Thư viện

Ngôi nhà sàn huyền thoại

Phủ Chủ tịch ở Hà Nội vốn xưa là dinh thự của Toàn quyền Đông Dương, được xây dựng từ năm 1900. Sau ngày 19-12-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn nơi đây làm Thủ phủ của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa.

Trong khuôn viên rộng lớn, mặc dù có nhiều công trình kiến trúc sang trọng, đầy đủ tiện nghi song Bác Hồ không ở. Người chọn cho mình một ngôi nhà nhỏ nguyên là nơi ở của những người thợ điện Việt Nam phục vụ cho Toàn quyền Đông Dương, làm nơi ở và làm việc của mình.

Mãi gần bốn năm sau Bác Hồ chuyển đến ở trong một ngôi nhà sàn làm bằng gỗ, nhỏ bé, giản dị và đơn sơ được dựng lên ở một góc nhỏ của khuôn viên Phủ Chủ tịch. Đây là nơi ở và làm việc chính thức của Bác cho tới khi Người đi xa. Ngôi nhà sàn được xây dựng trong khuôn viên Phủ Chủ tịch, ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội, trước hết đó là ý muốn của Bác Hồ. Người không chấp thuận đề nghị của Trung ương và Chính phủ mời Bác ra ở trong dinh thự sang trọng, đầy đủ tiện nghi mà các đời toàn quyền Đông Dương đã ở trước đây. Bác Hồ coi đó là thành quả cách mạng của nhân dân nên để làm nơi gặp gỡ đồng bào trong nước, nơi tiếp khách quốc tế và các nghi lễ ngoại giao. Bác muốn Trung ương cho Bác làm một cái nhà sàn nho nhỏ, theo kiểu của bà con dân tộc thiểu số trên Việt Bắc, để ở và làm việc. Người đề nghị nhà làm bằng loại gỗ bình thường và nhỏ thôi, dựng gần bờ ao cho thoáng mát.

Mười lăm năm cuối cuộc đời sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, trong đó 11 năm trực tiếp ở nhà sàn là một khoảng thời gian khá dài trong sự nghiệp cách mạng của vị lãnh tụ kính yêu và là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng lớn lao, quyết định đối với sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Chính vì vậy, nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã trở thành một địa danh lớn phản chiếu về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một tấm gương hết lòng phục vụ lợi ích của nhân dân, đấu tranh không mệt mỏi cho danh dự, tự do và độc lập của Tổ quốc mình” – Người là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2-9-1969), khu vực Phủ Chủ tịch đã sớm được hình thành là một di tích lịch sử-văn hóa-danh nhân. Ngày 25-11-1970, Bộ Chính trị Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 206-NQ/TƯ. Điều 2, Nghị quyết có ghi rõ: “Bảo quản tốt khu lưu niệm các di tích và hiện vật lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”.

Trên suốt chặng đường 35 năm tồn tại, như minh chứng cho chân giá trị lịch sử của một vĩ nhân-một dân tộc, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch mà điểm nổi bật, đặc trưng là ngôi nhà sàn Bác Hồ ở và làm việc, với đầy đủ ý nghĩa quan trọng và lớn lao không những đã trở thành một địa danh trên bản đồ hành hương mà còn đọng lại ấn tượng sâu đậm trong triệu triệu trái tim con người.

35 năm qua, kể từ ngày Bác Hồ đi xa, Nhà sàn đã được bảo quản chu đáo, nguyên trạng. Gần 40 triệu lượt người đã đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Trong đó có khách của hơn 150 nước trên thế giới, gồm các vị nguyên thủ quốc gia, các chính khách và đủ các đối tượng khác nhau, khi đến Việt Nam vào thăm nơi Bác Hồ ở và làm việc.

Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch đã trở thành di sản văn hóa vô giá của dân tộc và có ý nghĩa quốc tế. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Cuộc đời của Bác Hồ có vô vàn cái giản dị, nhưng Nhà sàn-nơi Bác ở và làm việc là điều giản dị nhất, nó trở nên kỳ diệu hơn, hấp dẫn hơn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nói: “Cái nhà sàn đơn sơ của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại thì cái nhà nho nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao”.

Trước ngôi nhà sàn tĩnh lặng, một nhà báo phương Tây đã thốt lên đầy xúc động: Con người ta khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang thường hay bị vinh hoa quyến rũ. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không thế. Người đã vượt lên trên tất cả, Người đã chiến thắng chính bản thân mình để trở thành con người hoàn thiện. Ngôi nhà này là hiện thân của tinh thần đó. Một đại diện của Liên hợp quốc đã nói đầy thán phục: “Chủ tịch Hồ Chí Minh thật thông minh khi chọn ngôi nhà này để ở. Ngôi nhà này đã nói lên tất cả con người ông: nhân cách, tầm vóc trí tuệ, phong cách sống và đạo đức cách mạng”.

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại. Ngôi nhà sàn-nơi Người ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch cũng đi vào huyền thoại. Nó tồn tại mãi mãi trong trái tim nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới. Hàng triệu lời khen, hàng vạn dòng cảm tưởng tốt đẹp khi đến thăm nơi ở và làm việc của Bác tại Phủ Chủ tịch càng minh chứng chiều sâu giá trị của di sản văn hóa Hồ Chí Minh. Với những ý nghĩa lớn lao đó, Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch là di tích lịch sử-văn hóa đặc biệt quan trọng của đất nước, là nơi hội tụ cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Vinh dự cho dân tộc ta, nhân dân ta, đất nước ta có Hồ Chí Minh. Tự hào cho di sản văn hóa Việt Nam có Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Vinh dự và tự hào đó của nhân dân ta nói chung, có niềm vinh dự và tự hào của những con người, chiến sĩ đã góp trí tuệ, công sức xây dựng nên Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch. Đồng thời nó cũng thuộc về những cán bộ công chức và người lao động trong suốt 35 năm qua đã tận tụy bảo quản, giữ gìn và phát huy tác dụng di sản văn hóa vô giá đó.

Trước xu thế phát triển mới của nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn diện với thế giới thì di sản văn hóa-Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch càng hội tụ đầy đủ những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa để tuyên truyền hơn nữa những tinh thần văn hóa-tư tưởng Hồ Chí Minh tới mọi người dân Việt Nam cũng như trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ngoài ý thức và tình cảm với di sản của Bác Hồ để lại, cần phải có những phương tiện kỹ thuật, những tiến bộ khoa học để giữ gìn lâu dài một di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hy vọng rằng, với niềm tự hào là những người trực tiếp xây dựng Tổng cục Nhà sàn Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch, ngành xây dựng Tổng cục Hậu cần Quân đội luôn luôn quan tâm và sẵn sàng góp phần vào nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa có ý nghĩa lớn lao này.

BTS
Theo Bùi Kim Hồng, Báo QĐND

cpv.org.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Báo tin tức – Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh

baotintuc.vn

Kho tư liệu về Bác Hồ của anh “Hai Lúa” Nguyễn Văn Nhung

Anh Nhung bên những trang tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù đã được anh bạn đồng nghiệp làm báo địa phương giới thiệu từ trước, nhưng lần đầu tiên được “mục sở thị” cái “gia tài” đồ sộ bao gồm tranh ảnh và những tư liệu và hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong căn nhà nhỏ đơn sơ nằm cặp bên mé sông Kinh Lộ (thuộc xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) của anh “Hai lúa” Nguyễn Văn Nhung vẫn khiến tôi không khỏi bất ngờ. Hơn 30 năm sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác, đến nay anh Nhung đang sở hữu hơn 6.000 tư liệu và trên 2.000 hình ảnh về Bác. Việc làm đầy ý nghĩa của anh đã được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sưu tầm tư liệu và hình ảnh Bác Hồ nhiều nhất.

Cơ duyên sưu tầm tư liệu về Bác

Hôm chúng tôi đến, anh Nguyễn Văn Nhung đang bận tiếp khách. Khách của anh là các em học sinh của trường THCS và THPT huyện Kế Sách, đến nhờ anh tìm giùm tư liệu và hình ảnh để viết bài dự thi “Tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Bên đàn em thơ tíu tít vây quanh với vô số những câu hỏi, anh nhiệt tình thuyết minh, giảng giải cặn kẽ, say sưa kể lại những câu chuyện về Bác. Các em chăm chú lắng nghe, ghi chép lại trong những quyển vở học trò.

Tranh thủ lúc anh đang bận, tôi dạo một vòng quanh ngôi nhà. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là hai chiếc bàn thờ được đặt trang trọng ngay chính diện. Một bức tượng Bác bằng thạch cao ở bàn thờ chính. Kế bên là một bàn thờ khác, bên trên đặt di ảnh Bác, phía trên di ảnh Bác là câu nói trích từ bài phát biểu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Đại hội lần thứ VI của Đảng: “Chúng ta thành kính hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu mà tư tưởng và đạo đức của Người luôn sống mãi trong sự nghiệp của nhân dân ta”. Hai bên là hai tấm giấy điều ghi lại câu nói của người: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Xung quanh bốn phía tường nhà treo kín ảnh Bác, phía dưới là kho tư liệu được sắp đặt ngăn nắp, quy củ như một thư viện nhỏ…

Xế trưa, khách đã vãn, anh Nguyễn Văn Nhung mới có thời gian rảnh để tiếp chúng tôi. Xoa xoa hai bàn tay vào nhau, trên gương mặt sạm đen của anh nở nụ cười rạng rỡ: “Ngày nào cũng có khách, hôm nay còn ít, mọi khi còn đông hơn nữa kia. Mong nhà báo thông cảm! Hơi mệt nhưng hôm nào không có ai tìm đến tìm hiểu, tra cứu tư liệu về Bác là mình lại thấy nhớ, thấy buồn, người bứt rứt không yên…”. Đối với anh Nguyễn Văn Nhung, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam luôn ở trong tim, hiện diện ngay cả trong từng bữa ăn, giấc ngủ!

– Từ đâu mà anh lại có ý định đi sưu tầm những tư liệu và hình ảnh Bác Hồ? – Tôi hỏi.

– Vào một ngày năm 1969, khi tôi mới 11 tuổi, được mẹ dẫn về thăm quê ngoại. Đêm ấy, đang nằm bên ngoại, tôi chợt nghe thấy tiếng khóc sụt sùi. Trong suy nghĩ non nớt của mình, tưởng có chuyện gì tôi liền bật dậy thì thấy ngoại đang ôm một tấm ảnh và khóc. Ngoại đang ôm ảnh của ai mà khóc vậy? Ngoại trả lời: “Bác Hồ đó con! Người vừa mất!”. Lần đầu tiên tôi nghe nói đến hai tiếng Bác Hồ, thấy lạ nên liền hỏi: “Bác Hồ là ai? Sao ngoại lại ôm ảnh Bác Hồ và khóc?”. Ngoại trả lời: “Khi nào lớn lên con sẽ biết!”… Ngừng lại một lát như để kìm nén nỗi xúc động, một lát sau anh Nhung chậm rãi kể tiếp: “Sau đó ít lâu, tôi theo mẹ đến một ngôi chùa. Tại đây, tôi thấy nhà sư cũng đang thắp nhang trước di ảnh Bác Hồ. Tò mò, tôi lại hỏi thì nhà sư đó trả lời: “Đó là vị thánh sống của dân tộc Việt Nam. Người đã tìm đường để dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân và đế quốc, đưa nhân dân ta từ vũng lầy bước ra ánh sáng, thoát kiếp lầm than nô lệ…”. Câu nói của vị sư găm vào trí óc non nớt của tôi khiến tôi phải suy nghĩ. kể từ đó tôi ghi nhớ cái tên đó trong đầu…”.

Nhưng “cú hích” khiến anh Nguyễn Văn Nhung bắt đầu công việc sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác là thời gian sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Một lần gặp các chú bộ đội cụ Hồ, thấy chú nào cũng có ảnh Bác, anh liền lân la đến hỏi chuyện. Được các chú bộ đội kể cho nghe câu chuyện một nông dân Cà Mau gửi cây vú sữa theo đoàn quân tập kết ra Bắc tặng Bác Hồ. Cây vú sữa ấy được Bác trồng, chăm sóc, nâng niu. Nhìn cây, không phút giây nào Bác không nhớ đến miền Nam. Bác nói: “Miền Nam trong trái tim tôi!”. Từ đó, hình ảnh Bác Hồ đã khắc sâu vào tâm khảm anh với lòng ngưỡng mộ, kính yêu muôn vàn sâu sắc. Anh quyết định phải làm một điều gì đó để thể hiện tình cảm của mình đối với Bác và quyết định sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Người.

Người “giàu” nhất xứ cù lao

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở một vùng quê nghèo khó nhất của huyện Kế Sách, nhà không một tấc đất cắm dùi, ngay từ nhỏ cậu bé Nguyễn Văn Nhung đã phải trầm mình dưới dòng nước con sông Kinh Lộ mò cua bắt cá giúp mẹ kiếm cái ăn qua ngày. Nhà nghèo, thương mẹ tảo tần vất vả sớm khuya, nên học chưa hết cấp II cậu bé Nhung đành bỏ ngang việc học để đi làm thuê kiếm sống. Lớn lên, rồi lập gia đình, cái đói cái nghèo vẫn chẳng buông tha. Gia đình bên vợ cũng nghèo, cưới nhau xong, hai vợ chồng anh dắt nhau về cất một căn chòi lá bên mé sông Kinh Lộ để che mưa che nắng, có chỗ chui ra chui vào. Hàng ngày, vợ anh quẩy gánh cháo đi bán dạo nơi đầu làng cuối xóm, còn anh đi làm thuê làm mướn kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày. Năm đứa con “trứng gà trứng vịt” nối nhau ra đời, cuộc sống cứ thế trôi đi. Thời gian này, anh bắt đầu tìm kiếm những tư liệu và hình ảnh đầu tiên về Bác. Cuộc sống khó khăn vất vả như vậy nhưng trong lúc đi làm thuê làm mướn, thấy có những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ là anh Nhung lại nằn nì xin cho bằng được. Người nào không cho, anh bỏ tiền ra xin chụp lại rồi trả bản gốc. Chẳng mấy chốc “gia tài” những tư liệu và hình ảnh về Bác của anh Nhung đã lên tới con số hàng ngàn.

Những tư liệu và hình ảnh về Bác mà anh Nhung sưu tầm được

Tuy nhiên, “đã nghèo lại vướng cái eo”, cơn bão số 9 năm 1997 khắc nghiệt đã giật đổ căn chòi lá che mưa che nắng của vợ chồng anh và năm đứa con. Xót của thì ít, nhưng anh “xót đau đến trào cả nước mắt” khi nhìn hàng ngàn tư liệu, bức ảnh về Bác Hồ mà anh đã kỳ công sưu tầm được không có nơi cất giữ, bị ẩm mốc, mục nát phải bỏ. Bà con hàng xóm nhiều người xót xa ái ngại cho hoàn cảnh của anh.

Nhớ lại những ngày ấy, anh Nguyễn Văn Nhung cười mà rưng rưng nước mắt. Nhờ sự tần tảo của hai vợ chồng, cuộc sống tuy chưa dư dả gì nhưng đã có cái ăn, sắp nhỏ cũng được đi học. Từ đó, anh chuyên chú hơn vào việc tìm kiếm và sưu tầm những tư liệu và hình ảnh Bác Hồ.

– Ở một vùng quê, nơi đời sống vật chất của người dân còn chưa đầy đủ, đời sống tinh thần còn là vấn đề xa xỉ thì nhờ đâu mà anh lại sưu tầm được kho tư liệu “giàu có” về Bác Hồ như vậy? – Tôi hỏi. Anh Nhung tâm sự:

– Tôi bắt đầu cuộc hành trình đi tìm tư liệu và hình ảnh về Bác từ năm 1978. Lúc đầu tôi đạp xe lên huyện, rồi lân la lên tỉnh tìm đến ngành văn hóa thông tin, đến các cơ quan báo đài của tỉnh… hỏi xin báo cũ. Không cứ trên tỉnh, ngay cả UBND các xã, trường học, bưu điện… cơ quan nào có báo là tôi có mặt. Ngoài ra, khi tích góp được ít tiền tôi lại bắt xe lên thành phố Sóc Trăng mua sách báo cũ mang về. Nghe ngóng thông tin gia đình nào có tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ tôi lại tìm đến. Nếu xin không được thì tôi nằn nì họ cho chụp lại hoặc nhờ họa sĩ đến vẽ luôn tại chỗ. Mỗi chuyến đi như vậy tôi cũng sưu tầm được khá nhiều…Ngưng một lát, anh Nhung kể tiếp: “Có được “nguồn rồi” đêm đến tôi chong đèn tìm trong đống sách báo ấy có tư liệu, hình ảnh nào về Bác thì cắt ra, sắp xếp, phân chia theo từng nội dung, từng giai đoạn. Đến nay tôi đã sưu tầm được hơn 6.000 tư liệu và trên 2.000 hình ảnh về Bác Hồ!” – anh Nhung vui mừng khoe.

Anh Nguyễn Văn Nhung kể, khi biết anh là một nông dân nghèo nhưng lại có đam mê sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác và đặc biệt, kể từ khi được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sưu tầm những tư liệu và hình ảnh về Bác Hồ nhiều nhất, nhiều nhà hảo tâm, “mạnh thường quân” đã tìm đến thăm và hỗ trợ anh xây dựng một căn nhà nhỏ để có nơi lưu giữ “gia tài” quý giá này. Giờ đây, căn nhà nhỏ nhưng khang trang của anh Nguyễn Văn Nhung ở xã Thới An (huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) hàng ngày luôn có người đến tra cứu, tìm hiểu những tư liệu và hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong đó có không ít những vị khách phương xa. Đặc biệt, trong mấy năm qua anh liên tục tiếp đón các đoàn học sinh, các cơ quan đoàn thể trong và ngoài tỉnh Sóc Trăng đến tra cứu, tìm hiểu để tham gia cuộc thi “Tìm hiểu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Với anh Nhung, đó là niềm hạnh phúc đang được sẻ chia và nhân lên gấp bội.

Theo http://www.baotintuc.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nửa thế kỷ giữ ảnh Bác Hồ

Bà Nguyễn Thị Chuyên với bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh mua từ cuối năm 1954 Ảnh: Nguyên Nhung

TTCT – Trong ngôi nhà gỗ cổ ba gian ở thôn Hạ Lũng (quận Hải An, Hải Phòng) của cụ bà Nguyễn Thị Chuyên có một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh treo trang trọng. Bức ảnh đen trắng treo áp vào hàng rui, mè bằng gỗ lim nâu bóng. Trong ảnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh trông không giống như những bức chân dung thường thấy, vẫn đôi mắt sáng, vầng trán tinh anh nhưng trông Người trẻ và gầy hơn, phía dưới ảnh ghi: “Hồ – Chí – Minh. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đó là bức ảnh mà bà Chuyên mua về từ cuối năm 1954, khi Hải Phòng còn chưa hoàn toàn giải phóng và gìn giữ đến bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ trước, đó là những ngày Hải Phòng còn ngột ngạt trong sự kìm kẹp của giặc Pháp trong 300 ngày giải giáp vũ khí sau khi Hiệp định Geneve về đình chiến ở Đông Dương được ký kết. Theo hiệp định, Hải Phòng và Kiến An là khu vực quân Pháp tập kết 300 ngày để rút khỏi miền Bắc. Đây cũng là nơi cuối cùng của miền Bắc được giải phóng.
Hạ Lũng là một làng trồng rau màu và hoa ở ngoại ô. Sớm sớm, người làng mang rau củ, hoa trái vào bán trong phố. Đôi mắt giăng mây, cụ Chuyên chậm rãi kể: “Hôm đó bán hết gánh hàng hoa, tôi quảy quang gánh đi vào cửa hàng tạp hóa gần chợ Sắt để mua kim chỉ, nhòm vào gian trong thấy treo bốn bức ảnh đã đóng sẵn trong khung kính. Ảnh chụp một ông cụ, mắt sáng, mũi thẳng, miệng rộng, tai to, nét nào ra nét ấy, đẹp quá.

Thấy tôi cứ ngẩn ra nhìn, người bán hàng bảo đấy là ông Chủ tịch nước. Hồi ấy đã nghe nói nhiều về ông Hồ rồi, dân tình đồn đại là ông đang kéo quân về đây đuổi giặc Pháp đi, nước mình sẽ tự làm chủ, thế là tôi mừng quá lấy hết tiền bán hoa ra đòi mua bức ảnh to nhất. Hồi ấy vẫn tiêu bằng tiền “gánh dưa”, tức đồng tiền Đông Dương có in hình người gánh dưa, lâu ngày quá không nhớ là bao nhiêu nhưng cũng gần hết số tiền tôi bán gánh hoa hôm ấy. Người bán hàng giúp tôi bọc kỹ bức ảnh, khuyên nên lấy cái nón đậy lên trên kẻo bị chú ý.
Bấy giờ, lính Tây, mật thám và người của các đảng phái phản động nhan nhản, tôi cũng lo lắm, sợ nhỡ nó phát hiện ảnh Cụ Hồ mà tịch thu mất. May sao, đận ấy chúng đang dồn dịch người ra mấy cái tàu “há mồm” cuối cùng đỗ ngoài cửa biển để vào Nam, tôi đi thoát về nhà. Ông nhà tôi bảo: “Sắp qua 300 ngày, Pháp chuẩn bị rút hết rồi, để tôi treo lên mái nhà, chỗ cái tràng kỷ tiếp khách này cho mọi người biết Cụ Hồ”.

“Đó là bức ảnh Bác Hồ duy nhất ở làng lúc ấy nên người ta đến xem đông lắm – bà Chuyên nhớ lại – Ai cũng trầm trồ thán phục vì danh tiếng ông cụ lúc ấy đã vang trong dân từ lâu. Hôm 19-5-1955, cả nhà tôi lên phố dự mittinh ở quảng trường Nhà hát lớn để mừng thành phố quê hương giải phóng. Người ta bảo “Hôm nay là sinh nhật Cụ Hồ”. Cái hôm cụ về Hải Phòng lần thứ hai vào mùng 2-6-1955, tôi đang bán hoa ở bờ sông Lấp, nom rõ ôtô chở cụ chạy chầm chậm qua. Ông cụ giống y trong bức ảnh treo ở nhà tôi. Dân mình đổ ra đón đông lắm, hàng vạn người tập trung hai bên đường vỗ tay, reo hò”.

Dưới mái ngói cổ kính của ngôi nhà gỗ có tuổi đời hơn một thế kỷ đã diễn ra bao biến cố nhưng bức ảnh luôn được gìn giữ cẩn thận, treo trang trọng trên cao giữa gian phòng khách. Năm 1968, cơn bão số 7 cấp 12 quét qua làng, nhà bay hết ngói, may sao tấm ảnh với cái khung bằng gỗ thông dầu vẫn nguyên vẹn. Rồi năm 2009, khi ngôi nhà đã xuống cấp phải dỡ ra làm lại, bà Chuyên sai con cháu bọc cất bức ảnh cẩn thận để khi nhà làm xong lại đem tấm ảnh treo đúng chỗ cũ.
Sau hơn nửa thế kỷ, bức ảnh hầu như không thay đổi, vẫn khung gỗ thông lên nước đen bóng, mặt kính vẫn trong veo như ngày mới mua về khiến chân dung Cụ Hồ hiện sáng rõ từng đường nét. Hỏi vì sao giữ bức ảnh Cụ Hồ được lâu đến thế, bà Chuyên chỉ trả lời giản dị: “Cụ Hồ vì dân vì nước, ai nhìn ảnh cũng thấy đẹp thì tại sao lại không treo, không giữ”. Rồi bà nhắc con cháu cẩn thận khi bắc thang lấy ảnh xuống cho chúng tôi chụp lại…

Theo bà Chu Ngọc Lan – Trưởng phòng Kiểm kê – Bảo quản, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đây là bức ảnh được nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp năm 1950. Tuy nhiên, Bảo tàng không có thông tin về việc ảnh được in ấn ở đâu, phát hành như thế nào…

NGUYÊN NHUNG
Theo tuoitre.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn

Chuyện pho tượng đồng Bác Hồ đầu tiên ở Thanh Hoá

Một năm sau ngày Bác Hồ mất, bức tượng Bác bằng đồng đầu tiên do các nghệ nhân làng Chè Đông, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa đúc đã ra khuôn trong niềm vui của hàng nghìn người.

>> Tình yêu thương làm thay đổi đời người

Ông Lê Văn Du bên tượng đồng Bác Hồ đầu tiên đúc tại Thanh Hóa năm 1970.

Sau khi tạc chân dung Bác, các nghệ nhân bắt tay vào làm khuôn đúc. Khâu này đòi hỏi kỹ thuật khá cao, họ phải mất nhiều thời gian và công sức. Vì lòng tôn kính với lãnh tụ nên nghệ nhân nào cũng cố gắng làm cẩn thận và hoàn chỉnh từng chi tiết. Xong khuôn là đến khâu chuẩn bị đồng đúc. Để có đủ đồng nguyên liệu, xã Thiệu Trung phát động phong trào quyên góp đồng. Phong trào vừa được phát động, người dân đã ùn ùn tới ủng hộ. Người chiếc bát, cái nồi, người thì mang đến chiếc mâm… chẳng bao lâu, lượng đồng đúc tượng Bác đã đủ, thậm chí còn dư khá nhiều.

Ngày 6/6/1970, mới mờ sáng, nhân dân trong xã từ già đến trẻ và cả người ở các địa phương khác cũng tập trung tai sân hợp tác xã Thiệu Trung háo hức xem đúc tượng Bác Hồ. Không ai bảo ai, mọi người cùng tiến vào thắp hương cho ông tổ đúc đồng Khổng Minh Không, với mong muốn ngài phù hộ cho buổi đúc được suôn sẻ. Khoảng 8-9 h, tất cả thợ đúc vào vị trí. 24 lò nấu đồng được huy động cùng một lúc nổi lửa. Mỗi lò có hai người thổi bễ, một người bỏ đồng vào lò, mỗi bễ nấu khoảng 40 kg đồng. Hơn một tiếng đồng hồ, đồng nóng chảy, các nghệ nhân gạt xỉ nổi lên bề mặt. Sau đó, theo sự phân công của người thợ cả, đồng ở 24 lò được phối hợp liên hoàn, rót vào cho đến khi đầy khuôn đúc.

Trong khoảng 24 giờ, tượng Bác Hồ vẫn được để trong khuôn. Sáng hôm sau, khuôn mới được tháo dỡ, làm sạch đất. Tiếng hò reo của đám đông vang lên như ngày hội. Lúc này, các nghệ nhân phụ trách đúc tượng mới thở phào nhẹ nhỏm. Pho tượng tiếp tục được họ gọt giũa để hoàn thiện. Sau đó, xã Thiệu Trung tổ chức cho các đội viên Thiếu niên Tiền phong căng cờ, biểu ngữ, rước tượng Bác từ sân hợp tác xã lên để ở hội trường UBND huyện Thiệu Hóa, với mong muốn Bác tiếp tục đưa đường, chỉ lối cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.

Theo ông Trương Trọng Huy, Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung, đây là bức tượng đồng Bác Hồ đầu tiên được đúc ở Thanh Hóa sau ngày Bác mất. Mới đây, nhân kỷ niệm sinh nhật Bác, xã đã mượn lại pho tượng để nhờ các nghệ nhân làng Chè Đông làm một phiên bản, đặt ở hội trường UBND xã, và coi đây là tấm lòng thành kính đối với vị cha già của dân tộc Việt Nam.

Văn Thanh

baodatviet.vn

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Ðền thờ Bác Hồ ở Pác Bó

Có một ngôi đền thờ Bác Hồ mới được khánh thành ngày 19-5-2011, theo tôi, cũng là một ngôi đền thờ Bác Hồ hết sức độc đáo. Ðó là đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng.

Lịch sử đã ghi lại, vào buổi sáng ngày 28-1-1941, từ Trung Quốc, Bác Hồ đã bí mật về nước. Ðiểm dừng chân đầu tiên của Người là cột mốc 108, sau tròn 30 năm bôn ba nơi xứ lạ quê người tìm đường cứu nước. Và hang Cốc Bó, một hang đá lạnh lẽo cách rất gần cột mốc 108 đã được chọn làm nơi tá túc, một “đại bản doanh” của cách mạng với một người duy nhất vừa “Tổng chỉ huy” vừa “lính” là Bác Hồ.

Bác Hồ đã ở trong hang Cốc Bó khoảng hai tháng. Tháng Giêng tháng Hai, khí hậu ở Cao Bằng rất lạnh, hang Cốc Bó dĩ nhiên còn lạnh lẽo hơn bội phần. Năm 1979, hang Cốc Bó đã bị quân xâm lược dùng chất nổ phá toang miệng hang, nhưng lòng hang vẫn còn nguyên vẹn. Người viết bài này đã từng đứng trên miệng hang, vào năm 2003, để nghe và nhìn những giọt nước lạnh rỏ tí tách từ các thạch nhũ xuống lòng hang, nơi Bác Hồ của chúng ta đã nằm ngủ trong những đêm rét mướt. Năm 2011, khi trở lại thăm hang Cốc Bó, thì đường lên miệng hang đã bị chặn lại vì một lý do “nhạy cảm” nào đó, nên khách du lịch không có cảm giác thật sự về cái lạnh trong lòng hang khi được nghe và nhìn những giọt nước lạnh từ trần hang rỏ xuống.

Những sự nghiệp lớn thường bắt đầu từ hành trình gian khổ. Vinh dự cho Pác Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Miệng Nguồn”), khi địa danh này được coi là một “cột mốc khởi đầu” cho cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945. Thử nghĩ xem, nếu vào một ngày đầu năm 1941, Bác Hồ không về nước và ở hang Cốc Bó (tiếng Tày có nghĩa là “Hang Nguồn”), thì công cuộc vận động cách mạng chống thực dân Pháp sẽ như thế nào? Tình cờ chăng, khi một địa danh có lẽ khá vô danh như hang Cốc Bó lại trở thành một điểm sáng của lịch sử Việt Nam hiện đại? Nhưng với những ai đã từng đến thăm hang Cốc Bó, họ đều có chung nhận xét, đây không hề là chuyện tình cờ. Hình suối và thế núi ở Pác Bó có một vẻ gì thật đặc biệt, nó vừa khuất vừa mở, vừa kín vừa thông, dễ tiến dễ thoái, và một người có tầm nhìn xa rộng như Bác Hồ khi chọn địa danh này cho công cuộc dựng cờ khởi nghiệp, thì đó là sự lựa chọn sáng suốt và thực tế của một nhà quân sự và một nhà chính trị.

Trên đường vào trung tâm khu di tích Pác Bó, du khách đi sát qua một ngọn đồi có tên “Pò Tếng Chấy”, ngọn đồi có suối Lê-nin bao bọc ba bề, đứng trên ngọn đồi này nhìn về phía nam, tầm mắt chợt mở ra bát ngát.

Tỉnh Cao Bằng đã chọn đỉnh ngọn đồi ấy, ngọn đồi có tên là “Pò Tếng Chấy”, để làm nơi xây dựng đền thờ Bác Hồ. Chữ “Pò” ở đây có nghĩa là “đồi” là “ngọn đồi”, còn “Tếng Chấy” là gì thì tôi đã hỏi một số người dân địa phương, nhưng không ai biết nghĩa. Thôi thì cứ tạm gọi là đồi “Tếng Chấy” vậy. Bây giờ Bác Hồ đã hiển thánh, thì sự hiển thánh của Người cũng vô cùng giản dị, như chính đời sống của Người. Vì thế, đền thờ Bác Hồ được xây trên đỉnh ngọn đồi mang cái tên mộc mạc “Pò Tếng Chấy” cũng thật thú vị, nó đúng như phong cách sống của Bác lúc sinh thời.

Ðược thiết kế cách điệu từ hình dáng một ngôi nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Pác Bó, đền thờ Bác Hồ không khiến người đến viếng phải choáng ngợp vì sự đồ sộ hay hình thức tân kỳ, mà có cảm giác ấm áp như đang đến với một ngôi nhà sàn bình dị bên trong có ngọn lửa bếp cháy rực suốt ngày đêm.

Không lặp lại mẫu kiến trúc ở các công trình tương tự trong cả nước, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó thanh thoát trong hình thể và uy nghi như một nơi tụ khí, vừa ung dung như một đài quan sát cho ta mở tầm mắt, lại vừa thân thiện gần gũi trước cảnh quan sông núi và cánh đồng lúa gieo của đồng bào dân tộc Nùng dưới chân đồi. Xây dựng và hoàn thành chỉ trong vòng một năm, từ 19-5-2010 đến 19-5-2011, đền thờ Bác Hồ ở Pác Bó vẫn kịp tỏa lên vẻ thiêng liêng và bình dị, cứ như ngôi đền đã tọa lạc trên ngọn đồi “Pò Tếng Chấy” này từ lâu lắm.

Quay về hướng nam, đền thờ Bác Hồ như gợi nhớ tấm lòng yêu thương vô hạn của Người đối với đồng bào miền Nam ngày đất nước còn phải chịu nỗi đau chia cắt. Bây giờ, đất nước đã liền một dải, thì “phương Nam” đây chính là “Nam quốc sơn hà” vậy! Bên trong đền thờ, đặt nơi trang trọng nhất ở gian chính điện là một bức tượng toàn thân Bác Hồ với dáng ngồi thanh thản. Trên cao nhất là bức hoành phi khắc bốn chữ “Hồng nhật cao minh” được mạ vàng trang trọng. Bên tả bức tượng khắc bài thơ bốn câu của Bác Hồ: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Ðây suối Lênin, kia núi Mác/ Hai tay xây dựng một sơn hà/”. Nhà thơ Trần Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng nói với tôi: “Anh nhìn kỹ xem, bức tượng Bác Hồ này rất có thần phải không? Dường như khí thiêng sông núi ở Pác Bó đã tụ cả vào bức tượng đồng này, khiến tôi mỗi lần chiêm ngắm lại một lần ngạc nhiên”. Ðúng là bức tượng Bác Hồ ở đền thờ này kỳ lạ thật, khiến ta có cảm giác an tĩnh khi chiêm ngắm, nhưng lại dấy lên trong ta một nỗi bồi hồi nào đó, vừa theo cách một tác phẩm nghệ thuật tác động tới người xem, vừa mang vẻ thiêng liêng thu hút ta như một bức tượng thánh.

Anh Trần Hùng kể, thời gian xây dựng đền thờ Bác Hồ, lúc đó anh đang là Giám đốc Sở VH, TT&DL, anh đã được lãnh đạo tỉnh cử lên hiện trường với công nhân suốt hai tháng cuối cùng, khi công trình sắp “về đích”. Ðó là thời gian cường độ lao động ở công trình là cao nhất, kỹ sư và công nhân phải làm cả ba ca. “Ðó là niềm vinh dự, một cơ may đã cho tôi được cùng góp sức nhỏ bé của mình vào công trình này anh ạ!”.

Có một chi tiết khiến tôi cảm động, đó là chiếc bàn nhỏ đặt ở góc đền thờ tiếp nhận những công đức của người đến viếng. Khi tôi và mấy người bạn xin được góp chút lòng thành, thì cô gái người Nùng là nhân viên bảo tàng đã cẩn thận ghi họ tên người cung hiến công đức trên tấm giấy hoa in sẵn rất đẹp và trao cho chúng tôi như một ghi nhận. Và như một món quà kỷ niệm./.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

50 năm Bác Hồ với Đá Chông Niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Tỉnh Hà tây

Đ/c Lại Hồng Khánh - Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây tại hội thảo - ảnh Nguyễn Ngọc Hà

Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hôm nay tại K9 – Đá Chông, huyện Ba Vì, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Khu Di tích Đá Chông” nhằm khẳng định giá trị văn hoá lịch sử của Khu Di tích, chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng về cuộc Hội thảo này do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng tổ chức.

Bởi vì địa danh K9 Đá chông, cách đây 50 năm Bác Hồ đã đến thăm và xem xét khu vực núi Đá Chông, để rồi sau đó Đá Chông mang mật danh “Công trường 5”, mật danh “K9” nơi nghỉ và làm việc của Bác Hồ và Trung ương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác những năm 1969 – 1975. Chúng tôi cho rằng cuộc Hội thảo hôm nay còn có thêm một ý nghĩa khác, đó là chúng ta kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về thăm và khảo sát khu vực núi Đá Chông trên địa phận xã Minh Quang, huyện Bất Bạt ngày trước. Với những thực tế đó tại cuộc Hội thảo này Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà tây chúng tôi phát biểu với nội dung: 50 năm Bác Hồ với Đá Chông niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây.

Bác Hồ với Đá Chông là một mảng đề tài nghiên cứu trong toàn bộ chương trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn về Bác Hồ với Hà Tây trong công tác lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây. Sau khi Bác Hồ qua đời, từ năm 1969 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Tây đã chỉ đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng sau đó là Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tiến hành sưu tầm nghiên cứu và biên soạn những tư liệu Bác Hồ ở Hà Tây. Cho đến nay đã 4 lần Tỉnh uỷ chúng tôi cho xuất bản sách Bác Hồ ở vào thời điểm của các năm 1973; 1980; 1990 và năm 2006. Mỗi lần xuất bản sách Bác Hồ, chúng tôi lại hoàn thiện thêm những tư liệu và Bác. Song cả 3 lần xuất bản sách Bác Hồ trước đó Tỉnh uỷ chúng tôi vẫn chưa được phép công bố những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông. Riêng những sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông sau khi Bác mất, vào những năm 1969 – 1972, trong những việc sưu tầm, xác minh được một số thời điểm Bác Hồ đến Đá Chông vào các năm 1957, 1958, 1959. Bởi vì các sự kiện này liên quan đến các sự kiện: Cuối năm 1956 Bác Hồ tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT do Liên Xô sản xuất, vì Hà Tây có thành tích đóng góp xây dựng một số công trình ở “Công trường 5”. Chiếc xe ô tô đó mang biển số BAA – 257. Tỉnh uỷ giao cho đồng chí Xuân Trường Bí thư Tỉnh uỷ sử dụng.

Năm 1999 Trung ương chính thức công bố cho phép tham quan rộng rãi địa danh K9 – Đá Chông. Điều này đã tạo cho Hà Tây có điều kiện hoàn thiện thêm những tư liệu về Bác Hồ với K9 – Đá Chông ở Huyện Ba Vì . Với sự giúp đỡ của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 2006 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã cho xuất bản cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”. Cuốn sách có 5 mục, trong đó mục II cuốn sách, Tỉnh uỷ Hà Tây công bố 61 lần Bác Hồ về thăm, về ở và làm việc tại Hà Tây. Với địa danh Đá Chông chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về thăm.

Công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây có những cơ sở của cả một quá trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn những cuốn sách về Bác Hồ. Trước hết, chúng tôi dựa vào các tài liệu do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trước đây sau đó là Phòng lịch sử Đảng, ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ sưu tầm bổ sung và dựa vào kết quả hai buổi gặp mặt nhân chứng lịch sử về Di tích K9 Đá Chông do Bảo tàng Hồ Chí Minh chủ trì. Bên cạnh đó chúng tôi còn dựa vào kết quả cuộc Hội thảo “Bác Hồ với Ba Vì” do Ban tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì trước đây tổ chức. Riêng hai cuộc gặp mặt nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội ngày 19/4 và ở Đá Chông ngày 1/7/2006 chúng tôi rất chú ý đến ý kiến phát biểu của 2 đồng chí Cù Văn Chước và Nguyễn Văn Mùi. Đặc biệt là ý kiến của đồng chí Nguyễn Văn Mùi, nguyên là lái xe của Phủ Chủ tịch đã từng đưa Bác Hồ lên K9. Ý kiến của đồng chí Mùi là: “Trước khi xây nhà ở trên đó, Bác có đi vài lần” và đồng chí kết luận “Bác lên K9 không quá 10 lần”. Phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn Mùi đã phù hợp với kết quả khâu nối giữa 2 nguồn tư liệu: Một phần của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh trước đây và kết quả cuộc gặp mặt các nhân chứng lịch sử do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức.

Hà Tây là địa phương được Bác Hồ về thăm, về và làm việc nhiều lần. Đây là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Tây, trong đó K9 – Đá Chông lại là Khu căn cứ, là nơi bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác. Công tác sưu tầm biên soạn lịch sử Đảng của tỉnh Hà Tây được tiến hành từ năm 1963. Việc sưu tầm tư liệu về Bác Hồ, chúng tôi làm thường xuyên từ nhiều năm nay và kết hợp chặt chẽ với Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, chúng tôi công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông ở các thời điểm:

– Lần thứ nhất vào mùa hè năm 1957.

– Lần thứ hai vào sáng ngày 23/2/1958.

– Lần thứ ba vào buổi sáng ngày 20/6/1959.

– Lần thứ tư vào sáng mồng 1 Tết Canh Tý năm 1960.

– Lần thứ năm vào tháng 3/1961, Bác đưa Đại sứ Trung Quốc Hà Vỹ lên Đá Chông.

– Lần thứ sáu Bác đưa đoàn Bà Đặng Dĩnh Siêu lên Đá Chông vào ngày 13/3/1961.

– Lần thứ bảy Bác đưa đoàn của Anh hùng phi công vũ trụ Giéc man Ti Tốp lên ngày 24/01/1962.

– Lần thứ tám Bác lên Đá Chông ngày 19/5/1963.

– Lần thứ chín là ngày 20/9/1964, Bác cùng một số Uỷ viên Bộ Chính trị và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị lên K9 trao đổi về tình hình đất nước sau sự kiện ngày 5/8/1964.
Trong 9 lần đó có 6 lần được giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kết luận tại cuộc gặp mặt các nhân chứng ở Hà Nội vào ngày 19/4/2006. Ở đây tôi đi sâu vào sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào các thời điểm 1957; 1958; 1959 và Tết Canh Tý 1960. Bởi lẽ những sự kiện này liên quan mật thiết với việc Bác tặng cho Tỉnh uỷ Hà Tây chiếc xe ô tô GAT vào cuối năm 1965.

Đối với sự kiện Bác Hồ lên Đá Chông vào mùa hè năm 1957 đây là lần đầu tiên Bác Hồ lên Đá Chông. Bác lên Đá Chông lần này là để khảo sát, xem xét địa bàn núi Đá Chông, sau khi có báo cáo của Tỉnh uỷ Sơn Tây, lúc đó đồng chí Nguyễn Xuân Trường làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Bác lên Đá Chông lần này rất bí mật. Bởi lẽ ai cũng biết: Tháng 8/1956 đất nước ta không có Tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc, sự nghiệp đấu tranh giải phóng Miền Nam và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược sẽ rất gay go, ác liệt. Cuối năm 1956 Trung ương đã giao cho Sơn Tây tìm một địa điểm “Có núi, có sông, có rừng cây che phủ, gần đồng bào” với lý do để xây dựng nhà nghỉ. Thường trực Tỉnh uỷ Sơn Tây đã giao việc này cho Ty Công an và đồng chí Việt Tiến là Phó Ty Công an Sơn Tây thực hiện. Đồng chí tìm mãi và cuối cùng quyết định chọn địa điểm Đá Chông, sau đó trao đổi với đồng chí Tùng rồi mới Báo cáo với Bác, chính vì vậy mùa hè năm 1957 cách đây 50 năm Bác Hồ đã lên khảo sát, xem xét khu vực núi Đá Chông. Khi Bác lên đồng chí Việt Tiến ở phía xóm Bu đi ra và chờ Bác, Bác hỏi:

Chú làm gì ở đây?

Đồng chí Việt Tiến trả lời: Thưa Bác cháu dạy học

Bác nói: Dạy học sao lại đứng ở đây?

Đồng chí Việt Tiến đáp: Thưa Bác cháu dạy buổi chiều. Nói như vậy chính thực hôm đó Công an Sơn Tây có làm nhiệm vụ bảo vệ.

Bác xem xét địa điểm, phong cảnh và nghỉ trưa ở Đá Chông.
Về sự kiện Bác cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm Đá Chông vào sáng 23/2/1958 cũng được Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trước đây ghi nhớ do khi sưu tầm tài liệu sự kiện chiều ngày 23/2/1958 Bác Hồ về thị xã Sơn Tây thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ tỉnh đang học tập 2 văn kiện: Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân 65 nước họp ở Matxcơva (11/1957). Chính khi sưu tầm tư liệu Bác về thăm và nói chuyện với Hội nghị cán bộ ở Sơn Tây mà lãnh đạo Ban chúng tôi có biết đến việc đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Bác Hồ lên Đá Chông vào buổi sáng.

Sự kiện sáng ngày 20/6/1959, Bác Hồ lên lúc đó các công trình ở đây đang thi công và được mang mật danh “Công trường 5”. Chiều hôm 20/6/1959, Bác về thăm và nói chuyện với hơn 2000 đồng bào huyện Quốc Oai đang làm việc trên công trường đê Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ. Đối với sự kiện này báo tin Sơn Tây số ra 281 ngày 23/6/1959 đã đăng tin và bài nói chuyện của Bác. Khi chúng tôi tìm gặp đồng chí Việt Tiến, đồng chí đã kể lại được các đồng chí cùng đi với Bác nói là rất có thể lúc về Bác sẽ ghé vào thăm đê Ngọc Tảo và ở đây nhân dân đang đắp đê đông lắm. Chỗ nào thấy nhân dân lao động vui Bác thường hay dừng lại thăm hỏi, các anh em nên chuẩn bị trước.

Nhận được tin đó đồng chí Việt Tiến đã báo tin với Tỉnh chuẩn bị micro nếu Bác xuống thăm, quả nhiên buổi chiều ngày 20/6/1959 Bác Hồ vào thăm và nói chuyện với đồng bào Quốc Oai đang đắp đê vừa hết một tiếng đồng hồ. Kết thúc buổi nói chuyện Bác bắt nhịp hát bài “Kết đoàn”. Chính do việc tìm nhân chứng sống kể về sự kiện Bác Hồ thăm đê Ngọc Tảo buổi chiều ngày 20/6/1959 mà lãnh đạo Ban nghiên cứu lịch sử Đảng lúc đó đã biết được buổi sáng Bác về thăm “Công trường 5”.

Về sự kiện ngày mồng một Tết Canh Tý năm 1960, trước hết chúng tôi căn cứ vào cuộc trao đổi của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Ba Vì và cuộc toạ đàm ngày 01/7/2006 do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức vào sổ ghi nhật ký của đồng chí Đỗ Viết Nam, nguyên là Tiểu đội trưởng cảnh vệ ở K9. Điều chúng tôi rất lý thú là những ý kiến về Bác lên Đá Chông sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960 trong 2 cuộc toạ đàm của huyện Ba Vì và Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức lại trùng với ý kiến của đồng chí Nguyễn Xuân Trường cách đây 15 – 16 năm.

Đồng chí Nguyễn Xuân Trường, nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ Sơn Tây 1954 – 1960, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông 1961 – 1965, Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tây 1965 – 1976. Một đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ ở cả 2 thời kỳ khi còn là 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, khi đã hợp nhất thành tỉnh Hà Tây có vinh dự và đi cùng và chứng kiến nhiều lần khi Bác Hồ về thăm và làm việc ở Hà Tây. Năm 1991 đồng chí Xuân Trường về hưu, hàng tuần thường đi bộ sang Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đọc các loại tài liệu. Khi ngồi nói chuyện về cuốn sách “Bác Hồ với Hà Sơn Bình” xuất bản năm 1990, đồng chí Xuân Trường có nói đến các sự kiện Bác Hồ ở Đá Chông nhưng do ở K9 Trung ương chưa cho công bố nên trước đây các đồng chí thường trực Tỉnh uỷ chỉ đạo các đồng chí không được nói, không được biên soạn. đồng chí Xuân Trường có nhắc đến sự kiện sáng mồng một Tết Canh Tý năm 1960. Tuy đồng chí không đi cùng với Bác hôm đó nhưng Công an tỉnh có đi bí mật, phần lớn công nhân tham gia xây dựng ở khu quan trọng của “Công trường 5” là người miền Nam nên Bác đã chúc Tết động viên.

Trong việc nghiên cứu Bác Hồ với Hà Tây, từ khi tách tỉnh Hà Sơn Bình, chúng tôi phân thành 4 mảng đề tài:

Mảng thứ nhất là sưu tầm nghiên cứu về các sự kiện của Bác ở Hà Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Về mảng này chúng tôi mở đầu kể từ khi quân đội Pháp nổ súng tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn cho đến 3/3/1947, Bác Hồ rời động Hoàng Xá (Quốc Oai) lên chiến khu Việt Bắc.

Mảng thứ 2 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác về Đá Chông kể từ cuối năm 1956 – 1969.

Mảng thứ 3 là sưu tầm nghiên cứu những tư liệu về Bác với Đảng bộ và nhân dân Hà Tây kể từ sau Cách mạng Tháng 8/1945 đến khi Bác qua đời.

Mảng thứ 4 là sưu tầm nghiên cứu các sự kiện Bác Hồ đến thăm các đơn vị Quân đội, Công an đóng trên địa bàn tỉnh.

Tất cả 4 mảng đề tài đó, duy chỉ có mảng sưu tầm nghiên cứu những tư liệu Bác Hồ về Đá Chông là kéo dài nhất, thầm lặng nhất do chúng ta phải chờ đợi vào thời gian Trung ương cho công bố công khai địa danh K9, chính vì vậy những sự kiện Bác Hồ về Đá Chông mà Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây công bố trong cuốn sách “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản năm 2006, theo chúng tôi đó là sự tổng hoà giữa việc sưu tầm khai thác tư liệu của ngành lịch sử Đảng tỉnh Hà Tây kể tù năm 1969 với việc gặp gỡ các nhân chứng do Bảo tàng Hồ Chí Minh và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tổ chức; đồng thời còn là sự kết hợp giữa nhật ký công tác và ảnh tư liệu của những người tham gia công tác ở Đá Chông hoặc từng đến thăm Đá Chông, cũng như có lần đồng chí Vũ Kỳ đến làm việc riêng với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Hà Sơn Bình về Bác Hồ lên Đá Chông.

Với những cơ sở như vậy năm 2006 khi tiến hành sưu tầm tư liệu bổ sung và biên soạn cuốn “Bác Hồ với Hà Tây”, chúng tôi đã công bố 9 lần Bác Hồ về Đá Chông trong đó có phần Bác tặng thưởng chiếc ô tô GAT vào cuối năm 1965. Vì vậy tại cuộc Hội thảo này chúng tôi muốn trình bày những cơ sở đó mà trước đây bộ phận nghiên cứu – sưu tầm – biên soạn lịch sử Đảng của Đảng bộ tỉnh đã biết để các đồng chí hiểu thêm về quá trình Tỉnh uỷ Hà Tây chỉ đạo toàn bộ việc sưu tầm – biên soạn các sự kiện Bác Hồ về Hà Tây trong đó có sự kiện Bác đến Đá Chông.

Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng ta vừa kỷ niệm 117 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa kỷ niệm 50 năm Bác Hồ lên Đá Chông xem xét và khảo sát địa bàn. Những lần Bác Hồ lên Đá Chông cũng như việc Bộ Chính trị , Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chọn K9 – Đá Chông làm nơi bảo vệ giữ gìn thi hài Bác đã cải tạo cho Đá Chông ngày hôm nay trở thành Khu Di tích lịch sử văn hoá của cả nước, có giá trị to lớn trong việc tuyên truyền truyền thống cách mạng, học tập đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Hội thảo hôm nay với các bài tham luận đứng ở các góc độ khác nhau, để bàn luận xoay quanh chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với khu Di tích Đá Chông” đã giúp chúng tôi thêm nhiều vấn đề cùng nhau trao đổi sâu hơn những sử liệu về Bác ở Đá Chông, giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mảng đề tài “Bác Hồ với Đá Chông” mà chúng tôi đã in trong cuốn “Bác Hồ với Hà Tây” xuất bản cuối năm 2006. Cuộc Hội thảo này đã giúp chúng tôi sưu tầm và xác minh để xuất bản cuốn sách về Bác Hồ trong những năm qua để sau này tiếp tục hoàn thiện ở những lần tái bản sau.

Bài Lại Hồng Khánh
Uỷ viên Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Hà Tây

bqllang.gov.vn

Kỷ vật của Bác Hồ: Chiếc thước kẻ “Suy nghĩ kỹ”

(PL&XH) – Hôm ấy là ngày 16-7-1969. Bác đã yếu nhiều… Lúc chia tay Bác để hôm sau về Nam Định thì tôi nhận được mẩu giấy của anh Vũ Kỳ, hẹn 10g sáng hôm sau có mặt ở cổng Đỏ. Hôm sau khi đến nơi thì tôi được anh Kỳ thông báo: Bác mời ăn cơm trưa…

Từ nhà ăn, tôi theo Bác và anh Vũ Kỳ đến thăm Nhà sàn – nơi Bác nghỉ và làm việc. Khi tới bàn làm việc, Bác dừng lại và cầm cái thước gỗ ngắn lên, nói “Khi sang Châu Âu, tình cờ Bác nhặt được thanh gỗ, Bác sửa thành chiếc thước này đấy. Bác tặng cháu nhé”. Cây thước ấy chính là cây thước này, hôm nay tôi trân trọng mang đến tặng lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Trên cây thước có ghi 3 chữ SNK do chính tay Bác viết. Bác giải thích đó là chữ viết tắt của 3 chữ “Suy nghĩ kỹ”.

Tôi đã giữ chiếc thước này suốt mấy chục năm nay và mỗi khi dự định làm một việc gì quan trọng, tôi đều nhớ đến dòng chữ của Bác ghi trên thước, như nhớ một lời dạy, một phương châm sống.

Đó là những lời tâm sự đầy xúc động của Nghệ sĩ chèo Nguyễn Thị Kim Liên (người đã 3 lần được gặp Bác Hồ và được ăn cơm cùng Bác) tại buổi tiếp nhận tài liệu, hiện vật về Bác Hồ cho Bảo tàng Hồ Chí Minh cuối tháng 8 vừa qua.

Theo hồi tưởng của NSƯT Kim Liên, mặc dù thời gian của những lần gặp Bác đã trôi qua hơn 40 năm nhưng mỗi khi nhắc đến vẫn khiến bà không khỏi xúc động, rưng rưng.

Lần đầu tiên là vào năm 1963, khi biểu diễn trên sân khấu ở TP Nam Định, bà đóng vai cô Tâm – vai chính trong vở kịch “Chị Tâm Bến Cốc” của tác giả Tào Mạt. Kết thúc vở diễn, Bác lên sân khấu tặng một bó hoa tươi và nói: “Cô Tâm múa dẻo, hát hay. Cháu cố gắng học tập, làm được như cô Tâm nhé!”. Lần thứ 2 là tháng 12-1968, Đoàn chèo Nam Định lên Hà Nội biểu diễn vở “Trần Quốc Toản ra quân”. Anh chị em đang nghỉ ở nhà khách thì anh Vũ Kỳ đến cho biết sẽ đón bốn nữ diễn viên tiêu biểu vào thăm Bác, được nghe Bác trò chuyện. Trong số đó có Nghệ sĩ Kim Liên.

Và lần thứ 3, bà được cử theo Đoàn các nghệ sĩ Việt Nam sang Pháp biểu diễn. Khi về, bà được bình chọn là 1 trong 6 nghệ sĩ xuất sắc được Bác Hồ gắn Huy hiệu của Người. Chính trong lần đó, bà đã được Bác mời cơm, tặng cho chiếc thước kẻ quý giá này.

Cùng với chiếc thước kẻ gỗ mộc mạc, đơn sơ mà vô cùng quý giá còn có rất nhiều hiện vật khác được mọi người hiến tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh. Đó là những bức thư tay, bản gốc có chữ ký của Bác Hồ được gửi từ Trung Quốc cho đồng chí Tô (Phạm Văn Đồng) vào ngày 19-11-1967; thư của Bác gửi đồng chí Lê Văn Lương, ngày 23-2-1968 và ngày 28-2-1968… được bà Nguyễn Thị Bích Thuận, Đại tá, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Cảnh vệ (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ), Bộ Công An và cũng là phu nhân của đồng chí Lê Văn Lương trao tặng lại. Hoặc là khẩu súng More 707271 Bác Hồ tặng bà Trần Thị Ngô, vợ ông Phạm Kiệt, nay gia đình cũng tặng cho Bảo tàng để thêm vào bộ sưu tập hiện vật liên quan đến cuộc đời và quá trình hoạt động của Hồ Chủ tịch.

Trong cuốn hồi ký mang tên “Ký ức thời gian”, bà Nguyễn Thị Bích Thuận đã kể về những ngày tháng được làm việc bên cạnh Bác và được Bác dạy cho nhiều điều, không chỉ trong hoạt động cách mạng mà cả trong cuộc sống với con cái, gia đình, với đồng chí, đồng bào. Qua mỗi trang hồi ký của bà Thuận, hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, quan tâm, yêu thương đồng chí, đồng bào đều được hiện lên rõ rệt.

Trong số những hiện vật này còn phải kể đến cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” của nhà văn Hellmut Kapfenberger, người Đức viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách được xuất bản tại Đức vào năm 2009. Đây là một trong những cuốn sách của các nhà văn nước ngoài viết về Người. Qua cuốn sách, tác giả người Đức đã khẳng định “Hồ Chí Minh là một con người mà không một cá nhân có ý thức nào đã từng sống trong nửa trước của thế kỷ lại có thể quên được…

Bức ảnh Bác Hồ tặng bà Nguyễn Thị Dung, cán bộ Bình dân học vụ có thành tích diệt giặc dốt

Một hiện vật nữa là bức phù điêu chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh của tác giả Gerhard Rommel (người Đức) gửi tặng Bảo tàng. Bức phù điêu được làm từ năm 1981, tác giả đã nhờ ông Hellmut Kapfenberger chuyển đến Việt Nam cùng lời nhắn nhủ: CHDC Đức (Đông Đức) trước đây đã có rất nhiều người đoàn kết trong phong trào ủng hộ Việt Nam. Chính vì thế, tôi đã mang món quà này đến trao tặng Bảo tàng để thể hiện tình cảm tốt đẹp của nhân dân Đức đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam.

Việc sưu tầm, tiếp nhận hiện vật về Bác vẫn được tiến hành nhằm bổ sung vào Bảo tàng, giúp thế hệ sau hiểu rõ thêm về con người vĩ đại, nhân cách trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Theo thống kê, năm 2010-2011, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã sưu tầm, tiếp nhận được 19 tài liệu, ảnh, hiện vật gốc, có giá trị; hơn 300 ảnh về hoạt động đối nội, đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; ghi hồi ký hơn 40 nhân chứng là các đồng chí lão thành cách mạng, đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Thịnh An
Theo http://www.phapluatxahoi.vn
Phương Thúy (st).

bqllang.gov.vn

Tượng đài và các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thế giới

Châu Mỹ:

*- Cu Ba:

1- Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô La Habana

2- Trường cấp II Hồ Chí Minh ở tỉnh Jarugo.

Trước đây là trường cấp II ở nông thôn Bainon (Esbec de Saihoa). Trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, ngày 23/3/1974, Chủ tịch Phidel Castro và đồng chí Phạm Văn Đồng đến thăm và chính thức khánh thành trường. Trong cuộc mít tinh trọng thể, Chủ tịch Phidel Castro đã quyết định trường mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ khi thành lập đến nay, trường là một trong hai cơ sở mạnh trong các hoạt động đoàn kết, hữu nghị với Việt Nam và là một trong hai cơ sở đầu tiên được Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Cu ba công nhận: Chi hội hữu nghị với Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trường thường xuyên tiến hành các đợt sinh hoạt tư tưởng, tổ chức hội thảo, hội nghị và các hoạt động chính trị văn hoá, thể thao… nhân các ngày lễ kỷ niệm lớn của Việt Nam, đặc biệt là nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

3- Trường cấp I Bác Hồ (Escuele Semi-internado Primaria Tio Hồ) ở Thủ đô La Habana. Trường thuộc quận Playa, Thủ đô La Habana.

Ngày 1/9/1976, theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba, Trường được thành lập và mang tên Bác Hồ để bày tỏ tình đoàn kết, hữu nghị của Cuba với nhân dân Việt Nam.

Châu Âu:

*- Cộng hoà Liên bang Nga:

1- Quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh tại Thủ đô Mátxcơva.

2- Đại lộ Hồ Chí Minh ở thành phố Ulianốpxcơ.

*- Hunggari:

1- Đài tưởng niệm Hồ Chí Minh tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách Thủ đô Budapest khoảng 220km.

*- Pháp:

1- Nhà số 9, ngõ Công Poanh (Compoint) quận 17, Paris.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở đây 20 tháng, từ 14/7/1921 đến 14/3/1923. Tại đây, Người tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và được bầu làm uỷ viên thường trực của Hội. Người đã khởi thảo Tuyên ngôn, Điều lệ và Lời kêu gọi. Đây là một tổ chức yêu nước và cách mạng có tổ chức và quy mô đầu tiên hoạt động hợp pháp ở Paris.

Người thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), cơ quan ngôn luận của Hội, vừa là người sáng lập, kiêm chủ bút, biên tập và phát hành báo. Nhờ công lao của Nguyễn Ái Quốc, tờ báo đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở các nước thuộc địa. Trong thời gian này, Người còn viết nhiều bài báo có tác động lớn, đả kích thực dân Pháp xâm lược và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Ngày 14/3/1923, Người rời nhà số 9 ngõ Công poanh, dọn đến số nhà 3 phố Mácsơ Đê Patơriacsơ, quận 5, Paris. Đây chính là nơi đặt trụ sở “Hội liên hiệp thuộc địa” và là toà soạn báo Le Paria..Năm 1983, Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đã gắn biển di tích.

Năm 1986, chủ sở hữu ngôi nhà phá bỏ nhà cũ để xây nhà mới 9 tầng. Những kỷ niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính quyền thành phố Môngtơrơi (Montreuil) đưa về trưng bày và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh” trong Bảo tàng Lịch sử Môngtơrơi.

Năm 2001, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và chính quyền thành phố Paris đã gắn lại biển di tích tại ngôi nhà số 9.

2- Bảo tàng Lịch sử sống Môngtơrơi.

Những kỷ vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ sống tại Pháp và đặc biệt là ở ngôi nhà số 9 ngõ Công Poanh được đưa về đây và dựng thành “Không gian Hồ Chí Minh”.

Ngày 19 tháng 5 năm 2005,chính quyền thành phố Môngtơrơi đã dựng tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay trong khuôn viên bảo tàng.

Châu Á:

*- Trung Quốc:

1- Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13a và 13b) đường Văn Minh.

Nơi đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước trong thời gian từ đầu 1926 đến 4/1927. Tầng dưới của ngôi nhà là cửa hàng bán tạp hoá. Lớp học và chỗ ở của các học viên ở tầng 3. Trước cửa nhà có gắn tấm biển đề “Chính trị đặc biệt huấn luyện Ban” bằng chữ Hán. Chính từ những bài giảng của Người, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức đã tập hợp lại và xuất bản thành cuốn “Đường Cách mệnh”, tác phẩm lý luận cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, được những nhà cách mạng Việt Nam cuối những năm 20 của thế kỷ XX coi là cuốn “cẩm nang, sách gối đầu giường của mình”.

2- Khách sạn Nam Dương ở Liễu Châu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở khách sạn này từ cuối năm 1943 đến 9/1944, sau khi ra khỏi nhà tù Quốc dân Đảng. Hiện nay, khách sạn là nhà số 2, đường Liễu Thạch, thành phố Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong thời gian ở đây, Người đã triển khai nhiều hoạt động cách mạng Việt Nam, như mở lớp học đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, tham dự Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (3-1944). Tại đây, Người cũng đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Liễu Châu, chắp nối liên lạc với Đảng ta, chuẩn bị điều kiện để trở về nước, tiếp tục lãnh đạo phong trào. Hiện nay, thành phố Liễu Châu đã dành cả tầng 1 và 2 phòng trên tầng 2 để trưng bày tái hiện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu và một số mốc chính trong quan hệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh…. Căn phòng Người đã ở và làm việc được trưng bày như nguyên gốc.
Ngôi nhà đã được gắn biển (Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh) năm 2001.

*- Ấn Độ:

1- Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tại công viên nằm giữa giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Giaoaháclan Nêru, ở thành phố Cancútta.

2- Tại Thủ đô Niu Đêli có một đại lộ mang tên Hồ Chí Minh

*- Thái Lan:

1- Nhà Hợp tác tại bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhonphanom.

Tháng 7 năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm (Thái Lan). Từ Băng Cốc, Người đã đi đến những nơi có Việt Kiều như Phì Chịt, Udon Thani, Sacon Nakhon… Khoảng cuối năm 1928, Người đến bản Mạy, thuộc tỉnh Nakhon Phanom. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín ở trong nhà ông Võ Trọng Đài. Ngôi nhà này ở phía sau mảnh đất của ông Huê Đạm và bà Nguyễn Thị Nuôi. Khi thấy ông Chín khuyên mọi người làm nhà đàng hoàng để làm nơi sinh hoạt, gọi là nhà Hợp tác thì vợ chồng ông Huê Đạm đã hiến mảnh đất ấy làm trụ sở Hội và làm nơi ở cho anh em độc thân. Những ngày xây dựng nhà Hợp tác, ông Chín tham gia tất cả các công việc, như đóng gạch, dựng nhà, lợp mái…

Nhà Hợp tác có ba gian, mỗi gian rộng khoảng 20m2. Mái lợp ngói gỗ, vách nhà thưng ván lá sách cả bốn phía. Cửa lớn, cửa nhỏ đều bằng gỗ, nền nhà lát gạch vuông do hội viên Hội hợp tác tự đóng lấy. Nhà ngăn đôi theo chiều dọc. Nửa nhà phía trước hoàn toàn để trống. Gian giữa đặt một bàn con, hai bên có vài chiếc ghế dài dùng để hội họp hoặc học tập. Nửa nhà phía sau, hai gian bên dùng làm phòng ngủ, có phản gỗ để nằm, có cửa sổ và hai cửa ra vào phòng. Các cháu học sinh ở lớp học bên nhà hàng xóm thường ra sân Hợp tác chơi, ông Chín cũng có lúc ra vui chơi với các cháu.

Những người ở đây phần lớn là những thanh niên yêu nước được đưa từ trong nước sang. Họ chỉ ở đây một thời gian, rồi bắt liên lạc đi Uđon, Phì Chịt… Dù chỉ ở trong thời gian ngắn, nhưng ho ăn mặc giống như người dân bản, tham gia lao động, xay thóc, giã gạo với bà con. Nhà Hợp tác ở bản Mạy thực sự trở thành trạm liên lạc, đưa đón những người Việt Nam yêu nước.

Trong thời gian ở đây, ông Chín đã động viên mọi người học tiếng Thái để hiểu phong tục, tập quán và được cư dân bản địa quý mến. Chính Người cũng nêu một tấm gương về tự học. Người còn chủ trương mở trường học cho trẻ em, dạy trẻ em chữ Việt để các em không quên gốc gác. Ông khuyên mọi người phải biết đoàn kết giữa người Việt với người Thái, người Việt với người Việt. Những điều ông Chín dạy đã trở thành bài học cho các thế hệ Việt kiều ở bản Mạy nói riêng và Việt kiều ở Thái Lan nói chung: Dù sống nơi đâu cũng luôn hướng về Tổ quốc và hết lòng đoàn kết hữu nghị với nhân dân nước bạn.

Tháng 1 năm 2004, Thủ tướng hai nước Việt Nam – Thái lan và các đại biểu dự Hội nghị liên Chính phủ Việt – Thái đã khai trương Làng Hữu nghị Việt – Thái ở bản Mạy, trong đó hạt nhân là di tích Nhà Hợp tác, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ở và làm việc.

Châu Phi:

*- Cộng hoà Mađagátxca:

– Quảng trường và tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antananarivô.

*- Cộng hoà nhân dân Ănggôla:

– Đại lộ Hồ Chí Minh tại Thủ đô Luanđa.

Theo Lamdong.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Lăng Bác Hồ, nơi toả sáng niềm tin

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là trách nhiệm, là tình cảm thiêng liêng sâu nặng của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau khi Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X và Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương phát động, Thường vụ Đảng uỷ Bộ Tư lệnh đã xác định: Đây là thời cơ lớn để giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ vừa “hồng”, vừa “chuyên”; đồng thời chủ động tham mưu, đề xuất phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng, đóng góp cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Cuộc vận động.

Lăng Bác là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của đồng bào và bầu bạn quốc tế. Hàng ngày trung bình có khoảng 10 ngàn l­ượt đến viếng Bác. Mỗi người đến viếng Bác với tâm trạng, suy nghĩ riêng, nh­ng đều thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn Người, “Về bên Bác lòng ta trong sáng hơn”. Để góp phần vào thành công chung của Cuộc vận động, đơn vị đã chủ động tham mưu, đề xuất với các cơ quan Đảng, Nhà n­ớc và Bộ Quốc phòng đẩy mạnh các hoạt động đón tiếp, tuyên truyền, phát huy cao nhất ý nghĩa chính trị, văn hoá của công trình Lăng Bác. Nâng cao chất lượng công tác đón tiếp, phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác tận tình, chu đáo, văn minh, lịch sự; tạo điều kiện thuận lợi cho các tập thể tổ chức: Lễ báo công, lễ giao ư­ớc thi đua, lễ kết nạp đảng viên, kết nạp đoàn viên, đội viên. Tiếp tục phối hợp với Bộ Lao động Thương binh- Xã hội, các tỉnh và đơn vị Quân đội đón tiếp nhiều đoàn Bà mẹ VNAH, gia đình chính sách, người có công, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ cách mạng được về Thủ đô viếng Bác và tham quan các khu di tích. Đặc biệt, vào dịp 19/5 hàng năm, phối hợp với các cơ quan ở Trung ­ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ, các đơn vị Quân đội, Công an lựa chọn những tấm gương tiêu biểu, xuất sắc trong phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về Lăng viếng Bác, báo công với Người, trao tặng Huy hiệu Bác Hồ, nhằm tuyên truyền, giáo dục các thế hệ người Việt Nam luôn “Nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại”.

Chủ tr­ương của Th­ờng vụ Đảng uỷ Bộ Tư­ lệnh đã được Đảng bộ và đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Từng đảng uỷ cơ sở chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hành động gắn với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt, trọng tâm là lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt; thành lập ban chỉ đạo Cuộc vận động và cụ thể hoá tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ sát hợp với yêu cầu nhiệm vụ y tế, kỹ thuật, bảo đảm an ninh, nghi lễ, đón tiếp, tuyên truyền và tôn tạo cảnh quan, môi tr­ờng khu vực Lăng.

Đơn vị đã thực hiện tốt đợt thi đua đặc biệt “Mừng Đảng, mừng Xuân, lập công dâng Bác”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ y tế giữ gìn thi hài Bác, bảo đảm công tác an ninh, nghi lễ và SSCĐ; trong quý I/2007 đã đón tiếp tận tình chu đáo hơn 600 ngàn l­ượt người đến viếng Bác, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2006; 100% cơ quan, đơn vị thực hành tiết kiệm điện, n­ớc trong sinh hoạt và chiếu sáng; quản lý, sử dụng vật t­, kinh phí, chặt chẽ, hiệu quả; tổ chức Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác” tại khu di tích Đá Chông và Đền Hùng- Phú Thọ; mỗi cán bộ, công nhân viên dành ít nhất 1 ngày l­ương ủng hộ quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và tổ chức tặng t­ượng Bác Hồ cho Đền thờ Bác tại tỉnh Sóc Trăng.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ đã tích cực, tự giác nghiên cứu, học tập các chuyên đề và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với trách nhiệm cao; nghiêm khắc kiểm điểm, liên hệ bản thân và đăng ký tu d­ỡng phấn đấu rèn luyện phẩm chất: Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự c­ờng, chủ động sáng tạo, say mê nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, v­ơn lên làm chủ vững chắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự tiêu biểu, gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t­ư, xây dựng tác phong “Người chiến sĩ bên Lăng Bác” chính quy, mẫu mực.

Cuộc vận động đã thu hút được các tổ chức Đoàn thanh niên, công đoàn và Hội phụ nữ tham gia. Phong trào:”Xây dựng tủ sách Bác Hồ”; “Thanh niên học tập và làm theo lời Bác”; “Ngày đọc sách của thanh niên”; “Thi tìm hiểu những câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Vọng gác thanh niên”; “V­ờn cây thanh niên”; “Công trình, sản phẩm dâng Bác”, giao l­ưu, tặng quà chiến sĩ mới… được đoàn viên thanh niên, đoàn viên công đoàn, hội viên phụ nữ hư­ởng ứng tích cực, tạo bầu không khí sôi nổi, phấn khởi, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

H­ớng tới kỷ niệm 117 năm Ngày sinh của Bác Hồ, Đảng bộ và đơn vị đang tập trung triển khai hoàn thành toàn diện, có chất lượng cao các nội dung của bước 1 Cuộc vận động. Tổ chức sôi nổi các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, nghe nói chuyện chuyên đề, thi báo cáo viên kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cấp cơ sở và cấp Đảng bộ Bộ Tư­ lệnh; tổ chức cho các đồng chí thương binh, thân nhân liệt sĩ và cán bộ, công nhân viên viếng nghĩa trang liệt sĩ Tr­ờng Sơn; chuẩn bị chu đáo và tổ chức bầu cử Quốc hội khoá XII bảo đảm dân chủ, chặt chẽ, đúng pháp luật; lựa chọn những quần chúng ư­u tú kết nạp Đảng viên mới đợt 19/5 tại Lăng của Người.

Với khí thế thi đua: “Lập công dâng Bác”, toàn đơn vị đang thể hiện quyết tâm hoàn thành xuất sắc các mục tiêu: Huấn luyện giỏi, rèn luyện kỷ luật nghiêm, xây dựng đơn vị nền nếp chính quy, mẫu mực; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác, tổ chức đón tiếp khách đến viếng Bác tận tình chu đáo. Để Lăng Bác mãi mãi là nơi hội tụ tình cảm và toả sáng niềm tin cho nhân dân ta và bầu bạn quốc tế, thực sự là nguồn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thiếu t­ướng Nguyễn Ngọc Lâm
Chính uỷ Bộ T­ư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Góp phần tìm hiểu giá trị lịch sử – văn hoá của Khu di tích Đá Chông

Ngôi nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã làm việc tại Đá Chông từ năm 1960 đến năm 1969

Tìm hiểu giá trị lịch sử- văn hoá của Khu di tích Đá Chông chúng ta đã tiếp cận toàn diện từ nhiều hướng, nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Tuy nhiên những năm qua, do chưa có điều kiện khai thác nguồn tài liệu từ các trung tâm lưu trữ quốc gia, chúng ta chưa có khảo sát kỹ trong những năm từ 1960- 1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã có những hoạt động gì tại đây, tại phòng họp tầng 1 ngôi nhà sàn nơi đã diễn ra việc họp Bộ Chính trị do Hồ Chủ tịch chủ trì.

Đương nhiên, chúng ta phải bắt đầu từ thực tiễn khách quan, một nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo công tác nghiên cứu. Vì chỉ có tuân thủ tính khách quan mới đạt được sự chân thật, đúng đắn, mới đáng tin cậy, tránh được những suy đoán chủ quan, xa rời thực tiễn. Cho đến nay, hầu hết các nhân chứng lịch sử đã cung cấp cho ta những tư liệu đáng tin cậy. Điều lạ lùng và bất ngờ cảm động là từ đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến mỗi người lính bảo vệ, từ đồng chí Thư ký gần gũi nhất của Bác đến một người dân thường, ai đã một lần gặp Bác thì hình ảnh Bác, lời Bác chỉ bảo như vẫn sống mãi, hiển hiện trong tâm thức của những người đang sống, trong sự nghiệp cách mạng mà họ đang đi theo con đường của Người đã chọn.

Tính đa dạng và thống nhất trong mỗi sự vật, hiện tượng đòi hỏi chúng ta phải biết phân tích, lựa chọn kể cả những ngẫu nhiên phức tạp của hiện tượng để từ đó tìm ra sự phát triển và tính liên tục của những sự kiện. Kết hợp cái lịch sử với cái lôgích cho phép chúng ta có thể phản ánh lịch sử nhưng phản ánh một cách khái quát với những mốc lịch sử chính mà không cần đi vào những chi tiết, và cũng có thể từ một sự thật được hé lộ đã cho chúng ta hình dung ra một bức tranh toàn cảnh của lịch sử. Trở lại vấn đề đi tìm sử liệu cho giai đoạn Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị sống và làm việc tại Khu Đá Chông từ 1960 – 1964, thông qua các nhân chứng lịch sử chúng ta có thể khẳng định: Nơi đây là nơi Bác đã chọn để xây dựng thành nơi làm việc của Trung ương, tất yếu từ nơi đây Bác và Trung ương có những quyết định trọng đại, liên quan đến một thời kỳ cách mạng sục sôi ở cả hai miền nước ta. Đó là lịch sử và lôgích của lịch sử cần tiếp tục làm sáng tỏ.

Nhiều vấn đề đã được thống nhất trình bày trong Báo cáo khoa học của Đề tài do Tiến sĩ Đặng Nam Điền – Chủ nhiệm đề tài báo cáo. Tôi thấy cần trình bày thêm những suy nghĩ của mình để được trao đổi làm rõ một số vấn đề tại cuộc Hội thảo khoa học này.

1. Trên dòng chảy của một nền văn minh và một trục “Thiên đạo” lớn.

Các nền văn minh của nhân loại đều gắn với lưu vực của những dòng sông lớn. Sông Hồng chảy qua những miền quê trù phú, từ xa xưa đã gìn giữ nền văn minh lúa nước độc đáo và rực rỡ. Sông Hồng gặp sông Đà rồi xuôi dọc xứ Đoài, tụ hội về trung tâm kinh kỳ Thăng Long. Hàng trăm di chỉ khảo cổ học tìm thấy ở nơi cư trú của người Việt cổ bên các triền sông đã làm sáng tỏ thời đại Hùng Vương, một thời đại có thật trong lịch sử bị huyền thoại hoá. Văn hoá khảo cổ học Gò Mun, Phùng Nguyên với đỉnh cao của nghề gốm nguyên thuỷ nước ta, các hoa văn trên gốm đạt đến trình độ tuyệt duyệt, phức tạp, đối xứng sinh động. Nền văn minh rực rỡ cổ xưa đó đã được hình thành và phát triển; đặc biệt được phân bố rộng khắp trên một dải sông núi đất đai suốt từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình đến Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh.

Đó là “hình sông”, còn “dáng núi” thì nhà Bác học Lê Quý Đôn sau khi quan sát Tản Viên Sơn đã ghi những dòng ký sự trữ tình và tráng lãm: “Mạch núi đi từ Mường Thanh xuống, tầng tầng lớp lớp kéo đến, liên miên chằng chịt, đến đây mọc ngang ra ba ngọn, mặt tả trông về sông Đà, phong cảnh tốt tươi, khí thế nghiêm chỉnh, có chỗ như tán quạt, lâu đài, ngọn giữa rất cao, phụng thờ thượng đẳng linh thần, đỉnh núi sườn non, chân núi có cung điện Thượng cung, Trung cung, Hạ cung; Thượng cung cao chót vót chọc trời suốt ngày mây mù bao bọc dày đặc” (Kiến văn tiểu lục NXB KHXH, HN 1977, tr 292).

Khu Đá Chông nằm giữa một miền đất kỳ vĩ tươi đẹp, nơi con sông Đà đến đây bỗng đổi hướng xuôi về hạ lưu, núi Tổ Ba Vì sừng sững như gần như xa. Từ đây phóng xa tầm mắt về phía Bắc là miền Trung du đất tổ Vua Hùng , phía sau là đồng bằng Bắc bộ, là Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Mượn cách nói của các nhà Sử học khi nói về “Trục Thiên đạo” của Hoàng thành Hà Nội (từ Hoàng thành Cửa Bắc đến Cột Cờ), chúng tôi gọi dải đất thiêng này là một Trục Thiên đạo lớn.

Trên Trục Thiên đạo lớn có một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với biết bao huyền thoại, tồn tại vô số di chỉ khảo cổ, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá. (Ngay cả huyền tích, huyền thoại, truyện kể phảng phất những yếu tố tâm linh, nếu không đi ngược với lôgích của khoa học mà chỉ tạo đường viền làm nổi bật sự kiện, nhân vật thì bản thân nó cũng chứa đựng những giá trị lịch sử văn hoá). Vùng đất thiêng này chắc chắn chứa đụng trầm tích lịch sử văn hoá mà linh cảm của Người đã phát hiện ra và để lại dấu ấn của một thiên tài cá nhân đối với lịch sử.

Vào một ngày tháng 5 năm 1957, Bác đến thăm Sư đoàn 308 diễn tập thực binh, tập mẫu chiến thuật “Trung đoàn bộ binh tăng cường tiến công quân địch phòng ngự có chuẩn bị”. Cũng như khi Người đi công tác các tỉnh thường mang theo cơm nắm, thức ăn và Bác cháu cùng dùng bữa cơm đạm bạc. Ông Vũ Kỳ thư ký của Bác nhớ lại: Bác đã ngồi ăn cơm nắm bên “Ba ngọn núi” Đá Chông, chỗ đó đất phẳng, có một cây phượng vĩ; sau đó Người nằm nghỉ một lát ngay dưới gốc cây.

Bác Hồ đến khu vực Đá Chông có thể không phải chỉ một lần. Nhưng cái buổi trưa tháng 5 năm 1957 đó, cũng theo ông Vũ Kỳ: Người đã đứng ở vị trí “Ba ngọn núi” Đá Chông nhìn sông Đà trước mặt, thấy đây là nơi tụ thuỷ, dòng sông uốn khúc, cảnh vật tươi đẹp, gần dân, xa đường quốc lộ. Với tầm nhìn của nhà chiến lược thiên tài, Người nghĩ đến một cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù, phải tính đến việc lập một căn cứ dự phòng, khi cần thiết có thể đưa Bộ tham mưu của cách mạng trở về đây bảo đảm an toàn. Địa bàn Sơn Tây cũng như khu vực Đá Chông vốn là phên dậu phía Tây của Thủ đô, có thể coi như mảnh đất bàn đạp nằm tiếp giáp với chiến khu xưa và đồng bằng, thành phố. Người đã đi đến một quyết định quan trọng. Theo ý kiến của Người, khu vực Đá Chông được xây dựng thành nơi làm việc của Người và các đồng chí Trung ương khi có tình huống chiến tranh. Ngay sau đó, Tổng cục Hậu cần được lệnh lên khu đồi ấy xây dựng một số ngôi nhà cấp bốn. Đến năm 1960, trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh phá hoại đã quá rõ ràng, Cục Doanh trại được lệnh tiếp tục lên xây dựng khu căn cứ của Trung ương, bộ đội Công binh còn xây dựng một hệ thống công sự kiên cố và đặt tên là K9. Đặc biệt, Bác đã cắm cọc, nhắm hướng cho dựng một ngôi nhà chính làm nơi hội họp, nghỉ ngơi của Bác và các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Từ đây, trên Trục Thiên đạo lớn, nơi tiếp nối mạch nguồn lịch sử đã có một đại ban doanh của cách mạng Việt Nam: Khu căn cứ Đá Chông. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã từng sống và làm việc trong những năm 1960 – 1964, những năm cao trào của cách mạng Việt Nam.

2. Di tích Đá Chông còn đó những bí ẩn của lịch sử.

Lịch sử đã thừa nhận những đỉnh cao mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt tới: Nhà tư tưởng lớn, minh triết và nhà văn hoá kiệt xuất. Người là lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của dân tộc, lại là một con người gần gũi, thân thiết với mọi người trong đời thường. Nét đặc trưng bao trùm con người Hồ Chí Minh là “vĩ đại trong sự giản dị, một sự giản dị vĩ đại”. Điều đó làm cho Hồ Chí Minh khi còn sống đã là một trong số hiếm hoi những nhân vật lỗi lạc được huyền thoại hoá. Sau khi Người qua đời, có nhiều điều được công bố, được nghiên cứu làm sáng tỏ khiến chúng ta không những ngạc nhiên mà còn vô cùng kính phục bởi khả năng tiên đoán tài tình của Người về năm 1945 Cách mạng Tháng 8 thành công và năm 1975 đất nước toàn thắng, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào. Harison S.Salisbury là nhà báo Mỹ đầu tiên được Chính phủ ta cho phép vào Hà Nội tháng giêng năm 1967 để tìm hiểu cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Bắc đã kể lại một câu chuyện: Cố chuyên gia xuất sắc về Việt Nam, ông Bernard Fali, người Pháp, đã có lần tha thiết yêu cầu Cụ Hồ cho biết một vài chi tiết về tiểu sử của Cụ. Cụ Hồ từ chối với một cái nháy mắt lanh lợi và nói: “Ông biết đấy, tôi là một người già, một người rất già, và người già thường ưa làm ra vẻ bí ẩn về mình. Tôi cũng thích giữ một số điều bí ẩn nhỏ. Chắc ông hiểu”.

Cho tới ngày nay, nhiều điều “bí ẩn nhỏ” ấy vẫn tồn tại. Những chi tiết chính xác về ngày sinh, về gia đình, về hoạt động của Cụ trong nhiều giai đoạn dài (đôi khi làm đến cả mười năm) và cả tên Cụ nữa (Báo văn nghệ số 20; 19/5/2007).

Gần đây, tôi được đọc một bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan về chuyện Bác có nói với ông Hoàng Đạo Thuý việc tìm một địa điểm để lo việc sau này, khi Người qua đời. Việc ấy diễn ra vào khoảng cuối năm 1956 đầu năm 1957 ông Thuý đã được đi cùng Bác tới khu Đá Chông. Sự kiện này hoàn toàn có thể đã xảy ra và không hề mâu thuẫn với chủ đích của Bác trong việc tìm một địa điểm làm nơi làm việc của Bác và Trung ương. Bởi vì, với Hồ Chí Minh, sự nghiệp lớn hành động luôn vì mục đích, động cơ cao cả. Bên cạnh đó Bác cũng là một con người bình thường với những vui buồn, với lẽ tử sinh của cuộc sống. Đọc lại Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phần “Nguyên văn các bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng công bố tháng 8 năm 1989, Người có viết về việc “Hoả táng” và tìm một quả đồi gần Tam Đảo và Ba Vì mà xây mộ, bên trên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi. Vậy là ngay trong những lời cuối cùng dặn lại về việc riêng, Người có nói đến việc tìm một quả đồi, Người vẫn dành cho nhân dân của Người.

Trong bản Di chúc của Người do Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình, phần nói về việc riêng có 79 chữ, ứng với 79 mùa xuân của Bác Hồ. Trong bản Di chúc công bố năm 1989 như đã nêu ở trên, Người nói về việc “hoả táng” và đặt tro xương vào một quả đồi trồng cây lên trên và xung quanh đồi.

Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng toàn dân ta, thi hài Bác đã được giữ gìn lâu dài để sau này đồng bào cả nước nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu nặng đối với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép Bác để điều này được làm khác với điều Bác dặn.

Như chúng ta đã biết, trong những năm chiến tranh ác liệt, để giữ gìn tuyệt đối an toàn lâu dài thi hài Bác, chúng ta đã tổ chức những cuộc hành quân bí mật đưa Người về những căn cứ an toàn, và Người đã về lại khu Đá Chông, yên nghỉ tại Đá Chông với thời gian tổng cộng tới hơn 4 năm.

Tất cả những điều đã trình bày trên đều là những “bí ẩn nhỏ” của lịch sử. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Nông Đức Mạnh đã lên đặt tấm bia tưởng niệm tại nơi Người yên nghỉ và ghi dòng cảm tưởng “Tôi vô cùng xúc động được đến thăm khu di tích Đá Chông, một trong những nơi Bác Hồ đã làm việc và yên nghỉ, xin thắp nén hương thơm tưởng niệm Bác”.

Khu di tích Đá Chông là một vùng đất thiêng, nơi cán bộ và nhân dân tới tưởng niệm Bác Hồ, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.

3. Khu di tích Đá Chông một di sản văn hoá vật thể vô giá.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người nói và viết nhiều về đạo đức của người cách mạng và là tấm gương trong sáng tuyệt vời về đạo đức cách mạng. Người đã từng nói, đại ý: Người không ham danh lợi, nếu không phải vì nước mà phục vụ thì Người chỉ ưa thích trồng rau, hái củi, trò chuyện với những người bạn thân thiết, Người ưa sống gần gũi với thiên nhiên, ở Pác Bó, Tân Trào và cả Nhà sàn Phủ Chủ tịch cũng đều như vậy. Đó là một ngôi nhà nhỏ cạnh sông suối, có đất trồng rau, có cây xanh tươi tốt.

Điều này khiến cho ta có thể nghĩ tới ảnh hưởng và sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông, tư tưởng đạo đức Lão Tử đề cao cách sống giản dị, đạm bạc và Trang Tử chủ trương quay về sống với thiên nhiên. Ai đã từng đến thăm Goocky Lêninxky ở Liên Xô, nơi Lênin đã từng sống và làm việc trong một ngôi nhà cạnh khu rừng, cũng có thể liên tưởng tới khu Đá Chông ở Việt Nam.

Bác Hồ đặt chân lên khu vực Đá Chông, từ tâm đức Người đã có ý nguyện riêng tạo ra một nơi sống và làm việc cho mọi người và bản thân mình, nơi đây đã mang dấu ấn của Người tạo ra nó, một cảnh quan đẹp, hài hoà, hữu ích.

Trước hết, phải nói về ngôi nhà sàn. Gọi là “Nhà sàn” vì nó mang dáng dấp của những ngôi nhà sàn nhỏ của đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như ngôi nhà sàn nhỏ của Bác ở chiến khu Việt Bắc. Phần lớn các ngôi nhà sàn dựng lên bên những dòng suối để phòng tránh thú dữ, rắn rết. Những hàng cột nâng đỡ ngôi nhà tạo ra không gian thoáng rộng cho tầng dưới và dáng vẻ vững chắc của những hàng cột gợi cho ta nhiều liên tưởng thú vị.

Nhà nghiên cứu xã hội học văn hoá Đoàn Văn Chúc cho rằng kiểu nhà sàn của dân tộc Thái, Tày, Mường là mô phỏng hình con rùa, một totem- vật tổ của 3 bộ tộc trên. (xem Lời nói đầu cuốn sách “Vật tổ và cấm kỵ” của S.Frớt).

Trong ngôi nhà sàn, những hiện vật vẫn còn là hiện vật gốc, đó là chiếc giường một đơn sơ của Bác, bộ bàn ghế… tất cả vẫn được giữ gìn như khi Bác còn sống và làm việc tại đây.

Bên ngoài ngôi nhà là vườn cây Bác trồng, vườn cây lưu niệm của những vị khách quý và con đường bậc thang đi xuống bờ sông Đà trải đầy sỏi cuội, hai bên có hàng cây bông bụt của quê hương. Có thể nói, với tư cách là chủ thể văn hoá, Bác đã không chỉ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ mà còn cải tạo điểm tô cho thiên nhiên, mang thiên nhiên trở lại phục vụ con người, biến thiên nhiên trở thành đối tượng của cái đẹp dành cho con người thưởng thức, hưởng thụ giá trị văn hoá. Đó là dấu ấn của một danh nhân văn hoá thế giới.

Trên đây là một số suy nghĩ về giá trị lịch sử- văn hoá của Khu di tích Đá Chông, một di tích lịch sử- văn hoá đặc biệt. Cũng như hết thảy mọi người, tôi đã đến nơi đây với một tấm lòng kính yêu và đời đời nhớ ơn Bác Hồ, để rồi cảm nhận tư tưởng tâm hồn được thanh lọc, để được sống và làm việc theo tấm gương của Bác Hồ vĩ đại.

Đại tá Trần Vũ Trang
Nguyên Phó CNCT BTL Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.v

Đền thờ Bác Hồ (xã Lương Tâm – Long Mỹ) (1969)

Bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong di tich xã Lương Tâm - huyện Long Mỹ - tỉnh Hậu Giang

Từ trung tâm thị trấn Long Mỹ theo đường liên xã qua Thuận Hưng, Xà Phiên sẽ đến xã Lương Tâm là nơi di tích đền thờ Bác Hồ. Di tích được xây dựng trên vùng đất phía Bắc nơi ngã tư của hai con kinh Long Mỹ II và Năm Căn giao nhau; cách thị trấn Long Mỹ 21 km; cách TP Cần Thơ 78 km về phía Tây Nam.

Nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân Hậu Giang, Long Mỹ nói riêng, hình ảnh của Bác Hồ kính yêu ở trong trái tim, khối óc của mỗi người dân, tuy xa thủ đô Hà Nội hàng nghìn cây số nhưng luôn hướng về Bác Hồ và thủ đô mến yêu với niềm tin vững chắc để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Khi nghe tin Bác qua đời ngày 03/9/1969 là nỗi đau chung, sự tổn thất lớn lao đối với cả dân tộc Việt Nam; nhất là nhân dân miền Nam chưa kịp rước Bác vào thăm.

Để đền đáp công ơn trời biển của Bác và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân xã Lương Tâm; Đảng bộ xã , do đồng chí Lữ Minh Chánh (Hai Chánh), Bí thư Đảng ủy xã đã quyết định lập bàn thờ Bác ngay tại Văn phòng Đảng ủy xã. Đồng chí Lê Văn Thống, ủy viên thư ký được giao nhiệm vụ phóng ảnh Bác lập bàn thờ và may băng tang để tổ chức lễ truy điệu. Ngày hôm sau lễ truy điệu được tổ chức trọng thể với sự có mặt đông đủ của các đồng chí lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể xã, ấp, các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương đóng quân gần cơ quan xã, cùng đông đảo bà con trong xã đến đự lễ với nỗi đau buồn vô hạn, tưởng niệm, ghi lòng tạc dạ về công ơn trời biển của Bác và hứa với Bác quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Cổng trước đền thờ Bác

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng – biến đau thương thành hành động cách mạng, quân dân Hậu Giang đã liên tục tấn công địch trên khắp các địa bàn trong tỉnh. Trong tuần lễ để tang Bác, quân dân tỉnh Hậu Giang mở đợt tấn công vào 34 mục tiêu quân sự, tiêu diệt gần 400 tên địch. Chỉ tính riêng xã Lương Tâm, quân dân ta đã tiêu diệt đồn: Vàm Cấm, đồn Tô Ma, đồn Đường Đào (bị đánh thiệt hại nặng). Trên 40 tên địch đền tội và nhiều tên khác bị thương.

Ngay sau ngày Quốc tang, các đồng chí lãnh đạo và một số đồng chí lão thành cách mạng, các vị bô lão trong xã đã bàn bạc đi đến quyết định: xây dựng Đền thờ Bác tại ấp 3, ngã tư lộ xe. Đây là nơi thuận lợi nhất để mọi người dân trong xã và các khu vực dễ dàng đến viếng Bác bằng cả đường thủy và đường bộ. Trong quá trình chuẩn bị thì địch tổ chức phản kích ác liệt, mở nhiều cuộc càn quét qui mô vào vùng này và địa điểm xây dựng đền thờ Bác là nơi giao điểm pháo của địch ở các nơi bắn vào. Cuối cùng Đảng bộ quyết định giữ nguyên bàn thờ Bác tại cơ quan Đảng ủy xã Lương Tâm.

Nhà trưng bày di tích Đền thờ BácNhà trưng bày di tich Đền thờ Bác

Mùa hè năm 1972, Mỹ ngụy mở nhiều đợt càn quét qui mô, tập trung bom pháo đánh phá ác liệt địa bàn Long Mỹ. Cơ quan Đảng ủy xã bị bom pháo Mỹ đánh sập phải dời đi nơi khác, bàn thờ của Bác được lập lại và tổ chức các ngày lễ kỷ niệm Bác giữ đúng hằng năm (ngày sinh nhật, lễ giỗ và Tết Nguyên đán). Ngoài ra, nhân dân trong vùng thờ Bác và tổ chức lễ giỗ tại nhà, như gia đình ông Nguyễn Văn Tòng ở ấp 6, xã Vĩnh Viễn. Lễ giỗ Bác tổ chức ở đây bình dị nhưng rất trang trọng, có đây đủ con cháu trong nhà và bà con xóm giềng đến cúng. Tưởng niệm Bác. Ở thị xã Vị Thanh (tỉnh lỵ Chương Thiện) bà Trần Thị Láng người Hoa, tổ chức lễ giỗ Bác công khai trong vùng giặc kìm kẹp, xem là ”cúng cơm ông tổ”…

Sau ngày hòa bình, từ nguyện vọng tha thiết của Đảng bộ và nhân dân xã Lương Tâm, mong muốn xây dựng lại đền thờ Bác Hồ ở vị trí đã dự kiến trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tại ngã tư lộ xe, ấp 3, xã Lương Tâm, được Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Long Mỹ và Sở Văn hóa Thông tinh tỉnh Hậu Giang chấp thuận, các ngành, các cấp và nhân dân trong và ngoài địa phương tích cực đóng góp tiền, công sức, với tấm lòng kính yêu Bác và đây là công trình “uống nước nhớ nguồn” thiết thực chào mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác.

Toàn cảnh Đền thờ Bác Hồ

Ngày 2-9-1990, nhân dân và các ban, ngành trong và ngoài tỉnh như Bạc Liêu, Kiên Giang đã tổ chức trọng thể lễ khánh thành đền thờ Bác và rước ảnh Bác từ cơ quan Đảng ủy xã LươngTâm về đền thờ (cách 3 km). Từ đó cứ đến các ngày kỷ niệm: 30-4, 19-5, 2-9, tết Dương lịch và tết Nguyên đán nhân đần Hậu Giang và các tỉnh vùng lân cận đều tổ chức hành hương về nguồn, trở thành ngày truyền thống hằng năm.

Đền thờ Bác được xây đựng năm 1990, với qui mô nhỏ không đủ sức chứa đông đảo nhân dân các nơi đến hành hương viếng Bác trong các dịp lễ hội. Do đó được Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) cho phép xây dựng mở rộng khu đền thờ Bác, kết hợp với sinh hoạt văn hóa, thể thao, hình thành một trung tâm giáo dục truyền thống và sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong vùng. Qui hoạch tổng thể khu đền thờ mới gần 2 hecta, gồm có 7 hạng mục công trình.

Đền thờ Bác được xây mới cách đền cũ 50 mét về phía kiến trúc mang tính dân tộc, trang trọng, tôn kính.

Nhân kỷ niệm lần thứ 106 ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-1996), các đồng chí lãnh đạo tỉnh, huyện và nhân dân xã Lương Tâm, địa phương các tỉnh lân cận đã long trọng tổ chức lễ khánh thành khu đền thờ Bác mở rộng và rước tượng Bác về đền thờ mới rất trọng thể.

Nhân kỷ niệm lần thứ 107 ngày sinh của Bác (19-5-1890 – 19-5-1997) Tỉnh ủy, ủy ban Nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) tiếp tục cho xây dựng nhà trưng bày thời niên thiếu và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác. Đây là hạng mục thứ hai sau đền thờ, trong số 7 hạng mục của tổng thể khu di tích.

Từ năm 1990 đến năm 2010, bình quân mỗi năm có từ 35.000 đến 40.000 lượt người đến viếng tưởng niệm công đức của Người. Nhân các ngày lễ hội đều tổ chức nhiề u hình thức hoạt động văn hóa – thể thao vui chơi giải trí cho nhân dân địa phương và các xã lân cận tỉnh bạn. Đây trở thành một công trình tưởng niệm Bác; đồng thời là trung tâm văn hóa – thể thao của nhân dân trong vùng.

Với ý nghĩa đó, Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 02.QĐ/BT, ngày 07-01-2000 công nhận Đền thờ Bác Hồ ở xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

haugiang.gov.vn