Thư viện

Thiếu nữ Mường 5 lần vinh dự được gặp Bác

Với bất cứ mỗi con người Việt Nam, được gặp Bác Hồ kính yêu là niềm vinh dự, tự hào hơn tất cả.

Được gặp Bác Hồ là phần thưởng lớn nhất với mỗi con người.

muong 1
Bà Hiền bên kỷ vật thiêng liêng Bác Hồ tặng

Trở về Hòa Bình lần này, chúng tôi tới thăm nhà người thiếu nữ Mường năm xưa đã vinh dự 5 lần được gặp Bác Hồ. Thiếu nữ Mường năm xưa giờ đã trở thành bà. Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng niềm vinh dự và tự hào những lần được gặp Bác Hồ kính yêu vẫn còn nguyên vẹn, như mới chỉ diễn ra ngày hôm qua. Bà Nguyễn Thị Hiền lật giở lại từ ký ức, những phần thưởng cao quý trong cuộc đời của mình. “Năm 1965 tôi được tham dự với tư cách là đại biểu phụ nữ thành phố, được gặp Bác. Đó là lần thứ 5, tôi vinh dự được gặp Bác Hồ”

Với mỗi con người, dù chỉ một lần được gặp Bác Hồ đã là niềm vinh dự và tự hào lớn. Từ năm 1955 đến năm 1962 khi được chọn đi học tại Trường Kathe – Kollwitz – Heim – Moritzburg (Cộng hòa Dân chủ Đức) thiếu nữ Mường Nguyễn Thị Hiền đã cùng với Đoàn du học sinh Việt Nam có 4 lần vinh dự được gặp và nói chuyện với Người. Những lần gặp ấy, Bác đã ân cần căn dặn, các cháu phải luôn học hành chăm chỉ, chăm ngoan. “Được gặp Bác Hồ, đó chính là phần thưởng lớn nhất trong cuộc đời mà tôi có được”  – bà Hiền tự hào.

Phần thưởng đó xứng đáng với những cố gắng lớn lao của cô bé Nguyễn Thị Hiền từ thủa quàng khăn đỏ. Những năm đó, ở Hòa Bình cửa ngõ Tây Bắc đã nở rộ phong trào thi đua sôi nổi trong thiếu niên, nhi đồng hưởng ứng cùng với đất nước thi đua học hành trở thành con ngoan trò giỏi. Tỉnh đoàn Hoà Bình phát động phong trào “Thiếu nhi Hoà Bình làm công tác Trần Quốc Toản”. Trong phong trào này, cô bé Nguyễn Thị Hiền đã chăm ngoan học giỏi, tích cực tham gia các hoạt động giúp đỡ gia đình chính sách, giúp đỡ các chú thương binh…

muong 2
Bác Hồ trong chuyến thăm du học sinh tại Đức. Bà Hiền vinh dự 

được gặp Bác. (Bà Hiền mặc áo sơ mi trắng)

Với những kết quả nổi bật, cô bé Nguyễn Thị Hiền cùng với bạn Nguyễn Thị Tân ở xóm Đúng, thành phố Hòa Bình được nhận danh hiệu “Thiếu nhi gương mẫu toàn tỉnh”, sau đó được Trung ương đoàn chứng nhận “Thiếu nhi gương mẫu toàn quốc”. Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Thị Tân trở thành tấm gương sáng cho thiếu nhi Hoà Bình thời bấy giờ.

Nổi bật nhất, Đoàn viên thanh niên tỉnh Hòa Bình còn phát động phong trào “Quyết tâm học tập bạn Hiền, bạn Tân” trong thiếu nhi toàn tỉnh. Ai cố gắng sẽ được nhận phần thưởng đi dự học tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Và người thiếu nữ Mường Nguyễn Thị Hiền nhờ đó mà vinh dự được gặp Người.

Kỷ vật vô giá

Trong thời gian học ở Cộng hòa Dân chủ Đức, 149 học sinh chăm ngoan của Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Bác Hồ. Bác Hồ đã tặng mỗi cháu một chiếc chăn len để đề phòng thời tiết giá lạnh ở nước bạn. Chiếc chăn len giờ bà Hiền dành nơi trang trọng trong tủ kính để lưu giữ. Đối với bà Hiền đây không chỉ là kỷ vật và còn là món quà vô giá trong cuộc đời.

Sau 2 năm học tập tại nước Bạn, cuối tháng 7 năm 1957, trong đợt Bác Hồ dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam sang thăm và làm việc tại nước Đức, Nguyễn Thị Hiền được vinh dự chọn là người ra sân bay tặng hoa Bác. Chuyến thăm ấy, Bác Hồ đã tới mái trường đang có những học sinh Việt Nam học để động viên, tặng quà. Tại đây, Bác đã đi thăm nơi ăn ở và học tập của Đoàn học sinh Việt Nam. Từ thành tích chăm ngoan, học giỏi, Nguyễn Thị Hiền được trực tiếp báo cáo kết quả học tập của Đoàn học sinh Việt Nam tại với Bác Hồ.

muong 3
Ngôi trường bà Hiền từng học trong thời gian đi du học tại Đức

Bà Hiền bồi hồi nhớ lại: “Năm 1959 tôi vinh dự là một trong 2 học sinh được Bác gửi tặng Huy hiệu”. Cũng trong năm 1959, Đoàn học sinh Việt Nam về nước nghỉ hè đã được đến Phủ Chủ tịch báo cáo thành tích học tập với Bác”. Sau 8 năm vừa học văn hoá, vừa học nghề tại Đức, Nguyễn Thị Hiền có trong tay bằng kỹ sư Hoá phân tích công nghiệp hạng ưu.

Trong thời gian chờ phân công công tác, Nguyễn Thị Hiền cùng các bạn lại thêm một lần nữa được gặp Bác khi Người đến thăm Đoàn tại nơi ở tập trung. Không lâu sau, gần 150 học sinh Trường Moritzburg trong đó có bà Hiền, đã được Bộ Giáo dục phân công công tác ở nhiều vị trí. Nguyễn Thị Hiền được về làm phiên dịch cho chuyên gia người Đức giúp đỡ Việt Nam xây dựng Nhà máy Thuỷ tinh ở Hải Phòng.

Trên cương vị công tác mới mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng Nguyễn Thị Hiền từng bước vượt qua để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đạt được nhiều thành tích trong công tác. Năm 1965, bà được bầu vào Đoàn đại biểu phụ nữ thành phố Hải Phòng tham dự Đại hội thi đua 5 tốt của phụ nữ toàn miền Bắc. Tại Đại hội, Nguyễn Thị Hiền lại thêm một lần nữa được chào đón Bác khi Người đến dự Đại hội thi đua.

Được gặp Bác Hồ là ước mơ của mỗi con người Việt Nam. Chính vì thế mặc dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ, ở nhiều cương vị công tác khác nhau nhưng trong tâm trí, trái tim của bà Nguyễn Thị Hiền, giờ đây những lời dặn dò ân cần của Bác Hồ kính yêu vẫn còn đọng mãi.

Mạnh Thu
Theo http://www.anninhthudo.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Cha con nhà tình báo và bức ảnh cô bé ngồi trong lòng Bác Hồ

Cô bé Đào Thị Minh Vân sinh đúng vào đêm 19/12/1946, khi tiếng súng Toàn quốc kháng chiến chống Pháp  vừa nổ. Cha cô là Đào Phúc Lộc, một  người dường  như sinh ra là để làm công tác tình báo, phản gián. Từ năm 1939, căn nhà thuê ở hẻm Cô Ba Chìa, Hải Phòng, nơi chị em ông tá túc đã thành nơi nuôi giấu, trị bệnh cho đồng chí Tô Hiệu, đồng thời cũng là nơi bí mật gặp gỡ, hội họp bàn bạc kế hoạch của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại đây, giữa năm 1939, Đào Phúc Lộc đã được đồng chí Tô Hiệu kết nạp vào Đảng. Năm đó, anh mới 16 tuổi.

Tháng 5 năm 1945, được sự tiếp sức của Quốc Dân đảng Trung Quốc, lực lượng Việt Cách tại Quảng Ninh do Vũ Kim Thành chỉ huy đã đánh chiếm thị xã Móng Cái. Với chiêu bài hợp tác chống Nhật, chúng đã đề nghị hợp tác với đội vũ trang tuyên truyền của Việt Minh, nhưng đầy dã tâm. Ngay sau đó, chúng trở mặt, bắt, giam lỏng và  âm mưu thủ tiêu toàn đội.

Bằng bản lĩnh và tài thuyết khách, Đào Phúc Lộc tay không tấc sắt đã một mình vào tận hang ổ Việt Cách ngăn chặn được âm mưu của chúng và lập kế phục rượu cho cả đám Việt Cách say mềm, giải thoát cho 33 chiến sỹ. Trong số này có chị Hoàng Minh Phụng, sau này đã trở thành vợ anh. Lấy họ của chị, anh đã đặt cho mình một cái tên mới là Hoàng Minh Đạo, hàm nghĩa là “con đường sáng”, con đường cứu nước.

Ngày 27/5/1948, Minh Vân mới 18 tháng tuổi, bà Hoàng Minh Phụng đã qua đời vì bạo bệnh tại chiến khu Việt Bắc. Ông Hoàng Minh Đạo gửi cô về Hà Nội nhờ một cơ sở cách mạng là gia đình bà Nguyễn Thị Kíu, một thương gia giàu có ở 41 Lò Sũ, Hà Nội nuôi hộ. Với vai trò Trưởng phòng Phản gián thuộc Cục Tình báo Trung ương vừa được tổ chức lại, tháng 10 năm 1948, Hoàng Minh Đạo được Bộ Quốc phòng biệt phái vào miền Nam giữ vai trò Trưởng ban Quân báo Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Kể từ đó, ông không một lần có dịp trở lại thăm con. Minh Vân cũng không một lần còn được thấy mặt cha. Nhà tình báo xuất sắc Hoàng Minh Đạo đã hy sinh trên dòng Vàm Cỏ Đông ngay vào đêm Noel 24/12/1969.

Theo yêu cầu của chính đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Linh, Trung ương Cục miền Nam đã hai lần tổ chức tìm kiếm dấu vết thi thể ông. Cả hai cuộc tìm kiếm ròng rã đều do Tư lệnh Phân khu I Sài Gòn – Gia Định Tám Lê Thanh (sau này là Trung tướng Tám Lê Thanh, Chính ủy Bộ đội Biên phòng Việt Nam) trực tiếp chỉ huy, đều không mang lại kết quả.

Khi hy sinh, Hoàng Minh Đạo đang là Bí thư Phân khu I Khu Sài Gòn – Gia Định kiêm Chính ủy Lực lượng Biệt động Sài Gòn. Trước đó, trong một thời gian dài, ông đã từng là người thiết lập nên cả một mạng lưới tình báo cách mạng ở miền Nam, từng giữ trọng trách Phó ban Binh vận Trung ương Cục. Đêm hy sinh, ông đang trên đường về Trung ương Cục dự Hội nghị. Trong hành lý mà ông mang theo có một bộ tài liệu tuyệt mật, độc bản đánh giá đầy đủ về thắng lợi, tổn thất, tương quan lực lượng giữa ta và địch sau Tết Mậu Thân 1968. Đó là tài liệu hết sức quan trọng với cả ta lẫn địch. Nếu đoạt được nó, chắc chắn phía địch sẽ triệt để khai thác tuyên truyền để tạo ra sự phá hoại mang tính chiến lược đối với phong trào cách mạng và công cuộc giải phóng miền Nam.

Thế nhưng, cho đến tận ngày chiến tranh kết thúc và hơn 5 năm sau đó, phía ta không tìm lại được tập tài liệu nhưng phía địch vẫn chưa bao giờ có một câu một dòng nào đề cập đến nó, chứng tỏ chúng không thu giữ được, cũng không hề hay biết gì về tập tài liệu này. Đến tận phút cận kề cái chết, Hoàng Minh Đạo vẫn dùng chút hơi thở cuối cùng để cất giấu hoặc tiêu hủy tài liệu, bảo vệ bí mật của Đảng, của cách mạng. Và ông đã là người chiến thắng!

Vài ngày sau đêm bão lửa, ông Năm Tờ, một người dân sống bằng nghề đóng giàn đáy trên sông Vàm Trảng, một nhánh chia  nước từ sông Vàm Cỏ Đông đã phát hiện ra một xác chết đang trôi bập bềnh theo con  nước. Lúc này, lính bảo an và dân vệ đang ráo riết tuần tra lục soát. Đoán chắc đó là cán bộ cách mạng đã hy sinh trước đó mấy đêm, ông Năm Tờ đã cùng một số người dân ấp An Thới, xã An Hoà, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh tìm cách đánh lừa địch, giấu cái xác trên sông nhiều ngày. Đợi đến khi địch ngừng cuộc lùng sục, họ đã vớt thi thể lên, bí mật đưa về tẩm liệm, chôn cất trên phần đất của bà Tư Khánh, một người dân thôn An Thới. Ngôi mộ bí mật, không mộ chí quanh năm không khi nào vắng bóng khói hương.

Sau nhiều năm tháng tìm kiếm, ngày 4/4/1998, cô con gái Đào Thị Minh Vân mới tìm được nơi người cha của cô yên nghỉ. Nhờ 2 chiếc răng bọc bạc ở hàm dưới, những đồng chí đồng đội của cha cô đi cùng cô trong chuyến kiếm tìm đã nhận ra ngay người dưới mộ là Hoàng Minh Đạo – người anh lớn, người thầy, người đồng chí đồng  đội mà họ hằng kính trọng, yêu quý.

Tất nhiên, những trang tư liệu hào hùng về nhà tình báo, liệt sỹ Hoàng Minh Đạo, thì phải mãi sau này bà Minh Vân mới có dịp tìm hiểu tường tận. Còn suốt những năm tháng tuổi thơ, ngoài cái tên thật là Đào Phúc Lộc, cô hầu như không biết gì về thân phận và nhiệm vụ của cha mình.

cha con nha tinh baoBé Đào Thị Minh Vân ngồi trong lòng Bác Hồ.

Sau năm 1954, cô mới biết cha mình hoạt động cách mạng, vì nhiệm vụ nên còn phải ở lại miền Nam chiến đấu lâu dài. Minh Vân có thêm nhiệm vụ là chăm sóc bé Đào Minh Ngọc, em cùng cha khác mẹ được đưa từ miền Nam ra và cũng được gửi nhờ gia đình bà Kíu nuôi nấng.

Bà Bùi Ngọc Hường, người vợ thứ hai của Hoàng Minh Đạo, mẹ kế của Minh Vân chỉ tập kết ra Bắc một thời gian ngắn, sau đó lại quay về Nam tham gia chiến đấu. Người con thứ hai của bà với Hoàng Minh Đạo tên là Đào Thị Minh Thu, ngày mẹ xuống tàu tập kết (tháng 10 năm 1954) chỉ mới hơn một tháng tuổi nên đành phải gửi nhờ một gia đình cơ sở ở Cần Thơ nuôi hộ.

Tháng 6 năm 1961, sau  khi bà Hường trở về Nam, hai người có thêm một con gái nữa, đặt tên là Đào Thị Minh Hồng. Như thể định mệnh, những người con của nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đều phải dự phần chia ly với cha mẹ. Từ tấm bé, mỗi người được gửi một phương, chẳng ai được sống sum vầy cùng cha mẹ.

Ở miền Bắc, họa hoằn lắm Minh Vân mới một lần được nhận thư cha. Thư chuyển bằng đường giao liên bí mật, đi mất nhiều tháng trời mới đến tay người nhận nên cô bé cũng chẳng thể biết chính xác cha viết thư cho mình từ đâu. Trong bức thư nhận được vào cuối năm 1962, ông Năm Thu (một bí danh  khác của Hoàng Minh Đạo) thông báo cho Minh Vân biết: “Ba hiện làm ăn ở Nam Vang. Ba bị bệnh gan to, lách to… Ba nhớ các con nhiều và yêu hai con lắm!”. Phần tái bút, ông ghi: “Ba đã nhận được tấm ảnh con ngồi trong lòng Ông Nội. Ba rất hạnh phúc và phấn khởi!”.

Đọc thư, Minh Vân rất sung sướng  nhưng… không hiểu gì cả. Cô nói với bạn bè: “Ông nội mất trước khi ba mẹ mình lấy nhau. Vậy mà ba lại bảo đã nhận được ảnh mình ngồi trong lòng ông nội. Không khéo công việc nhiều quá, ba mình lẩm cẩm mất rồi”.

Sau ngày miền Nam giải phóng, cô cán bộ ngành Ngoại giao Đào Thị Minh Vân được cử vào miền Nam công tác. Cô đã có dịp gặp rất nhiều đồng chí, đồng đội, những  người anh em thân thiết của cha mình. Các bác Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Hai Văn (Phan Văn Đáng, Phó Bí thư Trung ương Cục), Tư Thắng (Huỳnh Việt Thắng, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao), Bảy Dự (Nguyễn Võ Danh, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh), Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Mai Chí Thọ, Thượng tướng Cao Đăng Chiếm, Thượng tướng Lâm Văn Thê, Trung tướng Hà Ngọc Tiếu, Thiếu tướng Cao Pha… đều nhắc đến cha cô với tất cả sự kính trọng, khâm phục và tiếc thương. Người cha đã khuất, qua hồi ức của những bạn bè đồng chí thân thiết nhất đã sống lại trong lòng cô con gái như một nhân cách lớn, một đời đầy phấn đấu hy sinh với những đóng góp lớn cho cách mạng và dân tộc.

Tất nhiên, ông không hề lẩm cẩm. Một hôm, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã mời Minh Vân đến, trao lại cho cô một tập tài liệu cá nhân lẫn hình ảnh của liệt sỹ Đào Phúc Lộc mà ông đã cẩn trọng gìn giữ hàng chục năm ròng. Chọn riêng một tấm ảnh sáng, rõ nhất trong toàn bộ xấp ảnh, đồng chí Nguyễn Văn Linh nói với cô: “Vì công tác, ba cháu thường  xuyên phải vào ra vùng địch nên đã gửi những tấm ảnh này lại cho bác Út (tức bác Nguyễn Văn Linh) giữ giùm. Tấm ảnh này Bộ Quốc phòng gửi vào cho ba cháu hồi đầu năm 1962. Nhiều chú bác, ở Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam rồi Thành ủy Sài Gòn – Gia Định đã từng chuyền tay nhau ngắm tấm ảnh đặc biệt này. Giữa rừng sâu gian khổ hay dưới địa đạo tối tăm, bức ảnh này đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với tất cả cán bộ, chiến sỹ tại cơ quan đầu não của cách mạng ở miền Nam. Với những cô chú có con em tập kết hoặc được gửi ra miền Bắc học tập, tấm ảnh càng quý giá. Nó đã giúp nhiều người tăng phần yên tâm tin tưởng, rằng con em mình ở miền Bắc đang được Bác Hồ, Đảng, Chính phủ và đồng bào ngoài đó hết lòng quan tâm chăm sóc. Với riêng ba Đạo của cháu, đó là một vinh dự lớn. Giờ bác giao lại cho cháu. Cháu hãy sống xứng đáng với tư cách là người có mặt trong tấm ảnh. Ba cháu sẽ không mong gì hơn thế”.

Đỡ tấm ảnh, cô gái xúc động trào nước mắt. Không cần ai gợi nhớ hay giải thích, Minh Vân cũng nhận ra ngay cô bé đang ngồi giữa lòng Bác Hồ trong tấm ảnh ấy chính là mình. Năm 1958, Minh Vân chưa đầy 12 tuổi. Cô là học sinh nhỏ nhất trong số 98 học sinh Việt Nam được gửi sang Tiệp Khắc học tập tại Trường Thiếu nhi Quốc tế của nước Bạn. Một hôm, Bác Hồ và Chủ tịch nước Tiệp Khắc cùng khá đông cán bộ cao cấp của hai Nhà nước đến thăm trường. Một cán bộ trong đoàn khách hỏi anh Đoàn Minh Dũng, người phụ trách Đoàn học sinh Việt Nam: “Cháu Minh Vân là cháu nào?”. Anh Dũng gọi ra, Minh Vân đã hết sức sung sướng khi bất ngờ nhận được thư và quà của cha mình. Quà là một chiếc bấm móng tay, một chiếc kéo nhỏ và một chiếc bút máy. Lá thư chỉ có mấy dòng, ghi trong một tờ giấy nhỏ bằng những con chữ cũng nhỏ li ti: “Có chú làm ăn ở chỗ ba ra, ba gửi cho con mấy món quà nhỏ mà ba nghĩ là con gái ba cần dùng đến. Ba yêu con và nhớ con nhiều. Ký tên: Lộc”.

Sau những tiết mục văn nghệ, đoàn học sinh được Bác Hồ chia kẹo. Khi chụp ảnh, ai cũng cố chen vào để được đứng ngồi gần Bác. Minh Vân bé quá, không làm sao chen được, suýt nữa đã oà khóc. Bất ngờ, người cán bộ chuyển thư và quà lúc nãy đã tìm, bế bổng Minh Vân lên và đặt cô bé ngồi vào lòng Bác. Sung sướng quá, ngỡ như được ngồi giữa lòng một ông Tiên, đầu óc Minh Vân cứ bồng bềnh, không để ý gì đến bao nhiêu ánh đèn flash của máy quay phim, máy ảnh đang loé lên liên hồi đến loá cả mắt.

Thời khắc đó, cô bé nhớ như in. Nhưng còn quá non nớt, cô lại không kịp nhận ra nỗi xúc động của cha mình khi viết trong thư là “đã được nhìn thấy ảnh con ngồi trong lòng Ông Nội”. Phải gần 20 năm sau, ký ức mới có dịp vỡ oà. Có lẽ, để đến được tay người cha – người lính đang chiến đấu ở miền Nam, bức ảnh ấy đã phải chu du gần nửa vòng trái đất, vượt trăm sông nghìn núi với muôn trùng lửa đạn, đủ biết tấm lòng của hậu phương lớn miền Bắc đối với đồng bào, đồng chí ở miền Nam sâu nặng đến mức nào.

Bức ảnh đó là một thời khắc lịch sử, là kỷ vật vô giá của người cha để lại. Với bà Minh Vân, cho đến khi mái đầu đã bạc, mãi mãi vẫn là kỷ vật thiêng liêng nhất

Nguyễn Hồng Lam
Theo Báo Công an nhân dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

 

 

 

Nghệ nhân đan ghế mây tặng Bác Hồ

“Suốt cuộc đời làm nghề mây tre đan, hạnh phúc lớn nhất của chúng tôi là được đan ghế tặng Bác Hồ. Hiện nay, chiếc ghế tinh xảo vẫn đang được trưng bày trang trọng ở nhà sàn của Bác”, nghệ nhân 70 tuổi Nguyễn Văn Minh tự hào về đôi tay tài hoa của mình.

Trong căn nhà cấp 4 đơn sơ nằm cuối con ngõ nhỏ của làng Ngọc Động xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên (Hà Nam), nghệ nhân Nguyễn Văn Minh, tóc đã ngả màu muối tiêu nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, đôi tay thoăn thoắt vừa đan ghế mây vừa hào hứng kể về những ngày tháng hạnh phúc nhất của cuộc đời.

nghe nhan 1
Nghệ nhân Nguyễn Văn Minh luôn tự hào
về những ngày đan ghế mây tặng Hồ Chủ tịch.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề mây tre đan, từ nhỏ, ông Minh đã sớm theo nghề của gia đình. Năm 10 tuổi, ông Minh trở thành thợ lành nghề trẻ nhất của làng Ngọc Động. Năm 1957, khi vừa bước sang tuổi 16, làng Ngọc Động được tin khánh thành ngôi nhà sàn ở Phủ Chủ tịch. Suốt đêm, những nghệ nhân của làng cứ trằn trọc, thao thức không biết tặng Hồ Chủ tịch cái gì. Sau khi ý tưởng tự làm ghế mây để tặng được cả làng thông qua, toàn bộ dân Ngọc Động cùng nhau thi đua tay nghề, chọn ra tốp thợ giỏi nhất để làm bộ ghế đặc biệt. Vượt qua những nghệ nhân kì cựu, chàng trai Nguyễn Văn Minh trở thành thợ trẻ nhất trong tốp 7 người được làm ghế mây để tặng Bác.

Sau khi họp bàn, phân công người chọn mây, uốn khung, kéo sợi, sơn màu, người thợ trẻ được phân công khâu quan trọng nhất của chiếc ghế là kéo sợi mây. Trong mấy tháng, những người thợ thay nhau vào các khu rừng già ở vùng Tây Bắc và Thanh Hóa để chọn những cây mây có tuổi đời trên 20 năm, không bị cụt ngọn, không bị kiến đục, thân phủ màu vàng óng. Sau khi xử lí bằng cách ngâm dưới bùn nhão và phơi khô, cây mây được kéo thành các sợi nhỏ rồi chuốt thật bóng và dẻo.

Tiếp theo, các nghệ nhân phải đi chọn những cây gỗ quý, có tuổi đời trăm năm, không mối mọt để làm khung ghế. Trong hơn 1 tháng, những sợi mây nhỏ xíu nhưng vàng óng được đan thành một bộ ghế với những đường nét tinh xảo. Đến khâu cuối cùng, các nghệ nhân phải lên vùng Phú Thọ hái quả cây sơn để lọc mủ và đun 3 ngày 3 đêm trên lửa để làm nên một loại sơn dầu đen bóng, phủ lên khung chiếc ghế mây.

Bộ ghế salon mây 6 chiếc và một ghế chao dài 1,8 mét, rộng nửa mét, hai bên có tay vịn, khung ghế có thể lắc lư qua lại được hoàn thành trong sự ngỡ ngàng của người dân Ngọc Động. Bộ ghế hoàn thành, cả làng kéo đến xem và trầm trồ khen ngợi.

Sau đó, những người làng Ngọc Động cùng nhau mở hội, đưa chiếc ghế theo đường xe lửa đến Phủ Chủ tịch. Cuối năm 1957, Hồ Chủ tịch về ở và làm việc tại nhà sàn, chiếc ghế chao được kê ở tầng 1 dành cho Bác nghỉ ngơi sau những giờ phút làm việc căng thẳng.

“Ngày bộ ghế được đặt trong Phủ Chủ tịch, được Bác Hồ sử dụng, những người thợ Ngọc Động chúng tôi mừng đến rơi nước mắt. Tài năng của những nghệ nhân chúng tôi được Bác Hồ và Chính phủ ghi nhận, điều mà không phải làng nghề nào cũng may mắn có được”, lão nghệ nhân 70 tuổi mân mê chiếc ghế chao mây trong nhà riêng vừa tâm sự.

Cụ Minh cho biết, chiếc ghế mây cụ đang sử dụng chính là phiên bản của chiếc ghế chao trong nhà sàn Bác Hồ. Sau khi đóng xong chiếc ghế tặng Bác, nghệ nhân Minh đã đo lại tất cả các thông số và kích thước, vài năm sau, cụ Minh đã làm thêm một chiếc ghế y nguyên để làm kỉ niệm.

nghe nhan 2
Chiếc ghế mây trong nhà ông Minh được
làm theo nguyên bản chiếc ghế trong Phủ Chủ tịch.

Năm 1958, Hợp tác xã Việt Tiến của tổ hợp làng nghề Ngọc Động nhận được một món quà 50 đồng và lá thư của Hồ Chủ tịch với lời nhắn: “Bác đã nhận được quà của các chú. Bác trích tiền tiết kiệm của Bác dành dụm được tặng các chú 50 đồng làm vốn để các chú khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống mây tre đan ở địa phương”. Số tiền Hồ Chủ tịch tặng được dùng để mở rộng xưởng sản xuất. Từ đó, các thế hệ nghệ nhân của làng nghề Ngọc Động luôn quyết tâm phát triển nghề mây tre đan như là một hướng thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Hiện nay, Ngọc Động là một trong những làng nghề mây tre đan nổi tiếng cả nước, hàng triệu sản phẩm mây tre đan của làng nghề đã vươn sang các thị trường khó tính ở Châu Âu, Châu Mỹ, Tây Á…

Năm 1990, nhân kỉ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghệ nhân Nguyễn Văn Minh cùng nhóm nghệ nhân gồm Nguyễn Văn Truyền, Nguyễn Văn Bính và Nguyễn Thế Chính được mời ra Hà Nội để sửa lại bộ ghế mây trong nhà sàn. Nhìn lại bộ sản phẩm ngày xưa vẫn được đứng cạnh những món quà khác của bạn bè khắp năm châu trong ngôi nhà sàn giản dị, những người thợ làng Ngọc Động xúc động đến nao lòng. Một số sợi mây bị đứt nhanh chóng được các nghệ nhân sửa lại theo nguyên bản. Sau đợt này, ông Minh được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh.

nghe nhan 3
Tốp thợ làm ghế mây trong một lần ra thăm nhà Bác.

“Với chúng tôi, được đan ghế tặng Bác Hồ là niềm tự hào lớn nhất. Những ngày sinh nhật, ngày giỗ Bác, những người thợ Kim Động năm xưa lại bồi hồi xúc động. Bác Hồ không chỉ là vị lãnh tụ mà còn là người cha rất đỗi thân thương”, lão nghệ nhân Nguyễn Văn Minh bồi hồi tâm sự.

Nguyên Khoa
Theo 
vnexpress.net

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với miền Nam – miền Nam với Bác Hồ

Bác Hồ vun xới cây vú sữa của đồng báo miền Nam gửi ra biếu Bác

Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sỹ miền Nam

Tấm lòng của Bác với miền Nam

…. Năm 1963, ba năm sau Đồng khởi, Bác Hồ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng triệu tập tôi ra Hà Nội báo cáo tình hình. Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp, tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam. Vừa ngồi được một tí đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo nâu, đi chân đất. Bác nói:

– A, chú Cúc đấy phải không. Chú ở miền Nam ra, trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân miền Nam. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung ương cục đóng ở đâu?

Tôi chỉ Tây Ninh và thưa:

– Thưa Bác đóng ở Tây Ninh ạ.

Bác liền hỏi:

– Tôi nghe là ở Tây Ninh trước kia, hồi kháng chiến chống Pháp, các đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà và Ban lãnh đạo Phân liên khu miền Đông rất khó khăn về gạo, phải tích từng lon. Thế bây giờ thì thế nào? Mỗi tháng mỗi người được bao nhiêu?

– Thưa Bác, gần 30 ki-lô-gam.

– Tới gần 30 ki-lô-gam cơ à. Nhưng mà đó là các chú hay chiến sỹ?

– Dạ, đó là anh em chiến sỹ thanh niên, chứ chúng cháu không ăn hết được.

– Thế thì tốt lắm. Nhưng làm sao để được như vậy?

– Dạ, đó là nhờ dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ sau Đồng khởi, bà con ở miền Đông Nam bộ đẩy mạnh đấu tranh chính trị, theo đường lối “hai chân, ba mũi”, vừa chống địch càn quét đánh phá, vừa đẩy mạnh sản xuất nên bây giờ bà con đã có đủ gạo ăn và nuôi khánh chiến. Ta cũng đã phá được thế bao vây chia cắt của địch giữa các vùng. Cho nên đảm bảo được những nhu cầu cần thiết yếu cho cả đồng bào và chiến sỹ, không đến nỗi khó khăn như thời kháng Pháp.

– Tốt lắm các chú và nhân dân làm giỏi đấy. Thế nhưng liệu có được lâu không?

– Thưa Bác, khi chưa làm thì chưa có kinh nghiệm. Đã làm rồi thì càng thấy rõ trên thực tế là đường lối của Đảng rất đúng. Cho nên chắc chắn là sẽ giữ được lâu dài.

Quả thật, những năm về sau, mãi đến mùa xuân năm 1975, đồng bào và chiến sỹmiền Đông vẫn không bị đói. Hồi năm 1952, ở miền Đông Nam Bộ ta chỉ có hai Trung đoàn, mà chỉ sau một trận lụt, cả nhân dân và bộ đội đều bị đói, phải ăn củ mì, phải đưa bộ đội xuống miền Tây (vùng Đồng Tháp) để có gạo ăn. Số còn lại mỗi người mỗi tháng chỉ có năm lít gạo.

Tôi rất xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sỹ cán bộ. Từ câu hỏi đó, Bác hỏi đến phong trào tình hình chung, rồi Bác phân tích, Bác khen làm như thế là giỏi và hướng dẫn, chỉ vẽ thêm cách làm cho thời gian tới.

Năm 1968, tôi lại có dịp ra báo cáo tình hình. Lúc này Bác đang mệt. Lần đó tôi đi cùng đồng chí Trần Độ. Đồng chí Vũ Kỳ (Thứ ký của Bác, hôm đó cũng có mặt) báo cho biết là Bác mời cơm tôi và anh Trần Độ. Được Bác mời cơm là một vinh hạnh lớn, nhưng nghe Bác mệt, cả tôi và anh Trần Độ đều hơi ngài ngại.

Hôm đó, cả tôi, anh Trần Độ và anh Vũ Kỳ cùng ăn với Bác. Tôi thấy Bác ăn rất ngon lành. Bác ăn tới hai bát cơm và bảo anh Kỳ xúc cho thật đầy. Bác vừa ăn vừa bảo mọi người ăn cho hết thức ăn, không để thừa. Tôi và anh Trần Độ thấy vậy mừng quá. Bác đang mệt mà Bác vẫn ăn được.

Sau đó, anh Vũ Kỳ cho biết: Bác cố gắng ăn như thế để các anh về nói lại cho đồng bào miền Nam yên tâm! Bác biết rằng nếu đồng bào và chiến sỹ miền Nam hay tin Bác mệt sẽ lo lắng biết bao nhiêu.

Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này Bác đã mệt nhiều, khi tôi được vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp chuyện nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn còn đang khỏe. Trên bức tường cạnh giường, tôi vẫn thấy như mọi lần có treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình chiến sự trong những ngày gần nhất. Đồng chí Vũ Kỳ cho biết tuy yếu mệt như vậy nhưng hằng ngày Bác vẫn yêu cầu cán bộ Bộ Tổng tham mưu sang báo cáo về tình hình chiến sự ở miền Nam. Tôi xúc động quá!

Cho đến hôm gần thở hơi cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó không ở trong Bộ Chính trị nhưng là cán bộ duy nhất ở miền Nam ra, nên Bác cũng cho kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt và vẻ mặt của Bác thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết. Riêng đối với tôi, tôi hiểu rằng tình cảm của Bác không phải đối với riêng tôi, mà Bác muốn qua cái nắm tay cuối cùng, gởi gắm tấm lòng của Bác đối với đồng bào, chiến sỹ miền Nam trước khi Bác từ biệt cõi đời để theo các cụ Mác, Lênin.

Miền Nam hướng về Bác kính yêu.

Tấm lòng của nhân dân miền Nam với Bác Hồ cũng mênh mông vô bờ bến. Như hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, địch bắt được hai em đi rải truyền đơn. Nó tra tấn đánh đập dữ dội, nhưng cuối cùng vì hai em tuổi vị thành niên, nó phải thả. Nhưng trước khi thả, nó giở âm mưu xảo quyệt. Trước cửa xà lim nhốt hai em, nó trải hình Bác dưới đất và bảo: “Tụi bây có muốn ra khỏi đây thì phải bước qua tấm hình đó!”. Hai cháu quay trở vào chứ không bước qua.

….Hay như những năm 1955 – 1956, sau khi Mỹ – ngụy dẹp xong Bình Xuyên và các giáo phái, chúng tập trung đánh vào nhân dân cách mạng, vào những người cộng sản rất khốc liệt. Thế mà hai ngày 1 tháng 5 năm 1955 và năm 1956, hàng triệu quần chúng tập hợp nhau lại ở vườn Tao Đàn đi biểu tình rất có trật tự, nêu cao khẩu hiệu đòi giải quyết quyền lợi thiết thực, đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, thống nhất nước nhà. Địch huy động cảnh sát tới ngăn chặn, đồng bào nêu khẩu hiệu đòi tăng lương cho binh lính và cảnh sát ngụy. Thấy vậy đám cảnh sát để cho bà con đi. Đó cũng là những kinh nghiệm trong đấu tranh chính trị, kinh nghiệm xuất phát từ tinh thần đại đoàn kết, từ lời dạy của Bác Hồ: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!

Khi Bác mất, rất nhiều bàn thờ được đặt ra ngay giữa các vùng địch tạm chiếm. Ở viện Bảo tàng Cách mạng, tôi thấy có bức ảnh anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác. Hay như việc lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh (Cửu Long), ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải). Nhiều nhà tri thức công giáo như anh Lý Chánh Trung đã viết bài tỏ lòng thương tiếc Bác đăng trên báo công khai ở Sài Gòn, v.v….

Để đàn áp phong trào đấu tranh chính trị, địch khủng bố rất ác liệt. Ở Mỹ Tho trước khi Đồng Khởi, có chi bộ bị chúng bắn giết chết hết, phải lập đi lập lại, lột xác tới ba bốn lần. Tôi nhớ lúc đó Xứ ủy chúng tôi có nhận được bức thư của 30 lão nông ở Thủ Dầu Một chất vấn rằng tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không? Các cụ yêu cầu gửi bức thư đó cho Bác Hồ và yêu cầu phải đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể thắng được. Bức thư phản ánh ý kiến chung của đồng bào, nhân dân miền Nam lúc đó.

Sau đó, Xứ ủy đã bàn bạc, phân tích tình hình địch – ta và góp ý kiến với đồng chí Lê Duẩn và Xứ ủy Nam Bộ xây dựng đề cương cách mạng miền Nam làm cơ sở cho Nghị quyết 15 rất phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Nhân dân cách mạng ở miền Nam đã được Đảng, được Bác giáo dục, động viên, luôn có nhận thức rất đúng và nhạy bén với tình hình. Khi có Nghị quyết 15 là phong trào bật lên. Và ngay trong Nghị quyết 15, Bác đã đóng góp rất nhiều ý kiến.

Tôi nói những điều đó để nói lên lòng tin yêu, kính trọng của nhân dân miền Nam với Bác. Lòng tin yêu, kính trọng đó bắt nguồn từ những chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng mà Bác là Lãnh tụ tối cao, từ những lời chỉ dạy của Bác. Và đó chính là nguồn gốc của sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của chúng ta cho đến ngày nay.

Nguyễn Văn Linh
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

(Trích “Bác Hồ với Miền Nam – miền Nam với Bác Hồ”,
NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1986)
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin đưa tôi đến với đam mê hội họa

Dù chưa một lần được gặp Bác Hồ nhưng Trần Hòa Bình dành cho Bác một tình cảm đặc biệt bằng tấm lòng của người đam mê hội họa. Sau 40 năm gắn bó với nghệ thuật, ông đã vẽ hơn 500 bức tranh về Bác Hồ.

Căn phòng vẽ tranh sơn dầu của họa sỹ Trần Hòa Bình khá nhỏ và đơn sơ, nằm ở một góc nơi thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Lúc chúng tôi ghé thăm, ông vẫn đang say sưa với những nét vẽ Bác Hồ trong thời gian Người đang làm việc tại nước Nga.

Hơn 40 năm vẽ tranh về Bác Hồ

Sinh năm 1955 trong một gia đình có truyền thống lâu đời về vẽ tranh và chép tranh truyền thần, từ bé Trần Hòa Bình đã được làm quen với công việc vẽ tranh. Cha ông, cố họa sỹ Nam Phong (sinh năm 1917) vốn nổi tiếng đất Bắc là họa sỹ vẽ tranh truyền thần, trong đó phải kể đến bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” mà hiện nay đang được trưng bày tại Italia.

damme1Họa sỹ Trần Hòa Bình đang vẽ
bức tranh Bác Hồ khi Người đang làm việc ở nước Nga

Ngay từ khi mới lên 8 tuổi, Trần Hòa Bình đã thể hiện rõ sự đam mê hội họa. Cứ mỗi buổi tối khi cha vẽ tranh xong, ông thường gom nhặt những mảnh giấy và mực màu cũ không dùng nữa để tập vẽ. Ban đầu, những nét vẽ của ông nguệch ngoạc, tay cứng đờ, vẽ cả ngày mà bức tranh nhìn không ra chủ thể gì. Không nản chí, ông vẫn kiên trì tập vẽ tranh và có thể vẽ ở bất cứ thời điểm nào nếu có thể, đặc biệt ông yêu thích những bức tranh về Bác Hồ và dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và vẽ tranh truyền thần về Bác.

Sau nhiều năm khổ luyện, cố gắng với không ít lần thất bại, Trần Hòa Bình bắt đầu cho ra đời những bức tranh truyền thần độc đáo. Những bức tranh chân dung về Bác Hồ của ông rất đẹp và không hề thua kém tranh của cha mình. Dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp hội họa là năm ông 16 tuổi, tác phẩm “Bác Hồ đang làm việc” của ông được gửi tặng đến huyện Kim Sơn để trưng bày trong tiền sảnh Ủy ban nhân dân.

damme2Bức tranh về Bác Hồ đã hoàn thiện,
giống hệt một bức ảnh Bác Hồ đã chụp trước đây

Thời gian đó, Trần Hòa Bình đứng trước nhiều nguy cơ phải nghỉ nghề do kinh tế gia đình khó khăn, bốn con nhỏ đang tuổi đến trường mà nghề hội họa chỉ là niềm đam mê chứ không thể làm giàu được. Gánh nặng “cơm áo gạo tiền” khiến ông nhiều đêm mất ngủ. Những tưởng ông sẽ bỏ công việc vẽ tranh để đi làm kinh tế, nhưng ông đã biết khắc phục khó khăn bằng cách ban ngày vẫn đi làm việc và tối về lại tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật. Có hôm, ông thức cả đêm để hoàn thiện bức tranh Bác Hồ, khi bức tranh hoàn thiện, một niềm tin, sức sống mới lại bừng sáng trong ông, xua tan đi mọi mệt nhọc.

Cha mất, họa sỹ Trần Hòa Bình được kế thừa căn phòng tranh cổ kính truyền thống của gia đình cùng kho tàng ảnh tư liệu quý báu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhiều họa sỹ khác cho rằng Trần Hòa Bình mang nặng cái duyên với Người. Bởi lẽ, những hình ảnh về phẩm chất, nghị lực phi thường của vị lãnh tụ vĩ đại đã đưa ông đến với con đường hội họa. Vẽ tranh về Bác Hồ rất khó nên ít người theo mảng tranh này, bức tranh về Bác Hồ phải thể hiện được cái thần của người lãnh tụ yêu nước cũng như phong thái, nụ cười ung dung của Người với nhân dân.

damem3“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin, sự đam mê đưa tôi đến với hội họa”

Vẽ tranh cũng cần có sự tâm huyết, lòng đam mê và tấm lòng của người cầm bút mực, chính vì thế nhân vật trong tranh cũng trở nên sinh động và có thần thái hơn. Hơn 40 năm gắn bó với nghề, Trần Hòa Bình đã nổi tiếng cùng những bức tranh truyền thần về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kỷ lục vẽ 520 bức tranh truyền thần về Bác Hồ

Đã hơn nửa cuộc đời gắn bó với duyên nghề hội họa, họa sỹ Trần Hòa Bình không thể nhớ hết được bao nhiêu bức tranh ông đã vẽ, riêng tranh về Bác Hồ thì ông nhớ như in. Tính đến tháng 10 năm 2010 ông đã vẽ 520 bức tranh về Bác ở nhiều thời kỳ cách mạng đã được công nhận. Từ đó đến nay, con số những bức tranh truyền thần về Bác Hồ đã lên đến gần 600 bức vẽ.

Họa sỹ Trần Hòa Bình cho biết: “Nhìn bức tranh Bác Hồ đơn giản nhưng vẽ thì rất khó, khó đến từng chi tiết nhỏ. Khi vẽ phải nhập tâm để thể hiện được thần thái của Người, đôi mắt phải sáng, bộ râu mềm mại và nụ cười nhẹ nhàng ấm áp như tình yêu thương của Bác dành cho nhân dân. Bức tranh truyền thần về chân dung Bác Hồ chỉ cần sai sót một chi tiết nhỏ thì coi như bỏ đi, phải vẽ lại bức khác”.

damme4Căn phòng vẽ tranh của ông khá đơn sơ
 nhưng có truyền thống hàng trăm năm về hội họa

Trong căn phòng vẽ tranh có truyền thồng lâu đời của gia đình họa sỹ Trần Hòa Bình vẫn còn lưu giữ khá nhiều bức tranh truyền thần cổ kính, có bức tranh đã gần thế kỷ nhưng màu sắc không bị phai nhạt. Riêng tranh sơn dầu về Bác Hồ thì trong xưởng vẽ tranh của ông chỉ còn duy nhất 1 bức và 1 bức ông đang vẽ. Ông tâm sự: “Tranh sơn dầu về Bác Hồ được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt các văn phòng, công sở Nhà nước thường mua về trưng bày lấy Bác làm tấm gương học tập. Chính vì thế ngoài những bức tranh khách đặt hàng, mình vẽ xong bức nào về Bác là vài ngày sau lại có người đến xin mua lại để làm kỷ niệm hoặc làm quà biếu người thân”.

Những bức tranh truyền thần về Chủ tịch Hồ Chí Minh của họa sỹ Trần Hòa Bình được nhiều người biết đến, từ Nam ra Bắc. Có người ở tận Cần Thơ, Cà Mau vẫn tìm ra Bắc đặt tranh của ông. Mấy năm trước, đã có người đặt ông vẽ 5 bức tranh truyền thần Bác Hồ để đưa sang Pháp tặng người thân.

dame5 Họa sỹ Trần Hòa Bình bên bức tranh mới nhất về Bác Hồ

Họa sỹ Trần Hòa Bình có bốn người con và đều nối nghiệp gia đình theo nghề hội họa. Thế nhưng điều khiến họa sỹ Trần Hòa Bình trăn trở nhất là số họa sỹ có thể vẽ tranh, chép tranh về Bác Hồ còn rất ít, thế hệ trẻ thì càng khó thành công ở lĩnh vực này.

“Tôi đặt hy vọng nhiều ở người con trai cả Thế Anh, hiện cháu đang vẽ tranh cho một Trung tâm thương mại ở Hà Nội. Tôi mong sẽ truyền lại được sự đam mê, tình yêu thương với những bức tranh truyền thần về Bác Hồ để cháu nối nghiệp. Còn bây giờ tôi vẫn tiếp tục vẽ tranh về Bác, chỉ mong sao con cháu thế hệ sau mãi biết đến, học tập và làm theo tấm gương Bác – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc”, họa sỹ Trần Hòa Bình bày tỏ.

Theo Báo Dân Trí 
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Người cựu chiến binh 90 tuổi đam mê sưu tầm ảnh Bác

QĐND Online – Khi chúng tôi đến ngôi nhà mới mà con cháu vừa xây tặng, cụ Trần Khiên, nay đã 90 tuổi, ở tiểu khu I, thị trấn Việt Trung, huyện Bố Trạch, (Quảng Bình) đang cẩn thận xếp từng tấm ảnh Bác Hồ mà cụ sưu tầm được vào khung, trân trọng treo lên tường nhà.

Khi đất nước có chiến tranh, người thanh niên Trần Khiên lên đường cầm súng giết giặc. Đất nước thống nhất, Trần Khiên về công tác tại Nông trường quốc doanh cao su Việt Trung (Công ty cao su Việt Trung ngày nay), cho đến lúc nghỉ hưu.

Cụ Trần Khiêm bên những bức ảnh Bác Hồ mà cụ sưu tầm được

Trở về với đời thường, ngoài chăm sóc vườn tược, trông nom cháu chắt, tranh thủ những lúc nhàn rỗi, cụ Trần Khiêm tìm đọc những cuốn sách viết về Bác Hồ. Ngoài ra, cụ thường đến trụ sở UBND thị trấn và các cơ quan, trường học trong thị trấn, mượn sách báo về nhà đọc. Thấy tờ nào có ảnh Bác Hồ, cụ tìm đến hiệu photocopy, sao chụp lại những bức ảnh đó mang về nhà lưu giữ.

Cụ Khiêm tâm sự: “Tôi làm việc này xuất phát từ lòng kính trọng và sự ngưỡng mộ trước những việc làm của Bác đối với dân với nước nhà. Mỗi bài báo, mỗi bức ảnh giúp tôi biết thêm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó cũng là điều khiến tôi có niềm đam mê sưu tầm và lưu giữ ảnh của Người”.

Hơn 300 bức ảnh Bác Hồ được cụ Trần Khiêm đặt trong khung ảnh cỡ lớn, treo thành hàng, theo từng chủ đề. Hàng thứ nhất có chủ đề “Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng”; hàng thứ 2 có chủ đề “Bác Hồ với nông dân”; hàng thứ 3 có chủ đề “Bác Hồ với chiến dịch Điện Biên Phủ” và nhiều bức ảnh về những năm tháng hoạt động Cách mạng của Người…

– Giờ tuổi già sức yếu, tôi không thể đi lại nhiều như trước nhưng niềm đam mê sưu tầm ảnh Bác thì chưa bao giờ tắt. Tôi thường dặn dò con cháu rằng nếu đọc sách báo có in ảnh của Bác thì mang về nhà cho mình, cụ Khiêm bộc bạch.

Theo cụ Khiêm, những bức ảnh Bác Hồ cụ sưu tầm được là kho tư liệu vô cùng quý giá, giúp con cháu cụ có thể hiểu rõ hơn về vị lãnh tụ của dân tộc. Cụ thường lấy những mẩu chuyện về Bác để dạy dỗ các cháu. Bởi theo cụ, mỗi câu chuyện về Người là một bài học về cách sống ở đời.

Bài và ảnh: Bùi Thu Hường
qdnd.vn

Một vị tăng 13 năm sưu tầm tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù bận rộn với công việc đạo pháp, Đại đức Thích Nhuận Thọ (SN 1981, tăng thường trú tại chùa Phước Mỹ, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) vẫn dành nhiều thời gian để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ. Việc làm của Đại đức chứng minh một điều, Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu, luôn ở trong trái tim mọi người dân Việt Nam.

Vào những ngày cuối tháng 8, chúng tôi đến chùa Phước Mỹ để tìm gặp Đại đức Thích Nhuận Thọ, người suốt 13 năm qua luôn dành nhiều thời gian và công sức để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ kính yêu. Dù đang bận rộn với công việc xây dựng, sửa chữa chùa nhưng Đại đức vẫn vui vẻ dành thời gian tiếp chúng tôi và kể lại cơ duyên dẫn đến việc làm của mình suốt nhiều năm qua.

nha suĐại đức Thích Nhuận Thọ cẩn thận lật giở những
tấm hình về Bác Hồ mà ông đã sưu tầm được.

Đại đức Thích Nhuận Thọ kể, vào năm 1999, khi còn là chú tiểu tu tại chùa Thiên Phước (ở thôn An Trinh, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ), trong một lần quét dọn nhà kho của chùa, tình cờ Đại đức nhặt được một túi nilon. Giở túi ra xem, Đại đức thấy bên trong có khoảng 30 bức ảnh về quá trình hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Tuy chưa một lần được gặp Bác nhưng qua sách, báo tôi vô cùng khâm phục và kính yêu lối sống giản dị, đức tính cần kiệm, tình thương yêu con người bao la của Bác Hồ. Cầm những bức ảnh trong tay, tôi nảy sinh ý định sẽ sưu tầm những hình ảnh, tư liệu liên quan đến Bác. Từ đó, mỗi khi có dịp đi đến đâu, tôi đều tranh thủ tìm tòi, mua lại các loại sách, báo, hình ảnh về Bác Hồ”, Đại đức Thích Nhuận Thọ cho biết.

Để chứng minh điều mình nói, Đại đức cho chúng tôi xem hàng chục tấm ảnh ghi lại cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đa số những bức ảnh mà Đại đức sưu tầm được đều là ảnh trắng đen, mặt sau ghi cụ thể năm ấn hành và tên nhà xuất bản.

Trong số những hình ảnh, tư liệu về Bác mà Đại đức Thích Nhuận Thọ sưu tầm được, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với “Bộ sưu tập chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tài liệu lưu trữ thời kỳ 1945 – 1969”. Bộ sưu tập ghi lại gần 100 chữ ký của Bác được Đại đức treo trang trọng trong phòng khách của chùa để mọi người dễ dàng nhìn thấy.

Đại đức tâm sự: “Bác Hồ của chúng ta vô cùng bao la, vĩ đại; tấm lòng yêu thương con người của Người cũng giống như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vậy. Càng tìm hiểu về Người, tôi càng thấy mình như một hạt cát bé nhỏ, còn Người rộng lớn như sa mạc bao la. Tôi luôn tâm niệm, học tập và làm theo Bác là công việc ai cũng nên làm và phải làm cả đời. Thời gian tới, khi chùa xây dựng hoàn thành, tôi sẽ dành riêng một phòng để trưng bày số ảnh, sách báo và các kỷ vật về Bác Hồ mà mình đã sưu tầm được trong thời gian qua”.

Kính trọng, yêu quý và thấm nhuần lời dạy của Bác, hơn 10 năm qua, dù hàng ngày bận rộn với công việc đạo pháp nhưng Đại đức Thích Nhuận Thọ vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện. Hàng năm, Đại đức trực tiếp liên hệ với các trường học đóng trên địa bàn xã Mỹ Cát, tìm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để chùa hỗ trợ chi phí học tập.

Việc làm của Đại đức Thích Nhuận Thọ nói riêng, chùa Phước Mỹ nói chung thật đáng trân trọng. Những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ mà Đại đức sưu tầm được thật sự là những tài liệu vô giá. Qua đó cũng nhắc nhở chúng ta rằng, để thực hiện tốt việc “học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mọi người phải có lòng yêu nước, yêu thương con người, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Văn Lực – Văn Tố
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn

Người quay những thước phim cuối cùng về Bác

Cũng như những năm trước đây, cứ vào dịp Tết Độc lập, người dân trên mọi miền đất nước lại về với “Làng Trù quê mẹ và Làng Sen quê cha”. Trong những ngày tháng thiêng liêng này, chúng tôi tìm gặp người nghệ sĩ đã quay những thước phim cuối cùng về Bác. Đó Thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân (ảnh), 82 tuổi, ở xóm Liên Sơn 1, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Trong căn phòng nhỏ, ông Xuân gợi nhớ lại những tháng năm không thể nào quên…

Năm 1952, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên  21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân xếp bút nghiên rời Làng Sen lên đường vào quân ngũ. Xuất thân trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, ông đã góp phần trong thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sau kháng chiến chống Pháp, ông được lệnh cùng đơn vị tiếp quản Thủ đô.

gap nguoi quay thuoc phim cuoi cung

Năm 1961, ông Xuân được chuyển về công tác tại Xưởng phim Quân đội. Với niềm say mê ham học hỏi cộng thêm lòng kiên trì chịu khó, ông tiếp cận nhanh với máy quay phim. Hơn 37 năm trong quân ngũ và 30 năm cầm máy quay lưu lại hơn 7000 thước phim tư liệu nhưng có lẽ khoảnh khắc thiêng liêng nhất trong cuộc đời bấm máy của ông là 10 ngày túc trực bên cạnh Bác Hồ, ghi những thước phim quý giá lưu lại cho mai sau. Ông Xuân bồi hồi nhớ lại: “Được gặp Bác là niềm vui sướng tự hào của cuộc đời tôi, nhưng được giao trọng trách quay lại những thước phim trước khi Bác mất đó là lòng thành kính mà tôi dâng lên Người”.

Ngày 29-8-1969, nhận được lệnh đặc biệt của Tổng cục Chính trị, ông Xuân và một đồng chí (người miền Nam) vào Phủ Chủ tịch. Không được thông báo trước, ông Xuân cùng đồng đội cấp tốc mang theo hành trang gồm máy quay và một số trang thiết bị cần thiết. Khi xe dừng trước Phủ Chủ tịch, trong lòng ông Xuân xúc động vì được gặp Bác là niềm mơ ước từ lâu. Nhưng khi tận mắt chứng kiến sức khỏe Bác yếu dần, ông Xuân chỉ biết ôm đồng nghiệp rơi lệ…

“Chúng tôi ở bên Bác 24/24 giờ trong ngày. Chúng tôi lo nhất là khi bật máy quay lên sợ làm mất giấc ngủ của Bác. Do chiếc máy quay đã cũ, âm thanh phát ra từ máy khiến chúng tôi ái ngại. Chúng tôi đã nghĩ ra cách dùng vải nhung, xốp bọc bên ngoài máy với mục đích là cách âm để tránh tiếng động mạnh. Chúng tôi tự dặn mình: Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, phải dốc toàn tâm để ghi được những khoảnh khắc cuối đời của Bác” – ông Xuân kể. 10 ngày túc trực bên giường bệnh, sử dụng hơn 5000m phim nhựa, ông Xuân đã ghi lại tất cả những hình ảnh từ sinh hoạt cho đến giây phút trước khi Người về với thế giới người hiền. Trước khi ra đi, Bác chỉ có một ý nguyện thật giản dị: “…Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế… Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ… Bác muốn nghe một đôi làn quan họ…”. Những cảm xúc trào dâng ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí ông Xuân.

Đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, ngồi lật lại trang sử cuộc đời, ông Xuân không khỏi xúc động bồi hồi, đặc biệt khi nhắc lại giây phút bên Bác. Trở về với cuộc sống đời thường, trong mỗi hành động, mỗi việc làm của mình, ông Xuân luôn cảm nhận được ánh mắt Bác Hồ dõi theo như nhắc nhở ông phải sống mẫu mực với con cháu, với bà con xóm làng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Ông Nguyễn Bảo Huỳnh, Chi Hội trưởng Hội Cựu chiến binh Liên Sơn 1 cho biết: “Ở  Hội Cựu chiến binh, ông Xuân là người tích cực. Cứ mỗi lần sinh hoạt, ông đều kể các câu chuyện về Bác cho anh em nghe và có những nhận thức sâu sắc, trên cơ sở đó mà vận dụng vào thực tiễn đời sống hiện nay…”.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Ký ức đẹp của người lái xe phục vụ Bác Hồ

nguoi lai xe phục vụ BH
Ông Nguyễn Văn Mùi

“Tôi may mắn được là người lái xe phục vụ Bác Hồ từ năm 1961 đến 1969. Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng những ngày tháng sống bên Bác vẫn luôn trong tâm trí tôi, tưởng chừng như chỉ mới ngày hôm qua…”. Đó là những tâm sự của ông Nguyễn Văn Mùi về những kỷ niệm của mình trong những năm lái xe phục vụ Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Mùi, sinh năm 1931, trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Bắc Cầu, xã Xuân Hùng (Xuân Trường – Nam Định). Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia cách mạng và làm ở Xưởng Đúc tiền Chính phủ. Đến năm 1951, ông được phân công vào Ban 12, có nhiệm vụ chuyên chở hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cho tiền tuyến. Trong thời gian đó, ông luôn cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành một lái xe vững vàng về chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời chiến. Hòa bình lập lại (1954), ông được phân công vào Đội lái xe phục vụ Bác Hồ. Ông Mùi nhớ lại: “Ban đầu tôi mới chỉ là người lái xe chở các chiến sĩ bảo vệ Bác. Tôi đặt ra cho mình mục tiêu là phải cố gắng làm việc hết sức để góp phần bảo vệ Bác”. Nhớ lại thời khắc ấy, ông Mùi không giấu nổi cảm xúc: “Được lái xe phục vụ Bác Hồ, đó là niềm hạnh phúc, nhưng tôi cũng rất lo vì trách nhiệm rất nặng nề khi phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Bác mỗi khi đi trên đường. Đồng chí Kháng (người cận vệ riêng của Bác) đã nói với tôi: Lái xe cho Bác phải nhanh trí, bình tĩnh, kịp thời xử lý chính xác mọi tình huống, không kể sự nguy hiểm tới tính mạng của mình để bảo đảm an toàn cho Bác”.

Trong suốt quãng thời gian lái xe phục vụ Bác, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và trách nhiệm được giao, để lại trong ông những kỷ niệm sâu sắc về Người. Ông kể: Bên cạnh Bác, mọi người đều thấy thoải mái, mọi khoảng cách đều bị xóa tan bởi sự hài hước và dí dỏm của Người. Mỗi khi đi công tác, hay tìm hiểu đời sống nhân dân, Bác thường trò chuyện và hỏi mọi người những chuyện xảy ra trên đường. Có lần đang đi trên đường, dù đường thoáng nhưng tôi vẫn cho xe chạy chậm để bảo đảm an toàn cho Bác. Bỗng lúc ấy có chiếc xe ô tô khác vượt lên trước, Bác hỏi: “Xe mình và xe họ, xe nào tốt hơn?”. Lúc ấy tôi lúng túng không biết trả lời sao thì đồng chí Kháng đỡ lời: “Xe mình cũng tốt như xe họ, nhưng để đảm bảo an toàn cho Bác nên đồng chí Mùi giữ tốc độ như thế này là tốt nhất”. Lúc ấy Bác cười, nói: “Hóa ra xe chạy nhanh hay chậm là có chú Kháng cầm trịch chứ gì, vậy thì lần sau không cho chú Kháng đi nữa”. Câu nói hài hước khiến đồng chí Kháng bẽn lẽn đỏ mặt, còn mọi người thì cười vui vẻ.

Là một vị lãnh tụ, được nhân dân tôn kính nhưng trong cuộc sống hàng ngày, Bác là người rất giản dị và gần gũi với tất cả mọi người. Vì vậy, ông Mùi cũng như nhiều anh em khác không ai bảo ai, đều tự nhủ phải học tập Bác trong công việc và cuộc sống hằng ngày. Với ông Mùi thì kỷ niệm sâu đậm nhất trong quá trình lái xe cho Bác chính là món quà bất ngờ của Bác tặng trong ngày cưới. Ông vẫn nhớ như in, khi ông lập gia đình, Bác Hồ đã gửi chúc mừng vợ chồng ông 20 đồng. Ông kể “Cả gia đình tôi đều khóc vì cảm động, nhất là bố mẹ tôi. Mọi người đều động viên tôi phải cố gắng công tác thật tốt để xứng đáng với tình thương yêu của Bác dành cho”. Trong cuộc sống hằng ngày, Bác đều hỏi thăm chuyện gia đình, vợ con và bố mẹ của các đồng chí phục vụ. Đồng chí nào có việc gia đình, Bác đều quan tâm, hỏi thăm, động viên và chỉ bảo nên làm gì cho phải…

Sau khi Bác Hồ mất, theo yêu cầu của tổ chức, ông Mùi lại tiếp tục lái xe cho Bác Tôn. Thời gian lái xe cho Bác Tôn, ông Mùi được quản lý hai chiếc xe, một chiếc Von-ga và một Com-măng-ca. Thế nhưng, cũng như Bác Hồ, chỉ khi nào tiếp khách quan trọng Bác Tôn mới sử dụng xe Von-ga, còn bình thường Bác chỉ dùng xe Com-măng-ca cho dân dã. Ông kể: Bác Tôn thường hay thể dục buổi sáng và môn thể dục Bác ưa chuộng nhất là đạp xe. Thế nhưng để giữ an toàn cho Bác nên sáng nào cũng vậy mỗi khi Bác đạp xe là lại có hai, ba cảnh vệ đạp xe cùng để bảo vệ Bác. Vì là người giản dị không thích làm phiền người khác nên có lần Bác Tôn đã bảo với anh em: Bác già rồi, các chú cứ mặc kệ Bác. Bác không làm sao đâu, các chú cứ ngủ nghỉ cho khỏe, dậy sớm làm gì (Bác Tôn thường dậy và đạp xe tập thể dục vào lúc 5h sáng). Và nhiều lúc, để đỡ phiền phức cho anh em nên có hôm Bác Tôn đã một mình đạp xe ra cổng làm anh em cảnh vệ “trở tay” không kịp…

Trong ngôi nhà ở đường Phương Mai, quận Đống Đa (Hà Nội), ông Nguyễn Văn Mùi đang sống vui vẻ, quây quần bên cháu con. Điều lắng đọng sau những năm tháng được gần gũi Bác Hồ đó là những đức tính cao đẹp ông đã học được từ vị Chủ tịch nước đáng kính. Ông coi đây là tài sản vô giá của cuộc đời ông, nó thiêng liêng và không gì có thể sánh được. Ông vẫn đang dành thời gian còn lại của mình để truyền dạy cho cháu con đức tính giản dị, khiêm tốn, biết sống thân thiết với mọi người và cũng là để con cháu tự hào vì có một người cha, người ông đã có những năm tháng được sống và làm phục vụ một người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Bài và ảnh: Văn Thứ
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Những ngày được gặp Bác ở An toàn khu

Đi theo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vinh dự lớn nhất của cụ Nguyễn Quang Thuận, 86 tuổi, ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là những lần được về gặp Bác Hồ ở An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên), được Bác tặng quà, gắn Huy chương, chụp ảnh với Bác. Cụ Thuận kể:

Sáng sớm ngày 19-5-1954, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 Pháo cao xạ thông báo cụ và bốn chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ về An toàn khu báo công và chúc mừng sinh nhật Bác. Nhận tin này, cụ vui mừng chạy đi khắp căn cứ Mường Phăng (Điện Biên) báo tin vui với đồng đội. Ngay sáng hôm ấy, cụ cùng Phạm Thế Nhuận, Đại đội trưởng đánh sân bay Mường Thanh; Hoàng Đăng Vinh, chiến sĩ bắt sống tướng Đờ-cát; Phạm Văn Phan, công binh đưa bộc phá vào giữa đồi A1 và Bạch Ngọc Giáp, chiến sĩ pháo mặt đất từ căn cứ Mường Phăng về An toàn khu.

Hồi đó, đường đi còn rất khó khăn, mọi người đến An toàn khu đã hơn 6 giờ chiều, được đồng chí Trường Chinh đón tại Nhà khách của Trung ương, dặn dò các chiến sĩ vài điều rồi dẫn mọi người đi ăn cơm. Khoảng 10 giờ 30 đêm ấy, vì đi đường mệt, cả năm anh em đang thiêm thiếp ngủ thì Bác đến. Mọi người choàng dậy đã thấy Bác ngồi bên giường. Ai cũng bất ngờ, bàng hoàng, xúc động. Bác ân cần hỏi chuyện mọi người và khuyên các chiến sĩ đi ngủ để giữ gìn sức khỏe. Từ lúc Bác ra khỏi phòng, mọi người không ai ngủ, cứ ngồi kể chuyện về Bác cho đến sáng. Hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo tin lát nữa mọi người sẽ được gặp Bác, báo cáo chiến công với Bác và Bộ Chính trị. Nghe vậy, ai cũng sung sướng, hồi hộp chờ đợi. Khoảng 9 giờ 30 phút, Bác đón mọi người ngay sân vườn, phía trước lán trại Bác ở và làm việc. Cùng đứng với Bác ở phía sau có Bác Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các đồng chí Trường Chinh, Văn Tiến Dũng và đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bác tươi cười bắt tay hỏi chiến công từng người trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác hỏi cho vui chứ thực ra ai lập công như thế nào Bác đã biết.

Sau khi nghe mọi người kể về chiến công và chúc thọ Bác, Bác bảo năm chiến sĩ đứng thành hàng ngang để Bác gắn Huy chương Chiến công. Bác còn nhờ đồng chí Các-men (Liên Xô) chụp ảnh cho Bác, Bộ Chính trị và các chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chụp ảnh xong, Bác bảo các đồng chí trong Bộ Chính trị đưa các chiến sĩ thăm An toàn khu, xong lại về gặp Bác.

Những ngày sau đó, trở về đơn vị, ai cũng phấn khởi, kể lại chuyện cho đồng đội nghe về những ngày được sống bên Bác ở An toàn khu. Tạm dừng câu chuyện, cụ Thuận đứng dậy mở cánh tủ lấy ra một hộp gỗ nhỏ, trong đó đựng rất nhiều Huân chương, Huy chương và tấm ảnh đen trắng được ép bọc rất cẩn thận. Đó là ảnh cụ Thuận cùng bốn chiến sĩ chụp chung với Bác và Bộ Chính trị ở An toàn khu. Cụ coi đây là một kỉ vật mang theo suốt đời.

Tiếp nối câu chuyện, cụ Thuận bảo, đúng một tháng sau sinh nhật Bác, năm chiến sĩ lại được trở về gặp Bác ở An toàn khu. Lần này, Bác đãi cơm mọi người ở ngay trong khu lán của Người. Vừa ăn, Bác vừa hỏi chuyện và gắp thức ăn cho từng người. Sau bữa ăn, Bác bảo đồng chí Trường Chinh đưa năm chiến sĩ đi thăm vườn rau của Bác. Đồng chí Trường Chinh kể, đây là vườn rau do Bác tự trồng, hàng tháng, Bác góp cho nhà bếp 15 kg rau và mỗi bữa Bác vẫn dành một nắm gạo cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Trước khi chia tay, Bác đưa cho mỗi người một gói quà gửi về đơn vị và chuyển lời thăm hỏi tới anh em cùng gia đình. Rời An toàn khu mà lòng cụ Thuận thấy ấm áp, tai vẫn văng vẳng lời Người dạy bảo. Tình cảm của Bác đã tạo cho cụ Thuận một sức mạnh, tiếp tục cuộc trường chinh chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất.

Rời quân ngũ trở về quê hương, phát huy tinh thần người chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, cụ Thuận tiếp tục cống hiến công sức để xây dựng quê hương. Nhiều năm cụ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Đại Hợp, Hội trưởng Hội Bảo thọ, hoạt động tích cực trong Hội Cựu chiến binh và Hội Người cao tuổi…

Quốc Sĩ

Theo http://nguoicaotuoi.org.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Tháng 9 về quê Bác

Vẫn còn đây hương sen thoang thoảng hai bên đường dẫn chúng tôi về ngôi làng đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong những ngày tháng 9 lịch sử, làng Sen tấp nập những người con dân đất Việt tìm về với tất cả tấm lòng biết ơn Bác kính yêu.

thang 9 ve que bac
Ngôi nhà tại làng Hoàng Trù nơi Bác ra đời.

“Đi khắp phương trời vẫn nhớ tới quê hương/Người về đây thăm làng Trù quê mẹ và làng Sen quê cha/Xúc động bồi hồi Người rơi giọt lệ/Thương mái nhà tranh thương đất mẹ nghèo…”. Theo câu hát, tôi tìm về miền quê nghèo ấy, nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng một tâm hồn vĩ đại. Trong khi những ngôi làng khác đang ngày càng thay da đổi thịt theo xu hướng hiện đại hóa, thì làng Sen vẫn còn giữ được nét cổ xưa, yên bình gần gũi như chính con người nơi đây. Con đường dẫn về làng Hoàng Trù (quê ngoại Bác) và làng Sen (quê nội Bác) uốn lượn giữa cánh đồng lúa xanh mượt.

Một miền quê quanh năm hứng chịu bao khắc nghiệt của thời tiết nhưng lại mang một vẻ trù phú đầy nhựa sống. Vẫn đó những đầm sen ngát hương, bên cạnh những đồng lúa xanh mượt tạo thành ấn tượng riêng mỗi khi về với quê Bác. Người dân ở đây kể lại rằng, ngày cụ Hoàng Thị Loan trở dạ, đầm sen trong làng bỗng nở rộ và sau cơn mưa to gió lớn, hương sen đưa vào làng bỗng thơm ngát lạ thường. Họ bảo đó là điềm trời báo sinh ra một người con cũng thanh cao, giản dị và đáng tôn quý như bông hoa sen trong lòng người dân Việt Nam.

Vào thăm ngôi nhà tại làng Hoàng Trù, nơi Bác Hồ được sinh ra, hàng râm bụt xanh mướt được cắt tỉa gọn gàng dẫn lối cho du khách vào ngôi nhà lá đơn sơ, nơi đã ra đời một người con vĩ đại. Hàng cau vẫn rì rào trong gió như lời ru gần gũi và thân thuộc. Vào thăm nhà Bác, ai cũng nghẹn ngào xúc động khi được hiểu thêm về một phần cuộc đời Bác, dù có người đã tới đây rất nhiều lần.

Qua giọng kể ngọt ngào đậm chất xứ Nghệ của cô hướng dẫn viên duyên dáng, những kỷ niệm về gia đình Bác hiện lên sinh động cùng với những kỷ vật trong ngôi nhà lá đơn sơ: “Một sáng tháng 5 đầu hè, đúng vào mùa sen nở, khi hương sen ngào ngạt, Bác cất tiếng khóc chào đời trong vòng tay yêu thương của ngoại, và ngoại đã đặt tên cho Bác là Nguyễn Sinh Cung… Năm năm đầu đời Bác đã ở đây và được đón nhận tình thương yêu của ông bà ngoại. Quê mẹ Hoàng Trù là cái nôi đã góp phần hình thành, bồi đắp tuổi thơ và nhân cách cao thượng của Bác…”. Ngôi nhà tại quê nội làng Sen cũng gắn với bao nhiêu kỷ niệm thuở thiếu thời, đã nuôi dưỡng Bác trưởng thành, vun đắp những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước mà mãi 50 năm sau ngày ra đi tìm đường cứu nước, Bác mới có dịp về thăm. Các kỷ vật vẫn còn đó, án thư nơi cụ thân sinh Bác vẫn thường ngồi dạy học, khung cửi – nơi người mẹ chịu thương, chịu khó tảo tần cả đời vì chồng vì con vẫn ngồi dệt vải, phản gỗ nơi các nhà nho yêu nước thường đến bàn chuyện thời cuộc nước nhà với cụ Nguyễn Sinh Sắc… tất cả còn nguyên vẹn với thời gian.

Về quê Bác, mỗi người như tìm về nguồn cội của tâm hồn, bởi Người luôn có một vị trí đặc biệt trong lòng người dân Việt Nam, đúng như câu hát: “Nghĩ về Bác lòng con trong sáng hơn…”. Nơi làng quê yên bình này lúc nào cũng tấp nập đón những người con trên khắp mọi miền đất nước và bạn bè quốc tế đến thăm. Có cụ già đã hơn 80 tuổi, dù đã về quê Bác rất nhiều lần nhưng vẫn dẫn đầu đoàn con cháu trong gia đình về thăm lại làng Sen với tâm niệm dành tất cả tình cảm để tưởng nhớ ngày Bác mất. Tôi bỗng nhớ đến câu chuyện bà tôi kể lại rằng, ngày nghe tin Bác mất qua chiếc loa phóng thanh của làng, cả làng tôi đã bỏ hết công việc, ra ngồi cả ở chân cột điện, nơi treo chiếc loa phát tin buồn và ai cũng khóc nức nở như thể vừa mất đi người thân yêu nhất của mình.

Dù Bác đã đi xa hơn 40 năm nhưng dường như ấn tượng về Người trong lòng người dân Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn. Không chỉ những người đã từng đi qua chiến tranh, đã từng được gặp Bác, trong lòng thế hệ trẻ ngày nay, hai từ Bác Hồ vẫn có một vị trí đặc biệt.

Tạ Nguyên

Theo http://baotintuc.vn
bqllang.gov.vn