Thư viện

Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Bác Hồ dùng từ “Phải”, “Thật sự”

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản lớn. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Người luôn soi sáng sự nghiệp cách mạng của nước ta. Sinh thời, Người quan tâm toàn diện đến mọi mặt đời sống xã hội, và luôn mong muốn thực hiện nó một cách hiệu quả, thực chất. Điều đó phần nào được thể hiện trong rất nhiều tác phẩm, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dùng từ “phải” hoặc “thật sự” hay “thật”, “thực sự”.

Qua các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thống kê nhưng chưa đầy đủ, Người đã dùng từ “phải”, “thật sự”… ở 3.931 lượt tài liệu. Xét về nội dung đều là những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị làm đúng bản chất của sự việc, chứ không phải là nói suông, qua loa, đối phó, mang tính hình thức, có như thế mới là cán bộ, đảng viên của nhân dân, mới là con người mới của xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cầm kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Với một đoạn văn ngắn chỉ có 57 từ mà đã có 7 từ “phải” hoặc “thật”, “thật sự”, chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc cần phải làm và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nó một cách nghiêm túc, thực chất của vấn đề, chứ không phải làm cho có, nói cho hay, làm không đến nơi đến chốn. Xét trong thực tiễn ngày nay, đối chiếu với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là không có những ví dụ về những trường hợp cán bộ, đảng viên thay vì là “đày tớ thật trung thành của nhân dân” lại hống hách, chuyên quyền, xem khinh quần chúng, những tệ nạn xã hội có không ít bóng dáng của cán bộ, công chức. Đó là vì chúng ta chưa thật sự quan tâm một cách thấu đáo, giáo dục hiệu quả mà còn nặng hình thức, chung chung, đại khái, chạy theo thành tích, không thực hiện nghiêm túc các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Hay trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” viết: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”. Có thể hiểu ngay rằng, đó chính là những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không phải vô tình hay ngẫu nhiên mà trong một bài viết, một đoạn văn ngắn Người lặp lại rất nhiều từ có tính chất yêu cầu, bắt buộc, kiên quyết như thế. Bởi vì Người hiểu, nếu không nhấn mạnh thì điều đó là chưa đủ, mà Người muốn mọi người cần phải quan tâm hơn, coi trọng những điều đó để thực hiện cho tốt, triệt để, có như vậy mới thực sự vì dân, vì nước.

Tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện ngày 18-1-1967, nói đến việc triển khai đường lối, chủ trương của Đảng xuống cơ sở cho đúng, kịp thời, Người nhắc nhở “các cô, các chú phải đi sâu, đi sát cơ sở, nằm ở ở sở để chỉ đạo phong trào, không nên xuống cơ sở theo lối chuồn chuồn đạp nước. Vấn đề này nghe thì dễ, nhưng thực hiện chưa tốt lắm. Hiện nay, có một số đồng chí huyện ủy chưa thật sự lăn lộn ở cơ sở… Hiện nay, mỗi huyện ủy có từ 15 đến 20 đồng chí. Phải chia nhau mà nắm tình tình…”. Đối chiếu với thực tế tại tỉnh Gia Lai, thiết nghĩ đây là một bài học bổ ích mà trong thời gian vừa qua, chúng ta đang thực hiện tăng cường cán bộ về cơ sở. Không những thế, Bác Hồ còn nêu cụ thể: “Phải đi sâu, đi sát nắm vững tình hình, không những phải nắm vững tình hình hợp tác xã, mà còn phải nắm vững tình hình ăn, ở, học tập, sức khỏe… của các gia đình”.

Bài viết nhỏ này không thể nêu hết được những từ “phải”, “thật sự” mà Bác Hồ đã dùng, nhưng qua đấy phần nào mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần những lời dạy của Người, ra sức nỗ lực, phấn đấu “thật sự”, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như lòng Bác Hồ mong ước.

Nguyễn Xuân Phước
Tap chi cong san.org.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2/9/1945 dưới góc nhìn văn hóa

Cách đây 67 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một, nhất tề vùng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

CMT8 duoi goc nhin van hoaChủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ Lâm
thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên (3/9/1945)

 Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng nhìn rõ hơn tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo Cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, là sức mạnh đại đoàn kết của toàn thể dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là sự thể hiện tuyệt vời của tinh thần quật khởi và trí tuệ Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là điển hình của sự nhạy bén nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thể hiện trình độ khoa học và nghệ thuật lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhìn tổng thể, Cách mạng Tháng Tám 1945 không chỉ là một cuộc cách mạng chính trị, một cuộc đảo lộn chính trị, một thắng lợi chính trị, mà còn là một cuộc đảo lộn văn hóa, một thắng lợi văn hóa.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, chế độ Cộng hòa dân chủ ra đời; người dân từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Nói theo tinh thần của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Sự nghiệp văn hóa lớn lao nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh và Đảng ta là đã huy động sức mạnh hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa của thời đại, lãnh đạo thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm người, quyền được sống một cuộc sống xứng đáng với con người. Sự nghiệp đó trả lại địa vị xứng đáng cho nền văn hóa Việt Nam cũng là một sự nghiệp văn hóa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử và nền văn hóa của loài người”.

Kế thừa những thắng lợi của ông cha ta trước đây, trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta còn giành được nhiều thắng lợi khác. Nếu chỉ xét về mặt văn hóa, việc đem lại quyền làm chủ, quyền làm người thật sự cho nhân dân lao động, thật sự đem lại độc lập tự do cho nước nhà thì Cách mạng Tháng Tám có một giá trị đặc biệt to lớn và sâu sắc. Có thể khẳng định rằng không có thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì cũng không thể có thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Chính thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra một giá trị to lớn, trở thành khâu đột phá cho các thắng lợi tiếp theo.

Các nhà sử học đã từng nhấn mạnh thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp từ ba cuộc diễn tập: 1930-1931; 1936-1939; 1939-1945. Xét đến cùng, đó là thắng lợi của tổng hợp sức mạnh văn hóa, nó bao gồm sức mạnh văn hóa truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước và sức mạnh văn hóa dân tộc từ khi có ánh sáng văn hóa của Đảng.

Văn hóa dân tộc từ ngàn năm cho đến đêm trước của Cách mạng Tháng Tám chính là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập, lòng khát khao tự do của dân tộc Việt Nam. Điều đó còn có giá trị hơn nhiều so với sức mạnh vật chất cụ thể. Bác Hồ đã tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Cùng với lòng yêu nước là tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc. Đó là một tình cảm tự nhiên (Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng). Đó là một triết lý nhân sinh (Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao). Đó là một phép ứng xử và tư duy chính trị rất cụ thể và sâu sắc của người Việt Nam (Nước mất thì nhà tan/ Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh). Từ truyền thống đoàn kết dân tộc để đi tới Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi: Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh. Từ lời kêu gọi đó, tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái,… đã tập hợp dưới ngọn cờ của mặt trận Việt Minh, thành những tổ chức cứu quốc.

Sức mạnh của văn hóa Việt Nam là lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa làm đầu, dùng chí nhân thay cường bạo. Đó là một nền văn hóa trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng mà cao hơn là đối với Tổ quốc. Sức mạnh văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ nền văn hóa trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc. Nguyễn Trãi từng nói: Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, lật thuyền mới biết dân như nước. Hội nghị Diên Hồng dưới thời vua Trần Thánh Tông, nhằm huy động trí tuệ của dân chống giặc Nguyên Mông là một biểu tượng của văn hóa. Trước Cách mạng Tháng Tám, Quốc dân đại hội Tân Trào là sự kế tục, phát huy tinh thần văn hóa trong điều kiện mới. Sức mạnh của văn hóa Việt Nam còn chứa đựng lòng khoan dung hòa hợp để hòa đồng. Bao dung để đoàn kết, đoàn kết phải bao dung (cầu đồng tồn dị) là sự ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh trong quá trình tập hợp lực lượng để chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám.

Quá trình chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám chính là quá trình khơi nguồn và quy tụ sức mạnh văn hóa vốn tiềm ẩn lâu đời trong lịch sử dân tộc. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đem lại cho văn hóa truyền thống một tinh thần mới, một tầm cao mới, một sức mạnh của văn hóa thời đại Hồ Chí Minh. Sức mạnh văn hóa đó chứa đựng tố chất truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, văn hóa và cách mạng, nhờ đó đem lại sự thành công cho Cách mạng Tháng Tám.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là ánh bình minh của dân tộc, mở ra trang sử mới của Việt Nam, mở đường cho văn hóa phát triển. Từ đây, nhân dân ta bắt tay xây dựng nền văn hóa mới theo phương châm Dân tộc – Khoa học – Đại chúng như Đề cương văn hóa 1943 đã chỉ dẫn./.

Theo Báo Lâm Đồng online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – không gian thiêng liêng của Thủ đô Hà Nội và của cả nước

“Dù có đi bốn phương trời
Lòng vẫn nhớ về Hà Nội
Hà Nội của ta, Thủ đô yêu dấu
Một thời đạn bom, một thời hòa bình….”

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, là trái tim của nước Việt Nam, thì Quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là trái tim của Hà Nội, là không gian thiêng liêng mà mỗi người dân Việt Nam và bè bạn quốc tế đều mong được một lần đến thăm.

Quảng trường Ba Đình trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 còn gọi là Quảng trường Tròn hay còn gọi là Quảng trường Puginier. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt NamDân chủ cộng hòa ra đời, Quảng trường Tròn được gọi là Vườn hoa Ba Đình hay gọi là Quảng trường Ba Đình, Quảng trường được lấy tên địa danh Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 năm 1886 đến tháng 1năm 1887. Từ đó cho đến nay đã diễn ra những sự kiện trọng đại của Thủ đô Hà Nội và của cả nước, ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc.

QTBD 1Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh internet

Cách đây 67 mùa Thu, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn trong cả nước và ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, giữa rừng cờ đỏ sao vàng và giữa rừng người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau ngày tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình đã đi vào lịch sử của dân tộc ta, trở thành nơi khai sinh ra nước Việt Nam mới được cả thế giới biết đến. Và đây cũng là nơi chứng kiến cuộc mít tinh trọng thể mừng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trở về Thủ đô vào ngày 1/1/1955; cuộc mít tinh vào ngày 2/9/1975 mừng thống nhất đất nước; ngày nay là nơi diễn ra các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành chào mừng các ngày lễ lớn của Việt Nam, đặc biệt là cuộc diễu binh, diễu hành chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vào năm 2010.

QTBD 2JPGQuang cảnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình ngày
Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Ảnh internet

Ngày 2/9/1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, tại Quảng trường Ba Đình, Lễ Truy điệu Người vào ngày 9/9/1969 được cử hành trọng thể. Thấu hiểu sâu sắc và thể theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn quân, và toàn dân ngày 29/11/1969 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”. Vào ngày 2/9/1973, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định khởi công xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình – nơi yên nghỉ vĩnh hằng của Người – vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Sau hai năm khẩn trương xây dựng, ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức khánh thành, mở cửa đón tiếp đồng bào cả nước và khách quốc tế đến viếng Bác và cũng chính ngày này đã trở thành Ngày Truyền thống của bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới, vinh dự được Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân giao trọng trách thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt – Giữ yên giấc ngủ cho Người.

QTBD3Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu được cử hành trọng thể tại 
Quảng trường Ba Đình ngày 9/9/1969. Ảnh internet

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc tổ chức lễ viếng hàng ngày, còn diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước; là nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hóa, nghệ thuật, báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội…nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tình cảm kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là nơi hun đúc chí khí cách mạng của các thế hệ người Việt Nam.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là một công trình văn hóa, nghệ thuật lớn. Toàn bộ khối Lăng được kết cấu bằng đá của các miền trên đất nước và chia thành 3 phần: Mái, cột và nền. Mái và các cột bằng đá hoa cương màu xám bạc. Nền Lăng cấu trúc tam cấp được ốp bằng đá hoa cương màu xám đen. Phía trong hàng cột là thân Lăng, đó là phòng đặt thi hài Bác, toàn bộ mặt ngoài được ốp đá hoa cương màu đỏ sẫm. Mái Lăng được xếp tam cấp, bốn góc chếch đầu đao, có dáng dấp như mái chùa cổ kính tôn nghiêm mà quen thuộc.

Dòng chữ: “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH” trên mái Lăng được ghép bằng đá ngọc ở vùng Cao Bằng, cửa chính của Lăng được ốp bằng đá ngọc bích, các bậc cầu thang được lát bằng đá hoa cương, tất cả tường và cột phía trong được ốp bằng đá cẩm thạch. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tương, làm nền cho dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”và chữ ký của Bác, dòng chữ và chữ ký được mạ vàng sáng nổi lên rực rỡ – đây cũng chính là ước nguyện, là khát vọng và là tư tưởng xuyên suốt của Bác từ khi rời Bến cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước đến khi là vị Chủ tịch nước, cả một đời đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc.

Phòng Bác yên nghỉ được ốp bằng đá cẩm thạch Hà Tây. Trên tường có lá cờ, cờ Đảng bên trái, cờ Tổ quốc bên phải, dài 5,9m, rộng 2,5m, ghép bằng 4.000 miếng đá hồng ngọc Thanh Hóa màu đỏ cờ, ngôi sao vàng năm cánh và búa liềm ghép bằng đá cẩm vân màu vàng sáng.

Góp phần vào hoàn thiện công trình Lăng Bác là những khối gỗ quý của đồng bào Nam Bộ, được các nghệ nhân tài hoa từ các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc xẻ bằng tay, với những kỹ thuật tinh xảo đóng thành 200 bộ cánh cửa. Cửa ra lễ đài được ốp đá, những cửa tiếp giáp với nắng được quét nhựa chống nứt. Ngoài đồ gỗ, trong Lăng còn dùng các kim loại để trang trí như nhôm làm trần, đồng làm tay vịn, lưới gió…Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được Hội đồng Thẩm định chất lượng kiểm tra thử nghiệm chặt chẽ.

Lễ đài chính dùng cho những cuộc diễu binh, duyệt binh lớn của cả nước được xây dựng gắn với Lăng, phía trên cửa chính của Lăng, so với phòng Bác nằm thấp hơn. Hai bên là hai lễ đài, đặt thẳng hàng với lễ đài chính tạo sự cân đối cho cả khối công trình.

Trước cửa Lăng có hai cây đại, tượng trưng cho sự thanh khiết, thiêng liêng, trường tồn, do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng khi khánh thành Lăng Bác, mỗi bên lễ đài trái, phải trồng 9 cây vạn tuế như hàng tiêu binh đứng trang nghiêm ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người.

Phía sau Lăng, ở hai bên là bức tường lưu niệm ốp bằng đá hoa cương đỏ, sau tường trồng 19 cây ngọc lan, hoàng lan tỏa hương thơm ngát, trước tường có 8 ô vuông trồng hoa hồng bốn mùa xanh tốt.

Xung quanh Lăng Bác là cả một vườn cây quý hiếm, được nhân dân các địa phương cả nước lựa chọn về để xây dựng và tôn tạo Lăng: Những khóm trúc Pác Bó; cây dầu nước; cây đa được triết từ cây đa Tân Trào, nơi Bác Hồ và Trung ương đã quyết định Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; những cây luồng, cây tre vùng Lam Sơn – Thanh Hóa; cây đào được chiết ghép từ cây đào do người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu trồng tại nhà tù Sơn La; quế Trà My; cây chè Shan tuyết cổ thụ….những chậu cây thế, cây cảnh quý hiếm của các địa phương trong cả nước hội tụ về Lăng tạo ra một vùng thiên nhiên tươi đẹp, ngào ngạt hương thơm càng làm tôn vẻ đẹp của Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình.

Phía trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là Quảng trường Ba Đình. Xung quanh là Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch có ngôi nhà sàn Bác đã ở, có Bảo tàng Hồ Chí Minh, đặc biệt với việc phát lộ Hoàng Thành Thăng Long ngay bên Quảng trường Ba Đình càng làm cho nơi đây trở nên ý nghĩa và thiêng liêng hơn bao giờ hết. Trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là cột cờ với chiều cao 25m, một năm 365 ngày đều đặn, không kể mưa hay nắng lễ chào cờ ở Quảng trường Ba Đình vào mùa nóng diễn ra vào lúc 6h sáng, mùa lạnh diễn ra vào lúc 6h30 phút sáng, lễ hạ cờ diễn ra lúc 21h hàng ngày cho cả hai mùa.

Hiện nay, Quảng trường Ba Đình có khuôn viên với chiều dài 320m, rộng 100m, với 240 ô cỏ xanh tươi, mỗi chiều rộng 10,8m, giữa các ô có đường đi lại, rộng 1,4m được lát bằng những tấm bê tông sỏi nổi. Dưới các thảm cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm, đi đôi với hệ thống thoát nước, có hệ thống cấp nước. Hệ thống cấp nước phục vụ cho các nhu cầu cần thiết của hệ thống kỹ thuật.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ là một quần thể di tích thống nhất, liên hoàn trong Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình. Lăng Bác uy nghiêm mà giản dị giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử đã trở thành địa chỉ thiêng liêng, quen thuộc, hướng đến đầu tiên của du khách mỗi khi tới Thủ đô Hà Nội, là niềm tự hào, vinh quang không chỉ của người dân Hà Nội mà còn là nơi hội tụ tình cảm và niềm tin của nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam. Được về bên Bác, trong những ngày toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đang nỗ lực thi đua lập nhiều thành tích chào mừng kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, chúng ta đều thấy lòng mình thật thanh thản, yên bình và đâu đây giữa Quảng trường Ba Đình lộng gió “…tiếng Người giờ đây vẫn âm vang và mai sau vẫn truyền… thiêng liêng tiếng dịu hiền, ngân trong nắng Ba Đình, tràn đầy niềm tin”, làm cho ta không khỏi xao xuyến, xúc động: “Tổ quốc thống nhất vinh quang, lòng Bác vui khi con cháu về càng đông trong tình thương của Bác… Hôm nay đứng bên Người, con xin khắc sâu lời Người.. trọn đời thủy chung…”

Huyền Trang
bqllang.gov.vn

Ngày Độc lập thiêng liêng

Hôm nay, ngày 2/9, Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không biết tự bao giờ người dân Việt Nam quen gọi ngày Quốc khánh là Ngày Độc lập hay Tết Độc lập, với bao cảm xúc thiêng liêng…

Ngày Tết Độc lập, nhìn vào hiện tại, ngẫm về quá khứ, mỗi chúng ta lại canh cánh món nợ với những người hi sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc…

Để hàng năm, vào dịp 2/9, mỗi người dân Việt Nam cất lên ba tiếng Ngày Độc lập hay Tết Độc lập với tâm trạng hào sảng, thiêng liêng, dân tộc Việt Nam đã phải đi qua bao cuộc can qua, đổi biết bao xương máu, mồ hôi và trí tuệ!

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thợ cả vĩ đại xây nền độc lập dân tộc (Ảnh: KT)

Đêm trước của cuộc cách mạng Tháng Tám 1945, bao nhiêu cuộc vận động, tranh đấu, bao nhiêu cuộc khởi nghĩa nổ ra, sóng này lặn, sóng khác mọc, sóng nối sóng, người tiếp người… Những Bãi Sậy, Ba Đình, Thái Nguyên, Yên Thế… Những Yên Bái, Nghệ Tĩnh, Nam Kỳ, Hóc Môn-Bà Điểm…Những nhà yêu nước và những chiến sĩ cộng sản tiếp nối “đầu dám thay đầu, chân nối chân”…

Để có Ngày Tết Độc lập náo nức trong không khí thanh bình của ngày thu, biết bao tháng năm cả dân tộc phải chịu cảnh mưa bom bão đạn, áp bức, lầm than, hết giặc tây lại giặc nam giặc bắc… Ý chí không chịu làm nô lệ, không chịu mất nước thôi thúc cả dân tộc “tự mang sức ta mà giải phóng cho ta”, phá xiềng nô lệ, đánh đuổi giặc gần giặc xa, “gậy tầm vông đập tan quân bạo tàn”, giành “tự do về chói ở trên đầu”…

Nhìn trăm năm gần, ngẫm nghìn năm xa, máu xương của lớp lớp tiền bối xây nên con đường đến đài hoa độc lập…

Độc lập mang giá trị thiêng liêng và linh thiêng…

Độc lập không chỉ là danh xưng, Độc lập đi liền với tự do, con người được ấm no, hạnh phúc. Độc lập là nền để con người tự do xây nên ngôi nhà ấm no, hạnh phúc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thợ cả vĩ đại xây nền độc lập dân tộc, hơn ai hết, Người nhận thức: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì!”.

Chỉ độc lập không thôi, chưa đủ, mà phải tôn cao giá trị của độc lập, phải là một nền độc lập bền vững, mang lại nhiều phúc lợi thực sự cho mỗi con người!

67 năm qua, tự hào vì nền độc lập dân tộc được giữ vững, non sông thống nhất, đất nước hòa bình, nhưng mỗi người dân Việt Nam vẫn canh cánh món nợ với tiền nhân, món nợ với hàng triệu người hi sinh vì nền độc lập dân tộc. Lý tưởng, khát vọng về một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, con người tự do, ấm no, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, chưa thật sự trọn vẹn trong hiện thực đời sống hôm nay.

Những lý tưởng cao cả mà những người ngã xuống vì nền độc lập tự do của dân tộc từng tâm niệm: Non sông ta phải thật sự toàn vẹn, đất nước ta phải thật sự giàu mạnh, con người phát triển tự do, hài hòa, xã hội ta phải thật sự dân chủ, công bằng, văn minh phải trở thành hiện thực bền vững, khi đó món nợ với tiền nhân mới được đáp đền.

Tính thời sự nóng hổi trong mùa Tết Độc lập năm nay là toàn Đảng đang thực hiện các bước tự phê bình và phê bình, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Đảng ta thục hiện cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng lần này là để “đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân”, là thêm một lần nhấn mạnh và đề cao vai trò CÁN BỘ, yếu tố CON NGƯỜI trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biến lý tưởng, hoài bão của Đảng, của dân tộc thành hiện thực.

Thực hiện tự phê bình và phê bình, nhân Ngày Độc lập, mỗi cán bộ đảng viên một lần nữa tự soi mình, nhớ lại lời thề trước Đảng, lời hứa trước dân để tự sửa mình, để bản thân mình đảng viên hơn, cộng sản hơn, để không hổ thẹn với các bậc tiền bối của Đảng, để phần nào xứng với sự chở che, nuôi dưỡng và hi sinh của nhân dân.

Từ lâu rồi, trong dân gian đã truyền câu: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau.

Mỗi ngày, mỗi đảng viên hãy dành một khoảng thời gian cần thiết để nghĩ về đảng, nghĩ về nhân dân, tự sửa mình, tự kết nạp mình vào đảng và cũng tự kỷ luật mình, nếu có điều không phải với dân, với đảng.

Tương lai và vận mệnh đất nước, sự vững bền độc lập dân tộc, vận mệnh của Đảng phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của Đảng ta, sự dũng cảm, trung thực của từng đảng viên của Đảng./.

Uông Ngọc Dậu/VOV1
cpv.org.vn

1946 – Hội đồng Chính phủ vừa lập pháp, vừa hành pháp

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tình thế đất nước muôn vàn khó khăn. Giai đoạn này đã đánh dấu vai trò hết sức quan trọng của Hội đồng Chính phủ, tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Có thể nói, sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua các hoạt động của Hội đồng Chính phủ đã đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn và phức tạp này.

Hội đồng Chính phủ thời kỳ này đảm nhận vai trò lập pháp của Quốc hội, một mặt ban hành các sắc lệnh, mặt khác gánh vác vai trò là cơ quan hành pháp thực hiện việc điều hành và quản lý đất nước trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ vào ngày 3.9.1945. Trong phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nêu lên 6 vấn đề cấp bách mà Chính phủ lâm thời phải tập trung giải quyết: giải quyết nạn đói; thanh toán nạn dốt; tổ chức Tổng tuyển cử; xóa bỏ hủ tục; bỏ ngay các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; và tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ đã liên tục nhóm họp đề ra những quyết sách lớn. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, nạn đói và nạn dốt bước đầu được đẩy lùi, đồng thời thực hiện mềm dẻo trong sách lược đối với quân Tưởng, chèo lái con thuyền cách mạng đứng vững trong giai đoạn đầy khó khăn, phức tạp.

Chính phủ Việt Nam lâm thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3.9.1945

Trong những ngày cuối tháng 9.1945, tình hình quân sự ngày càng phức tạp. Ngày 23.9.1945, dưới sự hỗ trợ của quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Sài Gòn. Trong thời gian này, Hội đồng Chính phủ ngày nào cũng nhóm họp để tìm cách đối phó với âm mưu xâm lược của địch. Các chính sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Hội đồng Chính phủ thời kỳ này luôn bình tĩnh, chủ động, đầy bản lĩnh trước những âm mưu của kẻ thù, với mục tiêu kiên định con đường độc lập dân tộc, cứng rắn về mặt nguyên tắc, mềm dẻo trong sách lược, nhờ đó đã lần lượt đẩy lùi âm mưu của các thế lực phản động, bảo vệ an toàn tuyệt đối chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân mới được xác lập. Với tư cách cơ quan lãnh đạo cao nhất của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội đồng Chính phủ đã thống nhất ban hành nhiều sắc lệnh để tiến hành Tổng tuyển cử, dự thảo Hiến pháp.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một cuộc Tổng tuyển cử đã thành công rực rỡ. Ở 71 tỉnh, thành trong cả nước có 89% cử tri đi bỏ phiếu, cả nước bầu được 333 đại biểu, trong đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau, 43% đại diện không đảng phái, 87% đại biểu là công nhân, nông dân, các chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu là phụ nữ, 34 đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số… Thắng lợi của Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội là mốc son chói lọi, là bước tiến nhảy vọt đầu tiên của thể chế dân chủ Việt Nam.

Những khó khăn và phức tạp của tình hình đất nước thời kỳ này cần có sự lãnh đạo, điều hành thống nhất, Quốc hội đã ủy nhiệm sự lãnh đạo toàn dân cho Chính phủ thông qua các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ. Ban Thường trực Quốc hội luôn sát cánh cùng Hội đồng Chính phủ, bàn bạc, tham gia ý kiến về những chủ trương và chính sách lớn.

Sau Tổng tuyển cử, ở miền Bắc quân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) quay trở lại chiếm Lai Châu, Tuần Giáo, Điện Biên phủ và một số địa phương ở Tây Bắc. Ở miền Nam quân Pháp mở rộng đánh chiếm Tây Nguyên và Nam Trung bộ, bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách gây sức ép với Chính phủ lâm thời đòi giải tán Chính phủ lâm thời, lập ra Chính phủ Liên hiệp quốc gia. Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 4.3.1946 đã đề ra chính sách đàm phán với Pháp trên nguyên tắc Việt Nam độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Chính phủ ủy quyền quyết định chính sách ngoại giao và đàm phán với Pháp. Để chuẩn bị cho nội dung ký Hiệp định Pháp – Việt, Người đã đi đàm phán những nội dung cơ bản với đại diện của Pháp bằng giải pháp: nước Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do. Bằng sự mềm dẻo về sách lược, kiên trì đàm phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Pháp đã chấp nhận đề nghị và ký Hiệp định Sơ bộ 6.3. Nhờ đó, chúng ta đã đẩy nhanh quân Tưởng về nước, loại trừ cho cách mạng một kẻ thù nguy hiểm, phá tan âm mưu của các thế lực đế quốc câu kết với nhau, hòng bán đứng Việt Nam cho Pháp, dành thêm thời gian hòa bình để xây dựng và củng cố lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Để củng cố hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, ngày 22.6.1946, Hội đồng Chính phủ ra Sắc lệnh 63/SL về Tổ chức chính quyền Hội đồng Nhân dân và ủy ban hành chính được bầu ở các cơ sở. Ngày 29.3.1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 23/SL thành lập Việt Nam Công an, cơ quan an ninh quốc gia, có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở. Thành lập một số đảng phái dân chủ như: Mặt trận Liên Việt (28.5.1946), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (27.5.1946), Đảng Xã hội Việt Nam (27.7.1946)…, các tổ chức này hoạt động trong khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố vững chắc Mặt trận đoàn kết dân tộc, thống nhất quốc gia.

Trước sau như một, nhân dân Việt Nam mong muốn hòa bình để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nhưng thực dân Pháp đã bội ước Hiệp định Sơ bộ 6.3 và Tạm ước 14.9, chúng cho quân đánh chiếm Hà Nội và Hải Phòng, Lạng Sơn và một số địa phương khác. Trước sự tráo trở của thực dân Pháp, ngày 17.12.1946, Hội đồng Chính phủ đã họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo trước các đại biểu thống nhất quyết định phát động cuộc chiến tranh trong cả nước. Đêm 19.12.1946, thực hiện chủ trương của cuộc họp Hội đồng Chính phủ, tại Vạn Phúc (Hà Đông), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, sau đó đã chủ động sơ tán các cơ quan đầu não của Trung ương Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc để củng cố lực  lượng, chuẩn bị mọi mặt để lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.

Có thể nói, sau khi giành được độc lập từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật, tình hình đất nước đến tháng 12.1946 diễn ra với nhịp điệu khẩn trương, sôi động, ẩn chứa rất nhiều khó khăn và phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ – nơi tập hợp những nhân sỹ, trí thức ưu tú nhất đã đưa dân tộc giành được những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, đấu tranh chống các thế lực phản động trong và ngoài nước, xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Hiến pháp của một nhà nước do nhân dân làm chủ, tôn trọng quyền tối thiểu của nhân dân. Thắng lợi quan trọng đó ghi dấu ấn và thể hiện vai trò quan trọng của Hội đồng Chính phủ đối với vận mệnh của đất nước. Thắng lợi của giai đoạn này là tiền đề quan trọng để quân và dân ta tự lực vươn lên, xây dựng và bảo vệ chế độ mới, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến ở giai đoạn sau.

Sách Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1, 1945 -1955 (NXB Chính trị quốc gia – 2005) đánh giá: “Hoạt động của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch Chính phủ trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế – tài chính, quân sự, an ninh, văn hóa – xã hội và ngoại giao đều nhằm thực hiện sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, để giữ vững quyền độc lập và tự do… Những hoạt động của Chính phủ làm cho bộ máy chính quyền Nhà nước được từng bước tổ chức chặt chẽ và toàn diện, với đủ cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trở thành công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”.

Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kỳ 1945 – 1946, nhất là năm 1946 cho thấy một mô hình nhà nước kỳ lạ nhưng đặc biệt hiệu quả, xứng đáng được nghiên cứu và đánh giá đúng với tầm vóc của nó.

Đức Minh
daibieunhandan.vn

Nhà nước ra đời từ trong lòng dân

Ngay sau Cách mạng tháng 8, chính quyền đã về tay ta, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Bác Hồ khẳng định Đảng cầm quyền là đầy tớ của dân. Đảng phải tạo mọi điều kiện để chỉ có nhân dân là chủ đất nước còn đảng viên tham gia bộ máy Nhà nước dù là Chủ tịch nước cũng là đầy tớ của dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là hiện thân người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Ảnh:HOÀNG LONG

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là hiện thân người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Bác đòi hỏi lãnh đạo các cấp, người đứng đầu phải nêu gương, đứng đầu một bộ, một tỉnh, một xã, một cơ quan… đều phải nêu gương, Đảng cầm quyền trước hết phải làm được việc này. Nạn đói còn hoành hành, Bác Hồ đề nghị mọi người 10 ngày nhịn ăn một bữa, dành gạo cứu đói. Vừa ở chiến khu về sau cơn sốt rét nặng, Bác cũng nhịn ăn mặc dù tập thể quyết định Bác không phải nhịn. Các việc Bác nêu lên để yêu cầu đồng bào thực hiện, Chủ tịch nước đều thực hiện đến nơi đến chốn.

Trên thế giới chưa có Nhà nước nào đồng cam cộng khổ với dân như Nhà nước dân chủ cộng hòa, hàng chục năm, cán bộ, viên chức không có lương, bác sĩ, kỹ sư, bộ trưởng, chủ tịch, bí thư… hàng ngày đều tăng gia sản xuất để có thêm lương thực, thực phẩm. Năm năm đầu tiên chống Pháp (1945 – 1949) kháng chiến còn trong vòng vây của địch, chưa liên hệ được với các nước bè bạn, thiếu thốn đủ mọi thứ. Đi công tác đến bữa, gặp nhà dân nào vào cũng có ăn, “thêm đũa thêm bát” và dân ở đâu cũng nuôi cán bộ. Bệnh viện chưa có, ốm đau chỉ còn nhà dân, có nhà chỉ còn gạo, khoai, sắn nuôi được một, hai ngày rồi gọi hàng xóm xung quanh xúm đến nuôi. Đúng là dân nuôi những người đầy tớ của mình. Một nhà nước thực sự là đầy tớ trong suốt mấy chục năm, với sức chịu đựng mọi cực khổ ngoài sức tưởng tượng của mỗi con người. Bị thương, vết thương không nặng nhưng cũng không sống nổi vì chưa có thuốc cầm máu. Sốt rét, chỉ cần vài viên thuốc ký ninh là qua khỏi nhưng cũng không có. Cực khổ đến nỗi đồng chí Trần Việt Hoa phục vụ Bác Hồ kể lại có lúc Bác muốn ăn cháo, Bác lại hỏi còn cơm nguội có nấu cháo được không, Bác ngại cơm nguội để đến hôm sau không ăn thì phí. Vào lúc hết sức gian nan này xảy ra vụ tham nhũng Trần Dụ Châu. Tòa án binh tối cao xử hắn tử hình cùng với Cục phó Lê Sỹ Cửu. Một số cán bộ tưởng chưa thể phổ biến công khai vụ tham nhũng lớn khi đất nước còn vô cùng khó khăn, Trần Dụ Châu lại là Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu, lúc này chức vụ đại tá còn hiếm hoi trong quân đội. Bác Hồ chỉ thị thông tin rộng rãi cho đông đảo nhân dân biết. Báo Cứu Quốc đăng sáu kỳ trên 6 số báo hàng ngày, kèm theo xã luận, trình bày đầy đủ, chi tiết mọi mánh khóe, thủ đoạn tham ô, mọi trò ăn chơi xa hoa cùng diễn biến phiên tòa và thi hành án tử hình (chỉ có Trần Dụ Châu đền tội còn Cục phó Lê Sỹ Cửu ốm nặng nên vắng mặt tại pháp trường). Bài xã luận đầu đề “Nhân vụ án Trần Dụ Châu”, đăng số báo ngày 20-9-1950 có đoạn rất đáng chú ý, tới nay đã 62 năm vẫn nguyên vẹn tính thời sự nóng bỏng: “… Có người e ngại: chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ những tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ có thể làm một số dân chúng chê trách hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu Chính quyền, Đoàn thể (1). Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó. Đây là sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn phê bình những sai lầm của cán bộ, của chính quyền, đoàn thể.

Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người khác để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng.

Đây không phải là việc riêng của Chính phủ, của Đoàn thể mà đây là bổn phận của các tầng lớp đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta”.

Qua vụ án Trần Dụ Châu thấy Đảng cầm quyền trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn phức tạp, đến đâu cũng công khai, minh bạch với dân. Mọi lý do “địch biết sẽ bôi nhọ ta” hoặc “không vạch áo cho người xem lưng”, hoặc đòi “giải quyết nội bộ”, cốt để không cho dân biết đều chỉ là những cái cớ không lành mạnh, che dấu tà tâm, ác ý. Cuốn sách “Về Đảng Cộng sản Việt Nam – Hồ Chí Minh” tuyển chọn những trước tác của Bác Hồ về Đảng Cộng sản Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – 1993), có đoạn nói về Bác Hồ đối với Đảng cầm quyền, xin trích: “Suốt 24 năm đứng đầu Nhà nước, đứng đầu một Đảng cầm quyền, Bác Hồ đã giải quyết không biết bao nhieu vấn đề lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hóa, xã hội, những vấn đề của kháng chiến và kiến quốc của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và một phần của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhưng vấn đề Đảng cầm quyền bao giờ cũng là vấn đề được Bác quan tâm nhiều nhất và có một sự chú ý đặc biệt” (trang 25).

Mỗi đảng viên dù giữ chức vụ gì trong bộ máy Nhà nước phải luôn luôn là đầy tớ trung thành và tận tụy của dân. Sự tín nhiệm của nhân dân với Đảng không phải bất di, bất dịch, sự tín nhiệm ấy không thể còn nguyên vẹn nếu Đảng không còn trong sạch vững mạnh. Ngày 2-8-1968, làm việc với Ban Tuyên huấn trung ương, khi nhắc đến chủ nghĩa cá nhân nảy nở, một số cán bộ có chức quyền chỉ lo thân, “đã có nhà lại còn đòi nhà đẹp hơn, đã có xe rồi lại còn đòi xe đẹp hơn”, Bác Hồ nói: “Một dân tộc, một đảng viên và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Bác Hồ với bà con nông dân
Ảnh: TL

Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước hoàn toàn được giải phóng. Lúc này kinh tế tư nhân không còn, giai cấp tư sản và đội ngũ doanh nhân cũng không còn. Một nền kinh tế chỉ còn thành phần nhà nước và tập thể. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp hoàn toàn ngược lòng dân nhưng dân không được góp ý kiến. Lãnh đạo xa dân, không chịu nghe dân, cũng không tin cả đại biểu dân bầu. Quốc hội họp, các đại biểu Quốc hội phát biểu tại hội trường phải viết ra giấy nộp Ban Thư ký để trên duyệt, chỉ được đọc những đoạn hợp với chủ trương chính sách của trên, không được có ý kiến ngược. Nền kinh tế kiệt quệ không chỉ đói mà hàng tiêu dùng cũng không còn, là sức ép buộc phải đổi mới khi đất nước đang bị dồn đến bước đường cùng. Đổi mới đã thay đổi bộ mặt đất nước rất nhanh, nhìn vào đất nước thấy đời sống các tầng lớp nhân dân đều được cải thiện nhưng nhìn ra một số nước cùng khu vực thấy tốc độ phát triển của ta còn quá chậm, ta vẫn đang tụt hậu. Ta chậm vì những yếu kém từ thời tập trung, bao cấp khắc phục chưa được bao nhiêu, kỷ cương phép nước rất lỏng lẻo đi đôi với đặc quyền đặc lợi quá nhiều. Không còn phê bình và tự phê bình là đặc quyền đặc lợi tệ hại nhất, lãnh đạo bên trên gần như đứng trên mọi sự giám sát của Đảng và Nhà nước. Đầu năm 1990, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã vạch rõ việc này: “Giải quyết nội bộ xuất hiện ban đầu chỉ ở cơ quan lãnh đạo bên trên rồi vì dột từ nóc nên nhanh chóng trở thành phổ biến, xuống đến cơ quan lãnh đạo bên dưới. “Vùng cấm” tràn lan đâu cũng có “vùng cấm” không được phê bình, đụng chạm, trong Đảng đương nhiên xuất hiện những “siêu đảng viên” hàng chục năm không phải tự phê bình, tự kiểm điểm nhưng khen ngợi tâng bốc thì quá nhiều, quá đáng cùng với tuyên dương, đề bạt”.

Nhiều cán bộ lãnh đạo chẳng cần học tập, nâng cao năng lực lãnh đạo, trau dồi đạo đức mà vẫn bình chân như vại, giữ hết chức vụ chủ chốt này đến chức vụ chủ chốt khác, chỉ thấy có lên không có xuống, một số người năng lực lãnh đạo quản lý và tư cách đạo đức rất hạn chế lại giữ những mấy chức vụ quan trọng. Trong một số bộ, ngành và cơ quan, ở cả Trung ương và tỉnh, thành phố, cán bộ biết lãnh đạo cấp trên của mình chỉ còn là lực cản, đã đứng ngoài tự kiểm điểm, phê bình lại rất ham nghe nịnh hót, “bốc thơm”, đất nước ngày càng tụt hậu đâu chỉ tại thiên tai, địch họa mà nguyên nhân còn từ chủ quan bên trên nhưng không ai dám nói thẳng ra, chỉ trao đổi, than thở với nhau. Phát biểu trên đây của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lại được đăng báo làm cho nhiều người hy vọng, phải đánh động như vậy thì những “siêu đảng viên” mới giật mình và lãnh đạo Đảng mới thấy phải lập lại trật tự, kỷ cương từ bên trên. Dư luận rất hài lòng khi Tổng Bí thư cho biết Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương sẽ tự phê bình và phê bình. Dân chủ và công khai được đề cao, coi như ánh sáng soi rọi vào mọi góc tối, tham nhũng và mọi tiêu cực không thể ẩn nấp, trụ bám. Trung ương Đảng sẽ họp công khai, chuyển biến bước đầu là một số tổng biên tập được dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa VI) giữa năm 1989, đã có hứa hẹn phóng viên sẽ được đến hành nghề tại Hội nghị Trung ương.

Tình hình biến chuyển được một thời gian rồi mấy năm sau lại như cũ. Phê bình và tự phê bình vắng hẳn, rất ít thấy nhắc đến. Các “vùng cấm” chẳng giảm được là bao lại thêm những “vòng khép kín” của các bộ và UBND tỉnh, thành phố, biến chứng đáng sợ của cơ chế bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản, đã quản lý Nhà nước lại còn quản lý các doanh nghiệp nhà nước, vừa đá bóng vừa thổi còi. Trong mỗi “vòng khép kín” là giang sơn riêng không ai có thể giám sát, một thứ siêu quyền lực sản sinh ra những tỷ tỷ phú có chức quyền. Càng hiểu rõ tại sao tham nhũng càng tràn lan, cán bộ có chức quyền giàu có khác thường nhiều hơn hẳn trước sống xa hoa, đế vương bất chấp dư luận vì chúng đinh ninh có vỏ bọc kiên cố, chúng lại có chức có quyền, câu kết với nhau thành thế lực để che chắn cho nhau. 37 năm độc lập và thống nhất, chỉ còn ta với ta, thuận lợi gấp trăm lần chống ngoại xâm nhưng chống nội xâm không sao thắng lợi, nội xâm không những ngày càng mạnh và tới hiện nay đã thực sự là mối đe dọa đến độc lập và tự do của Tổ quốc. Cũng là đảng cầm quyền nhưng sao thời đánh ngoại xâm phép nước nghiêm như thế, còn nay đánh nội xâm pháp luật, kỷ luật quá lỏng lẻo, gây tổn thất hàng trăm tỷ đồng, hàng ngàn tỷ và có vụ mấy chục ngàn tỷ cũng chẳng thấy cá nhân nào chịu trách nhiệm. Nhà nước ra đời từ trong lòng dân, dân nhịn ăn, nhịn mặc nuôi Nhà nước lúc còn hàn vi, nay dân đóng thuế, Nhà nước giữ tiền nhưng để nội xâm gây tổn thất quá nhiều mồ hôi công sức của dân, dân xót xa lắm.

Trên thế giới, nhiều nước có đảng cầm quyền, mỗi đảng đều tìm mọi cách giữ vững uy tín với dân, tranh thủ sự ủng hộ của dân, khá giống nhau ở chỗ rất tích cực bảo vệ tiền dân đóng thuế, chỉ cần gây tổn thất cho ngân sách nhà nước trên dưới 1.000 đôla Mỹ là bộ trưởng đã bị cách chức. Singapore và Thụy Điển là hai nước chống tham nhũng nổi tiếng thế giới.

Bà M. Sahlin đã được chuẩn bị thay ông Y. Carisson vào chức lãnh tụ Đảng xã hội – dân chủ và là đảng cầm quyền nên đương nhiên bà sẽ là Thủ tướng Thụy Điển. Báo chí phát hiện bà đã sử dụng thẻ tín dụng Euro-card (chỉ dùng để thanh toán những chi phí liên quan đến công vụ) để thanh toán chi phí cho cá nhân như mua quần áo, trả tiền thuê xe và thuê phòng ngủ khi bà đi nghỉ hè, tất cả thành tiền là 8000 đôla Mỹ. Bộ phận kế toán nhắc nhở, bà đã thanh toán ngay và thanh minh đã quên và sơ suất. Mặc dù bà đã thanh toán ngay món tiền nhưng tiêu chuẩn đạo đức chính trị, đặc biệt đối với đảng viên đảng cầm quyền buộc bà phải từ chức. Chức vụ lãnh tụ đảng đã có đảng viên khác đang là bộ trưởng tài chính thay thế.

Bộ trưởng môi trường phát triển Singapore Hoàng Tuấn Văn nhận của một nhà buôn người Indonesia quà biếu 7 vé máy bay để đưa người nhà đi du lịch. Sau khi bị phát hiện, Bộ trưởng không những bị cách chức mà còn phải ra tòa lĩnh án tù 4 năm. Trịnh Chương Viễn, Bộ trưởng bộ Phát triển và Xây dựng, nhân vật số hai có công rất lớn xây dựng Singapore, chỉ sau Lý Quang Diệu. Ông bị phát hiện nhận hối lộ hai lần. Vẫn tưởng công lao rất lớn sẽ được tha thứ nhưng Nhà nước Singapore đã lập tức ra lệnh đình chỉ công tác, chuẩn bị đưa ông ra tòa. Được hỏi tại sao mấy bộ trưởng của Singapore lại bị xử nghiêm đến thế, Lý Quang Diệu trả lời: “Tham nhũng hư hại sẽ làm suy đồi đảng chấp chính (đảng cầm quyền) của chúng ta, nếu không trừng trị nghiêm khắc sẽ làm cho đảng sụp đổ”.

Thụy Điển và Singapore là hai nước có thu nhập bình quân đầu người mỗi năm vào hàng đầu thế giới, thành công của họ là nhờ có đảng cầm quyền vững mạnh, dựa vào sự tín nhiệm của nhân dân, thỉnh thoảng lại có thăm dò dư luận xem đảng có còn xứng đáng cầm quyền không, các quan chức cấp cao của Đảng cầm quyền dù giữ chức vụ gì, phạm sai lầm và tỏ ra mất lòng dân đều bị trừng trị thích đáng và thay thế ngay.

Thái Duy
daidoanket.vn

(1) Lúc này Đảng đã tự giải tán nên công khai gọi là Đoàn thể

Với danh dự và ý chí kiên quyết, Cụ Hồ đã bảo vệ quyền thiêng liêng của các dân tộc được sống trong độc lập tự do

Con người sống phải có mục tiêu, có lý tưởng và thời nào cũng vậy, những con người chân chính bao giờ cũng có một lý tưởng sống. Lý tưởng cao đẹp ấy, có lẽ nằm trong 4 chữ: “Vì nước vì dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại là con người suốt đời vì nước vì dân.

Ngay từ nhỏ, Nguyễn Tất Thành đã được nghe những người bạn của bố mình như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý… nói về nỗi nhục mất nước. Tuổi trẻ của Nguyễn Tất Thành đã từng biết đến sự kiện Phan Đình Phùng chống Pháp, rồi mất ở trên núi khi mới 49 tuổi và Vua Thành Thái vì yêu nước đã bị Pháp đưa vào Ô Cấp, Vũng Tàu để mấy năm sau đưa đi đày ở nước ngoài.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc người cha rất yêu quý của Nguyễn Tất Thành, khi đỗ Phó bảng, vua cho vinh quy về làng, đã nhất định không chịu nằm lên cái võng mà dân làng nô nức kéo nhau ra đón. Cụ chắp tay nói: Tôi đã làm được việc gì có ích cho dân làng đâu, mà dám nằm lên cái võng này! Rồi sau đó cùng bà con đi bộ về làng. Khi nhân dân làm cho ngôi nhà để ở, cụ Phó bảng đã viết lên xà nhà dòng chữ “Vật dĩ quan gia, vi ngô phong dạng” nghĩa là đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình!

Quê hương, gia đình, đất nước… đã giúp Nguyễn Tất Thành nảy nở tấm lòng yêu nước thương dân và sớm nhận ra con đường cứu nước.

Năm 1923, khi ở Pháp, một hôm được Anbe Xarô, Bộ trưởng Thuộc địa mời đến. Mời đến để doạ nạt, nhưng khi thấy không thể doạ nạt được, hắn đã khéo léo phỉnh phờ: “Tôi rất thích những người như anh. Cần gì anh cứ nói với tôi…”. Và Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

tranh son dauBác Hồ về nước – Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.

Có lẽ vì thế, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau tên nước Bác Hồ đã ghi hai chữ Dân chủ: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, tiếp theo đó là những tiêu chí cao cả: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Suốt cuộc đời của Bác, những chữ nhân dân, tổ quốc, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc luôn luôn xuất hiện trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. Những ngôn ngữ ấy xuất hiện trong Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, trong Tuyên ngôn Độc lập… Nhưng cảm động hơn, khiến ta phải suy ngẫm sâu sắc hơn, đó là câu nói này của Bác:

“Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Nhưng nếu nước Độc lập, mà dân không được hưởng hạnh phúc – tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy Bác viết trong: “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng” ngay từ những ngày 17 tháng 10 năm 1945.

Ngày 16 tháng 7 năm 1947, trả lời một nhà báo nước ngoài, Bác nói:

“Cảm ơn ngài. Tôi vẫn mạnh khoẻ, mặc dầu tin Pháp mấy lần đồn rằng tôi đã chết rồi.

Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà. Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ.

Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân, du sơn ngoạn thuỷ, đọc sách làm vườn”.

Nghiên cứu về cuộc đời của Bác, Staley Karnow, giảng viên lịch sử Trường Đại học Harvard Mỹ đã viết: “Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chủ tịch chỉ ám ảnh một mục đích duy nhất, đó là nền độc lập cho đất nước”.

Ông Lê Hữu Lập, một trong những người đã có 12 năm giúp việc Bác Hồ từ 1958 đến 1969. Ông là người được vinh dự đứng tên trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm của Bác được dành dụm từ tiền lương hàng tháng còn lại ít ỏi, sau khi đã trừ mọi chi tiêu sinh hoạt, và nhiều hơn là tiền nhuận bút mà các báo trong và ngoài nước gửi cho Bác.

Dịp đi dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền. Nhưng khi về, Bác không nhập số tiền này vào sổ tiết kiệm của mình, mà nhập vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung, nên không dùng riêng cho mình.

ben cang sgBến cảng Sài Gòn ngày nay. Ảnh: Internet

Tiến sĩ A.Sacơrabôrôty, người Ấn Độ viết:

“Bác Hồ mặc bộ quần áo giản dị, nói giản dị, cách cư xử và tính nết giản dị, viết bằng thứ ngôn ngữ giản dị, xuất hiện một cách giản dị, với vẻ mặt tươi cười làm toả ra sự trong sáng của một tâm hồn giản dị…”.

Phải dùng đến 6 chữ giản dị để nói về Bác, trong một câu ngắn gọn, mà vẫn thấy như chưa đầy đủ.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương, nêu gương để xây dựng Đảng, xây dựng nước. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người học trò xuất sắc, một người cộng sự gần gũi lâu năm bên cạnh Bác đã viết: “Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác…”.

Những ngày sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ làm việc suốt ngày đêm, nhưng vẫn ăn chung với những người giúp việc. Một hôm Bác bận họp, anh em phải để phần cơm cho Bác. Bác về, đang ăn thì lại có người báo Cố vấn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại) muốn được gặp Bác. Bác đã đứng dậy, nhưng sau lại bảo chú cứ mời ông Cố vấn xuống đây cũng được. Ông Vĩnh Thuỵ xuống, thấy Bác đang ngồi trước cặp lồng cơm, một đĩa rau muống luộc, một bát nước mắm và quả trứng luộc… Ông Cố vấn cảm động nói:

– Thưa cụ, từ mai xin cụ cho phép tôi được cho người mang cơm đến hầu cụ.

Bác Hồ cảm ơn, rồi nói: Thôi, cứ để tôi ăn cơm với anh em cũng được. Tôi đã quen rồi.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đều nói, Việt Nam và Hồ Chí Minh là hai cái tên không thể tách rời nhau: Tên của một đất nước anh hùng và tên của người con vĩ đại nhất của đất nước đó. Người tượng trưng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và chính tấm gương đó của Việt Nam, của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành lại quyền sống, độc lập, tự do.

Khi tuổi đã cao, đã nghỉ những công việc của Đảng và Nhà nước, nhiều người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông nên viết một cuốn hồi ký về cuộc đời mình. Nhưng ông nói, tôi muốn dành những ngày còn lại, để nếu có thể viết được gì, thì đó là viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp” những trang về Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:

“Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cả năm 1946, Cách mạng Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đầy sóng gió. Vận mệnh của Tổ quốc mong manh như “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong những năm tháng gian lao chồng chất đó, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng dũng cảm, trí thông minh và tài năng sáng tạo, rất nhạy bén với tình thế, ứng phó rất kịp thời, vận dụng nhiều biện pháp khôn khéo để phân hoá kẻ thù. Lúc thì nhân nhượng với quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa để tập trung sức đối phó với thực dân Pháp. Lúc thì tạm hoà với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước và quét sạch bọn lâu la tay sai của Tưởng.

Dưới tay lái của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm thất bại mọi mưu đồ độc ác của giặc ngoài thù trong, giữ vững chính quyền cách mạng, tranh thủ thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng đó, một ý nghĩ luôn luôn đến với tôi: Nếu bấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”.

Được nhân dân yêu kính, được thế giới tôn vinh, nhưng có lần Bác Hồ đã nói: “Nếu không có nhân dân thì cũng không có Hồ Chí Minh”. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và cách mạng gắn liền với quần chúng, được nhân dân ủng hộ, được nhân dân đoàn kết, hy sinh, chiến đấu và đã làm nên thời đại Hồ Chí Minh.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Người luôn luôn nhắc nhở Đảng và các cấp chính quyền nhiệm vụ chăm lo đời sống nhân dân. Và Bác thường nhắc đến 4 chữ có: “Làm cho Dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, có học hành”.

Đến dự Hội nghị chỉnh huấn cán bộ trung cao cấp ngày 26 tháng 1 năm 1965, Bác nói:“Có Đảng lãnh đạo, dân tộc ta đã trở thành một dân tộc anh hùng, được bè bạn khắp năm châu yêu mến và kính trọng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thắng lợi của cách mạng là do sự phấn đấu hy sinh và trí thông minh sáng tạo của hàng triệu nhân dân. Mỗi chúng ta phải biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình vì nghĩa lớn”. Bác còn nhấn mạnh muốn đánh thắng kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta, đó là chủ nghĩa cá nhân.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Bác Hồ từ biệt chúng ta! 22.000 bức điện chia buồn trên toàn thế giới đã gửi đến Việt Nam. Báo Tin Tức, Cộng hoà Ả Rập thống nhất viết: “Sau 79 năm đấu tranh lâu dài và liên tục, trái tim vĩ đại, trái tim Cụ Hồ Chí Minh đã ngừng đập. Nếu ta nói rằng lịch sử loài người trước đây chưa từng biết đến một kiểu mẫu chiến sĩ nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã để xác nhận chân lý đó. Còn khi ta nói Cụ Hồ đã qua đời, thọ 79 tuổi, chính là ta muốn nói rằng suốt cả cuộc đời lâu dài đó, ngay từ khi còn trẻ cho đến những giờ phút cuối cùng, Cụ đã nắm chắc vũ khí trong tay, bảo vệ với danh dự và ý chí kiên quyết, quyền thiêng liêng của dân tộc mình cũng như các dân tộc khác trên thế giới, được sống trong độc lập, tự do”.

Còn ông Xanh-tơ-ni, Trưởng đoàn Phái đoàn nước Cộng hoà Pháp sang Hà Nội dự Lễ tang Bác Hồ đã viết: “Chúng tôi đi ngang qua trước quan tài bằng kính, ở đó thi hài mảnh khảnh của người chiến sĩ già đang yên nghỉ. Chúng tôi đã đưa thêm vào cả một biển hoa tràn ngập phòng lớn của Hội trường Ba Đình một vòng hoa đồ sộ, để chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của nước Pháp đối với Người!”./.

Bùi Công Bính
Theo baonamdinh.net
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Khát vọng vươn tới

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 2.9.1945. Ảnh: Tư Liệu

Cuộc đổi thay vĩ đại nhất trong lịch sử – cuộc đổi thay vận mệnh đối với cả một dân tộc cũng như cuộc đổi đời đối với mỗi con người – đã thực sự bắt đầu từ ngày 2.9.1945. Vào đầu thế kỷ 21, một cuộc kiến tạo vĩ đại chưa từng có đang được các thế hệ con Lạc cháu Hồng trong thời đại Hồ Chí Minh thực hiện trên dải đất hình chữ S đã thấm mồ hôi, nước mắt và máu của biết bao thế hệ tiền nhân.

Ở mọi thời đại, trong mọi giai đoạn lịch sử, bài học dân là gốc luôn là điều cốt tử! Hôm nay, khi đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trước những dòng xoáy thế sự dữ dội, nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bài học này vẫn đang nóng bỏng tính thời sự.

Điều gì đã giúp cho nhà nước ta vượt qua tất cả những thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong các cuộc chiến tranh cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâu bể” sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải tự đứng vững và tìm lấy con đường đi tới CNXH của mình? Nhìn lại chặng đường 25 năm đổi mới, chúng ta càng thấy rõ bản lĩnh, trí tuệ, khả năng vượt khó của toàn dân tộc dưới sự chèo lái của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chưa bao giờ thế và lực của đất nước ta mạnh như ngày nay. Đó thực sự là một kỳ tích.

Năm 2010, với GDP vượt mốc 100 tỉ USD, thu nhập bình quân tính theo đầu người đạt 1.168USD, chúng ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, thu nhập thấp. Trong khi thế giới chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ, các nguồn vốn đang được cân nhắc rất thận trọng, kỹ lưỡng, nhưng Việt Nam vẫn là một điểm đến đáng tin cậy của các nhà đầu tư.

Những thành tựu đó là minh chứng hùng hồn cho sự năng cảm và tài thao lược của Đảng ta trong một thế giới đang biến động khôn lường, một thế giới vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt mà ở đó cuộc đuổi bắt lợi ích quốc gia và dân tộc đang diễn ra tinh vi và quyết liệt chưa từng có.

Từ nhiều năm nay, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống luôn là bài toán khó giải đối với nhiều quốc gia. Đây đó trên mọi vùng miền của đất nước và ngay giữa Thủ đô, vẫn còn không ít người dân phải bươn chải khuya sớm vì miếng cơm manh áo, phải vật lộn để mưu sinh; một số còn phải chịu cảnh đời ngang trái, bất công.

Sức vóc nền kinh tế và tiềm lực quốc gia còn có hạn, nhưng chúng ta đã nỗ lực lớn để giải quyết hợp lý vấn đề tăng trưởng với bảo đảm an sinh xã hội và Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất về xóa đói giảm nghèo. Những biến động dữ dội trong đời sống của nhiều quốc gia hiện nay càng cho thấy rõ nghèo đói, bất công xã hội, phân hóa giàu – nghèo đang lộ diện là những vấn đề xã hội ngày càng gay gắt, nếu không có một đường lối chiến lược rõ ràng để giải quyết cơ bản và bền vững thì chúng sẽ không những làm lu mờ thành quả phát triển kinh tế mà còn tích tụ trong lòng xã hội những mâu thuẫn, xung khắc không thể xem thường.

Bây giờ, khi tốc độ hội nhập của đất nước ngày càng tăng lên thì toàn thể hệ thống cần được nâng cấp lên trình độ mới. Chúng ta đã xác lập cơ chế đúng đắn Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhưng việc vận hành cơ chế này sao cho khoa học, nhịp nhàng, thông suốt và có hiệu quả là cả tổng thể một loạt vấn đề rất hệ trọng vì nó liên quan, tác động trực tiếp đến những khía cạnh nhạy cảm, phức tạp và căn cốt nhất của thể chế, của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.

Chúng ta đã và đang đấu tranh quyết liệt, nhưng tệ quan liêu, tham nhũng, thói đặc quyền đặc lợi, vô trách nhiệm, vô cảm, sự tù đọng trong tư duy và trì trệ trong hành động… vẫn đang lộ diện như một nguy cơ lớn kìm hãm công cuộc đổi mới. Khi đất nước phải đương đầu với những thử thách mới, trận chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng nóng bỏng.

Đó trước hết là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trong nội bộ Đảng. Cuộc đấu tranh này thử thách bản lĩnh của một đảng cầm quyền. Cuộc kiến tạo lớn sẽ không thể tiến bước nếu bộ máy của ta quá cồng kềnh, đủng đỉnh, nếu chúng ta không loại bỏ được những kẻ tham ô hám lợi, những kẻ vô trách nhiệm, vô cảm trước nỗi bất hạnh và đau khổ của người dân.

Trong ngày Tết độc lập, con tim ta trào dâng xúc động khi nghe giọng Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Đó là lời hịch muôn đời vang vọng núi sông. Năm 2011 này tiếp tục là một năm thử thách hết sức khắc nghiệt bản lĩnh và khả năng vượt khó của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

Ở những thời điểm thử thách nhất, chúng ta càng phải thấm nhuần sâu sắc hơn lời dạy của Người: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công! Trong đại dương thế giới đầy biến động, vẻ đẹp Việt Nam, sức cuốn hút Việt Nam, sức mạnh Việt Nam ẩn chứa và tích hợp trong sự ổn định chính trị – xã hội, bình yên dưới mọi mái nhà. Bình yên trong lòng người! Là con dân nước Việt, đừng ai làm điều gì là tổn hại đến sự bình yên và khối đại đoàn kết quý giá đó./.

Theo laodong.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Lời điếu làm rung động triệu triệu con tim

Ông Đống Ngạc.

“Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo”, ông Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch, kể lại.

Tròn một phần tư thế kỷ là thư ký giúp việc cho Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong quá trình phấn đấu công tác, ông được đề bạt là Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này giữ chức Phó Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sự thật. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia biên tập nhiều đề tài tổng kết lịch sử rất quan trọng, trong đó có đề tài được đề nghị Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông chính là Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Ông Đống Ngạc sinh năm 1925, tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 14 tuổi, ông vào học tại Trường Quốc học Huế. Học hết chương trình tú tài phần một, ông quyết định xếp bút nghiên đi theo cách mạng.

Tháng 9 năm 1945, ông được tuyển vào Quân đội và biên chế về Đại đội 4, Chi đội do đồng chí Võ Quang Hồ chỉ huy (đồng chí Võ Quang Hồ sau này là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Tổng Tham mưu – Quân đội nhân dân Việt Nam).

Tháng 10 năm 1945, đơn vị ông tham gia đoàn quân Nam tiến, cùng quân và dân Khánh Hoà chống thực dân Pháp bảo vệ thành phố Nha Trang. Ông không may bị thương. Vì vết thương quá nặng nên ông được trở về quê hương.

Theo đề nghị của Ủy ban Việt minh xã, người thanh niên đất Quảng quyết tâm vượt lên thương tích nhận nhiệm vụ làm chính trị viên dân quân xã, đồng thời gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc. Công tác ở xã được nửa năm, ông được cử đi dự Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ và được bầu làm Bí thư Huyện đoàn. Và từ đó, làm công tác đoàn thanh niên, ông đã phấn đấu lên đến chức Thường vụ Trung ương đoàn, phụ trách công tác nông nghiệp.

Tháng 4 năm 1962, ông Đống Ngạc được tổ chức phân công về công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, làm thư ký giúp việc cho đồng chí Lê Duẩn từ đó (ngày ấy đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Về kỷ niệm ngày đầu giúp việc đồng chí Lê Duẩn, ông Đống Ngạc kể lại:

“Được về giúp việc cho anh Ba (tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn) nhà lãnh đạo kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất vinh dự nhưng cũng rất lo lắng không hiểu có hoàn thành nhiệm vụ anh Ba giao cho hay không. Nhưng làm việc với anh Ba, tôi thấy anh là một con người giản dị, nhân hậu, rất gần gũi cuộc sống đời thường; một con người biết kết hợp nhuần nhuyễn tình cảm cách mạng cháy bỏng với tri thức cách mạng sâu sắc; một nhà chiến lược có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, có tư duy năng động sáng tạo, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ rất cao. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng anh thường xuyên quan tâm động viên, hướng dẫn tôi rất cụ thể, tỉ mỉ về công việc của người thư ký giúp việc anh.

Hai mươi nhăm năm được sống và làm việc bên anh Ba, tôi có rất nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu sắc nhất là lần tôi được anh Ba giao nhiệm vụ chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, tình hình sức khoẻ của Bác có chiều hướng xấu đi. Tập thể giáo sư, bác sỹ mang hết tinh thần trách nhiệm, nghị lực và tình cảm kính yêu đặc biệt đối với Bác để quyết thắng căn bệnh hiểm nghèo của Người. Trong những ngày ấy, anh Ba và các đồng chí trong Bộ Chính trị cũng vào thăm sức khoẻ của Bác. Sáng sớm ngày 2/9/1969, anh Ba vào thăm Bác rất sớm, ở lại bên giường Bác mãi đến trưa mới về nhà. Tôi linh cảm có điều gì rất hệ trọng đã xảy ra. Nghe tiếng còi xe, tôi ra cổng đón anh. Anh Ba bước xuống xe, mặt buồn rười rượi, đôi mắt đỏ hoe, tôi hiểu ngay rằng cái điều hệ trọng không ai mong muốn đã đến: Bác Hồ của chúng ta đã ra đi theo cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các bậc đàn anh khác.

Mấy ngày hôm đó, vòm trời Hà Nội cũng như cả nước trĩu nặng một nỗi buồn, thiên nhiên như cũng đau nỗi đau của con người. Công tác chuẩn bị tang lễ Bác diễn ra hết sức dồn dập. Những người giúp việc anh Ba, nhất là bộ phận thư ký chúng tôi đều ứng trực cao độ. 9h tối 6/9/1969, vừa đi họp ở Bộ Chính trị về, anh Ba cho gọi tôi và anh Đậu Ngọc Xuân, trong Tổ Thư ký lên phòng làm việc của anh ở số 6 – Hoàng Diệu. Anh trầm ngâm đưa cho chúng tôi Bản Di chúc của Bác Hồ (văn bản mà Bộ Chính trị quyết định công bố trong Lễ Truy điệu Hồ Chủ tịch), hai dự thảo Điếu văn do bộ phận khác chấp bút (hai bản dự thảo này không được Bộ Chính trị thông qua) và giao nhiệm vụ:

– Hai chú chuẩn bị giúp tôi bản Điếu văn khác để đọc tại Lễ Truy điệu Bác.

Nghe đến đây tôi và anh Xuân nhận thức rất rõ rằng công việc được giao là một vinh dự rất lớn nhưng hết sức khó khăn, vượt quá sức mình. Chưa kịp định thần trước nhiệm vụ được giao thì anh Ba chỉ đạo: “Về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế Điếu văn vĩnh biệt Người không nên viết theo công thức. Phải làm sao thông qua Điếu văn nêu bật được những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thấu suốt hơn nữa, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, quyết biến sự nghiệp của Người thành hiện thực.

Thứ nhất, Hồ Chủ tịch nêu cao chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thứ hai, Hồ Chủ tịch gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dìu dắt đồng bào ta phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, vì ấm no hạnh phúc của mọi người. Thứ ba, Hồ Chủ tịch dày công xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi toàn dân thực hiện, coi đó là bí quyết thắng lợi của cách mạng nước ta. Thứ tư, Hồ Chủ tịch kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cách mạng. Thứ năm, Hồ Chủ tịch là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để mọi người học tập noi theo. Các chú chú ý đến văn phong, lời lẽ phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng; văn chương phải có hồn và đi vào lòng người. Cố gắng làm xong trong đêm nay để kịp sáng mai Bộ Chính trị thông qua”.

lời điếu a2Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình.

Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi hội ý và xây dựng đề cương khái quát. Quá 12 giờ đêm, chúng tôi vẫn chưa viết được đoạn nào. Mấy hôm đó, chúng tôi đều thức để chuẩn bị phục vụ tang lễ Hồ Chủ tịch. Chắc vì quá mệt, nên anh Đậu Ngọc Xuân gục xuống bàn. Tôi dìu anh vào giường để anh nằm nghỉ và quay lại tiếp tục nghiên cứu để viết.

Lúc này, chỉ mình tôi ngồi đối diện trang giấy trắng. Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người là lãnh tụ có công lao trời biển và hy sinh cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Nay Người đã ra đi! Dân tộc ta đứng trước một tổn thất, một đau thương lớn lao vô cùng. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo.

Sáng hôm sau, anh Ba dậy sớm hơn mọi ngày và gọi tôi cầm bản thảo lên đọc cho anh nghe. Nghe xong, anh chỉ thị:

– Về cơ bản là được, chú cần suy nghĩ thêm về đoạn nói về tư tưởng của Bác, nội dung 5 lời thề và cân nhắc thêm về từ ngữ.

Dừng lại nhìn tôi, chắc thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ mấy hôm triền miên, anh động viên:

– Nhưng thôi, chú thức suốt đêm chắc là mệt lắm, hãy cứ để như thế cho đánh máy rồi lấy thêm ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó sửa chữa một thể.

Theo sự chỉ đạo của anh Ba, tôi đưa bản thảo sang bộ phận văn thư của Văn phòng Trung ương ở 1A Hùng Vương để đánh máy. Chị Vũ Thị Sinh, Tổ trưởng Tổ Đánh máy đọc bản thảo một lần rồi vừa đánh máy vừa khóc, mọi ngày hai bàn tay như múa trên bàn phím mà hôm đó cứ lóng nga lóng ngóng. Tôi động viên chị trấn tĩnh để hoàn thành bản thảo cho kịp thời gian.

8h sáng 7/9/1969, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp để bàn một số công việc, trong đó có nội dung tham gia vào dự thảo điếu văn. Sau khi lấy ý kiến tham gia, tôi và anh Xuân tập trung chỉnh sửa rất khẩn trương và tích cực, đến quá trưa thì công việc tạm xong. Đó là lần sửa chữa quan trọng nhất nhưng chưa phải là lần cuối cùng.

Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kết quả sửa chữa lần thứ nhất, anh Ba đồng ý và chỉ thị cho chúng tôi gửi Điếu văn cho anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng, anh Tố Hữu, anh Hoàng Tùng… để các anh xem lại, góp ý kiến cho thật chặt chẽ và hoàn hảo. Đồng thời, gửi sang Ban Đối ngoại để kịp dịch ra năm thứ tiếng nước ngoài. Khoảng 8h tối 7 tháng 9, Điếu văn đã hoàn thiện sau 4 lần rà soát, sửa chữa.

Sáng ngày 8 tháng 9, chúng tôi trình anh Ba bản Điếu văn chính thức. Anh xem và nói:

– Tôi nói giọng miền Trung, đồng bào ngoài Bắc khó nghe, tôi phải đọc trước mới được.

Đọc được mấy dòng, anh nghẹn lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má làm nhoà cả kính. Nhìn anh Ba khóc, chúng tôi càng hiểu tình cảm của anh với Bác Hồ kính yêu và tất cả chúng tôi không ai cầm được nước mắt. Ngoài trời mưa tầm tã.

Sáng 9/9/1969, Lễ Truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể và trang nghiêm với lòng thành kính và biết ơn vô hạn với Bác, trên 33 vạn đồng bào, chiến sĩ cả nước và hơn 40 đoàn đại biểu các nước trên thế giới kính viếng và dự Lễ Truy điệu Người.

Sau khi anh Ba nghẹn ngào đọc Di chúc của Bác và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!… Dân tộc ta và Đảng ta mất đi một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào Cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất đi một chiến sỹ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” cả Quảng trường lặng đi rồi oà lên khóc. Các cháu thiếu nhi gục đầu vào lòng các bác lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước khóc nức nở.

Để thể hiện quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng, sau mỗi lời thề trước anh linh của Bác, cả rừng cánh tay giơ cao cùng Ban Chấp hành Trung ương xin thề với Bác sẽ làm tròn sứ mệnh mà Người đã tin cậy giao phó, nguyện đi theo con đường mà Người đã vạch ra…”

Nguyễn Đức Quý
cand.com.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Tương lai đang thúc giục chúng ta viết lên những trang sử mới

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau… Báo SGGP xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới.

Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.

Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?

Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng…

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2-9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân – phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình… Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam – những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác – bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!

Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN…

Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới… Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp… thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.

Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?

Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?

Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến – thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia…

Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt…

Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định… đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động… Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết – đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!

Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!

Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.

Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.

Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”…

Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ. Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật… Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay… Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.

Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!

Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.

Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính…

Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng…

Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.

Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!

Theo sggp.org.vn
bqllang.gov.vn

Bài 3: Diễn biến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 ở Hà Nội

Bài 1: Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực
Bài 2: Cách mạng Tháng Tám – bài học lớn về nắm bắt thời cơ

Có thể nói, thời gian xa đi càng làm tỏa sáng sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1945. Cuộc khởi nghĩa có tiếng vang lớn không chỉ riêng đối với Hà Nội mà thắng lợi của nó còn ảnh hưởng tích cực tới cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhiều địa phương trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới của một nước Việt Nam độc lập.

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Tháng 8.1945, chỉ trong vòng không đầy một tuần, quân đội Xô Viết đánh tan gần 1 triệu quân Quan Đông của Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và Đồng minh vô điều kiện. Tin Nhật đầu hàng vô điều kiện đã nhanh chóng thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng trong toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, khắp cả Bắc, Trung, Nam. Lúc này, các tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về cách mạng, hàng ngũ địch hoang mang, khủng hoảng, do dự, chia rẽ đến cực điểm, quần chúng sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu cuối cùng của cách mạng.

Từ xuất phát điểm ấy, ngày 15.8.1945 khi nhận được tin phát xít Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, Xứ ủy Bắc Kỳ đã triệu tập ngay một hội nghị tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) bàn kế hoạch chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa. Hội nghị đã quyết định thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội).

Ngày 16.8, Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội đã quyết định triệu tập hội nghị mở rộng gấp rút công tác chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị kiểm điểm lại tình hình, phân công cán bộ phụ trách các hướng, đồng thời quyết định kế hoạch phá cuộc mít tinh). Hội nghị chủ trương biến cuộc mít tinh của Tổng hội công chức (sẽ diễn ra ngày hôm sau, là cuộc mít tinh của lực lượng thân Nhật nhằm mục đích ủng hộ Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim) thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng và nếu có điều kiện thuận lợi sẽ biến thành cuộc biểu tình tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Đến chiều ngày 17.8, cuộc mít tinh vừa mới bắt đầu, Việt Minh bất ngờ giương cờ đỏ sao vàng, xông lên chiếm lấy diễn đàn, kêu gọi nhân dân vùng dậy trước con mắt kinh hoàng của phát xít Nhật và bọn tay sai. Các đội tự vệ chiến đấu xuất hiện với vũ khí trong tay bảo vệ cho đội Tuyên truyền xung phong diễn thuyết, hô hào quần chúng ủng hộ Việt Minh.

Trưa ngày 18.8, khoảng 3000 công nhân các xưởng sửa chữa ôtô, các xí nghiệp lớn tổ chức biểu tình trước phủ Khâm sai, ủng hộ cách mạng. Tối ngày 18.8, không khí chuẩn bị khởi nghĩa bùng lên khắp thành phố. Đội Xung phong đột nhập nhà in báo “Tin mới” hướng dẫn công nhân in thêm những khẩu hiệu truyên truyền, hô hào quần chúng khởi nghĩa.

Sáng ngày 19.8, Hà Nội bừng lên không khí đấu tranh, hàng vạn nông dân, công nhân ngoại thành và các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Đan Phượng (Hà Đông), Gia Lâm (Bắc Ninh) mang theo cờ Việt Minh cùng gậy gộc, mã tấu, dao phạt bờ, câu liêm và súng từ khắp các cửa ô dồn dập tiến vào thành phố. Quảng trường Nhà hát Lớn chưa bao giờ đông đến thế, trên quảng trường là cả một rừng cờ đỏ giữa biển người. Trưa 19.8, cuộc mít tinh bắt đầu, sau phút mặc niệm để tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh, nhạc “Tiến quân ca” vang lên hùng tráng, tất cả hướng về lá cờ đỏ sao vàng…

Du kích đánh địch trên đường 191. Ảnh: T.L

Ngay sau đó, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban quân sự cách mạng, cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình vũ trang, đi đánh chiếm các vị trí đầu não quan trọng của địch. Một nửa quần chúng phía trước tiến về phủ Khâm sai, nổ súng thị uy, hô vang khẩu hiệu ủng hộ cách mạng. Trước khí thế hùng hậu của quần chúng, đoàn quân cách mạng tiến về phủ Khâm sai mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể, các đội lính bảo an ngay sau đó chất khí giới nộp cho quân cách mạng. Chiếm xong phủ Khâm sai, đội Xung phong, Tự vệ và quần chúng tiến sang Tòa thị chính, tại đây Thị trưởng chính quyền bù nhìn Trần Văn Lai đã giao chính quyền lại cho nhân dân. Tại Sở cảnh sát, do được vận động từ trước nên anh em cảnh sát đã ngả về cách mạng nhanh chóng. Việc chiếm trại Bảo an binh gặp nhiều khó khăn hơn, có lúc tưởng chừng như đổ máu vì quân Nhật quyết tâm giữ lấy kho vũ khí, nhưng bằng mưu trí, sự khéo léo của ta, đến 4 giờ chiều quân Nhật đã rút lui.

Chiều ngày 19.8, cả Hà Nội ngập tràn trong niềm vui cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công, chính quyền đã nằm trong tay nhân dân. Trong không khí thắng lợi, ngày 20.8.1945 chính quyền cách mạng ra mắt quốc dân trong tiếng vỗ tay vang dội. Hà Nội từ ngày hôm ấy lại trở về với tư cách là người chủ của nước Việt Nam anh hùng.

Thắng lợi ngày 19.8.1945 của nhân dân Hà Nội là thắng lợi của trí tuệ và lòng quả cảm, ngày này đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng cho thắng lợi chung của cách mạng Tháng Tám trong cả nước.

Cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội vào ngày 19.8.1945 đã góp phần quan trọng quyết định kết thúc nhanh chóng quá trình tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

  • Phúc Trần

baobinhdinh.com.vn

Tuyên ngôn độc lập “Là hoa quả của sự đổ máu và hy sinh tính mạng”!

Đó là kết luận được tác giả Trần Dân Tiên viết ra trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nxb Văn học 1970, trang 110) như một lời nhắn nhủ đến mỗi thế hệ người con Việt Nam luôn biết trân trọng giá trị của độc lập tự do, biết hy sinh lợi ích riêng tư để quyết bảo vệ, giữ gìn độc lập tự do của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và một điều hiển nhiên là, sẽ yêu quý độc lập tự do hơn, khi chúng ta thấu hiểu sự hy sinh xương máu của bao thế hệ ông cha ta đã ngã xuống qua mấy ngàn năm lịch sử, từ đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc đến đánh thắng đế quốc Âu – Mỹ và tên phát xít Nhật ở phương Đông cũng vì để đổi lấy nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam hôm nay! Một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng người không đông như Việt Nam nhưng đã gan góc, kiên cường đến lạ thường, trở thành một điều hiếm thấy trong lịch sử nhân loại từ cổ tới kim.

Trên thực tế, để có bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới ngày 2/9/1945 tại Ba Đình (Hà Nội), toàn thể dân tộc ta phải chiến đấu kiên cường suốt 87 năm trời, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 01/9/1858. Ngay từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, các tầng lớp từ nhân dân đến nho sĩ và quan lại đã vùng lên đấu tranh quyết liệt để giữ nền độc lập cho dân tộc.

Trước hết phải kể đến cha con Trương Định – Trương Quyền, rồi Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, hai anh em Phan Tôn – Phan Liêm…rồi một số quan lại yêu nước như đốc học Phạm Văn Nghị đem 300 quân tình nguyện từ Bắc vào kinh đô Huế xin được lên đường giết giặc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con trai đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, đến Tổng đốc Hoàng Diệu kiên cường đánh Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882. Nhiều tri thức nho sỹ còn dùng ngòi bút làm vũ khí đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

Tiếp đến là các phong trào đấu tranh để đòi lại nền độc lập cuối thế kỷ XIX, trong đó phải kể đến phong trào Cần vương dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê ở Trung kỳ; khởi nghĩa Sông Đà, Bãi Sậy ở Bắc kỳ… diễn ra rầm rộ nhưng cuối cùng trước sau đều kết thúc thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ diễn ra rầm rộ, tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Đến lượt Bác Hồ với những hoạt động không biết mệt mỏi cùng với sức mạnh tổng lực của nhân dân theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, kinh qua 15 năm chiến đấu, cuối cùng đã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, độc lập tự do đã về với Tổ quốc Việt Nam sau 61 năm rơi vào tay giặc (1884 -1945).

Khi cuộc Cách mạng tháng Tám đang tiến đến những thắng lợi cuối cùng thì cũng là lúc Bác Hồ viết ra những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập nhằm khẩn trương tuyên bố với đồng bào và thế giới sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bác Hồ viết Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, ở thời khắc gấp rút của cách mạng, trong thời gian chỉ 3 ngày, tại phòng ăn ở số 48 Hàng Ngang, dưới thân phận bí mật…, nhưng nó được coi là “áng thiên cổ hùng văn” và được đưa vào chương trình dạy học phổ thông từ mấy năm nay.

Ngày 27/7/1945, Thường vụ Trung ương họp, rồi Hội đồng chính phủ lâm thời họp, bàn nhiều việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ phụ trách soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Từ ngày 28/8/1945, tức là ngày 21/7/Ất Dậu (1) – khi mà nhân dân ở Hà Tiên và Đồng Nai giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ bắt đầu viết Tuyên ngôn. Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, nhà ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ ở số 48 phố Hàng Ngang – một gia đình doanh nhân giàu lòng yêu nước.

Suốt 3 ngày, với tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng luôn canh cánh nỗi lòng vì độc lập cho dân tộc, vì hạnh phúc ấm no cho nhân dân; từng trải nghiệm hoạt động cách mạng từ Đông sang Tây với chiếc máy đánh chữ đã sử dụng hồi ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ đã viết xong bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 30/8 – ngày mà vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước đông đảo nhân dân tại Ngọ Môn kinh đô Huế và nộp ấn kiếm cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Viết xong, Bác mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập này rồi ngày hôm sau, tức 31/8 Bác bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chỉ còn chờ ngày được tuyên bố.

2 giờ chiều ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nền dân chủ cộng hoà trước đông đảo nhân dân trong và ngoài nước rằng:

“..Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,…đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Dân tộc ấy phải được tự do,…phải được độc lập!…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2).

Những câu chữ chứa đựng hồn non sông nước Việt ấy là nỗi lòng hoạt động cách mạng suốt 35 năm của Bác. Chính vì vậy mà ngày 30/8/1945, sau khi đọc bản thảo cho những người công tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ, Bác Hồ đã không dấu nổi sự sung sướng nói rằng: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Sung sướng vì đây là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác và tinh hoa của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước”. Nó còn “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường,… là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”(3).

Bản tuyên ngôn đó có tính dân tộc, lại có tính quốc tế, vừa có ý nghĩa lịch sử lại có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Nó có tác động trực tiếp đến sự thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay. Giành – giữ và củng cố độc lập dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của thời chiến mà còn là nhiệm vụ quan trọng của toàn dân tộc ta ở thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trên con đường CNXH. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi mà sự hội nhập để phát triển đã trở thành tất yếu thì vấn đề giữ vững nền độc lập để không bị phụ thuộc vào các nước lớn về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế và văn hoá luôn đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ./.
_________________

Chú thích:
(1), Theo Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr.17.
(2), Hồ Chí Minh toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr.555-557.
(3) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học 1970, tr.110.

Theo Lê Đức Hoàng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn