Thư viện

Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt

1. Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật.

Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp.

2. Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc.

3. Đối với tư sản dân tộc, Đảng phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo. Phải hết sức lôi kéo họ và giữ họ ở trong Mặt trận, thúc đẩy họ hành động nếu có thể, cô lập họ về chính trị nếu cần. Tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận, vì như thế là đẩy họ rơi vào tay bọn phản động, là tǎng thêm lực lượng cho chúng.

4. Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

5. Để phát triển và củng cố lực lượng, mở rộng ảnh hưởng và hành động có hiệu quả. Mặt trận dân chủ Đông Dương 17 phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp 18 , vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ và có thể giúp rất nhiều cho ta.

6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và nǎng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo.

7. Muốn làm được nhiệm vụ trên, Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin để nâng cao trình độ vǎn hoá và chính trị cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ. Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp.

8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị (ví dụ: đǎng tiểu sử đồng chí R., báo “Lao động” viết đồng chí đó ở đâu, đồng chí đó trở về như thế nào, v.v.. Báo đó lại đǎng và không bình luận gì về bức thư của đồng chí này cho rằng chủ nghĩa Tờrốtxki là sản phẩm của tính khoe khoang cá nhân, v.v.).

Viết nǎm 1939

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

“Ôông-Trôi-Co-Mat”

Đó là một câu nói của Việt Nam, nghĩa của nó là “ông trời có mắt”. Từ khi nước Pháp thất bại thảm hại và phải đầu hàng, câu nói đó rất thịnh hành ở Việt Nam. Ký giả lúc đầu không rõ lý do tại sao, sau được một người bạn Việt Nam giải thích rằng: Hồi thế kỷ XIX, người Pháp phải mất 20 nǎm (1) – từ 1862 đến 1883 – mới chinh phục nổi Việt Nam, vậy mà nay, chưa được vài tháng, nước Pháp hoàn toàn đã bị nước Đức chinh phục! Trước kia, đế quốc Pháp chiếm cả một khu vực rộng 12 triệu cây số vuông, cai trị 60 triệu dân thuộc địa, vậy mà nay, ba phần nǎm nước Pháp bị người ta chiếm đóng, 28 triệu người Pháp hoá thành dân mất nước, 14 vạn người chết trận, hơn 20 vạn người bị thương, 25 vạn người chạy ra nước ngoài, 2 triệu người bị bắt làm tù binh trở thành nô lệ cho quân Đức! Trước kia, đế quốc Pháp bóc lột vơ vét tận xương tuỷ dân Việt Nam và dân các xứ thuộc địa, vậy mà nay, nước Pháp mỗi ngày phải cung phụng cho quân Đức 400 triệu phrǎng, phải nộp 58% bột mỳ, các nguyên liệu khác cũng bị vơ vét mang đi sạch, đến nỗi chín phần mười dân vùng Pari thất nghiệp, dân chúng cả nước phải chịu đói rét. Tất cả, tất cả những chuyện ấy chẳng phải là “ông trời có mắt”, đang trả thù cho các dân tộc nhỏ yếu chúng ta đó sao? Lại nữa, người Pháp đều gọi tất cả những cái gì là không hợp lý, là kệch cỡm bằng từ Chinoiserie, tức là “kiểu Tàu”, nay Pháp chịu quỳ gối đầu hàng, còn Trung Quốc thì anh dũng kháng chiến đã hơn ba nǎm và càng đánh càng mạnh, vậy từ nay, phàm tất cả những gì là nhu nhược, là đớn hèn, chúng ta cũng có thể gọi đó là “kiểu Pháp” được rồi! Âu đó cũng là “ông trời có mắt”…

Ông bạn tôi vui vẻ kết luận: “Nếu hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam có thể sát cánh chặt chẽ với nhau, đá cho đế quốc đang áp bức chúng ta cút đi, thế thì ông trời chẳng những có mắt mà còn có cả chân nữa!”.

BìNH SƠN

———————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 15-11-1940.
cpv.org.vn

Chú ếch và con bò

Một chú ếch nhìn thấy một con bò, trong bụng rất thèm được to như bò, bèn cố đem hết sức bình sinh ra phình người rõ to để mong được như bò. Vì cố sức quá, cái thân bé tí của ếch ta đã bị nổ tung và chàng ếch không biết lượng sức mình cũng ô hô toi mạng. Đó là câu chuyện ngụ ngôn của Pháp.

Những người như kiểu chú ếch kia trên thế giới này quả không ít. Mútxôlini đánh Hy Lạp, dẫm phải đinh, là một ví dụ. Thấy quân Nadi (1) một ngày nuốt trôi được cả Đan Mạch và Lục Xâm Bảo (2) , hai tuần lấy được Hà Lan và Bỉ, 18 ngày chiếm được Ba Lan, một tháng chinh phục được nước Pháp, “Hắc y” tể tướng không cầm nổi sự thèm thuồng những “cao công vĩ tích” của Hítle. Thế là y cũng đem hết sức bình sinh ra làm “chiến tranh chớp nhoáng, hòng nuốt chửng nước Hy Lạp, đặng ra oai với họ Hít. Không ngờ quân ý xúi quẩy to, kể từ khi khai chiến, nhiều phen bị thất bại, thậm chí có nơi thua “mảnh giáp không còn”. ảo tưởng thắng lợi của họ Mút cũng vỡ toang như chú ếch kia. Ông anh Hítle của y chắc hẳn cũng chửi thầm: “Cái thằng vô tích sự! Mày chỉ làm tǎng nhuệ khí của kẻ thù, mất cả oai phong phe trục! Poucos Madona!” (3)

——————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 24-11-1940, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh

Nǎm 1760 (?), nước Mỹ một mình đơn độc chống lại người Anh. Để kéo cái đuôi con sư tử Grǎng Brơtanhơ (1) , hoàng đế Pháp phái tướng La Phayét (2) thống lĩnh lính “tình nguyện”, đạp sóng cưỡi gió, vượt trùng dương, đến Tân Thế giới để giúp người Mỹ đánh người Anh.

Trong Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, các nhà tư bổn Mỹ cho Anh, Pháp và các nước đồng minh khác vay khá nhiều tiền. Đánh nhau đã hơn hai nǎm, liên quân vẫn chưa nắm chắc phần thắng. Nếu quân Đức thắng, các nhà tư bổn Mỹ ắt lỗ vốn to. Cho nên, Chính phủ Mỹ bèn cử tướng Pơsinh (Pershing) (3) , chỉ huy đại đội binh mã, đạp sóng cưỡi gió, vượt trùng dương, sang Cựu Thế giới để giúp Anh, Pháp đánh Đức.

Ngày đầu tiên đặt chân lên nước Pháp, việc đầu tiên tướng Pơsinh làm là dẫn tất cả nhân viên trong ban tham mưu và cử quân đội đến đặt vòng hoa trước mộ La Phayét. Vị nguyên soái Mỹ đã đọc trước mồ vị tướng Pháp một bài diễn từ có thể nói là tráng liệt nhất, hùng hồn nhất và cũng ngắn gọn nhất thế giới. Ông ta nói: “La Fayette – we are here!” (4) . Chỉ có bốn chữ, không nhiều hơn cũng không ít hơn. Vẻn vẹn có mấy chữ mà ý nghĩa thật sâu xa. Có thể hiểu: “Chúng tôi đến để lấy đức trả đức” – thực ra là lấy oán trả “đức” -, cũng có thể hiểu: “Thế kỷ trước, các anh giúp chúng tôi đánh người Anh, đâu phải vì “nhân đạo công lý” quái gì, chẳng qua các anh muốn làm suy yếu thế lực của Anh. Nay chúng tôi giúp các anh đánh người Đức, cũng đâu phải vì “tự do dân chủ”, chẳng qua chúng tôi muốn thu hồi những món nợ của nước Mỹ. Dù sao, ơn huệ trước kia của các anh, chúng tôi giờ đã trả đủ, không bớt một chút xíu. Những món nợ hiện nay của phố Uôn, sau chiến tranh, các anh cũng phải hoàn trả đủ số”.

Hai mươi lǎm nǎm trước, tướng Pơsinh là tử thù của người Đức, là đồng sự trong thắng lợi của tướng Pêtanh. Nhân tài ngoại giao của nước Mỹ đâu phải ít, vậy mà Tổng thống Rudơven cứ khǎng khǎng cử một ông già đã ngoại tám mươi sang làm đại sứ ở Pháp, chắc không ngoài dụng ý chọc tức người Đức và làm bẽ mặt Pêtanh.

Ru tiên sinh thật đúng là chơi trò đùa dai.

BÌNH SƠN

(Lời người biên tập: Tướng Pơsinh cuối cùng lấy lý do
sức khoẻ đã từ chối việc bổ nhiệm của Tổng thống Ru).

——————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 27-11-1940, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Hai chính phủ Vécxây

Ngày 23-11, các báo đều đưa tin điện của Mỹ: Chính phủ Visi sắp rời về Vécxây. Tin này làm người ta nghĩ ngay đến lịch sử ô nhục của Vécxây. Hồi thế kỷ XVIII, Lui 14 tự xưng là “Vua mặt trời” bóp nặn xương máu của bao nhiêu dân chúng Pháp, xây lên ở nơi cách Pari chừng hai mươi dặm một cung điện to tát lộng lẫy nhất thế giới. Bọn vương công quý tộc Pháp, “cha truyền con nối” sống ở đó những ngày cực kỳ xa hoa dâm dật. Một hôm, bà hoàng Lui 16 nghe tả hữu than rằng dân Pháp đang đói to. Bà ta ngạc nhiên hỏi lại: “Sao họ không ǎn thịt?!”. Chuyện vớ vẩn tạm bớt nói, xin vào câu chuyện chính.

Nǎm 1870, Pháp – Đức chiến tranh, Napôlêông 3 đại bại ở Xơđǎng. Quân Đức liên tiếp tấn công, vua Phổ một mặt lên ngôi hoàng đế ở Vécxây, một mặt đốc quân bao vây Pari. Dân chúng Pari chủ trương kháng chiến đến cùng, còn Tổng thống Pháp – nguyên soái Mác Mahông và Thủ tướng của ông ta là Chie lại chủ trương đầu hàng. Bởi vậy, họ đã phái quân đội đi bắt dân chúng phải giao nộp vũ khí. Quân đội được cử đi làm nhiệm vụ lại liên hiệp với nhân dân. Tổng thống và Thủ tướng bèn đang đêm trốn khỏi Pari, thành lập chính phủ mới, rồi van xin quân Đức giúp chúng tàn sát nhân dân Pari. Đó là chính phủ Vécxây thứ nhất.

Trong cuộc chiến tranh nǎm 1940, nước Pháp cũng thất bại tơi bời. Quân Đức liên tiếp tấn công, chính phủ chuyển đi chuyển lại, cuối cùng chuyển đến Visi, nơi chuyên chữa trị bệnh ngoài da. Phải sau mấy lần Lavan 1 khóc lóc xin xỏ, Hítle mới cho phép họ dời về

Vécxây, nhưng chỉ được làm việc ở khách sạn Trênǎng chứ không được dọn vào cung điện Vécxây. Cái nhục vong quốc có thể nói đến thế là cùng!

Con cháu đời sau có thể nghĩ rằng, cách nhau 70 nǎm, lịch sử nước Pháp đã in lầm mất một trang. Vì lẽ hai chính phủ Vécxây giống nhau như đúc, cùng đẻ ra trong thất bại của chiến tranh, đều do nguyên soái làm Tổng thống, đều do luật sư làm Thủ tướng, đều là những anh hùng bán nước! Người Pháp giỏi hài hước, gần đây truyền nhau một câu đối rằng:

“Tổng thống, hai tên nguyên soái, đều phường ǎn hại.
Thủ tướng, một cặp luật sư, rặt lũ bỏ đi”.

BÌNH SƠN

—————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 29-11-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

Bịa đặt

Bịa đặt là một tội ác. Trung Quốc cũng như nhiều nước đều xử rất nặng đối với những tội phạm “phao tin đồn nhảm”. ấy vậy mà, từ khi Chiến tranh đế quốc lần thứ hai bùng nổ đến nay, thói bịa đặt đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách ngoại giao của một số nước, không những các phóng viên thời sự, các chuyên gia tuyên truyền của họ bịa đặt, thậm chí cả nhà cầm quyền của đường đường một nước lớn cũng bịa đặt. Vài ví dụ:

Khi con đường Vân Nam – Miến Điện bị cấm vận, nhà cầm quyền của Đại đế quốc Anh tuyên bố ở nghị viện: “Biện pháp này đã được Liên Xô đồng ý!”. Hôm sau, Thông tấn xã TASS kiên quyết phủ nhận. Nhân sĩ thế giới mới biết là chuyện bịa đặt.

Quân Đức tiến vào Rumani, Chính phủ Đức tuyên bố: “Biện pháp này đã được Liên Xô đồng ý!”. Hôm sau, Thông tấn xã TASS kiên quyết phủ nhận. Nhân sĩ thế giới mới biết nhà cầm quyền Đức bịa đặt.

Chính phủ Hunggari gia nhập “Liên minh ba nước”. Thông tấn xã Mỹ tuyên bố: “Việc đó được Liên Xô đồng ý và cho phép”. Hôm sau, Thông tấn xã TASS được phép tuyên bố: “Tin tức đó hoàn toàn sai sự thật”. Nhân sĩ thế giới mới biết Thông tấn xã Mỹ bịa đặt.

Đó đều là những chuyện đại bịa. Thế nhưng, giải quán quân thế giới về bịa đặt, rốt cuộc giặc lùn đã giành được. Chỉ trong hai tuần lễ vừa qua, giặc lùn đã bịa ra rất nhiều chuyện từ lớn đến nhỏ. Xin cử vài chuyện lớn nhất:

Ngày 15 tháng này – “Nhật Bản đã cùng với Liên Xô thoả thuận về việc hoạch định phạm vi thế lực ở Viễn Đông. Khoản đình chỉ viện trợ cho Trung Quốc cũng bao gồm trong đó”.

Ngày 16 – “Đại sứ Nhật Bản tại Liên Xô đề nghị, nếu Liên Xô đồng ý gia nhập đồng minh ba nước Đức – ý – Nhật, sẽ được đổi lại bằng việc nhượng toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ ấn Độ thuộc Anh…”.

Ngày 19 – “Quân đội Trung Quốc trên biên giới Vân Nam – Việt Nam đã vượt biên giới”.

Ngày 20 – “Ba nước Anh – Mỹ – Thái Lan đã ký kết hiệp định bí mật…”.

Dù bịa đặt về phương diện nào thì cũng không ngoài mục đích gây chia rẽ. Kết luận của chúng ta là: Điều bịa đặt còn độc hại hơn cả hơi độc. Chúng ta phải đề cao cảnh giác, chỗ nào cũng phải đề phòng, đừng bị mê hoặc bởi những lời bịa đặt.

BÌNH SƠN

—————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 1-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Nhân dân Việt Nam và báo chí Trung Quốc

Người Pháp chinh phục Việt Nam đã ngót 60 nǎm. Nhưng người Việt Nam trước sau vẫn không cam chịu làm dân mất nước. Nhiều phen họ đã dùng giáo mác gậy gộc chống lại tàu bay đại bác của người Pháp. Tuy lần nào cũng thất bại, họ vẫn người trước ngã xuống người sau tiến lên, phấn đấu không ngừng. Tinh thần dũng cảm đó thể hiện rất rõ trong biết bao nhiêu sự việc xúc động lòng người:

Nǎm 1880, tiến sĩ Phan Đình Phùng khởi nghĩa.

Nǎm 1890, Hoàng Hoa Thám khởi nghĩa, chiếm giữ vùng núi rừng Yên Thế (Bắc Kỳ), đánh du kích ròng rã 22 nǎm.

Nǎm 1905, trí thức Trung Kỳ lãnh đạo nông dân khởi nghĩa.

Nǎm 1910, binh lính người Việt ở Hà Nội khởi nghĩa.

Nǎm 1915, nhân cơ hội chiến tranh đế quốc, vua Việt Nam ở Trung Kỳ, chí sĩ Lương Ngọc Quyến ở Bắc Kỳ đồng thời khởi nghĩa.

Nǎm 1924, liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom Toàn quyền Méclanh ở Sa Diện (Quảng Châu).

Sau nǎm 1924 nhân dân Việt Nam thường xuyên có phong trào chống Pháp can thiệp vào cách mạng Trung Quốc.

Nǎm 1927, “Việt Nam độc lập đồng minh hội” 1 thành lập. Khẩu hiệu của Hội rất thiết thực, giản đơn: Tổ chức lực lượng toàn dân, đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập hoàn toàn cho Việt Nam.

Từ nǎm 1930 – 1931, nhân dân Việt Nam tiến hành một phong

trào chống Pháp quy mô lớn.

Sau nǎm 1933, thế lực của “Độc lập đồng minh” phát triển khắp cả nước.

Nǎm 1937, Đồng minh này đưa ra hai khẩu hiệu mới: ủng hộ Trung Quốc kháng chiến, Phản đối Nhật Bản xâm lược.

Từ khi Pháp bị thất bại thảm hại, giặc Nhật xâm lược Việt Nam, người Việt Nam cho rằng ách thống trị của người Pháp sắp tan rã, guồng máy cai trị của người Nhật chưa thiết lập vững chắc, đó là cơ hội để Việt Nam giành độc lập. Muốn lợi dụng cơ hội này, phải liên kết với Trung Quốc trong cùng một mặt trận.

Gần đây, nhiều nơi ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ còn xảy ra những trận đánh giữa dân chúng với người Pháp. Những cuộc nổi dậy đó, theo quan điểm của người Pháp, đương nhiên nếu không phải là “phỉ” thì là “giặc”. Đã là “giặc phỉ” thì đương nhiên được ghép thêm tội “cướp bóc” nữa. Cũng giống như giặc lùn vu cáo các đội du kích anh dũng của chúng ta, điều chẳng lạ gì.

Đáng tiếc là nhiều cơ quan ngôn luận, báo chí của Trung Quốc chúng ta, dường như đã không bày tỏ sự đồng tình đối với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân Việt Nam, trái lại còn đǎng tải không có sự phê phán những lời xằng bậy của người Pháp (hoặc kẻ thù), nào là “Bạo động của dân bản xứ”, nào là “Dân bản xứ Việt Nam nghe giặc lùn xúi giục, gây phiến loạn”.

Phong trào giải phóng của Việt Nam là đội quân đồng minh trong cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc. Về tinh thần cũng như về vật chất, chúng ta đều cần phải cổ vũ và giúp đỡ. Quốc phụ 1 từng dạy chúng ta: Giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu, cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do độc lập. Cơ hội để thực hiện lời di huấn đó đã đến.

BÌNH SƠN.

———————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 2-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Ca dao Việt Nam và cuộc kháng chiến của Trung Quốc

Ký giả khi qua Việt Nam, ở thành phố cũng như làng quê, đều được nghe thấy một bài hát. Tuy không biết tiếng Việt, nhưng khi nghe câu “Cứu Trung Quốc là tự cứu mình”, tôi cũng có thể hiểu đó là một bài hát ủng hộ Trung Quốc. Sau đó, ở Hà Nội, tôi đem chuyện này ra hỏi một vị Hoa kiều “chính cống Việt Nam”. Ông ta bảo, đại đa số nhân dân Việt Nam đều hết sức đồng tình với cuộc kháng chiến của Trung Quốc. Họ cầu chúc chúng ta đánh thắng. Giả dụ, anh có nhắc đến Tưởng uỷ viên trưởng, cụ Triệu hay tên một ông tướng nào đó, người Việt Nam sẽ giơ ngón tay cái ra, vui vẻ nói: “Tốt lắm – tốt lắm!”. Có khi họ bí mật quyên góp, giấu giếm gửi cho các đoàn thể cứu quốc của kiều bào, vì vậy đã bị Chính phủ Pháp bắt giam hàng mấy chục vạn người. Để đẩy mạnh tuyên truyền giúp Trung Quốc chống Nhật, đồng thời tránh sự can thiệp rắc rối của người Pháp, “Việt Nam độc lập đồng minh hội” 21 – một đoàn thể hoạt động rất hǎng nhưng cũng rất bí mật – đã nghĩ ra được một cách rất tài tình: Họ đặt ra những bài hát theo những làn điệu quen thuộc và dạy cho trẻ con hát. Thế là tự nhiên các em bé Việt Nam trở thành những tuyên truyền viên rất đắc lực. Những bài hát đó chẳng mấy chốc đã truyền khắp cả nước. Bài mà ký giả được nghe là một bài hát mới làm. Lời ca như sau:

Nhật Bản, phát xít ở phương Đông,
Dã man, cuồng bạo lại tàn hung.
Vào Trung Hoa, gây chiến xâm lược,
Nhân dân Trung Quốc khổ vô cùng.
Người thì bị giết, nhà bị đốt
Núi đầy xương, đất đầy máu đỏ.
Tàu bay, bom đạn tránh làm sao?
Đói rét, ốm đau sống thật khó.
Họ đang đấu tranh rất gian khổ,
Giữ gìn dân chủ và hoà bình.
Họ đang cần có người viện trợ,
Họ đang cần được sự đồng tình.
Giặc Nhật tấn công cả thế giới,
Là kẻ thù chung toàn nhân loại.
Mau đứng lên giúp đỡ Trung Hoa.
Anh chị em Việt Nam ta hỡi!
Ra sức giúp cho người Trung Quốc,
Trung – Việt, khác nào môi với rǎng.
Nhớ rằng môi hở thì rǎng buốt,
Cứu Trung Quốc là tự cứu mình.

BÌNH SƠN

—————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 4-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Mắt cá giả ngọc trai

Ở vùng địch chiếm đóng, đa số dân lành không muốn sống dưới gót sắt của giặc lùn. Họ chẳng quản ngần ngại hy sinh tất cả để được trở về trong lòng Tổ quốc. Lợi dụng cơ hội này, địch cho tay chân của chúng đóng giả dân lành, chui vào hậu phương, vừa để tung tin đồn nhảm, vừa để dò la tình hình quân ta. Cái trò mắt cá giả ngọc trai này đã bị chúng ta lật tẩy. Có một trò mắt cá giả ngọc trai khác, chúng ta cũng phải hết sức chú ý.

Phong trào dân tộc Việt Nam hiện nay đang lên mạnh, ai cũng biết cả. Công cuộc giải phóng của Việt Nam không thể tách rời ba điều quan trọng: 1- Liên Hoa; 2- Kháng Nhật; 3- Bài Pháp. Ba điều đó thiếu một không được. Giặc lùn cǎm nhất là hai điều đầu tiên. Cho nên chúng tìm đủ mọi cách, hòng chia rẽ lực lượng nhân dân Việt Nam và làm mê hoặc hướng đi của họ. Thậm chí người Nhật còn lập ra “đảng cách mệnh” Việt Nam giả, giống như chúng đã tổ chức “Quốc dân đảng” giả và “Hội cứu quốc” giả trong vùng chúng chiếm đóng.

Hôm qua, sau khi đọc Tuyên ngôn của “Đảng thống nhất cách mạng Việt Nam”, ký giả thấy có điều kỳ lạ:

Thứ nhất – Bản Tuyên ngôn này công bố ngày 12-10, đúng vào dịp Nhật đánh chiếm Bắc Kỳ, uy hiếp Sài Gòn, vậy mà trong Tuyên ngôn không có một chữ nhắc đến việc chống Nhật.

Thứ hai – Phong trào giải phóng của Việt Nam là một mắt xích của mặt trận giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, đặc biệt nó là một cánh quân của cuộc kháng chiến cách mạng Trung Quốc.

Liên hệ mật thiết với Trung Quốc là một trong những điều kiện tối quan trọng của phong trào giải phóng của Việt Nam. Vậy mà trong Tuyên ngôn không có một chữ nhắc đến Trung Quốc.

Thứ ba – Cường Để (xuất thân hoàng tộc Việt Nam) được giặc Nhật nuôi nấng 35 nǎm nay, chuẩn bị để về làm bù nhìn. Mấy tháng trước, ông ta cùng với lũ lâu la họp ở Quảng Châu (xem các báo). ở Việt Nam, họ cho xuất bản ba tờ báo thân Nhật, tài liệu và kinh phí do giặc Nhật cung cấp, vậy mà “Tuyên ngôn” lại công nhận lũ Việt gian ấy là “đảng cách mạng”.

Cứ thế mà suy đủ thấy dụng ý của bản Tuyên ngôn này, một là mưu toan ly gián tình cảm giữa hai nước Trung – Việt, hai là mưu toan đánh lừa tai mắt người Việt. Trong các đảng phái yêu nước của Việt Nam, rất nhiều người sáng suốt, họ nhất định không bao giờ phát biểu những bài vô lý kiểu đó.

Đối với nhân dân Việt Nam, đối với phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam, chúng ta phải giúp đỡ bằng mọi khả nǎng có thể. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải cẩn thận, phải vạch trần cái trò mắt cá giả ngọc trai đó.

BÌNH SƠN

————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 5-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Ý Đại Lợi thực bất đại lợi

Đánh bạc với chiến tranh là thủ đoạn quen dùng của giai cấp thống trị ý. Trước nǎm 1914, ý là đồng minh của Đức. Sau khi cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất nổ ra, thấy trong túi của Anh, Pháp, Mỹ đầy ắp những tiền, máu tham nổi lên, bất chấp tín nghĩa, ý đã bán đứng bạn đồng minh của mình, gia nhập liên minh, tuyên chiến với Đức. ý chắc mẩm lúc đó Đức đã bị Anh – Pháp – Nga bao vây chặt, chỉ cần ý tham gia là chiến tranh sẽ dễ dàng thu được thắng lợi. Khi đại bộ phận quân Đức bị giam chân ở Vécxây, quân ý bèn ào ào tiến quân vào bắc Biacôvi với khí thế như dời non lấp biển. Dè đâu chưa kịp vượt sông thì quân ý đã bị quân Đức đánh cho tan tác tơi bời, không còn một mảnh giáp. Ngày chiến tranh châu Âu kết thúc, ở hội nghị Vécxây, ý được hưởng phần ǎn chia chẳng bõ bèn so với cái đã mất.

Trong cuộc chiến tranh đế quốc lần này, nhà cầm quyền ý thấy lão Hít phẩy tay một cái đã nuốt chửng bảy nước, máu tham lại không kìm được. Thế là nó liều mạng, một mặt tấn công Ai Cập, một mặt xâm lược Hy Lạp. Ngờ đâu đại quân vừa xuất trận thì tin thất bại đã bay về như tuyết rơi. Trong cùng tháng (ngày mồng 9 tháng này), trên đất Ai Cập, quân Anh đột nhiên mở cuộc tấn công toàn diện, mấy nghìn quân ý bị bắt làm tù binh… Dinh luỹ cuối cùng quân ý chiếm được ở Anbani – Agilô Caxtơrô – bị quân Hy Lạp đột phá, đó là thất bại lớn nhất của quân ý kể từ ngày tham chiến… Quân đội Hy Lạp đã chiếm được 1/4 Anbani… (tin điện Hoa Kỳ).

Trong khi đó, giai cấp thống trị ý lại gặp những chuyện bất lợi khác. ở Tơrielit, ở Phuma và nhiều nơi khác có “phiến loạn” chống chiến tranh, chống phát xít. ở Xanh Gôlǎng, nhân dân vũ trang nổi dậy, tập kích quân ý, giết và làm bị thương hơn 200 binh sĩ… Xung đột kịch liệt đã xảy ra trong nội bộ đảng phát xít, đến nỗi Tổng tư lệnh là tướng Patôgriô, Tư lệnh tiền phương là Nguyên soái Graxini, v.v., buộc phải từ chức.

Tất cả những sự việc đó cho chúng ta thấy rõ rằng giấc mộng của Mútxôlini muốn khôi phục lại Impiris Romano (1) đã thành bong bóng xà phòng, và cái ngày mà nhân dân ý thoát khỏi gông xiềng phát xít đã sắp đến rồi.

BÌNH SƠN

————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 16-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Việt Nam “phục quốc quân” hay là “mại quốc quân”

Nǎm 1905, chiến tranh Nhật – Nga, giặc lùn may mắn thắng trận. Đây là lần đầu tiên người da vàng đánh bại người da trắng, chuyện đó khiến thanh niên trí thức Việt Nam nói chung rất phấn khởi. Họ cho rằng nước Nhật Bản “đồng vǎn đồng chủng” và “anh dũng tuyệt vời” tất có thể giúp Việt Nam đánh đuổi đế quốc Pháp. Vì ảo tưởng này mà nhiều thanh niên Việt Nam đã vượt mọi nguy hiểm, chạy tới nước Nhật du học. Lãnh tụ của họ là Phan Bội Châu nổi danh vì tài vǎn chương. Mục đích của họ là sang học quân sự rồi về tổ chức khởi nghĩa vũ trang, khôi phục lại Tổ quốc. Để kêu gọi dân chúng, họ đưa cả ông Hầu 3 cùng sang Nhật.

Cao tổ của ông Hầu là Nguyễn Cảnh, con trưởng bà vợ cả của hoàng đế Gia Long (Việt Nam). Một cuộc chính biến cung đình đã khiến Nguyễn Cảnh không kế vị được ngôi vua. Bởi nguyên cớ đó mà đối với các vua Việt Nam hiện nay, Nguyễn Cảnh cũng như con cháu ông ta hận đến tận xương tuỷ, lúc nào cũng chỉ muốn đoạt lại vương vị. Phan Bội Châu lợi dụng mâu thuẫn đó, đưa Cường Để ra làm chiêu bài.

Lúc đầu, Chính phủ Nhật đối xử rất tốt với những thanh niên Việt Nam sang Nhật, và lợi dụng phong trào chống Pháp để hù doạ

đế quốc Pháp. Nǎm 1907, sau khi hiệp ước Pháp – Nhật rất có lợi cho giặc lùn được ký kết, Chính phủ Nhật lập tức hạ lệnh trục xuất các thanh niên Việt Nam. Riêng với Cường Để và con nuôi ông ta là Trần Vǎn An được Khuyển Dưỡng Nghị lấy danh nghĩa cá nhân, lưu hai người ở lại Nhật Bản, tính kế dùng họ làm bù nhìn sau này.

Sau nǎm 1931, Trần Vǎn An từng làm nhân viên ngoại giao ở nguỵ Mãn Châu. Nǎm 1938, sau khi Quảng Châu thất thủ, Trần Vǎn An về hoạt động ở vùng biên giới Quảng Đông – Việt Nam. Cuối tháng 9 nǎm nay, giặc lùn xâm lược Việt Nam, Trần Vǎn An cũng theo chân trở về, hoạt động ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng. Khi giặc lùn rút, đã để Trần Vǎn An ở lại Lạng Sơn.

Chúng tôi ở Trung Quốc, đối với tình hình Việt Nam, cũng có những điều chưa được tỏ tường. Ví dụ, ngày mồng 5 tháng này, các báo đưa tin:

“Địch ở gần Lạng Sơn chiêu mộ dân Việt quanh vùng, tổ chức “phục quốc quân”, mỗi người được cấp mỗi tháng 30 đồng tiền Việt, cán bộ cấp dưới đều do địch quân tuyển lựa, thực lực có khoảng vạn người, mục đích của nó là muốn xúi giục người Việt giành lấy chính quyền, rồi do nó cai quản”.

Ngày 11, tin tức các báo lại khác:

“Những ngày gần đây, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam dần dần đã sôi nổi, mạnh mẽ. Tư lệnh Việt Nam phục quốc quân Trần Mỗ mấy ngày trước đã khởi nghĩa ở Bắc Kỳ, dân chúng mang lương thảo rầm rộ đi theo, hiện đã tập hợp được X vạn người…”.

Thế ra, “Phục quốc quân” của ngày mồng 5 là một tổ chức Việt gian, và cũng là “Phục quốc quân” nhưng của ngày mồng 10 đã biến thành đội tiên phong cách mạng dân tộc!

Tin tức của ngày 12 càng phủ định nguồn tin của ngày 11:

“Đồng Đǎng, Lạng Sơn và nhiều nơi khác tuy được quân Pháp tiếp phòng chu đáo, nhưng nguỵ “Phục hưng quân” cùng bọn thổ phỉ ở nhiều nơi bị đối phương lợi dụng bí mật tiếp tế vũ khí, gần đây lại ráo riết hoạt động, có khi tập kích cả quân Pháp …”.

Cuối cùng thì nguồn tin nào là chính xác? “Phục quốc quân” là bộ đội võ trang của nhân dân Việt Nam hay là tổ chức của Việt gian? Ngụy “Phục hưng quân” với “Phục quốc quân” liên quan thế nào? Ngoài ra, có hay không có lực lượng vũ trang thật sự của người Việt ? Cái ông Trần Mỗ đó là ai ?

Ký giả sau khi điều tra cẩn thận dựa vào các phía đáng tin cậy, có thể quả quyết rằng: Trần Mỗ chính là Trần Vǎn An; “Phục quốc quân” và “Phục hưng quân” là một mà hai, hai mà một; nhân dân Việt Nam có một tổ chức võ trang yêu nước thực sự, tuy phát triển chưa lớn mạnh.

Bây giờ, chúng tôi muốn nói rõ đôi điều:

Một, nông dân Lạng Sơn đầu óc đơn giản, vì cǎm hờn đế quốc Pháp, vì không biết rõ lai lịch của Trần Vǎn An, cho nên nghe thấy hai tiếng “phục quốc” đã “rầm rộ đi theo”. Một khi biết Trần Vǎn An là Việt gian, họ nhất định sẽ bỏ rơi y và tham gia vào đội ngũ giải phóng dân tộc chân chính.

Hai, vì cần giặc lùn tiến xuống phía Nam để phá hoại hoặc kiềm chế Anh, Mỹ mà Hítle nhường Việt Nam cho nó. Hiện nay, giặc lùn bị Anh, Mỹ, Xô cản trở, chưa dám làm cuộc Nam tiến, nhưng lại tiếc rẻ nguồn tài nguyên giàu có của Việt Nam, cho nên nó thuê bọn Việt gian, định gây ra các vụ lộn xộn để kiếm cớ chiếm Việt Nam.

Ba, kẻ địch đào tạo lực lượng Việt gian của nó không phải ở các nơi khác mà lại ở Lạng Sơn, ngay giáp với phía nam Quảng Tây. Điều này rất đáng để chúng ta lưu ý.

Bốn, chúng ta cần phân biệt rõ các đoàn thể chính trị và vũ trang của Việt Nam, không nên nhầm các tổ chức Việt gian thành “phong trào dân tộc”, càng không nên nhầm phong trào dân tộc chân chính của Việt Nam là “bọn thổ phỉ” hoặc “bị kẻ địch xúi giục”.

BÌNH SƠN

——————————

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 18-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa.
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác.
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tháng 2 nǎm 1941

———————–

Theo bài in trong tập Thơ
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr.9.
cpv.org.vn