại thuốc như thuốc chữa thần kinh gót chân, chữa đau răng…

Hiện, ông đang nghiên cứu dược liệu chế thuốc chữa dạ dày và sỏi thận. Trên Báo Lao động, Báo Nhân Dân và Báo Nông nghiệp Việt Nam… thường xuyên có những bài viết của ông.

Năm 2006, ông được Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen trong cuộc thi tìm hiểu “An ninh nhân dân Việt Nam: 60 năm truyền thống vẻ vang” viết bằng văn xuôi.

Năm 2009, ông được đồng chí Nguyễn Thế Trung – Uỷ viên TW Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy khen ngợi về thành tích sưu tầm các tư liệu về Bác Hồ. Cũng trong năm này, ông được Ban Tuyên giáo gửi thư khen về thành tích học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tháng 8/2010, ông được đồng chí Phạm Quang Nghị – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội gửi thư khen ngợi về thành tích đóng góp hình ảnh 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Vinh dự năm 2011, Thái Bá Đắc được Hội Người cao tuổi tỉnh Nghệ An tặng Giấy khen về thành tích xuất sắc trong phong trào “Tuổi cao gương sáng” 10 năm ( 2001 – 2010).

Cần mẫn như một chú ong, ngày ngày ông Đắc vẫn miệt mài bên những trang giấy trắng. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn làm việc không biết mệt mỏi: Đều đặn đi bộ vào mỗi buổi sáng, bình thơ gửi báo và tiếp tục nghiên cứu lại tất cả những tài liệu để sưu tầm ghi chép lại các bài viết về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đăng trên các báo, tạp chí…

Theo Phan Tuyết
Congannghean.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Càng hiểu, càng yêu Bác hơn”

Tuổi ngoài 80, ông Năm Truyện vẫn miệt mài nghiên cứu, viết sách về Bác - Ảnh: Đức Vịnh

TT – Từ anh bộ đội Cụ Hồ trở thành nhà giáo, rồi nhà quản lý kinh tế, về hưu, gần 20 năm qua, ông Năm Truyện (P.Mỹ Xuyên, TP Long Xuyên, An Giang) không chỉ sưu tầm hơn 5.000 bài viết, mẩu chuyện, hình ảnh về Bác mà còn viết nhiều tập sách về Bác…

Ông Năm Truyện tên thật là Nguyễn Ngọc Truyện, đang ở trong một ngôi nhà cổ nằm bên con rạch Long Xuyên lộng gió. Ông thường ngồi bên chiếc bàn đầy sách báo, thầm lặng nhưng miệt mài nghiên cứu, viết sách về Bác Hồ.

Sưu tầm tư liệu, viết chuyện về Bác

Sinh năm 1925, tốt nghiệp tú tài, ông Truyện học Trường Mỹ thuật Gia Định. Ra trường ông không đi làm cho Pháp mà tham gia tổ chức Thanh niên cứu quốc. Ngưỡng mộ nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc, hưởng ứng kêu gọi toàn dân kháng chiến cứu nước của Người, năm 1947 ông gia nhập Vệ quốc đoàn rồi chuyển qua bộ đội chính quy, làm Phó Văn phòng Tỉnh đội Long Châu Hà, Tây Nam Bộ.

Năm 1954 tập kết ra Bắc, ông được đưa đi học và công tác ở nhiều trường. Nước nhà thống nhất, ông công tác ở Trường Trung học Thương nghiệp miền Nam, có lúc kiêm Phó ban Thanh tra Ty Thương nghiệp An Giang.

Nhớ về những năm tháng ở Thủ đô, có lẽ hạnh phúc nhất của ông là nhiều lần được gặp Bác. Đến nay, ông vẫn nhớ rõ ngày Bác Hồ đến thăm học viên lớp chỉnh huấn của Bộ Công an. “Đó là hôm 16-5-1959, lúc ấy tôi đang dạy Trường Trung cấp của Bộ Nội thương nhưng cơ sở của trường còn nhờ bên Bộ Công an. Thấy Bác, ai nấy đều xúc động ùa đến”. Ngay lần gặp đầu tiên, hình ảnh vị lãnh tụ giản dị trong bộ đồ vải gụ màu nâu, đi dép cao su toát lên vẻ bình dị, hồn hậu đã in đậm trong lòng ông sự tôn kính, ngưỡng mộ sâu sắc và nhen nhóm ước mơ nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Người.

Công việc cứ cuốn đi để mãi năm 1982 về hưu, ước mơ ngày nào của ông mới được thực hiện khi sinh hoạt trong Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Chiến binh và Chi bộ Đảng Phường Mỹ Xuyên. Ông lặng lẽ với đam mê sưu tầm những mẩu chuyện về Bác đăng trên tờ tin địa phương từ năm 1998 tới nay.

Để mọi người cùng theo gương Bác

Hiểu tâm nguyện của cha, một lần ra Bắc công tác, cô con gái thứ hai tìm mua về cho ông một số sách viết về Bác do Nhà xuất bản Nghệ An ấn hành. Ông còn trích lương hưu ít ỏi đặt mua thêm gần chục đầu báo, tạp chí và nỗ lực thu thập thêm đủ thứ tư liệu. Bà Sương, vợ ông, bảo: “Hay tin ở đâu có tư liệu về Bác là ông đi tìm cho bằng được. Có những tư liệu không thể mượn mà phải chép lại trong nhiều ngày trời”.

Nhìn kho tư liệu với 5.000 bài viết, hình ảnh trích từ sách báo và cuốn sổ dày cả gang tay chi chít những dòng chữ viết tay qua nhiều năm miệt mài, chúng tôi cảm nhận rất rõ một điều: Chỉ với tấm lòng kính yêu Bác vô bờ mới có thể thôi thúc một người tuổi đã cao làm được công việc đó.
Kho tư liệu ấy đã thành nguồn phân tích, tìm hiểu cái hay, cái độc đáo trong từng sự việc, từng mẩu chuyện về Bác để sau đó chọn lọc, hệ thống lại theo từng nhóm chủ đề, dòng sự kiện. Và từ đó, ông bắt tay viết những bài về Bác của chính mình với văn phong mộc mạc, bình dị nhưng đầy sáng tạo.

Năm 1999 tập sách đầu tay mang tên “Ra đi Bác dặn còn non nước” được Nhà xuất bản Thanh Niên phát hành 1.000 cuốn. Sách dày 300 trang với ba phần: Trên quê hương, Đi tìm đường cứu nước và Trở về. Ông lại tiếp tục viết tác phẩm thứ hai. Sau hơn hai năm cật lực, ông hoàn thành bộ sách Hồ Chí Minh – cứu tinh dân tộc Việt, cũng được Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2008, với 240 câu chuyện viết về Bác và gia đình Bác. Tập sách dày 352 trang, khổ 19×27 này đã được nhiều nơi đặt mua số lượng lớn.

Riêng với đợt vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” lần này, tuy tuổi già sức yếu ông vẫn cố gắng biên soạn thêm hai tập sách Cánh sen vàng (gồm 120 mẩu chuyện, với nhiều mẩu chuyện có chủ đề về sửa đổi lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kiệm liêm chính, gần dân…) và sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác (79 mẩu chuyện, trong đó có 46 mẩu là sự phát hiện mới về lòng dân với vị cha già dân tộc).

Thạc sĩ Ngô Quang Láng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử An Giang, nhận xét: Sách của ông là công trình nghiên cứu có giá trị cả về học thuật lẫn sự sáng tạo. Trong đó, với chất liệu tinh lọc, dòng chảy thời gian và giá trị tư tưởng của Bác đã được thể hiện bằng phương ngữ Nam bộ. Trong khi đó ông lại không nhận mình là nhà sưu tầm hay nghiên cứu. Ông bảo mình làm những điều ấy từ đáy lòng.

“Càng tìm hiểu, nghiên cứu về Bác càng cảm nhận bao điều thâm thúy, bao câu chuyện có ý nghĩa và yêu Bác hơn. Nếu chỉ biết một mình uổng quá nên tôi cố gắng viết thành sách để vừa giáo dục chính bản thân, con cháu; đồng thời mong muốn góp phần cho bà con mình, thanh niên hiện nay hiểu rõ hơn khi sống và học tập theo gương Bác. Được vậy, cuộc sống này tốt hơn biết bao” – ông tâm sự chân thành.

Ông Nguyễn Ngọc Truyện vào Đảng năm 1947, đã nhận huy hiệu 60 tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, 4 Huy chương và nhiều Bằng khen khác. Mới đây, ông được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

ĐỨC VỊNH
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Chuyện về người phụ nữ hai lần gặp Bác:

Bà Phạm Thị Thược bây giờ (ảnh chụp tại nhà khách T.78, nơi bà Thược đã ở đây từ gần 7 năm qua.

Một phụ nữ đã sống, chiến đấu cho quê hương đất nước. Sau đó, bà lấy chồng là người nước ngoài làm nhà báo, chuyên viên chiến dịch Điện Biên Phủ, biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam đầu tiên. Khi theo chồng về nước, bà cũng làm việc cho một số cơ quan bên đó. Như để trải lòng và nguôi ngoai nỗi nhớ nhà, trong tâm trí của bà luôn khắc ghi lời hứa thiêng liêng với Bác Hồ là sẽ trở về quê hương trong những ngày cuối đời…

Để thực hiện lời hứa về chuyện sinh ra rồi mất đi sẽ trên đất nước Việt Nam thương yêu của mình, bà phải xa con cháu để trở về quê hương. Và nỗi lòng ấy như được sẻ chia khi chúng tôi tiếp chuyện bà. Đó là ước nguyện của bà Phạm Thị Thược (nguyên quán ở Thái Nguyên). Bà sinh trưởng trong nỗi bất hạnh cùng nhiều đau thương, trái ngang. Nhưng cũng không vì thế mà bà chịu đầu hàng số phận.

Ký ức trở về

Sau một hồi tâm sự, như hồi tưởng lại thời thơ ấu khó khăn cùng những tháng ngày gian khổ, bà kể lại: “Lúc mới được sinh ra thì bố lấy vợ hai, mẹ bỏ tôi lại cho ông bà nội. Hằng ngày, ông bà nội phải xin sữa những người có con nhỏ ở trong xóm làng để nuôi tôi. Khi gần 14 tuổi, ông bà nội mất, tôi phải di tản lên chiến khu Việt Bắc (Thái Nguyên) tìm mẹ nhưng mẹ đã có chồng khác.

Không ở được với mẹ, tôi xin đi dân công tải đạn nơi chiến trường phía Bắc và được giữ lại trong đơn vị quân nhu (sau này là đơn vị hậu cần). Sau đó, tôi kết hôn với một bác sĩ quân y, sinh được một đứa con gái đặt tên là Nguyễn Thị Trọng Hiền. Niềm vui chưa tày gang, ngay sau đó là nỗi buồn khi chồng tôi hy sinh nơi chiến trường.

Ngày giải phóng Hà Nội, tôi về với gia đình bên chồng ở phố Kim Mã và bán tân dược theo bằng cấp của chồng để lại. Một thời gian sau, tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam tại 58 phố Quán Sứ – Hà Nội mai mối tôi với đồng chí Tarrago làm chuyên gia ở Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, do yêu cầu của Đảng và Nhà nước chuyển chồng tôi sang Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam làm biên tập chương trình phát thanh thời sự quốc tế vào năm 1955.

Nghĩ lại, tôi vẫn cảm thấy sợ vì mình không biết tiếng Đức để nói với chồng, nhưng bản thân thì đặt trọn niềm tin vào tổ chức lãnh đạo của Đảng. Đám cưới của chúng tôi được lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam đứng ra tổ chức. Chúng tôi nhận được nhiều lẵng hoa chúc mừng hạnh phúc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các lãnh đạo cao cấp của Quân đội, Bộ Ngoại giao và các cơ quan Sứ quán nước ngoài.

Sau lễ cưới, chúng tôi được ở trong toà nhà số 8 Hồ Xuân Hương, Hà Nội. Lúc đó, ông Phạm Ngọc Thạch (Bộ trưởng Bộ Y tế), ông Phạm Huy Thông (Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ở chung toà nhà) và Giáo sư Tôn Thất Tùng (công tác bên Bệnh viện Việt Đức, bạn của chồng tôi lúc công tác ở bên Pháp) đã giúp đỡ chúng tôi mọi trở ngại về ngôn ngữ.

Một vinh dự lớn lao là vợ chồng tôi được Bác Hồ mời cơm tại Phủ Chủ tịch. Tại đây, chúng tôi gặp ông trưởng lễ tân Nguyễn Việt Dũng, sau đó là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Năm 1964, Đảng và Nhà nước giải quyết cho tôi đi theo chồng, trở về phục vụ cho đất nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Khi chuẩn bị lên đường theo chồng về nước, gia đình tôi lại được Bác mời ăn cơm và dặn dò.

Gặp Bác, tôi chỉ biết khóc mà không nói được lên lời. Thấy vậy, Bác liền nói những lời căn dặn: “Cháu đi theo chồng cũng là một nghĩa vụ lớn, vì đồng chí Tarrago là người có đóng góp công lao to lớn cho Tổ quốc Việt Nam và là một đồng chí vô sản quốc tế đến làm nghĩa vụ với cách mạng Việt Nam. Người vợ của đồng chí là người con gái của đất nước Việt Nam anh hùng, cháu phải làm sao cho xứng đáng với người vợ của người chiến sĩ cách mạng vô sản quốc tế. Đây cũng là nghĩa vụ của người con gái Việt Nam với Tổ quốc”.

Thấy tôi khóc nhiều quá, chồng tôi đã hứa với Bác: “Nếu vợ tôi qua đời trước, xin hứa với các ngài là tôi sẽ đưa thi hài vợ tôi bằng chuyên cơ về Việt Nam để chôn cất theo truyền thống của người Việt Nam là “lá rụng về cội”. Lời hứa của tôi như vậy, nhưng nếu tôi chết trước vợ, tôi sẽ không thực hiện được lời hứa này với các ngài”. Chính vì lời hứa của chồng tôi với Bác nên tôi mong muốn bản thân mình thực hiện lời hứa thiêng liêng này.

Thiêng liêng… lời hứa với Người

Đó là lời hứa thiêng liêng mà chồng tôi đã hứa với Hồ Chủ tịch và các lãnh đạo của Đảng lúc bấy giờ. Dù thế nào, bằng mọi giá tôi cũng muốn thực hiện ước nguyện với Bác, với đất nước của mình. Giờ đây, tuổi đã cao (gần 80 tuổi), tôi nói lại những suy nghĩ của quá khứ này cũng là để mọi người hiểu dù đi đến chân trời góc bể nào thì con người Việt Nam cũng sẽ luôn tìm về nguồn cội.

Cũng bởi một lý do nữa là giờ đây khi phải xa con cháu nên không còn ai bên cạnh để lo cho mình. Ai cũng cần tình yêu thương thật sự, nhất là những người già như tôi. Chính vì thế, khi trở về đất nước của mình, tôi vẫn còn nhiều người thân ở ngoài Bắc, mong mọi người thân đón nhận sự trở về của mình. Thế nhưng, sự thật không được như mong muốn. Nó khiến tôi ngỡ ngàng, cứ suy nghĩ miên man và không thể thốt thành lời.

Từ phải sang, ông Trần Duy Hưng, bà Phạm Thị Thưọc, ông Lê Quý (TGĐ Đài Tiếng nói VN đầu tiên và trợ lý của ông Qúy).

Một phần do chồng tôi mất năm 1988, nên lời hứa của chồng tôi với Bác Hồ đã không thực hiện được. Tôi thay chồng thực hiện lời hứa với Người cũng là thực hiện cho tâm nguyện của tôi, một người con được sinh ra trên đất nước Việt Nam sẽ lại trở về với đất nước Việt Nam yêu quý. Thế là, từ năm 1990 đến nay, tôi vẫn sống với nỗi cô đơn của người phụ nữ già nhưng không quên được lời hứa mà chồng đã hứa với Người. Lời hứa đó cứ in sâu trong tâm nguyện của bản thân tôi.

Lý do mà tôi phải sống cô đơn cũng một phần vì các con đã có gia đình riêng nên tôi vẫn một mình đi về Việt Nam. Đến năm 2001, tôi về Việt Nam ở hẳn cho đến nay. Những năm đầu tôi sống ở Tuyên Quang, sau lên Thái Nguyên rồi vào Vũng Tàu và cuối cùng là TP HCM. Hơn 6 năm, tôi ở tại Nhà khách T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Đảng phía Nam, số 145 Lý Chính Thắng, phường 7, quận 3, TP HCM.

Không biết cái ngày “gần đất xa trời” sẽ đến lúc nào và lo lắng cho hậu sự của mình nếu có xảy ra thì ai, cơ quan nào đứng ra tổ chức đám tang cho mình? Vì vậy nên tôi mong rằng những ước nguyện của mình nếu qua đời cũng chỉ biết nhờ vào Ban lãnh đạo Nhà khách T.78 lo hậu sự.

Thiết tha hơn nữa là mong các cơ quan chức năng giúp tôi thực hiện mong ước được “ra đi” trên mảnh đất Việt Nam quê hương yêu dấu. Đây chính là lời hứa thiêng liêng của chồng tôi đã hứa với Bác và là ước nguyện thiết tha nhất trong cuộc đời mình.

Cũng chính vì lời hứa với Người nên tôi mong các con của tôi là Nguyễn Thị Trọng Hiền Tarrago – Kleivert và Antoine Tân Việt Tarrago hiểu bố mẹ của chúng đã được Bác Hồ quan tâm, dạy bảo. Và vì đất nước Việt Nam có Bác Hồ là niềm kính yêu của cả thế giới nhân loại. Cũng là để các con, cháu của tôi luôn nhớ mãi và ghi sâu trong tim chúng có dòng máu của con người, đất nước Việt Nam anh hùng.

Sau khi theo chồng sang Cộng hoà Dân chủ Đức, bà đã tham gia hoạt động, làm việc ở Hội Liên hiệp Phụ nữ và Bộ Giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức. Bà đã đóng góp nhiều công lao vào việc nêu cao tinh thần “uống nước nhớ nguồn” vì mình là người Việt Nam. Bên cạnh đó, bà cũng tham gia, giúp chồng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ biên tập phát thanh tình hình quốc tế. Nhất là mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Đức.

Thiên Hùng (ghi theo lời kể của bà Phạm Thị Thược)

cand.com.vn

Người kĩ sư ở Pháp theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Sáu mươi lăm năm đã qua, còn nhiều bí mật phía sau số phận của một trong 4 trí thức người Việt từ Pháp cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến, đó là kỹ sư Võ Quí Huân.

Mùa hè năm 1946, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác Hồ đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới nước Pháp nhằm hậu thuẫn cho Hội nghị Fontainebleau mưu cầu nền độc lập, thống nhất bền vững cho Việt Nam. Tuy nhiên, do tư tưởng thực dân của giới cầm quyền Pháp, Hội nghị đã thất bại; Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam chuẩn bị cuộc trường kỳ kháng chiến. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, 4 trí thức người Việt đã thành danh ở Pháp gồm: Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quí Huân và Võ Đình Quỳnh, đã cùng Bác Hồ về nước tham gia kháng chiến…

Chân dung người kĩ sư Việt kiều yêu nước

Ông Võ Quí Huân sinh năm 1912 trong một gia đình giáo học huyện Thanh Chương (Nghệ An). Lớn lên trên quê hương giàu truyền thống yêu nước, năm 1935-1937, Võ Quí Huân tham gia phong trào Bình dân, làm Chủ nhiệm Báo Đông Dương hoạt động (L’activité Indochinoise) xuất bản song ngữ Việt – Pháp. Đây là một tờ báo tiến bộ đương thời, nên bị thực dân Pháp đóng cửa; Võ Quí Huân phải trốn sang Pháp và đi học. Ông đã giành được 3 bằng kĩ sư các ngành: cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp. Sau đó, ông làm việc cho hãng tàu thủy Compagnie Translatique (Pháp) và một số nhà máy lớn. Ông cũng là kỹ sư trưởng tại nhà máy nghiên cứu sản xuất động cơ máy bay Potef… Ông tham gia Tổng Công đoàn Pháp (CGT), trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1939.

Giữa năm 1946, ông Võ Quí Huân đã tham gia tổ chức các hoạt động nghênh đón, phục vụ Hồ Chủ tịch và phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc hoà đàm với nước Pháp… Trung tuần tháng 9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết bản Tạm ước 14-9 với đại diện Chính phủ Pháp, nhằm kéo dài thời gian hoà bình cho Việt Nam, rồi trở về Tổ quốc. Trước lúc rời nước Pháp, Hồ Chủ tịch đã mời một số trí thức tiêu biểu đến gặp. Người ôn tồn nói: “Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Các chú đã sẵn sàng chưa?”.

Trong số 4 trí thức cùng Hồ Chủ tịch về nước, ông Võ Quí Huân có vợ và con gái mới tròn 2 tuổi. Vợ ông Huân là bà Vo Qui Irenè, gốc Nga. Bà là Tiến sĩ Ngôn ngữ học, nói và viết thành thạo 7 ngoại ngữ. Cô con gái có tên là Vo Qui Viet Nga (Võ Quí Việt Nga), mới tròn 2 tuổi; nhưng trước nghĩa vụ với Tổ quốc, ông đã nén tình cảm riêng, quyết tâm trở về Việt Nam phục vụ đất nước. Lúc chia tay lên đường vội vã, ông Huân ôm cô con gái cưng vào lòng và trân trọng hứa: “Moumou yêu quý của ba, ba đi công việc vài ba tháng sẽ trở lại!”. Bé Việt Nga mếu máo rồi oà khóc níu áo ba, hai cha con nghẹn ngào giây phút biệt ly…

Bác Hồ bế con gái kĩ sư Võ Quí Huân (Paris, tháng 7/1946), người theo Bác về nước.

Dấn thân vào cuộc trường kì kháng chiến của dân tộc, 4 trí thức Việt kiều được giao những trọng trách để phục vụ đất nước. Ông Võ Quí Huân đảm trách Giám đốc Sở Khoáng chất kĩ nghệ Trung Bộ. Với sự chủ trì của ông, chiều 15/11/1948, mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt đã được luyện, chảy vào khuôn trong sự reo hò của cán bộ, công nhân nhà máy… Từ thành công này, những quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam” đã được xuất xưởng đại trà bởi nhà thiết kế Trần Đại Nghĩa và gang của kĩ sư Võ Quí Huân, góp phần vào những thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kì 9 năm.

Cuộc trùng phùng sau 6 thập kỷ

Như đã đề cập ở phần trước, sau khi về nước, ông Võ Quí Huân đã dồn hết tâm sức phụng sự Tổ quốc. Cuộc kháng chiến ngày càng khốc liệt và cơ hội của ông Huân trở lại nước Pháp đón vợ con về Việt Nam là điều không thể… Một thời gian sau, ông Võ Quí Huân lập gia đình với bà Tạ Kim Khanh và sinh được 4 người con. Sau khi về tiếp quản Thủ đô, kĩ sư Võ Quí Huân tiếp tục được giao nhiều trọng trách… Năm 1967, ông Võ Quí Huân lâm trọng bệnh…

Trong một buổi chiều Hà Nội dầm dề mưa lạnh, tôi đã rất xúc động khi chị Võ Quí Hoà Bình, con gái của ông Võ Quí Huân với người vợ sau, cho tôi xem đoạn clip và những bức ảnh gặp lại người chị gái cùng cha khác mẹ Võ Quí Việt Nga tại một ngôi làng nhỏ ở Pháp. Chị Võ Quí Hoà Bình nhớ lại: “Khoảng tháng 8/1967, sức khoẻ ba tôi giảm sút nghiêm trọng. Nằm trên giường bệnh, ông thường lấy ra một số bức ảnh, tần ngần ngắm kĩ rồi thở dài; trong đó có bức ảnh anh trai tôi đang du học ở CHDC Đức và bức ảnh cỡ 9x12cm, là một đứa trẻ con Tây. Tôi hỏi thì ba tôi nói: “Đây là cháu ngoại của ba!”… Thì ra, sau khi về tiếp quản Thủ đô năm 1954, ông Huân đã âm thầm viết thư nối lại quan hệ với bà Irenè và con gái Việt Nga. Việt Nga lúc này đã lập gia đình và sinh được một cậu con trai đầu lòng. Bà Irenè đã hồi âm và gửi kèm tấm ảnh đứa cháu ngoại của ông bà.

Những ngày cuối đời, nằm trên giường bệnh, ông Huân nắm tay con gái Hoà Bình, nói: “Khi ba theo Bác Hồ về nước kháng chiến, ba có hứa với bà Irenè và chị Việt Nga là chỉ vài tháng sau sẽ quay lại. Con biết đấy, với một đứa trẻ hai tuổi, lời hứa đó rất quan trọng. Vậy mà ba đã không thực hiện được, ba rất ân hận. Cũng vì chờ đợi một cách vô vọng mà bà Irenè không lập gia đình; chị gái con cũng rất vất vả vì thiếu cha, chỉ học hết tú tài, cuộc sống sau đó rất khó khăn”. Ông Huân căn dặn: “Ba chết không nhắm mắt vì nỗi ân hận với bà Irenè và không chăm sóc được chị gái con. Các con nhất định phải tìm lại bà ấy và Việt Nga, thì ba mới an lòng nơi chín suối”. Sau khi trải hết lòng mình với vợ và con gái, cuối tháng 9/1967, người kĩ sư trí thức Việt kiều Võ Quí Huân đi vào cõi vĩnh hằng ở tuổi 56, khi mà trí tuệ và lòng yêu nước của ông vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu được gặp Bác Hồ.

Từ đó, Võ Quí Hoà Bình luôn tâm niệm phải tìm được bà Irenè và chị Việt Nga, nối lại sợi dây tình cảm đã bị gián đoạn. Trở lại những manh mối đầu tiên để đi tìm người chị gái nơi trời Tây, chị Hoà Bình kể: Năm 1975, khi lục tìm những tư liệu cũ, tôi phát hiện một lá thư của ba tôi ghi địa chỉ bà Vo Qui Irenè. Tôi bèn nhờ thầy giáo dạy tiếng Pháp viết hộ bức thư gửi kèm những bức ảnh về Việt Nga (để làm tin) mà cha tôi còn giữ được, cùng các bức ảnh anh em tôi ở Việt Nam. Chị Việt Nga có hồi âm, nhưng giữ một thái độ khá xa cách: “Với chị, hai từ Việt Nam gợi lên nỗi đau mất cha. Chị không dễ vượt qua nỗi đau của quá khứ để có thể gặp mặt các em”…

Con tạo xoay vần, sau khi con gái, rồi con trai của chị Hoà Bình lần lượt sang Pháp du học, họ tiếp tục viết thư thăm hỏi bác Việt Nga. Song, một cuộc gặp gỡ như ước nguyện của người cha Võ Quí Huân vẫn chưa thể thực hiện; mọi bức thư chỉ dừng lại ở mức xã giao.

Trong một lá thư hồi âm cho cháu gái Thuỳ Dương, chị Việt Nga tái khẳng định: “… Sẽ rất đau đớn cho bác nếu phải kết giao lại với gia đình ở Việt Nam. Bác không thể làm được điều này vì nó làm bác quá đau lòng. Bác rất muốn trao đổi thư từ thỉnh thoảng với cháu. Thế thôi!”.

Trước thực tế này, những người thân trong gia đình và ngay cả hai người con của chị Hoà Bình đều khuyên: Bác Việt Nga tuy mang dòng máu của ông, nhưng là người Pháp hoàn toàn. Nếu người Pháp đã không muốn, thì rất khó lay chuyển; họ rất cần được tôn trọng sự riêng tư… Tuy nhiên, càng khó khăn thì chị Hoà Bình càng quyết tâm phải gặp bằng được người chị gái của mình.

Chị Võ Quí Hoà Bình (thứ tư từ trái qua) và gia đình chị Võ Quí Việt Nga (thứ hai từ trái qua).

Tháng 10/2007, chị Hoà Bình sang Pháp lần thứ tư. Cả 3 lần trước, dù đã liên hệ qua điện thoại nhưng chị Việt Nga đều khước từ việc gặp gỡ. Chị Hoà Bình kể lại: Con trai tôi đã ở Pháp nhiều năm, nên mày mò tìm kiếm được địa chỉ của bác Việt Nga. Đó là một ngôi làng gần thành phố nhỏ có tên là Autun, cách Paris khoảng 500km. Chúng tôi được một người lái taxi nhiệt tình chở đi và hỏi thăm đường tới làng Moux en Morvan… Nghe chúng tôi kể về người chị gái bị thất lạc đã nhiều lần khước từ không gặp người thân, ông lái xe tỏ ra xúc động và nói: “Kì lạ thật. Lát nữa gặp nhau có cần tôi vào nói giúp không?”… Xe dừng lại trước một ngôi nhà ở cuối làng, cháu Quân xuống xe bấm chuông, tôi vẫn ngồi lại và nói với người lái taxi: “Nếu lần này chị ấy vẫn từ chối, thì chúng tôi sẽ về luôn”.

Chị Việt Nga, khi ra mở cổng, đã sững sờ đứng lặng hồi lâu mới mời khách vào nhà. Quân hỏi: “Cháu có thể mời mẹ cháu vào được không?”. Bác Việt Nga lúc này đã không thể từ chối tình cảm ruột thịt, chị Hoà Bình bước vào khu vườn và ôm lấy người chị gái của mình… Chị Việt Nga chỉ im lặng lắng nghe những lời tâm sự của người em gái… Mãi sau, chị mới thốt lên: “Cha đã làm việc vất vả lắm phải không?”. Trong nước mắt, chị Hoà Bình đã nói: “Ba rất nhớ bà Irenè và yêu chị. Ba rất ân hận vì đã không trở lại với hai mẹ con chị. Trước lúc mất, ba dặn chúng em phải tìm được bà Irenè và chị… Hai mẹ con chị Hoà Bình được anh Michel (chồng chị Việt Nga) dẫn lên căn gác nhỏ đầy ắp những hình ảnh, kỉ niệm về người cha Võ Quí Huân và mẹ Vo Qui Irenè, còn có một thùng gỗ đầy ắp những bức thư và ảnh từ Việt Nam gửi sang. Chị Việt Nga khi ấy mới thổ lộ: “Có điềm gì đó, khoảng 2 tuần nay, ông ấy (anh Michel) cứ tẩn mẩn tìm lại những kỉ niệm, những bức ảnh, và sắp xếp theo trình tự thời gian, như là chờ ai tới thăm!”.

Sau cuộc gặp gỡ này, chị Hoà Bình đã thêm 2 lần sang nước Pháp thăm chị gái Việt Nga và anh rể. Chị cho tôi xem một bức thư mà chị Việt Nga vừa gửi ngày 6/8/2010, có đoạn: “Em gái thân yêu của chị! Chị gửi cho em ba tấm hình để chúng ta có thể biết được nhau nhiều hơn. Chiều nay chị đã đến Autun và chị đã nghĩ về em rất nhiều, vì đó là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau và cũng là nơi chị đã chở em và Quân về khách sạn. Chị cảm ơn em từ tận sâu đáy lòng đã đến để tìm chị và để chúng ta có thể biết được nhau và lấy lại khoảng thời gian đã mất… Ký tên: Moumou”.

Khi tôi đang viết những dòng này, thì nhận được điện thoại của chị Hoà Bình. Chị khoe: “Sáng nay (13/12/2010), bác Việt Nga đã gọi điện chúc mừng sinh nhật chị. Chị mừng quá. Giờ chị cũng đang chuẩn bị thiếp và quà để gửi mừng bác Việt Nga và gia đình nhân dịp Noel”

Trần Duy Hiển

cand.com.vn

Đi tìm người con gái M’Nông trong tấm ảnh với Bác Hồ

Trong số khách mời của buổi giao lưu với Đoàn viên thanh niên Công an mang tên “Mẹ cũng là chiến sỹ” do Công an tỉnh Đắk Lắk tổ chức có một người phụ nữ người dân tộc M’Nông đã đứng tuổi.

Khi được mời lên sân khấu để giao lưu, sau những câu chuyện thời kháng chiến được kể bằng vốn tiếng Kinh chậm như người già đếm hạt bắp. Cuối cùng, khi được hỏi về kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời hoạt động cách mạng của mình, người phụ nữ đã rút từ trong người ra 1 tấm ảnh đen trắng to hơn bàn tay giọng run run xúc động: “Đó là lần được gặp và chụp ảnh chung với Bác Hồ. Tấm ảnh này là tài sản quý nhất của nhà mình đấy!”.

Đổi họ thay tên để làm cách mạng

Lần theo địa chỉ mà Thượng tá Nguyễn Thị Minh Vẻ, Trưởng ban Công tác phụ nữ Công an tỉnh cung cấp, tôi làm một cuộc hành trình ngót gần 100km đi ngược về phía Đông nơi có vùng đất Đắk Phơi Anh hùng, nơi ngọn nguồn của dòng Sêrêpốk hùng vĩ. Đường vào xã Đắk Phơi, huyện Lắk những ngày này thật đẹp, hai bên đường những vạt dã quỳ khoe sắc vàng óng đùa nhau trong nắng. Phía xa xa, dãy núi Chư Yang Sin sừng sững như những chàng thanh niên M’Nông vai sát vai đang ưỡn những khuôn ngực trần rắn rỏi che chở cho buôn làng.

Theo chân một số cán bộ của xã Đắk Phơi, tôi tìm đến một căn nhà nhỏ nằm sâu trong buôn Bu Yúk. Amí Sơn – người phụ nữ đang chầm chậm nghe, chầm chậm nói với vốn tiếng Kinh ít ỏi của mình đang ngồi trước mặt tôi chính là người con gái M’Nông trong tấm ảnh ấy. Khi biết ý định của tôi, Amí Sơn như nhanh nhẹn hẳn, bà bước đến chiếc tủ gỗ duy nhất đặt giữa nhà, mở khoá lấy ra một gói nhỏ bằng quyển vở học sinh được bọc bằng nhiều lớp giấy bóng và cẩn thận lấy ra tấm ảnh quý.

Tấm ảnh quý Amí Sơn chụp chung với Bác Hồ.

Tấm ảnh đen trắng đã ngả màu được gìn giữ rất cẩn thận, trong ảnh là Bác Hồ với bộ kaki trắng và đôi dép cao su giản dị đang tươi cười hiền hậu. Ngay phía bên phải của Bác là Amí Sơn trong trang phục truyền thống của người M’Nông, nhỏ nhắn rụt rè trong lần đầu tiên được gặp Bác. Trong ảnh còn có một số đồng bào dân tộc thiểu số khác nữa cùng với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta thời bấy giờ. Và như không cầm lại được những xúc động, Amí Sơn bồi hồi nhớ lại những ngày tháng sôi nổi của mình.

Bà Amí Sơn tên thật là H Yiêng Đắk Chắt, SN 1940, trú ở buôn Liêng Plang, xã Đắk Phơi, huyện Lắk. Khi H Yiêng được 18 mùa rẫy thì cũng là lúc bom đạn của Mỹ, ngụy bắt đầu tàn phá các buôn làng ở Lắk, Krông Bông. Bà con M’Nông ở đây một lòng theo cách mạng và những người thanh niên khoẻ mạnh của các buôn M’Nông đã xung phong vào rừng theo bộ đội lập căn cứ đánh giặc. Còn những cô gái như H Yiêng thì ở lại làm chiến sỹ hành lang chuyên gùi đạn dược, lương thực vào tiếp tế cho khu căn cứ. Địch ruồng bố rất ác liệt nhằm triệt hạ đường tiếp tế của ta vào Đắk Phơi, chúng lùng sục, bắt bớ, đánh đập, giết hại những người bị phát hiện tiếp tế cho bộ đội.

Trước tình hình đó, để tránh bị phát hiện, theo chỉ đạo của tổ chức, H Yiêng Đắk Chắt đã đổi tên họ M’Nông cha sinh mẹ đẻ của mình thành một tên họ mới là H Yuôm Bkrông – một cái tên thuần chất của người Êđê. Trong những ngày tháng hoạt động của mình, cô gái trẻ dũng cảm H Yuôm Bkrông đã cùng chị em trong buôn bí mật gùi nhiều đạn, gạo muối tiếp tế cho bộ đội trong khu căn cứ. Vào một buổi chiều cuối năm 1963, khi nhóm của H Yuôm đang gùi đạn vào rừng thì bất ngờ lọt vào ổ phục kích của địch, chúng bắn như mưa về phía chị em gùi hàng, một số người đã ngã xuống, riêng H Yuôm bị trúng 3 phát đạn vào đầu và người, bị thương rất nặng. Rất may, bộ đội ta từ trong căn cứ đã ứng cứu kịp thời đánh lui quân phục kích, cứu được nhiều người và đạn dược, trong đó có H Yuôm.

Trước tình hình sức khoẻ của H Yuôm cũng như những cống hiến trước đây của chị, năm 1964, tổ chức quyết định bí mật đưa H Yuôm ra miền Bắc để chữa bệnh và học tập để sau này quay trở về phục vụ quê hương. Sau hơn 5 tháng trời đi bộ băng qua các cánh rừng bằng những con đường bí mật, nhóm của H Yuôm gồm chị và một số phụ nữ M’ Nông nữa mới đến Thanh Hoá, và từ đây, H Yuôm được ra Thủ đô Hà Nội bằng tàu hoả.

Trong những ngày tháng lưu lại Thủ đô, sau một thời gian được chăm sóc, sức khỏe của H Yuôm hồi phục, chị đã được bố trí đi học chữ ở một ngôi trường ngoại thành cùng nhiều chị em dân tộc thiểu số đến từ các vùng miền của Tổ quốc. Mặc dù có được cuộc sống an nhàn đầy đủ hơn những ngày đi gùi đạn, nhưng nỗi nhớ buôn làng, bạn bè, đồng đội thì như cái bóng người lúc lên nương cứ đeo bám lấy H Yuôm.

Bà Amí Sơn (giữa) trong buổi giao lưu tại Công an tỉnh.

Và chính trong thời gian này, một món quà lớn đã đến với chị. Tình cờ trong một lần mấy chị em người dân tộc thiểu số đang túm tụm trong phòng với cái lạnh của mùa đông miền Bắc thì có cán bộ của trường đến thông báo rằng H Yuôm và một số người nữa chuẩn bị để đi gặp Bác Hồ. Là người con của buôn làng, cũng như nhiều người già người trẻ khác của Tây Nguyên chưa một lần được gặp Bác, chỉ được nghe qua lời kể của bộ đội trong căn cứ Đắk Phơi, nhưng những câu chuyện bình dị về Người đã để lại những tình cảm đặc biệt trong lòng người con gái M’Nông.

Sau một đoạn đường dài đi bằng ôtô từ ngoại thành vào Thủ đô đến nơi Bác làm việc, mọi người tập trung trước tiền sảnh của phòng họp nơi Bác đang cùng với các đồng chí trong Chính phủ bàn việc nước, ai ai cũng ngóng chờ để được gặp Người. Và cái không khí chờ đợi ấy cũng vỡ òa khi Bác Hồ giản dị từ phòng họp bước ra. Mọi người ùa đến vây quanh Bác, Bác thăm hỏi từng người, gặp H Yuôm, Bác ân cần hỏi han về cuộc sống của bà con người Êđê, M’Nông đang đồng cam cộng khổ với bộ đội đánh giặc… Và cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đấy đã để lại cho H Yuôm một món quà quý giá, đó là tấm ảnh được chụp chung với Bác Hồ mà cho đến bây giờ bà vẫn nâng niu như một báu vật.

Sau lần gặp Bác, vì điều kiện của chiến tranh, chị và nhiều người con Tây Nguyên khác vẫn chưa về được với buôn làng. Theo yêu cầu của cách mạng, H Yuôm đã được đi rất nhiều nơi ở miền Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hoá… ở đây, chị vừa được học tập, vừa tham gia sản xuất để phục vụ chiến trường.

Một điều thú vị là những ngày tháng ở Cao Bằng, H Yuôm đã gặp Y Săm Niê là người Êđê ở xã Ea Sol, huyện Ea H’leo, Đắk Lắk cũng được đi ra Bắc giống như H Yuôm. Nỗi nhớ quê hương và sự đồng cảm đã đưa 2 người đến với nhau và thành vợ thành chồng. H Yuôm và Y Săm cưới nhau và sinh được 3 người con là Y Sơn Bkrông, Y Thủy Bkrông và H’ Hà Bkrông. Những đứa con của H Yuôm vẫn được lấy theo họ đã đổi của bà như là một tấm lòng sắt son với cách mạng. Phải đến hơn 1 năm sau ngày giải phóng, gia đình H Yuôm mới trở về với buôn làng sau hơn 12 năm xa cách.

… Và những nghĩa tình của thế hệ hôm nay

Trở lại với câu chuyện Amí Sơn đi lên Công an tỉnh làm khách mời trong buổi giao lưu “Mẹ cũng là chiến sỹ”. Sau buổi giao lưu đầy cảm động đó, Thượng tá Nguyễn Thị Minh Vẻ, Trưởng ban Công tác phụ nữ Công an tỉnh đã cùng một số chị em nữa tìm đến nhà của Amí Sơn ở buôn Bu Yúk và biết được cuộc sống gia đình bà còn gặp rất nhiều khó khăn. Các con đều đã lớn và lập gia đình, chỉ còn 2 vợ chồng bà già yếu sống trong ngôi nhà ván ọp ẹp. Sức khỏe của ông Y Săm và Amí Sơn đều yếu, cái chân không còn muốn bước lên rẫy nữa. Những mảnh đạn còn sót lại trong người bà ngày nào giờ đây bắt đầu hành hạ những lúc thời tiết thay đổi.

Cảm thông với hoàn cảnh của bà, khi về đơn vị, chị Vẻ đã lên kế hoạch vận động chị em từ các chi hội của Công an tỉnh góp tiền để xây nhà tình nghĩa cho Amí Sơn. Và chỉ trong vài tháng, với tấm lòng và nghĩa cử của những người chiến sỹ Công an Đắk Lắk muốn đền đáp đối với những người có công với cách mạng, căn nhà tình nghĩa trị giá 30 triệu đồng đã được khởi công xây dựng.

Chúng tôi trở lại thăm Amí Sơn đúng vào ngày Công an tỉnh Đắk Lắk và buôn Bu Yúk làm lễ khánh thành ngôi nhà tình nghĩa cho Amí Sơn. Cả buôn Bu Yúk vui như ngày hội, những ché rượu cần mà mọi người trong buôn đem tới chúc mừng được bày ra giữa ngôi nhà mới xây còn thơm mùi vữa. Ông Y Săm cẩn thận trau chuốt lại bộ quân phục, chiếc mũ kêpi và những kỷ niệm chương, kỷ vật thời chiến tranh đã cũ, còn Amí Sơn thì cái bụng vui đến nỗi cứ đi ra đi vào ngôi nhà mới mà chẳng biết làm gì. Ngoài kia, những vạt cúc quỳ vẫn vàng rực reo vui và hương của hoa cà phê, của những chồi non đang đua nhau nảy lộc chuẩn bị đón chào mùa xuân mới…

Viết Nghĩa

cand.com.vn

Chúng tôi đón Bác về lại Thủ đô

Ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Thể thao, nguyên cán bộ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực đường phố. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội). Vì là địa điểm được chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi…

Cách đây 2 năm, ngày 19/8/2009, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức lễ khánh thành nhà truyền thống tại số 1- Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội. Ban tổ chức buổi lễ có mời ông Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao đến dự buổi lễ khánh thành, vì ông có 12 năm công tác trong lực lượng Cảnh vệ và là người vinh dự được bảo vệ Bác Hồ; ông là một trong 8 chiến sỹ cận vệ được Bác Hồ đặt tên: Trường – Kỳ – Kháng – Chiến – Nhất – Định – Thắng – Lợi. Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử Cảnh vệ.

Trong sự kiện quan trọng ấy, vì lý do sức khỏe ông không đến được, nhưng một tháng sau, với tâm huyết của người nghiên cứu lịch sử (trước đây ông làm Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu lịch sử Đảng) và muốn về thăm đơn vị cũ, ôn lại những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, ông đã đến tham quan nhà truyền thống của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ.

Tôi và một số đồng chí làm công tác nghiên cứu lịch sử và truyền thống Cảnh vệ đã được “tháp tùng” ông trong chuyến thăm và được ông tham gia góp ý về sưu tầm tư liệu, sắp xếp trưng bày tư liệu hiện vật. Đặc biệt, gần đây ông cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu về công tác bảo vệ Bác Hồ.

Hỏi về những ngày vinh dự được bảo vệ Bác Hồ, như sống lại những ngày trai trẻ, ông kể lại: Trong 12 năm được vinh dự bảo vệ Bác Hồ, tôi có rất nhiều kỷ niệm về Người. Nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất là được bảo vệ Bác về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tháng 10/1954. Ngày ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi, Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao cùng các cơ quan Trung ương, Chính phủ rời căn cứ địa Việt Bắc về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đi đến thống nhất nước nhà.

Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong tại Đền Hùng. Ảnh tư liệu.

Kế hoạch bảo vệ Bác Hồ về tiếp quản Thủ đô được Trung ương chỉ đạo thống nhất và hết sức chặt chẽ. Trung ương giao cho đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh văn phòng, thành lập một tổ công tác tiền trạm để gấp rút tiến hành những công việc chuẩn bị đón Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan Trung ương, Chính phủ về Hà Nội.

Đồng chí Lê Thanh Nghị trực tiếp chỉ định những đồng chí trong tổ công tác tiền trạm gồm: đồng chí Phan Văn Xoàn, đồng chí Quách Quý Hợi (Cục Cảnh vệ), đồng chí Nông Đức Chiến (Bộ Tổng Tham mưu), đồng chí Tạ Đình Hiểu – Chính uỷ Trung đoàn 600 thuộc Đại đoàn 350 và tôi (ngày đó tôi công tác tại Văn phòng Phủ Thủ tướng, phụ trách thanh niên xung phong) làm tổ trưởng.

Chúng tôi nhanh chóng xây dựng kế hoạch bảo vệ trên đường về, tính toán từng trạm nghỉ dừng chân trên đường, phối hợp với Ban Tài chính Quản trị Trung ương lo địa điểm nơi ở và làm việc của Bác, bố trí lực lượng trinh sát và phối hợp với lực lượng quân đội, Công an các địa phương có liên quan phối hợp bảo vệ.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi được lệnh quay lại chiến khu Việt Bắc để đón Bác Hồ về Hà Nội. Đoàn bảo vệ Bác và một số đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng ngay từ đầu tháng 8/1954 đã chuyển địa điểm từ Yên Sơn (Tuyên Quang) về thôn Vai Cầy, xã Văn Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo đường mà chúng tôi chuẩn bị trước. Tại đây Bác đã triệu tập toàn bộ CBCS bảo vệ và phục vụ để căn dặn trước khi về Thủ đô Hà Nội.

Như người cha già dặn dò con cháu khi đến công tác tại một môi trường mới. Người nói: “Bác cháu ta cùng quen chịu đựng gian khổ, nay về Hà Nội địch chiếm đóng lâu năm đầy rẫy cảnh sống xa hoa, trụy lạc nên dễ nảy sinh tư tưởng thèm muốn hưởng thụ. Vì vậy, Bác dặn các cô các chú phải vững vàng, đừng sa ngã trước “viên đạn bọc đường”. Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn với lực lượng Công an và quân đội về tiếp quản Thủ đô.

Trong những ngày lưu lại ở Vai Cầy, chúng tôi bảo vệ Bác đến thăm Đền Hùng tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao (nay là huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ). Tại đây, Bác đã nói chuyện với Đại đoàn Quân Tiên Phong (tức Sư đoàn 308 – lực lượng chủ lực về tiếp quản Thủ đô); Người đã căn dặn CBCS: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nói chuyện xong, Người trở lại Vai Cầy, nơi dừng chân cuối cùng ở căn cứ địa Việt Bắc trước khi trở về tiếp quản Thủ đô.

Ông Tạ Quang Chiến (người đeo kính) đang tham quan nhà truyền thống Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tháng 9/2009. Ảnh PV.

Ngày 12/10/1954, chúng tôi bảo vệ Bác rời Đại Từ (Thái Nguyên) về thị xã Sơn Tây. Tại thị xã Sơn Tây, Bác ở và làm việc tại một trạm thuỷ lợi ngay chân đê thuộc thôn Phù Xa, xã Viên Sơn. Địa điểm này là ngôi nhà cấp 4 nhưng rất thoáng mát, bảo vệ tiếp cận nơi nghỉ của Người gồm đồng chí Hoàng Hữu Kháng, Long Văn Nhất, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Văn Nền kiêm lái xe.

Ngày 14/10/1954, Bác rời thị xã Sơn Tây về Hà Nội. Không khí những ngày Thủ đô mới được tiếp quản thật náo nhiệt, cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ đỏ rực các đường phố Hà Nội. Những ngày đầu về Thủ đô, Bác ở và làm việc tại ngôi nhà trong nhà thương Đồn Thuỷ (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội).

Phòng Bác ở và làm việc là một gian đầu hồi trên tầng hai có cửa sổ nhìn xuống cổng phía đường Trần Khánh Dư, ở vị trí này rất dễ quan sát khi có động tĩnh lại thoáng mát. Vì là địa điểm được chúng tôi chuẩn bị trước nên công tác bảo vệ không những đảm bảo chặt chẽ mà còn có nhiều thuận lợi. Lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 có một trung đội bảo vệ vòng ngoài, các lối đi, cổng ra vào đều bố trí trạm gác, tuần tra, bên trong do lực lượng bảo vệ tiếp cận canh gác thường xuyên 24/24 giờ.

Bác ở và làm việc tại nhà thương Đồn Thuỷ đến ngày 19/12/1954, đúng 8 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương mời Người về khu Phủ Chủ tịch ở và làm việc. Theo ý định của Trung ương muốn mời Bác về ở và làm việc tại ngôi nhà Phủ Toàn quyền được sửa sang tu bổ lại sạch sẽ để tiện chủ trì các cuộc họp Chính phủ, tiếp khách trong nước và nước ngoài.

Khi nghe đồng chí Nguyễn Lương Bằng báo cáo ý định này của Trung ương, Bác đến xem, Người khen ngôi nhà to và đẹp nhưng quyết định không ở và đề nghị tu sửa lại căn nhà ba gian gần bờ ao cách Phủ Chủ tịch khoảng 300 mét để ở. Căn nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện làm việc cho chế độ cũ nay bỏ không. Người nói: “Một mình Bác ở như vậy là vừa rồi, lại gần Phủ Chủ tịch khi hội họp tiếp khách đi bộ sang cũng tiện”.

Công tác bảo vệ Bác tại đây có nhiều thuận lợi, lực lượng vũ trang của Trung đoàn 600 bảo vệ vòng ngoài; vòng trong lực lượng Cảnh vệ lập các trạm gác hoá trang, có bảo vệ tiếp cận ngày đêm nơi Bác ở và làm việc…

Có thể nói mặc dù tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội ở Thủ đô Hà Nội những ngày mới giải phóng hết sức phức tạp, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ và Pháp như Đại Việt, Việt Nam quốc dân đảng, Phục quốc… tích cực chống phá ta, tìm cách cài lại bọn tay sai để thực hiện âm mưu phá hoại, nhất là tìm cách ám hại lãnh tụ. Nhưng với sự chỉ đạo thống nhất và chặt chẽ của Trung ương và trực tiếp là Bộ Công an, lực lượng Cảnh vệ đã phối hợp với lực lượng quân đội và các lực lượng có liên quan bảo vệ an toàn Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước những ngày về tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Nguyễn Đức Quý

cand.com.vn

Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người

Khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu kéo về xua tan cái oi bức, nóng nực của khí trời mùa hạ 2010; khi những con ve sầu bắt đầu râm ran trong vòm lá, người người lại nô nức đón chào kỉ niệm lần thứ 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh- Vị Cha già kính yêu của dân tộc (19- 5- 1890 và 19- 5- 2010).

Chiều nay, bước trên đường phố Long Xuyên tôi nghe tâm hồn mình xao xuyến lạ. Còn đôi ngày nữa thôi, cả nước lại hân hoan đón chào sinh nhật Bác Hồ- Người đã hy sinh cả đời mình cho non sông, đất nước. Cuộc đời và tấm gương đạo đức của Bác là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Tôi thích nhất là bài “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Khiết Tường

“Tôi hát ngàn lời ca bao la hơn những cánh đồng.
Mênh mông hơn mặt biển Đông, êm đềm hơn những dòng sông” 

Bài hát được cất lên với những giai điệu nhẹ nhàng mà da diết lòng người. Lời ca có một sức mạnh diệu kỳ, lời ca thâu tóm những mênh mông của đất trời, sông núi. Không chỉ có thế, lời bài ca được tác giả hình tượng hóa lên một cách đẹp đẽ lạ thường:

“Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai” 

Những gì tinh tuy nhất, đẹp đẽ nhất, nên thơ nhất trong cuộc sống đã được tác giả khắc họa vào ca khúc của mình. Lời ca đã vượt lên trên tất cả, nó nồng nàn hơn ánh nắng ban mai, đẹp tình hơn cả những cách mai vàng rộn sắc hương. Trần Khiết Tường đã phả vào ca khúc của mình một luồng sinh khí của thiên nhiên đất nước. Phải chăng tâm hồn tác giả đang phơi phới, tác giả cất cao giọng hát, thả rộng hồn mình vào giữa sắc nước mây trời. Đâu là động lực để tác giả yêu đời, yêu cuộc sống đến thế:

“Hùng thiêng hơn núi sông dài là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh” 

Nếu ở những giai điệu ban đầu ta cảm nhận được một Trần Khiết Tường đang yêu đời, yêu cuộc sống, đang say sưa cất cao giọng hát thì đến đây ta hiểu được tại sao tác giả mở rộng hồn mình với thiên nhiên đến thế!

“Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh” 

Hồ Chí Minh- Người đã đem đến cho tác giả một nguồn cảm hứng bất tận, một niềm tin vững chắc vào cuộc sống. Lời bài hát cứ láy đi láy lại cụm từ “Hồ Chí Minh”, “niềm tin” làm cho bài hát càng thêm sức sống. Phải chăng Hồ Chí Minh là một biểu tượng, là niềm tin vững chắc không riêng gì tác giả mà là của toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân loại?!

Bác Hồ đang chỉ huy dàn nhạc

Bác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ tại Đền Hùng

Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, gian khổ hiểm nguy từng giây từng phút đe dọa nhưng người chiến sĩ cách mạng luôn kiên trì gìn lòng, không khuất phục trước quân thù. Họ vẫn luôn giữ vững một niềm tin tất thắng ở ngày mai. Họ tin tưởng vào Đảng, vào tài lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ. Lời của Người là lời của non sông đất nước, là hồn thiêng sông núi.

“Trên cánh đồng miền Nam đau thương mây phủ chân trời.
Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm vui” 

Khi Trần Khiết Tường viết ca khúc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” chính là lúc nhân dân miền Nam đang ra sức đánh Mỹ cứu nước. Nhân dân đang sống trong cảnh gông cùm của gót giày xâm lược, đau thương trùm phủ chân trời.

Mặc dù đau thương, mặc dù sống trong cảnh chinh chiến nhưng nhân dân ta luôn giữ vững niềm tin, niềm vui vẫn hiện mãi trên môi khi “ca lên Hồ Chí Minh”. Nhắc đến Bác, nghĩ về Bác lòng ta càng thêm yêu đời.

“Trên xóm làng miền Nam hình Người như tiếng quân ca, giục lòng vươn cánh bay xa.
Vùng lên giải phóng quê nhà là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh”

Bác Hồ –  Vị lãnh tụ – người cha vĩ đại
sẽ sống mãi trong mỗi trái tim Việt Nam

Bác Hồ là một vị thuyền trưởng tài ba ngày đêm “lèo lái con thuyền cách mạng” đi đến bến bờ. Hình ảnh của Người như tiếng quân ca, giục lòng người hướng về tương lai tươi với nền hòa bình cho đất nước. Nhân dân nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác vùng lên đấu tranh giải phóng quê nhà với niềm tin tất thắng.

Nay bác đã mãi mãi đi xa để lại cho cháu con nghìn tiếc nuối “Bác đã lên đường theo tổ tiên. Mác- Lênin thế giới người hiền”. Con cháu nguyện lòng nhớ mãi ơn Người sẽ luôn gắng sức làm theo lời Người dạy để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” như lòng Bác mong đợi.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ BÁC KÍNH YÊU

danang.violet.vn

Miền Nam luôn trong trái tim Bác Hồ

Trong trái tim của nhà yêu nước vĩ đại Hồ Chí Minh, việc một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được hình dung như cơ thể một con người, là hiển nhiên, là tất yếu, tuyệt đối không thể phân chia, không thể cắt rời, không có bất cứ một sức mạnh nào có thể làm lung lạc được ý chí thống nhất của dân tộc Việt Nam. Trong thời điểm vận nước nguy nan, thế nước yếu như ngàn cân treo sợi tóc, kẻ thù dùng đủ mọi mưu ma chước quỷ và với nhiều thứ vũ khí tối tân, mọi loại binh hùng, tướng mạnh để chia cắt đất nước ta, âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam mà chúng gọi là “Nam kỳ quốc”. Nhưng, Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một và Hồ Chủ tịch khẳng khái tuyên bố: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”(1).

Ra đi năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, đã mang theo trong trái tim mình hai hình ảnh trái ngược: một đô thành tráng lệ – “hòn ngọc Viễn đông” của Tổ quốc – bị bọn thực dân chiếm đóng và những người đồng bào cơ cực, khổ đau, tủi nhục vì mất nước. Qua nhiều năm bôn ba, tắm mình trong phong trào cách mạng thế giới, Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Năm 1927, Người về vùng biên giới Việt – Trung mở lớp huấn luyện cho số cán bộ cách mạng trẻ tuổi của ba miền để chuẩn bị cho việc thành lập một đảng cách mạng chân chính vào ba năm sau. Bài học đầu tiên Người giảng ở lớp học ấy là bài học về tinh thần yêu nước, đoàn kết. Người vạch trần âm mưu chia để trị của thực dân, chúng làm cho dân “chia rẽ phái này, bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì khinh người Bắc nên nỗi yếu đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi”(2). Ba năm sau, Người đã làm một việc quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại nước nhà, tạo ra bước ngoặt lớn trên con đường phát triển của dân tộc là xoá bỏ việc chia rẽ, bài xích lẫn nhau giữa ba tổ chức cộng sản ở ba miền, thành lập một đảng chân chính cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đấy xoá bỏ tị hiềm, ba miền Trung – Nam – Bắc kết đoàn như con một cha, nhà một nóc, sống chết có nhau, no đói, rách lành sẻ chia, đùm bọc, chung sức, chung lòng gìn giữ non sông, dựng xây đất nước.

Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và vô cùng anh dũng của dân tộc ta, từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối (1975), do đặc điểm địa – chính trị mà miền Nam luôn “đi trước, về sau”, là nơi “đầu sóng ngọn gió” của các phong trào đấu tranh giành và giữ vững sự toàn vẹn của quốc gia và bao giờ cũng là “Thành đồng Tổ quốc”. Chính vì thế trong suốt cuộc đời lo toan việc nước, Hồ Chí Minh luôn dành cho miền Nam những tình cảm đặc biệt: miền Nam luôn trong trái tim Người!

Người Việt Nam hôm nay không ai quên những năm khó khăn nhất sau Cách mạng Tháng Tám 1945: Dân đói, ngân khố trống rỗng, thù trong nham hiểm, giặc ngoài hung hãn. Nhưng đó cũng là thời kỳ bộc lộ tinh thần yêu nước quật cường, trí thông minh, óc sáng tạo và lòng tin của đồng bào vào Cụ Hồ, vào Chính phủ kháng chiến. Đồng bào miền Nam mặc dầu ở xa Trung ương, đường giao thông, liên lạc và tiếp viện khó khăn, lại phải trực tiếp đương đầu với các thế lực đế quốc thực dân âm mưu xâu xé, chia lìa Nam bộ ra khỏi đất nước Việt Nam, nhưng nhân dân miền Nam triệu người như một, vững tin vào sự sáng suốt, khôn khéo chèo lái con thuyền cách mạng quốc gia của người thuyền trưởng Hồ Chí Minh. Trái tim của lãnh tụ đã cùng một nhịp đập với hàng triệu con tim yêu nước của đồng bào mình ở miền Nam yêu thương. Trí tuệ sáng suốt và lòng dũng cảm của lãnh tụ đã gặp gỡ trí thông minh, sự can trường, tinh thần anh dũng của nhân dân miền Nam quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Sự cộng hưởng của sức mạnh Thành đồng Tổ quốc, của cả dân tộc với sức mạnh tinh thần của lãnh tụ đã nhân sức mạnh chính nghĩa Việt Nam lên triệu triệu lần.

Sau ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945) chưa đầy một tháng, đồng bào miền Nam đã phải cầm vũ khí để bảo vệ nền độc lập của nước nhà khi thực dân Pháp lén lút đánh úp, chiếm trụ sở UBND Nam bộ tại Sài Gòn. Ngày 30-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra “Lời kêu gọi đồng bào Nam bộ” với những tình cảm thân thiết và một ý chí sắt đá quyết đồng tâm, hiệp lực vì sự sống còn của dân tộc. Người viết: “Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hy sinh chiến đấu…”(3). Riêng với thanh niên Nam bộ, những người con trẻ trung và gan dạ trực tiếp đem xương máu ra giữ gìn nền độc lập, Người đã gửi tới họ những lời chia sẻ, đồng cảm, ngợi ca và khích lệ: “… anh chị em đã phấn đấu cực kỳ anh dũng. Toàn thể đồng bào Việt Nam đều cảm động. Tuy máu đã đổ nhiều, nhưng tôi và toàn thể đồng bào cũng chắc rằng anh chị em thanh niên Nam bộ quyết hy sinh kháng chiến để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Trong cuộc chống xâm lăng này, các bạn đã là bức Vạn Lý Trường Thành vững chắc…

Hỡi anh chị em thanh niên Nam bộ!

Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh… ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”(4).

Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, nghe theo tiếng gọi của Bác Hồ hàng nghìn, hàng nghìn chiến sỹ giải phóng quân ở miền Bắc đã xung phong Nam tiến sát cánh cùng bà con cô bác, anh chị em trong Nam hy sinh chiến đấu và trong số họ, không ít những người còn sống, ở lại trong đó suốt đời, trở thành những đứa con của các ba, các má nơi Thành đồng Tổ quốc. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi không trọn vẹn, miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam còn phải tiếp tục đấu tranh. Những cán bộ, chiến sỹ miền Nam theo Hiệp định Giơ-ne-vơ ra tập kết ở miền Bắc được Đảng và Chính phủ tạo mọi điều kiện để ổn định đời sống, học tập, công tác trong những môi trường thuận lợi. Theo chỉ thị của Bác, Trường Bổ túc Công nông Trung ương trực thuộc Bộ trưởng Bộ Giáo dục được thành lập, đặt ngay tại trung tâm Thủ đô Hà Nội. Nhiều giáo viên giỏi của cả nước được điều động về đây giảng dạy nhằm bồi dưỡng cho những cán bộ, chiến sỹ miền Nam còn trẻ tuổi được học tập, mau chóng hoàn thành chương trình học vấn phổ thông để ưu tiên đưa họ đi đào tạo tại các trường đại học ở trong và ngoài nước. Phần lớn trong số họ sau này đã trở thành những cốt cán trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước, có những người trở thành cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, hàng loạt các trường học sinh miền Nam được xây dựng, tổ chức ăn, ở, dạy và học rất chu đáo. Những lứa học sinh ấy, hầu hết đã trở thành lực lượng chủ lực trong công việc kiến thiết xây dựng miền Nam sau ngày giải phóng. Bác Hồ thường đến thăm các trường có cán bộ và học sinh miền Nam học tập. Người động viên, cổ vũ, khuyên bảo thầy và trò cố gắng thi đua dạy tốt, học tốt để xứng đáng với đồng bào chiến sỹ ta ở miền Nam đang chiến đấu gian khổ với quân thù. Giờ đây chúng ta được chứng kiến kết quả “trồng người” của Bác mà thấy lòng như nghẹn lại trước tấm lòng thương yêu rộng như biển cả và tầm nhìn đến tận mai sau của Bác.

Miền Nam chiến đấu ngoan cường, hy sinh gian khổ, Bác nhiều lần nghẹn ngào, quặn đau khi được báo cáo về sự hy sinh mất mát của đồng bào miền Nam. Nỗi đau, tấm lòng của Bác đã làm cho mấy chục triệu con tim miền Bắc sục sôi… Trùng trùng quân đi như sóng, biết bao trai thanh, nữ tú ở miền Bắc nghe theo lời kêu gọi của Bác đã nô nức xẻ dọc Trường Sơn vào Nam đánh giặc Mỹ. Phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” được nhân dân khắp các cơ quan, trường học, nông thôn, thành thị, miền ngược, miền xuôi hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào “thanh niên ba sẵn sàng”, “phụ nữ ba đảm đang”, nông thôn thi đua “chắc tay súng, vững tay cày”, đảm bảo “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Công trường, nhà máy làm việc ba ca, người ở lại làm thay người ra tiền tuyến. Những đoàn xe băng băng hối hả ngày đêm, nối đuôi nhau ra tiền tuyến. Tất cả, tất cả vì miền Nam ruột thịt! Cả dân tộc tiến lên theo lời hịch truyền của Bác:

“Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! chiến sỹ đồng bào,
Bắc – Nam xum họp, xuân nào vui hơn!”(5).

Khi tuổi cao, sức yếu, Bác vẫn dồn tâm sức cho việc chỉ đạo đấu tranh trên nhiều mặt trận, cho ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, ngoại giao để đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Đêm ngày Bác thao thức, vui buồn trước những chuyển biến của phong trào đấu tranh giải phóng miền Nam! Có lần một đoàn cán bộ miền Nam đến chúc mừng sinh nhật, Bác cảm ơn và nói: “… trước các anh, các chị, trước cảnh êm vui ở miền Bắc đây, tôi thật lấy làm xấu hổ rằng trong Nam chưa được thái bình”(6). Tháng 7-1967, khi trả lời phóng viên báo Granma (Cu-ba) hỏi về tình cảm của Người đối với miền Nam, Người nói: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm trọn nghĩa vụ đối với đồng bào miền Nam; mặc dù như vậy, tôi biết rằng đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn luôn yêu quý đồng bào. ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ”(7). Nhiều lần Bác gửi thư cho Bộ Chính trị, yêu cầu bố trí để Người đi thăm hỏi, động viên đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang chiến đấu gian khổ, nhưng do tuổi Người đã cao, sức yếu nên Bộ Chính trị đề nghị Người tạm lui ngày đi, đợi đến sau ngày giải phóng, đồng bào và chiến sĩ miền Nam sẽ tưng bừng đón Bác vào thăm. Bác không muốn vậy, nên tháng 3-1968 (hơn 1 năm chỉ trước khi Bác qua đời). Bác đã gửi thư cho đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Nhớ lại… chú có ý kiến khuyên B (Bác-TĐH chú) đi thăm miền Nam “sau” ngày ta thắng lợi hoàn toàn. Nhưng chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn… Đi thăm lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em… Có lẽ Chú và các đồng chí khác e sức khoẻ của Bác không cho phép… Nhưng, thay đổi không khí… và sinh hoạt với quần chúng trong hoàn cảnh chiến đấu, sẽ giúp sức khoẻ tiến bộ mau hơn”(8).

Cho đến khi từ giã thế giới này, trái tim Hồ Chí Minh vẫn đau đáu nỗi nhớ miền Nam, chỉ ưu lo cho dân nước sau ngày thống nhất. Trên lồng ngực Hồ Chí Minh vẫn chỉ có chiếc áo ka ki bạc màu vì sương gió mà không hề có một tấm huy chương! Người Việt Nam chúng ta và mọi triết gia chân chính trên trái đất này đều hiểu rằng: Hồ Chí Minh xứng đáng với một tấm huân chương duy nhất, tấm huân chương cao quý mang tên giản dị và trường tồn cùng dân tộc là: HUÂN CHƯƠNG NHÂN DÂN. Và, như Người từng mong muốn, đồng bào miền Nam yêu quý và anh hùng thay mặt đồng bào cả nước trao tặng Người tấm huân chương cao quý đó.

______________

(1, 3, 4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 4, tr.246, 77, 79. (2) Sđd, tập 2, tr.267. (5) Sđd, tập 12, tr.425. (6) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXBCTQG, tập 3, tr.202, 203. (7, 8) Sđd, tập 10, tr.373, 57.

Trần Xuân Đỉnh

xaydungdang.org.vn