Thư viện

Hào khí Cách mạng Tháng Tám – phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bài học lớn trong thời đại ngày nay

CMT8.5Đoàn người biểu tình ngày 19/8/1945 trước cửa Bắc Bộ Phủ  Hà Nội.

Cách mạng Tháng Tám là kết quả một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Ðảng  và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðược tôi luyện trong thử thách gian khổ, trong máu lửa đấu tranh; qua các cao trào cách mạng, Ðảng ta đã từng bước trưởng thành, xây dựng và phát triển về tổ chức, gắn bó với lực lượng quần chúng cách mạng, tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ, lãnh đạo nhân dân vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ chế độ thực dân, đế quốc hàng trăm năm; xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, thiết lập nền dân chủ cộng  hòa, đưa  nước Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám là kết tinh của tinh thần, ý chí tự lực tự cường, của trí tuệ con người Việt Nam, của truyền thống lịch sử và văn hóa Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng đúng đắn, đầy sáng tạo của Ðảng ta, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là thành quả rực rỡ của sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cách mạng tháng Tám đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu, nhưng có thể nói bài học lớn nhất, sâu sắc nhất đó là “Bài học phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” để giành và giữ chính quyền. Giành chính quyền, đó là mục tiêu của bất cứ cuộc cách mạng nào. Tin tưởng mạnh mẽ ở lực lượng cách mạng của nhân dân, Đảng ta đã chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang với các hình thức và quy mô thích hợp, giành chính quyền từng bộ phận, thành lập và mở rộng các căn cứ địa cách mạng và sẵn sàng chuyển sang hình thức tổng khởi nghĩa khi có điều kiện.

Ngay từ đầu chúng ta đã xác định việc giành chính quyền về tay nhân dân, xây dựng chính quyền của dân và phục vụ nhân dân, chính vì thế; Đảng đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân – trí thức, khai thác và phát huy triệt để động lực tình thần, nêu cao “ý chí Việt Nam”, tinh thần dũng cảm, sáng tạo, sẵn sàng xông lên cứu nước cứu nhà, tạo thành nguồn động lực to lớn để đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi hoàn toàn. Khơi dậy sức mạnh vô địch của hàng chục triệu quần chúng được giác ngộ, với ý thức giành chính quyền cho mình và của mình để rồi xây dựng chính quyền mưu lợi cho hạnh phúc của mình. Bài học lớn của việc giành chính quyền và giữ chính quyền là Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng, làm cho lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, từ đó làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo ra thời cơ cách mạng để đưa cuộc cách mạng đến thành công.

Lực lượng cách mạng có được chính là nhờ Đảng nắm bắt đúng nguyện vọng của quần chúng, biết gắn lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc với nhau, có mục tiêu chính trị rõ ràng, phương pháp cách mạng đúng đắn. Vận dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, thể hiện trong khẩu hiệu đấu tranh từng thời kỳ như: Độc lập dân tộc, người cày có ruộng, 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, chủ trương phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân và hàng loạt hình thức vận động, tập hợp lực lượng, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của quần chúng khác.

Chính vì thế Đảng ta đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công nhân – nông dân và trí thức, tạo nên một nguồn động lực mạnh mẽ đưa cách mạng tiến lên. Đảng ta đã kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và đã biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp và đúng lúc để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước mới của dân, do dân và vì dân. Bạo lực cách mạng được sử dụng ở Cách mạng Tháng Tám chính là sử dụng lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, gắn kết hai hình thức đấu tranh là đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng để tiến lên giành chính quyền.

Sau khi chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà non trẻ ra đời. Đảng ta đã phải lãnh đạo nhân dân ta đương đầu với bao nhiêu thử thách. Ngân khố cạn kiệt, hai mươi vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc; bọn thực dân Pháp núp sau lưng quân đội Anh kéo vào miền Nam. Tất cả bọn chúng đều nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ của ta.

Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh thắng lợi với thù trong giặc ngoài. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận động nhân dân thực hiện tốt 3 nhiệm vụ cách mạng: Chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Chính quyền cách mạng đã kịp thời ban hành các chính sách nhằm bồi dưỡng sức dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, thi đua học chữ quốc ngữ, củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, lãnh đạo cuộc Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà vào ngày 06/01/1946, tổ chức đánh bại mọi âm mưu phản cách mạng, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2/9, chúng ta càng hiểu rõ giá trị lịch sử, thực tiễn sâu sắc mà Cách mạng Tháng tám đã mang lại nhận thức đầy đủ trách nhiệm của các thế hệ hôm nay và mai sau trong việc vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý giá, những tư tưởng mang tầm thời đại của Cách mạng Tháng Tám vào công cuộc đổi mới đất nước, phấn đấu xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, giàu mạnh về kinh tế, văn hóa – xã hội; đảm bảo về an ninh, quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Mùa thu trên quê hương cách mạng Hà Tĩnh

(VOV) – Những ngày tháng Tám lịch sử này, từ khu di tích Ngã ba Nghèn nhìn đâu cũng thấy những xóm làng trù mật, những con đường khang trang, thoáng rộng…

Cách đây 82 năm tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh diễn ra những cuộc biểu tình lớn từ tháng 5/1930 – 7/1931 trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Phong trào cách mạng này là kinh nghiệm quý giúp Đảng ta hoàn thiện đường lối và chiến lược cách mạng, lãnh đạo toàn dân vùng lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Tháng Tám mùa thu này, bầu trời Can Lộc trong xanh lạ kỳ. Dường như tâm điểm của những hoạt động kỷ niệm phong trào Xô Viết lừng danh năm nào ở tỉnh Hà Tĩnh đều hướng về thị trấn Nghèn. Lịch sử thật khéo léo khi chọn Ngã ba Nghèn là nơi khởi đầu của cao trào Xô Viết ở Hà Tĩnh thì ngày nay lại là trung tâm quần tụ các di tích trên một địa phương giàu truyền thống yêu nước. Điểm gặp nhau của Quốc lộ 1A và đường liên xã từ huyện Can Lộc qua Khánh Lộc về Đồng Lộc, Trung Lộc, Ngã ba Nghèn trước thuộc làng Trảo Nha, sau Cách mạng đổi tên là Đại Lộc, huyện Can Lộc, là nơi diễn ra những cuộc biểu tình lớn trong những năm 1930-1931.

Tượng đài Khu di tích ở ngã ba Nghèn, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh

Dù còn nhiều khó khăn, còn bao vất vả quanh năm chống chọi với bão lũ, thiên tai, nhưng Hà Tĩnh luôn biết cách trân trọng và phát huy truyền thống lịch sử để ngày nay tại ngã ba Nghèn đã có một khu di tích xứng tầm, với cụm tượng đài oai hùng khắc tạc vóc dáng của những chiến sỹ cách mạng ngày ấy.

Nhiều khách thập phương đến đây để cảm nhận được tinh thần cách mạng quật cường của nhân dân Hà Tĩnh thuở nào, nhưng với ông Ngô Đức Mách, cán bộ tiền khởi nghĩa ở thị trấn Nghèn, không khí sôi nổi về cao trào cách mạng vẫn nguyên vẹn trong ký ức.

Năm nay 97 tuổi, đã 81 năm trôi qua từ khi diễn ra phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng với ông Ngô Đức Mách-một trong số ít nhân chứng của cao trào Xô Viết còn sống- mỗi lúc nhắc đến những ký ức lịch sử bỗng minh mẫn lạ thường. Ông cho biết: ngày đó Can Lộc có nhiều cuộc biểu tình ở phạm vi tổng và huyện với hàng ngàn người tham gia. Tháng 8/1930 quần chúng kéo về huyện đường hô vang các khẩu hiệu:Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và Nam triều phong kiến…Trước khí thế mạnh mẽ của cuộc biểu tình, tri huyện Trần Mạnh Đàn phải ra tận cầu Nghèn ký vào bản yêu sách.

Ông Ngô Đức Mách nhớ lại: “…Khí thế của phong trào những năm 1930 đó, sôi động lắm. Hai lần biểu tình của nhân dân, tri huyện Trần Mạnh Đàn phải ra chấp nhận yêu sách của những người biểu tình. Phong trào sôi nổi, cờ đỏ của ta bay khắp nơi…”.

Cuộc biểu tình lớn thứ hai vào cuối năm 1930, nhân dân các vùng trong huyện có tới 5.000 người mang nhiều khẩu hiệu, cờ đỏ búa liềm rầm rập tiến đến huyện đường chống đàn áp khủng bố, đòi giảm sưu thuế. Bọn lính bắn vào đoàn biểu tình làm 42 người chết. Ngã ba Nghèn lại ghi nhận nhiều chiến tích và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của nhiều chiến sỹ.

Từ cao trào Xô Viết 1930- 1931 đến Cách mạng tháng Tám, những cái tên như Nghèn, Đỉnh Lự, bến đò Thượng Trụ đã trở thành nơi ghi dấu rất nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Ngã ba Nghèn, trung tâm huyện lỵ Can Lộc nay đã trở thành một trong những địa chỉ đỏ nổi tiếng của Hà Tĩnh. Đó không chỉ là nơi ra đời của chi bộ Trảo Nha, 1 trong 4 chi bộ Đông Dương Cộng sản liên đoàn được thành lập đầu tiên trong tỉnh, không chỉ là nơi diễn ra những cuộc biểu tình lớn trong cao trào Xô viết mà còn là những cuộc mít tinh, biểu tình đầy khí phách của nhân dân trong Cách mạng tháng Tám. “…Phong trào 30-31 có tác động lớn đến việc cướp chính quyền sau này. Từ năm 30 có gián đoạn đi đến năm 1936. Năm 1936 củng cố được đảng bộ Quang Lộc, đến tháng 6/1945 thành lập đảng bộ huyện Can Lộc. Thị trấn Nghèn thành lâp đảng bộ đầu tiên của huyện Can Lộc…”-Ông Ngô Đức Mách nói.

Di tích lịch sử Bến đò Thượng Trụ (Can Lộc) – nơi diễn ra hội nghị thành lập tỉnh Đảng bộ Hà Tĩnh tháng 3/1930

Phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương Xô-viết, Can Lộc là địa phương đầu tiên của tỉnh Hà Tĩnh và các tỉnh Bắc Trung Bộ giành chính quyền về tay nhân dân vào ngày 16/8/1945. Hà Tĩnh là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất trong Cách mạng Tháng Tám vào ngày 18/8/1945.

Chuyện xưa, chuyện nay, câu chuyện của người cán bộ tiền khởi nghĩa Ngô Đức Mách thêm sống động hơn khi nhắc đến sự thay đổi của thị trấn Nghèn, của huyện Can Lộc những năm gần đây. Từng là một thị trấn trọng điểm của bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá tan hoang ngày nào, nay thị trấn Nghèn, cũng nhưng huyện Can Lộc đã thay da đổi thịt. Là huyện đi đầu trong thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới của tỉnh và của cả nước. Can Lộc đã cơ bản xóa xong 3.000 nhà tranh tre, dột nát và ngói hóa nhà ở cho nhân dân ngay trong năm 2005.

Trong thời gian qua, Can Lộc đã huy động 1.160 tỷ đồng để chỉnh trang bộ mặt thị trấn và vùng nông thôn, đầu tư hàng trăm công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Nhàn, ở thị trấn Nghèn vui mừng: Đời sống nhân dân có rất nhiều thay đổi. Hiện nay đường sá khang trang hơn, các công trình công cộng được đầu tư rất nhiều”.

Không chỉ ở thị trấn Nghèn mà các vùng nông thôn Can Lộc cũng có nhiều khởi sắc. Với tinh thần Xô Viết, nhân dân Can Lộc đã đồng lòng hy sinh quyền lợi cá nhân, xóa bỏ những thửa ruộng manh mún, dồn điền, đổi thửa lần thứ hai thành công, từ 320.000 thửa xuống còn 62.000, tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững. Nhờ đó người nông dân Can Lộc có điều kiện xây dựng nhiều vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa như ở Thiên Lộc, Khánh Lộc… cho thu nhập cao. Kinh tế nông thôn có chuyển biến tốt, đời sống nông dân ấm no, không còn hộ đói, hộ nghèo giảm nhanh, số hộ làm ăn khá giả tăng rõ rệt. Hầu hết các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp 2005-2010 hoàn thành trước thời gian đã phần nào nói lên tinh thần Xô-viết trên mặt trận mới của người dân Can Lộc.

Anh Trần Đức Lai, ở xã Khánh Lộc cho biết: “Các phong trào và đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, đặc biệt là phong trào xây dựng nông thôn mới, cuộc sống của người dân càng ngày càng đi lên, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp…”.

Những ngày tháng Tám lịch sử này, từ khu di tích Ngã ba Nghèn nhìn đâu cũng thấy những xóm làng trù mật, những cánh đồng thẳng cánh cò bay và những con đường khang trang, thoáng rộng. Mỗi địa danh, mỗi mảnh đất nơi đây đều thấm đẫm sự cống hiến, hy sinh và cả máu xương của bao thế hệ người Hà Tĩnh.

Mùa thu này, trời xanh cao vời vợi. Khu di tích thêm hấp dẫn lạ kỳ, ai đến đây cũng cảm nhận được và tin rằng dẫu còn nhiều khó khăn nhưng tương lai không xa Hà Tĩnh sẽ trở thành tỉnh phát triển. Bởi trên con đường đó truyền thống luôn là hành trang và động lực để vững bước./.

Đình Hiếu-Văn Hiếu
vov.vn

Thời cơ trong Cách mạng tháng Tám và bài học kinh nghiệm cho đất nước hôm nay

(ĐCSVN) – Cách mạng tháng Tám năm 1945 là biểu hiện mẫu mực của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật chủ động chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán, hiệu quả.

Ngay từ tháng 5 năm 1941, khi Liên Xô chưa tham chiến, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 được tổ chức tai Pắc Bó (Cao Bằng) đã ra Nghị quyết dự báo một cách chính xác hệ quả trực tiếp của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công…”. Thực tiễn lịch sử chứng minh tính đúng đắn của dự báo do Đảng ta đưa ra. Với chiến thắng của Liên Xô và các lực lượng Đồng minh trước chủ nghĩa phát xít, thời cơ cách mạng đã đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Hàng loạt cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra thắng lợi, chủ nghĩa xã hội từ một nước trở thành một hệ thống thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ La tinh đứng trước vận hội lớn của lịch sử.

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19/8/1945 (Ảnh tư liệu)

Cũng từ rất sớm, Đảng ta đã phân tích chính xác mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc, nhận định phát xít Nhật sẽ đảo chính hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và vạch ra kế hoạch hành động khi xuất hiện tình hình mới. Ngày 15-2-1944, trong bài “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” đăng trên Báo Cờ Giải phóng, Tổng Bí thư Trường Chinh xác định sớm hay muộn cuộc đấu súng Nhật – Pháp nhất định sẽ xảy ra. Từ đó đến những tháng đầu năm 1945, vấn đề “cuộc đảo chính của phát xít Nhật” luôn luôn được nhắc tới trong những văn kiện, tài liệu tuyên truyền của Đảng, định hướng công tác chuẩn bị của phong trào cách mạng cho thời điểm “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Vì thế, ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã khai mạc tại chùa Đồng Kỵ, sau đó họp tiếp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh), ra ngay Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945.

Bản Chỉ thị nhận định, cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương tuy gây ra khủng hoảng chính trị, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi. Trung ương xác định kẻ thù mới là phát xít Nhật, đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới và dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật; hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

Dưới ánh sáng của bản Chỉ thị lịch sử đó, các cấp bộ đảng từ trung ương đến địa phương đã theo dõi sát sao diễn biến mặt trận Thái Bình Dương. Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Tại lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang), lãnh tụ Hồ Chí Minh thể hiện quyết tâm “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập!”. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

Như vậy, trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó. Như cơn sóng trào dâng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đạp đổ chính quyền phát xít Nhật và tay sai. Ngày 30- 8- 1945, vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Ngày 2-9-1945, lãnh tụ Hồ Chi Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội). Ba ngày sau, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, tuy mới 15 tuổi và chỉ với hơn 5 nghìn đảng viên, trong vẻn vẹn chưa đầy 20 ngày của Mùa thu lịch sử năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc. Bài học và tấm gương mẫu mực về tận dụng thời cơ trong cách mạng tháng Tám năm 1945 không ngừng được phát huy, phát triển trong các thời kỳ chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của toàn quân, toàn dân ta, lập nên Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 mang tầm cao thời đại…

Công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay được triển khai trong bối cảnh chứa đựng cả thời cơ, thuận lợi và nguy cơ, thách thức đan xen. Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ yếu của thế giới ngày nay; cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình. Bên cạnh đó, nhiều khó khăn, thách thức, nguy cơ đang cản trở con đường phát triển của các quốc gia dân tộc: an ninh thế giới bị đe doạ nghiêm trọng bởi các nhân tố truyền thống và phi truyền thống (bạo loạn, xung đột, khủng bố, chiến tranh, tội phạm tài chính – tiền tệ, tội phạm công nghệ cao, thảm hoạ môi trường…); các thế lực phản động tăng cường chiến lược diễn biến hoà bình chống phá chủ nghĩa xã hội và nhiều chính sách khác cản trở độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới…

Những thời cơ và nguy cơ nêu trên, tự nó, chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng trở thành thuận lợi và khó khăn thực tế hay không, điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, trong đó có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, các chủ trương, chính sách, các hoạt động thực tiễn nói chung. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc, đầy đủ về thời cơ và nguy cơ trong thế giới đương đại, Đảng, Nhà nước đã chủ động xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả; đã tranh thủ tốt các thời cơ, thuận lợi và ứng phó phù hợp trước các nguy cơ, thách thức, đẩy lùi nhiều khó khăn. Nhờ vậy, từ năm 1986 đến nay, đất nước đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: bảo vệ, đổi mới và phát triển chủ nghĩa xã hội trước những thử thách nghiệt ngã của lịch sử; khắc phục khủng hoảng, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; chính trị xã hội ổn định, đời sống nhân dân có nhiều bước cải thiện rõ rệt, đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; quốc phòng, an ninh vững chắc, đối ngoại rộng mở, đảm bảo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế… Thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp quốc gia được nâng cao, tạo tiền đề quý báu cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Trong từng thành tựu của công cuộc đổi mới và trong mỗi bước phát triển của đất nước hôm nay đều khởi nguồn từ những bài học kinh nghiệm quý báu đúc kết từ các thời kỳ cách mạng trước đây. Trong đó, bài học kinh nghiệm nắm bắt và chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời đại./.

PGS.TS Nguyễn Viết Thảo
Tổng biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
cpv.org.vn

Cách mạng tháng Tám – thắng lợi của con đường cứu nước Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu (nguồn: tvad.com.vn)

(ĐCSVN)Cuối năm 1920, sau khi quyết định theo chủ nghĩa Mác – Lênin và trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cứu nước đúng đắn duy nhất là đi theo con đường cách mạng vô sản. Công cuộc cứu nước đó sẽ được kết thúc bằng cuộc nổi dậy của đông đảo quần chúng bị áp bức lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Vào thời điểm bấy giờ, ở Việt Nam có nhiều phong trào yêu nước, nhưng những đường lối cứu nước ấy còn có mặt những hạn chế về tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng nên đều đi đến thất bại. Tư tưởng cứu nước Hồ Chí Minh là hoàn toàn mới ở nước ta lúc đó.

Sau khi xác định được con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh với hoạt động cách mạng vô cùng phong phú, từng bước chuẩn bị những tiền đề và trực tiếp lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam. Đầu tiên là truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa lý luận vào soi sáng, làm chuyển biến về chất phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Điều đặc biệt quan trọng là Hồ Chí Minh đã rút ra những vấn đề về lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn với việc giải quyết những yêu cầu cơ bản của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam để truyền bá một cách dễ hiểu, tạo sự chuyển biến tư tưởng, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân. Đó là lên án chủ nghĩa đế quốc thực dân, thức tỉnh tinh thần đấu tranh giành độc lập, kêu gọi “dân bản xứ” vùng lên, theo con đường cách mạng vô sản, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, về tình đoàn kết liên minh cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc…Trên cơ sở tiếp thu sâu sắc lý luận Mác – Lênin, nắm bắt những kinh nghiệm của cách mạng thế giới và nắm bắt đầy đủ lịch sử, hiện thực đất nước, con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm vạch ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cuốn sách “Đường Cách mệnh” xuất bản năm 1927 đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, lực lượng và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Người chỉ rõ con đường cách mệnh Việt Nam là phải theo con đường cách mệnh Nga: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[1], nghĩa là phải kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dùng bạo lực cách mạng lật đổ chính quyền thống trị, giành quyền làm chủ đất nước về tay nhân dân.

Trả lời câu hỏi Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[2].

Quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước, định ra đường lối cách mạng Việt Nam và thành lập các tổ chức cách mạng, đào tạo cán bộ để chỉ đạo phong trào cách mạng cũng là bước chuẩn bị tiên quyết về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đó là kết quả của sự phát triển phong trào cách mạng trong nước, có sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, nhưng người trực tiếp sáng lập Đảng là lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chánh cương vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo và Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã nêu rõ:

“Về phương diện chính trị:

a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c) Dựng ra chính phủ công nông binh.
d) Tổ chức ra quân đội công nông”[3].

Như vậy Hồ Chí Minh đã xác định đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu trực tiếp của cách mạng Việt Nam.

Sau khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã kiên trì đấu tranh để toàn Đảng, toàn dân thống nhất về tư tưởng, hành động thực hiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Trải qua những cuộc đấu tranh tư tưởng và những cuộc đấu tranh cách mạng, đến cao trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh mới được nhận thức đầy đủ và thống nhất tin theo. Đó là một động lực lớn thúc đẩy cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9 – 3 – 1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra ở các địa phương cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Mùa Thu năm 1945, sau khi Hồng quân Liên Xô và các lực lượng Đồng minh tiêu diệt phát xít Đức, Ý, Liên Xô tuyên chiến và đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật, buộc phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.

Thời cơ cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã đến. Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Bác Hồ đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”[4].

Từ ngày 13 đến ngày 15 – 8 – 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị cử ra Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13 – 8, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.

Ngày 15 – 8 – 1945, tại Tân Trào, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng tức Chính phủ cách mạng lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[5].

Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Khởi nghĩa, hơn 20 triệu đồng bào cả nước đã nhất tề vùng dậy. Suốt một dải non sông hừng hực khí thế chiến đấu. Lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã giành được thế áp đảo chính quyền thống trị. Từ ngày 14 đến ngày 25 – 8 – 1945, chỉ trong 12 ngày, 12 ngày sôi nổi tinh thần yêu nước và khí thế cách mạng tiến công, Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi huy hoàng trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 – 9 – 1945, tại cuộc mít tinh mừng độc lập ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, mở ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng của Đảng, là thắng lợi của lực lượng đoàn kết, chiến đấu hy sinh toàn dân tộc, là thắng lợi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại…Tất cả những yếu tố đó đều bắt nguồn từ con đường cứu nước Hồ Chí Minh. Vì thế, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trước hết là thắng lợi của con đường cứu nước Hồ Chí Minh.

Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hơn 35 năm qua, nhất là qua 25 năm đổi mới, nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Tuy nhiên, hiện nay tình hình thế giới còn đang có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định.

Tình hình trong nước, thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp để nhân dân ta xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, trong đó có sự chống phá của các thế lực thù địch hòng làm thay đổi chế độ chính trị và xâm hại chủ quyền lãnh thổ của nước ta. Trước tình hình đó, không gì khác hơn, chúng ta phải tiếp tục kiên định con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và tiến hành từ hơn 80 năm qua là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XI: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[6].

[1] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, t. 1, tr. 39, 24.
[3] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, t. 2, tr. 4.
[4] . Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, H. 1977, tr. 203.
[5] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 3, tr. 554.
[6] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 65.

PGS. TS Vũ Như Khôi
cpv.org.vn

 

 

 

Quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh trong thời khắc Cách mạng Tháng Tám

Phủ Khâm Sai (Bắc Bộ Phủ) 19-8-1945

Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, với tầm nhìn của một lãnh tụ thiên tài, Hồ Chí Minh nhận định: Chiến tranh không chỉ là nguy cơ cướp đi hàng triệu sinh mạng con người ở các nước tham chiến, đồng thời là cơ hội để nhân dân các nước nhược tiểu đứng lên giành độc lập. Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới, với tư duy chiến lược sắc sảo, nhạy bén, bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Người đã giải quyết thành công vấn đề giải phóng dân tộc. Người đề nghị Quốc tế Cộng sản để Người trở về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam và được chấp nhận. Rời Liên Xô về nước, Người tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cách mạng Việt Nam. Tháng 6-1940, tại Trung Quốc, Người bắt đầu liên lạc được với Đảng ta. Tại buổi gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng ở “Ban hải ngoại”, Người nêu một nhận định chính xác: Chủ nghĩa phát xít nhất định bị tiêu diệt, đây là thời thuận lợi cho các dân tộc dứng lên tự giải phóng. Được tin Pháp đầu hàng Đức, Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(1).

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, trên cơ sở phân tích, đánh giá chính xác tình hình thế giới, mưu đồ của chủ nghĩa phát xít, Người quyết định thành lập “Việt Nam đồng minh hội” ngay trên đất Trung Quốc. Trước mắt, để hợp pháp hóa về mặt tổ chức, có điều kiện về nước một cách công khai; còn lâu dài, để có tổ chức liên lạc với quốc tế. Những quyết định trên thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, sự mẫn cảm chính trị đầy trách nhiệm của Bác Hồ trước vận mệnh của dân tộc, định hướng cho thành công của Cách mạng Tháng Tám. Người tích cực triển khai các hoạt động quốc tế dồn dập: trực tiếp gặp đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, gửi thư cho Quốc tế Cộng sản yêu cầu giúp đỡ… Người quyết định mở lớp huấn luyện chính trị và quân sự cấp tốc đưa về nước tuyên truyền, tổ chức các đoàn thể cứu quốc, chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng… Những quyết định sáng suốt và kịp thời của Bác Hồ trong việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chuẩn bị thực lực bên trong là bước chuẩn bị cần thiết cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Giữa lúc bão táp cách mạng đang nổ ra dồn dập, mùa xuân năm 1941, Bác Hồ về nước. Đây là cuộc gặp gỡ lịch sử giữa vị lãnh tụ tối cao với cả một dân tộc đang sục sôi đấu tranh và mong chờ sự dẫn đường, chỉ lối. Nhận thức rõ yêu cầu lịch sử đó, ngay từ lúc còn ở đất Trung Quốc, Người đã chỉ thị: “Trung ương Đảng phải chuyển về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào”(2). Tháng 2-1941, sau 30 năm bôn ba, Bác Hồ về đến Cao Bằng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Về nước được hơn 3 tháng, với danh nghĩa là đại biểu Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hội nghị quyết định dương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, xác định rõ: “cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(3). Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng do Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1940) của Đảng đề ra. Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén của Bác Hồ, đồng thời phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Bác Hồ đã chủ động xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu đủ sức tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Người vạch ra đường lối cách mạng trước thời cơ mới: “Sẽ thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Đông Dương, 5-1941). Hội nghị đã mở ra một trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Sau Hội nghị, Người chỉ đạo soạn thảo các Văn kiện của Mặt trận Việt Minh như Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Những văn kiện này thể hiện đầy đủ sự thống nhất quan điểm giữa Bác Hồ và Trung ương Đảng ta về những vấn đề thuộc chiến lược của cách mạng Việt Nam. Thành lập Mặt trận Việt Minh là quyết định sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng đúng yêu cầu của lịch sử, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Có thể nói không có Việt Minh thì không có Cách mạng Tháng Tám. Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng và Bác Hồ chú trọng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định duy trì, phát triển Đội du kích Bắc Sơn làm vốn quân sự lâu dài cho cách mạng. Đây là một quyết định sáng suốt và táo bạo. Chính nhờ có chủ trương đúng đắn đó, Đảng đã xây dựng được các trung đội cứu quốc, lực lượng quân sự chính quy đầu tiên của các mạng nước ta. Tháng 9-1944, xét thấy khởi nghĩa vũ trang chưa chín muồi, Bác Hồ ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao – Bắc – Lạng, lựa chọn trong hàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên xuất sắc nhất làm nòng cốt cho đội quân chủ lực. Đồng thời, Người ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ rõ: “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh… Tuy lúc đầu quy mô nó còn nhỏ nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(4). Lực lượng cách mạng chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng. Mùa thu năm 1945, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng và cử ra Ủy ban cách mạng để lãnh đạo các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khu giải phóng đã trở thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc để tiến tới tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Chiến tranh thế giới chuyển biến nhanh chóng, Bác Hồ phát hiện ra mâu thuẫn giữa Mỹ – Anh – Pháp về thuộc địa nói chung, về Đông Dương nói riêng. Bác Hồ gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh bàn phương thức hợp tác Việt Minh – Mỹ. Thực hiện kế hoạch hợp tác đó, Mỹ đã giúp Việt Minh một số súng đạn, thuốc men, nhân viên điện đài và một số quân tình nguyện Mỹ huấn luyện cho lực lượng vũ trang Việt Minh, cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài và kỹ thuật, chiến thuật trận địa. Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất nước ta. Bác Hồ quan hệ với Quốc dân đảng Trung Hoa và Mỹ là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn, bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận đồng minh chống phát-xít mà họ cần quan hệ. Đây là minh chứng điển hình cho quan điểm của Bác Hồ về đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Với tầm nhìn chiến lược, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc xã tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa, thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”(5). Ngày 12-8-1945, qua chiếc đài thu thanh nhỏ, Bác Hồ biết Nhật đàm phán với Đồng Minh, trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, phát xít Đức đầu hàng đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Chớp thời cơ, Bác Hồ cùng Trung ưởng Đảng ta đã chuẩn bị gấp “Hội nghị toàn quốc của Đảng” và “Đại hội đại biểu quốc dân” ở Tân Trào. Người nhấn mạnh: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Và “Cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”(6). Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 14 và 15-8-1945, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc trước khi Đồng minh vào, đề ra đường lối đối nội và đối ngoại sau khi Tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp quyết định thành lập Ủy ban ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ. Ngay sau Đại hội, Người gửi Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ”(7).

Hội nghị toàn quốc, Đại hội quốc dân và Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa kịp thời, đúng thời cơ, động viên được sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trong giờ phút quyết định của lịch sử dân tộc dể giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Hưởng ứng Lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ Việt Minh, nhân dân ta triệu người như một nhất tề đứng lên khởi nghĩa, giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi trên toàn quốc, làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử, Người quyết định soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, ấn định ngày ra mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Đây là quyết định nhạy bén, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế sau chiến tranh; đồng thời khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc ta quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được.

Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, trước cuộc mít-tinh của hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(8). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, cũng là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con của lịch sử, quyết định sáng suốt những bước đi của cách mạng, tiên đoán chính xác, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta chớp thời cơ, giành thắng lợi. Ở thời điểm lịch sử 1945, Người trở thành huyền thoại đẹp nhất. Cống hiến của Người đã giúp cho dân tộc ta hồi sinh, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã đóng góp quan trọng vào tiến trình cách mạng thế giới, phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử nhân loại là chế độ thực dân, thực hiện vai trò tiên phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Thắng lợi đó gắn liền với những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứng minh tính đúng đắn và khoa học của những tư tưởng cách mạng của Người trong thời đại mới…

Trương Thị Hoài
Trường Sĩ quan Lục quân 2,
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai

———————————

(1). Đầu nguồn, Nxb Văn học, H,1975, tr.234. (2). Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử Nxb CTQG, H, 1993, tr.54. (3). Văn kiện Đảng toàn tập, t7, tr.119. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.507-508. (5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.505-506.(6). Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb QĐND, H, 1969, tr.212. (7). Hồ Chí Minh Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.554. (8). Hồ Chí Minh Toàn tập,t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr557.

Trương Thị Hoài, Trường Sĩ quan Lục quân 2
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

Bài học về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Cách đây 67 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã đồng loạt đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dân tộc Việt Nam từ bùn đen nô lệ đã trở thành người làm chủ cuộc sống. Đất nước Việt Nam từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến thành một nước độc lập, tự do. Có được thành quả ngời sáng vinh quang ấy, chính là dân tộc Việt Nam có sự đoàn kết và lòng yêu nước nồng nàn, từ miền núi đến miền xuôi, triệu người như một đứng dậy làm cuộc cách mạng long trời lở đất.

Những người biểu tình xông lên chiếm Bắc Bộ phủ
Ảnh: T.L

Đem sức ta mà giải phóng cho ta

Trước Cách mạng tháng 8-1945, xã hội Việt Nam trong tình thế “thù trong, giặc ngoài”. Trong nước, bọn phong kiến cấu kết với đế quốc Pháp và phát xít Nhật tiến hành cai trị Việt Nam khiến dân ta phải chịu cảnh “một cổ ba tròng”. Chúng cho rằng Việt Nam là “miếng mồi ngon”, phải nắm trọn trong tay, quyết không chia sẻ. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đỉnh điểm mâu thuẫn giữa Nhật – Pháp.

Tình hình thế giới lúc này diễn biến phức tạp. Quân đội Liên Xô liên tiếp giành nhiều thắng lợi trên các chiến trường Châu Âu. Phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện. Liên Xô tuyên chiến với Nhật và chỉ trong vài ngày đã tiêu diệt toàn bộ đội quân Quan Đông tinh nhuệ của Nhật, đẩy Nhật vào thế thất bại không thể tránh khỏi.

Trước tình hình ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, phải tiến hành nhanh chóng khởi nghĩa để giành thắng lợi vì thời cơ thuận lợi đã chín muồi, không thể chậm trễ. Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào đã thông qua “10 chính sách lớn của Việt Nam”, thông qua “Lệnh Tổng khởi nghĩa”, quyết định Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng do Bác Hồ làm Chủ tịch. Trước tình thế không thể trì hoãn, để khơi dậy và phát huy lòng yêu nước và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Giờ quyết định vận mệnh dân tộc đã đến, toàn thể đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân từ Bắc đến Nam đã đồng loạt vùng dậy, tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa đưa cuộc Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi. Cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu nổ ra từ ngày 14 đến 18-8 và giành được thắng lợi ở nông thôn, đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung và các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hội An (Quảng Nam). Tại Hà Nội ngày 17-8, Tổng hội Viên chức của chính quyền bù nhìn tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát thành phố. Cuộc mít tinh này có hàng vạn người tham gia. Trong cuộc mít tinh ấy, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, quần chúng cách mạng đã giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng, chiếm diễn đàn mít tinh. Cán bộ Việt Minh đã diễn thuyết thông báo cho nhân dân biết quân phiệt Nhật đã đầu hàng, kêu gọi nhân dân đứng dậy đánh đổ quân phiệt Nhật. Cuộc mít tinh đã trở thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy, bắt đầu từ Quảng trường Nhà hát thành phố qua phố Tràng Tiền, Hàng Đào, Hàng Ngang đến chợ Đồng Xuân ra Cửa Bắc. Quần chúng vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh. Đả đảo bù nhìn. Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Cả Hà Nội bừng bừng khí thế cách mạng tiến công, sôi sục khởi nghĩa. Ở ngoại thành Hà Nội, cờ đỏ sao vàng giương cao công khai, một số nơi đã thành lập chính quyền cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám đã giành thắng lợi trọn vẹn ở Hà Nội ngày 19-8 và nhanh chóng lan tỏa đi cả nước. Cùng ngày với Hà Nội, chính quyền các tỉnh Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hóa, Khánh Hòa đã về tay nhân dân. Thừa thắng, nhân dân cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa. Từ ngày 20 đến 28-8 hầu hết các địa phương trên cả nước từ Móng Cái đến Hà Tiên đã khởi nghĩa thắng lợi. Địa phương cuối cùng khởi nghĩa thắng lợi là Đồng Nai và Hà Tiên ngày 28-8. Ngày 2-9-1945, trong tiết mùa thu tháng Tám, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tuyên bố với thế giới rằng “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành nước tự do độc lập”.

Bài học giữ chủ quyền ngày nay

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành thắng lợi ngoạn mục, mở đầu thời kỳ oanh liệt nhất, đánh dấu bước biến đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan chính quyền phong kiến thực dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đưa nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ thực sự của đất nước, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến thành một nước độc lập, đưa Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật thành một đảng cầm quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.

Thành công vang dội của Cách mạng Tháng Tám cách đây 66 năm về trước, không chỉ khẳng định cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa bị đế quốc bao vây bốn phía, mà còn khẳng định sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân. Sức mạnh ấy là đỉnh cao của lòng yêu nước nồng nàn và lòng yêu nước đó – như Bác Hồ khẳng định – “đã kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Sức mạnh ấy quy tụ triệu người như một, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, giai cấp. Đó là sức mạnh của dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một bài học vô giá của Cách mạng Việt Nam. Bài học đó càng có giá trị trong công cuộc đổi mới đất nước nhằm xây dựng xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh cũng như trong công cuộc bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.

Mai Thắng
daidoanket.vn

“Đoàn kết là then chốt của mọi thành công”

Quảng trường Ba Đình trong Lễ Tuyên ngôn độc lập (ngày 2-9-1945). Ảnh tư liệu

Những ngày này cách đây 66 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân ta triệu người như một nhất tề đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cách mạng Tháng Tám thành công để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu và vẫn nóng hổi tính thời sự trong cuộc sống hôm nay, trong đó bài học về khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy nguồn sức mạnh vô định của khối đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khái quát: ”Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Xuất phát từ quan điểm đó, Người chỉ rõ: Việc cứu nước, giải phóng dân tộc là việc chung của toàn dân, ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm, người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Thực tiễn lịch sử cũng chứng minh sinh động rằng, có Đảng tuyên truyền, giác ngộ và tổ chức tập dượt đấu tranh từ thấp đến cao, nhân dân ta từ miền xuôi đến miền ngược đã kết thành khối sức mạnh tổng hợp vô cùng to lớn tiến lên làm cuộc cách mạng Tháng Tám thành công, tiếp đó giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta không ngừng chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm huy động tối đa các nguồn lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Quá trình đổi mới đã khẳng định: Có đường lối đúng, đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, nhân dân ta đã hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhờ đó bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đổi thay nhanh chóng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thế và lực của nước ta ngày một nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được sau 25 năm đổi mới là tình trạng quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, xa dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục. Thêm vào đó là khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng giãn ra, đời sống nhân dân nhất là ở nông thôn, miền núi và vùng căn cứ cách mạng năm xưa còn nhiều khó khăn đã và đang tác động không tốt đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tế cũng cho thấy nơi nào khối đại đoàn kết thiếu sự chăm lo củng cố, phát huy thì nơi đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có diễn biến phức tạp, kinh tế – xã hội chậm phát triển; đơn vị, địa phương nào có sự đoàn kết thống nhất cao, lòng dân đồng thuận thì tình hình kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phong đều có chuyển biến tiến bộ.

Tình hình trên đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt hơn tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu với cả thời cơ và thách thức đan xen, bởi theo Người: ”Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của mọi thành công”.

Ngân Giang
baobacgiang.com.vn

Phát huy tính kiên trung cách mạng của những người Cộng sản

(ĐCSVN) – Cả nước ta đang bước vào những ngày sôi nổi kỷ niệm lần thứ 67 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Cũng dịp này, toàn Đảng, toàn dân ta đang bước vào một đợt sinh hoạt chính trị lớn để thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng không ngoài mục đích là phát huy tính cách mạng kiên cường từ 67 năm trước, thể hiện tính kiên trung cách mạng của những người Cộng sản, của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập và rèn luyện.

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19/8/1945. (Ảnh tư liệu)

67 năm qua từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công 19/8/1945 đến ngày Quốc khánh 2/9/1945, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một chính quyền dân chủ nhân dân đầu tiên do những người Cộng sản lãnh đạo trải qua bao thăng trầm, phải chiến đấu với thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt… Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, xâm lược Mỹ kéo dài suốt 30 năm.

Không tính từ ngày Đảng ta được thành lập cách đây 82 năm (3/2/1930), những đảng viên Cộng sản đã vào sống ra chết để bảo vệ Đảng, nắm quần chúng để làm cách mạng “long trời lở đất” năm 1945. Khi cách mạng đã thành công, Đảng đã cầm quyền thì khó khăn càng gấp bội. Như vậy, tính kiên trung, bất khuất của những người Cộng sản cũng phải gấp bội. Mà đức tính kiên trung, bất khuất đó không gì ngoài tinh thần một lòng vì Đảng, vì dân.

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám thành công cũng là dịp ôn lại cuộc chiến đấu của thế hệ những người Cộng sản đã qua 82 năm kiên cường dùng cả trí và lực để cùng toàn dân giành và giữ vững chính quyền nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Từ một nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay, nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã có vị thế lớn trên thế giới, được bạn bè năm châu nể trọng. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng. Chúng ta tự hào vì những người Cộng sản Việt Nam đã và đang hoàn thành trọng trách được nhân dân giao phó, mãi mãi đi theo con đường mà Bác Hồ kính yêu, người Cộng sản số một của Việt Nam, vị lãnh tụ của Đảng, của dân tộc đã chọn. Không sự tuyên dương nào bằng được nhân dân công nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”, Đảng của chính họ.

Đất nước bước vào giai đoạn lịch sử mới. Hơn 20 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng, đất nước ta đạt nhiều thành tựu mới cả trong kinh tế, khoa học kỹ thuật, đối ngoại, an ninh quốc phòng… Vị thế đất nước trên trường quốc tế càng cao, sự tín nhiệm của quần chúng càng lớn thì vai trò của cán bộ, đảng viên càng nặng nề. Không thể vì một số cán bộ, đảng viên các cấp thoái hóa, biến chất mà để quần chúng giảm lòng tin. Chính vì lẽ đó mà tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Trong tháng Tám lịch sử này, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị toàn quốc về việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Toàn Đảng, toàn dân đang bước vào thời điểm rất thiêng liêng và hệ trọng, đang làm những việc rất thiêng liêng và hệ trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm rất lớn với đất nước, dân tộc, đối với Đảng nhưng vì thế mà phải phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm để làm tốt công việc này. Đây là thời điểm phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, vững vàng, thể hiện cho được bản lĩnh, phẩm chất tốt đẹp của người Cộng sản, của người Đảng viên Cộng sản chân chính của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện”.

Tự phê bình và phê bình để nâng cao sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng mạnh lên, tăng lòng tin đối với dân cũng tức là phát huy tính kiên trung cách mạng của những người Cộng sản. Đó là hành động thiết thực nhất để kỷ niệm lần thứ 67 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bởi vì có làm tốt việc này thì thành quả Cách mạng Tháng Tám càng được khẳng định và trường tồn./.

Thanh Phong
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – thắng lợi của đường lối chiến lược, sách lược chủ động và sáng tạo của Đảng

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi, góp phần cùng Đồng minh dân chủ quốc tế đánh bại chủ nghĩa phát-xít, kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, đem lại hòa bình cho toàn thể nhân loại. Cách mạng Tháng Tám còn góp phần tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến Cách mạng Tháng Tám thành công là do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đứng trên lập trường giai cấp công nhân, vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam, nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc và dũng khí đấu tranh anh hùng, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Nói cách khác, là do Đảng ta đã biết kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn tính giai cấp với tính dân tộc của cuộc cách mạng.

Do chưa nhận thức được tính tất yếu trong mối quan hệ giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc của Cách mạng Tháng Tám nên một số học giả nước ngoài đã không thấy hết vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, cuộc cách mạng này nổ ra là do có “sự ăn may”, do lúc đó ở Đông Dương có “khoảng trống quyền lực” (Pháp chạy, Nhật hàng, quân Đồng minh chưa tới) nên Việt Minh mới dễ dàng giành thắng lợi. Một sự thật hiển nhiên mà nhiều nhà khoa học đã chứng minh là, trong hơn 80 năm đấu tranh chống thực dân Pháp, hàng chục cuộc đấu tranh vũ trang oanh liệt của nhân dân Việt Nam nổ ra nhưng vẫn chưa giành được thắng lợi. Nguyên nhân chủ yếu là do các cuộc đấu tranh đó chưa có một giai cấp tiền phong lãnh đạo, chưa có lý luận cách mạng soi đường, cũng như chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, đủ sức giành thắng lợi trước những kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít. Nhưng, còn một sự thật lịch sử nữa phải được làm rõ là, muốn đưa cách mạng đến thành công, không chỉ cần có một Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo mà còn cần có một đảng biết vượt qua bao thử thách, gay go, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm để từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác nhận, để đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám, Đảng phải trải qua ba cuộc vận động cách mạng khó khăn, gian khổ. Đó là:

– Cuộc vận động những năm (1930 – 1935), mà đỉnh cao là phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng (1932 – 1935).

– Cuộc vận động những năm (1936 – 1939), với cao trào Mặt trận Dân chủ năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng đường mới.

– Cuộc vận động những năm (1939 – 1945), Đảng đã sáng suốt phát triển cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Chính nhờ trải qua ba cuộc vận động đó, Đảng từng bước hoàn thiện đường lối chiến lược và sách lược. Điều đó biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:

1. Từ chỗ tiến hành song song hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, đến chỗ xác định rõ nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc.

Đây là cả một chặng đường chuyển biến nhận thức, đổi mới tư duy không đơn giản. Luận cương chính trị của Đảng tháng 10 năm 1930 nêu rõ: “Sự cốt yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”. Phong trào đấu tranh của quần chúng năm 1930 – 1931 cũng nổi lên với khẩu hiệu “Đả thực, bài phong”, không chỉ chống đế quốc xâm lược mà còn đả đảo cả “Trí, phú, địa, hào”.

Chuyển sang thời kỳ những năm 1936 – 1939, trước nguy cơ phát-xít, Đảng thành lậpMặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm kết hợp đấu tranh dân tộc với đấu tranh dân chủ để chống phát-xít. Điều đó bước đầu tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, biểu hiện ở cuộc mít tinh đồ sộ với hơn hai vạn người tham dự ở nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 1/5/1938.

Đến giữa năm 1939, cuộc chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, các nước đế quốc xâu xé lẫn nhau, thời cơ giải phóng dân tộc sẽ đến, Đảng thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm thời hạ thấp khẩu hiệu phản phong. Tại Hội nghị Trung ương 6, họp từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, Đảng ta chỉ rõ: “Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế. Trái lại không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa… Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát-xít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”(2). Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, làm rung động bộ máy thực dân.

Tháng 6 năm 1941, Liên Xô tuyên chiến với Đức. Sau đó, Đồng Minh quốc tế chống phát-xít gồm Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ ra đời. Ở Việt Nam, thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần. Đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, chỉ đạo Hội nghị Trung ương 8 (họp ở Pắc Bó, Cao Bằng). Tại Hội nghị này, Đảng đã hoàn thiện thêm một bước nữa việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay khẩu hiệu “Phản đế” (của Hội nghị Trung ương 6) hay “Phản đế cứu quốc” (của Hội nghị Trung ương 7) bằng khẩu hiệu “Cứu quốc”. Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chính sách của Đảng ta hiện nay là chính sách cứu quốc, cho nên mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu… Công hội từ nay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy những người thợ Việt Nam muốn tranh đấu đánh Pháp – Nhật, lại có thể thu nạp hết cả những hạng cai ký, đốc công trong xưởng mà những công hội trước kia không hề tổ chức. Nông hội từ nay gọi là Việt Nam Nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả hạng phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp – Nhật”. Đồng thời, Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương chuyển thành ba mặt trận “cứu quốc” của ba dân tộc Việt, Miên, Lào.

Ở Việt Nam, Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh (tức Mặt trận cứu quốc, gọi tắt là Việt Minh) ra đời. Các đoàn thể cứu quốc phát triển rộng khắp cả ba kỳ. Ngoài Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, còn có Quân nhân (hay binh sỹ, du kích) cứu quốc, Thương gia cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong… Như vậy, chiến lược cách mạng ngày càng được hoàn thiện và luôn đi đôi với những sách lược cách mạng mềm dẻo, thêm bạn bớt thù (như thu hút cả cai ký, đốc công, phú nông, địa chủ chống Pháp – Nhật vào Mặt trận cứu quốc). Chiến lược, sách lược đó phù hợp với yêu cầu cách mạng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân, được cụ thể hoá trong Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh. Qua nhiều con đường bí mật và bán công khai, Chương trình thâm nhập vào đại chúng, tạo nên Cao trào tiền khởi nghĩa rộng lớn, rồi dẫn đến Tổng khởi nghĩa thành công (chứ không phải đó chỉ là phong trào “tự phát” của quần chúng như có người đã nói).

2. Thực thi quyền dân tộc tự quyết của ba nước Đông Dương

Quyền dân tộc tự quyết là vấn đề quan trọng trong chiến lược cách mạng và trong quan hệ quốc tế. Từ lâu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức rõ vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Bởi vậy, trong Chương trình tóm tắt của Đảng năm 1930, Người đã nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam công bố vấn đề này. Nhưng quyết định đó không sớm được chấp nhận. Từ Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, cho đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 tháng 11 năm 1940, Đảng vẫn khẳng định chỉ có một Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cách mạng của cả ba nước Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao. Đến Hội nghị Trung ương 8, tháng 5 năm 1941, do Người chỉ đạo, Đảng mới quyết định thành lập ba Đảng với ba mặt trận của ba nước như trên đã nói. Nghị quyết Hội nghị khẳng định: “Chiến thuật hiện tại của Đảng ta là phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)… Vậy mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam Độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh. Đảng ta và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên Độc lập đồng minh, Ai Lao Độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương Độc lập đồng minh”. Kèm theo đó là các sách lược mềm dẻo của ba Đảng nhằm tranh thủ được nhiều nhân vật thuộc hoàng gia và thân sỹ yêu nước vào Mặt trận cứu quốc, góp thêm sức mạnh cho cách mạng. Với tinh thần dân tộc tự quyết, sự phát triển song song của cách mạng ba nước Đông Dương từ đó trở đi ngày càng thu được những thành tựu to lớn. Điều đó chứng tỏ, quyết sách chiến lược nói trên là đúng đắn và sáng suốt.

3. Bố trí thế trận cách mạng và sắp xếp lực lượng cách mạng phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử

Khi tình thế cách mạng có sự chuyển biến mau lẹ, đối tượng cách mạng luôn thay đổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng một cách xuất sắc lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào nhận thức xã hội Việt Nam để đề ra các quyết sách chiến lược đúng đắn. Đó là nhận thức rõ các mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu trong xã hội, xác định rõ kẻ thù chính, kẻ thù phụ và hậu bị quân của chúng để sắp xếp Tiền phong quân, Hậu bị quân trực tiếp, Hậu bị quân gián tiếp của cách mạng Việt Nam. Cụ thể, lúc đầu mũi nhọn của cách mạng chĩa vào thực dân xâm lược Pháp và tay sai phong kiến. Khi Nhật vào Việt Nam, Pháp làm tay sai cho Nhật, kẻ thù chủ yếu của cách mạng là Pháp – Nhật. Từ năm 1943 trở đi, Nhật ngày càng lấn chân Pháp ở Việt Nam, kẻ thù chủ yếu của cách mạng được xác định lại là Nhật – Pháp. Từ ngày 9/3/1945 (ngày Pháp đầu hàng Nhật) trở đi, kẻ thù chủ yếu của cách mạng chỉ còn là phát-xít Nhật và tay sai. Điều này có tầm quan trọng rất lớn trong việc bố trí thế trận cách mạng và lực lượng cách mạng Từ năm 1943, bên cạnh Mặt trận Việt Minh là lực lượng nòng cốt, Đảng còn thành lập Mặt trận Dân chủ chống phát-xít và tuyên bố gia nhập Đồng minh quốc tế chống phát-xít. Với sách lược này, ở trong nước có thể thu hút được các lực lượng dân chủ chống phát-xít, kể cả Ấn kiều, Pháp kiều, Hoa kiều; ở ngoài nước có thể coi Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc đều là bạn đồng minh. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp từ ngày 25/2/1943  đến ngày 28/2/1943 khẳng định: “Từ Xô – Đức chiến tranh bùng nổ (22/6/1941), cuộc thế giới chiến tranh lần thứ hai này đã tiến lên giai đoạn mới và đã thay đổi tính chất. Nó không còn là đế quốc chủ nghĩa chiến tranh nữa, mà là chiến tranh phát-xít xâm lược và chống phát-xít xâm lược”. Vì vậy, “Muốn cho Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát-xít Nhật – Pháp có thêm vây cánh, chúng ta phải ra sức tìm kiếm các phái đảng chống phát-xít của người ngoại quốc ở Đông Dương và đề nghị với Việt Minh liên minh với họ theo tinh thần bình đẳng và tương trợ đặng chính thức thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương” (6). Sách lược này tạo nên thế chính nghĩa cho Việt Minh trong sự nghiệp kháng Nhật, cứu nước. Khi giành được chính quyền từ tay phát-xít Nhật, cách mạng Việt Nam đã có thế hợp pháp là đứng vào hàng ngũ Đồng minh chống phát-xít để ra Tuyên ngôn Độc lập và tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Pháp (Đờ Gôn) và Tàu (Tưởng) – thuộc hàng ngũ Đồng minh chống phát-xít, dù có ý đồ tái xâm lược Việt Nam cũng không thể phủ nhận được chân lý hiển nhiên này.

4. Thực thi phương châm chiến lược “kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang”, tiến từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa

Trong thế trận lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu địch mạnh, cách mạng Việt Nam vừa phát huy truyền thống vũ trang anh hùng, bất khuất của ông cha, vừa vận dụng hình thức đấu tranh chính trị của quần chúng. Hình thức này đã nảy sinh từ cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) và phong trào Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939). Đến cuộc vận động cách mạng những năm 1939 – 1945, hình thức đấu tranh chính trị được vận dụng một cách phổ biến trong đại chúng. Ngoài công, nông, còn vận động được cả tiểu thương, tiểu chủ, cai ký, đốc công… cùng tham gia chống độc tài, phát-xít. Năm 1945, phát-xít Nhật – Pháp tăng cường vơ vét lương thực cho chiến tranh, gây nên thảm họa 2 triệu người Việt Nam chết đói, Đảng đã phát động một cao trào đấu tranh kết hợp chính trị với vũ trang: Mít tinh, biểu tình đòi quyền sống, đi đôi với vũ trang phá kho thóc cứu đói, lập các căn cứ địa và các chiến khu cách mạng, tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng địa phương, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc.

5. Nắm đúng thời cơ, kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, ít phải đổ máu

Cách mạng Tháng Tám nổ ra thành công, ít phải đổ máu là do các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã đứng vững trên thế chủ động chiến lược. Đến nay, nhiều người mới rõ, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán: Năm 1945, cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam sẽ thành công. Chương trình cứu nước của Việt Minh ra đời từ Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 năm 1941), đã đến tay những chiến sỹ cách mạng ở các địa phương, kể cả sự truyền miệng qua các lao tù. Khi thời cơ đến, khắp nơi đều chủ động đứng lên giành chính quyền địa phương, như các chiến sỹ Ba Tơ đã nổi lên phá ngục tù, lập căn cứ địa cách mạng ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945). Trong Cao trào tiền khởi nghĩa, nhiều xã, huyện và một số tỉnh đã giành được chính quyền trước ngày giành chính quyền ở Hà Nội. Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Đây là cả một cuộc đấu trí, đấu dũng của cách mạng Việt Nam với bọn đế quốc, phát-xít. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn – khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu (Tưởng) vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Nắm đúng thời cơ, nổi dậy kịp thời, giành được chính quyền.

Như trên đã chứng minh, mặc dù có thuận lợi khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan mới là nguyên nhân quyết định sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó là do có sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng. Nói cách khác, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối chiến lược, sách lược chủ động và sáng tạo của Đảng.

Theo GS Văn Tạo, Tạp chí Cộng sản
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Cách mạng Tháng Tám – mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta. Kỷ nguyên của “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”

cmt8
Quốc kỳ nền đỏ sao vàng, được thông qua ngày ngày 16/8/1945 tại Tân Trào

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi hoàn toàn không phải là một sự ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Để đi đến thành công của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta phải trải qua 3 cuộc vận động cách mạng đầy gian khó là: Cuộc vận động những năm 1930 – 1935, mà đỉnh cao là phong trào Xô viết – Nghệ tĩnh (1930-1931), tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào cách mạng (1932-1935); cuộc vận động những năm 1936 – 1939, với cao trào là Mặt trân Dân chủ năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng đường mới; cuộc vận động những năm 1939 – 1945, Đảng ta đã sáng suốt phát triển cả lực lượng chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Trước tình hình thế giới đầy biến động, đầu năm 1945, phe Đồng minh đang thừa thắng xông lên giải phóng các nước bị phát xít chiếm đóng và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật và chỉ trong một thời gian ngắn đã buộc phát xít Nhật phải đầu hàng vô điều kiện. Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương họp và ra Nghị quyết nêu rõ: “ Kẻ thù số một của các dân tộc Đông Dương lúc này không phải là tất cả chủ nghĩa đế quốc mà chỉ là đế quốc phát xít, đặc biệt là phát xít Nhật – Pháp”. Hội nghị chỉ rõ, toàn bộ công tác của Đảng trong lúc này là chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 3 năm 1945, Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp và ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4 năm 1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang cướp kho thóc của Nhật để cứu đói, đẩy mạnh xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc, mở Trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, phát động chiến tranh du kích ở những nơi có đủ điều kiện, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ đây cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ ngày 13/8/1945 đến ngày 15/8/1945 đã đi đến kết luận: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi”, vì vậy phải “Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”, khẩn trương “Đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê, thành lập ủy ban nhân dân ở những nơi làm chủ”, tất cả vì mục tiêu “Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đến 23h ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1: Hiệu triệu toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó, ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân tại Tân Trào đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Nam, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến Quân Ca và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Trung ương, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta!”.

tong khoi nghia
Ảnh Tư liệu

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc Khởi nghĩa giành chính quyền trong khắp cả nước. Cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu nổ ra từ ngày 14 tháng 8 và đến ngày 18 tháng 8, chúng ta đã giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắcbộ, đại bộ phận các tỉnh miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam. Ngày 19 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Ngày 25 tháng 8, Khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Lạng Sơn, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre,… Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử chính quyền trong cả nước thuộc về nhân dân.

Sáng 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Từ đó lịch sử Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

anh ngay doc lap
Ảnh Tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tất yếu của 15 năm chuẩn bị chu đáo của Đảng ta, là kết quả của cuộc đấu tranh yêu nước rộng lớn của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan được xiềng xích nô lệ của đế quốc thực dân và lật nhào được chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây nước Việt Nam là của người Việt Nam, Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền.

Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công đến nay đã 67 năm, nhưng những giá trị lịch sử sâu sắc mà Cách mạng Tháng Tám đem lại vẫn vẹn nguyên như thuở nào. Từ những bài học lịch sử sâu sắc đó mà Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng vào thực tiễn cuộc sống để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kim Yến
cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Tám – Bản hùng ca bất hủ

(GD&TĐ) – Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bản hùng ca thời đại, cũng là bản hùng ca bất hủ, mãi mãi âm vang đi cùng năm tháng, cổ vũ, động viên toàn dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đi lên phía trước.

Vào những ngày Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã vùng lên lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật, đập tan xích xiềng nô dịch ngót 100 năm của thực dân Pháp, xóa bỏ chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới huy hoàng cho dân tộc: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Vào cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách thống trị vô cùng hà khắc. Chúng dùng mọi thủ đoạn bóc lột dân lành, vơ vét tài nguyên, thẳng tay đàn áp chém giết những người yêu nước, đẩy dân tộc ta vào đêm trường nô lệ. Không chịu khuất phục, nhân dân ta đã nhiều lần vùng lên chống ách nô dịch thực dân, nhưng các phong trào yêu nước đều không thể giành thắng lợi vì thiếu một đường lối đúng đắn. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với người sáng lập là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, được soi sáng bằng Chủ nghĩa Mác – Lê nin, nhân dân ta mới có được con đường cứu nước đúng đắn: Con đường gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Từ đó về sau, mặc dù từng giai đoạn, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng có những nhiệm vụ chiến lược khác nhau, nhưng tinh thần độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trở thành kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao thử thách to lớn để đi đến thắng lợi.

Mít tinh trước Nhà Hát Lớn Hà Nội 19/8/1945Mít tinh tổng khởi nghĩa trước Nhà hát lớn Hà Nội (19/8/1945)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh. Nhiều cao trào cách mạng – những cuộc tập dượt cách mạng lớn đã diễn ra để tiến tới Tổng khởi nghĩa. Đó là cao trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh năm 1930 – 1931, cao trào vận động dân chủ 1936 – 1939, cao trào đánh Pháp đuổi Nhật những năm đầu thập niên bốn mươi của thế kỷ XX, đêm trước của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Những cao trào cách mạng này đã mang đến những kinh nghiệm quý báu giúp Đảng ta hoàn thiện đường lối và chiến lược cách mạng, tăng cường sức mạnh tổ chức, nâng cao năng lực vận động và tập hợp quần chúng, và khi thời cơ đến chỉ với 5000 đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nhất tề vùng lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong toàn quốc.

Bằng việc lật đổ chế độ thực dân, phong kiến đã lỗi thời, lập nên một chế độ xã hội mới tiến bộ, tạo ra những biến đổi xã hội – chính trị to lớn và căn bản, Cách mạng Tháng Tám thực sự là một bước nhảy vọt về chất của xã hội Việt Nam. Đây chính là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta từ đêm trường nô lệ bước đến bình minh của một ngày mới đầy hứa hẹn. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám chính là kết quả của một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng lòng yêu nước là những nhân tố căn bản nhất làm nên thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa lịch sử.

Nguyễn Ái QuốcBác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại vườn hoa Ba Đình

Bản hùng ca Cách mạng Tháng Tám tiếp tục ngân vang theo dọc cuộc trường chinh cách mạng của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, với tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm kiên cường, bất khuất, nhân dân ta đã vượt qua biết bao thử thách, gian khổ, hy sinh để đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau ngày non sông thu về một mối, trước những vận hội và thách thức mới, Đảng lại lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở cửa hội nhập quốc tế nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tháng 1/2011, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thành công tốt đẹp. Để bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã khẳng định phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ với hiệu quả ngày càng cao hơn. Bản hùng ca Cách mạng Tháng Tám đang tiếp tục là nguồn động lực tinh thần to lớn góp phần tạo nên sức mạnh cho đất nước ta đi tới phồn vinh.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra vận hội mới để xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, giáo dục đã được Nhà nước cách mạng non trẻ rất quan tâm. Nhiệm vụ chống nạn mù chữ khi đó đã được Chính phủ lâm thời khẳng định là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Từ đó, nền giáo dục Việt Nam dưới chế độ mới đã không ngừng được xây dựng và phát triển trên cơ sở được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự ủng hộ của toàn xã hội. Từ một nền giáo dục nhỏ bé, manh mún thời Pháp thuộc, chúng ta đã xây dựng được một nền giáo dục bề thế với đầy đủ các cấp học, các trình độ đào tạo. Từ chỗ chỉ có 5% dân số biết chữ hiện nay chúng ta đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Một đội ngũ hùng hậu, đông đảo gồm nhiều thế hệ được đào tạo đã đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển, nhưng với quyết tâm cao, ngành Giáo dục nước ta đang hướng tới đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự ủng hộ của toàn xã hội, nhất định nền giáo dục nước nhà sẽ tiếp tục đổi mới hiệu quả để đóng góp xứng đáng vào công cuộc tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước theo con đường đúng đắn mà Cách mạng Tháng Tám đã mở ra và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định một cách sáng tạo.

GD-TĐ

gdtd.vn

Nét độc đáo và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Trong thế kỷ 19, nhiều nước tư bản ở Tây Âu và Bắc Mỹ mạnh lên và tìm cách mở rộng xâm chiếm thuộc địa, hướng vào các nước còn lạc hậu ở Châu Phi, Châu Á, trong đó có Việt Nam. Để xâm chiếm Việt Nam, Pháp cho lực lượng do thám đi đầu, đội lốt truyền đạo. Những người truyền đạo bất chấp luật pháp, nên bị trừng trị. Chính phủ Pháp, lấy cớ triều đình Việt Nam trừng trị người có đạo, đã cho hải quân kéo đến Đà Nẵng, nã pháo tấn công, rồi chiếm đóng bán đảo Sơn Trà vào giữa năm 1858. Quan quân triều đình kháng cự sau 26 năm, nhưng trong thế ngày càng yếu, cứ nhượng bộ dần và đến ngày 6/6/1884 phải ký Hiệp ước Patơnôtơrơ, cam chịu đầu hàng. Phái viên của Chính phủ Pháp và viên Khâm sứ Pháp ở Huế buộc triều đình Việt Nam phải đem nộp cho chúng cái ấn của vua Tàu phong. Chúng bắt nấu chảy huỷ đi trước mặt chúng để chứng tỏ từ đây, nước Việt Nam là hoàn toàn thuộc nước Pháp, muốn lập ai lên làm vua phải xin phép nước Pháp. Chiếm được Việt Nam, chúng không để nước Việt Nam thống nhất mà chia ra thành 3 kỳ, mỗi kỳ có một chính sách riêng. Chúng tiếp tục dựa vào bộ máy vua quan làm tay sai, duy trì các hình thức bóc lột phong kiến, kiềm hãm sự phát triển của tư bản bản xứ, không lo mở mang dân trí mà chỉ tập trung vào việc khai thác thuộc địa theo một chính sách rất phản động và bảo thủ.

Ngày 23/9/1940, tại Hà Nội Pháp lại chịu ký Hiệp định để cho Nhật chiếm đóng Đông Dương. Ngoài việc cướp bóc ở thuộc địa để tự nuôi chúng và gửi về chính quốc, thực dân Pháp còn huy động nhân tài vật lực của Việt Nam để cung cấp cho Nhật. Quân Nhật vào Đông Dương, từ 10 vạn cuối năm 1943, đến đầu năm 1945 lên 20 vạn. Việt Nam trở thành bãi chiến trường giữa Nhật và quân Đồng minh. Nhân dân Việt Nam bị hai tầng áp bức bóc lột, lại lâm vào cảnh chiến tranh nên vô cùng khốn khổ. Năm 1945, hàng triệu người chết đói. Trước thảm họa mất nước, khắp nơi nổi dậy với nhiều cuộc bạo động, khởi nghĩa, lập căn cứ chống Pháp. Có cuộc một tháng, một năm, có cuộc 5 năm, 7 năm, 10 năm, 25 năm do các sĩ phu, các chỉ huy quân sự, các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng yêu nước lãnh đạo. Các cuộc bạo động kể trên đã bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Ba vị vua chống Pháp bị Pháp bắt đày qua châu Phi. Nhưng những tấm gương vì nước quên thân đó mãi mãi là những nét vàng son tô điểm cho khí phách Việt Nam. Cứu nước theo đường lối nào đây? Đó là câu hỏi lớn đặt ra cho những người Việt Nam yêu nước thời này. Ý tưởng giành độc lập để vua Nam làm chủ nước Nam đã quá lỗi thời. Sự mơ màng về một nước Việt Nam độc lập theo chế độ dân chủ tư sản đã tỏ ra không thực tế vì chưa xuất hiện giai cấp tư sản trong xã hội Việt Nam. Sau trận chiến năm 1905, Nhật đánh thắng Nga, có người tưởng có thể nhờ nước đồng chủng da vàng để đánh đuổi bọn thống trị da trắng; sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, tưởng có thể nhờ Quốc dân Đảng Trung Quốc giúp, nhưng qua thực tế đều thấy không được. Tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước nói trên chỉ được khắc phục từ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cách mạng vô sản và xây dựng được Đảng Cộng sản Việt Nam gánh trách nhiệm lãnh đạo cách mạng vào đầu năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam có chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, xác định rõ mục tiêu đánh đổ ách thống trị của đế quốc phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, thực hiện độc lập dân tộc người cày có ruộng tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Mục tiêu đó hợp với nguyện vọng của nhân dân, hợp với xu thế của thời đại.

Từ ngày có Đảng lãnh đạo, trong 10 năm đầu đã có bốn cuộc bạo động nổ ra ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc như cuộc khởi nghĩa lập chính quyền Xô viết ở Nghệ An – Hà Tĩnh (1930 – 1931) cuộc nổi dậy ở Bắc Sơn (tháng 9 năm 1940) cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (tháng 11 năm 1940) và cuộc nổi dậy của binh lính yêu nước ở Đô Lương thuộc Nghệ An (tháng 1 năm 1941). Các cuộc bạo động này đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước Các phong trào trong những năm từ 1936 đến 1939 đã làm cho quần chúng trưởng thành về đấu tranh chính trị, đấu tranh về văn hóa, đấu tranh về dư luận trên báo chí công khai, bằng các hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp. Ngày 8/2/1941 đồng chí Nguyễn ái Quốc về ở Pắc Bó Cao Bằng, để cùng Trung ương Đảng chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Ngày 25/10/1941, với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, Đảng đã phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Việt Minh lại có Mặt trận liên minh Trung – Việt là hình thức để hoạt động hợp pháp ở nước ngoài, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Đồng minh. Cuối năm 1941, nhiều nơi thành lập đội vũ trang. Năm 1943, hình thành căn cứ địa liên hoàn nối liền Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Hà Giang, Bắc Giang, Vĩnh Yên.

Tiếp theo việc thành lập Đội Việt Nam Cứu quốc quân tháng 2 năm 1941, ngày 22/12/1944 thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ở mặt trận Thái Bình Dương, vào lúc quân Nhật bị thất bại liên tiếp, Nhật đề phòng lực lượng Pháp theo Đờ Gôn nổi lên đánh phía sau lưng khi quân Đồng minh đổ bộ, nên chủ trương lập đổ Pháp trước, để độc chiếm Đông Dương. Đêm 9/3/1945, Nhật nổ súng đánh Pháp cùng một lúc trên toàn cõi Đông Dương. Chưa đầy một ngày, thực dân Pháp, kẻ bỏ chạy, kẻ đầu hàng. Ngày 10 tháng 3, Yôcôhama, đại sứ của Thiên hoàng vào Đại nội gặp Bảo Đại “trao trả cho Việt Nam nền độc lập mà Nhật, vừa giành được trong tay Pháp” và nhận làm “cố vấn tối cao” cho Bảo Đại. Ngày 17 tháng 3, Nhật cho thành lập Chính phủ do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Lúc này nhiều Đảng phái thân Nhật mọc lên như nấm để che đậy bộ mặt xâm lược, Nhật buộc nội các Trần Trọng Kim ra lệnh ân xá tù chính trị. Hàng ngàn cán bộ đảng viên bị giam ở các nhà tù, đã thoát ra ngoài hoạt động. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tích cực chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa, phong trào đấu tranh chính trị dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh lên mạnh. Nhiều tỉnh huyện, chính quyền tay sai của Nhật bị tê liệt. Nhiều chiến khu như chiến khu Đông Triều, chiến khu Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa – khu du kích BaTơ, chiến khu Mộ Đức, chiến khu Sơn Tịnh ở Quảng Ngãi và khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn nơi địch tập trung nhiều lực lượng, thì Đảng và Mặt trận ở đây cũng đã phát động được quần chúng, phát triển nhiều hội viên cứu quốc. Ngày 16/4/1945, Hồng quân Liên Xô tấn công Béclin. Trong 2 tuần lễ, 45 vạn quân phát xít Đức bị tiêu diệt. Ngày 9 tháng 5 Đức đầu hàng không điều kiện. Gọng kìm phía Tây của trục phát xít quốc tế bị bẻ gãy.

Đầu tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo phong trào cả nước. Ngày 6 và ngày 8 tháng 8 năm 1945, Mỹ ném bom nguyên tử vào 2 thành phố Hirôsima và Nagasaki, thúc Nhật hoàng đầu hàng trước lúc Hồng Quân Liên Xô tiến công vào đất Nhật. Ngày 9/8/1945 Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. Trong vòng 1 tuần lễ, một triệu quân Quan Đông thiện chiến nhất của Nhật, đóng ở Mãn Châu bị Hồng quân Liên Xô tiêu diệt. Ngày 13/8/1945 Nhật hoàng chính thức công bố lệnh đầu hàng Đồng minh không điều kiện. 11 giờ đêm ngày 13/8/1945, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban hành. Từ 13 đến 15 tháng 8, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền, cử ra ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, đề ra đường lối đối nội đối ngoại trong tình hình mới. Ngày 16 tháng 8, Đại hội Quốc dân họp, tán thành chủ trương của Đảng là lãnh đạo quần chúng nổi dậy, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, đứng ở địa vị làm chủ nước mình mà tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương. Đại hội thông qua 10 Chính sách, thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội qui định Quốc kỳ là nền đỏ, giữa có ngôi sao vàng 5 cánh, Quốc ca là bài Tiến quân ca. Đại hội quốc dân cũng nhận định: “Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết”. Sau Đại hội Quốc dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến! Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!”.

Trong lúc này, đúng như nhận định của Đại hội Quốc dân Tân Trào, tình hình địch còn rất phức tạp. Được lệnh đầu hàng, gần 20 vạn quân Nhật đóng ở Đông Dương có nản lòng. Nhưng riêng ở Việt Nam, chúng còn 10 vạn quân chưa kể quân Nhật đóng ở Miến Điện còn lần lượt kéo về. Trên đất nước Việt Nam, chúng chưa từng thua trận, đội ngũ còn nguyên, kỷ cương trên dưới còn giữ vững, súng đạn và các kho dự trữ hậu cần còn nhiều. Phát xít Nhật còn mưu toan cứu nguy cho chính quyền tay sai của chúng.

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhân danh “Chính phủ lâm thời” Trần Trọng Kim ra tuyên cáo: “Toàn thể nội các chúng tôi nhất quyết không lùi một bước trước một sự khó khăn nào cả, để làm tròn sứ mệnh là kiến thiết quốc gia, củng cố nền độc lập của Tổ quốc. Muốn đạt được mục đích ấy, chúng tôi vẫn hợp tác chặt chẽ với các nhà đương chức Nhật Bản”. Trong ngày này theo lệnh Nhật, các tổ chức thân Nhật trong “Mặt trận quốc gia thống nhất” họp bất thường, nêu ba khẩu hiệu: “Chống đế quốc Pháp, chống ngoại xâm”, “Bảo vệ trị an”, “Bài trừ phản động” nhằm đối phó với làn sóng cách mạng đang dâng trào.

Ngày 15 tháng 8, Nhật trao cho Khâm sai Bắc Kỳ: Đội Bảo an binh, Ty liêm phóng Trung ương, Trường Đại học và Sở Kiểm duyệt báo chí. Phủ Khâm sai họp “Hội đồng tư vấn” kêu gọi thanh niên và công chức lập thành đội ngũ, theo lớp huấn luyện đặc biệt của Bộ Thanh niên để lo việc kiến thiết quốc gia và yêu cầu Nhật phát súng đạn cho họ. Nhật cũng tổ chức lễ trao trả Nam Kỳ cho chính quyền Bảo Đại – Trần Trọng Kim.

Ngày 23 tháng 8 theo lệnh Nhật, bọn thân Nhật ở Sài Gòn tổ chức đón Nguyễn Văn Sâm mới được cử làm Khâm sai Nam Kỳ. Triều đình Huế còn đề nghị Việt Minh hãy tham gia nội các mới của Thủ tướng Trần Trọng Kim. Khâm sai Bắc Kỳ Phan Kế Toại, quyền Khâm sai Hồ Văn Ngà ở Sài Gòn trong lúc gặp đại diện của Việt Minh đã nói rõ điều đó. Đại diện Việt Minh chẳng những phản bác mà còn nói rõ tình thế, hướng cho họ suy nghĩ để có thái độ ứng xử sao cho ích nhà, lợi nước.

Ngày 17/8/1945 Phan Kế Toại nhận rõ thời cuộc đã từ chức Khâm sai Bắc Kỳ. Điều phải tính tới nữa là lực lượng quân Pháp, sau khi bị Nhật đảo chính, số chạy qua Trung Quốc, qua Lào, có thể quay trở lại, số quân Pháp bị nhốt trong các trại tù binh của Nhật có thể được Nhật thả ra, để trở thành các đơn vị của quân đội thực dân Pháp chống lại lực lượng khởi nghĩa.

Ngày 24/3/1945 Sáclơ Đờgôn đã từng tuyên bố sẽ chiếm lại Đông Dương sau khi Nhật bại trận. Còn phức tạp hơn vì từ năm 1940, Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch đã chuẩn bị kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” và chúng đã cho tay sai vào chiếm 5 thị xã: Hà Giang, Lào Cai – Móng Cái, Lai Châu, Vĩnh Yên. Lệnh tổng khởi nghĩa phát ra đêm 13 tháng 8 chỉ đến được với những nơi gần. Các địa phương xa thì do đảng viên tự theo dõi tình hình, dựa vào Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Trung ương Đảng ban hành từ 12/3/1945, mà tính kế hoạch giành chính quyền ở địa phương.

Ngày 14 tháng 8, các đơn vị giải phóng quân mở đầu tấn công giải phóng các thị xã Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái. Từ ngày 14 đến ngày 28 tháng 8, trừ 5 thị xã ở biên giới phía Bắc do tay sai của Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch chiếm đóng, khắp nơi trên cả nước kể cả ở Côn Đảo, lực lượng khởi nghĩa đều đã giành được chính quyền. Riêng ở ba thành phố lớn: Hà Nội – Huế – Sài Gòn, tình hình diễn biến có phức tạp hơn. Ở Hà Nội, đề phòngViệt Minh nổi dậy, quân Nhật đã tổ chức canh gác nghiêm nhặt, tăng cường lực lượng vũ trang phòng vệ ở các nơi xung yếu như nhà máy điện, nhà máy nước, kho bạc, nhà băng Đông Dương, nhà ga, bưu điện. Chúng cho xe thiết giáp đi tuần và thị uy suốt đêm. Chúng cho dán khắp các phố tuyên cáo của hiến binh Nhật cấm nhân dân tụ họp. Bọn Đại Việt quốc gia liên minh thân Nhật định dùng Tổng hội viên chức tổ chức một cuộc mít tinh lớn của các giới để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 17 tháng 8. Mặc dầu chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, nhưng khi biết được tin này, Đảng bộ Hà Nội liền chỉ thị cho lực lượng công nhân và thanh niên cứu quốc khoảng 3.000 người với các chi đội tự vệ vũ trang gần 2.000 người tham gia cuộc mít tinh này.

Sáng 17 tháng 8, trước Nhà hát lớn, đã có cuộc mít tinh với khoảng 20 ngàn người dự. Bọn tay sai Nhật vừa tuyên bố khai mạc thì Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh nhảy lên giành lấy diễn đàn, cờ đỏ sao vàng đồng loạt phất lên, được quần chúng hoan hô nhiệt liệt. Sau khi nghe tin Nhật đã đầu hàng, nghe chủ trương cứu nước của Mặt trận Việt Minh, quần chúng rầm rập kéo biểu tình thị uy trên các đường phố, hô vang các khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh” “Đả đảo bù nhìn”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đêm 17 tháng 8, Thành ủy họp, thấy cần thay đổi khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật” bằng khẩu hiệu “Chống mọi sự hành động của đế quốc can thiệp vào công cuộc giành độc lập của dân tộc Việt Nam” và chủ trương không đánh vào các đồn trại của Nhật, mà dùng kế “địch vận”. Ở ngoại thành sẽ khởi nghĩa vào ngày 18 tháng 8. Ở nội thành sẽ khởi nghĩa ngày 19 tháng 8 để có nhân dân ngoại thành tiếp sức. Ngày 18 tháng 8, 3.000 công nhân biểu tình trước Dinh Khâm sai, nơi mà Phan Kế Toại trước đó l ngày đã từ chức. Tất cả tù chính trị còn bị giam ở Hỏa Lò cũng đấu tranh và cũng được thả ra. Nhân dân Hà Nội đòi thả hai ngựời bị Nhật bắt vì đã dùng ô tô Nhật chở vũ khí từ Gia Lâm vào nội thành, cũng được Nhật nhượng bộ.

Sáng ngày 19/8/1945, cả Thủ đô vùng dậy, dưới rừng cờ đỏ sao vàng, bừng bừng khí thế, kéo đến họp mít tinh ở Quảng trường Nhà hát lớn, nghe lời kêu gọi của Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội. Sau đó đi tuần hành thị uy và lần lượt chiếm Phủ Khâm sai, Tòa thị chính, Trại lính bảo an, Sở Cảnh sát và các công sở của chính quyền bù nhìn. Ở Hà Nội, có hàng vạn quân Nhật với Bộ tư lệnh đóng ở Phủ toàn quyền, nhưng trước khí thế sôi sục của lực lượng khởi nghĩa và chủ trương của Thành ủy Hà Nội không đánh vào đồn trại của Nhật, nên Nhật không can thiệp vào hoạt động của Việt Minh. Cuộc khởi nghĩa thành công ở Hà Nội đã cổ vũ các nơi gấp rút nổi dậy giành chính quyền. Ở thành phố Huế, nơi tiêu biểu cho chế độ phong kiến, nơi đóng trụ sở của Chính phủ Trần Trọng Kim, lực lượng Việt Minh đã có cơ sở mạnh trong các tổ chức của địch như tổ chức Thanh niên Phan Anh, học sinh TrườngThanh niên tiền tuyấn và các trại lính bảo an. Những người lãnh đạo ở Huế cố tránh không làm cho Bảo Đại và Trần Trọng Kim sợ hãi. Vì nếu sợ hãi, họ có thể yêu cầu quân Nhật bảo vệ, rồi cố thủ trong thành Huế có tường cao, hào sâu, có đồn trại canh giữ cho đến lúc quân Đồng minh đến. Và như vậy thì ở Huế nói riêng, cũng như tình thế chung của cuộc tổng khởi nghĩa sẽ gặp nhiều khó khăn. Từ đó, Thành ủy đã chủ trương:

– Vận động vua Bảo Đại thoái vị.

– Vận động quan chức Chính phủ Trần Trọng Kim và những người có trách nhiệm trong các tổ chức thân Nhật, tránh những việc làm có hại cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc.

– Vận động lính bảo an theo cách mạng.

– Vận động các quan tri huyện giao chính quyền cho Việt Minh địa phương.

– Viết thư gửi cho cố vấn Nhật là Yôcôhama yêu cầu quân Nhật không can thiệp vào công việc của Việt Minh để được an toàn.

Đêm 22 tháng 8, Việt Minh đã huy động nhân dân, kêu gọi lính đứng về phía cách mạng và nộp súng lập công. Trong lúc nhân dân các huyện kéo về tràn ngập thành phố, chia nhau chiếm các bộ, các sở, thì Thành bộ Việt Minh gửi thư cho vua Bảo Đại yêu cầu: Giao đội lính khố vàng bảo vệ hoàng cung cho chính quyền cách mạng với tất cả vũ khí. Báo cho Nhật là triều đình đã trao quyền bính cho Việt Minh. Điện cho các tỉnh trưởng, bảo phải giao quyền cho Việt Minh. Và hứa sẽ bảo đảm an toàn tính mạng và quyền công dân cho Bảo Đại. Nhận được “tối hậu thư”, nhà vua đã chấp nhận 16 giờ ngày 23 tháng 8, gần 15 vạn người của cả tỉnh Thừa Thiên tập hợp về Huế mừng cách mạng thành công.

Đúng 13 giờ chiều 30 tháng 8, trước cuộc mít tinh ở lầu Ngọ môn với hàng vạn người tham gia dưới rừng cờ đỏ sao vàng, vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị và nộp cho đại diện Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa quốc ấn bằng vàng và một thanh gươm bằng vàng nạm ngọc, tượng trưng cho quyền lực của chế độ quân chủ phong kiến. ở thành phố Sài Gòn, là nơi có Tổng hành dinh Đông Nam châu Á của Nhật, có nhiều quân Nhật chiếm đóng. Minôđa, Thống đốc Nam Kỳ đã tuyên bố Nam Kỳ không những “dưới quyền kiểm soát mà còn dưới quyền cai trị của quân đội Nhật”. Sau ngày đảo chính, 17.000 người Pháp bị Nhật bắt làm tù binh cũng bị giam ở Sài Gòn. Các lực lượng thân Nhật ở đây cũng phát triển mạnh, trong đó có đội quân “Heilon” được vũ trang khá đầy đủ, và có những bộ phận giáo phái được Nhật cấp cho súng đạn.

Về phía cách mạng, tháng 7 năm 1945, hai Xứ ủy Tiền phong và Giải phóng đã lập Ban Hành động thống nhất. Ngày 15/8/1945, Xứ ủy Tiền phong lập Ủy ban Khởi nghĩa, chủ trương sẵn sàng chuẩn bị để khi có tin Hà Nội khởi nghĩa thì Sài Gòn phải lập tức khởi nghĩa. Xứ ủy đã chủ trương sử dụng tổ chức Thanh niên Tiền phong do Nhật giao cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra thành lập từ tháng 3 năm 1945, để tập hợp đông đảo quần chúng đứng về phía cách mạng. Nhân thời cơ Tổng khởi nghĩa đã đến, để tác động đến thái độ của quân đội Nhật, Xứ ủy đã phái bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và kỹ sư Ngô Tấn Nhơn, hai thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong, đến Tổng hành dinh Đông Nam Á của Nhật, gặp Thống chế Têraưchi, giải thích chủ trương của Việt Minh Nam Kỳ, yêu cầu quân Nhật không can thiệp vào phong trào cách mạng Việt Nam và giao số vũ khí Nhật tước của Pháp cho Việt Nam. Têraưchi hứa làm theo và trao chiếc gươm ngắn cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch để làm bằng, chấp nhận trao cho ta 1.200 súng với 2 triệu viên đạn. Sáng 19 tháng 8, trong dịp làm Lễ Tuyên thệ của Thanh niên Tiền phong, đồng chí Phạm Ngọc Thạch đã đọc diễn văn khích lệ lòng yêu nước, cổ vũ quần chúng đứng lên giành độc lập. 7 vạn thanh niên đã đi tuần hành vừa hát vang bài hát “Lên đàng”. Trong ngày này, công nhân cũng họp mít tinh ở nhiều nơi với lực lượng 20.000 đoàn viên công đoàn làm nòng cốt.

Đêm 19 tháng 8, tại rạp Nguyễn Văn Hảo, Việt Minh tổ chức mít tinh, quy tụ đông đảo người tham dự, để trình bày chương trình hành động của mình. Trong ngày 19 tháng 8 cờ Đảng, cờ Việt Minh xuất hiện nhiều nơi. Ngày 20 tháng 8, Mặt trận Việt Minh ra công khai ở thành phố. Thanh niên Tiền phong tuyên bố đứng vào hàng ngũ Mặt trận Việt Minh. Đêm 24 tháng 8 quần chúng cách mạng ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận, được tổ chức thành từng đoàn, mang theo giáo mác, tầm vông vạt nhọn, rầm rập kéo vào trung tâm thành phố, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Quần chúng đã tiến chiếm Sở Công an, Sở Cảnh sát, nhà ga, bưu điện, nhà đèn, trụ sở các quận, các bót, rồi chiếm Soái phủ Nam Kỳ.

Sáng 25 tháng 8, cả triệu quần chúng kéo vào thành phố hô vang như sấm dậy các khẩu hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập!”, “Tất cả chính quyền về tay Việt Minh!”, “Mặt trận Việt Minh muôn năm”, “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!”, “Độc lập hay là chết!”. Dự lễ ra mắt của Ủy ban nhân dân Nam Kỳ xong, quần chúng tỏa ra diễu hành khắp nơi, mừng chính quyền đã về tay nhân dân. Như vậy là cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả nước chỉ trong vòng 15 ngày, trước lúc quân Đồng minh đổ bộ vào Việt Nam, đúng như kế hoạch đã định. Đó là sự thành công trọn vẹn, không đổ máu

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, trước cuộc mít tinh của hơn 50 vạn nhân dân Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với toàn thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã có những nét rất độc đáo. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính nhân dân rất sâu sắc, thực sự là “đem sức ta tự giải phóng cho ta”. Đó là cuộc cách mạng thắng lợi ở một nước thuộc địa của đế quốc Pháp, Nhật, trong lúc ở chính quốc Pháp và Nhật, cách mạng vô sản chưa thành công. Đó là cuộc cách mạng phải đụng đầu với một lực lượng quân đội phản cách mạng rất lớn, còn cồ mưu đồ phức tạp, nhưng đã giành được thắng lợi trọn vẹn mà không phải đổ máu. Sức mạnh quyết định thắng lợi đó là lòng yêu nước và tinh thần cách mạng rất cao, của nhân dân đã được chuẩn bị qua rèn luyện thử thách 15 năm cùng với Đảng chiến đấu, chịu nhiều hy sinh mất mát.

Thắng lợi đó thể hiện tài tổ chức và sự vận dụng mưu lược khôn khéo đầy trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là vị lãnh tụ sáng suốt Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Cuộc vận động cách mạng đã giành thắng lợi này, không chỉ có dân vận mà có cả quan vận, vua vận, binh vận, tướng vận, ngụy vận, địch vận với nhiều hình thức đa dạng phong phú. Ai nghĩ rằng, thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám chỉ là xô “cánh cửa chính trị khép hờ” là “hứng của ngọt trời cho do thời cơ mang lại” là sự ngộ nhận, hoàn toàn không đúng. Đó là cuộc cách mạng mà việc chạy đua về thời gian giữa lực lượng khởi nghĩa và quân Đồng minh được đặt ra rất gay gắt. Kết quả là cuộc tổng khởi nghĩa đã thành công trọn vẹn trong 15 ngày, trước lúc quân Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch vào Hà Nội 10 ngày và trước lúc quân của đế quốc Anh vào Sài Gòn 12 ngày. Đó là cuộc cách mạng mà lệnh Tổng khởi nghĩa ban hành không đến được với phần lớn các địa phương, nhưng vẫn đồng loạt nổi dậy chớp thời cơ, thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất mưu lược. Nơi nào cũng biết tranh thủ vận động quân Nhật, không có nơi nào có hành động manh động khiêu khích địch. Ngoài những nét độc đáo nêu trên, cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công còn có ý nghĩa lịch sử rất to lớn. Đó là sự kiện nổi bật, có vị trí trung tâm trong các sự kiện lịch sử của Việt Nam trong thế kỷ 20. Nó bắt nguồn từ thảm họa của một dân tộc bị mất nước. Nó phát huy truyền thống yêu nước từ lâu đời của dân ta. Nó chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật trong 87 năm. Nó đánh đổ chế độ quân chủ phong kiến mấy ngàn năm. Nó mở ra thời đại mới, thời đại nước độc lập, dân làm chủ. Nó làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền và có thêm nhiều bài học về lãnh đạo rất phong phú. Nó tạo ra thế và lực mới để tiếp tục đánh thắng giặc Pháp giặc Mỹ trong 30 năm. Nó làm cho thế đứng trên chính trường quốc tế của nước Việt Nam được nâng cao, rất có lợi cho công cuộc xây dựng đất nước.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám còn có ý nghĩa quốc tế to lớn. Nó trực tiếp tạo ra chỗ dựa đáng tin cậy cho cuộc cách mạng của nhân dân Lào và Campuchia anh em và góp phần làm thay đổi cục diện chính trị ở Đông Nam Á. Nó cổ vũ và cung cấp kinh nghiệm thành công cho nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh giành độc lập. Nó cắt đứt một vòi hút máu của con bạch tuộc đế quốc làm cho thế lực đế quốc ở chính quốc phải điều chỉnh chính sách. Nó làm cho Việt Nam trở thành một trong những dân tộc tiên phong cách mạng, là lực lượng tích cực trong phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngoài ra, kinh nghiệm thực tiễn của cuộc Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng vô sản và bổ sung thêm một Đảng lý luận về cuộc cách mạng dân tộc ở nước thuộc địa khá phong phú. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, cùng với thắng lợi to lớn tiếp theo của cuộc kháng chiến lâu dài 30 năm chống Pháp, chống Mỹ, đã nâng cao lòng tự tin, tự hào của nhân dân các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Đó là động lực tinh thần rất quan trọng mà nếu phát huy tốt sẽ là bệ phóng cho Việt Nam cất cánh đi vào thế kỷ 21, với nhiều thành tựu mới to lớn.

Theo Trần Trọng Tân/ Báo điện tử Đảng Cộng sản
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn