Thư viện

Ý Đại Lợi thực bất đại lợi

Đánh bạc với chiến tranh là thủ đoạn quen dùng của giai cấp thống trị ý. Trước nǎm 1914, ý là đồng minh của Đức. Sau khi cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất nổ ra, thấy trong túi của Anh, Pháp, Mỹ đầy ắp những tiền, máu tham nổi lên, bất chấp tín nghĩa, ý đã bán đứng bạn đồng minh của mình, gia nhập liên minh, tuyên chiến với Đức. ý chắc mẩm lúc đó Đức đã bị Anh – Pháp – Nga bao vây chặt, chỉ cần ý tham gia là chiến tranh sẽ dễ dàng thu được thắng lợi. Khi đại bộ phận quân Đức bị giam chân ở Vécxây, quân ý bèn ào ào tiến quân vào bắc Biacôvi với khí thế như dời non lấp biển. Dè đâu chưa kịp vượt sông thì quân ý đã bị quân Đức đánh cho tan tác tơi bời, không còn một mảnh giáp. Ngày chiến tranh châu Âu kết thúc, ở hội nghị Vécxây, ý được hưởng phần ǎn chia chẳng bõ bèn so với cái đã mất.

Trong cuộc chiến tranh đế quốc lần này, nhà cầm quyền ý thấy lão Hít phẩy tay một cái đã nuốt chửng bảy nước, máu tham lại không kìm được. Thế là nó liều mạng, một mặt tấn công Ai Cập, một mặt xâm lược Hy Lạp. Ngờ đâu đại quân vừa xuất trận thì tin thất bại đã bay về như tuyết rơi. Trong cùng tháng (ngày mồng 9 tháng này), trên đất Ai Cập, quân Anh đột nhiên mở cuộc tấn công toàn diện, mấy nghìn quân ý bị bắt làm tù binh… Dinh luỹ cuối cùng quân ý chiếm được ở Anbani – Agilô Caxtơrô – bị quân Hy Lạp đột phá, đó là thất bại lớn nhất của quân ý kể từ ngày tham chiến… Quân đội Hy Lạp đã chiếm được 1/4 Anbani… (tin điện Hoa Kỳ).

Trong khi đó, giai cấp thống trị ý lại gặp những chuyện bất lợi khác. ở Tơrielit, ở Phuma và nhiều nơi khác có “phiến loạn” chống chiến tranh, chống phát xít. ở Xanh Gôlǎng, nhân dân vũ trang nổi dậy, tập kích quân ý, giết và làm bị thương hơn 200 binh sĩ… Xung đột kịch liệt đã xảy ra trong nội bộ đảng phát xít, đến nỗi Tổng tư lệnh là tướng Patôgriô, Tư lệnh tiền phương là Nguyên soái Graxini, v.v., buộc phải từ chức.

Tất cả những sự việc đó cho chúng ta thấy rõ rằng giấc mộng của Mútxôlini muốn khôi phục lại Impiris Romano (1) đã thành bong bóng xà phòng, và cái ngày mà nhân dân ý thoát khỏi gông xiềng phát xít đã sắp đến rồi.

BÌNH SƠN

————————-

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 16-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Việt Nam “phục quốc quân” hay là “mại quốc quân”

Nǎm 1905, chiến tranh Nhật – Nga, giặc lùn may mắn thắng trận. Đây là lần đầu tiên người da vàng đánh bại người da trắng, chuyện đó khiến thanh niên trí thức Việt Nam nói chung rất phấn khởi. Họ cho rằng nước Nhật Bản “đồng vǎn đồng chủng” và “anh dũng tuyệt vời” tất có thể giúp Việt Nam đánh đuổi đế quốc Pháp. Vì ảo tưởng này mà nhiều thanh niên Việt Nam đã vượt mọi nguy hiểm, chạy tới nước Nhật du học. Lãnh tụ của họ là Phan Bội Châu nổi danh vì tài vǎn chương. Mục đích của họ là sang học quân sự rồi về tổ chức khởi nghĩa vũ trang, khôi phục lại Tổ quốc. Để kêu gọi dân chúng, họ đưa cả ông Hầu 3 cùng sang Nhật.

Cao tổ của ông Hầu là Nguyễn Cảnh, con trưởng bà vợ cả của hoàng đế Gia Long (Việt Nam). Một cuộc chính biến cung đình đã khiến Nguyễn Cảnh không kế vị được ngôi vua. Bởi nguyên cớ đó mà đối với các vua Việt Nam hiện nay, Nguyễn Cảnh cũng như con cháu ông ta hận đến tận xương tuỷ, lúc nào cũng chỉ muốn đoạt lại vương vị. Phan Bội Châu lợi dụng mâu thuẫn đó, đưa Cường Để ra làm chiêu bài.

Lúc đầu, Chính phủ Nhật đối xử rất tốt với những thanh niên Việt Nam sang Nhật, và lợi dụng phong trào chống Pháp để hù doạ

đế quốc Pháp. Nǎm 1907, sau khi hiệp ước Pháp – Nhật rất có lợi cho giặc lùn được ký kết, Chính phủ Nhật lập tức hạ lệnh trục xuất các thanh niên Việt Nam. Riêng với Cường Để và con nuôi ông ta là Trần Vǎn An được Khuyển Dưỡng Nghị lấy danh nghĩa cá nhân, lưu hai người ở lại Nhật Bản, tính kế dùng họ làm bù nhìn sau này.

Sau nǎm 1931, Trần Vǎn An từng làm nhân viên ngoại giao ở nguỵ Mãn Châu. Nǎm 1938, sau khi Quảng Châu thất thủ, Trần Vǎn An về hoạt động ở vùng biên giới Quảng Đông – Việt Nam. Cuối tháng 9 nǎm nay, giặc lùn xâm lược Việt Nam, Trần Vǎn An cũng theo chân trở về, hoạt động ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng. Khi giặc lùn rút, đã để Trần Vǎn An ở lại Lạng Sơn.

Chúng tôi ở Trung Quốc, đối với tình hình Việt Nam, cũng có những điều chưa được tỏ tường. Ví dụ, ngày mồng 5 tháng này, các báo đưa tin:

“Địch ở gần Lạng Sơn chiêu mộ dân Việt quanh vùng, tổ chức “phục quốc quân”, mỗi người được cấp mỗi tháng 30 đồng tiền Việt, cán bộ cấp dưới đều do địch quân tuyển lựa, thực lực có khoảng vạn người, mục đích của nó là muốn xúi giục người Việt giành lấy chính quyền, rồi do nó cai quản”.

Ngày 11, tin tức các báo lại khác:

“Những ngày gần đây, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam dần dần đã sôi nổi, mạnh mẽ. Tư lệnh Việt Nam phục quốc quân Trần Mỗ mấy ngày trước đã khởi nghĩa ở Bắc Kỳ, dân chúng mang lương thảo rầm rộ đi theo, hiện đã tập hợp được X vạn người…”.

Thế ra, “Phục quốc quân” của ngày mồng 5 là một tổ chức Việt gian, và cũng là “Phục quốc quân” nhưng của ngày mồng 10 đã biến thành đội tiên phong cách mạng dân tộc!

Tin tức của ngày 12 càng phủ định nguồn tin của ngày 11:

“Đồng Đǎng, Lạng Sơn và nhiều nơi khác tuy được quân Pháp tiếp phòng chu đáo, nhưng nguỵ “Phục hưng quân” cùng bọn thổ phỉ ở nhiều nơi bị đối phương lợi dụng bí mật tiếp tế vũ khí, gần đây lại ráo riết hoạt động, có khi tập kích cả quân Pháp …”.

Cuối cùng thì nguồn tin nào là chính xác? “Phục quốc quân” là bộ đội võ trang của nhân dân Việt Nam hay là tổ chức của Việt gian? Ngụy “Phục hưng quân” với “Phục quốc quân” liên quan thế nào? Ngoài ra, có hay không có lực lượng vũ trang thật sự của người Việt ? Cái ông Trần Mỗ đó là ai ?

Ký giả sau khi điều tra cẩn thận dựa vào các phía đáng tin cậy, có thể quả quyết rằng: Trần Mỗ chính là Trần Vǎn An; “Phục quốc quân” và “Phục hưng quân” là một mà hai, hai mà một; nhân dân Việt Nam có một tổ chức võ trang yêu nước thực sự, tuy phát triển chưa lớn mạnh.

Bây giờ, chúng tôi muốn nói rõ đôi điều:

Một, nông dân Lạng Sơn đầu óc đơn giản, vì cǎm hờn đế quốc Pháp, vì không biết rõ lai lịch của Trần Vǎn An, cho nên nghe thấy hai tiếng “phục quốc” đã “rầm rộ đi theo”. Một khi biết Trần Vǎn An là Việt gian, họ nhất định sẽ bỏ rơi y và tham gia vào đội ngũ giải phóng dân tộc chân chính.

Hai, vì cần giặc lùn tiến xuống phía Nam để phá hoại hoặc kiềm chế Anh, Mỹ mà Hítle nhường Việt Nam cho nó. Hiện nay, giặc lùn bị Anh, Mỹ, Xô cản trở, chưa dám làm cuộc Nam tiến, nhưng lại tiếc rẻ nguồn tài nguyên giàu có của Việt Nam, cho nên nó thuê bọn Việt gian, định gây ra các vụ lộn xộn để kiếm cớ chiếm Việt Nam.

Ba, kẻ địch đào tạo lực lượng Việt gian của nó không phải ở các nơi khác mà lại ở Lạng Sơn, ngay giáp với phía nam Quảng Tây. Điều này rất đáng để chúng ta lưu ý.

Bốn, chúng ta cần phân biệt rõ các đoàn thể chính trị và vũ trang của Việt Nam, không nên nhầm các tổ chức Việt gian thành “phong trào dân tộc”, càng không nên nhầm phong trào dân tộc chân chính của Việt Nam là “bọn thổ phỉ” hoặc “bị kẻ địch xúi giục”.

BÌNH SƠN

——————————

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc), ngày 18-12-1940,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa.
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác.
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tháng 2 nǎm 1941

———————–

Theo bài in trong tập Thơ
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr.9.
cpv.org.vn

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau mǎng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Tháng 2 nǎm 1941

———————-

Theo bài in trong tập Thơ.
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ,
Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr. 10
cpv.org.vn

Kính cáo đồng bào

Hỡi các bậc phụ huynh!

Hỡi các hiền nhân, chí sĩ!

Hỡi các bạn, sĩ, nông, công, thương, binh!

Pháp đã mất nước cho Đức. Thế lực của chúng ở ta đã điêu tàn. Song đối với chúng ta, chúng tǎng sưu tǎng thuế để vơ vét tài sản. Chúng khủng bố trắng để giết hại nhân dân. Đối với ngoài, chúng im hơi lặng tiếng, cắt đất cho Xiêm, chúng quỳ gối chắp tay đầu hàng Nhật Bản. Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật.

Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không?

Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!

Bảy tám mươi nǎm nay dưới quyền thống trị của giặc Pháp, chúng ta luôn luôn tranh đấu giành quyền độc lập tự do. Tấm gương oanh liệt của các bậc lão tiền bối như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến còn treo đó. Tinh thần anh dũng của các liệt sĩ ở Thái Nguyên, Yên Bái, Nghệ An hãy còn đây.

Những cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ23, Bắc Sơn, Đô Lương vừa rồi đã tỏ rằng: Đồng bào ta quyết nối gót người xưa, phấn đấu hy sinh đặng phá tan xiềng xích.

Việc lớn chưa thành không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm.

Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta.

Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương gay go với Anh- Mỹ. Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều:

Toàn dân đoàn kết.

Hỡi đồng bào! Hãy noi gương vĩ đại của dân Tàu, tổ chức những hội cứu quốc chống Pháp, chống Nhật.

Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Mong các ngài noi gương phụ lão đời nhà Trần trước hoạ giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc.

Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương!

Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng.

Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề.

Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí! Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!

Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!

Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!

Việt Nam cách mạng thành công muôn nǎm!

Thế giới cách mạng thành công muôn nǎm!

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————-

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
cpv.org.vn

Khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập

Đế quốc Pháp thật là ác nghiệt
Làm dân ta như điếc, như mù,
Làm ta dở dại dở ngu,
Biết gì việc nước biết đâu việc đời.
Báo “Độc lập” hợp thời đệ nhất,
Làm cho ta mở mắt mở tai.
Cho ta biết đó biết đây,
Ở trong việc nước, ở ngoài thế gian:
Cho ta biết kết đoàn tổ chức.
Cho ta hay sức lực của ta
Cho ta biết chuyện gần xa.
Cho ta biết nước non ta là gì.
Ai không chịu ngu si mù tối,
Ắt phải xem báo ấy mới nên;
Giúp cho báo ấy vững bền.
Càng ngày càng lớn càng truyền khắp nơi.
Khuyên đồng bào nhớ bấy nhiêu lời!

——————————

Báo Việt Nam độc lập, số 101, ngày 1-8-1941
cpv.org.vn

Việt Nam độc lập

“Việt Nam độc lập” thổi kèn loa.
Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
Đoàn kết vững bền như khối sắt
Để cùng nhau cứu nước Nam ta!

———————–

Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21-8-1941
cpv.org.vn

Dân cày

Thương ôi! những kẻ dân cày,
Chân bùn tay lấm suốt ngày gian lao
Lại còn thuế nặng sưu cao.
Được đồng nào đều lọt vào túi Tây.
Dân ta không có ruộng cày,
Bao nhiêu đất tốt về tay đồn điền.
Lại còn phu dịch, tần phiền.
Làm chết xác được đồng tiền nào đâu!
Thân người chẳng khác thân trâu.
Cái phần no ấm có đâu đến mình!
Muốn phá sạch mối bất bình,
Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào.
Để cùng toàn quốc đồng bào
Đánh Pháp, Nhật, gây phong trào tự do.
Nhịp này là nhịp trời cho,
Lo cứu nước tức là lo cứu mình.
Mai sau thực hiện chương trình:
Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền

——————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 103, ngày 21-8-1941
cpv.org.vn

Phụ nữ

Việt Nam phụ nữ đời đời
Nhiều người vì nước, vì nòi hy sinh.
Ngàn thu rạng tiếng bà Trưng,
Ra tay cứu nước, cứu dân đến cùng.
Bà Triệu ẩu thật anh hùng,
Cưỡi voi đánh giặc, vẫy vùng bốn phương.
Mấy nǎm cách mệnh khẩn trương,
Chị em phụ nữ thường thường tham gia.
Mấy phen tranh đấu xông pha,
Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai?
Kìa như chị Nguyễn Minh Khai
Bị làm án tử đến hai ba lần.
Bây giờ cơ hội đã gần,
Đánh Tây, đánh Nhật, cứu dân nước nhà.
Chị em cả trẻ đến già
Cùng nhau đoàn kết đặng mà đấu tranh.
Đua nhau vào hội Việt Minh
Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.
Làm cho thiên hạ biết tên
Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng

—————————-

Báo Việt Nam độc lập, số 104, ngày 1-9-1941
cpv.org.vn

Trẻ con

Trẻ em như búp trên cành,
Biết ǎn ngủ, biết học hành là ngoan,
Chẳng may vận nước gian nan,
Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng.
Học hành, giáo dục đã không,
Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa.
Sức còn yếu, tuổi còn thơ,
Mà đã khó nhọc cũng như người già!
Có khi lìa mẹ, lìa cha,
Đi ǎn ở với người ta bên ngoài.
Vì ai mà đến thế này?
Vì giặc Nhật với giặc Tây bạo tàn!
Khiến ta nước mất, nhà tan,
Trẻ em cũng phải cơ hàn xót xa.
Vậy nên con trẻ nước ta
Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh!
Kẻ lớn cứu quốc đã đành,
Trẻ em cũng phải ra dành một vai.
Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây,
Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng.

——————————–

Báo Việt Nam độc lập, số 106, ngày 21-9-1941
cpv.org.vn

Công nhân

Thành ai đắp, lầu ai xây?
Tàu kia ai đóng, than đây ai sàng?
Bao nhiêu của cải kho tàng,
Ai đào bạc, ai luyện vàng mà nên?
Công nhân sức mạnh nghề quen,
Làm ra của cải cho thiên hạ nhờ.
Mà mình quần rách áo xơ,
Tiền công thì bớt mà giờ thì thêm.
Lại còn đánh chửi tần phiền,
Cúp lương tháng trước, phạt tiền hôm qua.
Càng nghĩ lại, càng xót xa,
Vì ta mất nước, mà ta phải hèn
Để cho Pháp, Nhật lộng quyền,
Thẳng tay bóc lột thợ thuyền nước ta!
Thợ thuyền ta phải đứng ra,
Trước ta cứu nước, sau ta cứu mình.
Cùng nhau vào hội Việt Minh,
Ra tay tranh đấu hy sinh mới là.
Bao giờ khôi phục nước nhà,
Của ta ta giữ, công ta ta làm.

——————————

Báo Việt Nam độc lập, số 108, ngày 11-10-1941
cpv.org.vn

Mười chính sách của Việt Minh

Việt Nam độc lập đồng minh
Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây.
Quyết làm cho nước non này,
Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:
Làm cho con cháu Rồng, Tiên,
Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta.
Có mười chính sách bày ra,
Một là ích nước, hai là lợi dân.
Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân,
Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền.
Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,
Họp hành, đi lại, có quyền tự do.
Nông dân có ruộng, có bò,
Đủ ǎn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn.
Công nhân làm lụng gian nan,
Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ.
Gặp khi tai nạn bất ngờ,
Thuốc thang Chính phủ bấy giờ giúp cho.
Thương nhân buôn nhỏ, bán to,
Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền.
Nào là những kẻ chức viên,
Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.
Binh lính giữ nước có công,
Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu.
Thanh niên có trường học nhiều,
Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho.
Đàn bà cũng được tự do,
Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền.
Người tàn tật, kẻ lão niên,
Đều do Chính phủ cấp tiền ǎn cho.
Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,
Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đủ đầy.
Muốn làm đạt mục đích này,
Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn.
Sao cho từ Bắc chí Nam,
Việt Minh hội có muôn vàn hội viên.
Người có sức, đem sức quyên,
Ta có tiền của, quyên tiền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh.
Rồi ra sự nghiệp hoàn thành,
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng.
Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

Nǎm 1941

——————————

Theo bài in trong tập Thơ
In trong sách: Hồ Chí Minh, Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr. 14-16
cpv.org.vn