Thư viện

Thư gửi Ban phương Đông (16-1-1935)

Các đồng chí thân mến!

Cǎn cứ vào báo cáo của đồng chí H.N. về tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương và theo kinh nghiệm của tôi ở Hoa Nam, Đông Dương, Thái Lan và ở Mã Lai, tôi thấy có bổn phận bức thiết đối với các đảng của chúng tôi là phải đề xuất với các đồng chí đề nghị sau đây:

Trừ một vài đồng chí rất hiếm hoi (đã được huấn luyện ở Trường đại học những người lao động phương Đông, hoặc là trí thức), còn đại đa số đồng chí của chúng tôi, trình độ lý luận và chính trị rất thấp.

Hậu quả của tình trạng thiếu kiến thức về lý luận như vậy là gì? Hậu quả khá nhiều. Các đồng chí đã nghe đồng chí H.N. kể về những hậu quả ấy trong báo cáo. Tôi nói thêm một vài hậu quả nữa:

1. Đa số các đồng chí – ngay cả những đồng chí có trách nhiệm- cũng không hiểu thật rõ “cách mạng dân chủ tư sản” là gì. Các đồng chí ấy nhắc đi nhắc lại những chữ ấy mà không hiểu nghĩa. Vì không thể giải thích được cho công nhân và nông dân, cho nên các đồng chí ấy thường tỏ vẻ lúng túng trong công tác tuyên truyền và cổ động. Để khỏi lung tung, các đồng chí buộc phải “bịa ra”. Do đó, một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác.

2. Các đồng chí ấy cũng không hiểu tại sao phải kết hợp cuộc cách mạng phản đế với cách mạng ruộng đất. Vì vậy mà những khẩu hiệu đưa ra lộn xộn, không phối hợp với nhau.

3. Các đồng chí ấy không hiểu sự khác nhau giữa Đảng với các tổ chức khác, cho đó là sự khác biệt về “cấp bậc”. Ví dụ như xếp Đảng ở số 1, Thanh niên cộng sản ở số 2, Công hội ở số 3, v.v.. Và khi một đồng chí đang hoạt động trong Đảng mà được cử sang hoạt động ở một tổ chức khác, đồng chí đó xem việc chuyển dịch ấy như là một “việc hạ cấp bậc”, gần như là một hình phạt!

4. Hoặc là, các đồng chí ấy bắt đầu tổ chức một nhóm liên minh chống đế quốc, rồi chọn những thanh niên của liên minh để tổ chức một Công hội. Cuối cùng chọn những hội viên Công hội để tổ chức một tổ Đảng.

5. Một cuộc bãi công bùng nổ. Những người lãnh đạo là trí thức viết vào một quyển vở theo trật tự 1, 2, 3, v.v. những bước đi phải tiến hành rồi họ đưa quyển vở ấy cho các đồng chí có trách nhiệm là công nhân. Các đồng chí này đưa quyển vở về nhà máy và thi hành máy móc những điều đã ghi trên giấy mà không biết phán đoán xem những điểm ấy có phù hợp với thực tế hay không!

Hoặc là, các đồng chí ấy dùng mọi biện pháp để phát động bãi công, nhưng khi công nhân đã rời nhà máy xuống đường, các đồng chí ấy không biết phải làm gì nữa.

6. Còn có một nguy cơ lớn khác. Tuy các đảng đã đưa những đồng chí công nhân vào các ban lãnh đạo, nhưng các đồng chí này vẫn bị ảnh hưởng của những phần tử trí thức, bởi vì theo các đồng chí ấy, “những người trí thức đã được đọc tất cả những điều ấy trong các bản luận cương hoặc trong sách”.

Tình hình ấy diễn ra trong thời kỳ 1930-1931, lúc mà các đồng chí của chúng ta đã là những chiến sĩ khá lão luyện và khá từng trải rồi. Nhưng hiện nay, tất cả hoặc hầu như tất cả các đồng chí ấy đã bị giết hay bị cầm tù. Những đồng chí đang hoạt động trẻ hơn, ít kinh nghiệm hơn, do đó có khả nǎng phạm những sai lầm nghiêm trọng hơn.

Vì vậy, tôi thấy tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khǎn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có.

Và biện pháp duy nhất có hiệu quả để giúp các đồng chí theo phương hướng đó là cho xuất bản những quyển sách nhỏ viết về các vấn đề sau đây:

1. Tuyên ngôn cộng sản,

2. Đảng cộng sản và tổ chức của Đảng,

3. Lịch sử Quốc tế Cộng sản,

4. Lịch sử Đảng,

5. Lịch sử R.K.P.B (Đảng Cộng sản Bônsơvích toàn Liên bang Xôviết),

6. Lịch sử Quốc tế Thanh niên (KIM),

7. Thanh niên cộng sản và tổ chức thanh niên,

8. Công hội,

9. Quốc tế Công hội đỏ,

10. Nông hội,

11. Vấn đề dân tộc,

12. Vấn đề ruộng đất,

13. Quốc tế Cứu tế đỏ (MOPR),

14. Liên minh chống đế quốc,

15. Chủ nghĩa đế quốc Pháp,

16. Cách mạng Tháng Mười,

17. Cách mạng Trung Hoa,

18. Khởi nghĩa vũ trang,

19. Những bài học của các sự biến 1930-1931,

20. Chủ nghĩa Tờrốtxki,

21. Nền kinh tế xôviết,

22. Mác, Ǎngghen, Lênin, Xtalin,

23. Làm thế nào để kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động hợp pháp,

24. Làm thế nào để tổ chức các chi bộ và làm cho các chi bộ hoạt động,

25. Làm thế nào để tổ chức một cuộc bãi công, một cuộc biểu tình, v.v.,

26. Làm thế nào để thực hiện mặt trận thống nhất,

27. Làm thế nào để tổ chức một tờ báo Đảng, tờ báo nhà máy, v.v.,

28. Làm thế nào để tổ chức học sinh, phụ nữ, v.v.,

29. Làm thế nào để vận động binh lính,

30. Luận cương và nghị quyết về vấn đề thuộc địa (của Quốc tế Cộng sản), v.v. và v.v..

Khi xuất bản những tập sách nhỏ ấy, cần phải chú ý đến: 1. Những khó khǎn về việc in lại sách ở các xứ này; 2. khó khǎn về việc giữ sách; 3. khó khǎn của độc giả cất giấu sách; 4. trình độ vǎn hoá thấp của các đồng chí chúng tôi không thể đọc và hiểu được những điều diễn đạt quá dài, quá khó. Vì vậy các tập sách nhỏ ấy phải ngắn, từ ngữ phải rất đơn giản, rất rõ ràng và dễ hiểu đối với quần chúng. Nếu có thể được, nội dung nên trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời.

Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hǎng hái. Các đồng chí ấy công tác rất tận tuỵ. Nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn luôn vấp váp vì thiếu thốn như vậy. Tất nhiên là các đồng chí sẽ được giáo dục rèn luyện trong đấu tranh và trong công tác thực tế hàng ngày. Nhưng có thể tránh được biết bao bế tắc, sai lầm và biết bao thất bại đau đớn, nếu chúng ta có thể cung cấp cho các đồng chí ấy những kiến thức tối cần thiết về lý luận soi đường, tạo điều kiện dễ dàng cho các đồng chí ấy tiến hành công tác.

Đồng chí Xtalin nghìn lần có lý khi nói rằng: “Lý luận tạo cho các đồng chí làm công tác thực tế, sức mạnh định hướng, sự sáng suốt dự kiến tương lai, kiên định trong công tác và lòng tin ở thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta”.

Những điều mà tôi nói về các đồng chí chúng tôi ở Đông Dương, ở Thái Lan, v.v. chắc chắn là cũng đúng đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa khác, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ vǎn hoá của những người lao động còn thấp. Những cuốn sách nhỏ đề nghị trên đây nhất định là cũng rất có ích đối với cả những nước ấy.

Thân ái chào cộng sản
Ngày 16 tháng 1 nǎm 1935
LIN

——————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi đồng chí Mácti (12-10-1937)

Đồng chí Mácti thân mến,

Chúng tôi đã nhận được tin đồng chí Pôn Vayǎng Cutuyariê của chúng ta sớm từ trần với một nỗi đau buồn sâu sắc.

Đây là một tổn thất to lớn cho Đảng Cộng sản Pháp của chúng ta, cho giai cấp vô sản Pháp, giai cấp vô sản thuộc địa và giai cấp vô sản thế giới.

Tôi đã khóc khi biết tin đồng chí Vayǎng Cutuyariê qua đời. Đối với tôi, anh là một đồng chí, một bạn thân và một người anh em. Chúng tôi đã quen biết nhau từ Đại hội Tua đáng ghi nhớ. Cho tới nǎm 1934, chúng tôi đã cùng nhau làm việc trong vấn đề thuộc địa mà anh từng chứng tỏ hết sức quan tâm.

Trong chuyến anh sang Viễn Đông với tư cách đại biểu và người tổ chức Hội nghị vì hoà bình và chống chiến tranh, chúng tôi đã gặp lại nhau tại Trung Quốc. Dịp đó, anh đã giúp tôi một việc rất lớn để tôi thoát khỏi một hoàn cảnh vô cùng khó khǎn mà tôi vấp phải.

Chúng tôi lại gặp nhau ở đây vào mùa hè, và đã cùng nhau thảo luận vấn đề thuộc địa, đặc biệt là vấn đề Đông Dương.

Giai cấp vô sản thuộc địa đã mất đi một người chiến sĩ tốt và một người bạn chân thành. Vayǎng Cutuyariê đã qua đời, nhưng tấm gương về sự tận tuỵ và lòng can đảm của anh vẫn còn. Khóc than anh qua đời, chúng tôi hứa sẽ noi theo tấm gương cao quý của anh, đấu tranh kiên trì hơn cho tới thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta.

Nhân danh cá nhân và nhân danh những người cộng sản Đông Dương cùng các giai cấp cần lao Đông Dương, tôi nhờ anh, đồng chí thân mến, chuyển tới Đảng Cộng sản Pháp của chúng ta, tới gia đình của đồng chí và bạn thân tiếc thương của chúng ta những lời chia buồn sâu sắc.

Ngày 12-10-1937
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản (6-6-1938)

Đồng chí thân mến,

Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Công. Đó cũng là ngày mở đầu nǎm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi. Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.

Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng.

Tôi sẽ rất biết ơn đồng chí, thưa đồng chí thân mến, cho phép tôi được hội kiến. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn. Đã từ lâu rồi đồng chí không gặp tôi.

Đồng chí thân mến, xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em của tôi.

6-6-1938
LIN
(Nguyễn Ái Quốc)

——————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc (2-1939)

Quế Lâm, cuối tháng 2

Các bạn thân mến,

Hãy thứ lỗi cho tôi vì không viết thư được thường xuyên cho các bạn. ở đây, chúng tôi bận đến mức là chúng tôi muốn được như Đức Phật nghìn tay – hay ít ra cũng phải như thế thì tôi mới có đủ tay để làm hết mọi việc cần làm.

Tôi muốn nói với các bạn về tình hình chính trị trong tháng này.

Sự biến chính trị quan trọng nhất là kỳ họp của Hội đồng chính trị quốc gia. Chắc các bạn đã nghe nói đến cái cơ quan mới được thiết lập ấy ít lâu sau khi bắt đầu có chiến tranh. Đó cũng là một món quà gián tiếp mà bọn phát xít Nhật đã tặng chúng tôi. Hội đồng là một thứ tiền Nghị viện. Việc thành lập Hội đồng này là một bước tiến tới nền dân chủ hoàn toàn. Và chúng tôi đang tiếp tục tiến lên trên con đường đó.

Kỳ họp được tiến hành vừa qua là kỳ thứ ba. Khi khai mạc, người ta chú ý đến một sự vắng mặt, đó là sự vắng mặt của Uông Tinh Vệ, cựu Chủ tịch của Hội đồng. Người ta ai cũng “tiếc” kẻ vắng mặt, ở chỗ là hắn không chịu cút đi sớm hơn. Bầu không khí lẽ ra đã sớm được trong sạch hơn và những hoạt động vô ích lẽ ra cũng tránh được. Đối với tên quỷ sứ khốn kiếp ấy thì làm Chủ tịch Hội đồng chính trị quốc gia của nước Trung Hoa – một nước Trung Hoa chiến đấu anh dũng và không ngừng tiến bộ – cũng chưa đủ. Hắn còn muốn làm người “cầm lái” một nước Trung Hoa bị ô nhục và biến thành thuộc địa của phát xít Nhật. Thật là “điều kỳ quặc” đáng buồn biết bao! May thay, hắn không còn là Chủ tịch Hội đồng nữa và cũng không bao giờ có thể làm người “cầm lái” nước Trung Hoa nữa; giờ đây, hắn chỉ là tên phản bội số 1 bị toàn dân cǎm ghét và lên án. Thôi cứ để cho quỷ tha ma bắt hắn đi! Chúng ta hãy nói về những việc quan trọng hơn.

Như vậy là Hội đồng chính trị quốc gia đã họp vào ngày 12-2-1939. Kỳ họp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Trung Quốc. Kỳ họp đã được tiến hành sau hai cuộc hội nghị rất quan trọng của hai chính đảng lớn của nước chúng tôi: Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong các nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 của Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản có nói: “Nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân Trung Quốc là kiên quyết tiến hành chiến tranh, một cuộc chiến tranh lâu dài, phát triển và củng cố Mặt trận dân tộc chống Nhật, nhằm khắc phục mọi khó khǎn, tǎng cường các lực lượng của chúng ta, chặn đứng bước tiến của quân thù, chuyển sang phản công, cuối cùng là đuổi bọn xâm lược ra khỏi đất nước chúng ta và tổ chức lại nước Trung Hoa – một nước Trung Hoa tự do, độc lập và hạnh phúc, theo chủ nghĩa tam dân”. (Tháng 10-1938).

Hội nghị lần thứ 5 của Đoàn Chủ tịch Quốc dân đảng (cuối tháng 1-1939) đã tuyên bố: “Từ nay, nhiệm vụ chúng ta càng nặng nề và khó khǎn hơn. Để đập tan những cố gắng cuối cùng nhưng là những cố gắng tuyệt vọng nhất của kẻ thù hung bạo, nhân dân ta đang phải góp hết sức mạnh tinh thần và vật chất vào việc tǎng cường đoàn kết, tích cực đấu tranh và xây dựng đất nước. Để làm tròn những nhiệm vụ đó, phải nâng cao tinh thần dân tộc và tǎng cường kỷ luật cách mạng”.

Trong bài diễn vǎn của mình đọc tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Quốc dân đảng, Thống chế Tưởng Giới Thạch nói: “Hiện nay nếu có cái tư tưởng khờ dại muốn nhân nhượng kẻ thù để mong đạt tới một nền hoà bình mơ hồ thì sẽ rơi vào cạm bẫy, sẽ đi đến diệt vong!”.

Trong bài diễn vǎn của mình đọc tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản, ông Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta hãy đề cao lòng tự tin và tự trọng của nhân dân ta. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh đến cùng. Chúng ta phải đả phá không chút thương xót chủ nghĩa thất bại và chủ nghĩa bi quan. Phải triệt để chống lại mọi khuynh hướng thoả hiệp và đầu hàng kẻ thù”.

Tôi dẫn các đoạn trích trên đây để chỉ ra cho các bạn thấy rằng kỳ họp lần thứ 3 của Hội đồng chính trị quốc gia đã họp vào lúc quan niệm thì thống nhất và sự hợp tác thì đã chặt chẽ giữa các đảng chủ yếu của chúng tôi trong Mặt trận dân tộc chống Nhật. Kỳ họp đã diễn ra giữa lúc những khuynh hướng thất bại chủ nghĩa và đầu hàng mà tiêu biểu là Uông Tinh Vệ – bọn này đã ngóc đầu dậy khi Quảng Châu và Hán Khẩu thất thủ – đã bị hoàn toàn tiêu diệt bởi tinh thần đoàn kết và quyết tâm của nhân dân.

Kỳ họp đã được tiến hành dưới sự chủ toạ của Thống chế Tưởng Giới Thạch. Vị Chủ tịch mới đã đọc hai bài diễn vǎn quan trọng. Tiếc rằng vì không có thời giờ nên tôi không thể trích để giới thiệu với các bạn được. Trong khi bế mạc kỳ họp, ông Chủ tịch đã khen ngợi sự đoàn kết chặt chẽ và tinh thần hợp tác anh em giữa các thành viên trong Hội đồng. Đoàn kết và hợp tác, ông nói – làm cho nhân dân càng tǎng thêm lòng tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Rồi ông nhấn mạnh một lần nữa đến các nhiệm vụ của Hội đồng, của Chính phủ và của nhân dân. Sứ mạng lịch sử của Hội đồng là đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đối với việc động viên và tổ chức nhân dân. Đến lượt chúng ta, động viên và tổ chức nhân dân là điều cần thiết để giành thắng lợi cuối cùng và để xây dựng lại đất nước. Đánh đuổi bọn xâm lược, diệt trừ những tên phản bội, nâng cao sự hiểu biết về chủ nghĩa tam dân – đó là những nhiệm vụ chung và trước mắt của chúng ta. Để làm tròn những nhiệm vụ ấy, cần có sự đoàn kết giữa Hội đồng, Chính phủ và nhân dân. ý nghĩa những bài diễn vǎn đó đại khái là như vậy.

Kỳ họp đã kéo dài 10 ngày. Trong thời gian ấy, các đại biểu đã vạch ra và thảo luận 86 dự án và kiến nghị, trong đó có 19 dự án và kiến nghị thuộc những vấn đề về quân sự, 18 về kinh tế và tài chính, 17 về giáo dục nhân dân, 3 về ngoại giao, 28 về nội trị, 3 về những vấn đề khác.

Các bạn thấy rằng các đại biểu của chúng tôi đã làm việc không phải là tồi. Cần chú ý là trong số đó có một vài dự án đã được đưa ra thực hiện ngay từ hôm nay vì lợi ích cuộc đấu tranh của chúng tôi chống bọn xâm lược, cuộc đấu tranh mà trong thư sau tôi sẽ nói với các bạn.

P.C. LIN

————————-

Báo Notre Voix, ngày 9-4-1939
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc

Quế Lâm, đầu tháng 3

Các bạn thân mến,

Hôm nay, tôi sẽ nói với các bạn về tình hình quân sự.

Trước khi đề cập chủ đề này, tôi muốn biết xem có khi nào các bạn thấy một chiếc tàu thuỷ bị mắc cạn trên một bãi cát hoặc một đầu máy xe lửa bị trật khỏi đường ray không ? Chắc có chứ! Như vậy là tôi dễ nói để các bạn rõ về tình hình quân sự của kẻ xâm lược chúng tôi. Ai cũng biết rằng quân đội Nhật Bản được cơ giới hoá cao. Càng có nhiều sông lớn và nhiều đường ray thì nó càng tiến nhanh. Nhưng ra khỏi những vùng đó thì nó không làm được trò trống gì. Ngày nay, nó đang bị mắc cạn, đang bị trật đường ray. Tệ hơn nữa, nó đang bị sa lầy, cơ giới của nó đang mất hết tác dụng và trở thành bất lực. Ngày nay, đến lượt chúng tôi tiến công. Để chứng minh điều đó, xin kể dưới đây vài sự việc và con số.

(Tất cả những sự việc và con số nêu lên đều được trích từ các bản thông cáo chính thức).

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ CẨM CHÂU, ngày 7-2-1939:

Trong tháng 1, tại vùng Sơn Đông, Hồ Nam và An Huy, chúng ta đã đánh 266 trận với quân thù đông tới 56.920 tên. Kết quả: 12.354 tên Nhật bị giết và chúng ta đã bắt được:

536 tù binh,

243 súng đại liên,

3.650 súng trường,

103.487 viên đạn,

22 đại bác,

1.134 đạn trái phá,

312 súng phóng bom,

2.008 lựu đạn và chúng ta đã phá được 7 chiếc xe
bọc thép

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ MÃ ĐIẾM, ngày 14-2-1939:

Du kích của chúng ta trong vùng Bắc Hồ Nam và Nam Hồ Bắc mới chiếm lại được sáu huyện: Hoàng Châu 1 , Kothi, Koung shan, Loohan, Kinfon và Suongsing.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ LẠC DƯƠNG 2 , ngày 16-2-1939:

Từ trung tuần tháng 11-1938, quân địch đã tập trung khoảng 10.000 người để “càn quét” du kích miền Nam, miền Trung và Hồ Bắc. Suốt 3 tháng (tháng 11, tháng 12 và tháng 1), chúng ta đã đánh trên 150 trận. Quân địch bị giết và bị thương đến 3.100 tên (Nhật và người Mãn Châu).

Chúng ta đã bắt được:

1.200 tù binh,

980 súng trường,

11 đại liên,

1 đại bác,

8 ôtô,

62 con ngựa.

Chúng ta đã phá huỷ được 37 ôtô, 15 xe bọc thép và 2 xe tǎng. Tổn thất của ta gồm 1.700 người bị giết, bị thương và bị thất lạc. Chiến dịch “càn quét” do quân địch tiến hành từ 3 tháng nay đã bị hoàn toàn bẻ gẫy.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ NAM DƯƠNG, ngày 24-2-1939:

Trong cuộc tiến công vào Licolin, phía tây tỉnh Sơn Tây, quân địch đã bị tổn thất trên 2.000 tên bị giết và bị thương, một đại tá và một trung tá Nhật đã bị giết. Chúng ta đã thu được trên 600 lừa và ngựa.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ LẠC DƯƠNG, ngày 25-2-1939:

Từ ngày 17-2 chúng ta đã bắt đầu tiến công vào Sangxinai, phía tây tỉnh Hồ Nam. Trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra suốt trong 3 ngày. Sau khi 700 tên bị diệt, quân địch tan rã đã chạy trốn. Trong khi truy kích, chúng ta đã diệt thêm 300 tên Nhật khác. Đó là thắng lợi lớn nhất của chúng ta trong vùng này từ hai tháng vừa qua.

Trong dịp Tết Nguyên đán Trung Quốc, du kích đã thình lình tiến công và chiếm lại được Tienchachin, cách Hán Khẩu không xa. Trong trận đánh, khoảng 1.000 tên Nhật đã bị giết.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ TRÙNG KHÁNH, ngày 8-3-1939:

Tổng kết về quân sự của chúng ta trong nửa sau của tháng 2:

Tại Sơn Tây – đánh 203 trận, 13.221 tên Nhật bị diệt. Ta bắt và thu được:

564 tù binh,

540 con ngựa,

1.589 súng trường,

52 đại liên,

3 đại bác,

96 xe bọc thép,

1.231 đạn trái phá.

Tại Hồ Nam – đánh 46 trận diệt 2.020 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

5 tù binh,

31 con ngựa,

189 súng trường,

8 đại liên,

9 xe bọc thép,

1.200 viên đạn.

Tại Honai, Sát Cáp Nhĩ, Sóc Châu, và Sơn Đông: đánh 75 trận, diệt 3.400 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

100 tù binh,

149 con ngựa,

291 súng trường,

20 đại liên,

6 đại bác,

43 ôtô,

3.000 viên đạn.

Tại Hồ Nam, Hồ Bắc và Quảng Tây: đánh 56 trận, diệt 1.475 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

28 tù binh,

28 con ngựa,

190 súng trường,

9 đại liên,

4 đại bác,

9 ôtô,

110 lựu đạn.

Tại Triết Giang – đánh 16 trận, diệt 117 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

2 tù binh,

26 súng trường,

11 đại liên.

Tại Quảng Đông – đánh 8 trận, diệt 668 tên Nhật. Chúng ta thu được 3 súng trường.

Ngoài ra, chúng ta còn đánh đắm 6 tàu thuỷ của Nhật, phá huỷ 267 kilômét đường ray và hạ 2 chiếc máy bay trên cầu.

Ngày 10-2, phi công của ta đã ném bom xuống sân bay Wansing, phía nam tỉnh Sơn Tây, phá huỷ 11 máy bay địch.

Ngày 20-2, 30 máy bay địch đến ném bom xuống Lan Châu.

Ta đã hạ được 9 chiếc. Ba hôm sau, chúng lại đến với 20 máy bay. Chúng ta đã hạ được 6 chiếc.

Theo các báo xuất bản ở Hồng Công, từ tháng 10-1937 đến tháng 11-1938, số người Nhật bị giết và bị thương là 600.080.

Ngày 20-1-1939, tổng hành dinh Nhật tuyên bố rằng, từ khi bắt đầu chiến tranh đến ngày 30-12-1938, Nhật Bản mất 1.010 máy bay, trong đó 221 chiếc bị hạ và 179 chiếc bị phá huỷ bởi không quân Trung Quốc, 107 chiếc bị lục quân phá huỷ và 11 chiếc do hệ thống phòng không Trung Quốc hạ, 19 chiếc bị bắt buộc phải hạ cánh và 17 chiếc bị mất tích. Ngoài ra, còn có 365 chiếc bị thiệt hại do những nguyên nhân khác nhau.

Những con số đó hoàn toàn ǎn khớp với những bản tin của Trung Quốc. Từ ngày 1-1 đến 25-2, chúng tôi đã hạ được 28 máy bay của địch. Như vậy, tổng cộng lại, bọn Nhật đã mất 1.038 máy bay.

Xin lỗi các bạn vì tôi đã nhồi nhét các bạn với bấy nhiêu con số. Song là “những con số hùng hồn” như người Pháp vẫn nói. Chúng hùng hồn hơn bất cứ một sự mô tả nào khác mà tôi có thể làm được.

Các bạn sẽ nói: được, nhưng người Trung Quốc cũng bị tổn thất, những tổn thất lớn nữa là khác. Chúng tôi không hề giấu giếm điều đó. Chúng tôi xin thành thực nói với các bạn. Chúng tôi thành thật nói là khi bắt đầu chiến tranh, phía Trung Quốc có 5 người chết thì phía Nhật Bản có 1 người chết. Ngày nay, trên mặt trận chính quy, tổn thất hai bên ngang nhau, bên phía Trung Quốc 1 người chết, phía Nhật Bản cũng 1 người chết. Nhưng “trên mặt trận du kích”, chẳng hạn ở Sơn Đông và ở Hồ Bắc, trung bình 4,5 người Nhật bị giết, trong khi phía Trung Quốc 1 người bị giết, còn ở Sơn Tây, cứ 14 người Nhật bị giết thì phía Trung Quốc có 1 người bị giết.

Các bạn sẽ nói: Cường điệu. Tin hay không, tuỳ ý các bạn (1). Nếu các bạn biết anh em du kích đã chiến đấu như thế nào, hẳn các bạn sẽ không chút lấy làm lạ về những con số trên đây. Trong một bức thư sau, có lẽ tôi sẽ có dịp nói với các bạn nhiều hơn về vấn đề này. Trong khi chờ đợi, chỉ cần nói với các bạn rằng anh em du kích chúng tôi đánh giặc chủ yếu là bằng mưu mẹo và sự bất ngờ. Nếu khi họ thấy chưa chắc thắng được kẻ địch thì họ chưa đánh. Một tên tư lệnh Nhật đã nói một cách chua chát rằng nói đến du kích là làm cho hắn đau đầu. Hắn còn thêm rằng “bọn người Trung Quốc đó không biết tiến hành chiến tranh như những người vǎn minh. Chúng tiến công khi người ta bất ngờ nhất. Khi người ta đi tìm chúng, thì không thấy chúng đâu cả!”. Đúng như vậy. Nhưng nếu bọn Nhật muốn quân du kích đánh giặc như những “người vǎn minh” bằng cách dùng giáo mác và súng trường để chọi với xe tǎng và đại bác thì chúng có thể cứ chờ đó. Chúng tôi không đến nỗi ngu ngốc như thế!

Hôm nay, tôi đã nói chuyện khá nhiều rồi. Vậy xin tạm biệt các bạn thân mến, và hẹn đến thư sau.

P.C. LIN

——————————

Báo Notre Voix, ngày 16-4-1939
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc

Hôm nay, tôi sẽ nói với các bạn về tình hình nội bộ quân thù.

Lúc đầu, bọn quân phiệt Nhật hứa là sẽ chiến thắng trong 3 tháng, rồi 6 tháng, rồi lại sau khi chiếm Hán Khẩu. Nhưng cuộc đấu tranh đã kéo dài từ gần 2 nǎm nay. Hán Khẩu một lúc nào đó đã bị thất thủ, nhưng thắng lợi thì vẫn chưa có. Hơn nữa, tình hình của nhân dân Nhật lại ngày càng tồi tệ. Giá sinh hoạt và thuế má ngày một tǎng nhanh và không thể nào tính toán nổi. Mùa màng thu hoạch kém, 1,8 triệu công nhân không có việc làm, 3 triệu người thất nghiệp từng phần. Bất chấp sự đe doạ của toà án quân sự, từ tháng 1 đến tháng 6-1938, đã nổ ra 593 cuộc bãi công của công nhân và 2.995 cuộc biểu tình thị uy của nông dân. Một số lớn trí thức bị bắt. Các hiệu buôn nhỏ bị khánh kiệt, vì những người chủ của chúng bị gọi ra mặt trận. Người ta thấy binh lính ra đi, nhưng chỉ thấy chở về nước những bình đựng di hài 1 hoặc chỉ thấy gửi về những tờ phiếu nhỏ ghi là “Đã hy sinh ở chiến trường”.

Thêm vào đó là không khí phát xít trong quân đội của Nhật hoàng và nỗi đau khổ của những cuộc trường chinh trên một đất nước xa lạ và thù địch. Cuộc tiến công dồn dập của du kích, việc tuyên truyền chống chiến tranh được tiến hành ở Nhật, sự tỏ tình thân thiện của quân đội và nhân dân Trung Quốc – tất cả những điều đó đã ảnh hưởng nặng nề đến binh lính Nhật. Đối với những người tiêu cực, sau khi mất tinh thần thì họ tự tử.

Những người giác ngộ nhất thì nổi dậy. Tôi không kể ra đây danh sách những vụ tự tử vì sẽ quá dài dòng. Tôi chỉ kể vài – chứ không phải tất cả cuộc nổi dậy gần đây nhất, vẫn là theo những thông cáo chính thức thôi.

NHỮNG VỤ BINH BIẾN

Takou, ngày 22-1.

3.000 binh sĩ đã làm binh biến. Trong khi lên tàu thuỷ ở Thượng Hải, họ được những viên thuyền trưởng cho biết họ sắp được trở về Nhật Bản. Nhưng đến ngoài khơi Takou, đáng lẽ các tàu đó tiếp tục đi về hướng Đông, nhưng chúng lại hướng vào cảng này. Bị binh lính chất vấn, các viên thuyền trưởng nói rằng theo phản lệnh của bộ tổng tư lệnh, binh lính phải hoãn nghỉ phép để đi đến Sơn Tây là nơi mà hoạt động của du kích đang phát triển. Thế là cuộc binh biến bắt đầu. Bốn chiếc tàu chiến đậu ở cảng bắt đầu bắn vào những người làm binh biến. Những binh lính đồn trú ở Takou – tưởng rằng bọn lính thuỷ tiến công chúng, liền nã súng vào những chiếc tàu đó. Về phía du kích, thì tưởng rằng quân đội của chúng tôi đã đến và đang bị quân Nhật tấn công, nên cũng vội vàng xông vào cứu. Người ta đánh nhau loạn xạ. Cuộc chiến đấu kéo dài trong nhiều giờ và chỉ chấm dứt khi những lực lượng Nhật Bản khác được điều đến. Binh lính và những người Nhật làm binh biến đều bị chết và bị thương nhiều. Những người làm binh biến còn sống sót đều bị áp giải lên mặt trận Luyouan.

Hán Khẩu, ngày 9-2.

Những tổ chức bí mật do binh lính Nhật thành lập, muốn tỏ tình đoàn kết với những người làm binh biến ở Takou. Nhưng không may là kế hoạch đã bị lộ từ trước. Những người bị bắt gồm có: 12 hiến binh, 130 sĩ quan và binh lính, 55 người dân thường (tất cả đều là người Nhật) và 8 người Bạch Nga.

Chouangtung (phía bắc tỉnh Hà Bắc), ngày 13-2.

Từ mặt trận Wangxung trở về để đi lên Hán Khẩu, khoảng 2.000 binh sĩ Nhật đã nổi dậy và giết viên chỉ huy của họ là thiếu tá Yo Katha. Những người làm binh biến bị tấn công cùng một lúc bởi những lính thuỷ và bộ binh được phái đến đàn áp họ. Về phía họ có nhiều người chết.

Chongcha, ngày 17-2.

2.000 lính Nhật được lệnh phải ra mặt trận. Đến Jouchikiou, họ không chịu lên tàu. Lữ đoàn của tướng Hamito được điều đến để đàn áp họ. Cuộc chiến đấu giữa quân đội và những người làm binh biến đã diễn ra trong một ngày rưỡi. Khoảng 800 binh sĩ làm binh biến đã bị hy sinh.

Singlo, ngày 26-2.

Theo tin tức do một số người Nhật ở Thái Nguyên cho biết thì ngày 13-2, trung đoàn của đại tá Nomura vừa đến phía tây tỉnh Sơn Tây thì nổi dậy. Viên đại tá đã tự sát và 9 tên sĩ quan bị những người làm binh biến giết.

LÒNG CUỒNG TÍN ẤY CÒN ĐÂU NỮA

Người ta thấy rằng trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật và trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật, khi một người lính ra mặt trận, anh ta được gia đình và làng xóm dọn tiệc mừng. Lúc lên đường, anh ta được cả làng đi tiễn, có mang theo nhạc cụ và cờ. Trên những lá cờ đó có ghi những lời động viên như: “Hy sinh vì Nhật hoàng là vinh dự lớn nhất!”, “Hãy chiến thắng khi trở về hoặc là tự sát trên chiến trường!”, v.v.. Người Nhật lấy làm tự hào được phục vụ Nhật hoàng. Người ta tự hào vì đã có con hoặc chồng ở mặt trận. Còn ngày nay thì thế nào ?

Ngày nay, sự cuồng tín đó đã giảm đi nhiều, nếu không nói là đã tiêu tan rồi. Chúng tôi xin trích vài đoạn trong các báo, những đoạn này đã được các tù binh xác nhận.

Singlo, ngày 6-2.

Một sĩ quan phiên dịch người Nhật nói rằng, gần đây trong huyện X, khi những đoàn tàu quân sự sắp chuyển bánh, bố mẹ các binh sĩ bắt đầu khóc than và la ó, rồi họ nằm lên trên đường sắt để ngǎn không cho tàu chạy. Họ đông đến nỗi hình thành một dãy dài khoảng 6 kilômét. Cảnh tượng thật là đáng thương đến nỗi có những công nhân lái đầu máy xe lửa phải tự tử để khỏi bị buộc phải lái những đoàn tàu đó.

Thái Nguyên, ngày 15-2.

Phần đông binh lính vừa mới đến Sơn Tây là những người buôn bán, tuổi từ 30 đến 35 – họ không thích chiến tranh. Trong khi trò chuyện, họ kể rằng những người phụ nữ Nhật đã tự tổ chức lại thành cái gọi là “tổ chức để đòi chồng”.

Mặt trận trải quá dài. Bọn quân phiệt không có đủ người. Để khắc phục điều đó, chúng cưỡng ép những người Triều Tiên, Mãn Châu và những người Trung Quốc trong vùng bị chiếm phải nhập ngũ và đưa họ ra mặt trận. Chúng nói “Làm như vậy rẻ hơn”. Nhưng trên thực tế, đó là “uống thuốc độc cho đỡ khát”, như ngạn ngữ Trung Quốc đã từng nói. Những người Triều Tiên, Mãn Châu và những người Trung Quốc trong các vùng bị chiếm chỉ mong chờ có cơ hội thuận tiện là sẽ quay súng chống lại bọn Nhật tàn bạo đó. Xin trích dẫn thêm vài bản thông cáo chính thức mà tình cờ chúng tôi đọc được.

Hồng Công, ngày 12-2.

Gần Quảng Châu, 6.000 binh lính Triều Tiên đã nổi dậy. Nhiều sĩ quan Nhật bị giết. Những đội tảo phạt gồm lính bộ binh và hải quân được phái đến để đàn áp những người làm binh biến. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt cả ngày. Những người đứng đầu cuộc nổi dậy là Thôi Chang Kwei, Li Vin Ka, Kim Chang Han và 800 người Triều Tiên khác đều bị giết. Số còn lại bị quân lính áp giải về Triều Tiên.

Louang, ngày 23-2.

Những đội gọi là tự vệ ở các khu Lang Song và Jongshan, sát ngay Bắc Kinh, đều do Chang Dung Lai, Oei Sou Tin, Chou Wan Lung và Hoa The Hai chỉ huy. Những đội đó gồm trên 1.000 người. Sau khi cấp vũ khí và trả lương, bọn Nhật phái những đội ấy đi coi như những đội quân tiên phong đi chống du kích tại miền Nam Hồ Bắc. Nhưng đáng lẽ đi về phía nam thì Chang Dung Lai và những người bạn chiến đấu của anh lại gặp nhau ở Joumachang, gần Jongshan, và tấn công mạnh mẽ vào quân đội Nhật.

Sau khi đọc qua vài sự việc trên đây, chắc các bạn thừa hiểu vì sao bọn Nhật sau khi chiếm Hán Khẩu, Quảng Châu và Nam Dương thì không còn tiến được nữa.

P.C. LIN

———————————

Báo Notre Voix, ngày 21-5-1939
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí ở Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản

Bạn thân mến,

Trong thư trước, tôi quên nói với bạn một vài điều. Hôm nay tôi bổ sung thêm điều đó.

ít lâu nay, tôi có quan hệ với chủ nhiệm báo Notre Voix (14) – tờ tuần báo xuất bản ở Hà Nội từ 1-1939. Đó là những mối liên hệ thuần tuý báo chí. Tôi đã gửi cho ông ta một bài báo nói về những sự tàn bạo của Nhật Bản 1 ở Trung Quốc. Sau khi đǎng bài báo đó, ông ta viết cho tôi rằng, bài báo được bạn đọc hoan nghênh và yêu cầu tôi luôn luôn gửi cho ông ta tài liệu. Để đáp lại, tôi đã đề nghị ông ta phái ai đó nói chuyện cụ thể với tôi về hình thức cộng tác này. Ông ta không trả lời. Tôi viết thư lần thứ hai. Không có sự trả lời. Tuy nhiên ông ta tiếp tục gửi báo của ông ta cho tôi; và tôi – thỉnh thoảng gửi cho ông ta những bài báo.

Có thể đến tháng 5 tôi sẽ phái một người nào đó nói chuyện với ông ta.

Khi đọc Notre Voix, tôi thấy những thông tin khá hay:

1. Nhóm cánh tả có nhiều tờ báo:

Dân chúng 15 (Masse), nhật báo cộng sản tiếng bản xứ, xuất bản hợp pháp ở Sài Gòn, có 10.000 người đọc.

Lao động (Travail).

Dân tiến (Progrès).

Dân muốn (Voeux du Peuple), tất cả ở Sài Gòn.

Đời nay (époque Actuelle).

Thế giới (Monde), cơ quan của Thanh niên dân chủ.

Notre Voix – tờ tuần báo cộng sản – tất cả ba tờ ở Hà Nội.

Những tờ báo này bị cấm nghiêm ngặt ở Trung Kỳ và luôn luôn bị các nhà chức trách Bắc Kỳ và Nam Kỳ không để cho yên. Những phần tử cánh tả người Pháp có hai tờ báo: Effort và Agir.

Giúp Trung Quốc: Những thanh niên cánh tả người bản xứ đã tổ chức lạc quyên để giúp những nạn nhân chiến tranh và cả những đảng viên nữa, gửi thuốc men cho quân đội chúng ta, tung ra khẩu hiệu “Giúp Trung Quốc”, và tuyên truyền tẩy chay hàng hoá Nhật Bản. Họ đã đòi trục xuất ra khỏi lãnh thổ Đông Dương tên Uông Tinh Vệ và những tên phản bội khác.

Theo tờ Notre Voix, họ đã sáng tác một bài ca dao “Cứu Trung Quốc là cứu mình!”; bài ca dao đó đã trở nên rất phổ thông trong quần chúng. Ngay cả những trẻ chǎn trâu bò cũng hát.

Thanh niên Trung Quốc và thanh niên bản xứ cùng nhau tổ chức những buổi biểu diễn để giúp Trung Quốc.

Chi nhánh Đảng Xã hội Pháp, Hội nhân quyền (Hà Nội) và những phần tử cánh tả người bản xứ đã lập “Hội bảo vệ Trung Quốc”. Mới đây, Hội này đã tổ chức một chợ phiên lớn để giúp đỡ nạn nhân chiến tranh.

2. Đảng Xã hội 1 – Trong hội nghị (đầu tháng 1), họ đã biểu quyết về các nghị quyết chống đàn áp, về sự thống nhất hành động và về sự bảo vệ Trung Quốc.

Những đại biểu của Thanh niên dân chủ đã có mặt ở hội nghị để yêu cầu thành lập một chi hội thanh niên xã hội nhằm thống nhất và lãnh đạo phong trào thanh niên ở Đông Dương.

Trong thời gian hội nghị, Notre Voix đã đǎng một bức thư chào mừng hội nghị của những người xã hội và đề nghị lập mặt trận thống nhất.

Hội nhân quyền đã đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ.

3. Dưới một cớ tầm phào vô lối, hai đảng viên Dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ đã bị tước quyền đại biểu và bị buộc tội.

Để chống lại sự tǎng thuế, ba đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội (được bầu vào tháng 12 trước, với số trung bình 409 phiếu so với với số trung bình 157 phiếu của danh sách tư sản) đã từ chức.

Những lãnh tụ cánh tả – Tạo, Mai, Ninh, Nguyễn được ân xá vào dịp đầu nǎm âm lịch, đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng thuộc địa của Nam Kỳ.

4. Sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những … phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động.

Những sự khám xét, bắt bớ diễn ra hàng ngày ở tỉnh này hay ở tỉnh khác.

Thuế má tǎng.

Sự phá hoại chống lại luật xã hội lan rộng. Ngày nghỉ hàng tuần bị bãi bỏ ở một loạt hiệu buôn.

5. Bọn phản động hoạt động mạnh.

ở Hà Nội, mới xuất bản một tờ báo phát xít: Cứu nước, đấu tranh chống mặt trận nhân dân, những hội viên Tam điểm, những người Do Thái, những người xã hội và những người cộng sản. Số báo Cứu nước đầu tiên viết: “Chúng ta không giấu giếm, chính chúng ta muốn nói to lên rằng Đảng được chúng ta tán thành nhất đó là Đảng bình dân Pháp do Đôriô (Doriot) lãnh đạo…”.

Đọc, một tờ báo mới do một người bản xứ lãnh đạo cũng đòi chủ nghĩa quốc xã. Đây là một vài chỗ nổi của nó: “Chính phủ Pháp, nếu muốn cộng tác thành thực với người An Nam phải thực hiện chính sách chống cộng”. Tất cả được in bằng tít chữ to (10-1-1939) “Chủ nghĩa cộng sản là tai hoạ của loài người. Chính phủ còn chờ gì để tiêu trừ bọn vô lại cộng sản ?” (13-1-1939). Biên tập viên của tờ báo này vừa mới được phép xuất bản một tờ báo hàng ngày bằng tiếng bản xứ Pháp – An Nam và Chính phủ đã hứa cho hắn làm quan ở cấp khá cao.

Tờ Tổ quốc An Nam có khuynh hướng phát xít. Nó tôn thờ Mútxôlini (Moussolini) và nước Italia phát xít.

Bọn tờrốtkít chia làm hai nhóm cãi lộn nhau.

Bọn Nhật Bản hoạt động khá mạnh ở Đông Dương. Một nhà báo Pháp và một người bản xứ đã bị kết án 15 nǎm tù khổ sai vì làm gián điệp cho Nhật Bản. Một sĩ quan Nhật Bản đã bị bắt giữ với chiếc cặp đầy tài liệu mật về phòng thủ Đông Dương.

Đọc Notre Voix, tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh.

Tôi khá khoẻ. Tôi góp phần nhỏ bé của tôi vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân. Tôi chúc bạn sức khoẻ tốt và tôi xin bạn nhận lời chào thân thiết nhất của tôi.

20-4-1939
LIN

Địa chỉ: (Bằng máy bay)
Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc 1

—————————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào toàn quốc

Toàn quốc đồng bào!

Toàn thể đồng chí!

Tháng 8 nǎm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một nǎm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi.

Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc.

Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta.

Song muốn tiếp thu lòng đồng tình và sự giúp đỡ đó, chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang.

Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một nǎm hoặc nǎm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!

Tôi mong rằng các đảng phái và các đoàn thể đều ra sức chuẩn bị cùng nhau thảo luận, để khai cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội trong nǎm nay. Như vậy thì ngoại viện nhất định cầu được, cứu quốc nhất định thành công.

Lời chào thân ái
Tháng 10 nǎm 1944

Hồ Chí Minh

In trong sách Vǎn kiện Đảng,
(từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963,
tr.446-447.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Bécna và ông Phen 9-5-1945

Ông Bécna và ông Phen thân mến!

Tôi hết lòng cám ơn các ông về sự giúp đỡ của các ông cho các bạn chúng tôi.

Tôi mong muốn là các bạn của chúng tôi sẽ học được vô tuyến điện và những thứ cần thiết khác cho cuộc đấu tranh chung chống Nhật của chúng ta.

Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại khu cǎn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật là tuyệt.

Cho phép tôi gửi lời chào kính trọng tới tướng Sênôn.

9-5-1945
Chân thành gửi tới các ông lời
chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thân mến
Hồ

Bút tích tiếng Anh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Phen 9-6-1945

Ông Phen thân mến!

Ông T và người giúp việc của ông ta vẫn mạnh khoẻ. Chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà. Tôi hy vọng ông sẽ đến thǎm chúng tôi một ngày gần nhất.

Ông làm ơn đưa bức thư này tới người bạn của tôi tên là Tống Minh Phương ở quán cà phê Đông Dương. Mười hoặc mười hai ngày sau đó họ sẽ trao cho ông một gói quà trong đó có lá cờ của Đồng minh. Tôi rất cảm ơn ông nếu ông gửi những thứ đó cho tôi bằng cách nhanh nhất.

Xin gửi ông và ông Bécna cùng các bạn những lời tốt đẹp nhất.

Chúc ông sức khoẻ và may mắn.

9-6-1945
Thân mến
Hồ

Bút tích tiếng Anh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Phen 21-7-1945

Ông Phen thân mến!

Tôi muốn viết cho ông thư dài để cảm ơn tình cảm của ông đối với tôi. Tiếc thay không thể viết dài được vì sức khoẻ tôi hiện giờ chưa được tốt lắm (nhưng không đến nỗi nguy kịch, ông an tâm).

Điều tôi muốn nói với ông thì ông Tam sẽ nói thay tôi. Nếu ông gặp các ông Bécna, Vinca Reit và Cácten (của cơ quan thông tấn) và những người bạn khác của chúng ta, nhờ ông chuyển tới họ lời chúc mừng tốt đẹp nhất của tôi.

Ông Tam nói là ông sẽ đến đây. Chúng tôi luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông.

Hãy đến nhanh ông nhé.

Tôi chúc ông mạnh khoẻ và may mắn.

21-7-1945
Thân mến
C.M Hồ

Tài liệu tiếng Anh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa

Hỡi đồng bào yêu quý!

Bốn nǎm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bào ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc Lập, Tự Do.

Hiện nay quân đội Nhật đã tan rã, phong trào cứu quốc lan tràn khắp nước. Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) có hàng chục triệu đội viên, gồm đủ các tầng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, gồm đủ các dân tộc Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán. Trong Việt Minh đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, lương, giáo, giàu, nghèo.

Vừa đây Việt Minh lại triệu tập “Việt Nam quốc dân đại biểu Đại hội”, cử ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam để lãnh đạo toàn quốc nhân dân kiên quyết đấu tranh kỳ cho nước được độc lập.

Đó là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử tranh đấu giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay.

Đó là một điều khiến cho đồng bào ta phấn khởi và riêng tôi hết sức vui mừng.

Nhưng chúng ta chưa thể cho thế là đủ. Cuộc tranh đấu của chúng ta đương còn gay go, dằng dai. Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập.

Việt Minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta trong lúc này. Hãy gia nhập Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, làm cho Việt Minh rộng lớn mạnh mẽ.

Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước.

Như vậy thì Tổ quốc ta nhất định mau được độc lập, dân tộc ta nhất định mau được tự do.

Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!

Tháng 8 nǎm 1945
Hồ Chí Minh

In trong sách Vǎn kiện Đảng, (từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1963, tr. 532-533.
Theo bài in trong sách Vǎn kiện Đảng.
cpv.org.vn