Thư viện

Hồi ức từ những hiện vật bảo tàng về Mậu Thân 1968

(VOV) – Với hơn 300 tư liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu có giá trị, triển lãm đã làm sống lại trang sử hào hùng của chiến dịch Mậu Thân.

Nhân dịp kỷ niệm 83 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, 45 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968, sáng 1/2, Bảo tàng TP HCM khai mạc Triển lãm chuyên đề “45 năm Xuân Mậu Thân – hồi ức từ những hiện vật bảo tàng”.

Quân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 (Ảnh tư liệu)  

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 của quân dân ta là một bước ngoặt  lịch sử, tiêu hao, tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, rút dần quân về nước, chấp nhận đàm phán với ta tại Paris.

Với hơn 300 tư liệu, hình ảnh, hiện vật tiêu biểu có giá trị, triển lãm đã làm sống lại trang sử hào hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân mậu thân 45 năm về trước. Không chỉ nêu bật lòng anh dũng và chí khí tiến công địch của các lực lượng vũ trang cách mạng, triển lãm còn nói lên  sự mưu trí, quả cảm sáng tạo và khát vọng hòa bình của các gia đình là cơ sở cách mạng, các chiến sĩ giao liên trong những tháng ngày gian nan, ác liệt đó.  Triển lãm kéo dài đến hết tháng 2/2013./.

PV/VOV – TPHCM
vov.vn

Ký ức của những người làm nên chiến dịch Tết Mậu Thân

(VOV) -“Anh thủ trưởng trước khi hy sinh đã trăn trối phải giữ vững trận địa và chúng tôi quyết chiến đấu đến cùng”.

Tiệm Phở Bình nằm trên đường Lý Chính Thắng, quận 3, TP HCM được nhiều khách trong và ngoài nước biết đến không chỉ vì ngon, sạch sẽ, lịch sự mà còn vì đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia gắn liền với chiến dịch Mậu Thân 1968.

Cách đây 45 năm, tiệm Phở Bình của ông Ngô Toại được chọn làm Sở chỉ huy Tiền phương – Phân khu 6 (thuộc Đặc khu Sài Gòn – Gia Định) là trụ sở tập kết các chiến sĩ, cán bộ để truyền đạt mệnh lệnh trong Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Nữ tự vệ trong các cơ quan trực thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sẵn sàng cho Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (Ảnh: Tư liệu)

Đúng mệnh lệnh, 3h sáng mùng 2 Tết Mậu Thân, lực lượng đặc công biệt động đã đánh trúng 5 mục tiêu quan trọng nhất trong 9 mục tiêu nằm trong danh sách tấn công tại Sài Gòn, đó là: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ tư lệnh Hải quân, Đài phát thanh và Bộ tổng tham mưu.

Bà Vũ Minh Nghĩa, bí danh Chín Nghĩa, công tác tại đội 5, biệt động Sài Gòn – Gia Định, tham gia đánh vào Dinh Độc Lập năm Mậu Thân cho biết: Để bảo đảm kế hoạch và bí mật, đơn vị bà phải hành quân và nổ súng trước quy định 15 phút. Sau khi chiếm được Dinh Độc Lập, 15 chiến sĩ đặc công biệt động đã anh dũng chiến đấu giữ được trận địa trong 2 ngày 1 đêm.

Bà Chín Nghĩa nhớ lại: “Chúng tôi phải men theo từng bức tường, các bụi cây để chiến đấu chống lại quân tiếp viện của chúng. Đến sáng mùng 2, chúng tôi đành rút vào cao ốc đối diện. Địch tấn công thì chúng tôi lên lầu 1. Lực lượng chúng tôi hy sinh 7 người, 8 người đều bị thương. Anh thủ trưởng trước khi hy sinh đã trăn trối phải giữ vững trận địa, chờ tiếp viện cho đến hơi thở cuối cùng. Cho nên chúng tôi thề thực hiện lời trăn trối của thủ trưởng mình”.

Trong tình thế vô cùng khó khăn, thiếu súng đạn, không thức ăn, nước uống, chỉ còn 8 người nhưng họ đã làm được kỳ tích là đánh chiếm được Dinh Độc Lập và giữ được trong nhiều ngày, nhiều giờ.

Tham gia cùng với lực lượng đặc công biệt động đánh chiếm vào Đài phát thanh năm Mậu Thân 1968, ông Nguyễn Trọng Xuất, tức Sáu Nhân, lúc đó là Phó ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn-Gia Định, bồi hồi nhớ lại: “Tôi lúc đó được phân công cùng anh em chiếm Đài phát thanh. Lực lượng chúng tôi là tuyên huấn, nên vũ khí không phải là súng đạn mà là máy ghi âm và lời kêu gọi của mặt trận là phải nằm lòng. Chúng tôi vào ngôi nhà tầng thứ 3 đường Hiền Vương, nay là đường Võ Thị sáu. Ông chủ nhà đón tiếp rất vui vẻ bảo “cho tụi bay nguyên căn nhà đó, khi nào tấn công thì vào Đài phát thanh thôi”.

Trong 5 mục tiêu tấn công tại Sài Gòn, thì Tòa đại sứ Mỹ được xem là mục tiêu quan trọng nhất. 17 chiến sĩ đặc công biệt động đã làm choáng váng, rúng động trên toàn nước Mỹ khi tấn công vào sào huyệt được xem là bất khả xâm phạm này. Các nhà báo Mỹ lúc đó đã viết: chiến tranh đã đi vào phòng ngủ của quân Mỹ. Từ tác động của đợt tấn công này mà phong trào phản chiến ở Mỹ càng mạnh hơn, góp phần làm cho Mỹ phải xuống thang chiến tranh tại Việt Nam.

Ngay những ngày Tết Mậu Thân, giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù, 88 cán bộ, chiến sĩ đặc công biệt động Sài Gòn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, 74 người đã hy sinh hoặc sa vào tay giặc trong tư thế “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần chiến đấu anh dũng của họ khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ và tăng thêm lòng khâm phục và niềm tin yêu quân giải phóng của nhân dân Sài Gòn và đồng bào Nam bộ.

Đại tá Võ Văn Tòng, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9, chủ lực Miền, người trực tiếp chỉ huy các trận đánh Mậu Thân 1968, kể lại: “Trong trận đánh Mậu Thân đợt 2, các Trung đoàn của Sư 9 đánh vào Sài Gòn. Hai phẩm chất mà dân Sài Gòn nhận được từ quân giải phóng là dũng cảm và kỷ luật. Chiến đấu dũng cảm, bị thương không có chuyện gì lớn. Trong khi đánh giặc thiếu lương thực, quần áo rách rưới nhưng không có lấy một món nào ở cửa hàng lương thực và cửa hàng quần áo mới. Vì vậy mà dân thương. Mình bị thương là người ta chăm sóc và giấu rồi tìm cách cho ra chiến khu sau. Sau khi Sư 9 đánh vô Sài Gòn đợt 2 rồi rút ra, cán bộ dân vận đánh giá là để lại ấn tượng sâu sắc cho nhân dân Sài Gòn, mà tình cảm đó 2, 3 năm làm công tác dân vận cũng không đạt được”.

Chính vì lẽ đó mà nhiều người đã hiểu ra rằng: vì sao trong ngày 30/4/1975, khi quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, người dân thành phố không bỏ chạy mà lại ùa ra chào đón nồng nhiệt.

45 năm trôi qua, đất nước đã trải qua bao đổi thay, nhưng chiến dịch Mâu Thân 1968 luôn là trang sử hào hùng của dân tộc. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã góp phần quan trọng buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán đi tới ký kết hiệp định Paris để đến ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, trọn vẹn non sông./.

Cao Thoa/VOV-TP HCM
vov.vn

Khánh thành Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968

Sáng ngày 07/02, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch long trọng tổ chức Lễ khánh thành công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 tại rạp hát Cao Văn Lầu, thành phố Bạc Liêu.

Dự Lễ có đồng chí Võ Văn Dũng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND, Ủy MTTQ Việt Nam tỉnh, các cô chú là nhân chứng lịch sử trong sự kiện Mậu thân tại Bạc Liêu cùng đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh.

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân được khởi công xây dựng từ ngày 01/7/2012, hoàn thành sau 90 ngày thi công, được đặt tại rạp hát Cao Văn Lầu, nơi in đậm dấu ấn lịch sử của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968 tại Bạc Liêu.

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh thực hiện nghi thức khánh thành Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân.
Ảnh: www.baclieu.gov.vn

Bia tưởng niệm được thiết kế với hình lá cờ Tổ quốc – tượng trưng cho đất nước Việt Nam với khát vọng được giải phóng, thống nhất nước nhà; phía dưới là hoa văn hình sóng nước – tượng trưng cho trào lưu cách mạng; trên bia có 1 cành hoa mai – tượng trưng cho thời điểm diễn ra sự kiện lịch sử xuân Mậu thân 1968 cùng hình ảnh khẩu súng  AK – tượng trưng cho người chiến sĩ chiến đấu không mệt mỏi trước kẻ thù. Mỗi bên Bia tưởng niệm là bảng đá ghi lại những khoảnh khắc bi hùng của các chiến sĩ Tiểu đội biệt động và Trung đội du kích xã Châu Hưng trong cuộc tử chiến vào Tết Mậu thân 1968 tại rạp Cao Văn Lầu và bảng đá ghi danh những chiến sĩ tham gia trận đánh này.

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 tại rạp hát Cao Văn Lầu. Ảnh: www.baclieu.gov.vn

Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân hoàn thành đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 – 2013 có ý nghĩa rất to lớn, là tấm lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhằm tưởng nhớ và tri ân đến các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận đánh Mậu Thân 1968. Ngoài ra, thông qua Công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân 1968 còn giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau của tỉnh nhà về truyền thống đấu tranh cách mạng, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực tự cường, lòng yêu quê hương đất nước.

Các đại biểu đã đặt cành hoa trước Bia để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh

Tại buổi lễ, sau khi thực hiện nghi thức khánh thành công trình Bia tưởng niệm sự kiện Mậu thân, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh cùng các đại biểu đã đặt cành hoa trước Bia để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh lịch sử hào hùng này.

V.T
bqllang.gov.vn

Đòn “điểm huyệt” vào Phan Thiết

QĐND – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, thị xã Phan Thiết (Bình Thuận) là một mục tiêu tiến công của quân và dân ta. Phan Thiết là khu đông dân cư, có khu Lao Xá là nơi giam giữ cán bộ, chiến sĩ và đồng bào là cơ sở cách mạng của ta. Khu Lao Xá nằm phía đông nam thị xã, tả ngạn sông Cà Ty, được địch bố trí một trung đội bảo an trang bị súng máy để bảo vệ chặt chẽ. Bên cạnh đó, thị xã Phan Thiết còn có những đơn vị chủ lực mạnh của địch.

Nhiệm vụ đánh vào Phan Thiết, giải phóng khu Lao Xá được giao cho Tiểu đoàn 840 và Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 841, chủ lực tỉnh Bình Thuận. Phương án tác chiến vạch ra là sử dụng Tiểu đoàn 840 tiến công trên hướng chủ yếu đánh thẳng vào khu Lao Xá và Tòa hành chính tỉnh, tiêu diệt cơ quan chính trị của địch. Các hướng thứ yếu đánh kéo giãn địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ.

Chiều 17-2-1968, Tiểu đoàn 841 cơ động lực lượng tiếp cận mục tiêu. Sau khi vào vị trí xuất phát tiến công, ổn định đội hình, đúng 1 giờ ngày 18-2, các mũi tiến công hướng chủ yếu và thứ yếu đồng loạt nổ súng tiêu diệt các mục tiêu đã định. Địch được yểm trợ của hỏa lực, chống trả quyết liệt. Song do các đơn vị hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch trên nhiều hướng, nên đã làm cho địch bị thiệt hại nặng. Ta đã giải phóng được khu Lao Xá, phá hủy 6 lô cốt, 12 ổ đề kháng, tiêu diệt nhiều địch, thu hàng trăm khẩu súng các loại.

Trận đánh chiếm Lao Xá và một số mục tiêu quan trọng ở Phan Thiết là trận đánh xuất sắc. Mặc dù chỉ làm chủ thị xã trong thời gian ngắn, song cuộc tiến công vào Phan Thiết có ảnh hưởng chính trị to lớn, cổ vũ tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân địa phương.

DƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào

Trong đêm đầu xuân mưa bay, giá lạnh và sương mù, một đòan người áo đen, quần cộc, dép cao su, từ trong rừng đi ra, vượt qua sông, qua làng, không một tiếng động, lặng lẽ tiến vào thành phố Huế bằng tất cả các ngõ đường, các cửa ô.

Ảnh tư liệu TTXVN

Đó là những hình ảnh đã làm nên sự kiện lịch sử chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968. 40 năm trôi qua nhưng chiến công oanh liệt ấy vẫn mãi mãi âm vang như một dấu son của lịch sử quân sự Việt Nam.

Cho đến nay, công việc đánh giá tổng kết về sự kiện Mậu Thân ở Huế vẫn chưa kết thúc. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong các lĩnh vực chuyên môn; về khoa học quân sự, chính trị. Nhưng dù thế nào đi nữa thì lịch sử vẫn ghi đậm những hy sinh của cả lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố Huế – những người con thành cổ đã cống hiến hết sức mình vì độc lập tự do cho Tổ quốc.

Được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho Mậu Thân, chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng ngắn và chất nổ C4 vào bên trong thành phố. Nhà của nhiều người dân được dùng để chứa vũ khí, tất nhiên nếu chúng biết được thì gia đình họ chắc chắn phải chịu cảnh “tan nhà, nát cửa”.

Vũ khí được đưa vào bằng xe lam, bằng các gánh hàng trái cây; còn AK thì dấu dưới những chiếc thuyền hai đáy. Tiến vào Mậu Thân, những con thuyền chở vũ khí vào Huế từ nguồn sông Bồ qua ngã Ba Sình, từ Dương Xuân Hạ xuống, từ Phú Vang lên, hoặc từ chợ Tài Ba vào để kịp thời trang bị cho bên trong.

Khâu cuối cùng trong nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường của chúng tôi là chuẩn bị đường hành quân. Người ta có thể hình dung tính chất quan trọng và phức tạp trong cái công việc tưởng chừng như nhẹ nhàng này: Làm sao để đưa được bốn – năm ngàn con người vận động trên một địa hình hẹp và trong đêm tối như mực, vượt qua làng mạc nằm trong vành đai phòng thủ của địch, để tới tận mục tiên chiến đấu.

Việc tổ chức đường hành quân và cả người dẫn đường từ trong rừng ra vùng ráp ranh, từ ráp ranh về đồng bằng, rồi băng qua đồng bằng để tới mục tiêu, tất cả đều phải chia ra nhiều đọan đường. Mỗi đoạn đều có một người dẫn đường riêng, không thể giao cho một người từ đầu đến cuối, vì lỡ trước đó họ bị bắt thì cũng chỉ biết rằng đã dẫn một đoàn cán bộ đi công tác từ làng này qua làng khác.

Mỗi hướng chính lại rẽ ra nhiều mũi, mỗi mũi phải chuẩn bị hai con đường để phòng khi địch chốt đường này thì còn có đường khác. Phải nghiên cứu trước từng đoạn đường hành quân bằng cách đi thử: Chó sủa, lội sông và cố tránh lội ruộng để khỏi hư lúa mới cấy.

Kinh nghiệm cho biết mỗi khi chó sủa rộ lên vùng nào thì địch đều bắn pháo sáng lên và cho máy bay quan sát tới đó. Do đó, việc chuẩn bị đối phó với chó phải hết sức đảm bảo: Suốt bảy đêm đó phải chọc cho chó sủa liên miên suốt từ 11 giờ đêm đến 4 gìơ sáng để địch quen lệ, nhưng đúng đến đêm hành quân thì lại phải thuốc chó để chúng ngủ im.

Tưởng như chỉ là người liên lạc thường thôi, những người dẫn đường trong Mậu Thân 1968 cực kỳ quan trọng. Do đó, chính các Bí thư huyện ủy phải đích thân dẫn đường, các mũi phụ thì do Bí thư bố trí và phải chịu trách nhiệm trước tổ chức.

Một yếu tố có tính chất sống còn để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Mậu Thân, là một kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến tuyệt đối, từ đầu cho đến tận giờ nổ súng. Kỷ luật bảo mật chặt chẽ ngay từ trong phòng họp: Cán bộ lãnh đạo ghi chép phát biểu ý kiến xong đều phải để lại sổ sách, không được mang theo một mảnh giấy, tất cả chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi.

Công việc cận chuyển lương thực cho chiến dịch từ đồng bằng lên rừng đã bắt đầu từ trước Tết hàng tháng, nhưng ta đã đánh lừa được địch bằng một mệnh lệnh nghi trang là “Tích cực chuẩn bị cho bộ đội ăn Tết mừng chiến thắng”.

Các đơn vị tập dượt đánh các mục tiêu ở Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người ở quê xa tới để họ không biết mục tiêu gì, ở đâu. Mọi người đều phải tập dượt rất công phu, học tập kỹ lưỡng, và tuyệt nhiên không ai có thể biết được rằng sắp “đánh Huế”.

Trong suốt thời gian ta chuẩn bị chiến dịch, chỉ có pháo và máy bay C130 của địch thả bom lải rải tại các bến đò. Rõ ràng là chúng không được thông báo gì. Sau đó, địch có đưa tin trên đài Huế rằng “một cuộc hành quân tảo thanh đã bóp chết âm mưa của V.C trong dịp Tết từ trong trứng nước, đồng bào yên tâm ăn Tết”. Còn mã thám ta theo dõi tất cả các nguồn thông tin khác của địch đều không thấy một dấu hiệu báo động nào cả.

Thế là, trong một thời gian dài, chiến dịch đã đưa về cả ngàn vạn con người, cách trung tâm chỉ huy cách Huế 5 km, mà địch không hề biết một chút tăm hơi gì cả. Kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến độ không một mảnh giấy hay một con người để lọt vào tay địch và không một bộ phận nào bị rơi vào trạng thái kế hoạch có thể bị lộ. Đi lại nườm nượp ở trên rừng và trên đường hành quân, thế mà cho đến phút chót không một toán quân nào bị đánh vào giữa đội hình, không ai thương vong, không ai bị bắt.

Lịch chung cho toàn quân về Huế là ngày 30 ăn Tết (đúng kỷ niệm lần thứ 180 ngày Tết Quang Trung đi giải phóng Thăng Long, Mậu Thân 1876), đóng gói hành trang, sáng mùng 1 Tết thì ngủ. Nhưng tất cả đều đoán biết việc đêm đó nên người ta không ngủ mà lại hát.

Vào buổi chiều, được thông báo chính thức việc chiếm Huế, mọi người từ cán bộ đến bộ đội, du kích… đều vỗ tay reo hò, vui mừng chưa bao giờ thấy. Đêm đó im lặng hơn tất cả mọi đêm trong chiến tranh, im lặng đến mức không còn nghe thấy cái gì cả.

Lúc 1 giờ sáng thì trung đoàn 6 báo đầu tiên đã chiếm lĩnh trận địa; tiếp theo, cánh nam báo chiếm lĩnh hai mục tiêu ưu tiên; mỗi điện báo đều mật và chỉ 3 chữ. 6 giờ sáng, điện báo chiến thắng về từ khắp mọi nơi, coi như đã chiếm hết thành phố Huế, các huyện ngoại thành cũng chiếm được các xã địa bàn đã quy định. Như vậy, chỉ trong 3 tiếng đồng hồ, thành phố Huế đã bị ta đánh chiếm. Đến 11 giờ sáng mùng 2, lá cờ Mặt trận treo trên đỉnh Kỳ Đài Huế; tất cả bộ đội đều nhảy nhót, vỗ tay hoan hô…

Mậu Thân trong chiến đấu, bộ đội cả chủ lực và địa phương hy sinh lẫn bị thương khỏang 3.000 người. Trong Thành ủy có 2 đồng chí hy sinh. Nhưng ta đã diệt hơn một vạn tên địch trên mặt trận Huế. Toàn bộ căn cứ địch tại thành phố đều bị ta đánh nát; tất cả 36 cơ quan cấp tỉnh và trung phần của chúng đều bị ta chiếm hết, bọn đầu não đều ra hàng.

Thành quả vẻ vang này trước hết biểu hiện phẩm cách anh hùng của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Suốt 26 ngày chiếm giữ thành phố, chiến sĩ ta đương đầu với khó khăn ác liệt chưa từng thấy; thế mà không một đơn vị nào từ Trung đội, Đại đội trở lên bị xóa mất phiên hiệu, không một người nào ra đầu hàng hoặc đào ngũ; sống chung với dân như thế, vẫn giữ vững kỷ luật tác phong, khi xa rồi dân vẫn còn thương nhớ, người nằm xuống đó dân vẫn tiếp tục hương khói phụng thờ.

Phải nói rằng sau khi ta rút lên rừng, nếu có cái gì còn sống lâu trong tâm trí nhân dân thành phố Huế, trước hết đó là hình ảnh tỏa sáng của “người lính cụ Hồ”.

Theo Lê Minh
TTXVN

tienphong.vn

“Giải mã“ chiến thắng Mậu Thân 1968 qua phim

Nhân kỷ niệm 45 năm Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Đài Truyền hình Việt Nam bắt đầu phát sóng bộ phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968” từ 20h5, ngày 25/1 trên kênh VTV1. Phim do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất.

12 tập phim (thời lượng 30 phút/1 tập), thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX.

Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp tết Mậu Thân 1968. Và tại sao từ 3 khả năng mà Bộ Chính trị đã xác định lại chuyển dần thành mục tiêu duy nhất – thực hiện trận quyết chiến chiến lược, giành chính quyền về tay nhân dân.

Bên cạnh đó, những so sánh về tương quan lực lượng giữa các bên tham chiến, sự chuẩn bị khẩn trương của tất cả các lực lượng quân giải phóng trước cuộc động binh lịch sử, khí thế của cả một thế hệ ra trận trong lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trước cơ hội ngàn năm có một cũng được tái hiện chân thực và sinh động.

Bộ phim cũng đi vào phân tích bối cảnh, tình hình và tại sao lại có đợt 2, đợt 3 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè và mùa thu năm 1968, tiếp nối tinh thần “tiến công và tiến công liên tục” theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Những khó khăn và nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong các đợt tấn công sau tết, khi yếu tố bất ngờ không còn và phía Mỹ – Việt Nam cộng hòa đã có sự phòng bị chặt chẽ.

Tiếp đến là việc lý giải có hay không sự nổi dậy của quần chúng nhân dân trong sự kiện Mậu Thân 1968, và tại sao dân tộc Việt Nam lại chấp nhận hy sinh, đặc biệt là trong sự kiện Mậu Thân, để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Đan xen là những câu chuyện kể, những huyền thoại về lòng yêu nước của người Việt Nam.

Cùng với đó, hình ảnh về một nước Mỹ hỗn loạn, bị chia rẽ và phân hóa sâu sắc từ sau sự kiện Mậu Thân 1968 cũng được tái hiện dưới góc nhìn của chính những người Mỹ đã từng sống trong bầu không khí lịch sử đó. Để công chúng Việt Nam cảm nhận rõ ràng hơn về quy mô và tầm vóc của sự kiện Mậu Thân 1968 cũng như ý nghĩa thật sự của nó trong việc thúc đẩy hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam vào giai đoạn sau đó.

Sau khi nghiên cứu sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề “Mậu Thân 1968”, đạo diễn Lê Phong Lan và êkip đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước.

Đạo diễn và êkip thực hiện cũng rất kỳ công trong việc chuyển tải thông tin về sự kiện có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong lịch sử dân tộc này. Tìm một cách kể dễ theo dõi và mạch lạc là điều êkip thực hiện bộ phim tài liệu này luôn trăn trở. Với việc phát sóng bộ phim này, Đài Truyền hình Việt Nam hy vọng mang đến cho khán giả một cái nhìn toàn diện nhất về sự kiện lịch sử vĩ đại và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Bảo Châu
anninhthudo.vn

Phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”: Mười năm đi tìm sự thật

GiadinhNet – Dành giờ vàng cho bộ phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”, VTV muốn khán giả được tiếp cận với cái nhìn lịch sử toàn diện nhất của cuộc chiến này.

Phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”: Mười năm đi tìm sự thật 1Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng ở  Washington DC (Mỹ) tháng 6/2009. Ảnh: TL.

Định mệnh với phim lịch sử

Trong giới làm phim tài liệu về chiến tranh, nữ đạo diễn Lê Phong Lan từ lâu đã quá quen thuộc với số lượng và hành trình làm phim đáng nể. Từ vị tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức, Hiệp định Paris 1973 và bây giờ là 12 tập phim “Mậu Thân năm 1968”, gần như đạo diễn Lê Phong Lan đã dành trọn thời gian để theo đuổi đề tài lịch sử. Bởi bà quan niệm “lịch sử chính là tương lai của con người”.

Từ mối nhân duyên trong cuộc gặp gỡ với nhà tình báo kỳ cựu Phạm Xuân Ẩn 10 năm trước, sự gợi ý của ông “cháu hãy làm về Mậu Thân 1968, không hiểu sao nó lại gây tranh cãi” đã thôi thúc chị khát vọng đi tìm và giải mã những điều mà lịch sử còn chưa đề cập đến.

Chưa biết bộ phim sẽ được giới chuyên môn và khán giả đánh giá ra sao, nhưng nhìn vào hành trình thực hiện, những con số cũng nói lên nhiều điều về sự tâm huyết và lao động hết mình của nữ đạo diễn. “Tôi đã mất gần 10 năm cho quá trình thu thập chứng cứ, gặp gỡ các nhân chứng của Việt Nam và các cựu binh Mỹ, phỏng vấn các sử gia, học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Để có cái nhìn toàn diện và sòng phẳng, tôi đã 4 lần trở lại Mỹ để đối chứng lại thông tin”, đạo diễn Lê Phong Lan tâm sự.

Đánh giá về bộ phim, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng ban Thư ký biên tập, Đài Truyền hình Việt Nam khẳng định: “Đây là bộ phim tài liệu thực sự lôi cuốn và hấp dẫn không thua kém gì các phim tài liệu của nước ngoài. Bên cạnh sự dày công tìm hiểu, phim còn được đầu tư kinh phí lớn nhất so với các bộ phim tài liệu từ trước đến nay”.

Những bí ẩn lần đầu được tiết lộ

Bộ phim là câu chuyện xuyên suốt từ khi hình thành kế hoạch tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho đến khi kết thúc chiến dịch. Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện này đã dần được giải mã. Nói về sự kiện còn gây nhiều tranh cãi này, đạo diễn Lê Phong Lan khẳng định: Xung quanh sự kiện này có những thông tin sai lệch từ các bài viết, nhận định về vụ thảm sát ở Huế. Trong quá trình gặp gỡ nhân chứng từ hai phía, chúng tôi nhận thấy, đó thực chất là vụ dàn dựng tâm lý chiến của Việt Nam Cộng hòa. Thế nhưng trong 45 năm qua, chúng ta không nói lại, không giải thích. Điều đó không công bằng. Các đài nước ngoài đã và đang làm phim về Mậu Thân 1968, còn Việt Nam thì chưa làm”.

Đạo diễn Lê Phong Lan cũng khẳng định rằng, bà không để bất cứ một tư tưởng nào chi phối cái nhìn của mình. Tất cả đều được nhìn nhận một cách sòng phẳng với mục đích duy nhất là sự thật. Chính vì vậy mà bà mới có thể đặt vấn đề phỏng vấn các cựu binh ở chiến tuyến bên kia.

Mười hai tập phim, mỗi tập sẽ là một câu chuyện. Có thể mọi người đã biết và cũng có những thông tin hoàn toàn mới. Mỗi tập chuyển tải ý kiến của các sử gia, nhà nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau về được-mất trong “Mậu Thân năm 1968” và những lý giải tại sao sự kiện này lại gây nhiều tranh cãi trong suốt thời gian dài như thế. Với nhiều lớp lang trong câu chuyện, bộ phim còn mất nhiều công sức trong việc lựa chọn một cách kể dễ theo dõi và mạch lạc, để không chỉ những người đi qua cuộc chiến, hiểu về cuộc chiến mà còn cho thế hệ trẻ bị cuốn hút và yêu thích.

“Mậu Thân năm 1968” sẽ chính thức lên sóng VTV vào lúc 20h từ ngày 25/1/2013.

Thanh Hà
giadinh.net.vn

Tái hiện Mậu Thân 1968

 – Sang Mỹ 4 lần, mất gần 8 năm chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu, phỏng vấn 200 nhân chứng, tất cả để phục vụ cho 12 tập phim tài liệu “Mậu Thân 1968”.

Đạo diễn Phong Lan chia sẻ rằng chính tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn đã cho chị một tiềm ẩn về Tết Mậu thân 1968 khi chị thực hiện một bộ phim về ông. “Ông Ẩn bảo tôi cháu phải làm phim về Mậu Thân 1968 vì đó là sự hy sinh vô cùng lớn lao để giành thắng lợi năm 1975, không hiểu tại sao có người nói đó là vấn đề nhạy cảm của lịch sử nhưng thực ra không có một chút gì nhạy cảm hết” – đạo diễn Phong Lan nói.

Nữ đạo diễn tâm sự qua tìm hiểu thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này dẫn tới việc có nhiều bạn trẻ hiểu sai vì vậy đó là động lực để chị quyết tâm để làm phim. Trong suốt 10 năm, chị sang Mỹ 4 lần gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng cả phía ta, phía Mỹ sau đó gạn lọc, gạn lọc dần để đi tìm sự thật. Để hoàn thành bộ phim, chị mất gần 8 năm chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu.

Đạo diễn Phong Lan đang phỏng vấn 1 nhân chứng.

Trả lời câu hỏi: “Liệu bộ phim có đưa ra sự lý giải các sự kiện một cách sòng phẳng, công bằng, bởi dù sao VN cũng là người trong cuộc?” – đạo diễn thẳng thắn: “Khi làm phim này, Tôi đặt tinh thần độc lập thống nhất và hòa hợp dân tộc của tôi lên hàng đầu. Và lẽ đương nhiên tôi buộc phải công bằng vì đó là nghề nghiệp, là thanh danh của tôi”.

Người phụ nữ yêu lịch sử cho biết những khó khăn trong việc khai thác tư liệu hình ảnh và tốn kém để làm nên “Mậu Thân 1968” khó ai có thể bù đắp nổi cho chị. Ví dụ như trận Lam Sơn không có một phóng viên nào phía ta vào quay phim hay chụp ảnh vì vậy khi làm bộ phim này chị đã phải huy động hết mọi nguồn để tránh cảnh phải làm phim từ hai bàn tay trắng.

Một cảnh trong bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968”, bắt đầu lên sóng VTV1 vào 20h ngày 25/1.

“Tôi không dám chắc rằng phim Mậu Thân 1968 có thể nói hết được những gì đã diễn ra trong quá khứ nhưng có một điều tôi muốn chia sẻ rằng các tập phim nói được một số vấn đề cơ bản. Thực tế nếu có ai đó trả cho tôi 1 hoặc 2 tỷ/tập phim, tôi sẽ phải làm tới 50 tập để nói ra hết những gì mình đã có trong tay, muốn nói” – nữ đạo diễn thẳng thắn.

Sơn Hà
vietnamnet.vn

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân và vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Vào cuối năm 1967, trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch – ta và nhận thấy thế “tiến thoái lưỡng nan” về chiến lược của Mỹ khi năm vận động tranh cử Tổng thống Mỹ đang đến gần, Bộ Chính trị quyết định phải tạo một bước nhảy vọt thông qua chọn hướng chiến lược hiểm, dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Thực hiện chủ trương của Đảng, đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-01-1968), quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/44 thị xã, hàng trăm thị trấn và các căn cứ quân sự, hậu cần, sở chỉ huy lớn của địch trên toàn miền Nam. Đây là cuộc ra quân với quy mô lớn, đồng loạt, toàn diện và có khí thế cách mạng cao nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến lúc bấy giờ và cũng là lần đầu tiên ta tiến công táo bạo, bất ngờ vào sào huyệt của kẻ thù. Tuy còn một số mặt phải nghiên cứu, nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự (NTQS) Việt Nam. Bằng cuộc Tổng tiến công chiến lược này, ta đã giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải “phi Mỹ hóa” chiến tranh, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán trực tiếp với ta tại Hội nghị Pa-ri, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Bác Hồ và Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

45 năm đã trôi qua, nhưng không khí hào hùng của cuộc Tổng tiến công chiến lược Tết Mậu Thân còn vang vọng mãi, với niềm tự hào sâu sắc trong tâm khảm của mỗi chúng ta. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đang đẩy mạnh thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi là cơ bản, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ, bảo vệ với xây dựng, thực hiện BVTQ bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nói riêng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung suy nghĩ về một số vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp BVTQ hiện nay.

Một là, đánh giá đúng tình hình, quán triệt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, một trong những nhân tố dẫn đến thắng lợi là, Đảng ta đã chủ động nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, nhất là đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và khả năng thực tế của ta… trên cơ sở đó, hoạch định chủ trương, phương pháp và tổ chức chỉ đạo chiến lược, chiến dịch một cách đúng đắn, sáng tạo. Trong đó, nét nổi bật là, quán triệt tư tưởng tiến công, lựa chọn hướng tiến công (địa bàn đô thị – sào huyệt và cũng là chỗ mạnh nhưng sơ hở của địch), mục tiêu và thời điểm tiến công hết sức táo bạo, bất ngờ làm cho chúng bị động, lúng túng trong đối phó. Đặc biệt, cùng lúc ta đồng loạt tiến công trên phạm vi rộng, trọng tâm là các trung tâm đầu não của địch cũng làm chúng hoảng loạn cả về tinh thần và không kịp trở tay (nhất là trong giai đoạn đầu) để phản ứng lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bằng sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta.

Ngày nay, trong sự nghiệp BVTQ, những kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị. Theo đó, chúng ta cần nghiên cứu kỹ, khách quan, toàn diện tình hình thực tế để vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp và có tính khả thi cao. Thực hiện nhiệm vụ BVTQ trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, khó lường và trong quan hệ quốc tế có những đặc điểm mới, đan xen giữa hợp tác và đấu tranh, đối tượng với đối tác… nên có cả thuận lợi và khó khăn, với yêu cầu ngày càng cao. Cũng vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình quốc tế và trong nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc phòng – an ninh (QP-AN); dự báo được xu hướng phát triển và tác động (cả tích cực và tiêu cực) của nó đối với sự nghiệp BVTQ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, nhất là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao… Trên cơ sở đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chiến lược BVTQ và đối sách xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đồng thời, các ngành, các lực lượng phải nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về BVTQ để cụ thể hóa thành các chiến lược chuyên ngành và các kế hoạch mang tính chiến lược, làm cơ sở để triển khai thực hiện. Trong đó, Kế hoạch phân vùng chiến lược về quốc phòng gắn với phân vùng chiến lược về kinh tế – xã hội; Kế hoạch xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ của các địa phương trong thời bình gắn với bổ sung, điều chỉnh phương án phòng thủ chiến lược; Kế hoạch xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân… cần sớm được hoàn thiện và triển khai trong thực tiễn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân đối với nhiệm vụ BVTQ. Trong quá trình thực hiện, phải giữ vững nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với LLVT và sự nghiệp quốc phòng.

Hai là, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu BVTQ. Nét nổi bật nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cũng là bất ngờ lớn nhất đối với kẻ thù, là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã bất ngờ tiến công đồng loạt trên cả ba vùng chiến lược, lấy các đô thị làm chiến trường chính, đánh vào sào huyệt, “tim óc” của kẻ thù bằng lực lượng tổng hợp. Trong đó, việc kết hợp chặt chẽ giữa tiến công của bộ đội chủ lực với nổi dậy của quần chúng mà nòng cốt là LLVT địa phương (bộ đội địa phương và dân quân, du kích) trong thế trận được chuẩn bị sẵn đã phát huy cao độ được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong cuộc Tổng tiến công chiến lược. Nhờ đó, quân và dân ta đã thực hiện đánh địch vừa rộng khắp, vừa tập trung, hãm chúng vào thế bị động, lúng túng chống đỡ. Chính nhờ dựa vào nhân dân, vào thế trận chiến tranh nhân dân, nhất là các tổ chức đảng và cơ sở cách mạng địa phương, nhiều đơn vị chủ lực ta đã bí mật đứng vững ngay tại cửa ngõ các đô thị lớn, đánh những trận gây choáng váng giới cầm quyền Mỹ, tạo tiếng vang trên thế giới, như: trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống và Bộ Tổng Tham mưu ngụy ở Sài Gòn… Thực tiễn đó, một lần nữa khẳng định, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân là một trong những nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng là vấn đề có tính xuyên suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là chúng ta phải chú trọng xây dựng nền QPTD vững mạnh, xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên từng khu vực và địa bàn cả nước, nhất là trên các địa bàn chiến lược.

Xây dựng nền QPTD là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân; trong đó LLVT nhân dân là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Để đạt được mục tiêu xây dựng nền QPTD vững mạnh, thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về giáo dục QP-AN. Trong đó, chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với các đối tượng, sát đặc điểm tình hình địa bàn, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục QP-AN lên một bước mới. Trong quá trình xây dựng, cần thấu suốt quan điểm của Đảng về hai nhiệm vụ chiến lược, đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường QP-AN; thực hiện tốt việc bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; phòng, chống tham nhũng…, nhằm tăng cường “thế trận lòng dân”, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) về chiều sâu, vững chắc theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa X) của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 07-CT/TW (khóa XI) của Ban Bí thư và Nghị định 152/NĐ-CP của Chính phủ. Trong quá trình thực hiện, phải phát huy có hiệu quả vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; năng lực làm tham mưu và tổ chức thực hiện của các ban, ngành, đoàn thể, mà trước hết là của cơ quan quân sự địa phương để tăng cường tiềm lực về mọi mặt cho khu vực phòng thủ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, phối hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng; đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương.

Thế trận QP-AN được xây dựng vững chắc sẽ tạo điều kiện cho các lực lượng phối hợp hoạt động xử lý tốt các tình huống, bảo vệ vững chắc địa bàn, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Yêu cầu đặt ra là, thế trận đó phải đáp ứng tốt nhiệm vụ QP-AN trong thời bình; đồng thời, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước bị xâm lược.

Ba là, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của LLVT nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là kết quả của việc xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh; thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo. Đó là: kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy của các đơn vị chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương của LLVT địa phương và nó được biểu hiện cụ thể ở sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trong suốt cuộc Tổng tiến công chiến lược, đặc biệt là ở giai đoạn đầu.

Vì thế, trong sự nghiệp BVTQ hiện nay, chúng ta phải tăng cường xây dựng LLVT ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ) vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ.

Để đạt được mục tiêu trên, cần tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng: “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Trước hết, coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Muốn vậy, các đơn vị phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của Quân đội; có bản lĩnh chính trị vững vàng để phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa và “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; đồng thời, có ý chí, quyết tâm cao để vượt qua khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp. Trong tình hình hiện nay, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, toàn quân phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác, nhất là công tác giáo dục – đào tạo, huấn luyện, tác chiến điện tử, công nghệ thông tin, hậu cần – kỹ thuật…, bảo đảm cho Quân đội kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và trình độ chiến thuật, kỹ thuật, khả năng tác chiến ngày càng cao, trên cơ sở tinh thông nghiệp vụ, khai thác và làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và mới được trang bị. Cùng với đó, chú trọng xây dựng, phát triển nền khoa học, NTQS Việt Nam trong điều kiện mới, bảo đảm vừa kế thừa, phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, vừa tiếp cận, tiếp thu nền khoa học, NTQS tiên tiến, hiện đại trên thế giới; trong đó, coi trọng nghiên cứu khoa học, NTQS chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch.

Cùng với đó, phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ theo phương châm: “vững mạnh, rộng khắp”, được tổ chức chặt chẽ, có cơ cấu, thành phần hợp lý, chất lượng ngày càng cao, nhất là chất lượng và độ tin cậy về chính trị, bảo đảm phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới.

Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG
Ủy viên BCHTƯ Đảng, Ủy viên Thường vụ QUTƯ,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

tapchiqptd.vn

Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 theo đánh giá của người Mỹ và người nước ngoài

Cách đây vừa tròn 45 năm, vào Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968.

Sài Gòn hỗn loạn trong dịp Tết Mậu Thân 1968.Sài Gòn hỗn loạn trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Mậu Thân 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc. Cũng chính vì vậy, nó gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

Nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh xuất bản tại New York năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo ông, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.

Còn tướng Maxwell D. Taylor – cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson, trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày  xuất bản tại New York năm 1972 đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên các màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

Taylor còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.

Westmoreland – nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình xuất bản ở New York năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. Westmoreland còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (QGP) có thể thắng ở Washington như họ đã thắng ở Genève 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

Cựu tổng thống Mỹ Eisenhower, ngày 27-3-1968 nghĩa là chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công đã phải than thở: “…Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

Ngay đương kim Tổng thống Johnson lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động sâu sắc. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong chính phủ Mỹ, Johnson đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, Nixon gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Midway để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Henry Kissinger, ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?

Tờ tin tức Hoa Thịnh Đốn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của Cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Johnson dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.

Thời báo New York, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11-1967”.

Một chiến sĩ Giải phóng quân đang cài mìn đánh địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968.Một chiến sĩ Giải phóng quân đang cài mìn đánh địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới ở góc độ này hay khác đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.

Hãng thông tấn Reuters của Anh ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô la mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.

Báo Pháp “Thế giới” (Le Monde) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.

Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội, họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng, họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng.

Nhiều báo của các tổ chức Đảng Cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân dân – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho Bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

Người dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại California, Mỹ (năm 1968).Người dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại California, Mỹ (năm 1968).

Các nước trong phe XHCN lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1 và 1-2 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách, báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân 1968 có thể nhận thấy: dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân 1968.

Đại tá, PGS. TS Trần Nam Chuân
baodongnai.com.vn

26 ngày đêm Tết Mậu Thân 1968

(TTH) – 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968, tức mồng Một Tết Âm lịch, giờ phút mở đầu Tết Mậu Thân, giờ phút thiêng liêng đáng ghi nhớ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở quê hương Thừa Thiên Huế chúng ta, ở chiến trường Trị Thiên.Như bao lần Tết, cứ đến giao thừa việc đầu tiên của mọi người là mở Đài Tiếng nói Việt Nam để đón nghe Thơ mừng Xuân, chúc Tết của Bác Hồ.

Đúng lúc, những phát pháo lệnh của chỉ huy vạch những đường đỏ hồng thẳng lên vòm trời cao. Một mũi tiến quân của đơn vị tinh nhuệ cũng vừa cắt xong dây thép gai ở cống Thủy Quan – cống ngầm dưới thành thông ra sông Kẻ Vạn với sông Ngự Hà, chạy dài cắt đôi khu Thành NộiMen theo sông Ngự Hà, các chiến sĩ tiến vào góc Tây Nam sân bay Tây Lộc, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ sân bay. Một mũi quân khác từ cửa Chánh Tây theo đường Thái Phiên vào chiếm khu thông tin và kho đạn phía Tây sân bay, phá hủy một số máy bay lên thẳng, máy bay trinh sát và vận tải.

Liệt sĩ Phạm Thị Liên, Tiểu đội trưởng 11 cô gái Sông Hương trong Chiến dịch Huế-Xuân 1968 (đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Ảnh:TL

Địch bị đánh bất ngờ, không chống cự nổi. Một số thoát chết chạy về khu quân cụ ở Nam sân bay, hợp lại với bọn nhân viên kỹ thuật bắn trả lại. Quân ta quyết đánh, dựa vào hào giao thông và các vật chướng ngại tại chỗ, bám chặt sân bay, giữ vững vị trí đã chiếm được.Ban chỉ huy Trung đoàn cho một tiểu đoàn mở đợt tấn công tiếp vào sân bayTrận đánh diễn ra từ nửa đêm đến sáng mới kết thúc. Ta chiếm được sân bay, phá hủy 40 máy bay các loại, 100 chiếc xe, 1 kho đạn, 1 kho xăng, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự. Sau đó quân địch phản kích chiếm sân bayTa lại tổ chức tập kích vào sân bay một lần nữa… Trận đánh giành giật sân bay Tây Lộc diễn ra ác liệt và liên tục trong suốt thời gian ta chiếm giữ thành phố Huế.

Lễ xuất quân trong Chiến dịch Huế Xuân 1968. Ảnh: TL

Nhìn toàn cục chiến dịch khi ấy đến 2 giờ 40 phút ngày 31/1/1968, khi chiếm xong cửa Hữu, ta từ đó mở 3 mũi tiến công.

Mũi thứ nhất đánh vào cửa Ngọ Môn và Cột Cờ. Địch ở đây có 1 trung độinhưng lúc đó chỉ có 6 tên.Một tiểu đội của ta bí mật tiến vào và diệt gọn địch ngay từ những phút đầu.Ta chiếm xong cửa thành và Cột cờ Ngọ Môn vào lúc 6 giờ sáng, chiếm toàn bộ kho tàng, vũ khí, trong đó có 2 khẩu trọng liên 12 ly 7.

Mũi thứ hai theo đường Yết Kiêu, đường Lê Xuân đánh chiếm khu Đại NộiTrên đường tiến, ta bắt được một tên cảnh sát ngụy, thuyết phục nó đi theo ta. Tên này đã dẫn bộ đội đi thẳng vào cổng chính, diệt 1 đại đội thám báo, 1 đại đội cảnh sát, bắt 26 tù binh, chiếm hoàn toàn khu Đại Nội.

Mũi thứ ba gồm 2 trung đội bộ binh được 1 tổ du kích dẫn đường, tiến theo đường Yết Kiêu, Mai Thúc Loan ra chiếm cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, rồi từ đó phát triển chiếm cầu Thanh Long mạn Đông Bắc thành phố và cầu Trường Tiền, chiếm các sở, ty, kho tàng trong thành phố.

Lá cờ của địch bị hạ xuống, cờ Mặt trận xanh đỏ với ngôi sao vàng tung bay trên đỉnh cột cờ Ngọ Môn vào lúc 8 giờ sáng ngày 31/1/1968. Chính Nguyễn Văn Truyền, người chiến sĩ dũng cảm của đại đội 3, tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6 đã cùng đồng đội treo lá cờ cách mạng lên cột cờ cao nhất thành phố. Từ hôm đó, lá cờ vẻ vang của nhân dân miền Nam anh hùng phất phới bay cao trên thành phố cổ kính của niềm tin, soi bóng hồng xuống dòng sông Hương xinh đẹp.

Cùng lúc đó, mũi bộ đội tinh nhuệ và bộ binh từ cửa An Hòa tiến nhanh về mạn Tây Mang Cá, mở đường tiến công đưa được 12 chiến sĩ vào đồnHai mũi hợp lực chiến đấu dũng mãnh kiên cường cho đến sáng thì chiếm được khu Cải huấn, phòng Chiến tranh Tâm lý, đại đội Quân y, làm chủ 1/3 đồn Mang Cá. Đến 6 giờ sáng, Ban chỉ huy Trung đoàn phái đồng chí Tham mưu phó chỉ huy 1 đại đội bộ binh với 4 khẩu DKZ 75 đến tăng cường cho lực lượng tiến công. Nhưng vì địch đã dàn quân đối phó, xe thiết giáp của chúng đã bịt cửa thành nên cuộc chiến đấu hết sức gay go. Đến 11 giờ ngày 3-1 quân ta bị đánh bật khỏi Mang Cá.

Các trận tiến công giải phóng vùng ngoài thành phố ở phía Bắc diễn biến thuận lợi. Chỉ trong vòng 30 phút, Tiểu đoàn 6 đã đánh chiếm xong các làng An Hòa, Đốc Sơ, chiếm cầu và đồn An Hòa, bắt sống gần hết bọn dân vệ, thu nhiều vũ khí. Đến 8 giờ ngày 3-1, Tiểu đoàn Dù số 7 của địch cùng chi đoàn thiết giáp từ An Lỗ theo đường số 1 kéo vào cứu nguy cho Huế, đến An Hòa thì bị Tiểu đoàn 6 của ta bao vây đánh. Sau khi đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, ta diệt hàng trăm tên, phá hủy 5 xe M113, bắt sống 3 xe, dùng súng trung liên trên xe địch đánh lại địch. Tiểu đoàn Dù số 7 nguy bỏ chạy theo đường cửa Hậu rút vào Mang Cá.

Một đơn vị bộ binh khác của ta tiến công chiếm các ấp “Tân sinh” Quê Chữ, La Chữ, An Hòa, Bồn Trì, Bồn Phố, tiêu diệt 1 đại đội cộng hòa và 70 tên ác ôn dân vệ bắt sống và gọi hàng trăm tên, thu toàn bộ vũ khí, phát động quần chúng giành quyền làm chủSáng hôm sau, cả 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây mang vũ khí ra hàng quân Giải phóng.

Một tiểu đoàn khác đột nhập đánh chiếm các ấp Kẻ Vạn, Kim LongQuân ngụy ở đây, ngoài các trung đội dân vệ và bọn ác ôn kìm kẹp quần chúng, còn có 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 bị đánh bại ở Gio Linh về củng cốĐịch bị đánh bất ngờ bỏ chạyTa truy kích diệt một số. Tiểu đoàn này 2 hôm sau được đưa về Mang Cá.

Tối 31/1, ta tiến công bốt Bạch Hổ. Bốt này có 1 đại đội bảo an và 1 tiểu đoàn cảnh sát dã chiến. Vì địch có đông quân lại dựa vào lô cốt kiên cố nên ta đánh không được, phải chuyển qua bao vây khống chếNgày 1-2 ta mở đợt tấn công thứ 2. Sau khi dùng hỏa lực đánh vỡ lô cốt, địch bỏ chạy một số, còn bị bắt sống 60 tên.

Một đội biệt động gồm 14 chiến sỹ trong đêm 30/1 đã bí mật vào Bao Vinh, vượt qua sông Hương lên làng Tiên Nộn rồi vượt sông Hương một lần nữa tiến vào khu phố Gia Hội, được du kích bí mật tại chỗ giúp sức đã nhanh chóng chiếm bốt cảnh sát khu phố, chiếm quận lỵ. Hôm sau, khi trời vừa sáng, đội biệt động biến thành đội quân khởi nghĩa, chia làm nhiều mũi vũ trang tuyên truyền, treo cờ, kêu gọi quần chúng đứng lên giành chính quyền, làm chủ toàn khu phố 4.

Cùng lúc, một đội du kích bí mật với một đội biệt động khác đánh chiếm bốt cảnh sát Đông Ba, phát triển ra chiếm đường phố Trần Hưng Đạo. Đến 8 giờ ta làm chủ chợ Đông Ba, Gia Hội, ngoại ô và huyện Hương Trà từ Văn Xá, La Chữ, Kim Long, Xuân Hòa.

Thế là sau 2 ngày tiến công, cánh Bắc đã đánh chiếm xong Thành Nội, Đông Ba, Gia Hội và Hương Trà, trừ Mang Cá địch còn giữ được.

Về cánh Nam Huế, ta tiến hành bằng nhiều mũi và thực hiện bằng nhiều hình thức tác chiến khác nhau, quá trình tiến công và nổi dậy kéo dài mấy ngày liền.

Đơn vị bộ đội tinh nhuệ giấu quân ở Phú Vang, được ăn Tết với đồng bào, được đồng bào cho xuống nằm đò “chở” đi nhà thương Huế”. Chiều hôm đó, họ ăn Tết ở Vĩnh Lưu, Giang Đông, rồi hành quân trong đêm tối, vượt sông Lợi Nông, đến 2 giờ sáng ngày 31/1 thì tiến vào khu Đông Nam Huế. Ở đây, pháo lớn của ta bắn áp vào khu Tam giác. Quân ta chia làm nhiều mũi tiến công dồn dập vào hang ổ của địch. Một đội đánh diệt đồn Đội Cung và phát triển vào Khách sạn Hương Giang. Đội thứ hai đánh vào Khách sạn Thuận Hóa – nơi ở của bọn cố vấn Mỹ. Đến 4 giờ thì đánh chiếm xong các khu nhà trên mặt đất. Địch còn lại chui xuống hầm kháng cự. Một đội đánh vào Sở Mật thám Huế, chiếm nhà lao, giải phóng cho 107 đồng bào bị giam giữ. Một bộ phận nhỏ đánh chiếm khu Chợ Cống, Sân Vận độngMột đội biệt động gồm 14 đội viên đánh vào An Cựu, diệt 2 đoàn “bình định” rồi nhanh chóng phát triển lên cầu Kho Rèn, diệt 3 xe thiết giáp, bắt sống 1 xe ô tô và 9 tên cảnh sát.

Mũi tiến công thứ 2 từ Dương Hòa xuống. Sau đợt pháo kích của 1.000 quả DKB, quân địch hoảng loạn. Tiểu đoàn tinh nhuệ số 1 của ta đánh tiêu diệt Trung đoàn Thiết giáp số 7 ngụy ở Tam Thai. Mấy phút đầu, ta chiếm được 2 lô cốt lớn trên cao, rồi từ đó đánh xuống đồn chínhĐịch kháng cự yếu ớt. Đến gần sáng ta chiếm được đồn, phá hủy 30 xe thiết giáp và xe tăng. Địch còn 1 trung đội và 1 xe tăng bám vào một góc đồn cố thủ, chờ bọn Mỹ ở Phú Bài đến cứu, nhưng bị ta diệt. Trận đánh đã tiêu diệt Trung đoàn Thiết giáp, đập nát đội xung kích cơ động của địch, làm chúng mất hẳn lực lượng nòng cốt bảo vệ Huế.

Tiểu đoàn 4 tiến đánh bốt Ngã Năm (đường Duy Tân), đánh từ 8 giờ đến 11 giờ mới chiếm được đồn. Một đội khác đánh chiếm Ngã Sáu Chaffanjon, chiếm các sở Bưu Điện, Ngân khố, chiếm Đài Phát thanh Huế ở sát cầu Trường Tiền. Một đội đánh tiêu diệt đoàn vận tải ở Trại Lê Lợi (An Cựu), tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn vận tải, phá hủy 100 xe.

Ở mũi tiến công thứ 3, đến 6 giờ ta mới chiếm được cầu Bến Ngự và cầu Nam Giao. Từ đó, ta nhanh chóng tiến vào chiếm Trường Quốc Học, Trường Đồng Khánh và dinh tỉnh trưởng. Một lá cờ nữa của cách mạng lại tung bay trên dinh tỉnh trưởng, hòa nhịp với lá cờ xanh đỏ ngôi sao vàng trên cột cờ Ngọ Môn.

Cuộc tấn công vào nhà lao đợt 1 không thành công. Ta lui ra củng cố và trang bị lại cho đơn vị. Một cuộc họp chi bộ, phát động tư tưởng được triển khai để chuẩn bị tổ chức trận chiến đấu mới, chuẩn bị đến 23 giờ 30 xuất phát tiến công.

Đến 24 giờ, một đào binh là Trần Văn Phiêu mang súng ra hàng, nói bọn địch rất dao động và xin dẫn đường cho bộ độiTa bí mật tiến công vào đánh chiếm bốt gác, phối hợp với anh chị em trong nhà lao nổi dậy, đánh chiếm toàn bộ nhà lao, giải phóng 2.200 người bị giam giữHọ sung sướng ôm chầm lấy các anh Giải phóng quân. Biết bao cảnh cảm động, cha gặp con, vợ gặp chồng, anh gặp em. Rồi tất cả tập hợp về chùa Từ Đàm. Một số xin gia nhập Giải phóng quân, tham gia các đội công tác dẫn đường cho bộ đội tiếp tục tấn công. Quân ta tiếp tục phát triển qua nhà ga Huế, bao vây đồn Bồ Ghè trong có 1 tiểu đoàn công binh. Ngày 4-2, ta tiến công chiếm khu quân cụ Quang Trung và trại Lê Lợi, thu 2.000 súng các loại, có hàng trăm khẩu đại liên, 8 xe tăng và nhiều đồ dùng quân sự. Ở vòng ngoài ta diệt đồn địch ở Nam Giao, các đồn Phước Quả, Phú CamNgày 6/2, ta phục kích tiêu diệt 1 đoàn xe 12 chiếc của Mỹ ở núi Ngự Bình, trong đó có 2 chiếc xe tăng.

Nhờ nhân dân dẫn đường, ta bắt được nhiều sỹ quan cố vấn và tình báo CIA Mỹ, bắt được nhiều tên Việt gian đầu sỏ, trong đó có 4 tên Phó tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên. Còn tên Tỉnh trưởng Phan Văn Khoa cải trang trốn biệt tích từ mấy ngày trước.

Trận tập kích chiến lược vào Huế đã kết thúc thắng lợi sau 4 ngày đêm liên tục tiến công. Hầu hết các mục tiêu lớn ta đều đánh chiếm được, nhưng địch không bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở cánh Bắc, chúng còn cố thủ ở Mang Cá. Ở cánh Nam, Mỹ chiếm lại được Khách sạn Thuận Hóa, cố thủ đồn Bồ Ghè

Ta tiếp tục giữ Huế 26 ngày đêm, tiếp tục phát động quần chúng, lập chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng, tiếp tục đánh phản kích.

*

45 năm trôi qua, nhớ lại ký ức ngày giải phóng, với lực lượng khi đó không đông, chỉ hơn vài nghìn quân, mà ta đã làm nên lịch sử, giải phóng Huế và làm chủ thành phố 26 ngày đêm, cùng với 65 thành phố, thị xã, thị trấn toàn miền Nam đồng loạt nổi dậy, tạo áp lực buộc quân Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Chúng ta thực hiện được lời Bác Hồ: Đánh cho Mỹ cút và tiến tới: Đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Với chiến thắng của quân và dân Trị Thiên Huế trong cuộc tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Trung ương đã khen tặng 8 chữ vàng Tấn công – Nổi dậy – Anh dũng – Kiên cường”.

Thiếu tướng Trần Minh Đức
baothuathienhue.vn

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế – 45 năm nhìn lại

(TTH) – Cách đây tròn 45 năm, quân dân ở mặt trận Huế đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của một trong những trọng điểm Tổng tiến công – nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng), góp phần thực hiện Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng (tháng 01/1968) là “phải tạo ra một bước nhảy vọt bằng chọn chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ”.

Để thực hiện được yêu cầu trên, trong quá trình lãnh đạo, cuộc chiến đấu ở chiến trường, Khu ủy Trị Thiên – Huế đã tổ chức tiến công và nổi dậy liên tục trên cả ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, ba thứ quân, liên tục giành thắng lợi vẻ vang trong chống “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, nhất là những năm 1966 – 1967 khi Trung ương mở Mặt trận Đường 9 và đã xây dựng được lực lượng vũ trang, chính trị ở nội thành Huế, đưa chiến tranh vào vùng ven đô. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, căn cứ vào nhiệm vụ được giao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Khu ủy Trị Thiên – Huế đã sớm tổ chức hội nghị chuẩn bị phương hướng tiến công địch ở TP Huế, chuẩn bị lực lượng, tổ chức chiến trường. Theo đó, ta hình thành lực lượng lớn ở hai cánh Nam – Bắc sông Hương, từ vùng núi vượt qua làng mạc, sông suối đồn bốt địch phục kích dọc đường, tiến công mục tiêu đúng giờ quy định, tạo yếu tố bất ngờ với địch. Đây là một thành công lớn của chiến dịch Huế Tết Mậu Thân 1968.

Đồng chí Thân Trọng Một (bìa phải), Thành ủy viên, Chỉ huy trưởng Đoàn 5 (Thành đội Huế), Chỉ huy trưởng cánh Nam cùng các đồng chí Nguyễn Chi (giữa), Võ Hạp (trái), trong chiến dịch Huế – Xuân 1968. Ảnh: TL

Ở hai cánh Bắc – Nam mặt trận Huế, ta đã tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực quan trọng của địch, đánh mạnh vào cơ quan đầu não Mỹ – ngụy, đập nát hệ thống chính quyền Sài Gòn từ thôn đến tỉnh, đánh nát các đường giao thông chiến lược của địch. Lực lượng cách mạng nhất là lực lượng vũ trang phát triển nhanh và được tôi luyện trong cuộc chiến đấu, trưởng thành dày dạn thêm nhiều. Đêm 15/2/1968, Quân ủy Trung ương điện cho mặt trận Huế: “Phải giữ thành để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cho cả nước”. Tình hình lúc này rất khó khăn, ác liệt. Địch phản kích chiếm lại thành phố. Ta thương vong nhiều. Một số đơn vị đã rút ra ngoại thành. Nhưng để phục vụ nhiệm vụ chính trị, mặt trận Huế kiên quyết bám trụ, tiến công địch, chiếm giữ thành phố 26 ngày đêm kiên cường, oanh liệt.

Thắng lợi ở mặt trận Huế bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Với chỉ đạo là trọng điểm cuộc tiến công – nổi dậy, Trung ương và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo cụ thể và hết sức chi viện cho mặt trận Huế. Về mục tiêu, bất ngờ nhất với địch là ta tổ chức lực lượng đánh chiếm Huế nhanh gọn. Quân dân ta đã chuyển chiến tranh vào thành phố, dinh lũy cuối cùng của Mỹ – ngụy, biến hậu phương địch thành nơi tranh chấp và từng bước trở thành tiền phương của cách mạng.

Cùng với việc tổ chức lực lượng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố, Khu ủy Trị Thiên – Huế còn biết kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn. Thắng lợi to lớn của đòn tiến công quân sự đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh nổi dậy của quần chúng đứng lên phá tan ách kìm kẹp của bộ máy chính quyền địch, thiết lập chính quyền cách mạng, huy động sức mạnh quần chúng tham gia chiến đấu bảo vệ thành phố, chi viện tiếp tế kịp thời cho bộ đội. Do đó, ta đã giữ được thành phố gần một tháng.

Về nổi dậy của nhân dân, chúng tôi xin được trích dẫn ý kiến Thượng tướng Trần Văn Quang: “Chúng tôi ví quá trình tiến công và nổi dậy cũng như quả bom nguyên tử. Nếu là bom khinh khí thì tốt hơn. Trong quả bom nguyên tử có một quả bom làm mồi, quả bom mồi nổ gây đến nhiệt độ nhất định, quả bom nguyên tử nổ đạt đến hàng triệu độ làm cho bom khinh khí nổ. Chúng ta đánh cũng phải theo kiểu đó. Bộ đội ta là quả bom mồi, quần chúng là bom nguyên tử, khi bom nguyên tử nổ tức là quần chúng nổi dậy tạo thành sức mạnh tổng hợp. Nếu bộ đội chỉ làm quả bom thường, không phải bom mồi thì kết quả không lớn”.

Theo chúng tôi ở mặt trận Huế, quả bom mồi nhiệt độ cao tác động mạnh bom nguyên tử nổ tạo sức mạnh tổng hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu mà đỉnh cao của nó là đánh đổ chính quyền địch, thiết lập hệ thống chính quyền cách mạng ở xã, huyện, tỉnh Thừa Thiên Huế là địa phương lập chính quyền cách mạng đầu tiên trong chống Mỹ cứu nước, thành lập Liên minh các lực lượng Dân tộc và dân chủ TP Huế mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước.

Do phát huy được sức mạnh của quần chúng, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân nên khi địch tập trung lực lượng đánh phá, quân dân mặt trận Huế vẫn anh dũng kiên cường chiến đấu trở thành một điểm nóng với niềm tin yêu của nhân dân cả nước. Báo Nhân Dân số ra ngày 27/2/1968 viết: “Cả nước ta tự hào về Thừa Thiên Huế, mảnh đất yêu thương của Tổ quốc đã góp phần rất vẻ vang vào thắng lợi mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của miền Nam anh hùng”. Còn tờ Thế Giới ngày 13/02/1968 dưới đầu đề “Một thành phố bị hạ sát” đã viết: ”Nếu Việt Nam cần có một tượng trưng, nó đã có ngay đó là Huế, Huế sẽ ở lại như một Ghéc-ni-ca của Việt Nam”.

Với thắng lợi to lớn và toàn diện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân – Xuân 1968, Đảng bộ TP Huế được Trung ương điện biểu dương: “Đảng bộ kiên cường về tư tưởng, vững mạnh về tổ chức, trong sạch nội bộ, đoàn kết nhất trí”. Giữa cuộc chiến đấu ngày 21/02/1968, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nhiệt liệt hoan nghênh và ghi nhớ công ơn của đồng bào và các lực lượng vũ trang nội ô và ngoại ô TP Huế đã hết lòng giúp đỡ bộ đội, phục vụ tiền tuyến, cùng chiến đấu với các lực lượng vũ trang giải phóng, góp phần quyết định vào những thắng lợi đã giành được. Ngày 01/3/1968, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tuyên dương công trạng về cuộc tiến công toàn diện đầu Xuân 1968, trong đó có tuyên dương công trạng của quân và dân Trị Thiên – Huế, tặng danh hiệu “Tấn công – Nổi dậy – Anh dũng – Kiên cường” cho quân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tết Mậu Thân – Xuân 1968, một dấu son đỏ thắm trong lịch sử Thừa Thiên Huế, mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung. Trang sử vẻ vang đó đang được viết tiếp trong thời kỳ xây dựng thành phố văn minh, hiện đại trên Cố đô có hai di sản văn hóa nhân loại, trên TP Huế anh hùng.

Ngô Kha
baothuathienhue.vn