Thư viện

Gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản (18-12-1924)

Tôi đến Quảng Châu (4) vào giữa tháng 12. Tôi đã gặp tại đây vài ba nhà cách mạng quốc gia An Nam, trong số này có một người đã xa rời xứ sở từ ba mươi nǎm nay (1). Trong thời gian đó ông ta đã tổ chức nhiều cuộc nổi dậy chống Pháp. Tất cả những cuộc nổi dậy ấy đều đã đưa tới cái chết của mấy tên sĩ quan và binh lính Pháp, sự chiếm đoạt mấy khẩu súng và… là việc người của chúng ta chạy thoát, do không được giúp đỡ và viện trợ.

Mục đích duy nhất của ông này là trả thù cho nước, cho nhà đã bị bọn Pháp tàn sát. Ông không hiểu chính trị, và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng. Trong các cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không cơ sở. Ông đã đồng ý. Và đây là những việc mà chúng tôi bắt đầu cùng nhau tiến hành:

a) Tôi đã vạch một kế hoạch tổ chức và xin gửi kèm bản sao theo đây.

b) Sau khi đã tán thành kế hoạch này, ông đã đưa cho tôi một bản danh sách 10 người An Nam đã cùng ông hoạt động bấy lâu.

c) Tôi đã chọn 5 người quê ở 5 tỉnh khác nhau. Chúng tôi sẽ cử một người An Nam đưa họ tới Quảng Châu. Tôi sẽ huấn luyện cho họ về phương pháp tổ chức. Chúng tôi sẽ gửi họ trở về Đông Dương

hoạt động sau 3 tháng học tập; và chúng tôi sẽ lấy ra một đoàn khác. Trong lúc này, đây là biện pháp duy nhất.

Để chi vào các phí tổn, tôi đã lấy số còn lại trong món tiền đi đường của các đồng chí đã cho tôi (150 đồng) và về sau thì sao ?

Tôi làm việc mỗi ngày vài giờ cho hãng Rôxta; nhưng tiền lương của tôi không cho phép tôi có thể một mình bao cho “các học viên” của tôi. Và khi các học viên đến Quảng Châu, rất có thể rồi sẽ phải đem tất cả hoặc gần tất cả thì giờ của tôi vào việc huấn luyện họ, lúc đó tình hình tài chính của tôi sẽ không có lối thoát. Bởi vậy, tôi đề nghị đồng chí chỉ thị cho các đại diện của đồng chí ở Quảng Châu cũng phải chǎm lo đến Đông Dương.

Tôi thiết tưởng chưa cần phải thảo một bản báo cáo về tình hình Trung Quốc bởi vì các đồng chí Trung Quốc và Nga đã làm việc đó; tuy nhiên, bây giờ tôi lưu ý đồng chí vấn đề tuyên truyền trong phụ nữ và thiếu nhi. Nữ đồng chí Bôrôđin đã phàn nàn là không nhận được tài liệu (báo chí, chương trình, v.v.) mà nữ đồng chí đã xin Mátxcơva. Điều đó đã ngǎn cản không cho công tác của nữ đồng chí ấy tiến triển và cũng có lúc đã cản trở hoàn toàn công tác của nữ đồng chí ấy. Nữ đồng chí ấy đã viết thư nhiều lần cho Quốc tế Phụ nữ, nhưng các bức thư đều không có hồi đáp và không mang lại kết quả.

Mong các đồng chí nhận cho lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 18 tháng 12 nǎm 1924. (Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thuỵ chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc).

———————————-

4. Quảng Châu: Thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, đồng thời là một trung tâm hành chính, kinh tế và cách mạng của miền Nam Trung Quốc. Đây là một trong những nơi bị bọn thực dân phương Tây tiến hành xâm lược sớm nhất vào Trung Quốc. Chúng đã xây dựng ở đây nhiều cơ sở công thương nghiệp. Chính vì thế Quảng Châu cũng là một trong những nơi tập trung đông công nhân, có phong trào đấu tranh yêu nước sôi nổi và liên tục nhất. Trước đây, Tôn Trung Sơn đã từng chọn Quảng Châu làm một địa bàn quan trọng để tiến hành cuộc cách mạng chống bọn phong kiến Mãn Thanh. Đến nǎm 1923, được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông đã thiết lập ở đây một chính phủ cách mạng, thi hành nhiều chính sách tiến bộ. Nhân dân Quảng Châu nhiều lần nổi dậy đấu tranh anh dũng chống xâm lược. Vào tháng 7-1924, cuộc bãi công của công nhân Sa Điện (tô giới của Anh ở Quảng Châu), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, có tiếng vang rất lớn. Tháng 6-1925, cuộc đấu tranh của hàng chục vạn công nhân Quảng Châu phối hợp với phong trào bãi công rầm rộ ở Hương Cảng, Thượng Hải … đã giáng những đòn mạnh mẽ vào bọn thực dân Anh. Phong trào nông dân cũng phát triển nhanh chóng ở Quảng Đông và nhiều nơi khác. Đảng Cộng sản Trung Quốc có ảnh hưởng lớn lao ở vùng này và đã xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc trong quần chúng. Tình hình đó tạo nên những thuận lợi nhất định cho phong trào cách mạng của nước ta. Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về đến Quảng Châu tháng ll-1924. (Trước đó, ở đây đã có một số nhà yêu nước của Việt Nam đến hoạt động như cụ Phan Bội Châu và tổ chức Tâm tâm xã). ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thuỵ, đã tìm hiểu tình hình và thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (tháng 6-1925) – một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng tổ chức cách mạng này, Nguyễn Ái Quốc đã tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đào tạo nên đội ngũ cán bộ cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Tr.8

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Tình hình Đông Dương (19-12-1924)

Tháng 11 và 12-1924

Tình hình kinh tế:

1. Một tổng ngân sách 76.743.000 đồng Đông Dương đã được biểu quyết. 1/5 số tiền đó là tiền lãi trong việc bán thuốc phiện (14.900.000 đồng Đông Dương).

2. Vào tháng 10, nhiều tỉnh đã bị lụt và bão tàn phá. Những sự thiệt hại không được rõ; Chính phủ không muốn cho biết điều này. Theo những thông tin cá nhân thì có những nơi có tới nửa số dân bị chết đuối hay chết đói. Trừ Nam Kỳ, sự khốn cùng ngự trị ở khắp nơi.

3. Ngân hàng công nghiệp Trung Quốc – mà sự phá sản và sự cứu trợ đã gây nên nhiều tin đồn trong báo chí Pháp – đã hoàn lại tiền cho khách hàng người nước ngoài của nó, nhưng không trả cho Đông Dương chút nào tiền góp 30 triệu phrǎng. Vào những ngày chót này, những chủ nợ người Pháp và người An Nam đã lập thành một mặt trận thống nhất để đòi nợ của họ.

4. Hình như Chính phủ thuộc địa sắp đồng ý cho thương nghiệp Nhật Bản biểu giá thấp nhất. Những người An Nam lo sợ, còn những nhà buôn Pháp chống lại sự đồng ý này.

Tình hình chính trị:

1. Chính phủ cố sức ngǎn cản thanh niên An Nam đi học ở Pháp. Điều đó chắc chắn vì lo sợ tuyên truyền cộng sản.

2. Những tờ báo An Nam đã nói đến một Uỷ ban được lập nên ở Pari, gồm 10 nhà chính trị, nhà báo và nhà tài chính người Pháp. Uỷ ban này có mục đích nghiên cứu khả nǎng bán Đông Dương cho một nước khác. Đó là vấn đề đã nêu ra từ trong chiến tranh.

Cǎn cứ hải quân của Anh ở Xanhgapo, những cuộc diễn tập của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương và sự xâm nhập khéo léo của Nhật Bản hình như làm cho thực dân Pháp thật sự lo lắng. ở đây, việc lo sợ chủ nghĩa bônsêvích cũng đáng kể.

Bằng nhiều bài diễn vǎn và quảng cáo, Chính phủ thông báo một cuộc cải cách lớn: Chính phủ sắp tổ chức “Đại hội Đông Dương” thường trực. Đại hội sẽ gồm có 27 người Pháp – phần lớn là viên chức – được bầu 4 nǎm một lần; và 17 người An Nam – tất nhiên là được chọn trong số những người trung thành nhất với chủ – được bầu một nǎm một lần. Đại hội có tiếng nói tham khảo cho công việc của Chính phủ, điều đó nghĩa là đại hội này sẽ rất vô tích sự.

3. Chính trị bản xứ:

Có một đảng gọi tên là “Đảng lập hiến An Nam” 5 . Đó không phải là một đảng có tổ chức, mà đơn thuần chỉ là một vài nhà trí thức theo kiểu Pháp đặt tên đảng. Những thủ lĩnh của đảng này là những người theo quốc tịch Pháp (có 250 người Nam Kỳ).

Cương lĩnh của họ. Những yêu sách của họ là như sau:

a) Cải cách giáo dục (hiện nay có 90% trẻ em An Nam không có trường học).

b) Cải cách về tư pháp: cho những người An Nam tốt nghiệp về luật pháp được làm luật sư (tới nay, những người tốt nghiệp ấy thường có thể hành nghề ở Pháp, nhưng không bao giờ ở chính đất nước họ, trừ phi họ được nhập quốc tịch Pháp).

Chuẩn y cho những người An Nam quyền có Ban hội thẩm (hiện nay chỉ có Ban hội thẩm Pháp, vì thế, tất cả những người Pháp đã giết hại người An Nam hay phạm những tội ác khác đối với người bản xứ luôn luôn được miễn nghị).

c) Giới thiệu người An Nam vào Quốc hội Pháp.

d) Mở rộng việc nhập quốc tịch Pháp.

Để trình bày những yêu sách của họ với Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, họ đã phái một người nguyên là tên vô chính phủ người Pháp: Gioócgiơ Grǎnggiǎng.

Báo chí của họ.

a. Do có quyền tự do báo chí như những công dân Pháp, họ lợi dụng điều đó để xuất bản 2 hoặc 4 tờ báo mà 2 tờ lớn nhất có số lượng phát hành mỗi ngày 2000 bản.

b. Họ bao giờ cũng núp sau cái mộc “lòng trung thành” khi phê bình công khai những khuyết điểm của Chính phủ thuộc địa. Trong tất cả các bài báo, họ tuyên bố “vĩnh viễn gắn bó với mẫu quốc”. Họ theo khuynh hướng của Đảng Xã hội cấp tiến Pháp 6 (đảng của Eriô), ít nhất trong lúc này là thần tượng lớn của họ.

c. Họ vốn rất kính trọng Triều đình nước Nam. Đột nhiên, họ đổi giọng và bắt đầu công kích nó khá thậm tệ. Thậm chí họ còn viết: “Tư tưởng cộng hoà đã thắng trên thế giới, và những người An Nam đã dân chủ về cǎn bản, đã được chuẩn bị kỹ để hiểu cái đẹp của nó. Một vương quyền để phô trương chỉ có thể làm mờ ý nghĩa của nó trước quần chúng”.

Điều đó ở An Nam đáng khép tội khi quân. Giả dụ rằng những người ở Đảng lập hiến của chúng ta, đã cảm thấy cái gì đó từ Pari dội về: Đấng uy nghiêm Khờ khạo ngồi trên ngôi vua nước An Nam là người được che chở bởi Anbe Xarô, cựu Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, bị khai trừ khỏi đảng của Eriô, bị khai trừ vì đã bầu cho Poǎngcarê. Khi bỏ đảng, Xarô đã công bố một bức thư ngỏ rất vô lễ gửi Eriô, Chủ tịch đảng này. Eriô sắp thải vua An Nam để trả thù Xarô chǎng? Rất có thể.

Những đảng viên Đảng lập hiến An Nam và chủ nghĩa cộng sản.

Họ là những người có thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản ư ? Không hơn gì những người dân chủ xã hội của những nước khác. Tuy nhiên họ khá khôn khéo chiếm lấy mọi cơ hội để làm Chính phủ thuộc địa sợ hãi bóng ma bônsêvích. Về việc Pháp công nhận Liên Xô, họ viết:

“Một số kẻ thực dân đã dự đoán một tương lai đen tối cho Đông Dương, tiếp sau việc Chính phủ Pháp công nhận Liên Xô; trên thực tế, người Nga dự định nâng đỡ những người bản xứ ở các thuộc địa của châu Âu chống lại sự thống trị của nước ngoài tại châu á. Tình hình sục sôi của các sinh linh trong nước chúng tôi do những sai lầm của ách cai trị thực dân thiển cận gây ra thì cái gì cũng có thể xảy ra ở đất nước này (tôi gạch dưới) chỉ cần những phương pháp khai hoá ấy tiếp tục được áp dụng đối với các dân tộc bị lệ thuộc và được bảo hộ”. Đe dọa như thế rồi, họ tiếp tục cho tới cuối bài báo, kêu nài sự hợp tác Pháp- An Nam. Nhưng còn một ví dụ khác nữa. Họ đã in lại một bài của báo Les Continents xuất bản ở Pari của Rơnê Marǎng. Đây là bài báo đó:

“Sự tuyên truyền cộng sản ở những thuộc địa Pháp.

Chúng tôi mới báo tin rằng những người Liên Xô chuẩn bị một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi ở những thuộc địa của chúng ta. Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản của Mátxcơva 7 vừa cho thấy chúng ta có lý. Thật vậy, việc thiết lập một Ban thuộc địa gồm có những người Anh, người Bỉ, người Hà Lan và người Tây Ban Nha đã được quyết định.

Trụ sở của Ban này đặt ở Giơnevơ. Nhiệm vụ của nó là dấy lên những sự nổi dậy và khởi nghĩa trong những thuộc địa.

Thuộc địa chính được nhằm tới là Mađagátxca rồi Đahômây. Người ta cũng phải hoạt động ở Tuynidi, ở Marốc, ở Goađơlúp, ở Ǎngtiơ và ở Bắc Kỳ.

Chính phủ Xôviết đã để 10 triệu phrǎng vàng cho Ban sử dụng nhưng những đảng cộng sản Pháp, Anh, Bỉ phải đóng góp nhiều, vì những chi phí dự tính là to lớn.

Những uỷ viên người Pháp của Ban là các ông Casanh, Tơranh, Xeliê, Ghinbô và Côxta.

Đứng trước nguy cơ này, những sự tế nhị quá đáng, khúm núm của ông Đenphốtxơ không thể làm gì hơn. Vấn đề không còn là tìm ra bàn tay của Mátxcơva ở khắp mọi nơi nữa. Phải tố cáo nơi nó ẩn nấp. Không phải bằng cặp mắt bị bưng bít bởi óc bè phái thuộc địa mà chúng ta sẽ tìm được bàn tay ấy. Sau đó, nhất là Nghị viện hiện nay và Chính phủ phải ngay lập tức cho người bản xứ của các thuộc địa những quyền sơ đẳng mà họ đòi (tôi gạch dưới). Những cựu chiến binh, những giáo viên và những viên chức người bản xứ sẽ là những người đầu tiên bị xúc động bởi sự tuyên truyền này… Chính nhờ đấu tranh chống lại các nhà cai trị vụng về và chống lại những thống đốc chuyên chế quá đáng mà chúng ta sẽ làm yên được sự bất bình chính đáng của người bản xứ.

Nếu không thì những nữ thần Xiren sẽ có dịp tốt để ca tụng sự nổi loạn”.

Nguyện vọng của những đảng viên lập hiến An Nam.

G.Grǎnggiǎng, đại biểu của họ ở Pháp đã tóm tắt đúng những nguyện vọng ấy: “Họ chỉ muốn đơn giản là chính sách hợp tác (Pháp- An Nam) được thực hành … Họ muốn được dần dần tham gia vào những công việc của đất nước họ … Không muốn gì hơn”.

Vả lại, tất cả những gì họ đòi là quyền nhập quốc tịch Pháp, miễn trừ quân dịch (4 nǎm đối với người An Nam), bầu cử, v.v.. Họ chỉ đòi cho “lớp thượng lưu đã được giáo dục thôi”. Còn quần chúng thì chẳng được gì.

Chúng ta có thể dùng họ không? Điều đó tuỳ thuộc hai điều: thái độ của Chính phủ Pháp và sự khôn khéo của chúng ta.

Linh tinh –

Một lính Pháp đã giết một người An Nam; hắn đã bị kết án một tháng tù án treo.

200 học sinh trẻ tuổi của một tỉnh ở Nam Kỳ đã biểu tình trước đồn cảnh sát đòi thả hai người bạn của họ bị bắt giữ. Đồng thời, họ doạ bãi khoá nếu các bạn của họ không được thả ngay. Họ đã thắng lợi. Đây là lần đầu tiên, ở Đông Dương xảy ra một việc như vậy. Đó là một dấu hiệu của thời đại.

19-12-1924

———————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Vấn đề Đông Dương (1925)

1- Nếu đồng chí đồng ý cho tôi gửi ngay một hoặc hai sinh viên thì điều đó sẽ cho phép tôi tuyên truyền tốt, và nói rằng cách mạng Nga đang và sẽ có thể làm gì cho dân chúng thuộc địa. Điều đó cũng sẽ cho phép tôi – từ nay đến tháng tám – tranh thủ được những phần tử tốt của Quốc dân đảng Đông Dương. Hơn nữa, điều đó cho phép tôi chọn ngay được vài người trong số họ để phái về nước.

2- Tôi không hiểu rõ vì sao đồng chí ngần ngại cho tôi vay tiền. Đó là một việc giữa đồng chí với tôi, và không một ai khác biết được tý nào về việc này. Tiền vay đó sẽ cho phép tôi:

a/ Có được một cơ sở ở trong nước.

b/ Có người sẵn sàng làm tuyên truyền viên.

c/ Thực hiện việc tuyên truyền đến nơi đến chốn và,

d/ Bắt đầu ngay công tác tổ chức.

Không có người nào khác có thể giúp tôi trong việc này, bởi vì tôi là một dây liên lạc giữ bí mật kế hoạch của chúng ta.

3- Tuyên truyền và làm công tác khác, tôi phải:

a/ Dịch tài liệu

b/ In ấn nó

c/ Lấy người từ trong nước đến Quảng Châu

d/ Huấn luyện họ

e/ Phái họ trở về.

Không có tiền, tất cả những điều đó đều không thể làm được. Vì thế tôi muốn đề nghị đồng chí cấp cho một quỹ nào đó.

4- Không có sự đồng ý và sự giúp đỡ của các đồng chí Nga của chúng ta thì tôi sẽ khó mà tránh khỏi sai lầm. Nhưng tôi cũng không nhận được gì nếu không có chỉ thị của đồng chí. Và họ có thể không làm gì cho tôi khi tôi đến tay không.

5- Nếu 4 yêu cầu này không có kết quả thì triển vọng về sau đối với tôi sẽ là như sau:

a/ Tôi không có chứng cứ để chỉ ra được những phần tử tốt nhất ở Quốc dân đảng Đông Dương để nhận họ đến với ta.

b/ Tôi không thể về nước được.

c/ Do đang mắc nợ trên 350 đôla cho công tác đầu tiên, tôi sẽ phải làm việc ít ra là 5 tháng để trả nợ. ở điều kiện đó, tôi sẽ không có thời giờ, không có tiền để làm công tác khác.

Tôi rất hy vọng đồng chí sẽ ủng hộ yêu cầu của tôi.

—————————-

Thư đánh máy bằng tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản (10-1-1925)

Quảng Châu, ngày 10-1-1925

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản,

Các đồng chí thân mến,

Quốc dân đảng (Quốc dân đảng Đông Dương), chiều hôm qua đã kết nạp người đảng viên thứ tư.

Một trong số những đảng viên đó, xế trưa nay, đã đi Trung Kỳ và Lào, với nhiệm vụ là tổ chức những cơ sở ở các xứ đó và tìm thanh niên để đi học Trường đại học cộng sản chủ nghĩa ở Mátxcơva.

Các đồng chí cho tôi biết các đồng chí muốn nhận bao nhiêu sinh viên An Nam vào học Trường đại học ấy.

Ngày 15 sắp tới, một đảng viên thứ hai sẽ được gửi đến Bắc Kỳ để lấy 5 người Bắc Kỳ sang học Trường nông dân ở Quảng Châu. Những người này sẽ học cách tổ chức như thế nào.

Phải chi phí cho phái viên thứ nhất là 290 đôla và cho phái viên thứ hai 230 đôla. Số tiền đó là do số tiền đi đường còn lại của tôi, gộp với số tiền lương mà Rôxta đã ứng trước cho tôi.

Q.D.Đ 1 có thể có nhiều triển vọng, nhưng những phương tiện tài chính của nó rất eo hẹp: ít ra là tới lúc này, những phương tiện ấy chỉ do tôi cung cấp thôi.

Chuyến thư sắp khởi hành rồi. Tôi xin kết thúc bản báo cáo của tôi. Chuyến thư sau, tôi sẽ gửi các đồng chí một bản báo cáo chi tiết hơn.

Xin gửi lời chào cộng sản

NGUYỄN ÁI QUỐC

T.B. Yêu cầu các đồng chí chỉ thị cho các đại diện của các đồng chí ở Quảng Châu cũng phải chǎm lo đến Đông Dương.

———————————-

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)

Viết bằng tiếng Pháp,

xuất bản lần đầu tiên tại

Pari (Pháp) nǎm 1925,

xuất bản lần đầu tiên

ở Việt Nam nǎm 1946.

Dịch theo cuốn sách

xuất bản lần đầu tiên và đã

đối chiếu với cuốn xuất bản

nǎm 1946 ở Việt Nam.

Ký tên: NGUYỄN ÁI QUỐC

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (G)

Các ngài chiến thắng quang vinh của chúng ta thường quen thói “giáo dục” người bản xứ bằng đá đít hoặc roi vọt.

Anh Nahông đáng thương hại đã bị ám sát đến hai lần. Lần thứ nhất bởi tay tên đại uý Vida, lần thứ hai bởi tay tên lang bǎm đóng lon quân nhân coi việc phẫu nghiệm xác chết. Tên này đã đánh cắp và giấu biệt bộ óc người chết để phi tang, đặng cứu hung thủ là bạn của hắn. Nhưng than ôi! Anh Nahông không phải là nạn nhân duy nhất của bọn quân phiệt thuộc địa! Một bạn đồng nghiệp của chúng tôi ở thuộc địa đã thuật chuyện một nạn nhân khác như sau:

“Lần này, sự việc xảy ra trong trung đoàn lính khố đỏ thứ 5 ở Medông – Carê 1 . Nạn nhân là một người lính trẻ tuổi tên là Terie quê ở Tênét 18 thuộc lớp quân dịch nǎm 1921.

“Anh chết trong trường hợp rất thương tâm. Ngày 5 tháng 8, anh lính trẻ Terie đến bệnh xá của trung đoàn để xin thuốc tẩy. Người ta đưa thuốc tẩy cho anh, nói đúng hơn là đưa cho anh một thứ thuốc mà anh tưởng là thuốc tẩy. Anh uống và vài giờ sau anh đau bụng quằn quại, rồi lǎn đùng ra chết.

“Cụ thân sinh ra Terie nhận được một bức điện báo tin rằng người con độc nhất của cụ đã chết và sáng hôm sau, chủ nhật, sẽ đưa đám. Bức điện không có đến nửa lời an ủi hay giải thích.

“Đau xót đến cực độ, cụ Terie đến ngay Angiê, tìm trung đoàn lính khố đỏ thứ 5 ở Medông- Carê. ở đấy cụ được biết xác con đang để ở bệnh viện Maiô. (Mà làm sao xác Terie lại chở đến đây được nhỉ? Phải chǎng để tránh việc khám nghiệm mà luật lệ đã quy định là bắt buộc đối với mọi trường hợp chết ở trạm y tế, người ta đã chở xác anh ta đến bệnh viện làm ra vẻ như bệnh nhân đã chết ở dọc đường?).

“Đến bệnh viện, người cha đau khổ xin thǎm xác con; người ta bảo hãy chờ đã.

“Mãi sau, một quan tư thầy thuốc mới đến báo cho cụ biết là việc phẫu nghiệm không phát hiện dấu vết gì khả nghi cả. Nói xong hắn bỏ mặc cụ đứng đó, không cho phép cụ vào thǎm xác con.

“Theo tin cuối cùng thì hình như cụ thân sinh ra Terie đã đến hỏi viên đại tá chỉ huy trung đoàn lính khố đỏ thứ 5 về nguyên do cái chết của Terie và đã được trả lời là con ông chết vì ngộ độc!”.

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (F)

IV- HÀNH VI QUÂN PHIỆT TIẾP DIỄN

Bước chân đến Cadablanca 1 , thống chế Liôtây gửi cho binh sĩ của đạo quân chiếm đóng Marốc một bản nhật lệnh như sau:

“Bản chức có vinh dự được Chính phủ nước Pháp cộng hoà phong quân hàm cao nhất là nhờ, trong chín nǎm nay, các người đã hiến dâng lòng trung thành và máu xương của các người mà không hề tính toán.

“Chúng ta sắp mở một chiến dịch để hoàn thành công cuộc bình định xứ Marốc, vì lợi ích chung của dân chúng trung thực trên đất nước này, cũng như vì lợi ích của quốc gia 2 bảo hộ, v.v.”.

Nhưng, cũng trong ngày ấy (ngày 14 tháng 4), lại có bản thông cáo sau đây:

“Trong một cuộc giao chiến với bọn Bơni Bude 3 ở Báp en Hácbe, bên ta đã có 29 binh sĩ hy sinh và 11 bị thương”.

Khi người ta nhớ rằng đã phải tốn xương máu của một triệu rưởi người lao động mới tạo nên được sáu chiếc gậy thống chế, thì cái chết của 29 kẻ khốn khổ chưa đủ để hoan hô bài diễn vǎn hùng hồn của ngài thống chế – khâm sứ! Nhưng như vậy thì cái quyền dân tộc tự quyết, mà vì nó trong suốt bốn nǎm trời, người ta đã chém giết lẫn nhau, cái quyền ấy, các ngài để đâu mất rồi? Thật là một cách khai hoá kỳ khôi: để dạy mọi người sống cho ra sống, người ta bắt đầu bằng việc giết họ đi đã!

*

*     *

ở đây (Hải Phòng), cũng có những cuộc bãi công của thuỷ thủ. Chẳng hạn như hôm thứ nǎm (ngày 15 tháng 8) là ngày mà hai chiếc tàu phải nhổ neo để chở một số lớn lính khố đỏ An Nam đi Xyri.

Nhưng thuỷ thủ không chịu đi, vì người ta không chịu phát lương cho họ bằng tiền Đông Dương. Theo giá thị trường, thì một đồng Đông Dương ǎn khoảng mười phrǎng chứ không phải 2 phrǎng 50, thế mà các công ty hàng hải lại làm một việc hà lạm trắng trợn là định trả lương cho thuỷ thủ bằng phrǎng chứ không trả bằng tiền Đông Dương như đã trả cho công chức.

Thế là người ta liền xua tất cả mọi người ở dưới tàu lên, rồi lập tức bắt hết các thuỷ thủ.

Rõ ràng là thuỷ thủ Hoàng Hải chẳng có gì phải so bì với thuỷ thủ Hắc Hải.

Chúng tôi cực lực phản đối việc đưa lính An Nam sang Xyri. Phải chǎng các nhà cầm quyền cấp cao cho rằng bao nhiêu anh em da vàng xấu số của chúng tôi bị giết hại trên các chiến trường từ nǎm 1914 đến nǎm 1918, trong cuộc “chiến tranh vì vǎn minh và công lý”, vẫn còn chưa đủ hay sao?

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (E)

Theo tục lệ An Nam, khi trong làng có người chết thì những người xay lúa, giã gạo phải tỏ lòng kính trọng vong linh người chết và thông cảm nỗi đau buồn của tang gia bằng cách im lặng không hát hò trong khi xay giã như họ vẫn thường làm. Nhưng nền vǎn minh hiện đại được đưa vào nước chúng tôi bằng bạo lực có cần gì phải tế nhị đến như thế. Xin đọc câu chuyện sau đây đǎng trên một tờ báo ở Nam Kỳ:

Những ngày hội ở Biên Hoà

“Để lấy tiền bỏ vào quỹ xây dựng đài kỷ niệm người An Nam trận vong của tỉnh Biên Hoà, ban tổ chức ngày hội đang tích cực chuẩn bị một chương trình tuyệt diệu.

“Người ta bàn tán sẽ có nào là yến tiệc giữa vườn 1 , nào là chợ phiên, nào là khiêu vũ ngoài trời, v.v., tóm lại, sẽ có nhiều và đủ thứ trò chơi để ai ai cũng có thể góp phần làm việc nghĩa một cách thú vị nhất đời.

“Quý ông phi công ở sân bay Biên Hoà có nhã ý sẽ góp phần vào cuộc vui, và ngay từ bây giờ ban tổ chức đã có thể khẳng định rằng sự có mặt của các quan chức cao cấp nhất ở Sài Gòn sẽ làm cho ngày hội thêm phần rực rỡ.

“Xin tin thêm cho các bạn nam nữ ở Sài Gòn lên dự hội biết rằng, các bạn sẽ không cần phải bỏ dở cuộc vui để về nhà dùng cơm, vì ngay tại chỗ, sẽ có phòng ǎn tổ chức cực kỳ chu đáo và đặc biệt đầy đủ, các bạn sành ǎn uống nhất cũng sẽ được hài lòng.

“Ngày 21 tháng 1 tới, tất cả chúng ta hãy đi Biên Hoà, chúng ta sẽ vừa được dự những hội hè linh đình vui tươi, vừa được dịp tỏ cho những gia đình tử sĩ An Nam ở Biên Hoà thấy rằng chúng ta biết tưởng nhớ đến sự hy sinh của con em họ”.

Thật là thời đại khác, phong tục khác.

Nhưng phong tục kỳ quái làm sao!

Người ta còn cho chúng tôi xem bức thư sau đây nữa:

Sài Gòn, ngày…

“Nếu trên đời này mà có một việc quái gở vừa thương tâm lại vừa lố bịch, thì đó hẳn là việc bắt một dân tộc vẫn đang chịu đựng đủ mọi thứ bất công và không có bất cứ thứ quyền nào phải làm lễ mừng cuộc chiến thắng của “công lý” và “chính nghĩa”. ấy thế mà ở bên này chúng tôi đã làm như thế đấy. Tôi tưởng không cần thuật lại cho anh nghe về những hội hè và “trò vui công cộng” trong thành phố này ngày 11 tháng 11 làm gì. ở đâu và bao giờ cũng thế thôi, rước đèn, đốt pháo bông, duyệt binh, khiêu vũ ở dinh thống đốc, đua xe hoa, mở lạc quyên vì nước, quảng cáo, diễn vǎn, tiệc tùng, v.v.. Trong tất cả những trò hề đó, tôi chỉ còn nhớ lại một việc đáng chú ý về phương diện tâm lý như sau: cũng như công chúng ở tất cả các nước, công chúng Sài Gòn rất thích xi nê. Vì thế, một đám người dày đặc đã tụ tập trước khách sạn Palaxơ để xem phim, nào hề Sáclô, nào bọn cao bồi, nào những người “lính quang vinh” lần lượt diễn trên màn ảnh. Công chúng tràn ngập cả đại lộ, đứng chật cả mặt đường và hè phố. Lúc bấy giờ ông chủ khách sạn Sài Gòn – Palaxơ không muốn cho người ta đứng đông trên vỉa hè trước cửa tiệm của ông ta, ông ta liền vung roi mây quất túi bụi. Bà chủ cũng ra giúp một tay và đánh bừa vào đám đông. Mấy chú trẻ ranh mãnh không biết làm thế nào mà lại “cướp” được ngọn roi của bà, làm cho mọi người vỗ tay cười ầm lên. Ông chủ điên tiết chạy lại tiếp viện cho bà chủ. Lần này, ông cầm một cái ba toong và hùng dũng phang tới tấp xuống đầu người ta, cứ mỏi tay này thì đổi tay khác. Những người “nhà quê” phải chạy dồn xuống đường; nhưng vì say sưa với “chiến thắng” của mình, ông người Pháp quý hoá ấy liền hùng hổ vượt qua đường và cứ tiếp tục vụt túi bụi cái gậy to tướng xuống đầu, xuống vai, xuống lưng những người dân bản xứ đáng thương ấy. Một em bé bị ông túm lấy và “đả” cho một trận nên thân”…

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (D)

III- KẾT QUẢ CỦA SỰ HY SINH

Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nêgrô 1 lẫn người “Annamít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”.

Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỷ niệm đủ thứ, v.v. trước khi đưa họ đến Mácxây xuống tàu về nước, đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ǎn như cho lợn ǎn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? Về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễn vǎn yêu nước. “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”, đó sao?

Thế là những “cựu binh” – đúng hơn là cái xác còn lại – sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lý nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lý cả.

*

*     *

Theo báo chí Đông Dương thì thương binh người Pháp bị mất một phần thân thể và vợ của tử sĩ người Pháp đều được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện.

Như thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm tới hai tội ác đối với nhân loại. Một mặt, họ vẫn chưa thoả khi tự tay làm cái việc bỉ ổi của người đầu độc, mà còn muốn lôi kéo vào đây cả những nạn nhân đáng thương hại của cuộc huynh đệ tương tàn nữa. Mặt khác, họ coi rẻ tính mạng và xương máu của những kẻ đã bị họ lừa bịp, đến nỗi tưởng rằng chỉ cần quẳng cho những người này khúc xương thối ấy là đủ đền bù được một phần của cánh tay bị mất hoặc mạng của một người chồng.

Chúng tôi chắc rằng thương binh và quả phụ chiến tranh sẽ đá vǎng món quà nhơ nhớp ấy và nhổ vào mặt kẻ tặng quà. Chúng tôi cũng tin chắc rằng thế giới vǎn minh và người Pháp lương thiện sẽ đứng về phía chúng tôi để lên án bọn cá mập thực dân đang không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc để vơ vét cho đầy túi.

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (C)

Bây giờ thử xem chế độ mộ lính tình nguyện đã được tổ chức ở các thuộc địa khác như thế nào.

Lấy Tây Phi làm thí dụ:

ở đây, bọn chỉ huy quân đội kéo quân đến từng làng bắt bọn hào mục phải nộp ngay lập tức đầy đủ số người chúng muốn tuyển mộ. Để buộc những thanh niên Xênêgan bỏ trốn phải ra nhận đội mũ lính, chẳng phải một viên chỉ huy đã tra tấn, hành hạ các thân nhân của họ, và cho rằng làm như thế là tài giỏi đó sao? Chính hắn đã bắt các ông bà già, đàn bà có thai, con gái, đem lột trần truồng, rồi đốt hết quần áo trước mặt họ. Những nạn nhân khốn khổ đó mình trần như nhộng, tay trói cánh khuỷu buộc phải chạy khắp các thôn xã dưới làn roi vọt, để “nêu gương”! Một người đàn bà cõng con phải van xin mãi mới được cởi trói một tay để đỡ đứa bé. Trong khi chạy, hai cụ già đã ngã chết ngất đi; nhiều em gái khiếp sợ trước những hành vi bạo ngược đó, đã hành kinh trước tuổi; một người đàn bà truỵ thai, một chị khác đẻ một đứa con mù.

*
* *

Có rất nhiều thủ đoạn bắt lính.

Thủ đoạn sau đây đã tỏ ra nhanh và tiện nhất:

Lấy dây chǎng ngang hai đầu con đường chính trong làng lại. Thế là tất cả những người da đen ở vào giữa đều coi như chính thức phải tòng quân.

Một nhân chứng đã viết cho chúng tôi như sau: “Giữa trưa ngày 3 tháng 3 nǎm 1923, bọn hiến binh vây ráp các bến cảng Ruyphixcơ và Đaca 1 rồi tóm tất cả những người bản xứ làm việc ở đó. Những anh chàng này vì không tỏ vẻ sốt sắng đi bảo vệ vǎn minh ngay, nên người ta rước họ lên ô tô cam nhông mời về nhà lao. ở đấy, sau khi họ có đủ thì giờ để thay đổi ý kiến rồi, người ta mới đưa họ sang trại lính.

“ở trại lính, sau những nghi lễ biểu dương tinh thần yêu nước, 29 lính tình nguyện được tuyên dương có thể trở nên anh hùng của cuộc chiến tranh cuối cùng nay mai… Bây giờ thì tất cả đều nóng lòng muốn lấy lại miền Ruya 2 cho nước mẹ.

Nhưng theo tướng Mǎnggianh 1 , người hiểu rõ họ nhất, thì đó chỉ là những đội quân để đem nướng trước mùa đông”.

Chúng tôi hiện có trong tay bức thư của một người Đahômây, vốn là cựu binh, đã từng làm “nghĩa vụ” trong cuộc chiến tranh “vì công lý”. Một vài đoạn trích trong bức thư sẽ vạch rõ cho các bạn thấy người “Batuala 2 đã được bảo vệ như thế nào và các quan cai trị thuộc địa nhà ta đã nặn ra lòng trung thành của người bản xứ như thế nào để tô điểm cho tất cả những bài diễn vǎn của các nhà cầm quyền và làm đề tài cho tất cả những bài báo của bọn Rêgixmǎngxê và Hôde 3 thuộc đủ cỡ.

Bức thư viết: “Nǎm 1915, khi ông M.Nuphla, thống đốc Đahômây, ra lệnh bắt lính, thì làng tôi bị bọn cảnh sát cùng lính cơ cướp phá và đốt sạch. Tất cả tài sản của tôi đều bị mất hết trong các cuộc đốt phá đó. Tuy thế, tôi vẫn bị cưỡng bách nhập ngũ, và mặc dầu là nạn nhân của việc xúc phạm bỉ ổi đó, tôi đã làm nghĩa vụ của tôi ở mặt trận bên Pháp. Tôi bị thương ở trận Exnơ.

“Ngày nay, chiến tranh đã chấm dứt, tôi sắp trở về nước, nhưng không còn nhà cửa, của cải gì cả.

“Người ta đã cướp của tôi:

1000 phrǎng tiền mặt;

12 con lợn;

15 – cừu;

10 – dê;

60 – gà;

8 tấm vải quấn mình;

5 áo mặc ngoài;

10 quần;

7 mũ;

1 dây chuyền bằng bạc;

2 hòm đồ vặt.

“Đây là tên những bạn cùng ở một xóm đã bị cưỡng bách nhập ngũ cùng ngày với tôi, và nhà cửa cũng đã bị cướp phá và đốt sạch. (Ghi tiếp theo tên bảy người).

“Còn nhiều nạn nhân nữa của những chiến công kiểu ấy của ngài thống đốc Nuphla, nhưng tôi không biết rõ tên những người đó để gửi cho các anh hôm nay…”.

Chắc bọn “bôsơ” của vua Ghiôm cũng không làm được hơn thế.

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (B)

Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hy sinh “cho Tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng:

“Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến dâng xương máu của mình như lính khố đỏ 1 , kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”.

Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh lỵ, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hoà và ở nhiều nơi khác nữa, phải chǎng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “không ngần ngại”?

Những vụ trốn đi lính và đào ngũ (tính ra có đến 50 phần trǎm trong hàng ngũ quân dự bị) đều bị đàn áp không gớm tay và những cuộc đàn áp lại gây ra những cuộc binh biến bị dìm trong biển máu 1 .

Bản bố cáo của phủ toàn quyền còn cẩn thận nhắc thêm rằng, tất nhiên muốn xứng đáng với “lòng tốt rõ rệt” và “độ lượng lớn lao” của chính phủ thì “các anh (binh lính Đông Dương) cần phải cư xử đúng đắn và không được làm một điều gì cho người ta phải phàn nàn cả”.

Viên chỉ huy tối cao quân đội Đông Dương còn có một lối đề phòng khác: ông ta bắt thích vào lưng hoặc cổ tay của từng người lính mới mộ một con số không thể nào tẩy xoá được bằng một dung dịch nitơrát bạc.

ở đây cũng giống như ở châu Âu, sự khốn khổ của những người này là nguồn lợi nhuận của những kẻ khác: nào là bọn đeo lon chuyên nghiệp may mắn vớ được công việc tuyển mộ và quản lý lính mới bản xứ mà lánh xa được càng lâu càng tốt những cuộc giao chiến nguy hiểm ở châu Âu; nào là bọn chủ thầu lương thực làm giàu vùn vụt bằng cách bỏ đói những lính mộ khốn khổ; nào là bọn độc quyền tiếp liệu thông đồng với bọn quan chức để gian lận, đầu cơ.

Về chuyện này, cần nói thêm là còn một loại chế độ tình nguyện khác nữa: tình nguyện mua công trái. Biện pháp tiến hành thì cũng như thế. Ai có máu mặt là phải bỏ tiền ra. Kẻ nào khó bảo thì người ta dùng cách dụ dỗ và cưỡng bách đến phải mua mới thôi.

Phần đông những người mua công trái ở Đông Dương không hiểu gì về thể thức tài chính cả; họ coi việc mua công trái cũng như đóng một thứ thuế mới và coi các phiếu công trái không khác gì những biên lai nộp thuế.

cpv.org.vn

Chương I : Thuế máu (A2)

II- CHẾ ĐỘ LÍNH TÌNH NGUYỆN

Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khoá, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915-1916 tới nay, lại còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa.

Những biến cố trong mấy nǎm gần đây là cái cớ để người ta tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương. Những người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyên nghiệp, v.v..

Theo ý kiến của tất cả các cơ quan có thẩm quyền không thiên vị được giao cho sử dụng ở châu Âu “vật liệu biết nói” châu á, thì vật liệu này đã không đưa lại kết quả tương xứng với chi phí rất lớn về chuyên chở và bảo quản.

Sau nữa, việc sǎn bắt thứ “vật liệu biết nói” đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi là “chế độ lính tình nguyện” (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra những vụ nhũng lạm hết sức trắng trợn.

Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: vị “chúa tỉnh”- mỗi viên công sứ ở Đông Dương quả là một vị “chúa tỉnh”- ra lệnh cho bọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một số người nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng. Các quan cứ liệu mà xoay xở. Mà cái ngón xoay xở kiểu D 2 thì các ông tướng ấy thạo hết chỗ nói, nhất là xoay xở làm tiền.

Thoạt tiên, chúng tóm những người khoẻ mạnh, nghèo khổ, những người này chỉ chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được. Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”.

Những người bị tóm đi như thế còn hào hứng gì nữa với cái nghề cột vào cổ họ. Cho nên, bước chân vào trại lính là họ liền tìm mọi cơ hội để trốn thoát.

Còn những người nào thấy không thể thoát khỏi số phận hẩm hiu, thì tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải những bệnh nặng nhất, mà thông thường hơn cả là bệnh đau mắt toét chảy mủ, gây ra bằng cách xát vào mắt nhiều thứ chất độc, từ vôi sống đến mủ bệnh lậu.

cpv.org.vn