Thư viện

Thủ đô kháng chiến hôm nay

QĐND Online – Những ngày Tháng 8 lịch sử, chúng tôi về huyện Sơn Dương – Thủ đô kháng chiến, nơi Bác Hồ đã chọn làm căn cứ địa cách mạng của cả nước. 67 năm đã trôi qua, quê hương cách mạng Sơn Dương hôm nay đã đổi thay rất nhiều, cuộc sống mới no ấm đang đến với từng hộ đồng bào các dân tộc nơi đây – niềm tin theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã chọn vẫn mãi sắt son trong trái tim mỗi người.

Chuyện lịch sử

Từ trung tâm thành phố Tuyên Quang men theo con đường nhựa phẳng phiu, chúng tôi tìm về Sơn Dương, về với vùng đất ghi đậm dấu ấn của những năm kháng chiến thần kỳ cùng các sự kiện lịch sử của những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều khiến chúng tôi xúc động, bồi hồi nhất khi trở lại nơi đây là dù đã 67 năm trôi qua nhưng trong ký ức của người dân vùng ATK, những câu chuyện về Bác Hồ, về cách mạng vẫn còn sống mãi.

Đình Hồng Thái. Ảnh: internet

Đến ngôi nhà sàn của gia đình ông Nguyễn Tiến Sự, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, nơi Bác Hồ đã từng sống và làm việc trong thời gian khi Người mới trở về từ Pác Bó (Cao Bằng). Giờ đây, ông Sự không còn nữa nhưng các thế hệ con cháu ông vẫn luôn nhớ hình ảnh và những việc làm của Bác Hồ. Bà Hoàng Thị Mai, con dâu trưởng của ông Nguyễn Tiến Sự kể lại: “Những ngày tham gia Việt Minh ở căn cứ địa cách mạng Tân Trào, hình ảnh “ông Ké cách mạng” vẫn in sâu trong tâm trí bà và những người dân nơi đây. Ngoài thời gian làm việc, Người còn cùng với bà con lao động, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ, động viên chị em phụ nữ hăng hái tăng gia sản xuất”.

Ông Ma Văn Chước, thôn Lũng Búng, xã Tân Trào, năm nay đã 83 tuổi nhưng khi nghe chúng tôi hỏi chuyện về những năm kháng chiến “Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, đôi mắt ông bỗng sáng lạ thường. Ông bảo, ngày ấy, theo sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo thôn, tôi vinh dự được cùng một số anh em khác trong làng lo chuyện hậu cần phục vụ Bác và các đồng chí cách mạng. Cùng với đó, ông còn được giao nhiệm vụ làm giao liên cho cách mạng.

Ông bảo, để đảm bảo giữ bí mật thông tin liên lạc, tôi thường nhét thư vào ống nứa, như vậy địch mới không ngờ tới. Ngày ấy, ở thôn Lũng Búng và cả xã Tân Trào, mọi người không biết Bác Hồ là ai mà chỉ biết đó là ông Ké. Mãi sau này, khi kháng chiến thắng lợi mới biết đó là Bác Hồ. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ông hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Gia đình ông vinh dự được Chính phủ tặng bằng khen “Gia đình vẻ vang”, bản thân ông được Hội đồng Chính phủ tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang.

Chúng tôi tìm về xã Trung Yên, nơi có 22 điểm di tích lịch sử cách mạng. Trong đó có nhiều điểm di tích quan trọng như: Khu di tích Chủ tịch Tôn Đức Thắng, di tích Ban thường trực Quốc hội, cơ quan Thông tấn xã, Bộ nội vụ… Trung Yên hôm nay, đang không ngừng đổi thay, đường làng ngõ xóm được bê tông hóa sạch đẹp; chợ trung tâm các xã lúc nào cũng tấp nập người mua, người bán; cánh đồng lúa bạt ngàn xanh ngút mắt… Ông Triệu Minh Cương, 88 tuổi, thôn Ao Búc, cán bộ lão thành cách mạng cho biết, thời Pháp, Trung Yên còn nghèo lắm, hơn 80% số hộ đói ăn, nhưng bà con luôn một lòng theo cách mạng, theo cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, bà con đã hiểu hơn về kỹ thuật canh tác tăng gia sản xuất, biết được cái chữ và nâng cao trình độ dân trí… Gần 70 năm trôi qua, chúng tôi rất vui mừng vì thấy quê mình đổi mới, nhiều thôn xóm đã có đường bê tông hóa sạch đẹp, trường học đã được xây kiên cố…

Về các xã ATK: Tân Trào, Hợp Thành, Minh Thanh, Bình Yên, Lương Thiện, Trung Yên của huyện Sơn Dương, nghe những câu chuyện lịch sử qua lời kể của các cụ cao tuổi như Vi Thị Hồi, thôn làng Sảo, xã Hợp Thành; cụ Nông Thị Mơ thôn Lũng Búng, xã Tân Trào; cụ Triệu Minh Cương thôn Ao Búc, xã Trung Yên… chúng tôi càng tin yêu, tự hào về vùng quê cách mạng Sơn Dương. Chính những người dân bình dị ấy đã góp sức làm nên mốc son chói lọi, bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc – Cách mạng tháng 8-1945.

Khởi sắc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chung sức đồng lòng của bà con nhân dân, những năm qua, đời sống vật chất văn hóa tinh thần của bà con nhân dân vùng chiến khu xưa đã không ngừng được nâng lên.

Du khách đến tham quan các hiện vật tại Bảo tàng Tân Trào. Ảnh: Đào Thanh

Đồng chí Hoàng Cao Khải, Phó chủ tịch UBND xã cho biết, hiện toàn xã có 44,1km đường giao thông. Trong đó, có có 6km đường quốc lộ 2C, hơn 4,5km đường liên xã, hơn 20 km đường liên thôn, trong đó bê tông hoá 7,6 km, nhựa hoá 1,5 km, còn 11 km đường đất. Xã có 11 công trình thuỷ lợi, bao gồm 7 hồ chứa, 4 công trình phai đập. Năng lực tưới tiêu chủ động cho 93,1ha ruộng… Hệ thống cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của bà con nhân dân.

Bà Ma Thị Muộn, Bí thư đảng ủy xã Trung Yên cho biết, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, bà con nhân dân cùng chung sức đồng lòng vượt qua đói nghèo, đến nay, xã không còn hộ đói. Đời sống kinh tế phát triển, nhận thức của bà con được nâng lên, vì vậy việc chăm lo học hành cho con cái họ cũng được cải thiện. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi học hết bậc tiểu học đạt 100%, hết bậc THCS đạt 97%. Cùng với chăm lo xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Trung Yên luôn chú ý đến việc giữ gìn, tôn tạo và bảo vệ các điểm di tích lịch sử.

Trở lại Bình Yên, chúng tôi thấy hiện hữu sức sống mới đang về với vùng quê cách mạng này. Trong chương trình xây dựng nông thôn mới, xã đang tập trung quy hoạch những vùng sản xuất tập trung hàng hóa, ưu tiên đầu tư phát triển các loại cây thế mạnh gồm rừng, chè, mía. Vụ mùa năm nay, xã đang tích cực chăm sóc 103 ha lúa, nỗ lực hoàn thành trồng mới 133 ha rừng.

Nước sạch đã về với bà con thôn Khuân Đào, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Ảnh: Đào Thanh

Với hơn 138 di tích và cụm di tích lịch sử văn hóa gắn với bản sắc văn hóa dân tộc đặc sắc, cùng nhiều cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ, Sơn Dương có tiềm năng to lớn cho ngành “công nghiệp không khói” phát triển. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các bộ, ban ngành, nhiều điểm di tích lịch sử của huyện Sơn Dương đã được đầu tư trùng tu xây dựng như: Nhà bia lưu niệm Ban thường trực Quốc hội, thôn Chi Liền, xã Trung Yên…

Theo Ban quản lý Khu du lịch lịch sử văn hóa và sinh thái Tân Trào, để phát triển tiềm năng du lịch của địa phương đơn vị đã thực hiện biên tập 5.000 tờ gấp ghi rõ địa chỉ và tóm tắt lịch sử của các cụm, điểm di tích; phát hành 1.200 đĩa DVD giới thiệu về các điểm di tích về hình ảnh văn hóa, thiên nhiên, con người vùng ATK…

Ông Tô Hoàng Linh – Phó chủ tịch UBND huyện Sơn Dương cho biết, từ đầu năm đến nay, huyện Sơn Dương đã đón trên 350.000 lượt khách đến tham quan du lịch, đạt hơn 75% kế hoạch năm. Doanh thu từ du lịch đạt trên 342 triệu đồng, bằng 68% kế hoạch năm.

Sự kiện đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt đối với Khu Di tích lịch sử Tân Trào diễn ra ngày 16-8 là dấu ấn lịch sử, văn hóa quan trọng, là niềm tự hào đối với mảnh đất và con người xứ Tuyên.

Đào Thanh
qdnd.vn

Cách mạng Tháng Tám – Biểu tượng của cuộc đấu tranh kỳ diệu

QĐND – Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam năm 1945 là cuộc cách mạng hết sức quan trọng không chỉ đối với Việt Nam, mà còn tác động lớn trên thế giới, nhất là đối với các nước thuộc địa khi đó. Đây cũng là động lực để các chuyên gia, nhà sử học quốc tế tìm tòi, nghiên cứu về thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.

Bức ảnh “Ngày độc lập”, trong bộ sưu tập của Giáo sư người Pháp Phi-líp Đờ-vi-lê (Phillippe Devillers) trưng bày tại Nhà thông tin Tràng Tiền, nhân dịp 2-9-2010. Nguồn: Internet

Sự kiện quan trọng nhất sau Cách mạng Tháng Mười Nga

Trong bối cảnh lịch sử chung của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Á, Đông Nam Á nói riêng, với thời cơ thuận lợi giống nhau, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam nổ ra đúng lúc, kịp thời cơ và thắng lợi triệt để. Do đó, ảnh hưởng của cuộc cách mạng này sâu rộng ở trong nước cũng như trên trường quốc tế.

Trong cuốn “Thế giới bàn về Việt Nam”, tập 2, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976. tr.224, tác giả Thô-mát Hót-kin (Thomas Hodgkin), người Anh, đánh giá Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. “Đó là một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ mới ra đời được 15 năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa. Nó đã nổ ra trong một thời điểm lịch sử kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai… Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa”.

Nhà sử học Na Uy Xtên Tôn-nét-xơn (Stein Tonnesson) trong cuốn sách “Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-xơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong một cuộc chiến tranh thế giới”, xuất bản năm 1991, cũng cùng chung nhận định rằng, Cách mạng Việt Nam quan trọng vì không phải đơn thuần xảy ra trong bối cảnh Việt Nam. “Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu về một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh, quá trình phi thực dân hóa. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cuộc cách mạng của người Việt Nam có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất”, nhà sử học Tôn-nét-xơn nhấn mạnh.

Sự tất yếu mang tính logic

Theo nhà sử học Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Charles Fournieau), nguyên Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, Cách mạng Tháng Tám đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử Việt Nam, phản ánh cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam chống lại sự chiếm đóng của giặc ngoại xâm, đồng thời đánh dấu sự chuyển sang thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Không những thế, thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam còn có ý nghĩa quốc tế, bởi lẽ đây là một trong những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới. Đối với phong trào cách mạng Đông Dương cũng như thế giới, Cách mạng Tháng Tám có vai trò đặc biệt quan trọng.

A-lanh Ru-xi-ô (Alain Ruscio) là một trong những nhà sử học ở Pháp rất quan tâm và đi sâu nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, về các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Theo nhà sử học này, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam không chỉ là sự kiện gây bất ngờ, mà đó cũng là sự tất yếu mang tính logic trong lịch sử phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Ông nhấn mạnh, đây là sự kiện trọng đại của cả dân tộc Việt Nam.

Đồng quan điểm với hai nhà sử học trên, nhà báo, nhà nghiên cứu người Pháp Đa-ni-en Ru-xen (Daniel Roussel) còn khẳng định rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cuộc đấu tranh kỳ diệu của nhân dân Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Dù có những nhận xét phong phú về thành công của Cách mạng Tháng Tám, nhưng các nhà sử học nước ngoài đều cùng chung một quan điểm khi cho rằng, có được thành công trên là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ đó, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dẫn tới việc chính thức lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945.

Bình Nguyên
qdnd.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ III)

(BGĐT)- Diễn biến giành chính quyền ở các huyện. Tại Việt Yên, ngày 18-7-1945 du kích của huyện Việt Yên và phủ Yên Thế đột nhập phá nhà máy đúc gang Bạc Sơn, xã Tiên Sơn, thu 9 súng, 3 máy chữ, chia 25 tấn thóc cho dân.

Mít tinh Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 (Ảnh: Tư liệu).

Tại Yên Thế, sau khi phủ lỵ và đồn Bố Hạ bị ta tước vũ khí, Nhật điên cuồng chống phá phong trào cách mạng. Tỉnh uỷ quyết định trừng trị tri phủ Yên Thế- Tưởng Văn Trang để cảnh cáo những tên phản động khác. Ngày 15-7-1945, đồng chí Hà Thị Quế, Tỉnh uỷ viên phụ trách phủ Yên Thế liền cử một đội vũ trang tuyên truyền phục kích bắt  tri phủ và những tên còn lại. Ngày 17 và 18-7-1945, tự vệ Yên Thế đã thu 20 súng, 2 máy chữ ở Phủ Yên Thế. Bộ máy chính quyền tay sai của Nhật ở Yên Thế hoàn toàn tan rã.

Tại Lục Ngạn, thấy điều kiện khởi nghĩa ở địa phương đã chín muồi, đêm 17-7-1945, đồng chí Nguyễn Thanh Bình- phụ trách Lục Ngạn đã triệu tập một cuộc họp ở làng Đọ bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền phủ Lục Ngạn vào sáng  ngày 18-7-1945. Ngay đêm 17-7-1945, gần 400 tự vệ khu Gàng, Rùm, Quỷnh, Sơn Đình, Tam Rỵ, Chu Điện, Đọ và phố Lục Nam được huy động bao vây phủ và phá cầu Mẫu Sơn, chặn quân tiếp viện của địch đóng ở cầu Lồ. Sáng 18-7-1945, tự vệ võ trang tiến vào phủ đường Lục Ngạn. Tri phủ Vũ Phạm Hổ đã ra hàng, xin nộp dấu ấn, sổ sách cho Việt Minh. Ngày 20-7-1945, ta tổ chức mít tinh mừng phủ Lục Ngạn được giải phóng. Uỷ ban dân tộc giải phóng phủ đã ra mắt toàn dân.

Tại Yên Dũng, ngày 20-7-1945, đội tự vệ Song Khê (phủ Lạng Giang) do đồng chí Ninh Văn Phan chỉ huy phối hợp với lực lượng tự vệ An Tràng, Đào Tràng và một số địa phương khác đánh đồn Đức La, phá kho thóc chia cho dân nghèo. Cùng đêm 20-7-1945, tự vệ Song Khê cùng với cảh vệ Cảnh Thuỵ bao vây huyện lỵ Yên Dũng, bắt tri phủ huyện Phùng Trọng Mưu cùng binh lính nộp vũ khí, gấy tờ, sổ sách và bằng triện.

Từ 1-6 đến 20-7, lực lượng cách mạng đã lần lượt giành chính quyền ở các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Thế, Lục Ngạn, Yên Dũng tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh. Tình hình thế giới lúc đó cũng là điều kiện khách quan, hồng quân Liên Xô đánh bại phát xít Đức. Ngày 14-8-1945, Nhật hạ vũ khí đầu hàng quân đồng minh. Đây là thời cơ ngàn năm có một cho nhân dân ta giành chính quyền đã tới.

Đồng chí Hồ Công Dự và một số các đồng chí phụ trách huyện Việt Yên, Yên Dũng đã họp tại Song Khê quyết định chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh trước khi phát xít Nhật và bọn Đại Việt hành động. Kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh được vạch ra: 3 đồng chí Hồ Công Dự, Ninh Văn Phan, Trương Văn Nhã cùng một số cán bộ tự vệ sẽ đột nhập vào dinh tỉnh trưởng, bắt tỉnh trưởng phải đầu hàng; đội tư vệ phải luôn trong tư thế sẵn sàng nổ súng khi cần thiết và cùng với quần chúng biểu tình thị uy để uy hiếp địch; gửi thư báo cáo cho các đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Hà Thị Quế, Nguyễn Thanh Bình nhanh chóng quân tiếp viện; làm trung lập bọn Nhật.

Diễn biến chiếm dinh tỉnh trưởng Phủ Lạng Thương. Tảng sáng ngày 18-8-1945, đồng chí Hồ Công Dự và Ninh Văn Phan cùng một đội tự vệ trang bị vũ khí xuất phát từ đình làng Song Khê vượt cầu sông Thương vào tỉnh lỵ đột nhập dinh tỉnh trưởng. Bị tấn công bất ngờ, tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh phải đầu hàng nộp toàn bộ vũ khí và ra lệnh cho viên Chánh bảo an giao trại  bảo an binh, thu gần 200 khẩu súng. Viên chánh bảo an và số đông bảo an xin ra nhập lực lượng vũ trang cách mạng.

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 (Ảnh: Tư liệu).

7 giờ sáng ngày 18-8-1945, cờ đỏ sao vàng tung bay trên dinh tỉnh trưởng và trại bảo an ninh ở phủ Lạng Thương. Tên sỹ quan chỉ huy quân đội Nhật ở Bắc Giang phải ngồi vào bàn thương lượng với Việt Minh và chấp hành mọi điều kiện do ta yêu cầu: Việt Minh hoàn toàn làm chủ tỉnh Bắc Giang, giữ gìn trật tự an ninh trong tỉnh; quân Nhật đóng ở các nơi trong tỉnh phải rút về tập trung tại cầu Lồ- Lục Ngạn và phủ Lạng Thương không được mang vũ khí ra phố, không được chuyển thóc đi nơi khác.

Lực lượng tự vệ Phủ Lạng Thương và các huyện Lạng Giang, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng cùng quần chúng tuần hành thị uy.

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, tỉnh uỷ quyết định thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bắc Giang do đồng chí Nguyễn Thanh Bình là chủ tịch.

Sáng ngày 19-8-1945, lực lượng khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ Phủ Lạng Thương.

Chiều ngày 21-8-1945, một cuộc mít tinh lớn với hàng nghìn người được tổ chức tại sân vận động Phủ Lạng Thương để chào mừng chính quyền mới. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình đã tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp, giới thiệu chương trình của mặt trận Việt Minh, kêu gọi mọi người hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc, nâng cao cảnh giác và kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng. Sau đó, cuộc mít tinh lớn được biến thành một cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.

Nam Thanh
baobacgiang.com.vn

>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)
>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ II)

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ II)

(BGĐT)- Giữa tháng 3-1945, Ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã cử đồng chí Chu Đốc- cán bộ quân sự, Hồ Công Lạng- cán bộ chính trị về Lục Ngạn. Tháng 5-1945, Xứ uỷ cử thêm đồng chí Nguyễn Đức Quỳ- cán bộ chính trị mở các lớp chính trị ở Rùm, Quỷnh cho hàng chục cán bộ cơ sở và hội viên cứu quốc.

Phát lệnh Tổng khởi nghĩa năm 1945 (Ảnh: tư liệu)

Các làng có cơ sở Việt Minh đều thành lập đội tự vệ thoát ly hoặc bán thoát ly ở các làng Gàng, Rùm, Quỷnh, Ngạc. Các trận phục kích đánh Nhật ở Cầu Lồ và dọc đường 13 đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Phong trào cách mạng lên cao, một số hào lý ra nhập Việt Minh. Bộ máy thống trị của phát xít Nhật từ phủ đến tổng, xã đều rệu rã, nhiều nơi chính quyền địch không còn hiệu lực. Mặt trận Việt Minh đứng ra giải quyết công việc.

Ở Yên Dũng, ngày 17-3-1945, thanh niên Cảnh Thuỵ tổ chức phục kích bắt tri phủ huyện Phạm Khắc Dậu. Tháng 4-1945, Ban cán sự tỉnh lập hai đội công tác cử về Yên Dũng làm nhiệm vụ tuyên truyền xung phong. Trong một thời gian ngắn, nhiều làng xã trong huyện đều tổ chức các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, đội tự vệ. Tại Hương Gián, An Tràng, Đạo Tràng, Tư Mại, Song Khê, Cảnh Thuỵ, Bằng Lương, ta đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, đấu tranh chống Nhật phá lúa trồng đay. Tại Song Khê, Mặt trận Việt Minh đã thu triện, sổ sách ghi thuế…chính quyền của địch tại Song Khê đã hoàn toàn  bị vô hiệu hoá.

Ở Phủ Lạng Thương, các cơ sở cách mạng được xây dựng ở xưởng sửa chữa xe lửa, nhà máy nước và phát triển tới các lực lượng công chức, binh lính, học sinh, tiểu thương…

Tại Lạng Giang, từ đầu tháng 4-1945, phong trào cách mạng ở Phi Mô, Quảng Mô, Bừng…phát triển tới Khê Cầu, Chí Mỹ, Mải Hạ, Bắc Thịnh, Chi Lễ, Dương Quan, Bằng, Kép, Đào Mỹ, Yên Bừng, Kế, Hương Gián…và toả ra các vùng xung quanh. Đến tháng 6-1945, phong trào cách mạng ở Lạng Giang phát triển khá mạnh. Nhiều làng, xã, chính quyền địch không còn hiệu lực, một số đã ngả theo cách mạng. Tại một số nơi, tránh lý trưởng tự nộp triện cho Việt Minh.

Nhưng trở ngại cho phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Giang lúc này là hoạt động của các đảng phái phản động và bọn thổ phỉ, bọn Quốc dân Đảng và bọn Đại Việt đã nổi dậy ở Yên Thế, Lục Ngạn và ở Phủ Lạng Thương. Một số tên Quốc dân Đảng tìm cách cản trở ta hoạt động (ở Việt Yên) hoặc xây dựng lực lượng vũ trang chống lại ta (ở Đan Hội, Lục Nam). Bọn thổ phỉ đa số ẩn náu ở Yên Thế, Hữu Lũng, Sơn Động, Lục Ngạn gây khó khăn cho phong trào cách mạng.

Từ sau khi Nhật đảo chính Pháp, hầu hết miền núi tỉnh Bắc Giang, đặc biệt là Lục Ngạn, Sơn Động là nơi hoạt động của ba thế lực: Lực lượng cách mạng; lực lượng thổ phỉ; chính quyền bù nhìn và bọn  Đại Việt. Trước tình hình đó, Ban cán sự tỉnh chủ trương: đối với chính quyền bù nhìn cần thuyết phục, trừng trị bọn phản động; kiên quyết tiêu diệt bọn tướng phỉ và bọn đầu sỏ phản động; xây dựng các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức tuyên truyền xung phong; kêu gọi các dân tộc đoàn kết kháng Nhật; tranh thủ đào tạo cán bộ dân tộc.

Tại Lục Ngạn, Sơn Động ta đã thành lập đội “Hoa Kiều tự vệ” để đánh Nhật, trấn áp thổ phỉ. Tuyên truyền bà con người Hoa cùng hợp tác với người Việt đánh Nhật, Pháp. Cuối tháng 7-1945, ta thành lập đội võ trang tuyên truyền gồm 18 người hoạt động từ Rùm qua Đối Sơn, Mai Sưu, Hổ Lao, Đám Trì (Lục Ngạn) cùng với các hình thức họat động, các cơ sở cách mạng trong đồng bào dân tộc ít người được mở rộng nhiều địa phương đã lập đội tự vệ để bảo vệ xóm làng chuẩn bị thời cơ giành chính quyền.

Ở Yên Thế, ta cũng tổ chức đội võ trang tuyên truyền ở các làng bản như Mỏ Trạng, Xuân Lương, Đồng Vương, Canh Nậu, Hương Vỹ… để tuyên truyền, vận động quần chúng, đồng bào dân tộc ít người tham gia các đoàn thể cứu quốc, mặt trận Việt Minh.

Đối với bọn quốc dân Đảng và Đại Việt, một số ta lôi kéo, phần lớn ta dùng lực lượng vũ trang tiêu diệt không cho chúng chống phá cách mạng..

Đình Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang)- nơi mít tinh, tập trung lực lượng quần chúng đi khởi nghĩa giành chính quyền ở Hiệp Hoà – 1945.

Từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945, tại làng Liễu Ngạn, tổng Hoàng Vân (Hiệp Hoà), Trung ương Đảng họp Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ để thảo luận cụ thể công tác chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 8-5-1945, tại làng Quế Sơn (Hiệp Hoà), hội nghị gồm đại biểu uỷ ban dân tộc giải phóng các xã trong huyện đã quyết định việc tạm chia ruộng đất của đồn điền Cọ và Vát cùng với việc giảm tô 25% cho nông dân. Chính quyền địch ở Hiệp Hoà hoang mang. Thời cơ giành chính quyền huyện đã đến. Tối 1-6-1945, lực lượng tự vệ chiến đấu ở một số làng thuộc tổng Hoàng Vân dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh tiến vào chiếm huyện lỵ. Tri huyện Thái Vĩnh Thịnh đã nộp toàn bộ sổ sách, giấy tờ cho ta. Sáng hôm sau, ta huy động quần chúng đến phá kho thóc chia cho nhân dân. Huyện lỵ Hiệp Hoà và đồn Chã thất thủ. Ở đồn Thị Cụ bọn lính cũng bỏ chạy về tỉnh. Toàn huyện Hiệp Hoà được giải phóng.

Hiệp Hoà giải phóng làm cho bọn quan lại từ phủ, huyện đến tỉnh hoang mang giao động. Trong khi đó, cao trào cách mạng trong toàn tỉnh dâng lên cuồn cuộn làm cho bộ máy chính quyền của địch ở thôn, xã bị tê liệt và tan dã hàng loạt. Đó là những điều kiện thuận lợi cho phép Đảng bộ tỉnh Bắc Giang phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh.

(Còn nữa)

Nam Thanh
baobacgiang.com.vn

>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (1930-1945)

Sau cao trào 1930-1931, sự khủng bố của thực dân Pháp càng gắt gao hơn, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông (Trung Quốc).

bh - cmt8Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Cuối nǎm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông. Đầu nǎm 1934, Người trở lại Liên Xô. Tại đây Người vào học Trường Quốc tế Lênin, nghiên cứu ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước trong tình hình chủ nghĩa phát xít đã công khai đàn áp mọi phong trào dân chủ và hoà bình. Trong nhiều tài liệu Nguyễn Ái Quốc nêu lên sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, nhấn mạnh vấn đề tập hợp mọi tầng lớp nhân dân và thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đấu tranh đòi tự do, dân chủ và hoà bình.

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, tháng 10 nǎm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1940, phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cuối nǎm 1940, Người về sát biên giới Việt – Trung, bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước. Người đã mở lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị cán bộ đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Người nêu rõ trong tài liệu huấn luyện: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp chung của các dân tộc, các giai cấp bị bóc lột ở Đông Dương. Toàn thể nhân dân Đông Dương không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào đều phải đồng tâm hiệp hội đoàn kết cùng nhau mới làm nổi”.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, Người chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, nơi ra Báo Việt Nam Độc Lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Nguyễn Ái Quốc chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung, ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”.

Tháng 8 nǎm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh và với tư cách là đại diện Mặt trậnViệt Minh và phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc. Ngày 29/8/1942 Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam, sau đó bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù“. Đến nay “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Tháng 3 nǎm 1944, Người tham dự Hội nghị Các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Người đã đọc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản, nêu rõ tiền đồ của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng. Người gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân Đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới thứ I cũng bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh. Ngày 4 tháng 5 nǎm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (ngày 9 tháng 8 nǎm 1945) và ồ ạt tiến công đạo quân Quan Đông của chúng, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6/8/1945), và Nagadaki (9/8/1945), ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Chớp thời cơ ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 16 tháng 8 nǎm 1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng. Đại hội đã bầu ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trong bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”. Ngày 19 tháng 8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23 tháng 8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh
baotintuc.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Phát huy bài học sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

Vào những ngày này của 67 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hưởng ứng Lời hiệu triệu quốc dân đồng bào của Tổng bộ Việt Minh (ngày 14-8-1945) và Đại hội quốc dân Tân Trào (ngày 16-8-1945), cả dân tộc ta bất kể đàn ông, đàn bà, tôn giáo trên mọi miền của Tổ quốc đã đoàn kết một lòng, nhất tề vùng lên “đem sức ta tự giải phóng cho ta”.

Chỉ trong vòng gần hai tuần lễ, với sức mạnh “dời non, lấp biển”, nhân dân ta đã làm cho chính quyền của địch hoàn toàn sụp đổ và xây dựng chính thể mới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đúng nửa tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 17-9-1945, Hồ Chủ tịch có “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Trong thư có đoạn: “Chúng ta đã lập nên một chính thể dân chủ cộng hòa. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng có trong lịch sử nước ta… Vì sao có cuộc thắng lợi đó?

Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó” (1).

Bài học lớn rút ra từ thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám là: Với đường lối đúng đắn của Đảng lãnh đạo, nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc độc lập, biết khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc thì khó khăn mấy, cách mạng cũng vượt qua và giành thắng lợi.

Bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới ngày nay.

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ có đổi mới mà đất nước đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị được củng cố, ngày càng vững mạnh; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên nhiều lần, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Những thành tựu đó vừa là kết quả, vừa là tiền đề, là điều kiện thuận lợi để tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.

25 năm qua, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng về đổi mới công tác vận động quần chúng, về cải cách bộ máy hành chính, về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất v.v… được ban hành và được thể chế hóa trong Hiến pháp (sửa đổi), các luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định v.v… đã và đang đi vào cuộc sống, tiếp tục thu được những kết quả tốt đẹp. Khối đại đoàn kết trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng. Sự đồng thuận xã hội ngày càng tăng, trở thành một nhân tố cơ bản đảm bảo ổn định chính trị – xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển và tiếp tục nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Cùng với những tiến bộ đã đạt được, chúng ta cũng cần thấy rõ những khó khăn, thách thức đang đặt ra cho sự nghiệp đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. Đó là:

a. Trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang làm xuất hiện ngày càng nhiều những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Mâu thuẫn nội bộ có chiều hướng gia tăng nhanh và tỷ lệ thuận với mức độ phân hóa giàu nghèo.

b. Cùng với sự gia tăng về mức độ phân hóa giàu nghèo thì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội vẫn đang là những đòi hỏi bức bách của một bộ phận nhân dân, nhất là trong tình hình khó khăn hiện nay.

c. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thái độ cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh, gây phiền hà để nhận hối lộ của một số cán bộ, nhân viên đã trở thành nỗi đau, sự nhức nhối của toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến uy tín của Đảng, của Nhà nước và mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân cũng như việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất.

Để góp phần đưa cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa, trước mắt phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương phát huy mạnh mẽ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với những định hướng lớn sau:

– Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

– Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành đều vì lợi ích của nhân dân.

– Cán bộ công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; rèn luyện phấn đấu để thực sự là công bộc của nhân dân như Hồ Chủ tịch từng căn dặn.

– Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân; phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Cùng với phát huy dân chủ, Đại hội chủ trương nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào một mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Để đoàn kết được rộng rãi, lâu dài và bền vững, trong điều kiện hiện nay phải giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành phần trong xã hội và đoàn kết trong Đảng phải được xem như hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để đoàn kết trong Đảng được chặt chẽ, cần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng chỉnh đốn Đảng đang tiến hành ở các ngành các cấp hiện nay. Tổng kết lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chân lý:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.

Thực hiện chân lý đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, toàn dân đoàn kết, nhân dân ta nhất định thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, nhất định vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” như Di chúc của Hồ Chủ tịch để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.

Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch
UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” ngày 17-9-1945 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 17 – 18

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách Mạng Tháng Tám (1945), giành độc lập cho Việt Nam từ tay phát xít Nhật, sáng 2/9/1945, trước hàng vạn đồng bào thủ đô Hà Nội, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nước độc lập đầu tiên của giai cấp lao động, ra mắt chính phủ mới. Sau đây là tòan văn bản “Tuyên Ngôn Độc Lập”:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hồ Chí Minh

VOVNews
vov.vn

Giữ vững quyền độc lập

Đất nước bình yên, nhưng không thể chủ quan nghĩ rằng: tự do, độc lập này cứ tự nhiên mà vĩnh cửu. Sự độc lập của đất nước luôn gắn kết với sự đoàn kết của toàn dân tộc.

“…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Hôm nay, ngày 2.9, những ai là con dân nước Việt Nam sẽ không thể không nghe những lời bất hủ như trên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình lịch sử cách đây đúng 66 năm trước.

Người dân hân hoan trong niềm vui độc lập. Ảnh tư liệu.

Sự thật lịch sử suốt 66 năm qua từ ngày Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời và hơn thế nữa, suốt mấy ngàn năm lịch sử của cả dân tộc, không biết bao con dân Việt Nam đã quyết đem tất cả để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc! Một sứ mệnh thiêng liêng không một ai dễ dàng chối từ khi non sông bị đe dọa, khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm. Lời khẳng định ấy cũng chính là tiếng gọi oai hùng mà hàng hàng, lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam quyết tâm lên đường bảo vệ quê hương, giữ vững tự do, độc lập.

Tự do, độc lập cho Việt Nam đã thật sự định hình sau cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử. Dẫu nó đã bị đe dọa, dày xéo sau đó bởi sự tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ, nhưng cuối cùng dân tộc Việt Nam cũng đã hưởng nguyên vẹn quyền thiêng liêng ấy suốt mấy mươi năm qua. Sự thật rõ ràng nhất là chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm. Việt Nam hòa bình-độc lập-tự do xây dựng phát triển kinh tế ngần ấy thời gian. Đây là một thành quả không dễ mà có, nhất là khi các mối đe dọa đến quyền độc lập, tự do của Tổ quốc không một lúc nào chịu ngừng lại, chịu chùn bước. Thế mới biết, giữ vững quyền tự do, độc lập cho đất nước quý giá và thiêng liêng biết nhường nào. Và vì thế, khi nghe những lời của Hồ Chủ tịch “…quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”, mới thấy được hồn thiêng sông núi oai hùng ra sao.Đất nước hôm nay đang bình yên, con dân Tố quốc này đang hưởng những tháng ngày tự do, độc lập. Nhưng không phải vì thế mà vội quên đi những con người đã ngã xuống cho sự bình yên này. Càng không phải thế mà mù quáng tin rằng: tự do, độc lập này là vĩnh cửu, là không thể mất đi. Bởi lịch sử dân tộc đã chứng minh một quy luật rất rõ ràng: khi chúng ta chủ quan nhất, mất cảnh giác nhất, là khi quyền tự do, độc lập của đất nước dễ bị tước đoạt nhất. Điều này cũng đã được Đảng và Nhà nước ta luôn luôn lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân chú ý. Và một sự thật luôn đúng, không bao giờ khác hơn được: quyền tự do-độc lập của đất nước luôn đồng hành, gắn kết với sự đoàn kết của toàn dân tộc. Đoàn kết toàn dân không gì khác hơn là nhà nước luôn mang đến niềm tin cho người dân. Nghĩ một cách rộng hơn, giữ vững tự do, độc lập cho đất nước hôm nay không có gì khác hơn ngoài sự đoàn kết-tin tưởng của toàn dân tộc với sự lãnh đạo, điều hành của nhà nước vậy.

Hoàng Ngọc Lữ
baodatviet.vn

Bảo tồn, tôn tạo và phục hồi cây đa Tân Trào

Ngày 27/10, ông Nguyễn Việt Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang cho biết: Hội đồng Khoa học tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức chức đánh giá, nghiệm thu Dự án khoa học và công nghệ “Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để bảo tồn, tôn tạo và phục hồi cây đa Tân Trào”.

Chăm sóc cây đa Tân Trào bằng phương pháp phun chế phẩm sinh học.

Dự án thực hiện biện pháp kỹ thuật để chống đổ, chống đỡ phần thân cây đang còn sống và bảo tồn nguyên trạng phần gốc không còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách sử dụng hệ thống cốt thép móng bê tông, cột đỡ bằng thép ống D250 mm ngoài bọc composit (vật liệu tổng hợp) giả thân cây, liên kết với thân cây bằng đai thép.

Đồng thời, dự án thực hiện phương pháp chăm sóc phần còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách phun chế phẩm sinh học (phân bón lá hữu cơ sinh học KH, AH, NH) vào cành và lá cây định kỳ 10 ngày/lần. Nhờ vậy, đến nay, trên cành cây duy nhất còn sống của cây đa Tân Trào đã ra hai cụm rễ và nhiều chồi lá mới. Một cụm có 27 rễ và một cụm 20 rễ; đường kính mỗi cụm rễ 35 –40 cm. Hai cụm rễ này đã ăn sâu vào trong lòng đất để hút chất dinh dưỡng nuôi cành còn lại của cây đa Tân Trào…

Dự án đã được Hội đồng Khoa học tỉnh Tuyên Quang đánh giá cao và đạt được các mục tiêu dự án đề ra.

Tin, ảnh: Vũ Quang Đán
baotintuc.vn

Tinh thần đoàn kết và khoan dung của Cách mạng Tháng Tám

Lịch sử đã có nhiều cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, thậm chí làm xoay chuyển lịch sử phát triển của cả nhân loại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả dân tộc ta; biến mỗi người dân từ thân phận “vong quốc nô” trở thành người làm chủ đất nước. Cách mạng Tháng Tám đã xoá bỏ chế độ phong kiến thực dân để xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân của dân, do dân và vì dân.

Trong lịch sử thế giới, nhiều cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ đã diễn ra trong máu lửa, nhân loại đã chứng kiến nhiều dòng họ vua chúa bị lên đoạn đầu đài hoặc bị lưu đày. Nhưng cách mạng tháng Tám là một cuộc Tổng khởi nghĩa của toàn dân để giành chính quyền hầu như không có đổ máu.

Ngay sau khi cách mạng thành công, hai vị cố vấn của Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh không phải là những đồng chí từng nằm gai nếm mật trong rừng sâu Việt bắc hay những đồng chí từng bôn ba hải ngoại cùng Người mà lại là cựu hoàng Bảo Đại và giám mục Lê Hữu Từ. Cựu hoàng Bảo Đại – công dân Vĩnh Thụy còn là đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam mới. Trong Chính phủ Hồ Chí Minh không phải tất cả đều là những nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng, những chiến sĩ cộng sản, mà còn có những vị thượng thư, quan đại thần của chính quyền cũ cùng với một số trí thức, nhân sĩ đại diện cho khối đại đoàn kết và lòng yêu nước của toàn dân tộc. Lịch sử cũng ghi nhận một sự kiện đáng lưu ý là sau khi Cách mạng tháng Tám vừa thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đại diện của Người đến thăm hỏi và tặng quà cho bà Nam Phương, vợ Bảo Đại, bà Từ Cung mẹ Bảo Đại và bà Thành Thái, bà Duy Tân.

Những sự kiện ấy không chỉ thể hiện tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn thể hiện tinh thần khoan dung cao cả của Người và của Cách mạng tháng Tám.

Tinh thần đại đoàn kết và khoan dung đó là kết tinh của tư tưởng “ Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của dân tộc ta từ muôn đời được nâng tầm trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong tầm vóc của Cách mạng tháng Tám, mở đường cho nhiều người trong hoàng tộc, trong bộ máy chính quyền cũ lên đường theo cách mạng để trở thành những cán bộ ưu tú trên nhiều lĩnh vực. Trong số đó có nhiều người đã cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ mới và anh dũng hy sinh. Tinh thần đại đoàn kết và khoan dung đã thể hiện sức mạnh vô song qua cuộc kháng chiến toàn quốc diễn ra hơn một năm sau Cách mạng tháng Tám, mở lối cho cuộc “lên đường” vào chiến khu hoặc ra mặt trận của nhiều tên tuổi lớn như các cụ Phan Kế Toại, cựu khâm sai đại thần, cụ Phạm Khắc Hòe, cựu đổng lý ngự tiền của vua Bảo Đại; các cựu thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Phan Anh và cựu Tổng đốc Vi Văn Định cùng “vua Mông” Vương Chí Sình…và nhiều nhân sĩ, trí thức lớn như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Huyên, Vũ Đình Hòe, Tôn Thất Tùng, Trần Duy Hưng, Hồ Đắc Di. Trong số đó có nhiều người đã hy sinh anh dũng như cụ Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố, luật sư Lê Đình Chi, luật sư Dương Minh Châu… Tinh thần đại đoàn kết và khoan dung của Cách mạng tháng Tám đã mở ra một không gian rộng lớn cho họ đem tài năng phụng sự Tổ quốc, làm cho tên tuổi của họ thêm tỏa sáng bởi lòng yêu nuớc và trách nhiệm công dân và được mãi mãi ghi vào lịch sử.

Tinh thần đoàn kết và khoan dung, trải qua 64 năm kể từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, đã thật sự làm nên sức mạnh vô cùng to lớn để dân tộc vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi như ngày nay và tạo nên một giá trị nhân văn cao cả đậm nét Việt Nam.

Tinh thần đó như suối nguồn chảy mãi…

Nguyễn Quang Vinh
baotintuc.vn

Ngàn năm độc lập vững âu vàng

(VOV) – Thành quả lớn lao nhất, vĩ đại nhất mà Cách mạng tháng Tám năm 1945 đem lại cho dân tộc ta là độc lập dân tộc, nền tảng của tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi con người.

Qua hàng ngàn năm lịch sử, với bao khúc biến cố thăng trầm, hưng vong, với nghìn năm phong kiến phương bắc đô hộ, với gần trăm năm thực dân đế quốc phương Tây xâm lược, khát vọng độc lập dân tộc luôn cháy bỏng trong tâm can mỗi người dân nước Việt. Giành độc lập dân tộc và bảo vệ, gìn giữ, nâng cao giá trị thành quả thiêng liêng đó là khát vọng, ý chí và cũng là động lực gắn bó, đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vô biên phản kháng ngoại xâm và nội nghịch.

Có khát vọng nào sánh bằng khát vọng tự do? Có sức mạnh nào sánh được với sức mạnh toàn dân tộc khi vùng lên giành cho được độc lập tự do? Có sự đánh đổi nào xứng đáng hơn sự đánh đổi máu xương để dành lấy tự do độc lập?!

Nhớ lại 66 năm trước, tại Tân Trào, nhận rõ thời cơ cách mạng đang đến, với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng và ý chí: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc”. Quốc dân đại hội Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa toàn quốc diễn ra ngay sau đó là một hội nghị “Diên Hồng của thời đại”, để rồi những ngày tháng Tám sục sôi cách mạng “người lên như nước vỡ bờ”, đánh đuổi thực dân, phát xít, giành độc lập dân tộc sau gần trăm năm nô lệ.

Nhớ lại, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tuyên ngôn mang tên Độc lập, trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Nhớ lại, những ngày cuối năm 1946, thực dân Pháp trở lại gây hấn, định cướp nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước…Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”

Nhớ lại, những ngày Tổ quốc bước vào cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược cam go khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định chân lý: Không có gì quý hơn độc lập tự do… Cả dân tộc Việt Nam lại kết thành sức mạnh, chiến đấu, hy sinh làm nên đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam, là hiện thân của khát vọng dân tộc độc lập, đất nước tự do, con người hạnh phúc: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đó cũng chính là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam, từ hàng ngàn năm trước, hôm nay, và mai sau…

Từ mùa thu năm 1945 đến nay, dù với quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì cứu cánh, mục tiêu tối thượng của dân tộc ta vẫn là độc lập, tự do, hạnh phúc. Dân tộc có độc lập, đất nước mới tự do, nhân dân mới có hạnh phúc. Tự do, hạnh phúc là cội nguồn của bản lĩnh, khí phách và sáng tạo và lòng trung thành với Tổ quốc. Có độc lập mới có tự do, và tự do, hạnh phúc để củng cố, giữ vững nền độc lập. Nhân dân hạnh phúc, đất nước tự do là thước đo của giá trị, thành quả của độc lập.

Mục tiêu của cuộc cánh mạng tháng Tám 66 năm trước đã thành hiện thực trong đời sống chính trị xã hội hôm nay, càng phải được gia tăng về chất lượng hơn nữa, không chỉ cơm no, áo ấm, học hành, mà hơn thế nữa. Củng cố giá trị độc lập cho mỗi con người, cho cả dân tộc chính là tạo nền tảng để “non sông vạn thuở vững âu vàng”, “độc lập, tự do từ nay vĩnh viễn”./.

Uông Ngọc Dậu
vov.vn