Thư viện

Vai trò của quần chúng, nhân dân Trị Thiên – Huế trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968

TCCSĐT – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Trị Thiên – Huế là chiến trường chiếm giữ thành phố lớn được dài ngày nhất – 25 ngày đêm, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cả về tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trên một hướng chiến lược. Đánh giá về cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế, trong Xuân 1968, Hội nghị khoa học đợt 3 (tháng 8-1968) đã kết luận: “Xuân Mậu Thân, Huế đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt được mục tiêu cao và giành thắng lợi lớn. Đặc biệt, hoạt động nổi dậy của quần chúng có tổ chức và tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu của nhân dân trong thành phố thể hiện rõ hơn và đạt mức độ cao hơn”(1).

Cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế năm 1968 đã giành được nhiều kết quả to lớn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn quân địch (khoảng trên 20.000 tên), thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngụy quân, ngụy quyền các cấp ở Huế bị sụp đổ, tan rã: ngụy quyền các xã, ấp vùng ven và nông thôn bị tê liệt cao độ. Ta đã giải phóng 296 thôn và 227.000 dân, trong đó có 240 thôn đã thành lập được chính quyền cách mạng lâm thời, có gần 10.000 du kích, trong đó có hơn 2.500 người được bổ sung cho chủ lực. Với 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố, thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy ở Huế đã có sức cổ vũ to lớn đối với quân và dân ta trên các chiến trường và gây tác động mạnh đối với bọn đầu sỏ Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Trong thắng lợi chung của cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968, ngoài vai trò có tính chất quyết định của bộ đội chủ lực, có sự đóng góp to lớn về sức người, sức của, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của các tầng lớp nhân dân Trị Thiên – Huế.

Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Trị Thiên – Huế

Tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chiến trường Trị Thiên có một ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng đối với cả địch và ta trong chiến tranh. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, dân số Trị Thiên có khoảng 80 vạn người (Quảng Trị: 30 vạn và Thừa Thiên: 50 vạn).

Vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, nhân dân Trị Thiên đã trải qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ rồi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đến năm 1965, phong trào chiến tranh du kích phát triển đều và có những vùng khá mạnh. Quần chúng nhân dân Trị Thiên có lòng yêu nước nồng nàn, được tôi luyện dạn dày trong chiến tranh cách mạng.

Trị Thiên từ lâu là một vùng chiến trường trọng điểm, là nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch, Mỹ – Ngụy dùng nhiều bom đạn chà đi xát lại nhiều lần. Mặt khác, do thiên tai khắc nghiệt, đây là vùng đất có nền kinh tế nghèo nàn, đa số nhân dân hai tỉnh – đặc biệt là vùng rừng núi và giáp ranh, đều có cuộc sống khó khăn, lao động cực nhọc, chạy ăn từng bữa. Tuy nghèo khó, nhưng nhân dân Trị Thiên đều một lòng tin tưởng hướng về cách mạng, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bộ đội, sẵn sàng đứng lên đấu tranh quyết liệt với kẻ thù.

Là một trong 3 thành phố lớn ở miền Nam (sau Sài Gòn và Đà Nẵng), Huế có một vị trí chính trị, quân sự hết sức quan trọng. Vốn là một cố đô của triều Nguyễn cũ, trong kháng chiến chống Mỹ, Huế thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Mỹ – Ngụy, là trung tâm chỉ đạo chiến lược của địch trên khu vực tiếp giáp đối đầu với miền Bắc. Ở đây có trên 45 cơ quan hành chính ngụy quyền, đồng thời là nơi địch bố trí một bộ máy chiến tranh khá mạnh (có khoảng từ 2,5 đến 3 vạn quân) với nhiều vũ khí, trang thiết bị tương đối hiện đại của Mỹ. Thành phần xã hội của thành phố Huế đa dạng và khá phức tạp. Số dân theo đạo Thiên chúa và Phật giáo chiếm tỷ lệ khá lớn (riêng Thiên chúa giáo ở Huế có trên 1 vạn giáo dân). Số dân thuộc thành phần công chức và gia đình binh sĩ ngụy có khoảng 3 vạn; số học sinh, sinh viên có khoảng 2,5 vạn; nhân dân lao động có khoảng 6 – 7 vạn, phần đông là gia đình tiểu thương, thợ thủ công, dịch vụ. Nhân dân nông thôn và thành phố có quan hệ chặt chẽ với nhau, nên mỗi biến chuyển về chính trị và quân sự ở nông thôn đều mau chóng ảnh hưởng trực tiếp vào thành phố.

Giữa những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Trị Thiên, đặc biệt là ở Huế, ngày càng phát triển mạnh. Liên tục có những cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai như cuộc xuống đường chống Diệm – Nhu năm 1963, chống Khánh – Hương năm 1964, chống Mỹ – Thiệu – Kỳ hai năm 1965 – 1966; phong trào xuống đường đấu tranh của học sinh – sinh viên đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ thì hầu như tháng nào cũng xảy ra. Những cuộc đấu tranh này của quần chúng nhân dân đã nhiều phen làm cho Mỹ – Ngụy hoảng sợ và tìm cách đối phó vất vả.

Ở nội thành Huế, lực lượng chính trị và phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự chỉ đạo của 8 chi bộ Đảng ta đã xây dựng được khoảng 100 cơ sở bí mật và nửa công khai. Số quần chúng hướng về cách mạng và sẵn sàng tham gia các cuộc đấu tranh, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, ta có thể huy động từ 4.000 đến 5.000 người trong một ngày đêm. Ngoài ra, một số khá đông nhân dân lao động, viên chức, tiểu thương tuy không nằm trong các tổ chức cách mạng, nhưng có lòng yêu nước và cảm tình với cách mạng, ta có thể tranh thủ lôi kéo họ khi cách mạng nổ ra.

Trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, 3 huyện giáp với thành phố Huế là Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy có nhiều thôn xã đã được ta giải phóng và làm chủ, tạo thành vùng “đệm” quan trọng để chủ lực ta đứng chân và làm bàn đạp tiến vào thành phố. Cụ thể, ta đã giải phóng được 86/270 thôn, với trên 70.000 dân. Ở 3 huyện này, ta đã xây dựng được nhiều đội quân du kích với quân số lên tới hơn 1.000 người. Các tổ chức quần chúng như: nông hội, thanh niên, phụ nữ thu hút gần 30.000 hội viên; Đoàn thanh niên lao động cũng có gần 1.000 đoàn viên. Đây thực sự là những con số đáng kể để ta phát động, nhân rộng phong trào nổi dậy của quần chúng khi tổng công kích, tổng nổi dậy nổ ra trên địa bàn Trị Thiên – Huế.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch

Theo kế hoạch đề ra trước khi bước vào đợt Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, Mặt trận Trị Thiên – Huế được xác định là một trong những hướng tiến công trọng điểm. Ta đã khẩn trương và ráo riết chuẩn bị mọi mặt như: làm đường tiến công, bắc cầu phà, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược, thuốc men, đào hầm hào chiến đấu, chuyển quân,… đồng thời tiến hành các đợt hoạt động nghi binh, đánh lừa địch. Quần chúng nhân dân tại các vùng giải phóng cũng như vùng tạm chiếm đã có nhiều hoạt động tích cực giúp bộ đội hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch. Trong các hoạt động chuẩn bị này, hàng chục ngàn nhân dân, học sinh, sinh viên, thanh niên, có cả cụ già, em nhỏ, đã tình nguyện có mặt tại các vị trí phục vụ bảo đảm chiến trường theo sự phân công của chỉ huy và các tổ chức đoàn thể. Cùng với bộ đội, nhân dân đã tu sửa và làm mới gần 100km đường tiến công, sửa chữa và bắc được hàng trăm cầu, cống, bến phà các loại, đào đắp vận chuyển trên 500.000m3 đất, đá và hàng ngàn hầm, hố phòng tránh trú ẩn.

Trước ngày tổng công kích và nổi dậy, chiến trường mới dự trữ được trên 1.500 tấn gạo, nhưng còn nằm rải rác ở vùng hậu cứ giáp ranh, dự kiến phải mất 4 đến 5 ngày vận chuyển mới đến tay bộ đội tại các hướng tiến công. Đặc biệt là mặt trận trọng điểm Huế lúc này chỉ mới có 130 tấn gạo, so với yêu cầu còn thiếu khoảng 700 tấn mới đủ dự trữ cho bộ đội chiến đấu dài ngày. Với tinh thần quyết tâm cao độ, nhân dân đã được chính quyền và chỉ huy các cấp huy động ra vận chuyển gấp số gạo trên từ các kho tập kết ở Đông Trường Sơn tới các đơn vị, vượt kế hoạch thời gian trước 2 ngày. Ngoài số gạo trên, mặt trận Trị Thiên – Huế cũng được duyệt cấp 350 tấn gạo, 400 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, song số hàng trên còn nằm tại các binh trạm đường 559, cách Huế gần 100 km. Với các phương tiện vận chuyển như ghe xuồng, xe đạp thồ và bằng cả đôi vai, nhân dân tại các vùng giáp ranh đã giúp bộ đội chuyển hết số hàng trên về nơi tập kết một cách an toàn, bí mật.

Nhân dân tại các vùng địch kiểm soát và nội đô Huế đã được các tổ chức bí mật của ta tại các cơ sở huy động trong đêm tối tham gia đào được hàng trăm hầm hào chiến đấu, hầm trú ẩn, chuẩn bị các cơ sở nuôi giấu thương binh, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Đến ngày tổng công kích, khởi nghĩa, nhân dân tại các vùng địch kiểm soát (giáp ranh và thành phố Huế) tổng cộng đã quyên góp được 2.000 tấn gạo, 8 tấn thuốc men, dụng cụ y tế, trong đó có gần một nửa số hàng trên đã được vận chuyển tới vị trí tập kết (2).

Để chuẩn bị cho phong trào khởi nghĩa và nổi dậy của quần chúng ở các vùng địch kìm kẹp cũng như nội đô Huế, các cơ sở quần chúng bí mật của ta được trên chỉ đạo đã ráo riết in được hàng chục tấn tài liệu, sách báo học tập, tuyên truyền, truyền đơn, băng cờ, khẩu hiệu. Các tổ chức đoàn viên, học sinh, phụ nữ trong vùng nội đô đã mở được nhiều lớp tập huấn bí mật về quân sự, chính trị, công tác binh vận, địch vận, công tác cứu thương, chỉ đường hướng dẫn cho bộ đội cũng như công tác giữ gìn an ninh trật tự khi thành phố được giải phóng.

Nhiều đóng góp trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu

Trong quá trình diễn ra các đợt tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các tầng lớp quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phối hợp với bộ đội nổi dậy giành quyền làm chủ tại hầu hết các thôn, xã, huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn Trị Thiên – Huế, trong đó có một số hoạt động nổi bật của quần chúng nhân dân tại những hướng, vùng tiêu biểu sau:

– Trên cánh Bắc Huế, đêm 30-1-1968, một cánh quân của bộ đội ta đã đánh vào sân bay Tây Lộc. Được quần chúng cơ sở bên trong giúp đỡ và trực tiếp dẫn đường, bộ đội ta bí mật đột nhập qua cổng Thủy Quan, nhanh chóng theo sông Ngự Hà vào góc Tây sân bay, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ, bắn cháy 20 máy bay và nhiều xe pháo trong khu vực này. Trong lần đánh thứ hai, đêm 31-1-1968, cũng được cơ sở quần chúng dẫn đường tắt bí mật, ta diệt gọn và chiếm toàn bộ sân bay, phá 40 máy bay, 100 xe quân sự, đốt 1 kho đạn và 1 kho xăng. Nhờ có quần chúng dẫn đường, kết quả đánh sân bay đã giành thắng lợi lớn.

– Tại các mũi đánh vào nội đô Huế như Đại Nội, Cột Cờ, Ngọ Môn, cửa Đông Ba,… cũng nhờ có du kích và cơ sở ngầm dẫn đường, bộ đội chủ lực ta đã nhanh chóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, diệt và làm tan rã nhiều địch. Trong thành nội, ta chiếm hết các ty, sở của ngụy quyền. Quần chúng, thanh niên, học sinh, tự vệ cùng bộ đội xông vào từng khu phố, góc nhà truy bắt bọn ác ôn, phản động, kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền ra hàng chính quyền cách mạng. Mặc bom đạn cày tung mặt đường, hàng ngàn quần chúng vẫn đổ ra đường phố tiếp tế cơm ăn, thuốc men, đạn dược cho quân ta, làm công tác cứu thương, chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau… Phối hợp các mũi chủ lực đánh vào nội đô Huế, các lực lượng biệt động, du kích tự vệ mật cùng quần chúng cách mạng đã tiến công nổi dậy làm chủ khu phố Gia Hội, lùng diệt bọn ác ôn, cảnh sát ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền tại các phường, quận, lập chính quyền cách mạng, tổ chức và phát triển tự vệ chiến đấu, trang bị bằng vũ khí lấy được của địch. Phong trào đấu tranh của quần chúng tại nội đô phát triển rất cao từ ngày đầu đến ngày cuối, khi rút khỏi thành phố, các tầng lớp nhân dân lại chuyển sang che chở, hỗ trợ cho bộ đội rút ra được an toàn.

– Tại các vùng ngoại vi Bắc Huế như La Chữ, Quế Chữ,… lực lượng vũ trang địa phương cùng quần chúng nhân dân đã đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các căn cứ, công sở của địch, phá ấp chiến lược, thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng làng xã chiến đấu, đưa con em bổ sung vào lực lượng vũ trang, đóng góp nhiều của cải, vật chất ủng hộ bộ đội, triển khai lực lượng chuẩn bị đánh địch phản kích tăng viện vào Huế. Tại huyện Hương Trà, đông đảo quần chúng cách mạng cùng lực lượng vũ trang huyện, xã,… nổi dậy làm chủ trên nhiều vùng, diệt trừ ác ôn, tích cực vây lùng, gọi hàng bọn tàn binh địch. Tại đây, nhiều thôn, xã chính quyền cách mạng đã được thành lập, nhân dân lấy súng địch tự trang bị cho mình. Đối với Hương Trà, một huyện yếu ở Thừa Thiên, trước đây có nhiều cơ sở trắng, nay trong khí thế tiến công và nổi dậy đã có một phong trào phát triển cao chưa từng có. Nhân dân đã gọi hàng được một đại đội bảo an ở An Thành và 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây, thu nhiều súng đạn,…

– Tại huyện Hương Thủy (thuộc cánh Nam), phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ, quần chúng nhân dân đã nổi dậy đánh chiếm cầu An Cựu, phát triển bao vây và diệt nhiều vị trí địch ở Miếu Đại Càng, Cầu Lèn, Long Thọ,… Trước sự tan vỡ, hốt hoảng của địch, quần chúng đã nổi dậy khởi nghĩa rầm rộ, mạnh mẽ, nhất là ở các xã Mỹ Thủy, Thanh Thủy, Vân Dương, Hải Thủy, Xuân Hòa. Nhiều ổ ác ôn tập trung ở Thanh Thủy Thượng, Mỹ Thủy đã bị nhân dân trừng trị, hàng trăm tên có nợ máu đã phải đền tội. Trong khí thế cao độ, quần chúng đã kéo đến bao vây, uy hiếp các đồn bốt ở Thanh Thủy Chánh, Vân Dương, Xuân Hòa, bọn địch ở đây đã hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nhiều súng đạn, thuốc men,… Quần chúng nhân dân với súng đạn vừa thu được của địch đã kéo ra phá các bốt dọc trên quốc lộ 1, bao vây và cắt đứt tuyến giao thông ở Phú Bài, An Cựu. Du kích, tự vệ từ các xã An Thủy, Thiên Thủy tiến vào khu phố 5, chợ Cống hỗ trợ quần chúng đô thị nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhiều vùng trước đây còn yếu nay đã tự giải phóng, giành được quyền làm chủ với mức độ khác nhau.

– Tại huyện Phú Vang, dọc theo tỉnh lộ từ Thuận An đến Huế, quần chúng nhân dân cùng các đội du kích, các đội công tác đã tiến công, nổi dậy mạnh mẽ trên khu phố 5. Trước sức đấu tranh, nổi dậy của nhân dân, địch ở các vị trí như Phú Thiện, An Thuyền, Tài Mậu hốt hoảng tự tan vỡ,… chính quyền cách mạng đã được nhanh chóng thành lập tại các thôn, xã này.

– Đặc biệt nổi bật trên hướng Nam là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang, biệt động với sự nổi dậy đấu tranh chính trị, binh vận của các lực lượng quần chúng nhân dân qua hai sự kiện đánh chiếm nhà lao Thừa Phủ, dinh Tỉnh trưởng (ngày 31-1) và nhà lao Thẩm Vấn (ngày 2-2). Lúc đầu, các mũi tiến công này do các đội đặc công tiến công, nhưng không thành công do lực lượng ít, không thông thạo địa hình bố trí của nhà lao, lại gặp địch phản công quyết liệt phải chuyển sang đánh kéo dài. Sau đó, nhờ quần chúng nhân dân nổi dậy kéo đến bao vây nhà lao, thuyết phục, gọi hàng lính cai ngục, đồng thời dẫn bộ đội bí mật tiến theo các đường hầm đánh từ trong ra, cuộc đánh chiếm 2 nhà lao mới thành công. Quần chúng nhân dân cùng đặc công đã diệt gọn 1 trung đội bảo an canh giữ nhà lao, gọi hàng nhiều tên khác, giải phóng an toàn 2.300 chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước bị địch cầm giữ lâu ngày. Trong số tù chính trị này, hơn 1.000 chiến sĩ cách mạng nòng cốt đã được bổ sung ngay tại chỗ cho các mũi, hướng chiến đấu của chủ lực và địa phương.

Tóm lại, trong những ngày tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968, quần chúng nhân dân cùng lực lượng vũ trang 3 thứ quân đã phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đánh rất trúng vào đầu sỏ ngụy quyền, tay sai, vào những cơ quan đầu não của địch trong tỉnh cho đến các cơ quan ngụy quân, ngụy quyền ở các huyện, quận, thôn, xã, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, chế độ tay sai bị tê liệt trong một thời gian dài. Khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân trong những ngày tiến công và nổi dậy đã được phát động rầm rộ và rộng khắp chưa từng có.

Nhân dân Trị Thiên – Huế như được sống lại trong những ngày quật khởi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong cao trào cách mạng Xuân 1968, các tầng lớp quần chúng nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức đã có một cơ hội tốt đẹp để biểu hiện tinh thần yêu nước và ý thức cách mạng bấy lâu nay bị địch kìm kẹp, lung lạc. Đã có hàng ngàn, hàng vạn quần chúng được cống hiến sức mình trong các công việc khác nhau như chiến đấu, phục vụ bảo đảm chiến đấu, làm nội ứng và chỉ đường cho bộ đội, giữ gìn an ninh trật tự, vây bắt tề điệp, phản động, đi dân công, cất giấu chăm sóc thương binh, tử sĩ, úy lạo bộ đội, đào hầm hố, xây dựng làng chiến đấu, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Dù công việc nào, lớn hay nhỏ, họ đều làm với tinh thần tự nguyện quên mình. Ngoài ra, còn có hàng ngàn thanh niên, học sinh, con em nhân dân đã xung phong tòng quân và vào du kích tự vệ.

Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968 đã phát động được cao độ vai trò của quần chúng nhân dân tham chiến đấu và phục vụ chiến đấu hiệu quả là vì mấy nguyên nhân sau:

Một là, nhân dân Trị Thiên – Huế từ lâu vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng. Tuy bị địch kìm kẹp, khủng bố và lung lạc dài ngày nhưng các cán bộ, đảng viên và cơ sở Đảng của ta đã kiên trì bám trụ sâu vào lòng dân tuyên truyền, giáo dục, lôi kéo nên đa số nhân dân vẫn một lòng tin tưởng ở Đảng, hướng về cách mạng, chỉ chờ cơ hội là vùng lên. Bài học về bám trụ, bắt rễ sâu vào lòng dân của cơ sở Đảng, trực tiếp là của cán bộ chiến sĩ ta luôn có giá trị cho đến ngày nay.

Hai là, khi đặt mục tiêu Tổng tiến công và nổi dậy, chúng ta đã biết lấy quyền lợi của nhân dân và Tổ quốc đặt lên trên hết, đó là nhằm tiêu diệt và đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền phản động tay sai, giải phóng đất đai và con người khỏi áp bức, kìm kẹp, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, dân sinh, dân chủ cho đại đa số nhân dân. Mục tiêu đó là phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân nên được mọi tầng lớp nhiệt tình ủng hộ.

Ba là, trong tổng tiến công và nổi dậy, đi đôi với việc phát động quần chúng đứng lên đấu tranh, bộ đội ta từ chỉ huy đến chiến sĩ đã chấp hành nghiêm kỷ luật quân dân, một lòng đoàn kết, yêu thương và bảo vệ nhân dân nên đã gây dựng được niềm tin sâu sắc, được nhân dân coi như con em của mình và hết lòng che chở, ủng hộ.

Sau 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, trước tình hình mới, bộ đội ta đã lần lượt rút lui khỏi thành phố và các vùng giáp ranh. Trong cuộc rút lui này, nhân dân lại một lần nữa tìm cách giúp đỡ, che chở bộ đội, tìm cách kéo địch về phía mình để bộ đội rút ra an toàn, nhanh chóng. Có thể nói, sự hy sinh về sức người, sức của của nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là rất lớn. Mặc dù khí thế cách mạng của quần chúng rất cao, nhưng do đòn chủ lực của ta chưa đủ sức đập tan bộ máy sinh lực địch nên tổng khởi nghĩa đã không nổ ra như dự định. Tuy vậy, tinh thần nổi dậy của nhân dân được thể hiện tuyệt vời trong Tết Mậu Thân là bằng chứng tin cậy để Đảng ta khẳng định rằng: nếu đòn chủ lực của ta đủ mạnh, nếu được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và thời cơ lịch sử chín muồi thì chắc chắn lần tổng tiến công và nổi dậy tiếp theo sẽ thành công trọn vẹn. Điều này được thực tế lịch sử chứng minh trong Xuân 1975: chỉ trong vòng không đầy 3 tháng quân và dân toàn miền Nam, trong đó có quân và dân Trị Thiên – Huế, đã thực hiện xuất sắc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan hoàn toàn bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối./.

——————————————-

(1). Xem: Hướng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên – Huế, Viện Lịch sử quân sự – Hà Nội 1988, tr. 91.
(2). Dẫn theo “Hậu cần Quân khu Trị Thiên – Huế trong tiến công và nổi dậy Xuân 1968”. Tập san Hậu cần số 11-1975.

Đại tá Nguyễn Văn Quang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
tapchicongsan.org.vn

Ý nghĩa cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 với xây dựng chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự để vận dụng, phát triển trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Bản anh hùng ca bất diệt

Đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 (ngày 30 và 31-1-1968), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta đồng loạt nổ ra trên toàn chiến trường miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn, Huế và nhiều thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trong bối cảnh quân Mỹ – ngụy và các nước đồng minh của chúng tham chiến với một lực lượng quân sự lớn lên tới trên một triệu quân, có vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, được phòng thủ vững chắc. Nhưng bằng cuộc tiến công táo bạo, bất ngờ, ta đã đánh thẳng vào các vị trí quan trọng nhất của địch như: Đại sứ quán Mỹ, Dinh Tổng thống ngụy, Bộ Tổng Tham mưu, Nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, tiến công làm chủ thành phố Huế và hầu khắp các vùng nông thôn rộng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá huỷ một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch.

Vì thế, xét cả về quy mô cũng như tính chất đồng loạt, tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới với hiệu lực chiến đấu cao, làm lung lay ý chí xâm lược của một siêu cường, làm cho chính quyền Mỹ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, bao gồm tất cả các thành phố, tỉnh lỵ đều bị tấn công đồng loạt. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà diễn ra nhiều đợt, không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào mà còn kết hợp từ trong ra, khiến địch đã bất ngờ càng bất ngờ hơn.

Đây là một sự kiện lớn, đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong cuộc chiến tranh nhân dân tổng lực của ta, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm rung chuyển nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận thương lượng để có thể kết thúc chiến tranh trong danh dự.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động, pháo binh…, được nhân dân hết lòng ủng hộ, tích cực phối hợp tham gia chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa sự nổi dậy rộng khắp của quần chúng, sự chuẩn bị rất công phu của các lực lượng, giữ được bí mật tuyệt đối của các cấp, các địa phương, đơn vị, sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta để làm nên một kỳ tích “có một không hai” trong chiến tranh giải phóng dân tộc. Ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp giữa lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang ba thứ quân; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa và nhỏ; thể hiện nghệ thuật đánh địch bằng mưu cao, kế hiểm. Đánh giá về thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến, quyết thắng giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc”(1). Bộ Chính trị đánh giá: “Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-ri, chấm dứt ném bóm không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hoá chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh”(2).

Đúc rút và vận dụng những bài học kinh nghiệm vào chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại cho các thế hệ hiện nay và mai sau niềm tự hào sâu sắc. Ý nghĩa của cuộc Tổng tiến công vẫn còn nguyên giá trị:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc tình hình; có các chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn phát triển của chiến tranh cách mạng trong điều kiện mới của Việt Nam.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công càng cho thấy, Đảng phải có đường lối đúng đắn, sáng tạo, trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định rõ mục tiêu cách mạng, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam; xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình cụ thể để tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, nhất là quy luật chiến tranh kiểu mới của địch – chiến tranh vũ khí công nghệ cao.

Cách mạng nước ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đối mới đất nước, giành nhiều thành tựu quan trọng (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao), chúng ta cũng đang phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn, lật đổ, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, tạo cớ can thiệp dưới các hình thức. Vì vậy, đòi hỏi việc phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cần có những bước phát triển mới, cả về quy mô, tính chất, yêu cầu các cấp, các ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược. Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị – tinh thần.

Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, phát triển đất nước. Do đó, cần chăm lo khối đại đại đoàn kết ngay từ thời bình, để “lo giữ nước khi nước còn chưa nguy” theo kinh nghiệm truyền thống của cha ông. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta… là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3) .

Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị – tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hoá so sánh lực lượng để “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị – tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Ba là, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn sự kiện lịch sử này cho thấy, vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Do đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự.

Phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự tạo ra khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động được cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ngăn ngừa mọi âm mưu, hành động gây chiến tranh của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, nếu xảy ra. Sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, vì vậy, xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự phải nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, chủ động chuẩn bị, gắn liền với mỗi bước tăng trưởng, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hiện nay, cần tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nhất là về khoa học – kỹ thuật hiện đại, nhằm đi tắt đón đầu, phục vụ sự phát triển công nghiệp quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là quân đội nhân dân và công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: “Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yếu mến”(4). Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng quân đội phải coi trọng cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t10, tr 731
(2) Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (khoá III)
(3) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 116
(4) Văn kiện, Sđd, tr 110

Phạm Xuân Hùng
tapchicongsan.org.vn

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 – Một mốc son có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn

Lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới cũng như ở Việt Nam, theo nghệ thuật “truyền thống” thì giai đoạn kết thúc chiến tranh, thông thường một trong các bên tham chiến thực hiện đòn đánh tiêu diệt chiến dịch lớn hoặc đánh tiêu diệt chiến lược lực lượng quân sự, chính trị đối phương, buộc chúng phải chịu thua. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 được ghi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta như là một mốc son tiêu biểu, một bước ngoặt quyết định – đòn tấn công chiến lược, bất ngờ với quy mô lớn vào sào huyệt của đối phương ở các thành phố, thị xã lớn trên toàn miền Nam, làm lung lay ý chí quyết tâm xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri năm 1968.

Vào đầu năm 1965, sau thất bại của “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ quyết định đưa quân Mỹ và quân đội một số nước “đồng minh” của Mỹ (Nam Triều Tiên, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân, Thái Lan, Phi-lip-pin…) cùng một khối lượng lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh hiện đại, đô la… ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, thời điểm cao nhất là nửa triệu quân Mỹ trực tiếp tham chiến, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam; dùng không quân, hải quân mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhằm uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Giới cầm quyền Mỹ từng hò hét “đánh gãy xương sống Việt cộng” ở miền Nam, “đẩy lùi miền Bắc về thời kỳ đồ đá”, đưa biên giới nước Mỹ đến vĩ tuyến 17 của Việt Nam, buộc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà phải ngồi vào bàn đàm phán theo những điều kiện áp đặt của Mỹ. Chính quyền Giôn-xơn chủ trương đưa quân Mỹ vào nhanh và rút ra nhanh, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian ngắn, đè bẹp ý chí giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam!

Song, sau ba năm trực tiếp tham chiến, quân đội Mỹ tuy ngăn chặn được sự sụp đổ Việt Nam cộng hòa nhưng không thể bình định được miền Nam Việt Nam. Trái lại, nước Mỹ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh “tiến thoái lưỡng nan” ở Việt Nam và chưa biết bao giờ kết thúc. Vì vậy, chính phủ Mỹ không còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục tăng quân, tăng chi phí quân sự để thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Cuối 1967, quân chiến đấu Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam lên tới 480.000 quân và 68.800 quân của các nước phụ thuộc Mỹ. Và, nếu chi phí cho cuộc chiến tranh Việt Nam 1965-1966 là 4,7 tỉ đô-la, thì năm 1967 đã tăng lên 30 tỉ, gấp 1,5 lần Mỹ đã chi cho cuộc chiến tranh Triều Tiên. Chi phí này đã ảnh hưởng lớn đến nước Mỹ. Nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái, thâm hụt ngân sách 4 tỉ đôla, giá cả tăng vọt, lạm phát không kiểm soát được. Tại Oasinhtơn, khoảng 40.000 người, có cả những cựu chiến binh Mỹ từng tham tranh ở Việt Nam tham gia biểu tình phản đối cuộc chiến tranh của chính phủ Mỹ. Nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Mỹ chống chiến tranh lan rộng toàn nước Mỹ đòi chăm lo cuộc sống cho người nghèo và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Chính phủ Mỹ phải lo đối phó với những khó khăn lớn về quân sự, chính trị và tài chính không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trong nước Mỹ (1). Nhiều nghị sĩ ở Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ đã nhận thấy “tương lai không thể lường được của một cuộc chiến tranh hiện đang có tác động làm rã rời ý chí nhân dân  Mỹ (2).

Nắm được điểm yếu của Mỹ là quân đội của họ đã bị sa lầy không thể rút quân về nước, đồng thời dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và  phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh khi quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài, Bộ Chính trị đã hoạch định một trận đánh nhằm gây tiếng vang lớn “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị”, tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc  Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.

Tháng 6-1967, Bộ Chính trị chủ trương:“Nhân lúc đế quốc Mỹ đang đứng trước thế tiến lui đều khó, lại phải tập trung vào cuộc vận động bầu cử Tổng thống Mỹ, ta cần chuẩn bị đánh một đòn quyết định tạo chuyển biến nhảy vọt cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, buộc Mỹ phải thua” và “phải tìm cách đánh khác để đập tan ý chí tiếp tục chiến tranh của Mỹ, làm cho Mỹ hiểu rằng không thể thắng được dân tộc Việt Nam bằng vũ khí và bom đạn  (3)Vì vậy, Cục Tác chiến  Bộ Tổng tham mưu đã bắt tay xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho năm 1968 theo tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân uỷ Trung ương. Đồng chí Văn Tiến Dũng -Tổng Tham mưu trưởng gợi ý cho “Tổ kế hoạch”: nên nghĩ đến kế hoạch và cách đánh khác cách đánh “truyền thống” mà lâu nay quân giải phóng vẫn làm, thì mới có thể giành thắng lợi quyết định. Trong khi “Tổ kế hoạch” còn đang suy nghĩ tìm cách đánh mới, thì đồng chí Lê Duẩn, khi trao đổi với Quân uỷ Trung ương về kế hoạch chiến lược năm 1968 đã đề xuất giải pháp đánh thẳng vào sào huyệt địch trong các thành phố, thị xã. Ý kiến của đồng chí Lê Duẩn được Quân uỷ Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tán thành và trở thành ý định quyết tâm chiến lược năm 1968: chuyển hướng tiến công chiến lược chủ yếu từ rừng núi, nông thôn vào đô thị – nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Tổng bí thư Lê Duẩn nhấn mạnh: “Mỹ không còn con đường nào khác là phát huy sức mạnh quân sự. Đối phó với âm mưu này của Mỹ, ta phải đưa hoạt động quân sự lên một bước mới, đến mức Mỹ không chịu nổi và phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị. Nếu ta thực hiện được, Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam” (4).

Song, so sánh tương quan lực lượng quân giải phóng và quân Mỹ về quân số, vũ khí trang bị, sức cơ động và tính hiện đại thì ta đều thua kém nhiều lần, nên việc đánh tiêu diệt chiến dịch, chiến lược đối với quân viễn chinh Mỹ là điều gần như không thể thực hiện được. Bộ Chính trị chủ trương: “Phải tìm cách đánh mới khác cách đánh truyền thống là đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng phương pháp tổng tiến công đồng loạt đánh vào các trung tâm đầu não chính trị, quân sự ở các thành phố, thị xã. Tiến công vào các thành phố, thị xã sẽ tạo ra bất ngờ lớn đối với địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển nước Mỹ. Qua đó, ta chứng minh cho Mỹ thấy chúng không thể thắng trong cuộc chiến tranh này, chúng đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, do đó phải tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến trang xâm lược,rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam” (5).

Từ nhận định trên và thực tiễn diễn ra trên chiến trường, chiến lược dần dần hình thành, từng bước trở thành quyết sách: Tổng tiến công và nổi dậy, đánh thẳng vào sào huyệt của địch trong các thành phố và thị xã. Đây chính là cơ sở, nền tảng vững chắc để Hội nghị lần thứ 14 BCHTW (khoá III) quyết định: chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định (6). Sau khi thảo luận kỹ khả năng đánh vào thành phố của lực lượng vũ trang và khả năng nổi dậy của quần chúng, Bộ Chính trị thông qua phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng tham mưu soạn thảo đã được Quân uỷ Trung ương nhất trí. Phương án xác định chiến trường trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng, hướng phối hợp chiến lược quan trọng là Đường 9 – Khe Sanh. Cụ thể là: cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 – Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn – Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng và các thành phố lớn. Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, trước Tết Mậu Thân 10 ngày, quân Giải phóng sẽ nổ súng tiến công vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh để buộc Mỹ phải chú ý tập trung điều lực lượng chủ lực ra phía bắc đối phó, tạo điều kiện để giữ bí mật hướng trọng điểm và tiếp tục chuẩn bị (7).

Quán triệt phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào chiến trường trọng điểm  Sài Gòn – Gia Định, Huế, Đà Nẵng, trước đó 10 ngày, hai sư đoàn của ta đánh nghi binh, nhằm “đánh lạc hướng” đối phương bằng cuộc tấn công vào căn cứ của lính thuỷ đánh bộ Mỹ tại Khe Sanh, gây sự chú ý của Mỹ, làm cho Bộ Chỉ huy Mỹ tập trung tâm trí và binh lực lên miền núi Quảng Trị để tránh một trận Điện Biên Phủ mới, sau đó quân ta sẽ tiếp ứng thẩm thấu vào thành phố, tiếp quản các mục tiêu và tham gia chiến đấu. Cuộc tấn công của ta vào căn cứ Khe Sanh được giới chuyên môn Mỹ đánh giá như tấn công vào Oasinhtơn – gây chấn động cả nước Mỹ. Mỹ, nguỵ bị thu hút vào Khe Sanh, bất ngờ, đêm ngày 30 rạng ngày 31-1-1968 (Tết Mậu Thân), quân và dân miền Nam đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 4 thành phố lớn, trọng tâm là Sài Gòn – Gia Định và Huế, Đà Nẵng, 37 thị xã và hàng trăm quận lỵ, thị trấn, tập trung đánh vào nội thành và cơ quan đầu não: Dinh Độc lập, toà Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Hải quân, Tổng nha cảnh sát, Đài phát thanh Sài Gòn, các căn cứ hậu cần, sân bay, bến cảng, nhiều sở chỉ huy cấp quân khu, quân đoàn, sư đoàn của Mỹ ngụy… Bất ngờ về mục tiêu và thời điểm tiến công, Mỹ, nguỵ đã “trở tay không kịp”, sĩ quan và binh lính đã không hề lường trước sự kiện quân giải phóng tấn công vào tận sào huyệt của chúng (kể cả Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang về quê nghỉ Tết Nguyên đán) cũng hoàn toàn bất ngờ, đã vội vàng trở về Sài Gòn để chỉ đạo cuộc chiến. Cùng với cuộc tiến công đồng loạt vào các thành phố, thị xã, trên địa bàn nông thôn, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân ta đã nổi dậy giành quyền làm chủ, đập tan bộ máy chính quyền của địch ở nhiều nơi. Tổng tiến công và nổi dậy diễn ra trên một không gian rộng lớn ở cả ba vùng chiến lược, nông thôn – đồng bằng, đô thị và miền núi đã phát huy cao độ ưu thế và sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân và dân với quyết tâm sắt đá, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, không sợ hy sinh, gian khổ với nghị lực phi thường đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cán bộ, chiến sỹ các đơn vị lực lượng vũ trang của ta đã khắc phục mọi khó khăn, đặc biệt là những khó khăn về sự gấp rút về thời gian chuẩn bị, về yêu cầu bảo đảm bí mật, đã thực hiện tốt việc quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến bất ngờ, thọc sâu, đánh hiểm, bảo đảm cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm, những cách đánh có hiệu suất cao, phá hủy nhiều mục tiêu quan trọng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá huỷ nhiều cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, những hành động quên mình trong chiến đấu của cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta xuất hiện ngày càng nhiều trên khắp các mặt trận, các chiến trường thể hiện sâu sắc tinh thần cách mạng tiến công, ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân dân ta. Sau gần hai tháng tiến công và nổi dậy, quân dân ta đã làm tan rã 150.000 địch, phá huỷ khoảng 34% vật tư và phương tiện chiến tranh của quân Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn, đưa chiến tranh cách mạng vào trung tâm đầu não kẻ thù, làm rối loạn hậu phương địch.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân không chỉ gây bất ngờ lớn cho Mỹ mà còn làm cho dư luận Mỹ thấy rằng việc đưa quân tham chiến với nỗ lực cao không chỉ làm căng thẳng trong xã hội Mỹ, phúc lợi giảm sút, gây nhiều hệ luỵ xấu cho xã hội… mà vẫn không dứt điểm được quân đối phương, và trong tương lai chiến tranh không biết đến bao giờ kết thúc! Điều này đưa đến kết luận là Mỹ không thể thắng được trong cuộc chiến ở Việt Nam. Các chính trị gia trong Quôc hội Mỹ gây sức ép lên chính phủ đòi xem xét lại cam kết chiến tranh, đòi huỷ bỏ uỷ quyền cho chính phủ tiến hành chiến tranh không cần phê chuẩn, thúc ép giải quyết chiến tranh bằng thương lượng. Quy mô của cuộc tiến công làm dư luận Hoa Kỳ mất kiên nhẫn và sự tin tưởng với giới quân sự, họ đòi chấm dứt chiến tranh và rút quân về nước. Một mặt họ thiếu niềm tin vào hiệu quả của quân đội, mặt khác, các hành động bạo liệt mất nhân tính được trình chiếu trên tivi đánh vào lương tâm công chúng. Họ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Họ coi chiến tranh là bẩn thỉu. Ngay các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ cũng chia rẽ trong quan điểm sẽ làm gì tiếp theo. Với sức ép của Tết Mậu Thân, cùng với việc thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống Mỹ còn cách chức William Westmosreland – Tổng chỉ huy quân Mỹ ở Việt Nam, đưa Abram lên thay. Ngày 31-1-1968, Tổng thống Giôn-Sơn tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, sẵn sàng đàm phán để chấm dứt chiến tranh, không tăng thêm quân theo yêu cầu của Bộ Chỉ huy chiến trường và từ chối ra tranh cử nhiệm kỳ tới. Trong hồi ký, ông viết: Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là “một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”,“cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ”, nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại”. Thắng lợi này đã góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm cho “quân đội Mỹ còn nguyên vẹn về thể xác nhưng tinh thần dao động hết rồi”(8).

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1968 là thắng lợi có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn. Quân và dân miền Nam đã giành thắng lợi quan trọng, đánh bại cố gắng lớn về quân sự của Mỹ, giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân về nước, chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri (1968-1973): Tết Mậu Thân thắng rất lớn, không phải chỉ ở chiến thuật mà nhất là đã đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh… (9), mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm” trên thực tế. Từ đây, sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trở nên chặt chẽ và hiệu quả hơn, tạo bước ngoặt mới cho sự phát triển của cách mạng miền Nam.

Sau “Đồng khởi” năm 1960, Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân năm 1968 làm rung chuyển nước Mỹ là một trong những mốc son lịch sử, sự kiện mở đầu cho chuỗi thắng lợi liên tiếp của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc chiến đấu đập tan trận tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng đã lần lượt làm thất bại các chiến lược chiến tranh kiểu mới của Mỹ, buộc chúng phải ký vào Hiệp định Pa-ri năm 1973, tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Tết Mậu Thân 1968 không chỉ là đòn quyết định buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán mà còn là cuộc tổng diễn tập lớn cho Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân vào mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Phạm Thị Nhung
Trường sĩ quan Lục quân 2
xaydungdang.org.vn

———————————–

1. Lịch sử quân sự Việt Nam, t.11, Nxb CTQG, H. 2005, tr.205-207. 2. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về chiến tranh Việt Nam, t.2, Việt Nam thông tấn xã phát hành, H.1971, tr.1263. Sđd4. Cục Tác chiến, Lịch sử cục tác chiến 1945-2000. 5. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 – 1975, t.5: Tổng tiến công và nổi dậy 1968, Nxb CTQG, H.2001, tr. 45. 6. Nghị quyết Trung ương lần thứ 14. 7. Http://vov.vn/Home/Phan-II-Cuoc-tien-cong-va-noi-day-Tet-Mau-Than-1968/200081/77799.vov. 8. Mai-cơn Mác-lia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nxb Sự thật, H.1990, tr.172. 9. Kết luận của Bộ Chính trị họp ngày 23-4-1994, số 215 – BBK/BCT.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 qua đánh giá của nước ngoài

TCCSĐT – Cách đây vừa tròn 45 năm, vào Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân Việt Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Đây là một cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn, có tác động to lớn đối với toàn bộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko) trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh, xuất bản tại Niu Oóc (New York) năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo nhà sử học này, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.

Còn tướng Mắc-xoen Tay-lơ (Maxwell D. Taylor) – cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn (Lyndon B.Johnson), trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày – xuất bản tại Niu Oóc năm 1972, đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng – người viết) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

M.Tay-lơ còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.

Tướng W.C. Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) – nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình, xuất bản ở Niu Oóc năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. W.C. Oét-mo-len còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (tức quân giải phóng – người viết) có thể thắng ở Oa-sinh-tơn như họ đã thắng ở Giơ-ne-vơ năm 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

Ngày 27-3-1968, chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công, cựu Tổng thống Mỹ D. Ai-xen-hao (D. Eisenhower), đã phải than thở: “… Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

Ngay đương kim Tổng thống L. Giôn-xơn lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong Chính phủ Mỹ, L. Giôn-xơn đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay vẫn được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, ngày 8-6-1969, R. Ních-xơn (Richard M.Nixon) gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Mít-uây (Midway) để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Hen-ry Kít-xinh-giơ (H.Kissinger), cựu Ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?

Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc Chính phủ Giôn-xơn dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.

Thời báo Niu Oóc, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Oa-sinh-tơn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11 năm 1967”.

Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.

Hãng thông tấn Roi-tơ (Anh) ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô-la mà vẫn không bảo vệ được một tấc đất vuông nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.

Báo Thế giới (Pháp) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.

Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội – họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng”.

Nhiều báo của các tổ chức đảng cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân đạo – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1-1968 và ngày 1-2-1968 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân năm 1968./.

Trần Nam Chuân
Đại tá, PGS, TS, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng
tapchicongsan.org.vn

Mậu Thân 1968 – Còn mãi ký ức hào hùng

NDĐT – 0 giờ đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, tiếng súng đầu tiên đã báo hiệu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đánh vào các trung tâm đầu não, các thành phố, thị xã, thị trấn, các căn cứ quân sự lớn, sân bay, quân cảng, kho tàng, quận lỵ…trên toàn miền Nam.

Đại tướng Phạm Văn TràĐại tướng Phạm Văn Trà

Cuộc Tổng tiến công diễn ra trong hơn 300 ngày đêm là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện để quân dân ta thực hiện tiến trình vĩ đại giải phóng hoàn toàn Tổ quốc khỏi ách ngoại xâm‏.

Kỷ niệm 45 năm Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, NDĐT xin giới thiệu với bạn đọc nguồn cảm xúc không thể nào quên của những người trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các chiến trường khi đó.

Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:

Ấn tượng với tôi là ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã trở thành sự kiện gây chấn động lớn trên thế giới về cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có ý nghĩa rất lớn lao về mặt ngoại giao. Nếu không có Mậu Thân 1968, chưa chắc Mỹ đã chịu ngồi vào đàm phán ở hội nghị Pa-ri… Đây là một thắng lợi rất lớn trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, tiến tới thống nhất đất nước của quân và dân ta, là tiền đề để thực hiện lời huấn thị của Bác Hồ trước khi chiến dịch diễn ra là “Đánh cho Mỹ cút/ Đánh cho ngụy nhào”.

Khi đó, Thượng nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy đã phải thốt lên rằng: Tại sao mà nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất…, lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công.

Nhận xét đó của một chính khách Mỹ như thế cũng đủ cho thấy rằng, trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968, chúng ta đã có nhiều cách đánh địch hiệu quả. Trong đó, ấn tượng với tôi có lẽ là ba mũi giáp công chính trị, quân sự, binh vận.

Khi Tiểu đoàn 309, Trung đoàn U Minh, Quân khu 9 của chúng tôi tiến đánh Cần Thơ, quân địch đã bị rối loạn bởi nhân dân ta ở khắp nơi biểu tình đấu tranh chính trị, kêu gọi địch đầu hàng. Điều đó tạo điều kiện rất thuận lợi cho Tiểu đoàn đánh chiếm gần hết TP Cần Thơ.

Viện sĩ, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng:

Bài học xây dựng nghệ thuật chiến tranh Việt Nam

Khi đó, Trung đoàn 27, đơn vị tôi đánh địch trên vùng rộng lớn khu vực phía bắc Quảng Trị. Địch đánh phá điên cuồng hòng cắt đứt đường chi viện của ta cho chiến trường miền Nam. Đây là thời gian quan trọng để đơn vị và bản thân tôi đúc kết được nhiều kinh nghiệm trong cách đánh địch. Từ cách đánh nhỏ, đánh vừa, đánh tiêu hao sinh lực địch đến cách đánh lớn, đánh tập trung, đánh tiêu diệt lực lượng lớn của địch. Chúng ta phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, đối đầu với một lực lượng lớn hơn ta nhiều lần, được trang bị vũ khí hiện đại, trong khi đó quân ta thiếu vũ khí, thiếu lương thực trầm trọng. Nhưng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân, với thế đánh cài răng lược…, cùng với các chiến trường khác, chúng ta đã duy trì thành quả chiến thắng về mặt quân sự để tạo điều kiện cho thành công trên mặt trận ngoại giao.

Chiến thắng trong Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 khẳng định sự tài tình trong điều hành chiến tranh của Đảng ta, trong đó có sự dự báo tình hình chính xác, từ đó đưa ra chiến lược đúng đắn. Đây cũng chính là bài học quan trọng để chúng ta tiếp tục đúc kết kinh nghiệm, xây dựng nghệ thuật chiến tranh Việt Nam, đặc biệt để áp dụng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong bảo vệ biên giới, bầu trời và đặc biệt là chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên Phó Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng:

Sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân giúp chúng tôi bám trụ

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, chủ yếu quân chủ lực của ta từ phía núi đánh xuống đồng bằng thì Trung đoàn 803, đơn vị của tôi được lệnh luồn sâu vào lòng địch, cụ thể là luồn vào vùng bờ biển Thừa Thiên – Huế để đánh chặn đường tiếp quân của địch từ phía biển vào Huế. Đây là địa bàn hoàn toàn lạ lẫm đối với quân giải phóng. Trải qua quá trình hành quân không ít hy sinh, chúng tôi đã đến được bờ biển Vinh Xuân, Huế.

Điều bất ngờ với tôi và mọi người trong đơn vị là người dân trong lòng địch lần đầu tiên gặp quân giải phóng và họ “bị chiếm làng”, nhưng lại ủng hộ cách mạng đến vậy. Đêm đến, trong làng còn có người già tìm gặp quân giải phóng để xem có đúng như tuyên truyền “là những đứa hung ác, ăn lông ở lỗ, bốn đứa trèo lên mà không gãy nổi một cành cây đu đủ”. Sự tin yêu và ủng hộ của nhân dân nơi đây đã giúp đơn vị chúng tôi bám trụ trên chiến trường gần ba trăm ngày đêm cho đến khi có lệnh rút quân lên núi.

Còn nhớ nửa sau năm 1968, địch rêu rao “tát nước bắt cá” khi chúng lùng sục càn quét quân ta. Vậy nhưng, những chiến sĩ quân giải phóng vẫn ém mình trong đồng ruộng, trong bờ tre, trong sự đổ nát của làng mạc để đêm đêm lại đánh cho địch những đòn choáng váng.

Ông Đặng Xuân Tẻo, Đội trưởng Đặc công Biệt động 4 Sài Gòn:

Đội 11 người, chỉ còn lại mình tôi

Mũi tấn công đánh vào Đài Phát thanh Sài Gòn là mũi tấn công mà báo chí nước ngoài mô tả là một trận chiến bi hùng nhất trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Theo chỉ thị cấp trên, Tôi chỉ huy Đội 4, Phân khu 6, Biệt động Sài Gòn, đánh chiếm và giữ Đài phát thanh trong một tiếng đồng hồ để bàn giao lại cho Tiểu đoàn 4 Thủ Đức và Đài phát thanh Mặt trận giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Thời điểm ấy, chúng tôi nhận định, chiếm Đài phát thanh thì dễ, nhưng để giữ được lâu dài là rất khó, cho nên tôi đã tính phương án phải mang theo khối bộc phá từ 20-30kg phòng khi kế hoạch không thành sẽ cho phá hủy Đài phát thanh. Đồng thời cương quyết không để bị bắt, tức là anh em sẽ nổ luôn cùng trái bộc phá.

Tuy nhiên, chỉ thị cấp trên là tuyệt đối không được phá hủy Đài phát thanh. Chiếm được Đài phát thanh, 11 người chúng tôi đã phải chống lại trực thăng trên không và Lữ đoàn tăng thiết giáp cùng lính dù dưới mặt đất.

Đến 5 giờ sáng, đội chỉ còn bốn người. Vũ khí đã hết, không có tiếp viện. Tôi phải mở đường máu trở ra ngoài để xin ý kiến chỉ huy cho anh em giữ đài hay phá để thoát ra. Nhưng… đã không kịp quay trở lại.

7 giờ sang, một tiếng bộc phá nổ lớn. Lúc đó, tôi nói với anh em vòng ngoài: “Rồi! Anh em mình giờ đã giật nụ xòe cho bộc phá nổ, hy sinh theo lời thề”

11 anh em chiến đấu hy sinh mất 10, còn lại duy nhất mình tôi.

Tôi biết rằng đồng đội của tôi đã cảm tử để không bị sa vào tay quân thù. Và Quân lệnh vẫn được giữ nguyên: Đài Phát thanh không bị phá hủy.

nhandan.com.vn

Huyền thoại “Mậu Thân 1968” được kể từ những vật đời thường

(Dân trí)- Những câu chuyện giản dị đời thường đã kể lại 26 ngày đêm đẫm máu ở Huế trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968…

 >> Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

Những kỷ vật bình dị nhưng chứa đầy cả một lịch sử bi thương – hào hùng của quân, dân Thừa Thiên Huế trong chiến dịch giải phóng xuân Mậu Thân 1968

B40- khẩu súng thô sơ và kỳ tích

Khẩu B40 là một loại súng chống tăng không giật dùng cá nhân, thông dụng trong thời kỳ quân dân ta đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhất là trong thời kỳ khó khăn nhất, vào thập niên 1960. Ngày đó, B40 là khẩu súng chủ lực để diệt xe và công sự địch. Vì nước ta lúc bấy giờ còn khó khăn nên việc sử dụng vũ khí thế nào vừa hiệu quả, vừa tiết kiệm luôn được đề cao. Vì vậy, mỗi chiến sĩ khi được cầm súng đánh giặc luôn là những người biết đặt tài năng và trách nhiệm với Tổ quốc của mình trong từng viên đạn. Những chiến thắng đầu tiên tại Ấp Bắc, Vạn Tường đã thể hiện tính năng của súng: khẩu súng của đội quân nghèo, mang nhẹ, ít lực lượng nhưng lại đánh thắng địch đông và nhiều xe pháo.

Những khẩu súng B40 cùng súng trường được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử- Cách mạng Thừa Thiên Huế.

Cũng với khẩu súng này năm xưa, chị Phạm Thị Liên, Đội trưởng đội 11 cô gái du kích Sông Hương (đã hy sinh trước giải phóng đất nước 1975) đã đánh lùi nhiều đợt phản kích của địch trong chiến dịch mùa xuân Mậu Thân năm 1968 tại Huế. Thành quả này đã đánh dấu một mốc son cho sự hiệu quả trong việc sử dụng B40 ở mặt trận Trị Thiên Huế. Bên cạnh B40, các loại súng cối 60 ly, các- bin, khẩu đội DKZ cũng dần được sử dụng rộng rãi và được thiết kế ngày một phù hợp hơn với quân dân Việt Nam, chứng tỏ sức sáng tạo không ngừng trong những lúc nước sôi lửa bỏng của trí tuệ Việt.

Đốm lửa của bình minh

Đó chính là chiếc đèn pin của đồng chí Diệp Văn Phùng, một chiến sĩ cách mạng. Trong đêm 31/01/1968, khi quân ta tấn công vào Thành Nội Huế trong chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy năm Mậu Thân 1968, để làm tín hiệu mở cửa Thượng Tứ- một điểm chốt quan trọng trong chiến dịch, chiếc đèn pin “cồng kềnh” này đã góp công vào việc chỉ lối để giúp bộ đội ta đi đúng đường và tiết kiệm thời gian, làm nên chiến thắng thần tốc không cho giặc Mỹ kịp trở tay.

Chiếc đèn pin lịch sử năm xưaChiếc đèn pin lịch sử năm xưa

Chiếc đèn pin thô sơ bám bụi đất ấy lúc bấy giờ như ngọn hải đăng trên cạn xóa tan bóng tối, mở ra con đường đi của cách mạng: con đường của niềm tin vào ngày mai.

Lạc quan đi liền sáng tạo

Thành quả của những năm tháng hoạt động ở Hương Thủy của đồng chí Nguyễn Vạn, Ủy viên Khu ủy Trị Thiên Huế chính là một chiếc quạt. Chiếc quạt ấy, nhìn qua thì cũng rất bình thường nhưng thực ra, nó được làm từ vải quần áo của giặc Mỹ. Chất liệu vải rất tốt, khó thấm nước, qua bàn tay khéo léo của người Việt Nam mình đã trở thành chiếc quạt rất đẹp. Chiếc quạt màu xanh rằn ri được may bằng chỉ trắng, thêu hoa vàng ở giữa và dòng chữ nổi cách điệu “Kính Tặng Thu” màu đỏ. Đằng sau dòng chữ ấy chắc hẳn cũng là một chuyện tình đẹp…

Chiếc quạt là kỷ vật của sự sáng tạo và kiên nhẫn.Chiếc quạt là kỷ vật của sự sáng tạo và kiên nhẫn.

Nước mắt + máu = tình yêu

Khăn tang của mẹ Bếp, 72 tuổi ở xã Quảng Lộc, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế đã được kết tinh như thế. Trong những tháng ngày kháng chiến ác liệt, cũng như bao người mẹ Việt Nam khác, mẹ Bếp đã tiễn người con trai của mình ra mặt trận để rồi nhận về trên đầu một chiếc khăn tang. Không có nỗi đau nào hơn khi người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, khi người con của mẹ đã vì hai tiếng thiêng liêng Tổ quốc mà hy sinh.

Chiếc khăn tang “gói” tình thương của mẹChiếc khăn tang “gói” tình thương của mẹ

Khi nhìn thấy một chiến sĩ quân giải phóng bị thương trong chiến dịch mùa xuân năm 1968, chính tay mẹ đã lấy chiếc khăn tang của mình băng vết thương của người chiến sĩ ấy để cầm máu. Một biểu tượng của tình yêu. Mẹ Bếp đã lấy nỗi đau của mình để đè lên nỗi đau của người chiến sĩ, lấy sự mất mát của mình khỏa lấp, cưu mang lấy một người con xa lạ nhưng cũng rất đỗi anh hùng. Chiếc khăn tang trở thành chiếc băng cứu thương, điều đó cũng đồng nghĩa rằng nước mắt không có chỗ trong chiến tranh mà chỉ có hành động.

“Huế là một trong những bài thơ hùng tráng chống Mỹ cứu nước. Trên ngực phía trái của bản đồ Tổ quốc, Huế nổi lên như một bông hoa đỏ thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sông Hương nổi sóng, núi Ngự chuyển mình trong cuộc tiến công vùng dậy lịch sử”. 26 ngày đêm đẫm máu ở Huế là bản anh hùng ca bất tận, muôn đời.

Ngọc Bích – Đại Dương
dantri.com.vn

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

(Dân trí)- Đã có nhiều nguồn tin trái chiều về những cuộc thảm sát trả thù đẫm máu bên trong thành Huế sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô. Chính sự đẫm máu thảm khốc, trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.

Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.

Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968

Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.

Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.

Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.

Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.

Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.

Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập “Mậu Thân- 1968”

12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.

Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.

Nước Mỹ đã khủng hoảng niềm tin sau Chiến dịch Mậu Thân 1968Nước Mỹ đã “khủng hoảng niềm tin” sau Chiến dịch Mậu Thân 1968

“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.

Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.

Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.

Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:

Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.

Hiền Hương
dantri.com.vn

Phim Mậu Thân 1968: Lật lại hồ sơ tuyệt mật

VTV phát sóng phim Mậu Thân 1968
> Tin thêm về việc phát hiện 670 hài cốt tại Hội An

TP – Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 đã dần được giải mã qua 12 tập phim tài liệu mang tên Mậu Thân 1968 đang phát sóng trên đài truyền hình Việt Nam.

Cảnh trong phim “Mậu Thân 1968”Cảnh trong phim “Mậu Thân 1968”.

Dù có một vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, thế nhưng, sự kiện Mậu Thân 1968 trong suốt thời gian dài lại là chủ đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi và người ta thường tránh không nhắc đến.

Bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề Mậu Thân 1968 của đạo diễn Lê Phong Lan có độ dài 12 tập, thời lượng 30 phút/1 tập, thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Hành trình lật lại hồ sơ tuyệt mật

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ, một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX. Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt.

Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn Nhà báo, Nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng, Washington DC, 6-2009Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn Nhà báo, Nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng, Washington DC, 6-2009.

Các nhà làm phim đã đi vào lý giải tại sao người Mỹ lại cho rằng Khe Sanh là hướng chiến trường chính, nơi sẽ diễn ra một trận “Điện Biên Phủ thứ hai” và họ đã tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ và hỏa lực cực mạnh để giữ lấy khu vực này.

Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, dẫn đến việc chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “sự khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công này cho người dân Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá.

Ông Larry Berman – Giáo sư, tiến sĩ sử học Mỹ

Trong khi thực chất, đây chỉ là mặt trận nghi binh và các đô thị mới là hướng chiến trường chính. Bộ phim cũng đi vào phân tích bối cảnh, tình hình và tại sao lại có đợt 2, đợt 3 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè và mùa thu năm 1968…

Cuối cùng, trong bộ phim tài liệu đặc biệt này, các sử gia, nhà nghiên cứu và những người trong cuộc, sẽ từ nhiều góc độ khác nhau, bày tỏ những quan điểm thẳng thắn của mình về những được – mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968, và tại sao sự kiện này lại gây nhiều tranh cãi trong suốt thời gian dài như thế.

Tất cả họ đều gặp nhau ở một nhận định quan trọng. Đó là: Mậu Thân 1968 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, đã mở ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh, chấm dứt sự leo thang chiến tranh của Mỹ và mở đường đi đến thắng lợi vào trưa ngày 30-4-1975 lịch sử.

8 năm cho 12 tập phim

“Có điều gì đó luôn thôi thúc tôi phải làm về Mậu Thân 1968. Tôi đã làm trong 8 năm, đã sang Mỹ để gặp các nhân chứng và tìm những tư liệu liên quan đến sự kiện”, đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ.

Sau khi nghiên cứu sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề “Mậu Thân 1968”, đạo diễn Lê Phong Lan và êkip đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước.

Đạo diễn và êkip thực hiện cũng rất kỳ công trong việc chuyển tải thông tin về sự kiện có ý nghĩa hết sức đặc biệt này.

Đánh giá về bộ phim tài liệu này, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng Ban Thư ký biên tập, Đài THVN cho rằng: “Bộ phim tài liệu Mậu Thân 1968 đã tái hiện vô cùng sinh động sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc. 12 tập phim là một khối tư liệu vô cùng đồ sộ mà êkip thực hiện đã rất kỳ công tìm hiểu, tập hợp trong hành trình thực hiện hết sức nghiêm túc của mình”.

Kim Nhật
tienphong.vn

Mậu Thân 1968: Không có nhân chứng nào nói dối

TT – 12 tập phim mang tên Mậu Thân 1968 của nữ đạo diễn phim tài liệu chiến tranh Phong Lan sẽ được khởi chiếu trên VTV1 từ tối 25-1.

Ðạo diễn Phong Lan (thứ ba từ trái sang) phỏng vấn nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Stanley Karnow tại nhà riêng ở Mỹ tháng 6-2009 – Ảnh: Ðoàn phim cung cấp

Dù có vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của dân tộc VN, sự kiện Mậu Thân 1968 trong suốt thời gian dài lại từng là chủ đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi.

Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968 đã dần được giải mã. Cách nhìn nhận về sự kiện này đã cởi mở và thẳng thắn hơn từ phía những người trong cuộc. Trong bầu không khí đó, đạo diễn Lê Phong Lan đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề Mậu Thân 1968. Bộ phim có độ dài 12 tập (30 phút/tập), thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả sẽ lần lượt tái hiện sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Nữ đạo diễn Phong Lan – người vừa thực hiện bộ phim tài liệu năm tập Hiệp định Paris – cho biết: “Tôi là một đạo diễn tự do của một hãng phim tư nhân do tôi lập ra, mang tên Bản Sắc Việt, nhưng tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ phải đi đến tận cùng của những sự thật lịch sử mà lâu nay vì lý do nào đó chúng ta còn e ngại. Ðến Mỹ lần đầu tiên vào tám năm trước và đã trở lại thêm bốn lần nữa, tôi đã phỏng vấn tất cả những ai liên quan đến chiến tranh VN mà tôi có thể gặp, từ tổng thanh tra quốc phòng Mỹ đến nhà sử học Stanley Karnow và những cựu binh bị hội chứng VN, tôi đã đặt câu hỏi sòng phẳng khiến họ không thể chối từ. Tất nhiên, chúng tôi cũng lật lại từng trang hồ sơ của cuộc chiến ở VN, gặp từng nhân vật. Chúng tôi ngược dòng thời gian cố gắng tìm gặp lại tất cả, tìm hiểu tất cả thông tin với lòng khao khát sự thật. Không có nhân chứng nào có thể nói dối trong những cuộc phỏng vấn này”.

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật gấp 800 lần VN – lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng Trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ 20. Tiếp đến là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Ðồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968…

12 tập phim, với hàng ngàn cuộc phỏng vấn, đạo diễn Phong Lan đã gom góp vốn liếng 10 năm tìm kiếm tư liệu, đi và sống của mình để có được những thước phim cảm động và chân thật.

TH.H.
tuoitre.vn

Đại sứ Mỹ và Mậu Thân 1968

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 luôn được đánh giá như một bước ngoặt đối với cuộc chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 – 1975.Trong đó, việc các chiến sĩ biệt động cách mạng Việt Nam tiến công chiếm giữ Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn đã trở thành sự kiện chấn động toàn cầu. Trước đó, gần như các đại sứ quán, đóng vai trò biểu tượng của Washington tại nước ngoài, chưa bao giờ bị chiếm giữ ngoạn mục như thế. Nhất là khi Mỹ đang đồn trú hàng trăm ngàn binh sĩ cùng một lực lượng vũ khí hùng hậu tại miền nam Việt Nam.

Biệt động đã bắn thủng tường Đại sứ quán Mỹ để tấn công vào trong – Ảnh: David Halberstam

Đại sứ Bunker (phải) – Ảnh: The Washington Post

Tại cổng ra vào của Đại sứ quán Mỹ lúc sáng 31.1.1968 – Ảnh: T.L

Đòn bất ngờ

“Lúc đó có lẽ vào khoảng 1 – 3 giờ sáng (ngày 31.1.1968 – NV), khi tôi đang ngủ thì cuộc tiến công bắt đầu. Một lính thủy đánh bộ đánh thức tôi và thông báo Sài Gòn bị tiến công. Tôi được dẫn ra một chiếc xe bọc thép để đến địa điểm an toàn. Tại nhà an toàn, tôi liên lạc với tướng Westmoreland (tướng William Westmoreland là Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam từ năm 1964 – 1968) để nắm tình hình”. Đó là lời kể lại của ông Ellsworth Bunker, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1967 – 1973, được trích dẫn trong tài liệu thuộc Thư viện Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson.

Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến như vậy trước đó. Đó vừa là chiến tranh quy ước vừa là chiến tranh du kích. Đó là một cuộc chiến mà đối phương sở hữu nơi ẩn náu có thể rút lui, củng cố, tái trang bị khí tài và chờ thời cơ… Đó là cuộc chiến tranh chính trị mà cũng là chiến tranh tâm lý

Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, ông Bunker mới quay về đại sứ quán sau khi nhận được sự đảm bảo từ cánh quân đội. Đó cũng là lúc Ellsworth Bunker bắt đầu liên lạc trở lại với Washington. Ông kể: “Trong suốt cuộc vây hãm, tôi không thực hiện một báo cáo cá nhân nào cho Washington. Tôi nhớ là mình rời khỏi nhà an toàn vào khoảng 9 – 10 giờ sáng. Khi trở lại nhà của mình, tôi nhìn thấy mù mịt khí ga”. Sau gần 7 giờ đồng hồ, ông mới nhận được chỉ thị trực tiếp từ Washington.

Thực sự, cuộc tổng tiến công là một đòn táo bạo và đầy bất ngờ đối với quân đội Mỹ. Đại sứ Bunker phải đồng ý điều này và ông thừa nhận rằng mình chỉ biết khi sự việc đã bắt đầu. Theo Ellsworth Bunker, trước đó, lực lượng tình báo cung cấp thông tin rất mơ hồ về kế hoạch tấn công. Ông cho biết: “Chúng tôi được cảnh báo rằng đối phương chuẩn bị thực hiện một cuộc tiến công nhưng chẳng thể xác định thời điểm. Chúng tôi chuẩn bị ứng phó mà chẳng có thông tin gì nhiều. Thế nhưng, chúng tôi vẫn tin cuộc tiến công sẽ xảy đến nên thực hiện một số biện pháp ứng phó, đặc biệt là tại Quân đoàn 3. Tướng Frederick Weyand chỉ huy lực lượng tại đây đã điều động binh sĩ củng cố khả năng phòng thủ cho Sài Gòn, đây có lẽ là điều rất may mắn mà ông ấy đã làm”.

Bước ngoặt cuộc chiến

Không chỉ mơ hồ về thông tin tình báo, Mỹ còn bất ngờ về khả năng phối hợp tác chiến trên quy mô lớn của lực lượng cách mạng Việt Nam. Đại sứ Bunker thừa nhận sự ngạc nhiên này không chỉ riêng mình mà cả Tổng tư lệnh Westmoreland lẫn Tổng thống Johnson đều như thế. Ông Bunker cho biết: “Chắc chắn tôi ngạc nhiên. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều như vậy. Tôi nghĩ chẳng ai trong chúng tôi trước đó hình dung ra quy mô của cuộc tiến công. Chúng tôi nghĩ rằng đối phương chỉ tập trung đánh vào các thành phố. Nhưng thực sự thì quy mô vượt ra khỏi các thành phố, cuộc tiến công diễn ra cả ở những vùng nông thôn, thậm chí là thôn xóm. Điều đó quá những gì chúng tôi lường trước”. Ông nói thêm: “Ảnh hưởng của cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân khiến quân nhân Mỹ nhận ra rằng khó khăn lớn hơn nhiều so với những gì chúng tôi dự đoán. Rõ ràng là (chúng tôi – NV) phải hứng chịu nhiều tổn thất trên khắp chiến trường này.”

Vì thế, ngay sau khi cuộc tổng tiến công diễn ra, tướng Westmoreland đã lên tiếng đề nghị Washinton tăng thêm binh sĩ. Đại sứ Bunker kể lại: “Vào thời điểm trên, ông ấy (tướng Westmoreland – NV) muốn bổ sung quân, tôi không nhớ rõ nhưng hình như con số vào khoảng 12.000 quân và tôi đã ủng hộ. Thế nhưng, tôi không ủng hộ đề nghị sau đó của ông ấy về việc tăng thêm một lực lượng rất lớn. (…) Tướng Westmoreland cảm nhận rằng với yêu cầu tăng thêm binh sĩ – tôi nghĩ con số có thể lên đến 200.000 – sẽ giúp ông ấy kết thúc cuộc chiến nhanh hơn. Tôi đã không ủng hộ”. Thực tế, giới lãnh đạo chóp bu ở Washington cũng không ủng hộ đề nghị của vị tổng tư lệnh chiến trường.

Về tổng thể cuộc chiến, Đại sứ Bunker nhận định rằng: “Chúng tôi chưa bao giờ trải qua một cuộc chiến như vậy trước đó. Đó vừa là chiến tranh quy ước vừa là chiến tranh du kích. Đó là một cuộc chiến mà đối phương sở hữu nơi ẩn náu có thể rút lui, củng cố, tái trang bị khí tài và chờ thời cơ. Họ có thể tăng giảm mức độ chiến sự để khi cần thì lắng xuống và quay trở lại vào thời điểm thích hợp. Đó là cuộc chiến tranh chính trị mà cũng là chiến tranh tâm lý”.

Ngô Minh Trí
thanhnien.com.vn

“Giải mã” Mậu Thân 1968

Mậu thân 1968 là bộ phim tài liệu đầu tiên của Việt Nam đề cập trực diện và đi sâu vào sự kiện lịch sử vốn gây nhiều tranh cãi và từng bị cho là nhạy cảm.

Trong hành trình làm rõ sự thật lịch sử về cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, đạo diễn Lê Phong Lan đã phỏng vấn và đối chất với hàng trăm nhân chứng, trò chuyện với những chuyên gia lịch sử, các nhà báo trong nước và quốc tế.

Hình ảnh trong bộ phim Mậu Thân 1968, ảnh do VTV cung cấpHình ảnh trong bộ phim Mậu Thân 1968, ảnh do VTV cung cấp

Những sự thật trong sự kiện Mậu Thân 1968 là lý do thôi thúc đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện bộ phim, nhất là sau khi chị được trò chuyện với thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn trong thời gian làm phim về ông. “Suốt một thời gian dài, đã có những thông tin sai về sự kiện Mậu Thân 1968. Trong khi chúng ta lại không hề lên tiếng”. Và bà đã bị thôi thúc đi tìm câu trả lời từ phía những người đã từng đứng phía bên kia chiến tuyến. Bà đã sang Mỹ nhiều lần, lặn lội khắp mọi nơi tìm nhân chứng, tư liệu. Rất nhiều người trong cuộc mà bà phỏng vấn nay đã ra đi, nhưng may mắn là sự thật lịch sử được ghi lại từ họ. Bộ phim Mậu Thân 1968 sẽ không tránh né những quan điểm thẳng thắn, những góc nhìn khác nhau của các nhà nghiên cứu lịch sử, những người trong cuộc về những điều được và mất của cách mạng Việt Nam trong sự kiện Mậu Thân 1968.

Nhiều câu chuyện lịch sử ít người biết được lật lại. Một trong số đó là sự kiện 26 ngày đêm tại Huế từng bị cho là “cuộc thảm sát đẫm máu” được mô tả trong cuốn sách Dải khăn sô cho Huế của nhà văn chế độ cũ – Nhã Ca. Những người làm phim đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu – người chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux, GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía. Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là “cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.

Trước khi Ðài truyền hình Việt Nam mua bản quyền phát sóng, đạo diễn đã bỏ tiền túi để làm phim. Bà nói: “Tôi làm bộ phim một cách công bằng, khách quan trước hết vì danh dự nghề nghiệp của tôi, thứ hai là với góc nhìn của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam”.

Bộ phim tài liệu Mậu Thân 1968 (dài 12 tập) do Đài truyền hình Việt Nam phối hợp với Hãng phim truyền hình Bản sắc Việt sản xuất, phát sóng vào lúc 20 giờ trên kênh VTV1 bắt đầu từ ngày 25.1.

Minh Ngọc
thanhnien.com.vn

Tết Mậu Thân 1968: Nỗi bàng hoàng nước Mỹ

Trong ký ức của nhiều người Mỹ, Tết Mậu Thân là một sự ám ảnh, là sự mở đầu cho việc đẩy nhanh tới thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tại Việt Nam.

Tết Mậu Thân 1968: Nỗi bàng hoàng nước MỹQuân giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Ảnh khai thác

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược Việt Nam của Mỹ. Sự kiện này đã góp phần thực hiện được phương hướng chiến lược “vì độc lập, vì tự do đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” sớm hơn so với dự định ban đầu.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quán phở Bình đến nay vẫn giữ tên gọi cũ như cách đây 45 năm. Ông chủ quán đã mất cách đây vài năm, nhưng người con gái và con rể thì biết rất rõ những gì đã diễn ra ở đây trong Tết Mậu Thân.

Sau 9 giờ ngày 29 Tết Mậu Thân, phở Bình đóng cửa. Những vị chỉ huy các đơn vị đánh chiếm dinh Độc Lập, toà đại sứ Mỹ, Đài phát thanh, Bộ tư lệnh Hải quân đã họp bí mật ở quán phở Bình để nghe phổ biến mệnh lệnh chiến đấu của Trung ương Cục và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ông Nguyễn Kim Bạch, con rể chủ quán phở Bình kể: “Trước đó chừng ba ngày, nhận được lệnh chuẩn bị đồ ăn cho khoảng 100 người trong 2 tuần. Bí mật nên chỉ biết vậy, không biết nhà mình là Sở chỉ huy, đúng lúc giao thừa thì mới biết”.

Quán phở Bình từng là Sở chỉ huy tiền phương của phân khu 6 trong chiến dịch Mậu Thân, nơi đây đã được gắn biển Di tích lịch sử cấp quốc gia. Chính nhờ những cơ sở như thế mà hàng trăm chiến sĩ biệt động thành, lực lượng đặc công cùng nhiều đạn dược, vũ khí đã được vận chuyển an toàn vào nội thành trước giờ khai hỏa chiến dịch. Cũng có thể khẳng định rằng, những trận địa lòng dân ngay giữa lòng địch là minh chứng cụ thể của tư tưởng lấy dân làm gốc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tham gia vào Dinh Độc Lập, một trong những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất, đơn vị của bà Chính Nghĩa khi đó chỉ có 15 người. Tuy không thực hiện được như kế hoạch, cả đội chỉ còn lại 7 người và sau đó đều bị giặc bắt, nhưng đơn vị của bà Nghĩa và rộng hơn nữa là lực lượng biệt động Sài Gòn – Gia Định ở Huế và trên tòa miền Nam đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, là một “phép thử” buộc Mỹ phải thay đổi quan điểm về cuộc chiến ở Việt Nam.

Bà Vũ Minh Nghĩa (Chính Nghĩa), Biệt động Sài Gòn – Gia Định tham gia chiến dịch Mậu Thân nhớ lại: “Theo kế hoạch chúng tôi dùng một xe chở khối chất nổ, khi tới cổng chúng tôi sẽ xuống hết để xe tự nổ máy và cài số để tông vào cánh cửa sau Dinh Độc Lập. Nhưng khối chất nổ đó để lâu ngày bị ẩm nên không nổ, chúng tôi đành phải nhảy xuống, chiến đấu với phòng vệ ở cổng Dinh. Dù có thiệt hại, dù mấy anh đã hy sinh nhưng đó là một tiếng vang cho Mỹ thấy rằng, không phải ở thành phố này mà không có lực lượng của mình đánh những trận táo bạo như vậy”.

Ông Nguyễn Văn Tàu, khi đó là cụm trưởng cụm tình báo H.63 cho biết, sau Mậu Thân đã có một báo cáo bi quan về chiến dịch này vì ta tổn thất quá lớn, nhưng khi tiếp xúc với sĩ quan phía bên kia thì chính họ đã thừa nhận, trận đánh cảm tử của Việt cộng làm xáo trộn nước Mỹ và người Mỹ không còn tin vào Tổng thống của họ.

Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), Cụm trưởng cụm tình báo H.63, Phó Chính uỷ phòng Tình báo, Bộ Tham mưu Miền nói: “Báo cáo ban đầu của tôi bi quan nhưng được biết, đòn này sẽ thấm dần dần khi Mỹ ngã quỵ. Jonhson có diễn văn không ra ứng cử và hạn chế ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và cử người qua bên Lào để bắt liên lạc với Việt Nam Dân chủ cộng hoà”.

Tuy không diễn ra Tổng khởi nghĩa như kế hoạch và sau Tết Mậu Thân, cuộc chiến vẫn rất quyết liệt làm hàng chục ngàn chiến sĩ ngã xuống, nhiều cơ sở bí mật bị bóc gỡ. Và phải mất tới 5 năm sau đó Mỹ mới rút hết quân ra khỏi miền Nam, rồi 7 năm sau chính quyền Sài gòn mới sụp đổ. Nhưng về mặt chiến lược, Mỹ đã thua từ mùa xuân 1968. Và Tết Mậu Thân là một bước ngoặt lịch sử rất quan trọng trong chặng đường 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, xoay chuyển cục diện trên chiến trường mà ta chưa bao giờ tạo được.

Sau Mậu Thân, Mỹ đã phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom miền Bắc, giảm dần quân Mỹ trên chiến trường và ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Paris về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngọc Hà – Nguyễn Hoàng –
vtv.vn