Thư viện

Thư gửi đồng chí Zao và các học sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô (5-4-1930)

Đồng chí,

1. Trong nước bây giờ đã có đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa.

2. Đến kỳ hội Quốc tế lao động sẽ có anh em công nhân qua đại biểu, vậy đồng chí Zao phải phụ trách phần dịch cho các đại biểu đó. Trách nhiệm đại khái như sau này:

A. Bàn với đại biểu làm báo cáo, rồi dịch ra tiếng Nga, để khi khai hội mà báo cáo.

B. Trong khi diễn thuyết giữa hội, hoặc nói khác, anh em công nhân không quen nói, thì mình phải tuỳ đó mà thêm thắt vào cho có thể thống.

C. Phải chú ý các việc, các báo cáo trong đại hội, để mà phiên dịch và giải thích kỹ càng cho anh em đại biểu hiểu.

D. Khi đại hội rồi, phải dọn sắp tài liệu để cho đại biểu đem về báo cáo trong nước.

E. Đi ra ngoài, gặp những việc tốt, thì phải báo cho anh em đại biểu chú ý, để so sánh với tình cảnh trong nước mình. Gặp những sự không vẻ vang, như lang thang, cơ nhỡ , vân vân, phải hết sức giải thích cho anh em hiểu, chớ để họ có ấn tượng không tốt .

Nói tóm lại là làm sao cho anh em đại biểu hiểu, hǎng hái, và yêu mến Xô-Nga, lại có cảm tình với anh em lao động các nước.

3. Tất cả anh em học sinh, nhất là người phụ trách, đối với đại biểu lao động phải tỏ tình rất thân mật. Chớ để người ta trông thấy sự phân biệt trí thức và vô sản 1 .

4. Khi đại hội rồi, đại biểu đã trở về, thì đồng chí Zao phải gởi thơ về báo cáo và phê bình các đại biểu đó. Thơ ấy đem lên Bostosny Odel 2 , nói gởi cho M.Victor Lebon ở Đông Phương bộ Thượng Hải.

5. Nếu đồng chí Zao không ở Kuvt 3 nữa, thì anh em cũng cử một đồng chí khác phụ trách thế.

6. Tài liệu báo cáo, chúng tôi sẽ gởi qua.

Chúc các đồng chí gắng sức!
5-4-30

Thay mặt ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

———————–

Bút tích tiếng Việt, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (20-9-1930)

Cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân Đông Dương chống đế quốc Pháp ngày càng trở nên quyết liệt hơn. Chúng tôi phân tích từ sự khởi điểm của phong trào, bắt đầu từ tháng 5 đến chi tiết các sự kiện trong các cuộc đấu tranh gần đây.

Ngày tháng

Tính chất đấu tranh

Địa điểm

1-5

Bãi công của thợ điện

Thanh Hoá

(Trung Kỳ)

1-5

Bãi công của 250 thợ điện

Chợ Lớn (Nam Kỳ)

1-5

Bãi công của 400 công nhân đường sắt

Zi-an (Trung Kỳ)

1-5

Bãi công của 90 công nhân đường sắt

Tháp Chàm

(Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 250 nông dân

Thái Bình (Bắc Kỳ)

1-5

Biểu tình của 100 nông dân

Nghi Xuân

(Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 800 nông dân

Bến Thuỷ (Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 2000 nông dân

Thanh Chương

(Trung Kỳ)

1-5

Biểu tình của 1500 nông dân

Sa Đéc – Cao Lãnh (Nam Kỳ)

1-5

Biểu tình của 800 nông dân

Chợ Mới (Nam Kỳ)

Các huyện Nghi Xuân, Bến Thuỷ, Thanh Chương thuộc tỉnh Nghệ An, cần phải đặc biệt chú ý đến Thanh Chương, bởi thứ nhất là địa phương này trong cuộc biểu tình ngày 1-5 có 20 người bị bọn đế quốc giết chết và khoảng từng ấy người bị thương. Thứ hai, trong những ngày gần đây, Thanh Chương là trung tâm đấu tranh nhất của phong trào nông dân đấu tranh.

ở Thái Bình, trong cuộc biểu tình ngày 1-5 cũng có 1 người chết và 5 người bị thương. ở Nghi Xuân, có 5 người chết và 15 người bị thương. Số người bị bắt nhiều vô kể.

Từ đó, cuộc đấu tranh của nông dân vẫn tiếp diễn:

Ngày 5-5 có cuộc biểu tình của 1500 nông dân Long Xuyên (Nam Kỳ).

Ngày 13-5 có cuộc biểu tình của 3000 nông dân Sa Đéc (Nam Kỳ).

Ngày 13-5 có cuộc biểu tình của 4000 nông dân Cần Thơ (Nam Kỳ).

Ngày 17-5 có cuộc biểu tình của nông dân Bến Thuỷ (Trung Kỳ).

Ngày 28-5 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Cần Thơ (Nam Kỳ).

Ngày 28-5 có cuộc biểu tình của 1500 nông dân Long Xuyên (Nam Kỳ).

Ngày 28-5 có cuộc biểu tình của 1000 nông dân (Nam Kỳ).

Ngày 29-5 có cuộc biểu tình của 1000 nông dân Chợ Lớn (Nam Kỳ).

Ngày 29-5 có cuộc biểu tình của 1300 nông dân Hóc Môn (Nam Kỳ).

Ngày 31-5 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Cầu Kè (Nam Kỳ).

Trong các cuộc biểu tình này (không tính cuộc biểu tình ngày 1-5) có 10 nông dân bị chết và 20 người bị thương nặng.

Ngày 1-6 lại có cuộc biểu tình của 500 nông dân Vĩnh Long (Nam Kỳ).

Ngày 3-6 có cuộc biểu tình của 2.500 nông dân Thanh Chương (Trung Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 2.000 nông dân Đức Hoà (Nam Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Bình Chánh (Nam Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 1.500 nông dân Hóc Môn (Nam Kỳ).

Ngày 4-6 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Bà Điểm (Nam Kỳ).

Ngày 11-6 có cuộc biểu tình của 4.000 nông dân Anh Sơn (Trung Kỳ).

Ngày 11-6 có cuộc biểu tình của 600 nông dân Nam Đàn (Trung Kỳ).

Ngày 14-6 có cuộc biểu tình của 200 nông dân Tân An (Nam Kỳ).

Ngày 26-6 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Nghi Lộc (Trung Kỳ).

Ngày 28-6 có cuộc biểu tình của 400 nông dân Chợ Mới (Nam Kỳ).

Ngày 30-6 có cuộc biểu tình của 100 nông dân Bà Quẹo (Nam Kỳ).

Trong các cuộc biểu tình của tháng 6 có 10 nông dân bị chết, 26 người bị thương nặng. Trong thời gian này, chỉ có một cuộc bãi công ở Nhà máy Diêm, Vinh – Nghệ An (Trung Kỳ).

Ngày 2-7 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Ninh Hoà (Khánh Hoà – Trung Kỳ).

Ngày 13-7 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Quỳnh Lưu (Trung Kỳ).

Ngày 20-7 có cuộc bãi công của 300 công nhân Công ty dầu lửa á Đông – Sài Gòn.

Ngày 20-7 có cuộc biểu tình của 300 nông dân Tân Thuận, Sa Đéc (Nam Kỳ).

Ngày 20-7 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Cao Lãnh (Nam Kỳ).

Ngày 24-7 có cuộc biểu tình của 100 nông dân Long Xuyên (Nam Kỳ).

Trong các cuộc biểu tình nói trên, có 2 cuộc biểu tình được tổ chức dưới dạng phản đối việc cử hành ngày lễ dân tộc của Pháp trên đất Việt.

ở tháng 7, cuộc biểu tình của nông dân Cao Lãnh có 3 nông dân bị giết. Ngày 25-7, những người thợ điện của thành phố Huế (Trung Kỳ) đã bãi công.

Ngày 1-8, các đường dây điện báo giữa các tỉnh Hải Phòng và Hà Đông với Hà Nội (Bắc Kỳ), giữa Long Xuyên và Trà Vinh (Nam Kỳ) bị cắt đứt. Nói đến việc nổi dậy của công nhân, phải chú ý đến các cuộc đấu tranh sau:

– Cuộc bãi công của công nhân Bến Thuỷ (Nghệ An – Trung Kỳ).

– Cuộc bãi công của 600 công nhân Nhà máy rượu ở Chợ Lớn (Nam Kỳ).

– Cuộc bãi công của 800 công nhân Công ty dầu lửa ở Sài Gòn.

– Cuộc biểu tình của 400 nông dân Đô Lương (Nghệ An – Trung Kỳ).

– Cuộc biểu tình của 300 nông dân Can Lộc (Hà Tĩnh – Trung Kỳ).

– Cuộc biểu tình của 3000 nông dân Hóc Môn (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Trà Vinh (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Tân Thuận (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Đức Hoà (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Trà Vinh (Nam Kỳ).

– Cuộc biểu tình của nông dân Bà Điểm (Nam Kỳ).

Trong thời gian của cuộc biểu tình ở Trà Vinh, bọn đế quốc đã giết chết 3 và làm bị thương một số nông dân khác. Các sở kiểm duyệt ở nhiều nơi không đưa ra những thông tin về số lượng người tham gia đấu tranh hoặc những thông tin đó được công bố với số lượng ít hơn thực tế.

Ngày 9-8, lại có cuộc biểu tình của nông dân ở Bà Điểm (Nam Kỳ).

Ngày 18-8 có cuộc bãi công của nông dân Can Lộc (Trung Kỳ).

Ngày 22-8 có cuộc bãi công của 1.300 công nhân ở Vinh – Nghệ An (Trung Kỳ).

Ngày 22-8, 1.500 nông dân ở Cao Lãnh – Sa Đéc (Nam Kỳ) cũng biểu tình.

Ngày 23-8 có cuộc biểu tình của nông dân Hóc Môn và Bà Điểm (Nam Kỳ).

Hai cuộc biểu tình cuối để tưởng nhớ tới Xắccô và Vanxetti.

Ngày 29-8 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Can Lộc (Hà Tĩnh – Trung Kỳ).

Ngày 29-8 có cuộc biểu tình của 500 nông dân Nội Lộc (Hà Tĩnh- Trung Kỳ).

Ngày 30-8 có cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Nam Đàn (Nghệ An- Trung Kỳ).

Ngày 31-8 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Hưng Nguyên (Trung Kỳ).

Ngày 1-9 có cuộc biểu tình của 2.000 nông dân Thanh Chương (Trung Kỳ).

Ngày 7-9 có cuộc biểu tình của nông dân Đồng Hới (Trung Kỳ).

Cùng ngày 7-9 có cuộc biểu tình của 1.000 nông dân Can Lộc (Hà Tĩnh – Trung Kỳ).

Ngày 7-9 còn có cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Anh Sơn (Nghệ An – Trung Kỳ).

Ngày 8-9 vẫn có biểu tình của 1.000 nông dân Can Lộc.

Cùng 8-9 có cuộc bãi công của thợ dệt ở Nam Định (Bắc Kỳ).

Từ ngày 9-8 đến ngày 31-8, trong các cuộc biểu tình, có 2 người nông dân bị giết.

Từ ngày 1-5 đến ngày 8 tháng … (ngày viết bản báo cáo này) không ngày nào không diễn ra việc tuyên truyền các tài liệu cách mạng và treo cờ đỏ búa liềm.

Phong trào công nhân, cũng như phong trào nông dân ở Nam Kỳ mạnh hơn nhiều so với phong trào ở Bắc Kỳ. Mà ở Nam Kỳ có nhiều xí nghiệp công nghiệp hơn ở Trung Kỳ – điều này đã không làm cản trở việc ở Trung Kỳ có nhiều cuộc bãi công hơn ở Nam Kỳ.

Địa danh

Số cuộc bãi công

Số cuộc biểu tình của nông dân

Bắc Kỳ

1

1

Trung Kỳ

7

20

Nam Kỳ

5

34

Số lượng các cuộc biểu tình của nông dân được phân bố như sau:

ở tỉnh Nghệ An: 11

Gia Định: 10

Hà Tĩnh: 8

Sa Đéc: 6

Chợ Lớn: 6

Long Xuyên: 5

Cần Thơ: 2

Trà Vinh: 2

Vĩnh Long: 1

Tân An: 1

Khánh Hoà: 1

Quảng Bình: 1

Thái Bình: 1

Khánh Hoà và Quảng Bình là 2 tỉnh ở xa nhau. Nghệ An và Hà Tĩnh là 2 tỉnh nằm kề nhau. Các tỉnh còn lại ở Nam Kỳ đều nằm kế tiếp nhau.

Nhìn lên bản đồ, ta thấy ngay rằng nơi có phong trào nông dân mạnh là những địa hạt cách nhau không xa.

Ví dụ: tỉnh Nghệ An, các địa hạt Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc là các địa hạt nối liền nhau, còn Can Lộc là một huyện của tỉnh Hà Tĩnh nhưng cũng nằm sát tỉnh Nghệ An.

Tính riêng ở Nam Kỳ, tổ chức được 137 nghìn nông dân. ở Trung Kỳ, tổ chức được gần 10 nghìn nông dân, nhưng phải lưu ý rằng, trên phương diện địa hình, tổ chức được nông dân là rất khó khǎn. Khủng bố trắng và các ngǎn trở khác làm cho không thể tổ chức tập trung được – điều kiện như vậy nên phải có các Hội nông dân.

Hiện nay, trận đấu giữa nông dân Đông Dương và đế quốc Pháp đang tập trung ở địa hạt Thanh Chương. Động lực của nó là cuộc bãi công của công nhân thành phố Vinh ngày 22-8. Khi cuộc bãi công vừa nổ ra, những người cộng sản đã tuyên truyền, vận động quảng đại nông dân, kêu gọi họ ủng hộ những người bãi công. Bắt đầu từ ngày 29-8, nông dân ở vùng Can Lộc, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương đã tiến hành hàng loạt các cuộc biểu tình. Nhờ vào sự giúp đỡ của anh em này mà những người bãi công đã chiến thắng. Họ đưa ra những yêu sách sau:

1. Đuổi 2 người thợ cả đã đánh đập công nhân.

2. Nhận lại 2 công nhân đã bị đuổi khỏi Nhà máy diêm vào làm việc.

3. Trao cho công nhân quyền lựa chọn thợ cả.

4. Không được đuổi việc công nhân vì họ tham gia bãi công và biểu tình.

5. Thả ngay 2 người bãi công đang bị giam giữ.

6. Tự do bãi công, biểu tình và tổ chức.

7. Giải tán các đội tuần tra.

8. Chấm dứt ngay trên thực tế việc cử các đội quân đàn áp những người biểu tình và làm thoả đáng các yêu sách của nông dân biểu tình.

9. Tǎng lương và ngày làm 8 giờ.

Trong lúc biểu tình, 3.000 nông dân Nam Đàn đã vây chặt vǎn phòng viên quan huyện, phá nhà tù và giải thoát tù nhân.

ở Thanh Chương, 20.000 người đã tham gia vào cuộc biểu tình của nông dân. Trước khi biểu tình, đội vũ trang nông dân đã bắt giữ tất cả các đảng viên của Đảng “Loài người và lương tri” (một tổ chức phát xít). Đập phá trụ sở của tổ chức này và bắt giữ 11 tên vệ binh phátxít, giải bêu trước dân chúng khắp vùng. Nông dân hǎng hái mang 200 cờ đỏ búa liềm, hàng ngũ chỉnh tề kéo về huyện lỵ, vây hãm vǎn phòng quan huyện, đập phá phòng riêng của quan huyện. Những người biểu tình đã phá cửa nhà tù, giải phóng tù nhân và kiểm soát tất cả nhà tù. Một sĩ quan Pháp có mặt tại đó đã chỉ huy một vài lính bản xứ chống lại, nhưng khi thấy một lực lượng nhỏ nông dân vừa tới thì vội vàng bỏ trốn.

Khi đoàn biểu tình đi ngang qua trại lính thì không thấy mặt một sĩ quan Pháp nào, nhưng những người lính bản xứ thì đã sẵn sàng nhả đạn. Lúc đó 2 thanh nữ nông dân bước lên trước đoàn biểu tình, hướng thẳng vào những người lính đó và nói rằng, nếu như họ cố tình bắn vào những người nông dân, trước hết hãy bắn họ (2 cô gái) đã. Những người lính dao động và trở thành thân thiện với những người biểu tình. Cuộc diễu hành lại tiếp tục.

Nông dân đã đưa ra những yêu sách sau:

1. Thả tự do cho những người bãi công ở Vinh đã bị bắt.

2. Không được đưa lính ra chống lại những người bãi công và nông dân.

3. Không được cho lính đàn áp các phong trào ở nông thôn.

4. Không được phá huỷ làng mạc.

5. Bỏ chế độ tuần canh trong xóm làng.

6. Bãi bỏ chế độ thuế.

7. Cấp phát gạo cho những người nông dân đang bị đói.

8. Chia đất (một diện tích rộng) cho bần cố nông.

9. Huỷ bỏ toà án đặc biệt (toà án khẩn cấp).

10. Bãi bỏ án tử hình.

11. Tự do bãi công, biểu tình và liên hiệp.

12. Trả tiền bồi thường cho gia đình những người bị chết trong các vụ đàn áp.

13. Trả tự do cho tất cả tù chính trị, trong đó có cả 12 người mới bị kết án tử hình.

Theo tư liệu chúng tôi hiện có, nông dân ở Nam Đàn và Thanh Chương cương quyết không nộp thuế mà không một ai làm gì được họ. Họ đã lấy tài sản của bọn địa chủ chia cho dân nghèo, huỷ bỏ tất cả mọi mệnh lệnh, quy định của quan lại bản xứ và bọn đế quốc Pháp. (Họ tổ chức ra Xôviết nông thôn, hoặc các cơ quan gần như Xôviết nông thôn). Nông dân tuyên bố công khai: “Tất cả chúng tôi đều là cộng sản!”.

Chính quyền Pháp ở Đông Dương đang chuẩn bị ráo riết một chiến dịch khủng bố nông dân Nghệ An nói chung và nông dân Thanh Chương nói riêng. Một mặt, chúng yêu cầu chính quyền Pari nới rộng quyền hành của chúng và chúng đã được chính quyền Pari cho phép. Cùng với súng đại liên, xe tǎng và máy bay, chúng đang cày nát gương mặt của hàng loạt các xóm làng, giống như chúng đã làm tại làng “Cổ Am”, sau cuộc khởi nghĩa tháng Hai ở Bắc Kỳ. Mặt khác, chúng đang mưu toan một trận đánh lớn, huy động những đội quân khát máu nhất – lính lê dương – để đối phó với nông dân tỉnh này. Hiện nay, hằng ngày máy bay xuất hiện trên các làng mạc, ném bom giết chết những người đang biểu tình và đốt phá nhà ở của nông dân. Chúng muốn huỷ diệt hoàn toàn Nghệ An hòng đe doạ nông dân các tỉnh khác.

Ngoài ra, đế quốc Pháp viện cớ là buộc phải đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân, chúng đang tǎng thêm quân vào Đông Dương, chuẩn bị tấn công Liên Xô, tấn công cách mạng Trung Quốc và chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc trên Thái Bình Dương.

Hỡi những người công nhân và nông dân toàn thế giới! Những người anh em! Hãy giúp đỡ công nhân và nông dân Đông Dương, những người đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Pháp!.

20-9-1930
N.A.Q

—————————-

Tài liệu tiếng Nga, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản (20-9-1930)

Ngày 11-9, nông dân Thanh Chương lại biểu tình. Họ xung đột với lính và hơn 20 nông dân bị giết.

Hồi 3 giờ sáng ngày 12-9, hơn 10.000 nông dân Hưng Nguyên kéo đi biểu tình, phá nhà của các nhà giàu trên đường đi. Lính ập đến giết 20 người. Nông dân tập hợp ở huyện đường, tại đây họ gặp khoảng 800 nông dân từ Nam Đàn tới. Trong khi hai bộ phận cùng nhau tụ tập thì mấy chiếc máy bay đến ném bom giết hơn 200 người đàn ông và đàn bà.

Nông dân tiếp tục kéo đi chiếm huyện đường Nam Đàn, cách Hưng Nguyên 25 kilômét. Họ tới đây vào lúc 8 giờ tối và bắt đầu vây ngôi nhà suốt đêm và 3 giờ sáng hôm sau thì bỏ đi. Huyện đường và vườn do lính Pháp canh giữ. Nông dân mất hơn 10 người.

Cùng ngày, nông dân các huyện Can Lộc, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh (tỉnh Hà Tĩnh) cũng đi biểu tình.

Nông dân Gia Định, Chợ Lớn và Tân An ở Nam Kỳ cũng biểu tình ngày 12-9.

Ngày 17-9, nông dân Gia Định lại biểu tình.

Ba uỷ viên Trung ương từ Nam Kỳ đã tới đây – ngày 19-9, chờ các đồng chí từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới. Chúng tôi lo các đồng chí này sẽ không tới, do tình hình hiện nay ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Chúng tôi đã chỉ thị ngay cho các đảng viên Nam Kỳ ở trong nước cố gắng hết sức mình thu xếp một cuộc họp của Trung ương để quyết định mọi việc.

Chúng tôi khẩn thiết yêu cầu các đồng chí làm những việc có thể được để giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu. Đề nghị cho biết ngay chúng tôi phải làm gì và các đồng chí có thể làm gì giúp họ thông qua tổ chức Quốc tế cứu tế đỏ.

Tôi đã viết thư sang Xiêm và Mã Lai khoảng một tháng trước đây, nhưng chưa nhận được trả lời.

Lời chào anh em
29-9-1930

VÍCTO

Tái bút: Đề nghị gửi cho chúng tôi tạp chí Inprekorr

————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Quốc tế Nông dân (5-11-1930)

Các đồng chí thân mến!

Vì liên lạc khó khǎn nên trước đây tôi chưa có thể báo cáo để các đồng chí biết về phong trào nông dân ở Đông Dương.

Phong trào ấy được xây dựng và phát triển, tóm tắt như sau: đến ngày 1-5, phong trào mới bắt đầu bằng những cuộc biểu tình nhỏ và hiện nay đang tiếp tục phát triển nhanh chóng. ở Nam Kỳ, mặc dầu bị đế quốc Pháp đàn áp đẫm máu, nhưng nông dân bảy tỉnh (Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho) vẫn đấu tranh liên tiếp và anh dũng. Trong hầu hết các cuộc biểu tình, đều có nhiều người bị thương, bị giết và bị bắt. Những người bị bắt đều bị kết án từ 5 đến 10 nǎm tù khổ sai. Phong trào lan sang Trung Kỳ bắt đầu bằng nhiều cuộc biểu tình chính trị lớn nổ ra trong ngày 1-8; tuy có chậm hơn các nơi, nhưng ở đây, phong trào rộng lớn và mãnh liệt. Không kể những cuộc đấu tranh và biểu tình đã nổ ra từ trước ngày 20-8-1930, nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức liên tiếp những cuộc biểu tình lớn hưởng ứng công nhân bãi công ở Vinh, Bến Thuỷ (tỉnh lỵ và trung tâm công nghiệp ở Nghệ An). Từ 20-8 đến 6-10-1930, có 39 cuộc biểu tình và míttinh bao gồm 69.350 nông dân, trong đó có những cuộc từ 20.000 đến 30.000 người tham dự. Hiện nay, ở một số làng đỏ, Xôviết nông dân đã được thành lập.

Từ ngày 1-5 đến ngày 1-10, hơn 50.000 nông dân đã vào Nông hội (Nam Kỳ 15.000, Trung Kỳ 35.000).

Đế quốc Pháp khủng bố phong trào nông dân dữ dội chưa từng thấy. Như ở Nghệ An chỉ trong một cuộc biểu tình ở phủ Hưng Nguyên, máy bay thả bom giết chết 171 nông dân. ở Thanh Chương (một huyện khác ở Nghệ An), 103 người bị bắn chết trong một lúc. Riêng tỉnh Nghệ An đã có 393 người bị giết trong 7 cuộc biểu tình, nhiều làng đỏ bị triệt hạ và đốt trụi. Mặc dầu bị đàn áp dã man, phong trào vẫn tiếp tục phát triển: chứng cớ là nông dân ở Bắc Kỳ từ trước vẫn im lặng, nay cũng đã bắt đầu đấu tranh (tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Kiến An).

Tôi sẽ báo cáo chi tiết hơn với các đồng chí về vấn đề này.

Sắp tới đây, chúng tôi sẽ tổ chức Đại hội nông dân lần thứ nhất. Yêu cầu các đồng chí cho ý kiến và chỉ thị cần thiết, kèm theo một bức thư cổ võ gửi cho Đại hội ấy. Yêu cầu trả lời cho chúng tôi qua Quốc tế Cộng sản và theo chúng tôi nghĩ, nếu Quốc tế Nông dân có thể giúp đỡ gấp cho các nạn nhân bị khủng bố thì rất hay.

Ngày 5 tháng 11 nǎm 1930
ÁI QUỐC

—————————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (24-1-1931)

Sự bóc lột vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản ở thuộc địa làm cho những người công nhân sống trong những điều kiện không chịu nổi. Sự tập trung rất lớn các đất đai vào tay người Pháp và giai cấp địa chủ bản xứ khiến cho tình cảnh của trung nông và bần nông tồi tệ đi. Sự mất mùa liên tiếp và giá sinh hoạt cao gia tǎng sự khốn cùng và sự đau khổ của quần chúng lao động. Tất cả điều này khơi sâu thêm mâu thuẫn giữa những kẻ áp bức và bóc lột với người bị áp bức và bị bóc lột, và làm cho tinh thần đấu tranh của những người sau này sâu sắc.

Do sự kiểm duyệt ngặt nghèo và những khó khǎn về thông tin, tôi không có những bản thống kê sát đúng về những cuộc đấu tranh cách mạng đã diễn ra ở Đông Dương suốt cả nǎm 1930. Theo như chúng tôi biết số liệu về những cuộc xung đột, từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 12 như sau:

Số cuộc biểu tình

Số nông dân tham gia

Tháng 5

17

13.950

Tháng 6

10

15.300

Tháng 7

3

1.100

Tháng 8

15

30.300

Tháng 9

58

166.070

Tháng 10

68

37.630

Tháng 11

31

19.660

Tháng 12

16 (chỉ tính đến 20-12)

13.000

Tổng cộng

218

295.010 1

1) ở đây có sự nhầm lẫn nhưng chúng tôi in theo bản gốc (B.T).

Trong số 218 cuộc biểu tình này, thì 3 để giải phóng tù chính trị bằng cách phá nhà giam của huyện; 45 với yêu sách thuần tuý kinh tế, hoặc đòi khai hoang đất cho nông dân nghèo hay từ chối đóng thuế; 5 để làm lễ kỷ niệm ngày 1-5; 5 cuộc suốt ngày 1-8; 8 cuộc nhằm làm lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười; 4 cuộc để tưởng nhớ khởi nghĩa Quảng Châu; 7 cuộc thuần tuý để chống bọn quý tộc. Ngoài ra còn có 141 cuộc biểu tình chống đế quốc với những hình thức khác nhau: có một số cuộc biểu tình thuần túy chống đế quốc, những cuộc khác để tỏ tình đoàn kết với những làng bị lính Pháp tàn phá và huỷ diệt hay tưởng niệm những nông dân bị đế quốc Pháp sát hại, bằng cách phá nhà máy rượu hay đốt các danh sách dân đoàn (tuần làng), để đẩy lùi bọn đánh đập người ở thành phố hay để ủng hộ Đảng cộng sản, v.v., v.v..

Từ tháng 5 đến tháng 12, có 58 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân.

Đầu tháng 5 9

” 6 1

” 7 1

” 8 7 (3 cuộc suốt ngày 1-8)

” 9 7

” 10 10

” 11 12 (7 cuộc nhằm kỷ niệm

Cách mạng Tháng Mười)

” 12 1

Những cuộc bãi công lớn nhất là: bãi công của thợ dệt vào ngày 1-5, có 4.000 công nhân tham gia; tổng bãi công ở Vinh từ ngày 22-8 đến ngày 1-9 có 1.200 công nhân tham gia; và Cẩm Phả 5.000 công nhân mỏ bãi công để kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Đôi khi những người bãi công được thắng lợi, nhưng thắng lợi cuối cùng không đạt bởi vì nhà tư bản chỉ nhận những yêu sách của công nhân để có thì giờ chuẩn bị cuộc phản công của nó. Ví dụ, trong lúc bãi công ở Vinh, công nhân có được tất cả những điều kiện của họ đòi; nhưng chừng sau mười ngày, bọn chủ đã trở mặt và 200 công nhân đã bị đuổi.

Chịu ảnh hưởng tinh thần cách mạng của quần chúng, học sinh cũng hoạt động trong phong trào chống đế quốc. Vào ngày 1-5, học sinh ở Hóc Môn (Nam Kỳ) và ở Đà Nẵng bãi khoá. Vào ngày 19-9, hơn 500 học sinh ở Vinh biểu tình, ngày 23-10, họ lại biểu tình và phân phát truyền đơn bảo vệ những nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh đang bị đàn áp. Ngày 17-10, học sinh Trường kỹ nghệ Hải Phòng tổ chức mít tinh ngoài trời và phân phát sách mỏng với mục đích như các phong trào trên. Ngày 25 cùng tháng, học sinh huyện Nghi Lộc (Nghệ An) tham gia cuộc biểu tình của nông dân. Ngày 1-11, học sinh Trường Huỳnh Công Phát bãi khoá.

Giữa tháng 8 và tháng 12 Trường trung học Vinh, Trường Avenir (Tương lai) Nam Định, Trường trung học Mỹ Tho và toàn bộ các trường ở huyện Thanh Chương và Nam Đàn đều bị đóng cửa vì hoạt động cách mạng. Trong cùng thời gian đó và trong phạm vi 11 tỉnh, chúng tôi tìm hiểu thì 130 học sinh trai và học sinh gái cùng 9 thầy giáo bị bắt giữ, nhiều người trong số học sinh này không quá 12 và 14 tuổi.

Bên cạnh sự tham gia rất tích cực của họ vào những cuộc bãi công của công nhân và những cuộc biểu tình của nông dân, chúng tôi phải báo rằng phong trào sau đây hoàn toàn là do phụ nữ tổ chức:

Ngày 1-5, phụ nữ bãi thị ở chợ Dừa (Mỹ Tho).

Ngày 26-10, 100 phụ nữ nông dân ở huyện Anh Sơn tổ chức một cuộc mít tinh để thảo luận chính trị.

Ngày 28-10, chị em bán cá chợ Sài Gòn bãi thị phản đối hai kẻ được gọi là “chó sǎn” trung thành của đế quốc Pháp.

Ngày 11-11, 60 phụ nữ nông dân làng Đại Đinh cũng hành động như vậy.

Ngày 24-11, 85 phụ nữ nông dân làng đó tham gia bàn việc làng xã.

Ngày 28-11, 300 phụ nữ nông dân huyện Thạch Hà tổ chức một cuộc biểu tình.

Từ tháng 5 đến tháng 12, không kể những sự bắt giữ khác cùng với đàn ông trong các cuộc bãi công và các cuộc biểu tình, và cũng không kể những sự bắt giữ khác cùng với các chi bộ cộng sản hoặc với các chi nhánh Quốc dân đảng, có 74 phụ nữ và con gái bị mật thám bắt giữ.

KHủNG Bố TRắNG

Hy vọng bóp chết phong trào cách mạng trong máu và lửa cùng vũ lực, chủ nghĩa đế quốc Pháp sử dụng khủng bố trắng ở mức cực điểm. Dù rằng chưa đầy đủ, biểu dưới đây có thể cho các đồng chí một ý niệm về sự thống trị bằng khủng bố ở Đông Dương.

Thời điểm

Số nông dân bị giết

Tháng 5

39 (20 bị giết trong cuộc biểu tình ngày 1-5)

Tháng 6

7

Tháng 7

3

Tháng 8

8 (3 bị giết trong cuộc biểu tình ngày 1-8)

Tháng 9

270

Tháng 10

125

Tháng 11

52 (40 bị giết trong lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười)

Tháng 12

145 (115 bị giết trong lễ kỷ niệm khởi nghĩa Quảng Châu)

Tổng cộng

649

Số liệu trên chỉ bao gồm những người bị giết bởi bom và súng bắn trong những cuộc biểu tình. Số người chết do bị thương và bị giết riêng lẻ ở từng làng do lính bắn thì không rõ. Con số nói về các án buộc tù chính trị phải nhận là như sau:

A. Số người tù bị kết tội đến B hoặc đến B cộng C

B. Số nǎm lao động khổ sai hay bị biệt giam

C. Số nǎm bị quản thúc cộng đến B

D. Số người tù bị kết án lao động khổ sai hay chung thân

E. Số người tù phải lưu đầy chung thân

F. Số người tù phải nhận án tử hình.

Thời điểm

A

B

C

D

E

F

Tháng 5

53

393

75

57

Tháng 6

120

448

340

5

128

Tháng 7

76

499

52

1

7

Tháng 8

60

370

196

125

12

Tháng 9

126

630

110

81

1

Tháng 10

61

91

6

10

Tháng 11

60

658

51

29

87

6

Tháng 12

140

301

35

1

Hãy làm tính cộng trong thời gian 8 tháng (từ tháng 5 đến tháng 12) có:

649 nông dân bị giết

83 nhà cách mạng bị tử hình

237 người bị kết án lao động khổ sai chung thân

306 người bị kết án đi đầy suốt đời

696 người bị kết án 3.390 nǎm tù với 790 nǎm quản thúc.

Tính đến tháng 12, có:

1359 tù chính trị bị tra tấn ở nhà tù Vinh.

Hà Nội và Thái Bình tính riêng. Bởi có 59 tỉnh ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, mỗi tỉnh có nhà tù đông nghịt tù chính trị, do đó có thể nói là ước tính thấp chứ không phải là cao, rằng có 6.000 nhà cách mạng người Đông Dương hiện nay bị giam trong các nhà lao.

Ngoài việc bắt hàng loạt và tàn sát, đốt cháy, phá trụi làng mạc (Khu Liên, Ngọc Sơn, Dương Phố, Bích Hào, Lài Thạch, Tiên Khuê, v.v.), bọn đế quốc còn dùng những thủ đoạn khủng bố khác như đốt nhà và bỏ thuốc độc. Khi chúng bắt được một nhà cách mạng, chúng đốt nhà anh ta. Nếu anh ta trốn, thì chúng đốt nhà anh ta và bắt giữ tất cả những người trong gia đình. Mới đây, ở tỉnh Nghệ An, đã có dấu hiệu các giếng nước ǎn bị bỏ thuốc độc. Vào giữa tháng 12, những người làng Nghiêm Thành bắt được một tên đi bỏ thuốc độc. Họ dẫn nó đến đồn binh Pháp gần đấy. Đến ngày hôm sau, người sĩ quan Pháp ra tuyên bố – với sự ngạc nhiên của quần chúng, nhưng không phải người ta không biết – rằng việc bỏ thuốc độc không có liên quan gì đến chính phủ.

Tình hình Đông Dương là như thế.

Nhiệm vụ cấp thiết của giai cấp vô sản thế giới – đặc biệt là giai cấp vô sản Pháp – là chìa bàn tay hữu nghị anh em và giúp đỡ tới Đông Dương, để chứng tỏ tình đoàn kết thực sự và tích cực của họ, Đông Dương bị áp bức và cách mạng cần điều ấy!

24-1-1931

VÍCTO

—————————-

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Ban phương Đông (8-2-1931)

Số 1. Tin tức đấu tranh ở Trung Kỳ.

Ngày 11-12-1930, ở các huyện Anh Sơn, Thanh Chương và Nam Đàn, hơn 10.000 nông dân, nam nữ và trẻ em đã tổ chức những cuộc biểu tình kỷ niệm Quảng Châu bạo động: họ kéo cờ đỏ đi biểu tình và rải truyền đơn.

Ngày 12-12-1930, lính Tây đến làng Đạo Ngạn bắt nhân dân; không bắt được ai, chúng bèn hãm hiếp một chị phụ nữ. Chị em các vùng lân cận và nông dân kéo đến cứu chị. Bọn lính dùng súng bắn chết hai người đàn ông. Ngày hôm sau, một đoàn 400 nông dân kéo cờ đỏ đi đầu đã đi đưa đám hai người hy sinh.

Số 2. ở Nhà máy xi mǎng Hải Phòng.

30 công nhân bị đuổi. 400 người khác cũng bị doạ thải hồi. Các báo đưa tin 3.000 công nhân Nhà máy xi mǎng đã bãi công và đấu tranh:

a) Đòi cho những anh em bị đuổi được trở lại làm việc;

b) Phản đối bớt lương;

c) Phản đối việc đóng cửa nhà máy, họ đòi trả 3 tháng lương.

Số 3. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương gửi các Xứ uỷ.

1. Đảng nhấn mạnh đến việc củng cố các Xứ uỷ, Tỉnh uỷ và các Uỷ ban đặc biệt bằng cách tiến hành bầu cử. Thực hiện đúng nguyên tắc bầu cử vẫn tốt hơn là chỉ định cán bộ bổ sung. Đảng cũng nhắc nhở đến việc tổ chức các ban chuyên môn do các cấp uỷ lãnh đạo. Những Ban hành động phải được thành lập ngay; ít nhất là phải có một Ban tuyên truyền, một Ban công vận, một Ban nông vận và một Ban ấn loát.

2. Phải tuyên truyền về vấn đề thay đổi tên Đảng. Mỗi đảng viên và mỗi chi bộ Đảng đều phải nghiêm chỉnh thảo luận những án nghị quyết của Trung ương, bước đầu để tiến tới Đại hội toàn Đảng. Trung ương sắp xuất bản một tờ báo đặc biệt đặt tên là “C”.

3. Các cấp uỷ phải xúc tiến việc thi hành các nghị quyết của Đảng. Đại biểu các Ban công vận phải họp lại nghiên cứu để tiến hành có kết quả việc tổ chức Công hội ở ngay địa phương mình – xứ, tỉnh, v.v.. Việc tổ chức các đại hội không nên để cho đảng viên và hội viên Công hội biết, chỉ nên tin khi nào đại hội đã chuẩn bị tổ chức xong.

4. Các cuộc hội nghị đó phải được chuẩn bị chu đáo. Vấn đề tổ chức đại hội phải bàn bạc kỹ trong mỗi tổ chức Công hội. Mỗi Công hội phải nghiên cứu tường tận tình hình công nhân để đặt trước những nguyện vọng chủ yếu. Báo chí cũng phải tranh luận về các đại hội. Việc tổ chức mít tinh cũng phải nghiên cứu kỹ.

Việc kết nạp hội viên mới vào Công hội

1. Tất nhiên là tất cả những gì có liên quan đến Công hội đều phải có tính chất cách mạng, nên chỉ có những công nhân hiểu rõ cách mạng vô sản và cách mạng cộng sản chủ nghĩa mới được kết nạp vào Công hội. Nhưng công nhân nào đã thấy rõ sự cần thiết phải có một tổ chức để bênh vực quyền lợi của mình cũng có thể vào Công hội, mặc dầu người đó chưa có thể hiểu gì về các vấn đề khác. Công hội và đấu tranh sẽ giáo dục cho họ.

2. Nếu có hội viên ít hoạt động hoặc tỏ ý dè dặt trong đấu tranh thì cũng không nên loại họ ra ngoài hội. Tinh thần cách mạng là điều kiện duy nhất để một Công hội có thể gia nhập Tổng hội. Nhưng chúng ta cũng không thể vì vậy mà kết luận rằng mỗi công nhân vào hội đã là người cách mạng rồi.

Có những công nhân đấu tranh chỉ vì quyền lợi trước mắt chứ chưa hiểu cách mạng. Nhưng vì Công hội là một tổ chức có một đội tiên phong và có đường lối chính trị nên Công hội là một tổ chức cách mạng.

Công hội phải tham gia Mặt trận phản đế như một hội viên tập thể. Có nhiều người tưởng gia nhập Mặt trận, Công hội sẽ mất độc lập tính. Công hội vẫn độc lập và tiếp tục tiến hành những công việc của mình. Nếu Công hội có gia nhập Mặt trận thì chỉ để tham gia cuộc đấu tranh chung chống đế quốc chủ nghĩa mà thôi.

3. Yêu cầu các đồng chí hỏi người thông tín viên của các đồng chí lấy những tin số 1 và 2 đã gửi cho các đồng chí một tuần nay- bài của V.

Đại biểu đi dự Đại hội Quốc tế Công hội đỏ lần thứ V về cho chúng tôi biết rằng: Một uỷ viên Quốc tế Cộng sản nói không nên tổ chức Nông hội lên đến Tổng Nông hội toàn quốc.

Vấn đề này đang làm cho các đồng chí của chúng tôi lúng túng, các đồng chí ấy hỏi phải làm như thế nào. Tôi đã trả lời họ cứ tiếp tục tổ chức Tổng Nông hội toàn quốc, vì lý do:

a) Khi nào các đồng chí đến đây các đồng chí mới thấy lợi ích của tổ chức đó.

b) Trong báo cáo, đại biểu cho biết rằng, trước kia, ở Trung Quốc, đã có những hội tương tự bao gồm địa chủ và phú nông. Thực tế lại không phải như vậy: Các thành phần ấy đã bị gạt ra, nhưng nếu không có Tổng hội toàn quốc thì làm sao mà tập hợp chỉ đạo mọi hoạt động đấu tranh được?

Các đồng chí có đồng ý với tôi không ?

8-2-1931

———————————

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông (12-2-1931)

Thưa ông,

Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

Các em tôi (1) ở Sài Gòn đã nhiều lần tin cho tôi biết chúng sẽ về, nhưng không biết tại sao nay chưa tới. Các em tôi nói chắc chắn rằng lần này sẽ ra ǎn tết với chúng ta. Các cháu tôi (2) ở Bắc Kỳ cũng hẹn như vậy. Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ǎn tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải. Vợ tôi (3) đang rất bận để chuẩn bị việc đón tiếp.

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến.

Kính chào
Ngày 12 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông (16-2-1931)

Thưa ông,

Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương.

Nhân dịp này, tôi xin nói để ông biết lý do tại sao những ông giám đốc mới của thương cục Đông Dương lại nóng lòng muốn nhận thư mà chúng ta đã hứa gửi cho họ. Họ mới đến vùng này nên chưa gây được uy tín đối với nhân viên phụ thuộc của họ ở đấy đã lâu hơn. Hơn nữa, họ còn phải chấn chỉnh lại toàn bộ tổ chức. Không nhận được chỉ thị, không có sự ủng hộ chính thức của ban giám đốc thương cục trung ương chúng ta, họ khó hoàn thành tốt được công tác.

Tôi rất mong họ sẽ chóng nhận được thư để công việc ở các nhà buôn đó chạy tốt hơn, ông có đồng ý không?

Kính chào ông
Ngày 16 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Khủng bố trắng ở Đông Dương (19-2-1931)

Tháng 1 có:

– 187 tù chính trị ở các nhà lao tỉnh Thái Bình.

– 201 (97 đảng viên Quốc dân đảng và 104 đảng viên cộng sản) ở các nhà lao Hà Nội.

– 70 (đều là đảng viên cộng sản) ở Thanh Hoá.

– 400 (đều là đảng viên cộng sản) ở Quảng Nam.

– 900 (đảng viên cộng sản và nông dân) ở Nghệ An.

Đó là những con số chúng tôi nắm chắc, còn ở 54 tỉnh khác, chúng tôi chưa có tài liệu gì, nhưng chúng tôi biết ở mỗi tỉnh các nhà lao đều chật ních. Trong cùng một khoảng thời gian ấy:

– 414 tù chính trị bị đem đi đày, trong số đó có các cụ già 67 tuổi, các trẻ em trai và gái mới 15 tuổi, 44 tù chính trị bao gồm học sinh từ 15 đến 16 tuổi, bị án tổng số bằng 219 nǎm khổ sai và 1 án khổ sai chung thân.

án do nhiều toà án khác nhau xử, 201 tù chính trị Hà Nội do một toà án đặc biệt xử, chúng tôi chưa biết bản tuyên án. Ngày 27-1, toà án Nam Định đã tuyên các án sau đây:

– 10 án biệt xứ.

– 4 án 20 nǎm tù.

– 6 án 10 nǎm tù.

– 1 án 4 nǎm tù.

– 1 án 2 nǎm tù.

22 nạn nhân này của chủ nghĩa đế quốc Pháp đều là những sinh viên trẻ tuổi bị cáo đã tổ chức một đoàn thể cách mạng của sinh viên.

Sau đó, toà án thượng thẩm đã tuyên xử:

– 2 án biệt xứ.

– 6 án 20 nǎm khổ sai.

8 người này bị cáo là đảng viên Đảng Cộng sản. Ngày 26-1, toà án bất thường Kiến An đã tuyên án xử 99 đảng viên Quốc dân đảng và 72 đảng viên cộng sản như sau:

– 144 án biệt xứ (8 nữ thanh niên cộng sản)

– 4 án 10 nǎm khổ sai

– 19 án 5 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 3 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 1 nǎm tù khổ sai.

Riêng ở Bắc Kỳ, tổng số án tháng 1, không kể Hà Nội, là 157 án biệt xứ và 89 án cộng bằng 652 nǎm khổ sai và phạt tù. Chúng tôi không ước tính được số nạn nhân khủng bố trắng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ, nhưng cũng trong tháng ấy, ở Trung Kỳ, có hơn 100 nhà nông dân bị lính đốt (ngày 17-1, ở huyện Nghi Lộc), 32 nông dân bị giết chết trong một cuộc biểu tình (cũng ở huyện ấy, ngày 9-1) và 2 nông dân bị giết trong một cuộc biểu tình (ở Hà Tĩnh, ngày 2-1).

Tháng này, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tổng số người bị bắt là 350 người.

Dưới đây là một số câu trả lời trước phiên toà Kiến An:

– Nguyễn Vǎn Bôn: Tôi theo những người cộng sản tháng 10-1930 là vì tôi thấy xã hội hiện nay rất thối nát.

– Nguyễn Trọng Tuệ: Phải, tôi là đảng viên Đảng Cộng sản, vì thiếu cơm ǎn, áo mặc, tôi phải làm cách mạng!

– Nguyễn Vǎn Ung: Tôi vào Đảng Cộng sản để lật đổ đế quốc Pháp và cải thiện đời sống cho đồng bào tôi.

– Bùi Vǎn Cao: Tôi theo Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc Pháp để làm tròn bổn phận của một người dân Việt Nam.

– Nguyễn Vǎn Dai: Tôi bị áp bức nên tôi làm cách mạng để tự giải phóng.

– Phạm Mai: Mặc dầu đi lính cho Chính phủ Pháp, nhưng tôi thấy đồng bào tôi bị áp bức khổ sở, nên tôi vào Đảng Cộng sản để làm cách mạng và giúp đỡ đồng bào.

– Ngô Vǎn Mai: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước. Không chỉ có mình tôi, ai đã biết cầm bát cơm ǎn cũng phải làm cách mạng. Tôi không cần ai tuyên truyền cho tôi cả.

– Phạm Thị Hội (một nữ thanh niên nông dân): Phải, tôi theo Đảng Cộng sản vì trong xã hội này có nhiều bất công.

– Hạ Bá Cang: Tôi không cần từ chối gì về hoạt động cách mạng của tôi cả vì đó là bổn phận của tôi phải góp sức cứu vớt 20 triệu đồng bào và đánh đổ giai cấp tư sản đế quốc.

– Trần Hy: Tôi là vô sản nên có lý do đương nhiên làm cách mạng.

– Ngô Kim Tài (lính cảnh sát): Tôi vào Đảng để đấu tranh cho hạnh phúc nhân loại.

– Nguyễn Huy Sán: Tôi là công nhân, tôi theo Đảng để bênh vực quyền lợi cho vô sản.

– Nguyễn Thị Hợi: Khi tên quan toà nói với chị: “Cô là giáo học, để làm cách mạng, cô đã bỏ việc đi làm phu ở Nhà máy dệt Nam Định”. Chị trả lời: “Phải, tôi vào Đảng Cộng sản vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa đúng đắn. Ông cũng thế nếu ông là vô sản, nhất định ông cũng sẽ vào Đảng”.

– Đoàn Vǎn Nghiêm: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc, tư bản và phong kiến Pháp 1 .

– Tống Phục Chiêu: Đánh đổ đế quốc và tư bản là điều chúng tôi cần làm. Đó là lời khai của tôi, các ông muốn làm gì tôi thì làm.

– Bùi Đắc Thanh (bị cáo treo cờ đỏ và rải truyền đơn): Tôi có gan theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm chịu lấy trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng như một trò trẻ con.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Nghệ Tĩnh đỏ (19-2-1931)

Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở cách 360 kilômét về phía bắc thành phố Huế, kinh đô nước An Nam (nơi tên vua “bù nhìn” thiết lập triều đình) và cách 326 kilômét về phía nam Hà Nội, thủ phủ xứ Đông Dương thuộc đế quốc Pháp. Tỉnh Nghệ An có 3 phủ, 6 huyện với số dân 614.000 người ở 942 làng. Tỉnh Hà Tĩnh có 2 phủ, 6 huyện, 601 làng, với số dân 405.000 người. Trong số 500.000 người đàn ông của cả hai tỉnh, thì 120.000 người phải đóng thuế thân 2đ20 mỗi nǎm một đầu người.

Hà Tĩnh không có công nghiệp. Vinh là thành phố chính của Nghệ An. ở Vinh, có một nhà ga xe lửa lớn, một nhà máy điện nước, một nhà máy diêm, 5 nhà máy cưa, 2 xưởng sửa chữa ôtô và một vài xưởng nhỏ, tất cả dùng 4.000 công nhân.

Ngoài số công nhân đó và một số như vậy quan lại, chủ đồn điền và người buôn bán…, nhân dân hai tỉnh đều là bần và trung nông (hơn 1 triệu).

Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường xảy ra lụt, bão, do đó nhân dân đói khát và nơi ǎn chốn ở rất khổ sở. Sưu thuế nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn.

Nhân dân Nghệ – Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905-1925) Nghệ – Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ – Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình.

Từ tháng 5 đến tháng 12, công nhân Nghệ An (Vinh) đã 8 lần bãi công và biểu tình có 2.500 người tham gia. Cũng trong thời gian đó, 137 cuộc biểu tình đã nổ ra bao gồm tất cả 300.000 nông dân.

Thiệt hại: 625 nông dân bị máy bay ném bom và súng máy giết chết, 8 làng bị triệt hạ, hơn 1.000 chiến sĩ bị bắt giam, hàng trǎm người bị đem đi đày.

ở cả hai tỉnh, hơn 60.000 nông dân (đàn ông, đàn bà và thanh niên) đã được tổ chức vào Hội .

Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ”!

II

Từ ngày 26-12 đến ngày 19-1, có hai cuộc lễ lớn ở gần Vinh: một cuộc lễ “đỏ” và một cuộc lễ “vàng”.

Cuộc lễ thứ nhất được tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 kilômét, 4.000 công nhân thành phố Vinh và nông dân Hưng Nguyên, Nghi Lộc đã đến dự để làm lễ truy điệu những chiến sĩ bị hy sinh trong ngày 11-12, nhân dịp kỷ niệm Công xã Quảng Châu.

Một lá cờ búa liềm được chǎng ra trên bàn thờ đầy hương hoa, xung quanh cắm 100 lá cờ đỏ và một dây 200 ngọn đèn đỏ. 10 giờ đêm, khi mọi người đã đến đông đủ, hai đoàn xe đạp được bố trí đi tuần tra trên các ngả đường về Vinh và Bến Thuỷ mà từ các ngả đó lính Pháp có thể kéo đến, còn một đoàn khác vây quanh quần chúng và hát bài Quốc tế ca. Lệnh “mặc niệm” bỗng nhiên được đưa ra. Người chủ trì buổi lễ lên đọc điếu vǎn. Sau đó, đại biểu Công hội, Nông hội và đại biểu các làng lên nói chuyện.

Một đại biểu đề nghị: Ngày hôm sau, tất cả các chợ ở Hưng Nguyên và Nghi Lộc đều bãi thị.

Đề nghị đó được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Ngày hôm sau, đúng như lời cam kết, tất cả các chợ đều vắng tanh.

Trong lúc buổi lễ đang tiến hành, anh em công nhân cắt điện làm cho cả thành phố Vinh – Bến Thuỷ bị chìm ngập 10 phút trong đêm tối.

III

Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh (28 đồn mới được dựng lên ở riêng Nghệ An), tuyên truyền của chính phủ, báo chí… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ – Tĩnh. Vì thế bọn đế quốc Pháp đã nghĩ ra một thủ đoạn mới: tổ chức những cuộc biểu tình phản cách mạng và bắt buộc nhân dân thành phố tham gia.

Ngày 19-1, nhân dân 24 khu phố bị lôi ra đường, từng tốp một bước theo nhịp trống, mang 5 lá cờ vàng có ba sắc đè lên góc. Cờ vàng là quốc kỳ của Vương quốc An Nam. Những đoàn người “quy thuận” (bọn Pháp đặt cho họ cái tên này mặc dầu những người An Nam đáng thương đó chưa khi nào chiến đấu) bị dẫn đến hoàng cung (nơi bọn quan lại thường đến đó bái vọng nhà vua, mặc dầu ông ta không bao giờ đến đó). Họ được viên tổng đốc bận lễ phục đón tiếp. Quan lớn nói với họ như thế này: “Bây giờ nhân dân thành phố đã xin tạ lỗi quy thuận Chính phủ Nam triều và Chính phủ Pháp thì phải lo giữ gìn trật tự, an ninh trong thành phố. Các người đừng nghe những lời tuyên truyền bậy bạ và đừng phạm những điều đáng chê trách” (tên tổng đốc muốn nói đến cách mạng đấy, nhưng nó không dám dùng những tính từ quá chua cay, mỗi khi nói đến cách mạng trước nhân dân). Tên tổng đốc bảo mọi người lạy ba lạy trước ảnh vua để tỏ lòng trung với vua. Rồi nó dẫn nhân dân đến trước toà sứ và cũng buộc phải lạy ba lần để tỏ lòng trung thành với đế quốc Pháp.

Bọn đế quốc và phong kiến Nam triều xem cuộc biểu tình tỏ lòng trung thành đó là một thành công lớn của chúng và hôm sau tin này được đǎng đầy trên báo chí.

Chúng định tiếp tục tổ chức những cuộc biểu tình như vậy ở Nghệ – Tĩnh. Nhưng ở các thôn xã có nông dân cách mạng thì khó mà tổ chức được như ở thành phố nơi mà chúng chỉ tập hợp được một số người ngốc nghếch mà thôi.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

——————————

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (20-4-1931)

Đây là tôi phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc.

A- CÁCH KHAI HỘI – Trước khi khai hội, từ đảng viên cho đến các đồng chí phụ trách chưa nghiên cứu kỹ vấn đề. Đến khi khai hội, mới đem ra bàn thì chắc thảo luận không kỹ. Thì giờ khai hội quá dài (Trung 18 buổi, Bắc 13 ngày) mà lại trật tự không sắp sẵn, vậy nên tốn thì giờ nhiều mà các vấn đề thì bàn không hết. Xứ hội Bắc thì những chỗ rất quan trọng như Hải Phòng mà không có đại biểu.

B- CÁCH THẢO LUẬN – Bắc không thảo luận một cách thiết thực mà thảo luận một cách “tầm chương trích cú”. Thí dụ: như chất vấn Trung ương sao khi thì nói “để” dự bị võ trang, khi thì nói “và” dự bị võ trang, v.v.. Vì đảng viên chưa thảo luận cho nên những ý kiến trong hội nghị không thể đại biểu được ý kiến của quần chúng trong Đảng. Vả lại trong khi khai hội, nhiều đồng chí mệt mỏi hoặc phải vắng mặt để đối phó việc khác, ít phát biểu ý kiến. Thành thử ý kiến trong cuộc hội nghị lại là ý kiến của số ít trong số ít.

C- VẤN ĐỀ CÔNG TÁC – Trong hai hội nghị, các lời đề nghị đều có ý mênh mông, không thấy đề nghị thế nào để tất cả đảng viên, tất cả chi bộ thảo luận và thực hành được các nghị quyết án của Trung ương; không thấy đề nghị kế hoạch thiết thực cho mỗi địa phương.

D- VẤN ĐỀ TÊN ĐẢNG – Trung đề nghị chờ bao giờ Cao Miên và Lào có Đảng rồi sẽ nhập các Đảng lại và đổi tên. Thế là các đồng chí Trung không hiểu chỉ thị Quốc tế nói rằng Đảng phải gồm cả vô sản ở Đông Dương và không hiểu nhiệm vụ Đảng là phải làm cho Lào và Cao Miên có đảng bộ. (Trung ương đã in và phát hành chỉ thị Quốc tế cho đảng viên chưa? Sao thấy trong Nghị quyết Bắc có hỏi: “Trung ương bảo thảo luận “chỉ thị” là chỉ thị nào? “).

E- LỰC LƯỢNG CỦA ĐẢNG – Muốn hiểu rõ sức mạnh và chỗ yếu của Đảng ở Trung và Bắc thì chúng ta nên xem bảng này 1 :

Đảng viên

Chi bộ

Thanh niên

Công hội

Nông hội

Phụ nữ

Ghi chú

– Nam Đàn

170

21

641

10.000

452

– Thanh Chương

273

27

78

10.077

232

– Anh Sơn

123

18

35

4.350

62

– Yên Dũng

11

15

3.022

– Diễn Châu

51

2

345

– Quỳnh Lưu

33

4

278

– Vinh

185

8

312

– Hưng Nguyên

55

9

2.032

70

– Nghi Lộc

58

15

1.574

– Hà Tĩnh

370

122

2.000

48

– Quảng Trị

42

– Quảng Ngãi

69

1.200

– Bình Định

40

100

– Hải Phòng

37

9

8

101

– Hòn Gai

8

10

– Nam Định

115

31

293

100

– Phủ Lý

82

13

300

– Thái Bình

40

8

14

270

– Hải Dương

9

1

31

– Hà Đông

12

51

– Bắc Ninh

6

– Hà Nội

36

Nhìn vào bảng trên thì thấy:

ở Trung:

a) Tổ chức Đảng có trong 13 huyện và tỉnh. Nhưng chỉ có 3 huyện là có tổ chức thanh niên. Trong một huyện thanh niên chỉ bằng một phần ba của Đảng, trong một huyện khác, thì bằng một phần tư.

b) Phụ nữ chỉ được tổ chức trong 5 huyện, số lượng phụ nữ trong một huyện chỉ bằng một nửa đảng viên, trong một huyện khác thì chỉ bằng một phần 9.

c) Trong 13 tỉnh và huyện trên, nǎm nơi có Nông hội rất yếu. ở một nơi số lượng nông dân được tổ chức gấp hai lần rưỡi số lượng đảng viên.

d) ở Trung, Công hội chỉ có ở một nơi trên, nhưng công nhân nông nghiệp các nơi thì chưa chỗ nào được tổ chức.

e) ở Trung có 16 tỉnh, mới có tổ chức ở nǎm tỉnh thôi.

f) Báo cáo Trung không nói rõ số lượng đảng viên phụ nữ và số lượng phụ nữ vào Nông hội.

Tổ chức ở Bắc thì yếu quá. Trong một xứ công nghiệp như Bắc, mà chỉ có hai tỉnh là có Công hội, bốn nơi có Thanh niên, nǎm nơi có Nông hội, nhưng xem ra tất cả chưa bằng tổ chức của một huyện thuộc hạng bốn ở Trung. ở một trung tâm chính trị và kinh tế quan trọng như Hà Nội, trừ vài đồng chí lãnh đạo ra thì không có một chiến sĩ nào khác.

Cả hai xứ đều không có tổ chức “Mặt trận phản đế”, “Cứu tế đỏ” và “Cứu tế thất nghiệp” (Trung đã có một chút Cứu tế đỏ).

Tôi đề nghị:

A- Đảng phải:

1. Sửa chữa những sai lầm trên.

2. Lập chương trình hành động cụ thể trong từng huyện và từng tỉnh.

3. Phân phối đảng viên (như nhà binh phân phối binh sĩ).

Các đồng chí phụ trách một vùng hay một công tác nào đó phải lập chương trình hành động cho mỗi đồng chí trong mỗi một tổ chức.

4. Các ban chấp uỷ phải quản lý và kiểm soát rất tỉ mỉ việc thi hành các chương trình hành động đó.

5. Trước tiên phải thống nhất tổ chức Thanh niên và Công hội và những tổ chức đó phải có sinh hoạt độc lập của mình.

B- Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương, rồi phải ra Nghị quyết về những Nghị quyết và Chỉ thị nói trên. Những Nghị quyết ấy phải đệ trình lên Trung ương, Trung ương sẽ chuyển lên Quốc tế thứ ba. Có làm như thế thì mới có thể nâng cao được trình độ đảng viên, tất cả Chỉ thị và Nghị quyết mới được thi hành, tư tưởng và hành động của đảng viên mới thống nhất; và Quốc tế thứ ba mới nắm được trình độ cách mạng của đảng viên và sự liên lạc từ chi bộ tới Trung ương và với Quốc tế thứ ba mới thực hiện được chặt chẽ (đó là ý kiến của Quốc tế thứ ba).

1- Nhớ gửi:

1) Báo cáo của Nam Kỳ.

2) Báo cáo của Hội nghị Trung ương.

3) Báo cáo về công tác công vận. Tôi đã nói đến ba vấn đề trong thư trước của tôi.

2- Người quen của chúng ta Đuycru (Ducroux) chưa về bằng chuyến tàu này.

3- Các đồng chí biết những tàu này chạy đường Sài Gòn – Tân Gia Ba? ở đây cần biết rõ điều đó.

4- Tôi nghe nói người ta có quen một người Pháp trên một chiếc tàu của sở hàng hải, nếu đúng như vậy (mà cũng cần như vậy) yêu cầu các đồng chí điều tra (về người đó) xem.

5- Khi có một chuyến tàu về, các đồng chí nên đến xem có ai về không. Khi có tàu vào cảng thì tín hiệu như thế nào.

6- Có người ở “kia” sắp về, khi có tin tàu về (từ đầu tháng 5) thì phải lên tàu đón. Trên tàu “Metzinger” có Nghĩa, thợ giặt. Có thể có gì đó (gửi cho các đồng chí). Nhớ đến hỏi anh ta mà lấy.

Ngày 20 tháng 4 nǎm 1931
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (24-4-1931)

Ngày 23 tháng 4 nǎm 1931

1. Trong thơ đó nói rằng đồng chí mới về đó ở Hồng quân Đông Giang làm liên trưởng (quan ba) kiêm đảng đại biểu. Tiếng Tàu giỏi, nhiều kinh nghiệm binh và nông.

2. Người quen chuyến này chưa trở lại đâu; nó cần biết mối giao thông Sài Gòn – Singapor.

3. Hg – Th – Kông 1 chớ hỏi Lý Pấn 2 nữa. Chỉ giao thiệp với Trần Thiêm thôi. Tàu này chỉ đậu một ngày, phải chú ý khéo trật (b) 3 Tàu Trần Bình 4 có đồng chí Tống Phi Hùng bồi tầng thứ hai, (c) Thuận Khang không chạy HK – SGòn nữa. Phu Sanh nó không chịu nói tên, vậy hãy khoan đã (d) nhớ hỏi anh Nghĩa, thợ giặt của tàu Metzinger, xem hoặc có thơ hoặc có gói gì không.

4. Khi gửi gì, bảo giao thông viết cho rõ để ngoài này điều tra cho biết gì nhận được, gì không. Ngoài này cũng làm thế.

5. Vladimirof ở đây rồi. Nếu chuyến này chưa về được thì chuyến sau (các tàu quen, cái nào cũng phải đón). Blokof, Bourof và Limin 5 còn đọng lại Singapor, đã viết thư gửi họ rồi, Maizen 1 về đến Singapor, thì sợ mà trốn mất.

6. Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho bị! (Chỗ in, chỗ “Vách giả” chỗ Mật 2 v.v.). Hoặc có đứa phản chǎng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?

7. Khi có tiền thì mỗi đồng chí cẩn thận nên giắt một ít, thế là khi mất khỏi mất hết, mà những người chạy được cũng có xu mà hộ thân.

8. Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu, chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi, thì hại cho công việc quá! Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác. “Họ” thường hỏi tôi về vấn đề vì sao mà bị lộ? Vì sao mà bị? Để suy nghĩ và tìm cách sửa đổi. Nhưng trong không báo cáo ra, cho nên tôi cũng ú ớ!

8 Bis. Vấn đề nhiệm vụ tôi: a) Từ ngày Hội nghị Octobre tôi nghĩ trong đã có Trung ương, ngoài đã có Đ, vậy nên công việc tôi chỉ là như “thùng thơ”. Vậy nên tôi xin Đ đổi chỗ vì “thùng thơ” thì người khác cũng làm được. Vì thế mà Đ có thơ định trách nhiệm cho tôi (thơ đó tôi có gửi copie cho T.Ư).

b) Nếu Trung ương báo cáo thường và rõ ràng (détaillé) thì chúng tôi không đòi báo cáo các nơi làm gì, song từ ngày Hội nghị đến nay, Trung ương chưa có lần báo cáo nào tương tế hết. Như việc B phản đối chỉ thị Quốc tế mà cũng đến bây giờ người quen và Trung ương mới nói đến! Vẫn biết hoàn cảnh khó khǎn và Trung ương lắm việc, nhưng “họ” cũng cần phải biết tình hình rõ ràng mà cũng vì vậy mà phải yêu cầu các nơi báo cáo. Nhờ hai tờ báo cáo Xứ Hội nghị gửi ra, mới biết hơi rõ tình hình T và B từ 12 – 30 về trước, (từ đó đến giờ không rõ vì không thấy báo cáo nữa) và họ đương hỏi cho được báo cáo Nam Kỳ. Vả lại khi trước (Octobre) chúng ta đã định rằng, hễ các nơi báo cáo thì làm hai bản, một gửi cho Trung ương, một gửi ra. Thế là đỡ việc cho Trung ương và Quốc tế lại biết rõ tình hình, Đ cũng tán thành cách đó. Như vậy thì có gì là “vô lý và lộn xộn” 1 .

c) Tôi không trao kế hoạch gì riêng cho T và B, chỉ có những thông cáo gấp như 1-5, những chỉ thị đại khái như chỉ thị vừa rồi và những tài liệu nghiên cứu dịch ra thì tôi cứ vẫn gửi ba bản cho Trung ương, T và B. Làm như thế là cho mau, cho tiện và cho chắc chắn (nếu chỗ này không tiếp thì có chỗ khác tiếp).

d) Thơ vừa rồi Trung ương nói: “Chỉ có việc giao thông hoặc báo chương thì tôi giao thiệp với họ, chứ báo cáo thì vô lý và lộn xộn”. Nếu làm như đã nói trên, thì chẳng những không có gì là “vô lý và lộn xộn” mà lại chạy việc lắm. Nếu không vậy thì tôi giao thiệp với T và B cũng không có tác dụng gì.

e) Thơ Trung ương tôi cứ vậy gửi đi rồi. Nhưng việc này cũng vậy. Nhiệm vụ tôi đã là như thơ Đ đã định, cho nên khi có việc gì Đ cũng nói với tôi mà khi tôi có ý kiến gì (như phê bình T và B mới đến) cũng có Đ đồng ý.

Vậy nên khi Đảng nghị định hoặc yêu cầu gì thì tôi cũng nên biết. Nếu không biết gì cả, khi “họ” hỏi đến, tôi biết đường nào mà nói. Nếu chỉ biết truyền thơ qua, đưa thơ lại, nếu không tham gia ý kiến với Đ và với Trung ương, thì tôi ở đây cũng không ích gì lắm. Vì việc đưa thơ thì đồng chí khác cũng làm được.

Nói tóm lại là Trung ương thảo luận lại “nhiệm vụ của K. V” (2): 1/ ý kiến đối với thơ hôm nọ (copie gửi về trước) thế nào? 2/ Các nơi nên hay không nên gửi báo cáo, v.v.. Trung ương giải quyết thế nào, rồi cho tôi biết. Vì nếu để thế mãi, thì chỗ nói thế này, chỗ nói thế kia, thì lộn xộn thiệt, mà lại trở ngại cả công tác.

Thêm: Vladimirof chuyến này chưa về được. Phải chờ Hg-Th-Kông hoặc Trần Bình mới về được.

Chuyến này gửi về 2 Zũa và 200 giấy.

Ngày 24 tháng 4 nǎm 19311)

Ngày 1-5 sắp sửa thế nào, kết quả thế nào cho biết.

Miếng giấy nhỏ chữ Anh là do đại biểu I.J.C. gửi về.

————————

Bút tích tiếng Việt, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn