Thư viện

Thư gửi Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản (21-5-1928)

Béclin, ngày 21 tháng 5 nǎm 1928

Các đồng chí thân mến,

1. Tôi đã nhận đủ cái cần thiết để lên đường. Xin cảm ơn. Tôi sẽ ra đi vào khoảng tuần thứ ba tháng 5 này.

2. Do lúc này không thể trực tiếp liên lạc với các đồng chí, mọi sự liên lạc của tôi đều qua đồng chí Satô ở Liên đoàn chống đế quốc tại Béclin.

3. Trước khi lên đường, tôi xin phép trình bày mấy nhận xét về Ban thuộc địa thuộc Đảng Cộng sản Pháp.

Tôi đã thông báo với các đồng chí rằng Ban thuộc địa đó đã có nhiều tiến bộ (Trước kia chẳng có gì. Nay đã có những vǎn phòng và đồng chí thường trực). Tuy nhiên, mới làm được rất ít việc trong số những người bản xứ ở Pháp, ít ra trong những người Đông Dương. Báo chí. Đại hội. Tổ chức. Tất cả những thứ đó mới chỉ còn trên giấy. Tôi nghĩ rằng Ban thuộc địa thiếu sự linh hoạt trong công tác. Tôi xin kể trường hợp riêng của tôi. Trong một tháng rưỡi tôi ở Pari, vì đồng chí Đôriô đang ở tù, cho nên tôi không có dịp nào nói chuyện nghiêm túc với các đồng chí khác. Nhiều lần, tôi xin những địa chỉ chắc chắn để có thể liên lạc với họ khi tôi sẽ ở phương Đông, thì đồng chí có trách nhiệm đã từ chối không đưa cho tôi. Các đồng chí nói rằng Ban thuộc địa có một ngân quỹ dành cho công tác thuộc địa. Nhưng theo tôi biết quỹ hoàn toàn rỗng, thậm chí chẳng có gì để lo ǎn cho các đồng chí đi công tác qua.

Tôi kiến nghị:

a) Tài chính của Ban thuộc địa cần được các đồng chí kiểm soát.

b) Ban thuộc địa thường xuyên gửi đến các đồng chí những báo cáo về công tác đã làm và kế hoạch công tác sắp tới.

c) Ban thuộc địa phải tổ chức những phương tiện giao thông liên lạc đường Pháp – Đông Dương (qua Boócđô, Mácxây, Lơ Havơrơ), chuyển tên các đồng chí và tên các tàu đến chỗ Liên đoàn (đồng chí Satô) báo cho tôi biết, để tôi có thể bắt liên lạc với họ.

d) Sẽ là rất có ích nếu vài đồng chí của Đảng hay của Đoàn thanh niên Nga chịu trách nhiệm sǎn sóc các sinh viên Đông Dương ở Mátxcơva, giúp họ tìm hiểu đời sống công nhân và thực hành công tác tổ chức (tất cả họ không thuộc thành phần vô sản và, theo như tôi có thể nhận xét, họ biết rất ít các phương pháp tổ chức).

Xin gửi lời chào cộng sản.
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Chủ nghĩa tư bản đế quốc Pháp ở Đông Dương (2-10-1928)

TÌNH HÌNH KINH TẾ

Đông Dương rộng 710.000 kilômét vuông và có dân số là 20.000.000 người, trong đó có trên 26.000 người Âu, không kể những binh lính Pháp.

Những thành phố lớn là:

Sài Gòn, thủ đô 2 của Nam Kỳ 108.000 dân

Chợ Lớn, thành phố ở sát Sài Gòn 203.000 –

Huế, thủ đô 3 của Trung Kỳ 60.500 –

Hà Nội, thủ đô 4 của Bắc Kỳ 74.500 –

Hải Phòng, hải cảng của Bắc Kỳ 74.500 –

Phnômpênh, thủ đô của Cao Miên 79.000 –

Viêngchǎn, thủ đô của Lào 68.000 –

Những hải cảng là: Sài Gòn, cách biển 81 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 3.600.000 tấn; Hải Phòng (Bắc Kỳ), cách biển 28 kilômét, với một lượng vận chuyển hằng nǎm là 1.200.000 tấn; Quy Nhơn và Tuaran 5 (Trung Kỳ) với một lượng vận chuyển là 500.000 và 100.000 tấn.

Đông Dương có khoảng 2.200 kilômét đường sắt, trong đó 860 kilômét thuộc con đường Vân Nam – Bắc Kỳ. Có tất cả 150 đầu tàu, 400 toa hành khách và 1.650 toa chở hàng hoá.

Doanh số thương nghiệp của nǎm 1925 là: 4.236.685.000 phrǎng

trong đó, nhập khẩu chiếm 1.780.501.000 –

và xuất khẩu chiếm 2.456.184.000 –

như vậy là trội hơn nǎm 1924 một tỷ và trội hơn nǎm 1923 hai tỷ.

Sự TíCH LUỹ TƯ BảN

Tư bản của tất cả những doanh nghiệp Pháp đều tǎng lên rất nhanh. Chúng ta hãy nêu lên, chẳng hạn:

Tư bản của công ty vôi đã tǎng từ 600.000 lên đến 3.000.000 phrǎng.

– của công ty nông công nghiệp Cam Tiêm từ 14 lên đến 30 triệu.

– của công ty trồng chè và cà phê ở Kon Tum từ 5 lên đến 15 triệu.

– của hãng vận tải liên hiệp từ 100 lên đến 300 triệu.

– của công ty xuất vốn cho cao su từ 100 lên đến 200 triệu.

– của công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, từ 1 lên đến 10 triệu.

– của công ty xi mǎng Đông Dương, từ 8 lên đến 12 triệu.

Tư bản của công ty thǎm dò và khai thác hầm mỏ ở Đông Dương đã tǎng từ 12,5 lên đến 20 triệu.

Tư bản của Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng chi phối hầu như tuyệt đối nền thương nghiệp và công nghiệp ở Đông Dương, đã tǎng một cách liên tục. Được thành lập nǎm 1875 với số tư bản là 8 triệu phrǎng, đến nǎm:

1888, số tư bản đó đã lên tới 12.000.000

1900, ………………… 24.000.000

1916, …………………. 36.000.000

1910, ………………………….. 48.000.000

1920, …………………………… 72.000.000

LợI NHUậN

Những hãng buôn ở thuộc địa đã giành được những lợi nhuận đôi khi vượt cả những tư bản ứng trước. Chẳng hạn nǎm 1924, Ngân hàng Đông Dương, với số tư bản là 72 triệu mà đã thu được một món lợi nhuận là 77.845.083 phrǎng. Sau đây là tiến độ đi lên của lợi nhuận của các công ty:

Công ty xuất vốn cho cao su:

1918 3.378.486 phrǎng

1920 ………….. 4.950.014 –

1923 12.668.043 –

1925 ………… 32.573.850 –

Công ty đường sắt Vân Nam:

1917 1.121.000 phrǎng

1919 1.543.000 –

1921 2.637.000 –

1923 3.275.000 –

1925 6.440.000 –

Công ty than đá Bắc Kỳ:

1912 1.926.000 phrǎng

1914 3.302.000 –

1918 5.257.000 –

1920 17.601.000 –

1922 23.840.000 –

1923 35.037.000 –

Công ty lâm nghiệp và diêm Đông Dương:

1918 570.000 phrǎng

1920 1.327.000 –

1922 1.733.000 –

1924 2.300.000 –

1925 3.414.000 –

CÔNG NGHIỆP HÓA THUỘC ĐỊA

Báo Thời đại ngày 19-3-1927, người phát ngôn của chủ nghĩa tư bản Pháp, đã có lý khi nhận xét rằng: “Sự thật là ở nước ta, những tư bản, đã từ lâu vẫn tỏ ra e ngại đối với những doanh nghiệp khai thác lãnh thổ hải ngoại của chúng ta thì bây giờ lại sẵn sàng hướng về những doanh nghiệp ấy, nhất là ở Đông Dương”. Thật vậy, kể từ khi cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa 1914 – 1918 chấm dứt, vô số những hãng hoặc công ty xuất vốn thương nghiệp và nông nghiệp đã mọc lên ở Đông Dương. Dưới đây, chúng tôi chỉ liệt kê những công ty có số tư bản trên một triệu phrǎng:

Công ty Pháp ở á châu, thành lập nǎm 1922, tư bản là 1.000.000

Công ty Optorg … 1919 … 20.000.000

Hãng anh em Đơnít
ở Đông Dương … 1922 … 2.500.000

Hãng Duymarét
ở Đông Dương … 1922 … 4.000.000

Hãng Poǎngxa và Vâyrê … 1921 … 12.000.000

Tổng công ty các cửa hàng
tổng hợp … 1921 … 12.000.000

Công ty Pháp – An Nam về sợi
và xuất khẩu … 1920 … 4.000.000

Công ty Mácxây ở hải ngoại … 1919 … 1.500.000

Hãng vận chuyển Viễn Đông … 1917 … 20.000.000

Tổng công ty lụa Pháp
ở Đông Dương …1921 … 7.000.000

Công ty hầm mỏ và
luyện kim Đông Dương … 1919 … 16.000.000

Công ty điện lực Đông Dương … 1921 … 15.000.000

Công ty luyện kim, nhà máy cơ khí
và xưởng đóng tàu Đông Dương … 1919 … 3.000.000

Công ty nhựa cây và sơn “JB” … 1921 … 1.000.000

Công ty công trình lớn Viễn Đông … 1922 … 25.000.000

Nhà máy xay xát Viễn Đông … 1922 … 25.000.000

Công ty vô danh xà lan và tàu kéo
Đông Dương … 1921 … 4.000.000

Công ty vô danh bất động sản
anh em Đơnít … 1922 … 15.000.000

Công ty Antraxit Bắc Kỳ … 1920 … 5.000.000

Công ty kinh doanh á châu … 1921 … 1.000.000

Công ty thǎm dò và xuất khẩu
khoáng sản … 1920 … 7.500.000

Công ty Pháp làm đồ thuỷ tinh
Đông Dương … 1923 … 10.000.000

Công ty máy làm lạnh
ở Viễn Đông … 1920 … 10.000.000

Công ty sơn Đông Dương … 1919 … 1.075.000

Công ty mỏ Bàuman … 1924 … 1.100.000

Công ty mỏ vàng Bắc Kỳ … 1924 … 8.000.000

Công ty đồ thuỷ tinh Viễn Đông … 1923 … 5.000.000

Xanhđica nghiên cứu đường sắt … 1921 … 2.000.000

Công ty thuộc địa sản xuất
thức ǎn dinh dưỡng … 1921 … 2.500.000

CHIẾM ĐOẠT RUỘNG ĐẤT

Tư bản Pháp không chỉ hướng vào công nghiệp và thương nghiệp Đông Dương, mà còn thành lập những công ty lớn mạnh để khai thác đất đai:

Công ty Cao Miên, thành lập nǎm 1922
với số tư bản là 5.000.000 phrǎng

Công ty ruộng đất thuộc địa … 1923 … 2.500.000 –

Công ty đồn điền đất đỏ … 1923 … 36.000.000 –

Công ty thương nghiệp và
công nghiệp Pháp – An Nam … 1922 … 1.000.000 –

Công ty nghiên cứu trồng
bông ở Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –

Công ty Hớn Quản … 1919 … 3.000.000 –

Công ty công nghiệp và
lâm nghiệp Đông Dương … 1923 … 1.000.000 –

Công ty chè Đông Dương … 1924 … 10.000.000 –

Công ty đường và chưng lọc
Đông Dương … 1923 … 10.000.000 –

Chính vì vậy mà ở Nam Kỳ, 250.000 hécta đã bị những chủ đồn điền Pháp chiếm đoạt và 600.000 hécta sắp bị chiếm đoạt.

Hãng vận tải đường sông ở Nam Kỳ mua đất với giá 2,1 phrǎng một mét vuông và đem bán lại với giá 1.440 phrǎng một mét vuông.

ở Bắc Kỳ, trên 112.000 hécta đất ruộng và 63.500 hécta đất có quặng đều nằm trong tay 150 chủ đồn điền và 34 chủ mỏ, đấy là chưa kể những đất tô nhượng chưa được khai khẩn.

ở Trung Kỳ, cho đến nǎm 1925, chỉ có 62.000 hécta nằm trong tay người Pháp. Chỉ riêng nǎm 1926, đã có trên 300.000 hécta bị 180 người Pháp chiếm đoạt.

ở Cao Miên, có tất cả 523.000 hécta đất trồng trọt, nhưng khoảng 1/3 số đó nằm trong tay những tên thực dân hay trong tay giáo hội Giatô.

ở Lào, những người Pháp đã thiết lập chế độ “Khu dự trữ” – một chế độ mà những người Mỹ đã dùng đối với dân da đỏ và những người Nhật đã dùng với dân Đài Loan – nhằm mục đích chiếm đoạt của người bản xứ 200.000 ha đất đỏ.

Sự ĐộC QUYềN

Chủ nghĩa tư bản thực dân có xu hướng tiến tới sự độc quyền. Tất cả những xí nghiệp đông đảo đó ở Đông Dương đều phụ thuộc vào một vài công ty có thế lực. Chẳng hạn, chúng ta thấy công ty rượu của Pháp ở Đông Dương tham gia vào các xí nghiệp sau:

Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương

Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông

Công ty than và mỏ kim khí Đông Dương

Vận chuyển đường sông

Công ty nông công nghiệp Cam Tiêm

Công ty thức ǎn đạm

Công ty than đá Bắc Kỳ.

Công ty thương nghiệp, nông nghiệp và tài chính Đông Dương, công ty “SICAF” như người ta thường gọi, lãnh đạo những công ty sau đây:

Công ty chè (Kon Tum)

Công ty bông (Sài Gòn)

Công ty nông nghiệp (Kon Tum)

Công ty chè An Nam

Công ty thương nghiệp Pháp – An Nam

Công ty công nghiệp và lâm nghiệp Biên Hoà

Công ty nông công nghiệp Bến Củi

Tổng công ty tơ lụa Pháp và Đông Dương

Công ty cà phê Đông Dương

Công ty nông nghiệp Sông Ruy.

Công ty tài chính Pháp và thuộc địa kiểm soát:

Ngân hàng tín dụng ruộng đất Đông Dương

Công ty cao su Đông Dương

Công ty cây nhiệt đới Đông Dương

Công ty bông Sài Gòn

Công ty máy xúc và công trình công cộng

Nhà máy thuỷ tinh Viễn Đông

Công ty xà lan và tàu kéo

Đồn điền cao su Bình Lộc

Nhà máy đường và rượu Đông Dương

Nhà máy nước và điện Đông Dương

Tân công ty phốt phát Bắc Kỳ

Những mỏ vàng Đắc Lắc

Những nhà máy giấy Đông Dương

Nhà máy in Viễn Đông

Những nhà máy lụa Đờlinhông.

Hãng S.F.F.C. có những chi nhánh đến tận các thuộc địa ở châu Phi.

ĐầU Sỏ TàI CHíNH

Những công ty chỉ đạo, đến lượt chúng lại nằm dưới sự kiểm soát của Ngân hàng Đông Dương; mà ngân hàng này lại nằm trong tay một nhóm nhỏ những nhà tài chính độc quyền. Trong hội đồng quản trị của ngân hàng đó, chúng ta thấy có những tên sau đây:

Đờ Môngplanê, chủ tịch tổng công ty tín dụng công nghiệp và thương nghiệp.

Bêtơnốt, chủ tịch ngân hàng tín dụng Liông.

Boayê, chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.

Rôxtan, phó chủ tịch chi điếm quốc gia chiết khấu Pari.

Đơnít, chủ tịch công ty anh em Đơnít.

G.Picốt, phó chủ tịch tổng công ty tín dụng công thương nghiệp.

Xtécnơ, quản trị ngân hàng Pari và Hà Lan.

Đờ Tơragômanh, quản trị ngân hàng tín dụng ruộng đất Pháp.

Và anh em Hônbéc nổi tiếng, có tên trong tất cả những xí nghiệp khai thác ở Đông Dương.

TƯ BẢN NƯỚC NGOÀI Ở ĐÔNG DƯƠNG

Chúng tôi không có những thống kê chính xác về tư bản nước ngoài đầu tư ở Đông Dương. Nhưng một vài số liệu dưới đây cũng đủ chứng tỏ sự tiến triển của tư bản nước ngoài:

Nhật xuất khẩu sang Đông Dương:

2.455.231 yên trong nǎm 1923

4.214.889 1924

6.382.512 1925

và nhập từ Đông Dương:

15.329.699 yên trong nǎm 1923

25.077.436 1924

62.272.000 1925

Nǎm 1924, 101 tàu Anh cập cảng Sài Gòn với 341.364 tấn hàng hóa (gần bằng nửa tổng số trọng tải hàng hoá Pháp lúc đó là 724.874 tấn), và 179 tàu Anh đã rời cảng Sài Gòn với 335.203 tấn hàng hoá. Cũng trong nǎm đó, 242 tàu của nước Anh đã cập cảng Hải Phòng và rời cảng đó với 285.441 tấn hàng hoá.

Nǎm 1926, những quan hệ thương mại của Anh với Đông Dương về mặt xuất khẩu là 323.667 xtéclinh, về mặt nhập khẩu là 328.824 xtéclinh.

Nǎm 1925, Mỹ bán cho Đông Dương 1.125.047 đồng hàng hoá và mua của Đông Dương 28.568 đồng nguyên liệu.

Xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ với Đông Dương trong nǎm 1926 được đánh giá là 1.434.049 đồng cho xuất khẩu và 211.877 đồng cho nhập khẩu.

ĐỐI KHÁNG THỰC DÂN Ở ĐÔNG DƯƠNG

Nước Nhật đã nhiều lần gửi những “Phái đoàn tuyên truyền”, “Phái đoàn nghiên cứu” hoặc “Phái đoàn thương mại” đi khắp Đông Dương. Mặc dù người Pháp thực tình không ưa những ông khách đáng nghi ngờ đó nhưng họ vẫn buộc lòng phải tỏ ra niềm nở, phải tiếp đón những phái đoàn ấy một cách long trọng và đưa họ đi tham quan khắp nơi. Những cuộc du hành ấy của những đại biểu Nhật làm cho chủ nghĩa đế quốc Pháp không yên tâm không những về phương diện kinh tế mà cả về phương diện chính trị. Vì mỗi khi có một cuộc thǎm viếng như vậy thì người An Nam hình như đột nhiên bừng tỉnh nhớ đến tình cảnh bị áp bức của mình, tình cảnh bị áp bức của “những người anh em họ của mình tại đế quốc mặt trời mọc”, và cũng nhớ đến khẩu hiệu “Châu á của người châu á”.

Người Nhật Bản đòi một biểu thuế quan được ưu đãi. Người Pháp không muốn cho người Nhật được hưởng như vậy, nhưng cũng không dám công khai từ chối.

Những cuộc thương lượng đang diễn ra giữa Chính phủ Nhật và Chính phủ Pháp về việc Nhật yêu cầu được tô nhượng những mỏ sắt ở Cao Miên.

Để chứng minh rằng mình chú ý nhiều đến Đông Dương, Chính phủ Nhật vừa mới đổi lãnh sự quán Hải Phòng của mình thành Tổng lãnh sự quán Bắc Kỳ. Ngược lại nước Pháp lại không cho phép Trung Quốc có quyền gửi những lãnh sự sang Đông Dương để bảo vệ quyền lợi của nửa triệu người Trung Quốc sinh sống ở đó.

Nǎm vừa qua ông M. Uynxtơn, thư ký ngân khố Oasinhtơn, đã đưa ra ý kiến rằng, vì nước Pháp không thể trả được nợ của mình mà nước Mỹ lại cần nhiều cao su, và Đông Dương thì lại có nhiều đất trồng cao su, cho nên thật rất tốt cho tất cả mọi người nếu người Pháp tô nhượng cho nước Mỹ – thay cho việc trả nợ – một vài triệu hécta đất đỏ (tháng 8 nǎm 1926).

Ông Uynxtơn đã được nhiều nghị sĩ của thượng nghị viện và hạ nghị viện Pháp tán thành. Một vài tờ báo Pháp cũng ủng hộ ý kiến của ông ta.

Với sự ủng hộ của chủ nghĩa đế quốc Anh, nước Xiêm cũng đưa ra những yêu sách với người Pháp ở Đông Dương. Chẳng hạn, ngày 31-7-1926, nước Pháp phải ký những hiệp nghị thừa nhận nước Xiêm có một chế độ quan thuế và thuế khoá độc lập, thừa nhận những quyền tự do rộng rãi cho những công dân Xiêm ở Đông Dương.

SỰ BÓC LỘT NGƯỜI AN NAM

Nếu người Pháp thấy lợi nhuận và tư bản của họ tǎng lên nhanh chóng, thì người An Nam cũng thấy sự nghèo khổ và những đảm phụ mình phải chịu cũng tǎng lên nhanh chóng.

Tổng ngân sách toàn Đông Dương do những người bản xứ đóng góp đã tǎng lên như sau:

1913 57.370.000 đồng

1915 62.230.000 –

1917 63.860.000 –

1920 70.170.000 –

1921 84.760.000 –

1922 87.120.000 –

1923 88.120.000 –

1924 89.830.000 –

Hơn nữa người An Nam còn phải đóng góp đầy đủ cho những ngân quỹ địa phương nữa: 17.800.000 đồng cho ngân quỹ Nam Kỳ, 18.200.000 đồng cho ngân quỹ Bắc Kỳ, v.v.. Ngoài ra họ còn phải đóng góp cho những khoản chi tiêu của các cơ quan thuộc địa ở chính quốc. Nǎm 1927, những số tiền đóng góp ấy là:

Chi tiêu quân sự … 130.000.000 đồng

Hàng không quân sự … 700.000 –

Trường học thuộc địa … 225.000 –

Cơ quan kinh tế … 880.000 –

Viện nghiên cứu thuộc địa … 302.000 –

Cơ quan thanh tra thuộc địa.. 240.000 –

Hội đồng tối cao của các thuộc địa 20.000 –

Ngoài những khoản thuế khoá và đảm phụ ấy, người bản xứ còn buộc phải mua quốc trái, buộc phải quyên góp để khôi phục đồng phrǎng, để giúp đỡ những miền bị tàn phá, v.v..

Khi đã thấy rõ diện tích bao la của phần ruộng đất bị chế độ thực dân chiếm đoạt và tiến độ đi lên của thuế má, thì thật là thừa nếu nói thêm rằng nông dân An Nam đang ở trong những điều kiện cùng khổ không thể tưởng tượng được.

Từ nǎm 1914 đến 1924, giá sinh hoạt tǎng thêm 47%, nhưng tiền lương của công nhân hầu như vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Công ty than đá Bắc Kỳ chiếm 21.900 hécta đất mỏ và sử dụng 16.500 công nhân bản xứ. Với tư bản 16 triệu phrǎng, nǎm 1925 công ty đó đã kiếm được 35 triệu phrǎng tiền lời, trong khi đó, người thợ mỏ mỗi ngày chỉ lĩnh được 25 xu, tức là mỗi tấn được lĩnh 2,27 phrǎng. (Đàn bà được lĩnh 20 xu, trẻ em được lĩnh từ 10 đến 15 xu).

Công nhân làm trong các nhà máy bông vải sợi ở Bắc Kỳ làm suốt ngày từ 6 giờ sáng đến 9 giờ tối được lĩnh 15 xu.

Công nhân nông nghiệp trong các đồn điền cao su Bà Rịa cứ mỗi hố được lĩnh 6 xu. Do công việc khó khǎn và khí hậu oi bức, mỗi ngày một công nhân chỉ đào được 2 hố là nhiều, thành thử tiền công của họ được khoảng 12 xu.

Mỗi công nhân cạo mủ cao su làm trong công ty nông nghiệp Xuygiana phải phụ trách 9 hécta, nghĩa là từ 900 đến 1.500 cây cao su mới được lĩnh số tiền công nhật từ 15 đến 20 xu.

Một sắc lệnh ra ngày 11-11-1918 quy định rằng lao động của trẻ em không được vượt quá 10 giờ một ngày.

Về mặt thương nghiệp, với doanh số hằng nǎm là 5 tỷ, Đông Dương có 50 nghìn tiểu thương người An Nam (22 nghìn người ở Nam Kỳ), thương nghiệp lớn và trung bình nằm trong tay những người nước ngoài.

VÔ SẢN HÓA NGƯỜI BẢN XỨ

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thực dân ở Đông Dương đã tạo ra ở xứ đó hai giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp.

Đa số công nhân công nghiệp làm trong các hầm mỏ và vận tải. ở Bắc Kỳ có khoảng 30 nghìn thợ mỏ chia ra như sau:

15.500 trong những hầm mỏ ở Hòn Gai

2.500 trong những hầm mỏ ở Bắc Cạn

1.500 trong những hầm mỏ ở Đông Triều

1.200 trong những mỏ than ở Bắc Kỳ

1.200 trong vùng đất sở hữu Kế Bào

1.200 trong những hầm mỏ ở Tràng Đà (tỉnh Tuyên Quang)

900 làm thuê cho công ty hầm mỏ Bắc Kỳ

900 trong những hầm mỏ ở Hà Nam và Hoà Bình

900 trong những mỏ thiếc ở Cao Bằng.

Ngành đường sắt có khoảng 11.500 công nhân, trong đó có 3.750 công nhân làm trên con đường Bắc Kỳ – Vân Nam (2.600 người An Nam và 1.150 người Trung Quốc).

Trong 65 nhà máy xay xát gạo lớn nhỏ ở Nam Kỳ có khoảng 7.000 công nhân, chưa kể một số lớn nhân công phụ làm công nhật (những người đánh xe, chở thuyền, v.v.).

Sau đó là:

2.000 công nhân trong những nhà máy dệt Nam Định

1.000 – – trong những xưởng sửa chữa tàu thuỷ ở Hải

Phòng

800 – – trong xưởng tàu Sài Gòn

800 – – trong hãng rượu Phôngten

600 – – trong nhà máy cơ khí Hải Phòng

600 – – trong nhà máy in Viễn Đông

650 – – trong nhà máy gạch ngói Đông Dương.

Những nhà máy, công xưởng sử dụng 400 công nhân thì rất nhiều, đó là: nhà máy xi mǎng Poóclan, xí nghiệp ácđen, nhà máy điện, những xưởng máy của công ty chuyên chở và dắt hàng, v.v..

Một trong những đồn điền cao su lớn ở Nam Kỳ sử dụng trên 3.600 công nhân nông nghiệp, một đồn điền khác sử dụng 3.300 công nhân, v.v..

ở Bắc Kỳ tuy rằng những đồn điền đều hẹp hơn, nhưng số những công ty hoặc công ty nông nghiệp Pháp sử dụng trên 100 công nhân thì có rất nhiều. Thường tất cả những thành viên trong 1 gia đình đều làm cho cùng 1 đồn điền, lúc đó người ta coi gia đình là một đơn vị tức là “gia đình tá điền”. Những gia đình đó gồm từ 2 đến 10 người. Trong số những doanh nghiệp nông nghiệp chúng tôi xin nêu:

Đồn điền Vielê 300 gia đình

Công ty thuốc lá Đông Dương 200 gia đình và 400 công nhân

Bonnơpho 200 gia đình

Guyôm 200 –

Huytlê 140 –

Râynôn 130 –

Kêple 100 – và 100 công nhân

Bécđê 100 –

Cácđê 110 –

Công ty nông lâm Yên Mỹ 600 công nhân

Cliét, Mahê và công ty 500 –

Bôren 150 –

Bà goá Halaba 150 –

Lơgiơn 150 –

Lêvi 100 –

v.v..

LAO ĐỘNG KHỔ SAI ĐỐI VỚI NGƯỜI BẢN XỨ

Trước khi người Pháp đến Đông Dương thì lao động khổ sai dưới hình thức lao dịch đã tồn tại. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề lao động cưỡng bức dưới một hình thức khác hơn và hiện đại hơn.

Mặc dù Đông Dương có một dân số lớn, nhưng chủ nghĩa tư bản thuộc địa vẫn đang đứng trước tình hình khó khǎn khó tìm được đủ nhân công. Vấn đề là như sau:

Nông dân Cao Miên và Lào phản ứng mạnh mẽ chống lại công việc nặng nhọc mà chủ đồn điền Pháp muốn cưỡng bức họ tiến hành.

Nam Kỳ với đất đai khá màu mỡ và dân số thưa thớt không cung cấp được nhân công rẻ tiền.

Thế là chỉ còn người An Nam ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ bị sự cùng khổ đẩy đến chỗ phải lao động trong những điều kiện nặng nề, và họ là đạo quân hậu bị cho thị trường lao động.

Nhưng hiện nay số cầu về nhân công lại lớn hơn số cung về nhân công:

1. Chủ nghĩa quân phiệt Pháp cần có những người bản xứ cho những trại lính của nó.

2. Những đồn điền Pháp ở châu úc cần có những nô lệ cho đồn điền của chúng.

3. Những chủ đồn điền Pháp ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ, Lào và Bắc Kỳ, tất cả bọn họ đều cần có nhân công giá rẻ.

4. Những hầm mỏ, nhà máy, xưởng thợ của Pháp cần có một dự trữ dồi dào về nhân lực cho những xí nghiệp của họ.

5. Chính phủ thuộc địa cần có những người đàn ông đi làm tạp dịch.

Công việc đê điều ở Bắc Kỳ cần 60.000 người. 35.000 người sẽ là cần thiết cho những đồn điền ở Nam Kỳ và 15.000 người cho những đồn điền ở Cao Miên (không kể những người đã có công ǎn việc làm), 10.000 người cho những đồn điền ở châu úc, v.v.. Nếu kể thêm những yêu cầu về mặt quân sự và công nghiệp thì cần đến khoảng 200.000 người có sẵn để thuê mướn. Vì sao khó mà tìm ra 200.000 người trong một đất nước có một dân số là 12 triệu người (Trung Kỳ và Bắc Kỳ).

Trước hết cần phải có những người vạm vỡ, trong khi đó đa số người An Nam lại ốm yếu do sự cùng khổ về sinh lý, (mỗi nǎm có 2 triệu trong số 5 triệu người An Nam ở Trung Kỳ bị đau mắt). Sau nữa là vì sợ bị ngược đãi, người An Nam chỉ vào làm trong những xí nghiệp Pháp khi họ bị thúc ép bởi sự cùng khổ đến cực độ.

Chính vì vậy mà người Pháp thường nói đến chuyện “thiếu nhân công” và họ nghĩ đến việc đưa ra những “thông báo về nhân công”, nghĩa là việc tuyển mộ cưỡng bức hoặc “chế độ tình nguyện” cưỡng bức được thi hành trong cuộc chiến tranh 1914-1918, nhằm mộ lấy 10.000 người An Nam gửi ra mặt trận ở Pháp và ở Salôních 1 .

SỢ HÃI CÁCH MẠNG

Mặc dù có hoạt động bề ngoài về kinh tế, và mặc dù làm ra vẻ an tâm, những tên đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ về một cuộc cách mạng sắp tới. Việc đã tạo ra một giai cấp vô sản và dạy cho người An Nam biết sử dụng súng ống là một bằng cớ chứng tỏ chủ nghĩa đế quốc tự mình đào hố để chôn mình.

Hiện nay chỉ một mảnh truyền đơn do một học sinh nhỏ phân phát cũng đủ để làm cho toàn bộ Chính phủ thuộc địa phải đề phòng, và cái bóng của một phong trào nhân dân cũng đủ để làm cho những phiếu cổ phần thuộc địa bị sụt giá trên thị trường tài chính.

Cái mà bọn đế quốc thường sợ hãi đó là sự tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản.

Nói chuyện ở Côngxtǎngtin, ngày 22-4-1927, ông Xarô nguyên là toàn quyền Đông Dương, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã nói: “… Và chủ nghĩa cộng sản Pháp, theo lệnh của nước ngoài đều nhằm vào tất cả những điểm liên kết đời sống dân tộc của chúng ta để tuần tự làm hư hỏng tất cả những bánh xe trong bộ máy, huỷ hoại những cơ quan, phá vỡ những tổ chức, phá hoại những cơ chế hoạt động của chúng ta, đặc biệt là trong những nǎm gần đây nó ra công tìm cách bẻ gãy những chìa khoá quan trọng của sự nghiệp thực dân vĩ đại của chúng ta. Chính phủ không thể dung túng những kích động cách mạng, nội chiến, sự sụp đổ của quốc gia. Chính phủ đã trừng trị nó, và sẽ còn trừng trị nữa…”.

Khi nhận chức toàn quyền, Varen – đảng viên Đảng Xã hội – tuyên bố rằng nhiệm vụ đầu tiên của mình là dùng mọi biện pháp để ngǎn cản sự thâm nhập của công cuộc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản vào Đông Dương.

Tuy được bảo vệ bằng một đội quân 25.000 người (con số chính thức là 21.614 người), một hạm đội 27 tàu chiến (con số chính thức là hai pháo hạm, 4 ngư lôi hạm, 21 tàu có vũ trang), chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương luôn luôn lo sợ cho số mệnh của mình. Nǎm 1928, khoản chi phí quân sự của ngân sách Bộ Thuộc địa ngốn mất 393 triệu phrǎng, như thế là nhiều hơn nǎm 1927 đến 81 triệu phrǎng.

Đến tháng 6, người ta gửi sang Đông Dương ông Mannơcanh, nguyên là Cảnh sát trưởng quận Xen và là viên chức đặc biệt của tổng nha cảnh sát, để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương, theo lời của bản thông cáo chính thức.

Khi trở về Pháp, ông toàn quyền Varen đã có những cuộc hội đàm đặc biệt với các ông bộ trưởng Bộ hải quân và Bộ chiến tranh về vấn đề tǎng cường bảo vệ Đông Dương.

Tháng 7 nǎm 1927, tướng Clôđen, uỷ viên hội đồng chiến tranh tối cao sang Bắc Kỳ để nghiên cứu tại chỗ những biện pháp quân sự cần được tiến hành.

Người ta vừa thành lập ở Đông Dương 2 đại đội lính pháo thủ, 4 tiểu đoàn lính sơn cước, một cụm pháo binh gồm 3 khẩu đội, một phi đội và những phân đội xe tǎng, những phân đội súng máy khác.

Luôn luôn nói đến chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa đế quốc đã tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, mặc dù nó không muốn và không biết như vậy.

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Đông Dương khổ nhục (1928)

“Ở Đông Dương giết người là việc xảy ra hằng ngày”, một diễn giả đã tố cáo như vậy ở Đại hội Liên đoàn chống áp bức thuộc địa và chống chủ nghĩa đế quốc họp ở Brúcxen. Câu nói đơn giản nhưng bao hàm cả sự thật hiển nhiên, đau xót của dân tộc đang bị đày đoạ này, mà đế quốc Pháp đang ra sức bưng bít những tiếng kêu gào của họ. Thực thế, ở đây, trong cái “pháo đài của nước Pháp ở Thái Bình Dương” ấy, người ta được mục kích hằng ngày những hành vi bạo ngược, giết người ǎn cướp ghê tởm nhất. Dĩ nhiên là những tội ác của bọn thực dân tàn bạo ấy được chính quyền bao che. Từ người đại diện tối cao của Nhà nước chính quốc đến những tên thực dân bình thường, ai nấy cũng tự ý và đua nhau giết hại, bóc lột đến tận xương tuỷ dân tộc đã bị chinh phục này. Chính Toàn quyền Varen, một đảng viên xã hội, đã cướp không hàng chục nghìn hécta đất của nông dân đem cho bạn nó; chính viên đội Đuyruýt đã bắt phạm nhân tự đào lấy mồ, đánh chết họ như đánh chó rồi đem chôn cất những người đang còn sống; một tên cai mỏ than ở Bắc Kỳ, đã làm chết một anh thợ bằng cách đánh anh gãy hai chiếc xương sườn vì anh đã dám coi thường nó. Đối với những tên sát nhân ấy, tòa án đã cho đứa thứ nhất vô tội, kết án đứa thứ hai hai tháng tù treo. Thật đúng là một thứ công lý chính tông! Đương nhiên cướp của giết người đối với bọn thực dân cá mập là những điều hợp pháp! Chúng ta không có đủ thì giờ kể hết tội ác của bọn côn đồ ấy. Chúng ta chỉ cần nói rằng đế quốc Pháp với quân lính của chúng đã coi tính mạng người Đông Dương như cỏ rác, muốn thì chúng tước đoạt của cải, thích thì chúng bắn giết. Nhưng áp bức càng đè nặng lên vai dân chúng bao nhiêu thì dân chúng chống lại càng nhiều bấy nhiêu. Trong những nǎm gần đây, dân bản xứ bị bóc lột ngày một thêm tệ nên họ đã chống chủ nghĩa đế quốc quyết liệt. Những mưu toan mới đây nhằm trưng thu đất đai của nông dân nghèo đã gặp một sự phản ứng đích đáng biểu hiện trong các cuộc nổi dậy và đổ máu. Công việc nặng nhọc không lúc nào được nghỉ ngơi của những phu đồn điền cao su – ở mỗi đồn điền này hằng tháng trung bình có 62 người chết – đời sống khổ sở, đói rét đã dẫn họ đến bạo động, kết quả là một số người cầm đầu bị tử hình. Điều này chứng tỏ rằng bây giờ cǎm hờn đã sôi sục trong lòng những người nô lệ và từ đây chủ nghĩa đế quốc Pháp không còn có thể bóc lột dân chúng Đông Dương mà không gặp những cuộc đấu tranh một sống một chết. Vì vậy Chính phủ thuộc địa quay lại đàn áp tàn nhẫn những người bất mãn chống lại chính sách cai trị của nó, những người đấu tranh để giành lại tự do và quyền sống. Chính phủ ấy còn đàn áp một cách chưa từng thấy đối với những người cách mạng và tình nghi cách mạng. Chúng xử rất nhiều án tù tội hàng chục nǎm. Ông Phan Vǎn Trường, một nhà báo An Nam, đã bị hai nǎm tù vì ông đã có tội đǎng lại một bài của báo L’ Humanité bàn về sự “Đoàn kết huynh đệ với cách mạng Trung Quốc”.

Sách báo viết về vấn đề độc lập dân tộc đều bị cấm ngặt không được lưu hành; còn tác giả và quản lý thì bị kết án nặng. Vì vậy nên hai anh em ông Vương Gia Bật và Vương Gia Ngãi ở Trung Kỳ đã bị kết án một người ba nǎm tù, một người hai nǎm, chỉ vì có tội là bày vào tủ hàng sách của các ông quyển “Tiểu sử Tưởng Giới Thạch” 1 . Một học sinh 17 tuổi bị giam cho đến tuổi thành niên vì đã làm bài thơ “Chiêu hồn nước” 2 .

Những vụ khám xét nhà cửa thì không kể xiết được. Chẳng có gì trong nhà, người ta cũng có thể bị bắt vì đã bị tình nghi. Học sinh Hà Tĩnh đã bị bắt như vậy. Chúng bắt các anh đó, tống giam hai tháng rồi thả ra, chẳng cần thủ tục gì. Không những Chính phủ thuộc địa trấn áp những người mong muốn tự do, độc lập mà còn xúc phạm đến cả phong tục tập quán của dân bản xứ nữa. Thờ phụng những người đã quá cố, một việc rất thiêng liêng và thiết tha của người An Nam, cũng bị cấm đoán. Mới đây trong cuộc đưa đám một nhà cách mạng cũ 1 , cảnh sát đã đánh đập dân chúng đến viếng mồ, làm một phụ nữ bị thương nặng, và bắt 12 người đưa ra toà, chúng kết án người một nǎm, kẻ 6 tháng hay 3 tháng tù. ở Sài Gòn, sáu người bị kết án mỗi người sáu tháng tù vì đã có tên trong danh sách ban tổ chức tang lễ.

Những sự việc trên đây được nhặt ra một cách tình cờ trong lịch sử chế độ thực dân, một lịch sử đầy dẫy chém giết, cướp bóc, đã mô tả khá rõ đời sống khổ cực của dân tộc Đông Dương bị xâm lǎng. Bị khuất phục bằng vũ lực, bắt buộc phải chịu đựng bao nhiêu điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông Dương không thể chịu ngồi yên mà không phá gông xiềng của chủ nghĩa đế quốc Pháp. Bọn chúng biết lắm, nên chúng tìm cách giấu giếm tội ác của chúng, bưng bít những tiếng thét cǎm hờn của người bản xứ và che đậy những cuộc khởi nghĩa bùng nổ không ngớt. Bọn chúng muốn cô lập xứ Đông Dương với nước ngoài để áp bức, bóc lột và cướp của được nhiều hơn. Chúng làm không được. Ngày nay bức màn bưng bít đã bị xé toang, tội ác của chúng đã phơi bày trước giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt là trước thợ thuyền Pháp. Hỡi những ai đang đấu tranh ở khắp nơi, hỡi các bạn Nga đã tự giải phóng mình khỏi tay bọn cường quyền, chúng tôi kêu gọi:

“Những người bạn bất hạnh của các bạn hiện đang giãy giụa ở Đông Dương. Họ đang trải qua những giờ phút khó khǎn để tự giải phóng. Đế quốc Pháp đang giết hại họ, đang tước đoạt của cải họ. Mong các bạn nghĩ tới họ; tiếng thét cǎm thù của họ phải được hoà lẫn với tiếng thét của các bạn để chặn bàn tay giết người của bọn đế quốc Pháp ǎn cướp. Mong rằng sự quan tâm của các bạn đối với phong trào đấu tranh sẽ cổ vũ họ trong tương lai lật đổ được bọn đế quốc áp bức bóc lột”.

NGUYỄN
Nǎm 1928

————————————

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Phụ lục: Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc

TRUNG QUỐC VÀ THANH NIÊN TRUNG QUỐC78

Sách do một nhóm sinh viên Trung Quốc biên soạn, Nguyễn ái Quốc chủ biên, viết bằng tiếng Pháp, Pêtrôva Sua dịch sang tiếng Nga, Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản lần đầu tiên tại Mátxcơva (Liên Xô) nǎm 1925.

Dịch theo cuốn sách tiếng Nga in lần đầu tiên

TRUNG QUỐC VÀ DÂN SỐ CỦA NÓ

Theo thống kê gần đây nhất, dân số Trung Quốc lên đến 437.000.000 người. Diện tích của nó là 11.138.900 km 2 nghĩa là lớn hơn một chút so với diện tích châu Âu và gần bằng 1/15 tổng bề mặt quả đất.

ở Tây Tạng và Mông Cổ giá rét rất dữ dội, và những vùng sa mạc kéo dài bất tận. Cho đến tận bây giờ ở đấy dân cư vẫn sống cuộc đời du cư, du mục. ở miền Nam và miền Đông ruộng đất hết sức phì nhiêu. Những con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử và những con sông khác chạy dài mấy nghìn kilômét và tưới nước cho các cánh đồng lúa nằm dọc theo các dòng chảy của chúng. Trung Quốc chủ yếu là nước nông nghiệp.

Trung Quốc có nhiều tài nguyên dưới lòng đất hơn các nước khác. Người ta cho rằng chỉ riêng các mỏ than đá của nó ở Sơn Tây cũng có thể đủ thoả mãn nhu cầu của toàn thế giới về than đá trong 2 nghìn nǎm. Tại nhiều tỉnh có những mỏ lớn chứa kẽm, chì, đồng và các kim loại khác mà cho đến nay vẫn chưa được bắt đầu khai thác.

Sự phát triển xã hội Trung Quốc tập trung dọc theo lưu vực các con sông lớn. Ngay từ thời rất xa xưa, lưu vực những con sông ấy đều có dân cư đông đúc, các cơ chế xã hội đã đạt trình độ vǎn minh cao, trong khi dân cư ở những vùng khác vẫn còn chìm ngập trong tình trạng mông muội nhất.

Tại sao Trung Quốc, trái với các quy luật phát triển, cho đến nay vẫn là nước lạc hậu về kinh tế? Có nhiều nguyên nhân. Một mặt, những bộ lạc du mục hiếu chiến của Mông Cổ và Mãn Thanh thường xuyên tấn công Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc không những thường hay bị thiên tai như bão lốc, lụt lội v.v., mà còn chịu khổ vì bộ máy thư lại rất tồi tệ, đặc biệt trong những thế kỷ gần đây, gây nên những cuộc nổi dậy và nội chiến liên miên. Vị trí địa lý của Trung Quốc cũng thúc đẩy sự lạc hậu của nó. Những vùng sa mạc rộng lớn ở phía Bắc, những vùng bǎng tuyết vĩnh cửu ở phía Tây, những vùng biển cả to lớn ở phía Nam và phía Đông đã không tạo khả nǎng có những quan hệ với các dân tộc khác. Nếu cộng vào đó tinh thần ưa chuộng lối sống đồng quê và thiếu tinh thần tháo vát, đặc trưng cho người Trung Quốc, thì chúng ta sẽ dễ dàng hiểu rõ nguyên nhân của tình trạng trì trệ của Trung Quốc. Toàn bộ đời sống trí tuệ của người Trung Quốc đều thấm đượm tinh thần triết học và giáo lý của Khổng Tử. Lòng tôn kính cha mẹ, tình anh em, tình bạn trung thành, sự hoà thuận giữa mọi người, đều hoặc rút từ quan điểm của Phật – tẩy rửa con tim và khối óc, sự kiềm chế những dục vọng và lòng cuồng nhiệt, v.v.. Chúng tôi, những người mácxít trẻ tuổi, cho rằng, mọi thứ đạo đức xã hội chỉ là sự phản ánh các điều kiện kinh tế và do vậy, những ai muốn hoàn thiện tâm hồn thì phải bắt đầu từ việc hoàn thiện các điều kiện vật chất của cuộc sống. Các truyện thần thoại cổ đều nói đến lòng nhân từ khác thường của hàng loạt gia tộc và của từng cá nhân, nhưng tất cả những cái đó không thể làm thoả mãn chúng tôi, bởi vì chúng tôi biết rằng, những truyện cổ tích chưa biết đến chủ nghĩa tư bản nước ngoài và không tiên đoán được cuộc đấu tranh giai cấp.

LịCH Sử LâU ĐờI CủA TRUNG QUốC

Lịch sử Trung Quốc đã mở đầu từ 2.500 nǎm trước Công nguyên, nhưng chỉ đến nǎm 2357 chúng ta mới tìm thấy những chỉ dẫn đầu tiên về con người và những sự kiện. Từ nǎm 2357 đến nǎm 2261, Trung Quốc nằm dưới sự cai trị của vua Nghiêu là vị hoàng đế anh minh và nhân từ.

Vào khoảng nǎm 1740, nạn lụt khủng khiếp đã nhấn chìm đất nước. Hồi đó thượng thư trông coi các công việc xã hội là Vũ đã thắng nạn lụt; ông đã 9 nǎm đào kênh và đắp đập. Nhờ những công lao của mình, ông đã được chọn làm hoàng đế. Những người kế vị ông đã tỏ ra không được tài ba lắm và không được nhân từ lắm, vì vậy, triều đại này đã bị cuộc cách mạng nǎm 1783 lật đổ.

Sau triều đại Vũ đến triều đại Thương cầm quyền từ nǎm 1783 đến nǎm 1134.

Sau các triều đại đó là triều đại nhà Chu. Vào những đời vua đầu của triều đại này, người Triều Tiên và người An Nam ngưỡng mộ trước sự lừng lẫy của các vị quốc vương vĩ đại ấy, đã cử các sứ thần của mình đến triều đình của hoàng đế Trung Hoa. Chu Công, thái tử kế ngôi, vừa là một vị thượng thư và nhà bác học vĩ đại, đã tặng dân An Nam tặng phẩm – đó là chiếc la bàn. Sự kiện vĩ đại nhất diễn ra vào cuối các đời vua của triều đại này là sự xuất hiện 3 vĩ nhân – Khổng Tử, Lão Tử và Mạnh Tử. Mạnh Tử là một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông bởi vì ông là tác giả đầu tiên của câu nói: “Dân là tất thảy, vua không là gì cả”.

Vào khoảng nǎm 246, triều đại nhà Chu đã bị triều đại Tần thay thế. Chúng ta chịu ơn nhà sáng lập ra triều đại này về một trong những “kỳ quan của thế giới” – bức Vạn lý trường thành 79 . Ông là người rất có nghị lực và một nhà cách tân lớn. Ông đã thủ tiêu chế độ phong kiến 1 và thống nhất Trung Quốc, ông đã đào kênh, xây dựng đường sá để giúp cho công việc giao thông được dễ dàng. Để thắng bọn bảo thủ chống lại chính sách của mình, ông đã thi hành những biện pháp đơn giản nhất và tích cực nhất: ông đã ra lệnh đốt hết sách, trừ sách về y học và thiên vǎn và bắt giam tất cả những ai phê phán mình. Triều đại này đã tồn tại không lâu, đến nǎm 206, nó đã bị triều đại Hán thay thế.

Vị vua đầu tiên của nhà Hán đã làm khác hẳn người sáng lập ra triều đại Tần. Ông vua đó đã khuyến khích việc nghiên cứu thời cổ đại và dành cho các môn khoa học một vị trí quan trọng trong nước mình. Nhờ triều đại này, Trung Quốc đã có được một trong những thời đại chói lọi nhất và hạnh phúc nhất. Nghệ thuật, vǎnhọc và triết học đã đạt đến trình độ phát triển thịnh vượng nhất.Đến thời đại ngày nay còn lại chiếc cầu treo tuyệt vời – di tích về nghệ thuật kiến trúc thời nhà Hán – đó là công trình đầu tiên của nghệ thuật kiến trúc. Vào thời kỳ những nǎm 150 – l08, trong thư viện quốc gia đã có đến 3123 tác phẩm kinh điển, 2705 cuốn sách về triết học và 1383 tập thơ ca. Trong thời kỳ trị vì của triều đại này có một sự kiện lịch sử đặc sắc – đó là sự du nhập của đạo Phật vào Trung Quốc diễn ra trong 58 nǎm trước công nguyên.

Từ nǎm 220 đến nǎm 618, ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến kéo dài mà hậu quả là triều đại nhà Hán sụp đổ và triều đại Đường lên thay.

Có một nhà sư ở thời đại ấy đã mở cuộc hành trình đến ấn Độ. Khi đi, ông đi bộ, khi về thì bằng thuyền. Cuộc hành trình đã kéo dài 14 nǎm. Triều đại nhà Đường đã lừng lẫy nhờ nền vǎn học đặc biệt chói lọi. Quan hệ quốc tế được mở rộng, và vào khoảng nǎm 907, đã có các đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và La Mã hoạt động bên cạnh triều đình hoàng đế.

Sự kiện kinh tế quan trọng nhất là sự xuất hiện tiền giấy vào khoảng nǎm 960.

Triều đại nhà Tống thay thế nhà Đường và trị vì Trung Quốc cho đến nǎm 1276, là khi nó bị người Mông Cổ lật đổ.

Từ nǎm 1280 đến nǎm 1290, Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến tranh đầu tiên với nước ngoài là Nhật Bản. Nhà Minh đã đánh đuổi được quân Mông Cổ và ở lại ngôi vua cho đến nǎm 1644. Ngoài việc soạn thảo bộ luật và những cải cách khác, nhà Minh đã làm được rất nhiều trong lĩnh vực giáo dục. Bộ Bách khoa toàn thư gồm 22.877 tập, cùng với danh mục 60 tập đã được xuất bản nǎm 1407.

Vào những nǎm 1511-1517, đã có 2 người Bồ Đào Nha là Pêrêxtơrala và Đôn Đờ Analađa đến Trung Quốc. Đó là bước mở đầu của sự xâm nhập của nền thương mại phương Tây và là sự xuất hiện đầu tiên của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Trong khi những nhân vật Bồ Đào Nha ấy ký kết các hợp đồng thương mại thì đồng bào của họ có mặt tại các cảng Trung Quốc đã lừa đảo dân bản xứ và sử dụng vũ khí cưỡng bức thô bạo nhằm chinh phục họ: chúng đã tàn phá hàng loạt làng mạc. Nǎm 1552, các vùng ngoại vi của Trung Quốc đã bị người Nhật tấn công. Sau 40 nǎm, người Nhật lặp lại những hành động ấy, nhưng lần này họ bǎng qua ngả Triều Tiên. Cuộc chiến tranh đã kéo dài 3 nǎm và Trung Quốc đã thắng. Chính vào thời kỳ này đã diễn ra vụ tàn sát 20.000 người Trung Quốc ở Philíppin do các thương gia Tây Ban Nha thực hiện.

Triều đại Mãn Thanh bắt đầu từ nǎm 1644 và kết thúc vào nǎm 1911 vào ngày nổ ra cuộc Cách mạng Trung Quốc.

SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NGOẠI QUỐC VÀ NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA ĐẦU TIÊN

Nǎm 1635, Vua nước Anh Sáclơ I đã cử thuyền trưởng Vêđen với giấy phép được tiến hành công việc buôn bán ở Quảng Châu. Công xưởng đầu tiên của Anh đã được xây dựng tại hải cảng này vào khoảng nǎm 1681. Đến nǎm 1728 ở Bắc Kinh đã xây dựng trường trung học đầu tiên để dạy tiếng Trung Quốc cho người Nga.

Nǎm 1742, chiếc tầu chiến đầu tiên của Anh “Xenturiông” đã đến Trung Quốc. Đại sứ Anh, huân tước Macácnây đã đến Bắc Kinh nǎm l792. Đến nǎm 1830, một đại sứ Anh khác, huân tước Nêpirơ, đã xin phép được nhập cảng thuốc phiện. Nhưng đã bị khước từ. Nhưng 6 nǎm sau đó người Anh nhập lậu 20.280 thùng thuốc phiện vào những vùng được phép buôn bán thuốc phiện. Để buộc Trung Quốc chấp nhận thứ thuốc độc này, nước Anh đã tuyên chiến vào nǎm 1839, và đến nǎm 1841 thì Quảng Châu bị hạm đội Anh bao vây 80 .

Sau khi ký hoà ước, Hồng Công bị tách khỏi Trung Quốc, còn Phú Châu, A Môi, Ninh Ba và Thượng Hải đã được mở cửa cho chủ nghĩa tư bản ngoại quốc thâm nhập vào. Trung Quốc đã buộc phải trả khoản đền bù chiến tranh 21.000.000 đôla, trong đó có 6.000.000 được dùng để bù vào giá trị số thuốc phiện đã bị huỷ đi.

Đến nǎm 1856, nước Anh lại một lần nữa tuyên chiến với Trung Quốc để buộc nước này mở cửa 5 hải cảng mới dành cho công cuộc buôn bán và hợp pháp hoá việc mua bán thuốc phiện.

Nǎm 1860, quân đội Anh – Pháp đã tràn vào Bắc Kinh, đốt phá các cung điện, ngọn lửa của đám cháy đã hoành hành trong mấy ngày liền. Nǎm 1885, cuộc chiến tranh Pháp – Trung Quốc 81 đã chấm dứt với việc ký hoà ước ở Thiên Tân quy định vùng phía nam là An Nam thuộc quyền cai trị của người Pháp. Nǎm 1894, cuộc chiến tranh do Nhật Bản tiến hành đã giải phóng Triều Tiên khỏi ách thống trị của Trung Quốc, nhưng đã đặt nó dưới quyền của “Đế quốc Mặt trời mọc”. Nǎm 1898, nước Đức tuyên chiến với Trung Quốc và chiếm vùng Thanh Đảo.

Nǎm 1900, có cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn, sự phẫn nộ của những phần tử dân tộc chủ nghĩa bị đẩy vào tâm trạng tuyệt vọng do sự ǎn cướp của bọn người ngoại quốc, khiến cho Trung Quốc đã phải trả cái giá là 450.000.000 taen 1 bồi thường chiến tranh mà quân đội các nước đồng minh đã bắt nó phải gánh chịu.

Sau tất cả những cuộc tấn công kế tiếp nhau ấy, Trung Quốc bị hoàn toàn khánh kiệt, bị trói buộc về kinh tế và chính trị bởi các cường quốc đế quốc chủ nghĩa. Vẫn chưa thoả mãn với những đặc quyền của mình những lãnh địa tô nhượng, các hải cảng được tô nhượng đã mở cửa để họ tiến hành công cuộc thương mại, các cường quốc ấy đã nắm lấy tất cả các điểm chiến lược, các đường trên biển và trên bộ, chia nhau những khoản thu thuế hải quan và các khoản thuế gián thu, chiếm lấy các nguồn tài nguyên kinh tế. Tóm lại, Trung Quốc biến thành con mồi của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc.

Nền độc lập của Trung Quốc chỉ là một danh từ trống rỗng. Trên thực tế nó là một nước thuộc địa. Sự cai trị thuộc về các cơ quan ngoại giao nước ngoài đóng tại đây. Không có một hành động chính trị nào ở trong nước hoặc ở ngoài nước xuất phát từ Chính phủ Trung Quốc mà lại không thể hiện ý chí của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa. Nếu như sự kình địch nhau và lòng ghen tức của các cường quốc ấy đã khiến cho Trung Quốc tránh khỏi bị hạ xuống hàng thuộc địa, thì dù sao các cường quốc ấy cũng duy trì cuộc hiềm thù bên trong Trung Quốc. Mỗi cường quốc đế quốc chủ nghĩa đều có một tay sai Đugiuyn (thống đốc) nào đó mà thực chất là đại biểu cho một hình thức tồi tệ nhất của chế độ quân phiệt Trung Quốc. Những con người ấy gây hiềm thù với nhau, cắn xé nhau, làm khánh kiệt hàng loạt vùng, qua đó, tạo ra tình trạng không vững chắc ở trong nước và tạo duyên cớ cho người nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc.

Chính sách kinh tế của Chính phủ Trung Quốc trước khi triều đại nhà Mãn Thanh đổ, và cho đến tận bây giờ, chỉ quy tụ vào một điều: đi vay để mà sống. Số nợ của quốc gia vào nǎm 1922 là 2.500 triệu taen (l,9 tỷ đôla). Tất cả các khoản thu nhập chủ yếu nhất là: thuế cửa khẩu, thuế muối, đường sắt, hầm mỏ, v.v., đều do người ngoại quốc kiểm soát, nghĩa là họ mua hết. Mười hai nghìn kilômet đường sắt đã được xây dựng hầu như hoàn toàn bằng các khoản vốn của nước ngoài.

Còn tình cảnh của giai cấp vô sản Trung Quốc thì như thế nào dưới sức ép của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc ? Chỉ cần nhìn qua số liệu thống kê về thương mại, chúng ta cũng có thể thấy rõ toàn bộ tình trạng nghèo khổ của giai cấp vô sản Trung Quốc. Hằng nǎm, nhập siêu ít nhất là từ l00-200 triệu taen. Đó là tình trạng bòn rút thường xuyên tiền của Trung Quốc ra nước ngoài, nó không tránh khỏi đưa đến chỗ làm đất nước nghèo đi, và còn dẫn đến một hậu quả to lớn hơn: hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa và tạo ra tình trạng cạnh tranh không thương xót gây nguy hại cho hàng hoá nội địa, dĩ nhiên đó là những hàng hoá ít tân kỳ hơn và đắt hơn. Như vậy, khối quần chúng thợ thủ công bị phá sản và trở thành vô sản.

Bọn quan cai trị của Mãn Thanh kiên quyết chống lại tiến bộ hiện đại. Mặc dù bị sỉ nhục và chịu những sự thua thiệt do ngoại quốc gây ra, bọn quan lại đó đã không biết cách và không muốn thực hiện bất kỳ những cải cách nào hết. Bọn chúng không chịu để nhân dân tiếp xúc với sinh hoạt quốc tế ngày nay, chúng dấn thân vào chính sách ngu dân quan liêu kiểu “chúa đất” ghê tởm. Trong chính sách đối ngoại, chúng tiến hành các cuộc chiến tranh bất hạnh; trong chính sách đối nội, thì chỉ thấy những cuộc bất bình vô tận của nhân dân. Nǎm 1795, đã nổ ra cuộc nổi loạn của phong trào “Bạch liên giáo” 82 . Phong trào “Tam điểm” đã phát động cuộc khởi nghĩa nǎm 1842. Cuộc khởi nghĩa Thái Bình nǎm 1849 đã làm cho chính ngai vàng của “Thiên tử” phải lung lay. Cuộc khởi nghĩa của dân Hồi; giáo đã kết thúc bằng cuộc chém giết nǎm 1859.

Cuộc khởi nghĩa của phong trào Nghĩa hoà đoàn nǎm 1900 đã kết thúc rất bi thảm đối với nhân dân Trung Quốc và rất nhục nhã cho bọn chiến thắng. Bắc Kinh đã trở thành miếng mồi cho bọn binh lính hung hãn của 8 dân tộc “vǎn minh”. Có thể thấy được các ông tai to mặt lớn với các sứ mạng vẻ vang nhưng đã biến thành những tên cầm đầu các bǎng cướp bóc. Những quan chức cao cấp đã ngang nhiên cướp đi các tác phẩm nghệ thuật để đem về trang hoàng cho các bảo tàng quốc gia nước mình hoặc cho những tư nhân ham mê sưu tập. Cuộc khởi nghĩa của phong trào Nghĩa hoà đoàn nổ ra do bị áp bức và do thái độ hống hách không thể chịu nổi của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài. Nhưng do thiếu kế hoạch và thiếu sự lãnh đạo sáng suốt cho nên phong trào này, về bản chất mang tính chất chống quân phiệt và mang tính chất dân tộc, lại đi vào con đường của chủ nghĩa cuồng tín tôn giáo. Đó là sự lầm lạc không thể tránh khỏi và đặc trưng cho tất cả các dân tộc đã bị biến thành thuộc địa hoặc đang bị đe doạ biến thành thuộc địa, các dân tộc ấy ra sức, một cách tuyệt vọng và vụng về, thoát ra khỏi ách thống trị của ngoại bang! Khoảng nǎm 1867, đứng trước nguy cơ bị Nga- Mỹ xâm lấn, người Nhật đã phát động phong trào “chống dã man” cũng mang tính chất cuồng tín như thế, y như phong trào nǎm 1900 của Trung Quốc.

ở miền Nam, người Trung Quốc đã có quan hệ với người ngoại quốc từ sớm hơn nhiều so với ở miền Bắc: họ xuất dương để di cư đông đến hàng vạn người, họ làm việc và sinh sống tại các nước tư bản chủ nghĩa. Do vậy, họ đã hiểu rõ hơn – so với đồng bào của mình ở miền Bắc – về ý nghĩa cuộc đấu tranh giữa bọn đi bóc lột và những người bị bóc lột. Họ là những người trước nhất hiểu rõ tính chất vô hiệu của uy quyền hoàng đế và tư tưởng bảo thủ của hoàng đế, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng suy yếu của đất nước và sự thống trị của ngoại bang. Như vậy, họ đã tìm đến tận cội rễ của bất hạnh. Họ đã dùng cách mạng lật đổ chế độ quân chủ. Giờ đây họ cố tìm cách thoát khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài bằng công tác tự tổ chức về kinh tế. ở đây chứa đựng nguyên nhân cho thấy tại sao các cường quốc tư bản chủ nghĩa ưa thích Chính phủ miền Bắc hơn. Chính phủ này luôn luôn thoái hoá và thường hay bị mua chuộc, mà lại không thích Chính phủ miền Nam, là một Chính phủ ít bị cám dỗ hơn và sáng suốt hơn.

CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC CƯỚP BÓC TRUNG QUỐC

Như chúng ta đã thấy, sự mầu mỡ của ruộng đất, tài nguyên dưới lòng đất, tinh thần cần cù lao động của dân chúng đã biến Trung Quốc thành một nước nông nghiệp vĩ đại có khả nǎng đủ nuôi sống dân cư nước mình. Núi cao, các miền đồng bằng sâu thẳm, những vùng biển cả bao la và những miền sa mạc bất tận bao bọc nó và không cho nó trở thành một nước thương mại. Nét nổi bật trong tính cách người Trung Quốc là tính thích ngồi ở nhà, thái độ ghê tởm sự xa hoa, đạo đức của họ đã đặt vai trò thương nhân xuống vị trí cuối cùng trong nấc thang xã hội, đầu óc bảo thủ trong tất cả các công việc của đời sống – tất cả những điều đó đã dựng lên bức tường hàng nghìn nǎm và hầu như không thể xuyên thủng, làm cho nhân dân Trung Quốc tách rời khỏi những nước đương thời nǎng động hơn. Mặc dù đã hơn mười hai nǎm trôi qua kể từ khi cách mạng nổ ra, nhưng người Trung Quốc vẫn chưa tự thể hiện được mình. Họ đã phá đổ, nhưng chưa xây dựng. Tất cả những tai ương của chế độ cũ vẫn còn. Chế độ địa chủ và chúa đất và chế độ phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại. Một hoàng đế đã bị lật đổ, nhưng cả một đám tiểu hoàng đế đã xuất hiện thay vào đó ở mỗi tỉnh mà đại diện là các viên thống đốc các tỉnh. Bọn quân phiệt, công cụ của bọn tư bản ngoại quốc, đã trở thành những chủ nhân của đất nước. Cuộc nội chiến kéo dài từ ngày nổ ra cách mạng, càng ngày càng đẩy đất nước đến gần sự diệt vong.

Dưới sức ép của những nước láng giềng mới, nhờ sự cần cù và sự dồi dào của mình, nhờ những tài nguyên thiên nhiên mà nó có được, nước Trung Hoa lẽ ra có thể phồn vinh, nếu như các cường quốc tư bản chủ nghĩa không cản trở nó trong vấn đề này một cách ân cần nhất và nếu như bản thân người Trung Quốc không giúp cho sự phá hoại ấy, tuy không tự giác nhưng thật là ngu ngốc.

Bằng những biện pháp nào, tư bản ngoại quốc cản trở được sự phát triển kinh tế của Trung Quốc? Chúng làm nảy sinh các khó khǎn chính trị, gây ra những sự hiềm thù nội bộ và tạo ra những vụ rắc rối ngoại giao, chúng cần đến điều đó. Viện vào chỗ nắm trong tay các hải cảng thương mại, chúng chiếm giữ các thành phố quan trọng về mặt chiến lược, khuyến khích những vụ vay mượn, và đòi phải phục hồi những đặc quyền. Chúng chiếm các thị trường, kiểm soát các nguồn tài chính, chiếm đoạt các đặc quyền. Tóm lại, chúng can thiệp vào mọi công việc của Trung Quốc. Dựa vào các tầu chiến và quân đội, chúng điều khiển vận mệnh của nước này theo cách của chúng. Tất cả mọi hành động của chúng đều nhằm tạo ra các trở ngại trên con đường tiến lên của nhân dân Trung Quốc.

Những biểu đồ dưới đây minh hoạ chính sách ǎn cướp mà bọn đế quốc thi hành.

Những khoản cho vay dành cho Trung Quốc

Nước cho vay

Số tiền cho vay

Nguồn bảo đảm

Thời gian cho vay

Nga, PhápAnh, Đức

Anh, Đức

Anh

Anh, Pháp, Đức,Nhật,Nga

Pháp

Nhật Bản

Nhật Bản

Mỹ

Italia

15.820.000 bảng16.000.000 bảng

16.000.000 bảng

6.694.000 bảng

25.000.000 bảng


50.000.000 phrǎng

11.900.000 yên

40.000.000 yên

7.500.000đôla

5.500.000đôla

5.500.000 đôla

5.882.046 bảng

Thuế quan-nt-

Thuế quan và
thuế thu 7 thị trường

Thuế muối, quyền khai thác đường
sắt Bắc Kinh-
Hán Khẩu

Thuế muối

Tiền thuê các
xí nghiệp công nghiệp, thuế
nước ǎn

Thuế nhập
bưu chính

Thuế đất, các
đồ quý giá, muối, các loại giải trí, thuế quan

Thuế thuốc lá

Thu nhập từ 4 tỉnh

Thuế quan,
thuế muối

Thuế quan,thuế nông nghiệp

1895

1896

1898

1911-1912-1914

1913

1914

1901

1918

1901

1916

1919

1901

Những sự kiện chủ yếu của quá trình các nước đế quốc xâm nhập Trung Quốc (1842 – 1919)

Nǎm

Nước
tấn
công

Các khoản đền bù
chiến tranh do
Trung Quốc gánh
chịu (triệu)

Lãnh thổ
mà Trung Quốc
phải nhượng lại

Những điều khoản khác

Lý do
tấn công

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

1840-1842

Anh

21 tr. đôla

Các tô nhượng tại các thành phố: Quảng Châu, Thượng Hải, Ninh Ba, Phố Châu; Hồng Kông hoàn toàn thuộc sự cai quản của Anh

Đảo Suxun không được nhượng lại cho nước khác

Trung Quốc không cho phép nhập khẩu thuốc phiện

1856-1858

Anh – Pháp

8 tr. taen

10 tr. Bảng

Mở thêm 5 cảng
cho nước ngoài
buôn bán

Các cha cố được tự do truyền đạo, xét lại biểu thuế quan có lợi cho các thương gia ngoại quốc

Trung Quốc bắt giữ tàu chở thuốc phiện có treo cờ nước Anh

1877-1885

Pháp

Trung Quốc
thừa nhận
quyền lợi của
Pháp đối với xứ
An Nam và mở
cửa thêm 2
thành phố cho người ngoại quốc

Tô nhượng đường sắt cho Pháp tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc

1894-1895

Nhật Bản

200 tr. taen

Đảo Đài Loan, quần đảo Pêxcađo, bán đảo Liêu Đông cùng với hải cảng Lữ Thuận vào tay nước Nhật

Trung Quốc xâm phạm nền độc lập của Triều Tiên

Nga

Có quyền xây con đường sắt Đông Trung Quốc chạy qua phía Bắc Mãn Châu Lý

Vì làm trung gian giữa Nhật và Trung Quốc và vì đã hoàn lại cho Trung Quốc bán đảo Liêu Đông

1897

Đức

Được thuê Thanh Đảo trong 99 nǎm

Các tô nhượng đường sắt và khai thác mỏ ở tỉnh Sơn Đông

Hai nhà truyền giáo bị giết

Nga

Được thuê pháo đài
Lữ Thuận

1898

Anh

Được thuê hải cảng Uy Hải Vệ, mở rộng thêm lãnh thổ Hồng Công

Đồng bằng sông Dương Tử được thừa nhận là khu vực lợi ích của nước Anh

Để lập lại sự cân bằng giữa các cường quốc

Pháp

Các tô nhượng về đường sắt ở các tỉnh phía Nam và các mỏ, và không được nhượng lại cho cường quốc thứ ba

Cũng vì lý do trên

1900-1901

Anh, Nga, Đức, Pháp, Mỹ, áo, Nhật

450 tr. taen

Quân đội nước ngoài được thường xuyên đóng ở Bắc Kinh; Nga hưởng các đặc quyền ở Mãn Châu Lý

Cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn

1905

(Chiến tranh Nga – Nhật)

Các lãnh thổ do người Nga chiếm thì nay chuyển sang tay người Nhật

1910

Nhật Bản

Triều Tiên

1915

Nhật Bản

Nhật Bản được hưởng “các đặc lợi” ở Nam Mãn Châu Lý và Đông Mông Cổ

Trung Quốc chấp nhận một số điều khoản trong “21 đòi hỏi” tạo cho Nhật Bản các đặc quyền kinh tế

1919

Hoà ước Vécxây

Các quyền lợi của Đức ở Trung Quốc hoàn toàn chuyển vào tay Nhật Bản

Ghi chú: Biểu đồ này hết sức bổ ích, nó chỉ rõ rằng:

1. Chủ nghĩa tư bản da trắng, nhằm mục đích làm giàu, đã không ngần ngại và sẵn sàng đầu độc cả một dân tộc bằng thuốc phiện; để bán được thứ thuốc độc ấy, nó không ngần ngại tuyên chiến và giết hại hàng trǎm và hàng nghìn binh lính.

2. Chủ nghĩa đế quốc da trắng gây gổ, vin vào những cớ nhỏ mọn nhất để buộc Trung Quốc dành cho nó những tô nhượng về lãnh thổ và những nhượng bộ khác. Những lý do đó thường do bản thân các cường quốc hữu quan gây nên; đó là trường hợp phái các nhà truyền giáo đến những vùng mà họ thừa biết rằng, ở đấy dân chúng có thái độ thù địch đối với những nhà truyền giáo.

3. Một nước đế quốc chủ nghĩa kêu gọi nước khác hãy dùng vũ lực chiếm một thành phố hoặc hải cảng của Trung Quốc để rồi dưới chiêu bài duy trì thế cân bằng, nước đế quốc nọ có thể cũng làm cái việc như thế.

4. Sự đê tiện và tình trạng bất lương không có giới hạn. Nǎm 1895, Nga, Pháp và Đức đã đề nghị với Trung Quốc để họ được làm trung gian giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Do sự nỗ lực của các nước trên, Trung Quốc đã bị mất lãnh thổ và 20 triệu taen. Điều đó cũng không cản trở họ đòi Trung Quốc phải trả 3.000.000 taen tiền “chè thuốc” về những dịch vụ đặc biệt – y như các cô gái điếm đòi tiền.

5. Chủ nghĩa đế quốc Pháp đã vững chân ở Đông Dương, lại tìm cách thực hiện, qua các giai đoạn tuần tự, quá trình thực dân hoá đối với cả vùng Trung Bộ của Trung Quốc. Nó đã thắng vùng đó về phương diện kinh tế, và chỉ chờ thời cơ thuận tiện để hoàn toàn chiến thắng vùng này.

ý nghĩa của tất cả các biểu đồ ấy là ở chỗ nào? Là ở chỗ: chủ nghĩa tư bản phương Tây đang trải qua cuộc khủng hoảng: cần có nhiều hơn nữa các nước thuộc địa để phân chia với nhau, cần có nhiều hơn nữa các thị trường mới để khuất phục, song dẫu sao nó vẫn cảm thấy chật chội mỗi khi phải hành động. Và trong trường hợp ấy tất cả các thành viên trong gia đình tư bản chủ nghĩa hùa nhau lao vào nước trung bình và bắt đầu giằng xé nó tuỳ theo ý mình. Nắm được chiếc chìa khoá mở cửa vào nhà, bọn kẻ cướp ấy lấy đi tất cả những gì quý giá nhất, và Trung Quốc bị trói tay trói chân và tuỳ thuộc vào lòng nhân từ của bọn ǎn cướp đó. Vì đời sống kinh tế của đất nước bị rơi vào tay ngoại bang, nên đời sống chính trị của nó cũng rơi vào số phận như thế một cách tai hại. Sau khi trở thành một nước bị nghèo khổ và mang gánh nặng những khoản nợ to lớn, nhân dân Trung Quốc thường xuyên bị lột da do những đòi hỏi không ôn hoà của giới quân phiệt bản xứ.

Những dấu hiệu phá sản ngày càng ảm đạm tích tụ ở chân trời của nhân dân Trung Quốc và dưới những bước đi không vững chắc của nó, người ta thấy hiện ra vực thẳm vô tận của sự nghèo khổ và phá sản. Và nếu cách mạng không đến kịp thời để cứu nhân dân Trung Quốc, thì nó có nguy cơ rơi xuống đáy vực thẳm không có lối trở lên. Do sức mạnh của kẻ địch, của tư bản nước ngoài, và do tình trạng thiếu kinh nghiệm của bản thân mình, nên chủ nghĩa tư bản bản xứ không có khả nǎng phát triển. Vô sản thành thị và nông thôn, trong những điều kiện của họ, đã không thể có được một quan niệm rõ ràng về phân hoá giai cấp.

Chủ nghĩa tư bản ngoại quốc, với việc du nhập chế độ của mình, hàng hoá của mình và các tư bản của mình, đã làm tan rã – mà nó không hề muốn điều đó – các truyền thống và tập quán gia trưởng. Bản thân sống ǎn bám và tiến hành bóc lột, chủ nghĩa tư bản ngoại quốc làm nảy nở những kẻ ǎn bám khác và những kẻ bóc lột khác để phục vụ cho mình: bọn mối lái, bọn quan liêu, bọn áp phe.

CÁC GIAI CẤP

Khi triều đại cũ bị lật đổ, nhiều viên thống đốc đã nắm trong tay những trung đoàn cấp tỉnh. Dựa vào binh lính, họ đã duy trì các tỉnh của mình và bằng cách đó mà biến thành các tên phong kiến trong chính thể cộng hoà.

Các cường quốc nước ngoài nuôi các đội quân ấy, vũ trang cho chúng và duy trì sự tồn tại của chúng. Các cường quốc sử dụng những đội quân ấy để thực hiện ý chí của mình. Giới quân phiệt này là tai hoạ đích thực của quần chúng công nhân.

Bọn lãnh chúa, nghĩa là bọn quan lại, cũng còn là những bóng ma của xã hội Trung Quốc ngày xưa, và cũng còn là những con chong chóng, gió chiều nào xoay chiều ấy, miễn là bọn chúng được hưởng lợi. Bọn này hoà nhập với bất kỳ triều đại nào, và với bất kỳ chế độ nào. Trong số bọn họ có những nhân vật khả kính mà lòng dũng cảm và sự nhân từ của cá nhân họ đáng được kính trọng. Nhưng đó là những ngoại lệ. Nhờ họ, Trung Quốc có thể tự hào rằng nó có một giới quan liêu cổ xưa nhất.

Những kẻ gian giảo khéo hành động bằng cả ngòi bút, bằng cả đầu lưỡi, đều là con cháu của các chúa đất hoặc là con cháu của các địa chủ hạng trung với tư tưởng thǎng quan tiến chức rất mạnh mẽ. Song lại không vượt quá địa vị của một chức cố vấn khu hoặc tỉnh. Mục tiêu của họ là có được chỗ ấm áp đó bằng mọi cách và mọi thủ đoạn.

Giới thương nhân là giai cấp mới đang ra đời mà đạo lý của nó thì vừa phức tạp, lại vừa mang tính chất trộm cướp. Chắc chắn là giai cấp này lẽ ra không thể ra đời được, không phồn thịnh được nếu không có sự thâm nhập của tư bản ngoại quốc mà về phương diện này thì tư bản ấy là người cha đỡ đầu và người thầy của nó.

Nhưng, sau khi ra đời và trưởng thành, phần nào nó vẫn cảm thấy mình bị người cha đỡ đầu ấy gạt bỏ, hầu như bóp nghẹt vì đã trở thành kẻ cạnh tranh với nó, cản đường không cho nó tiến lên thật xa như nó mong muốn. ở trong tư thế như hiện nay, Chính phủ không thể dành cho nó một sự giúp đỡ nào cả. Và chính phủ muốn có một tầng lớp khác xuất hiện, hùng mạnh hơn, có sức hơn, có khả nǎng hậu thuẫn cho Chính phủ tốt hơn. Vậy nhờ cậy vào ai đây? Nhờ cậy giới quân phiệt chǎng? Nhưng đó là những tên móc tiền vô độ và hoàn toàn tỏ ra bất lực trước ngoại bang. Trông cậy vào quần chúng ư? Bản nǎng ý thức bảo thủ khuyên bảo bọn thương nhân, rằng đối với chúng với tư cách là bọn người đi bóc lột, hoặc cổ vũ bọn đi bóc lột, trước hơn hết là hãy bằng cách nào đó sống lần hồi theo “vận may”, còn hơn là chơi với thứ vũ khí hết sức đáng nghi ngờ là sức mạnh cách mạng của quần chúng.

Họ rơi vào tình trạng tuyệt vọng giữa các vòng luẩn quẩn mà chưa nhìn thấy lối thoát ra khỏi đó. Đứng giữa hai mắt xích khổng lồ là bọn tư bản và giai cấp vô sản, nhóm đứng ở giữa bị đẩy vào tư thế tiêu vong dần dần, bị hoà tan lúc thì vào hàng ngũ các nhà tư bản, lúc thì vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Người tiểu sở hữu dễ có nguy cơ bị người sở hữu lớn nuốt chửng nhiều hơn là tự bản thân người tiểu sở hữu biến thành người sở hữu lớn. Vì vậy, nhóm người này tự phân tán thành bột và ngày càng bị nghiền nhỏ thành bụi, ngày càng phải chuyển giao cơ nghiệp hoặc cửa hiệu bé nhỏ của mình cho một ông chủ vững vàng hơn anh ta, còn bản thân anh ta thì gia nhập vào gia đình vô sản vốn đã đông đảo, nhưng vẫn còn mang tinh thần mến khách. Nhưng người tiểu sở hữu mang tinh thần cách mạng không phải vì lý do tâm lý mà vì tất yếu. Dĩ nhiên, tinh thần cách mạng của họ mang tính chất tiểu tư sản và thấm đượm tinh thần chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cải lương và tính ôn hoà. Tâm trạng ấy của các giai cấp hạng trung đều thấy biểu hiện tại tất cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa.

Các thợ thủ công bị mất nghề do máy móc được sử dụng, những người tiểu nông bị phá sản do mùa màng thất thu và đã phải đem bán ruộng đất của mình, những người công nhân không kiếm được việc làm đã tạo thành một tầng lớp đông đảo những người sống lang thang. Họ đi lang thang từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ thành thị về nông thôn và ngược trở lại. Để khỏi bị chết đói, họ nhận làm lính đánh thuê trong đội quân của một viên tỉnh trưởng đầu tiên mà họ gặp hoặc biến thành những tên cướp. Nhân đây xin nói rằng có rất ít sự khác biệt giữa những kẻ làm lính đánh thuê và những tên cướp. Mỗi khi các nhân vật cầm quyền ở các tỉnh cần có quân lính, họ thu góp bọn cướp lại và bằng cách ấy bọn kia trở thành “quân chính quy”. Cả hai loại người đó đều có hại cho nhân dân lao động.

SINH VIÊN

Sinh viên đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống nước Trung Hoa đang thức tỉnh, cho nên tầng lớp này phải được xem xét riêng.

Mặc dù họ xuất thân là con cháu của giai cấp tư sản lớn hoặc nhỏ, nhưng họ được cổ vũ bởi những tư tưởng mới đặc trưng cho thế hệ hiện đại. Bão táp cách mạng, thế giới bị đảo lộn đã làm cho đầu óc họ thoát khỏi những định kiến, các truyền thống đã bám rễ quá sâu và ý thức các dân tộc phương Đông. Họ cảm thấy đau khổ khi phải chứng kiến sự bất tài của những kẻ cầm quyền, sự dốt nát của bọn quân phiệt, tình trạng hèn yếu của đất nước, thái độ ngạo mạn của bọn người ngoại bang, cảnh cùng khổ của nhân dân. Họ có tinh thần cách mạng vì họ được giác ngộ và lòng thương xót đồng bào, nếu chỉ có thể nói được như vậy. Họ là những nhà cách mạng duy tâm. Họ là những người cuồng nhiệt theo chủ nghĩa Uynxơn, nhưng hoà ước Vécxây đã như gáo nước lạnh giội lên đầu họ, còn cuộc cách mạng Nga thì đã chiếu dọi con đường đúng đắn cho họ đi. Họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng học thuyết của Khổng Tử, họ đã có những thử nghiệm với chủ nghĩa Uynxơn và nhờ kết quả thử nghiệm cũng như nhờ sự nghiên cứu sâu sắc nên họ đã đến với chủ nghĩa Mác hoặc như bản thân họ gọi là chủ nghĩa Lênin. Họ rất tích cực hoạt động. Họ là một trong những nhóm cách mạng nhất và có tổ chức nhất ở Trung Quốc.

NÔNG DÂN

Vì Trung Quốc thật ra là một nước nông nghiệp, nên hơn 85% dân cư sống ở nông thôn. Có thể phân họ thành bốn loại: đại điền chủ, điền chủ hạng trung, tiểu điền chủ, bần nông và công nhân nông nghiệp.

1) Đại điền chủ. Phần lớn gồm những chúa đất và các phần tử quý tộc cũ. Số lượng loại này có từ 250 đến 300, mỗi tên chiếm giữ hơn 10.000 mẫu 1 ; có gần 30.000 hộ chiếm giữ hơn 1.000 mẫu mỗi hộ, và có 300.000 hộ chiếm giữ hơn 100 mẫu mỗi hộ.

2) Địa vị xã hội của các tiểu chủ, có từ 10-100 mẫu thì thật phức tạp và biến động. Với một số ruộng đất từng ấy, người nông dân có thể trở thành kẻ bóc lột, lại cũng có thể trở thành người bị bóc lột:

a/ Nếu gia đình khá đông người, có thể dùng sức của bản thân để cày cấy, thì anh ta thuộc loại trung gian;

b/ Nếu gia đình không đủ đông thì người nông dân ấy phải phát canh một phần số ruộng của mình và như thế trở thành kẻ bóc lột;

c/ Nếu gia đình quá đông và không đủ ruộng cho từng ấy nhân khẩu, thì người nông dân thường buộc phải cày cấy thêm ruộng đất của người khác ngoài số ruộng đất của mình, và như vậy anh ta trở thành người vô sản và biến thành người bị bóc lột.

Có gần 44.000.000 hộ ở vào địa vị như vậy.

3) Rất nhiều nông dân nghèotrở thành các tá điền hoặc bắt đầu nhận cấy rẽ. Người tá điền thuê ruộng, trả một khoản tiền trong một thời gian nhất định. Vào nǎm được mùa, số lãi của anh ta cũng không nhiều, bởi vì chủ ruộng biết rõ ruộng đất của mình và tính toán chính xác các khoản thu nhập trên số ruộng đó. Nếu mất mùa thì người tá điền hoàn toàn phá sản, còn chủ đất thì không bị mất gì. Với hình thức cấy rẽ, chủ đất thu được từ 40% đến 50% sản lượng của mỗi vụ thu hoạch.

4) Công nhân nông nghiệp. Trước kia chế độ sở hữu ruộng đất ở Trung Quốc mang tính chất hết sức manh mún, mỗi nông dân, thậm chí ngay cả người nông dân nghèo nhất, cũng có một mảnh đất cỏn con. Nhưng đến nay nhiều người không có được “ngay cả mảnh đất cỏn con đó để cắm dùi”. Đối với họ, đôi bàn tay là nguồn sống duy nhất. Để kiếm được miếng cơm, họ trở thành người hầu hạ trong các gia đình hoặc trở thành những công nhân làm theo mùa. Công nhân theo mùa không có đồng lương ổn định, cũng không có việc làm thường xuyên. Do vậy, cuộc sống của họ rất khổ sở. Những công nhân lớn tuổi mỗi nǎm kiếm được từ 20 đến 30 piát 1 kèm theo cơm ǎn và chỗ ở. Còn các trẻ em làm việc chǎn súc vật thì mỗi nǎm kiếm được từ 3 đến 5 piát. Sự xâm nhập của tư bản ngoại quốc đã ảnh hưởng hết sức tai hại đến nông thôn. Nếp sống gia trưởng truyền thống bị phá huỷ. Bị thôi thúc bởi lòng hám lợi và bởi tấm gương các người anh em của mình ở thành thị, điền chủ ở nông thôn cũng ngày càng tìm cách độc quyền chiếm ruộng đất. Các công ty khai thác ruộng đất được hình thành và độc chiếm đến 300.000 mẫu, làm cho hàng loạt nông dân bị mất ruộng đất. Nǎm 1918 đã có hơn 15.500.000 nông dân bỏ thôn xóm ra đi vì cảnh nghèo túng. Nạn lụt lội, mưa bão, đói khát, chế độ quân phiệt, tình trạng dốt nát- tất cả những cái đó làm cho tình cảnh của người nông dân Trung Quốc ngày càng trở nên thê thảm hơn.

CÔNG NHÂN

Cǎn cứ theo các số liệu thống kê thì số lượng giai cấp vô sản Trung Quốc lên đến 5.056.000 người. Gần 15 tổ chức tập hợp 300.000 thành viên. Các tổ chức được phân chia như sau:

Nghề

Số lượng

Được tổ chức lại

Thợ điện

100.000

5.000

Làm công trong nhà

400.000

8.000

Thợ may

300.000

7.000

Công nhân mỏ đá

300.000

8.000

Công nhân mỏ muối

300.000

10.000

Thợ kéo xe

200.000

10.000

Công nhân xưởng in

80.000

l0.000

Thợ dệt

180.000

l0.000

Thợ cắt tóc

200.000

14.000

Công nhân thuốc lá

100.000

18.000

Công nhân xây dựng

800.000

30.000

Công nhân mỏ

420.000

26.000

Công nhân đường sắt

l00.000

42.000

Vận tải đường sắt

80.000

45.000

Công nhân kim khí

200.000

50.000

Các loại khác

7.000

Mặc dù chỉ đến cuối cuộc chiến tranh châu Âu, giai cấp vô sản Trung Quốc mới bắt đầu thật sự được tổ chức lại, nhưng nó đã đứng vững trong một số trận chiến đấu, vừa chịu những thất bại, vừa giành được thắng lợi. Công nhân các ngành kim khí, hoá chất và ngành biển luôn luôn tỏ ra rất vững vàng về phương diện tổ chức và tinh thần sẵn sàng hành động. Các tổ chức của họ là một sức mạnh thực tế mà chủ nghĩa tư bản ngoại quốc và bản xứ phải tính đến. Giai cấp vô sản có tổ chức đưa ra yêu sách:

1) Tự do hội họp;

2) Quyền bãi công và thành lập các hiệp hội;

3) Chế độ ngày lao động 8 giờ dành cho người lớn và ngày lao động 6 giờ dành cho thiếu niên;

4) Bảo vệ những điền chủ hạng nhỏ;

5) Cấm lao động thêm giờ trong các ngành sản xuất nguy hiểm;

6) Cấm lao động ban đêm đối với phụ nữ và trẻ em;

7) Chế độ nghỉ phép 2 tuần, mỗi nǎm 2 lần, có trả lương;

Nghỉ 8 tuần lễ trước và nghỉ 8 tuần lễ sau sinh con đối với phụ nữ làm các công việc nặng nhọc;

Nghỉ 6 tuần lễ trước và 6 tuần lễ sau khi sinh con đối với phụ nữ làm công việc nhẹ.

8) Chế độ kiểm soát của công nhân đối với việc thi hành bảo hiểm công nhân;

9) Nhà nước trợ cấp cho các tổ chức công nhân để áp dụng chế độ giáo dục ngoài nhà trường cho công nhân lớn tuổi.

LAO ĐỘNG TRẺ EM

80 nǎm về trước, khi chưa xảy ra cuộc chiến tranh thuốc phiện, ở Trung Quốc đã ngự trị chế độ gia trưởng chuyên chế. Sau cuộc chiến tranh này (1840) chủ nghĩa tư bản ngoại quốc chiến thắng đã thay thế chế độ gia trưởng bằng chế độ công nghiệp. Cuộc đấu tranh sống mái đã diễn ra giữa các sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập nội; có thể dễ dàng thấy trước kết cục cuộc đấu tranh: sự suy sụp của nền công nghiệp bản xứ và sự toàn thắng của nền sản xuất công xưởng ngoại quốc. Các nghề thủ công đã bị giết chết. Một số cơ sở sản xuất hạng trung đã cả gan thống nhất lại, tập hợp lại để chống ngoại bang. Nhưng cuộc đấu tranh không cân sức, vì vậy nền sản xuất cơ giới hoàn hảo đã không gặp khó khǎn lắm để hất nền công nghiệp bản xứ xuống vực thẳm.

Sau khi đã dọn chỗ cho mình bằng cách đó, tư bản ngoại quốc chỉ còn một việc là xuất hiện ở Trung Quốc để hưởng sự thịnh vượng. Không phải mời nó đến lần thứ hai. Bọn tư bản bản xứ đã đặt quan hệ êm thuận với những người bạn mới, nhưng trong bụng chỉ hy vọng có dịp nào đó thoát khỏi những ông bạn ấy. Nhưng họ đã lầm to. Thay vì dịp may mà họ hằng mong đợi, họ đã phải nhìn thấy bản thân mình bị lột khố, một mặt – bởi bọn đế quốc ngoại bang, mặt khác – bởi chính bọn quân phiệt nước mình. Cuộc chiến tranh thế giới nổ ra. Bọn tư bản phương Tây quá bận rộn với công việc của mình, nên không thể quan tâm đến vùng Viễn Đông. Chúng giải phóng các thị trường và rút các con tàu của mình ra khỏi các hải cảng Trung Quốc.

Các mặt hàng công nghiệp trở nên khan hiếm. Tưởng chừng cuối cùng thì ngôi sao vận may đã rọi sáng đến nền công nghiệp và các nghề thủ công bản xứ. Người thì lợi dụng sự vắng mặt của kẻ cạnh tranh đáng nghi ngờ của mình để mở các nhà máy mới và các cửa hàng mới. Có người lại muốn lợi dụng sự non yếu và sự thiếu kinh nghiệm của loại vừa nói ở trên để khôi phục lại những công xưởng đã bị phá huỷ của mình và tìm đến những khách hàng cũ.

Than ôi! Điều đó không hơn gì một giấc mơ đẹp. Nhà tư bản và thợ thủ công chỉ vừa mới kịp chúc mừng nhau là nỗi thất vọng chua chát đã hiện lên trước họ. Cuộc chiến tranh kết thúc. Bọn đế quốc lại quay trở lại. Và chúng trở lại với số lượng đông đảo hơn, và đưa ra nhiều đòi hỏi hơn trước. Chúng cố gắng không chỉ gỡ lại những gì đã bị mất đi ở Trung Quốc trong thời gian vắng bóng, mà còn muốn gỡ lại cả những gì bị mất đi trong thời gian chiến tranh ở châu Âu. Cũng hệt như các nước thuộc địa đã từng có nghĩa vụ phục vụ chiến tranh, bây giờ lại có nghĩa vụ phục hồi chính quốc. Trung Quốc cũng phải làm việc cho châu Âu đã bị kiệt quệ. Nền công nghiệp bản xứ đã bị đặt lại đúng địa vị của mình, còn các thợ thủ công thì bị lãng quên và đi vào đêm tối.

Trong cuộc chơi trò ú tim ấy giữa bọn tư bản, những người công nhân, đặc biệt là thiếu niên, bị rơi vào cảnh là kẻ phải lót đỡ. Số lợi nhuận mà bọn tư bản không đủ sức bòn rút do thiếu tư bản và do máy móc không hoàn hảo thì bọn tư bản bản xứ lại bắt người công nhân phải gánh chịu. Do ít kinh nghịệm hơn, ít có khả nǎng đấu tranh và hậu quả là những thiếu niên dễ bị thuận lòng lại hoàn toàn nằm trong tay bọn chủ. Thường xảy ra tình trạng là, cũng cùng làm một công việc trong cùng một thời gian, nhưng các em thiếu niên nhận tiền công ít hơn nhiều so với công nhân lớn tuổi. Nếu các em tỏ ý bất bình, thì tên chủ nói với họ: “Tại sao chúng mày, những kẻ không có sức lực và không có tay nghề, lại không cảm thấy may mắn một khi chúng mày được người ta cho miếng cơm và không để chết đói ở ngoài phố?”. Trên thực tế, bọn chủ thích sử dụng các em thiếu niên là những người dễ cam chịu bị bóc lột mà vẫn hoàn thành cùng một định mức công việc. Đó là tình hình trong ngành sản xuất lụa với công việc không phức tạp, còn máy móc thì đơn giản, không đòi hỏi phải có sức vóc và tay nghề.

Bằng cách sử dụng lao động trẻ em, chủ nhà máy tiết kiệm được rất nhiều. Thượng Hải là thành phố điển hình để nghiên cứu sự bóc lột lao động của những công nhân ít tuổi. ở thành phố này, công nghiệp phát triển mạnh nhất và mang tính chất hiện đại nhất so với bất cứ nơi nào ở Trung Quốc. Các ngành sản xuất chủ yếu là: vải sợi, lụa và thuốc lá. Số công nhân làm việc trong các ngành này lên đến 200.000 người, trong đó có 50% là phụ nữ và trẻ em. Tiền công của 2 loại công nhân này rất thấp, từ l0 đến 20 xu/ngày. Độ dài của ngày lao động là từ 12 giờ đến 13 giờ. Độ tuổi trung bình của trẻ em từ 7 đến 14 tuổi. Với thể chất còn non yếu, với những cơ quan của cơ thể còn mảnh mai, các em đã phải lao động suốt những giờ làm việc kéo dài trong các công xưởng, trong những điều kiện vệ sinh rất tồi tệ. Suốt cả ngày, các em phải hít thở vào phổi những mùi nồng nặc, không khí hôi thối và bụi bậm. Sau một thời gian ngắn lao động tại các công xưởng, sức khoẻ những trẻ em khốn khổ này bị huỷ hoại vô phương cứu chữa, thậm chí lao động ban ngày cũng làm cho mệt mỏi. Những công việc làm ban đêm còn tồi tệ hơn; sự mệt nhọc và tình trạng thiếu ngủ trở thành hình thức tra tấn thực sự đối với trẻ em. Sự tra tấn ấy trở nên khủng khiếp khi diễn ra 10 ngày liền. Trên thực tế, với chế độ làm việc 20 ngày đêm thì trẻ em phải làm l0 ngày ca ban ngày và l0 ngày phải làm theo ca đêm. Nhiều khi bất chấp các nỗ lực vì bị mệt nhọc quá sức, các em đã phải nhắm nghiền mắt lại. Vô số trường hợp tai nạn đã xảy ra vì thiếu ngủ.

Trong ngành sản xuất tơ lụa, điều kiện làm việc thật kinh tởm. Em gái bé nhỏ làm công việc “kéo tơ” phải đảm đương 2 nồi chứa đầy nước sôi và chứa một số lượng kén nhất định. Bằng 2 chiếc đũa nhỏ, người kéo tơ xe những sợi tơ được kéo ra từ những kén tơ và đặt những sợi tơ ấy lên chiếc khung guồng. Vì luôn luôn có kén tơ bị đứt quãng và sợi tơ bị đứt nên người ta liên tục phải nối chúng lại bằng 2 chiếc đũa. Như vậy, một mặt, em gái kéo tơ bị nóng bức do ngồi sát nước sôi bốc hơi, và mặt khác, em lại bị lạnh bởi luồng không khí chuyển động từ chiếc khung quay tít. Sự ồn ào đến điếc tai của máy móc, rồi mệt nhọc do hai bàn tay phải liên tục vận động, hơi nước, mùi hôi thối đến lộn mửa của những chiếc kén tằm đã thối rữa – tất cả những cái đó được quyện lại với nhau để làm rã nát không thương xót những sợi dây thần kinh của cô thợ bé bỏng. Không hề có quạt gió thông hơi, không hề có những thiết bị bảo hộ vệ sinh. Mùa hè cũng như mùa đông đều nóng bức không thể chịu nổi vì bầu không khí ngột ngạt. Đó là những điều kiện làm việc của các em gái ở độ tuổi từ 8 đến 15 tuổi. Bụi tơ bay vào miệng, vào mũi làm tắc cả lỗ tai. Các ngón tay và mặt thường bị tấy đỏ do nước bẩn nóng bỏng chảy từ các nồi nước. Nhưng chưa hết. Để đi đến nơi làm việc và sau đó trở về nhà, các em phải đi bộ nhiều kilômét. Rất ít khi được chở đi bằng những chiếc xe ngựa bé nhỏ lèn các em như lèn cá trong thùng. Các em phải ǎn vào giữa trưa (hoặc vào nửa đêm) ở ngay tại công xưởng, bởi vì người ta không cho các em hưởng 15-20 phút để ǎn uống. Không có chế độ giải lao, không có chế độ nghỉ hằng tuần. Đó là cuộc đời của các nữ công nhân bé nhỏ khốn khổ ấy.

Từ 7-8 tuổi đã phải lao động mỗi ngày 12-13 giờ trong suốt cả nǎm, các em không còn thời gian và khả nǎng để học tập. Các em hầu như nhất loạt mù chữ, đa số mắc bệnh lao.

Và bất kể tất cả những điều đó, các em vẫn tự coi mình là gặp may. Tình trạng nghèo khổ quá ghê gớm, số người thất nghiệp quá đông, khiến cho chỉ nghĩ đến sự mất việc làm đã đủ để cho người nữ công nhân trẻ tuổi không dám đấu tranh hoặc đòi hỏi thực hiện những sự cải thiện nào đó. Bọn chủ biết rõ điều đó và khai thác nỗi sợ hãi của các em. Nhưng từ nǎm 1920, các nữ công nhân nhỏ tuổi, noi gương những công nhân nam lớn tuổi, đã thực hiện một số cuộc bãi công đòi tǎng lương. Dĩ nhiên, phong trào này còn chưa được tổ chức tốt, lãnh đạo chưa tốt và bị thất bại. Bọn chủ có thái độ khoan dung đối với những phong trào đó, coi đó là trò trẻ con mà thôi.

Các xưởng dệt và các nhà máy sản xuất vũ khí là những xí nghiệp duy nhất ở Trung Quốc được tổ chức một cách hiện đại. Các em thiếu niên trong công nghiệp dệt chiếm 7% tổng số công nhân, tại các nhà máy sản xuất vũ khí các em chiếm 5%. Các em được phân thành 3 loại: học sinh học nghề, thợ bạn và lao công. Loại học nghề lao động l0-ll giờ/ngày, được trả 10-20 xu. Thời gian học nghề kéo dài 2-3 nǎm. Sau đó họ trở thành thợ bạn. Thợ bạn hưởng tiền công nhiều hơn các em học nghề, nhưng lại ít hơn so với các công nhân thực thụ. Loại lao công hưởng tiền công bằng các em học nghề, nhưng không có tương lai bởi vì họ sẽ không bao giờ trở thành thợ cả. Nhìn chung, hoàn cảnh của các em thiếu niên – công nhân có tốt hơn hoàn cảnh các em gái trong ngành sản xuất tơ lụa. Số giờ làm việc của các em nam ngắn hơn và được nhiều tự do hơn, nhưng các em cũng không được tổ chức lại.

Do đất nước rộng lớn bao la và thiếu phương tiện đi lại, cho nên quá trình nền công nghiệp phá huỷ nghề thủ công vẫn chưa kết thúc. ở miền quê xa xôi không ở gần các con sông và đường sắt, dân chúng luôn luôn cần đến các sản phẩm địa phương. Trong các vùng đó nghề thủ công tương đối phát đạt, cùng với nó là việc dạy nghề. Các nam nữ công nhân nhỏ tuổi phần nhiều là con cái của công nhân thành thị. Một số lượng không đáng kể xuất thân từ nông thôn; nhiều người trong số đó đã theo học các trường cấp I, một số đã học các trường cấp II- đó là con cái của những tiểu chủ đã biến thành vô sản.

Rất khó xác định con số chính xác các công nhân thiếu niên, nhưng dù sao cǎn cứ theo tỷ lệ phần trǎm, ta có thể nói rằng, trong công nghiệp dệt có 7% số các em ấy, trong công nghiệp sản xuất vũ khí có 5%, trong ngành tơ lụa có 25%, qua đó chúng ta thấy các em giữ vị trí quan trọng như thế nào trong gia đình vô sản Trung Quốc.

Trong các xưởng được tổ chức tốt, các em học sinh còn kiếm được đôi chút, trong khi đó các em học sinh ở nông thôn không nhận được đồng nào, mà thời hạn học lại kéo dài hơn. Trong những nǎm đầu các em không được học gì cả, các em làm các công việc sai vặt, quét nhà, đốt lò, gánh nước, tóm lại, làm hàng nghìn công việc trong nhà. Đôi khi ông chủ bảo học trò dắt con cái hắn đi dạo chơi như người hầu.

Sau khi học xong, người học trò không được lập tức rời khỏi nhà ông chủ của mình. Theo tục lệ đã ǎn sâu, người học trò phải ở lại trong vòng 2 – 3 nǎm để giúp việc có được hưởng công, mức tiền công do ông chủ tuỳ ý ấn định, tuỳ theo “lòng tốt”. Mới đây, đời sống đắt đỏ đã đẩy công nhân làm việc trong các nghề thủ công đoàn kết lại để bảo vệ lợi ích của mình. Hiện thời, đây vẫn còn là một phong trào yếu ớt, và các đòi hỏi của nó còn rất ôn hoà. Phải thấy rằng, công nhân thiếu niên và các em học nghề đã cảm nhận thấy sự phá sản đang tới gần cửa các xí nghiệp thủ công, nên đã dần dần rời bỏ xưởng của mình để vào làm tại các xưởng máy. Tình cảnh của lao động trẻ tuổi rất thảm hại. Họ không có công việc ổn định, không có đồng lương tạm phải chǎng, cũng không có sự bảo đảm cho tương lai. Khi có việc làm thì họ còn sống lần hồi cho qua ngày, nhưng khi không có việc làm thì lâm vào cảnh nghèo đói. Những con người không nhà ấy đi lang thang trong các thành phố, tại các tụ điểm thương mại và trang hoàng những nơi đó bằng những mảnh quần áo rách nát của mình và bằng tất cả các hình dáng nghèo khổ, phơi bày ra trước mắt chế độ quân phiệt và giai cấp tư sản hình ảnh sống động về tội ác của chúng.

THANH NIÊN TRUNG QUỐC VÀ ĐỜI SỐNG CỦA HỌ

Cũng như thanh niên các nước khác, thanh niên Trung Quốc chịu đựng gánh nặng hậu quả của chế độ tư bản chủ nghĩa và quân phiệt.

Với sự nghèo nàn tinh thần, sự thô bỉ và vô sỉ, bất chấp những phẩm giá tiêu biểu cho tất cả những tên tay sai của chủ nghĩa tư bản được trang hoàng bằng các tước hiệu, bọn quân phiệt Trung Quốc không có mục đích, cũng như những người anh em của chúng ở phương Tây, chúng không thể được hưởng sự tha thứ.

Bọn quân phiệt phương Tây chí ít còn biết rằng, chúng tàn sát thanh niên vô sản nước mình là để bảo vệ túi tiền của bọn tư bản, hoặc nhằm mục đích chinh phục các thuộc địa, duy trì lợi ích kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản là giai cấp của chúng. Bọn quân phiệt Trung Quốc đẩy một số thanh niên Trung Quốc này đi giết hại những thanh niên Trung Quốc khác nhằm phục vụ lợi ích của bọn tư bản ngoại quốc mà chúng phục tùng. Bọn quân phiệt ấy thậm chí không tìm đến các chiêu bài chủ nghĩa sô vanh và bảo vệ giai cấp mình.

Cũng cần nói thêm rằng, không có ở nơi nào mà người lính lại bị đối xử tồi tệ như thế và bị mất quyền như ở Trung Quốc.

Như chúng ta đã thấy, có lẽ tình cảnh của học sinh ở Trung Quốc thậm chí còn tồi tệ hơn những người anh em của họ ở các nước khác.

Bên cạnh chế độ quân dịch và học nghề, còn có tôn giáo và nền học vấn tư sản với những ý thức giả dối của nó. Chế độ tư bản chủ nghĩa đã làm thanh niên bị biến dạng về phương diện tinh thần và vật chất, khi thanh niên chưa kịp phát triển.

Còn về giáo dục thì quy tắc chung là: trẻ em được học hành tuỳ theo mức sống vật chất của bố mẹ. Nếu bố mẹ giàu có, con cái được học hành chu đáo. Nếu bố mẹ nghèo, con cái hoàn toàn thất học. Như vậy, con cái giai cấp đại tư sản được ra nước ngoài ǎn học. Khi chúng trở về tổ quốc với tất cả hành trang khoa học của mình, thì chúng giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan chính trị và kinh tế của đất nước.

Con cái của giai cấp tư sản hạng trung được học hành rất chu đáo khiến cho chúng có thể trở thành những người lao động có địa vị tốt và làm các nghề tự do. Sau khi tốt nghiệp các trường cấp I và cấp II, con em của các tiểu chủ, do không có tiền, nên không thể tiếp tục tiến lên các nấc kiến thức cao hơn. Họ biến thành những viên chức hành chính, các chủ tiệm buôn ở nông thôn và v.v.. Đôi khi họ đi tìm vận may trong quân đội.

“Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa” – Câu tục ngữ đã nói như vậy. Mặc dù hết sức mong muốn, nhưng công nhân và bần nông không thể gửi con em mình đến trường được. Nếu như họ làm được điều đó thì cũng chỉ làm được một hoặc hai nǎm, không thể lâu hơn được. Tình trạng nghèo đói đè họ xuống như những gọng kìm. Và những trẻ em nào chật vật lắm mới học đánh vần được đôi ba chữ thì lại ghi tên vào làm tại các xưởng hoặc ra làm ở ngoài đồng ruộng.

PHONG TRÀO THANH NIÊN

Cũng như phong trào công nhân, phong trào thanh niên Trung Quốc ra đời vào cuối chiến tranh thế giới, hay nói đúng hơn, từ khi hoà ước Vécxây được ký kết. Phong trào này hoàn toàn khác phong trào thanh niên ở phương Tây. Phong trào thanh niên ở phương Tây chủ yếu tập hợp thanh niên nông thôn và thanh niên công nhân. ở Trung Quốc, phong trào thanh niên chỉ tập hợp sinh viên. ở phương Tây, thanh niên nông thôn cũng như thanh niên thành thị đều đấu tranh vì những nguyên nhân kinh tế và chống bọn quân phiệt, bởi vì trên cơ sở đó, lợi ích của họ trùng hợp với nhau. Còn ở Trung Quốc, trừ một vài ngoại lệ hãn hữu, cuộc đấu tranh lại do thanh niên trí thức tiến hành. Cuộc đấu tranh này thường mang tính chất chính trị nhiều hơn tính chất kinh tế, hơn nữa, những hoạt động đấu tranh ấy chủ yếu nhằm chống lại chính phủ phản động và chủ nghĩa quân phiệt phong kiến. Sự khác nhau này có thể giải thích được. Tại các nước phương Tây, nơi chủ nghĩa tư bản phát triển hơn, nền giáo dục mang tính chất phổ biến hơn. Thanh niên công nhân phát triển hơn và quen đấu tranh hơn. Nó có được kinh nghiệm – đó là di sản của các dân tộc cổ đại. Còn ở Trung Quốc chủ nghĩa tư bản còn non trẻ. Công nhân quen với lối sống kiểu chế độ gia trưởng. Sự học hành chỉ hạn chế ở một số ít con cái các tầng lớp có đặc quyền đặc lợi. Đa số công nhân không biết chữ và bị tách khỏi phong trào công nhân toàn thế giới. Họ bị đau khổ, họ nhìn thấy rõ tất cả tình cảnh khốn khó của mình. Nhưng họ không biết, do đâu mà họ bị nghèo khổ và bằng cách nào thoát khỏi tình trạng đó. Chỉ có tầng lớp sinh viên là có thể nghe thấy những hồi âm của phong trào cách mạng ở phương Tây. Chỉ có họ mới có thể nhìn thấy, suy ngẫm, so sánh và hiểu được vấn đề. Vì vậy, họ là những người đầu tiên tham gia đấu tranh.

Mặt khác, sinh viên không phải chịu những thiếu thốn về vật chất như người công nhân. Do vậy, họ phát động tuyên truyền chống chủ nghĩa quân phiệt và chống đế quốc. Kinh nghiệm chỉ cho họ thấy rằng, chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc của tất cả mọi cǎn bệnh mà chỉ có sự thức tỉnh của giai cấp công nhân mới chữa khỏi được.

Họ yêu tự do và trung thực, họ kiên quyết đấu tranh vì sự nghiệp công nhân. Trong tất cả các cuộc cổ động và biểu tình gần đây, sinh viên đã dành vị trí to lớn cho các yêu sách của công nhân. Trước đây ở tất cả các nước, trong thời kỳ trước cách mạng, chúng ta thấy trí thức đảm nhận vai trò tiền phong, mãi cho đến khi tự bản thân người công nhân đã trở nên giác ngộ hơn và có học vấn hơn, đủ sức lo liệu cho vận mệnh của mình. Khi ấy, tầng lớp trí thức thật sự cách mạng sẽ tự hoà nhập và đi vào phong trào công nhân.

Khi mới ra đời, tổ chức thanh niên cộng sản Trung Quốc tự đặt tên cho mình là “Liên đoàn thanh niên xã hội chủ nghĩa”. Nó bao gồm tất cả các khuynh hướng và tất cả các sắc thái. Trong đó có cả phái vô chính phủ, phái công đoàn chủ nghĩa, phái Rútxô, những người đi theo Các Mác. Sự pha trộn như vậy các khuynh hướng khác nhau đã không thể kéo dài lâu được. Người ta tranh cãi nhiều, nhưng không làm gì cả. Kết cục là, họ đã tách khỏi nhau. Nhóm mácxít là nhóm duy nhất còn tồn tại và được tổ chức lại. Từ đó nó hoạt động thật sự, dành mọi sức mạnh cho tổ chức mình, và cho việc giáo dục thanh niên nông dân và thanh niên công nhân.

Vào tháng 5-1919, người ta thấy rõ là, Nhật Bản không muốn trả Thanh Đảo cho Trung Quốc và các đại diện của Trung Quốc ở hội nghị hoà bình đã do dự trong việc ký tên vào hoà ước Vécxây. Khi ấy, tất cả các sinh viên Trung Quốc đã đổ ra đường phố. Họ đã đốt các dinh thự của ba viên bộ trưởng Nhật Bản, chặn đường một viên bộ trưởng đó và chỉ sau khi đã đánh cho nhừ tử mới buông tha. Thanh niên trong toàn Trung Quốc đã noi theo tấm gương các đồng chí của mình ở Bắc Kinh, và cuộc biểu tình đã lan rộng ra toàn quốc. Họ đã gửi các bức điện đến Pari thuyết phục đại diện của mình đừng ký vào bản hoà ước chia cắt này. Họ đòi triệu hồi lập tức ba bộ trưởng phản bội, đưa yêu sách đòi thả các sinh viên bị bắt trong thời gian có biểu tình, tuyên bố tẩy chay hàng hoá của Nhật Bản. Họ hết sức nhiệt thành, và phong trào rất kiên cường, vì vậy đã nhanh chóng đem lại kết quả. Cả ba bộ trưởng bị triệu hồi, đại diện Trung Quốc đã không chịu ký vào bản hoà ước, những người bị bắt giữ đã được thả ra. Cuộc tẩy chay hàng hoá Nhật Bản đã trở nên rộng khắp.

Sau thành công này, anh em sinh viên đã thật sự đi vào hành động và đấu tranh. Nhằm truyền bá các tư tưởng tiên tiến, người ta đã lập ra các câu lạc bộ triết học, vǎn học và nghệ sĩ; lập ra hội liên hiệp tập hợp hàng vạn sinh viên. Những sinh viên tiên tiến nhất đã quyết định cách mạng hoá sinh hoạt truyền thống đầy tính chất uỷ mị của giới sinh viên Trung Quốc. Họ lập ra các nhóm mà tất cả các thành viên trong đó phải làm công việc chân tay mỗi ngày 3-4 giờ. Có nhiều sinh viên ra nước ngoài để ban ngày làm việc, còn ban đêm học hành. Họ tự kiếm tiền để sống và không nhờ đến sự hỗ trợ vật chất của gia đình, cũng như của nhà nước.

Là những lực lượng đáng chú ý về sức mạnh và về số lượng, sinh viên thường hay can dự vào các vấn đề chính trị và xã hội. Các phương tiện đấu tranh của họ cũng giống như của giai cấp vô sản: ra lời kêu gọi, tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi công.

HAI NHÂN VẬT ANH HÙNG CỦA THANH NIÊN TRUNG QUỐC

Tháng 8 nǎm 1920, Hội liên hiệp thanh niên xã hội chủ nghĩa ra đời ở Thượng Hải. Vì thành phần rất hỗn tạp nên nó chỉ tồn tại có 1 nǎm. Tổ chức này giải tán vào tháng 5 nǎm 1921. Đến tháng 12 nǎm đó, một số người mácxít trẻ tuổi đã tập hợp nhau lại và lập ra nhóm mácxít. Tháng 5 nǎm 1922, họ đã có đến 17 chi nhánh địa phương. Những chi nhánh lớn nhất là ở Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh, Thiên Tân, Quảng Châu. Các tổ chức này có 4.000 thành viên, trong đó có 2.400 công nhân trẻ và 1.600 sinh viên. Cần nêu rõ sự vượt trội của thành phần vô sản, bởi vì trước đây thanh niên công nhân Trung Quốc vẫn chưa được huấn luyện vào tổ chức và thường có thái độ quay lưng lại với chính trị. Các chiến hữu của chúng ta – đã rất kiên trì, nhiệt tình và tháo vát để thu hút một số lượng lớn công nhân trong một thời gian ngắn như thế.

Tháng 5 nǎm 1922, Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của thanh niên cộng sản Trung Quốc được triệu tập ở Quảng Châu. Đại hội đã thảo luận các đề cương có quan hệ đến chính sách dân tộc và quốc tế, đã thông qua các nghị quyết về những phương pháp đấu tranh chống đế quốc và chống chủ nghĩa quân phiệt. Đại hội đã thảo luận các phương cách tuyên truyền và thu nạp các thành viên mới. Tóm lại, đã đặt được nền móng vững chắc cho tổ chức thanh niên cộng sản, kể từ ngày đó, ảnh hưởng của nó ngày càng tǎng trong quần chúng công nhân.

Tuy còn rất non trẻ, nhưng “thanh niên cộng sản Trung Quốc” đã tham gia các trận chiến đấu, đã đón nhận các đòn giáng của giai cấp tư sản và phải chịu đựng những hy sinh. Lịch sử thanh niên cộng sản Trung Quốc đã có tấm gương hy sinh cao cả. Chưa kể số thanh niên xung kích đang còn ngồi trong các nhà tù, đã có hai người hy sinh cho giai cấp vô sản.

Vương ái ra đời nǎm 1897 tại Trang Tế thuộc tỉnh Hồ Nam. Anh theo học tại một trường dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp khoá học, anh làm thợ điện. Sau đó anh tốt nghiệp trường cao đẳng dạy nghề ở Thiên Tân. Nǎm 1919, sau khi xuất hiện phong trào sinh viên nhân Hoà ước Vécxây, anh gia nhập Hội liên hiệp sinh viên. Hoạt động tích cực và lòng dũng cảm của Vương ái đã nhanh chóng được các đồng chí của anh biết đến, họ cử anh làm đại biểu đến Bắc Kinh để đặt quan hệ với giới sinh viên Thủ đô và sau nữa để chuyển cho Chính phủ yêu sách của sinh viên. Anh đã bị bắt giam 38 ngày trong nhà tù. Nǎm sau, anh đã trở về quê và lập ra “Liên đoàn công nhân Hồ Nam”. Anh làm bí thư của tổ chức này cho đến ngày qua đời. Tháng 4 nǎm 1921, anh lại bị bắt trong thời gian nổ ra cuộc bãi công của công nhân ngành tơ lụa. Trong nhà tù, anh đã tuyên bố tuyệt thực 7 ngày và đã được trả tự do. Sau khi ra khỏi nhà tù, anh em công nhân đã công kênh anh lên với niềm hân hoan phấn khởi. Đáp lại sự chào mừng của các đồng chí, Vương ái đã nói: Tất cả các chiến sĩ trẻ tuổi cần phải biết cảnh tù tội. Đó là nơi thích hợp để rèn luyện – càng nhiều lần bị tù tội thì ta càng có nhiều tinh thần cách mạng. Vào tháng 11, anh tổ chức biểu tình phản đối chính sách phản động của Chính phủ. Hơn 10.000 công nhân đã hưởng ứng lời kêu gọi của anh. Tháng l nǎm 1922, nổ ra cuộc bãi công mới của công nhân ngành tơ lụa. Bị dồn vào chân tường, bọn chủ xí nghiệp đã phải trả 160.000 piát cho Đào Cǎn Trì, viên tỉnh trưởng Hồ Nam, để hắn trừ khử Vương ái và người bạn của anh mà chúng coi là những người cầm đầu. Thế là ngày 17 tháng 1 nǎm 1922, vào 3 giờ sáng, Vương ái đã ngã xuống sau khi bị 3 nhát gươm của bọn tay chân viên tỉnh trưởng. Đầu anh không bị đứt lìa và sau khi bị tấn công, anh còn có thể nhận biết mọi người. Anh đã qua đời sau 2 giờ đau đớn.

Phạm Ân Kim sinh nǎm 1897 cũng ở Hồ Nam, anh học ở trường dạy nghề “dệt và chải sợi”. Nǎm 1917, tốt nghiệp trường này và đến làm việc tại xưởng sản xuất vải sợi. Nǎm 1920, anh làm quen với Vương ái và giúp Vương ái lập ra Hội liên hiệp công nhân Hồ Nam, làm tổng biên tập tuần báo Người lao động, cơ quan ngôn luận của Hội. Bút pháp của anh vừa giản dị, gây xúc cảm lại giàu hình ảnh, rất được công nhân ưa thích. Anh đã cùng với Vương ái đưa một số cuộc bãi công của thợ in, thợ cắt tóc, thợ mộc, v.v. đến thắng lợi. Phạm Ân Kim là một cán bộ tuyên truyền giỏi. Lời phát biểu của anh đầy sức thuyết phục và đầy nhiệt tình, cũng giống như các bài và các tác phẩm của anh. Trong số các tác phẩm do anh viết, chúng tôi xin nêu lên bài “Cuộc đối thoại giữa hai công nhân” và “Tài nǎng của người lao động” (kịch viết cho nhà hát) và những bài khác. Có thể thấy anh có mặt trong tất cả mọi cuộc đấu tranh của sinh viên và công nhân. ở đâu anh cũng nổi bật nhờ hoạt động tích cực và tài hùng biện. Từ sau cuộc bãi công cuối cùng của công nhân ngành tơ lụa, anh đã nhiều lần bị bắt cùng với Vương ái. Sau cái gọi là xử án, bọn chúng đã tuyên án tử hình các anh. Phạm Ân Kim lúc ấy đã trả lời tên chánh án: “Nếu ông muốn giết chết chúng tôi, ít ra ông cũng phải giải thích xem chúng tôi phạm tội gì”. Tên chánh án với nét mặt hầm hầm dữ tợn đã đáp lại: “Các anh sẽ được biết tường tận điều đó khi nào người ta chặt đầu các anh”. Họ đã bị hành quyết vào khoảng 3 giờ sáng. Sáng hôm sau, tên tỉnh trưởng sát nhân đã tuyên bố rằng, Vương ái và Phạm Ân Kim là những kẻ vô chính phủ, đã tuyên truyền những tư tưởng độc hại, giấu vũ khí và sau hết, lập ra tổ chức để lật đổ chế độ hiện hành.

Nhưng các anh, hai người đồng chí của chúng ta, đã không hy sinh vô ích. Máu của các anh đã đổ sẽ làm thấm đượm thêm mầu lửa cho ngọn cờ cách mạng vô sản, bằng sự hy sinh của mình, các anh sẽ thức tỉnh toàn thể giai cấp vô sản Trung Quốc trước đây vẫn còn thụ động và thờ ơ.

TỔ CHỨC CỦA THANH NIÊN CỘNG SẢN

Nǎm 1922, có đặc điểm là những cuộc nổi dậy của công nhân đã tǎng lên hết sức mạnh mẽ. Hành động giết hại các đồng chí của chúng tôi đã không xa lạ với niềm thức tỉnh nồng nhiệt ấy – hơn 1.700 nam nữ sinh viên và công nhân đã gia nhập “Thanh niên cộng sản”. Điều đó thì bọn đao phủ đã không ngờ tới. Đại hội lần thứ nhất họp ở Quảng Châu từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 5 nǎm 1922.

Dưới đây là một số đoạn trích từ các đề cương đã được thông qua tại Đại hội:

l. Tình trạng đất nước bị chia cắt và các cuộc nội chiến nổ ra là do chủ nghĩa tư bản ngoại quốc gây ra, được bọn phản bội người Trung Quốc, bọn giả nhân giả nghĩa, bọn đày tớ của chủ nghĩa tư bản ủng hộ. Chúng đã bán cho ông chủ ngoại quốc tất cả các nguồn sinh lực của đất nước, tất cả đời sống kinh tế của tổ quốc mình.

2. Chủ nghĩa tư bản Trung Quốc đã buộc người ta phải thấy sự bóc lột của nó ngày càng tàn bạo. Nó không tốt hơn người anh em ngoại quốc của nó, bởi vì nó du nhập của người anh em đó chế độ bóc lột và áp bức.

3. Tên cu lắc tư bản chủ nghĩa ngự trị và làm khánh kiệt số quần chúng bao gồm bần nông, buôn bán nhỏ, tiểu chủ và tất cả công nhân.

4. Người tiểu chủ bị đẩy vào con đường phá sản và tiêu vong do bị hai tầng áp bức của tư bản ngoại quốc và chế độ quân phiệt bản xứ, bản nǎng tự vệ khiến họ phải đấu tranh chống lại hai kẻ thù ấy.

Cuộc khởi nghĩa nǎm 1900 đã chứng tỏ rằng, tầng lớp trung lưu không muốn chịu đựng thêm nữa chủ nghĩa tư bản ngoại quốc. Cuộc cách mạng nǎm 1911 chỉ rõ rằng, quần chúng đã hoàn toàn chán ngấy chế độ phong kiến cũng như nền quân chủ.

5. Cuộc đấu tranh này chống lại chế độ quan liêu và giới tài phiệt trong đời sống kinh tế và chính trị của nhân dân có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nếu cuộc đấu tranh ấy đem lại thắng lợi, thì nó sẽ bảo đảm nền độc lập dân tộc trong chính sách đối ngoại và trong đời sống nội bộ của đất nước, nó sẽ đem lại tự do báo chí, lập hội, v.v., cũng như đem lại chế độ đầu phiếu phổ thông. Đó là giai đoạn lịch sử tất yếu. Giai cấp vô sản phải hành động để thúc đẩy cho thắng lợi của mình. Bằng hành động giúp lật đổ chế độ cũ, chúng ta tập hợp lực lượng và huấn luyện để chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp tới, cuộc cách mạng vô sản.

6. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng, mặc dù chúng ta được hưởng một ít quyền lợi nhờ cuộc cách mạng tiểu tư sản ấy, nhưng những lợi ích ấy không phải là mục tiêu của chúng ta và sẽ không đem lại sự giải phóng hoàn toàn cho chúng ta. Ngay sau khi lật đổ được giai cấp thống trị, giai cấp tư sản nhỏ sẽ tự động biến thành giai cấp cao nhất và giai cấp bóc lột. Vấn đề của chúng ta – vấn đề chủ nghĩa cộng sản – vẫn hoàn toàn phải được đặt ra.

7. Vì vậy, ngay sau khi cuộc cách mạng tư sản kết thúc, chúng ta phải lập tức bắt tay vào việc tổ chức cuộc cách mạng vô sản. Mục tiêu của nó là thiết lập các Xôviết công nhân và nông dân, nghĩa là chuyển giao toàn bộ quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế vào tay giai cấp vô sản.

8. Cuộc cách mạng ấy nổ ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào tình hình quốc tế, trình độ tổ chức và nhịp độ đấu tranh của giai cấp công nhân Trung Quốc.

9. Thanh niên cộng sản Trung Quốc được lập ra bởi thanh niên công nhân Trung Quốc và tồn tại để phục vụ thanh niên công nhân. Nó sẽ tạo ra và giành được sự giải phóng của mình: xã hội hoá tất cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, thực hiện nguyên tắc: “Ai không lao động, người đó sẽ không được ǎn”.

10. Thanh niên cộng sản không chỉ đấu tranh nhằm cải thiện lao động của trẻ em, mà còn mở rộng những đòi hỏi cấp bách của mình nhằm bảo vệ nữ thanh niên và sinh viên. Nó tuyên truyền ý thức giai cấp và đào tạo thanh niên cho cuộc cách mạng vô sản.

11. Kết quả ấy không thể đạt được trong một sớm một chiều mà lại không có sự chuẩn bị. Vì vậy thanh niên cộng sản phải có quy chế chặt chẽ, các mệnh lệnh và chỉ thị chính xác.

NHỮNG YÊU SÁCH CẤP BÁCH

Chính trị:

a) Thủ tiêu chế độ quân phiệt, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản.

b) Quyền phát ngôn không hạn chế cho công nông.

c) Tự do báo chí, hội họp, lập hội và bãi công.

Kinh tế:

a) Chế độ ngày làm 6 giờ cho trẻ em, ngày làm 8 giờ cho người lớn. Cấm tuyển lao động các em dưới 12 tuổi.

b) Mỗi tuần được nghỉ 36 giờ, hoàn toàn được nghỉ vào các ngày lễ.

c) Cấm chủ và thợ học việc ký các hợp đồng tư nhân. Ban hành các đạo luật bảo vệ giới học nghề.

d) Cải thiện điều kiện vệ sinh trong lao động. Cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 16 tuổi trong các ngành sản xuất nguy hiểm.

e) Trả công ngang nhau cho nam nữ công nhân. Phụ nữ được nghỉ hai tháng được hưởng lương trong thời gian sinh đẻ.

Giáo dục:

a) Thanh niên cộng sản tổ chức các câu lạc bộ, các lớp học, các tổ chức giáo dục nhằm phát triển ý thức xã hội trong thanh niên công nhân và thanh niên nông dân. Nó sẽ xuất bản các báo, tạp chí và sách nhằm mục đích bảo vệ và tuyên truyền. Sau hết, nó phải giúp dân chúng lớn tuổi mù chữ có được trình độ học vấn phổ thông.

b) Hệ thống giảng dạy sẽ được thay đổi sao cho con em người nghèo được đi học.

c) Chế độ học không mất tiền và chế độ tự quản cho sinh viên.

d) Bình đẳng giữa các tôn giáo và các dân tộc. Thanh niên cộng sản cần phải giúp đỡ phong trào thanh niên, phải đấu tranh chống thủ đoạn ngu dân tôn giáo và tất cả những gì có thể làm tǎm tối đầu óc thanh niên.

Thanh niên cộng sản cho rằng, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa là vấn đề quốc tế, vì vậy phải giúp đỡ tất cả mọi dân tộc trong cuộc đấu tranh của họ.

Sau Đại hội, Ban chấp hành mới ghi nhận rằng, đã thành lập thêm được 6 chi hội địa phương, nâng tổng số lên 22 chi hội.

Báo “Đội tiền phong” được phát hành.

Các hình thức đấu tranh:

a) Nhân kỷ niệm ngày mất của Rôda Lúcxǎmbua và Các Lípnếch, đã tổ chức những cuộc biểu tình lớn ở Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu và ở các tỉnh khác.

b) Thanh niên cộng sản tham gia rất tích cực vào phong trào bài mê tín: ở khắp nơi đều có các hội bài mê tín, tập hợp được gần 30.000 thành viên. Phổ biến các bài thuyết trình, các sách mỏng và những bản tuyên ngôn, đồng thời đã tiến hành các hội nghị.

c) Đã tiến hành thắng lợi cuộc biểu tình ngày 1-5.

d) Tại tất cả các tỉnh có những chi hội địa phương đều đã tiến hành ngày chủ nghĩa Mác. Đã phân phối các bản tuyên bố và các cuốn sách cổ động.

e) Thanh niên cộng sản đã ủng hộ cuộc bãi công của thợ dệt ở Thượng Hải. Ban chấp hành của nó đã gửi các thông tri đến tất cả các tổ chức công nhân để yêu cầu họ giúp đỡ, trong 3 ngày Ban chấp hành đã thu được hơn 900 piát qua việc mở đợt đǎng ký. Có 10 đồng chí thuộc hội “Thanh niên cộng sản” đã bị cảnh sát bắt vì lý do đó. Chỉ sau khi cuộc bãi công của thợ dệt kết thúc họ mới được thả. Giới thanh niên tràn đầy những dự định tốt đẹp và nhiệt tình đã hoạt động hǎng hái. Tuy nhiên, họ vẫn không liên hệ được với quần chúng. Tình trạng ấy là do thiếu các chỉ thị và kinh nghiệm.

Tại Đại hội lần thứ III của Quốc tế Thanh niên cộng sản, đồng chí Liêu Nhân Trần đã dự với tư cách đại biểu. Sau khi trở về đồng chí đã triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ II. Đại hội được triệu tập vào tháng 7 nǎm 1923 ở Nam Kinh. Đã xem xét và tiếp nhận các đề cương của Đại hội quốc tế. Những đoạn dưới đây của mệnh lệnh phải được thực hiện:

a) ủng hộ đòi hỏi hằng ngày của thanh niên công nhân.

b) Đi vào quần chúng để kết nạp những thành viên mới thuộc nam nữ công nhân.

c) Thành lập các chi bộ nhà máy.

Đại hội toàn thế giới đã tán thành các đề cương do Thanh niên cộng sản Trung Quốc trình bày, những đề cương ấy liên quan đến chính sách cần áp dụng đối với “Quốc dân đảng”; các hội viên hội thanh niên cộng sản phải bằng mọi cách giúp mở rộng và củng cố đảng cách mạng ấy, luôn luôn tuyên truyền rộng rãi những nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa. Các hội viên Hội thanh niên cộng sản nào đồng thời có tham gia “Quốc dân đảng” phải luôn luôn chịu sự kiểm soát của Ban chấp hành Thanh niên cộng sản và phục tùng các chỉ thị của nó. Tuy tham gia công việc của “Quốc dân đảng”, nhưng các hội viên của Hội thanh niên cộng sản không được coi nhẹ việc tuyên truyền tư tưởng cộng sản và trong tất cả mọi trường hợp phải thể hiện tính độc lập về tư tưởng và tổ chức. Các hội viên ấy chịu trách nhiệm trước đảng mình, nghĩa là trước Hội thanh niên cộng sản.

Vì một mặt, do cấu trúc cách mạng tự nhiên của thanh niên nông dân, và mặt khác, cũng do có một số lớn binh lính xuất thân từ thanh niên nông dân, nên Hội thanh niên cộng sản phải dành sự chú ý đặc biệt cho công tác theo hướng này, đặc biệt đẩy mạnh công tác giác ngộ giai cấp trong thanh niên nông dân để họ thành bạn chiến đấu cách mạng của mình. Đòi phải trả cùng một mức tiền công cho thiếu niên làm cùng loại công việc như nông dân người lớn. Trẻ em nông thôn là những người tham gia sản xuất trong tương lai, phải được học hành một cách tương ứng. Thanh niên cộng sản thu thập dữ kiện về tình hình kinh tế của dân cư nông

thôn để hành động cho phù hợp với tình hình.

Giáo dục và tuyên truyền

Bằng những bằng chứng đơn giản và rõ ràng, làm cho quần chúng hiểu rõ lợi ích thật sự của mình. Dần dần đưa quần chúng đến chỗ nhận thức được sự cần thiết phải thay đổi chế độ xã hội hiện hành. Huấn luyện quần chúng nắm vững các phương pháp của tổ chức công nhân. Hoạt động theo hướng đó nhằm làm cho tất cả thanh niên nông dân, thanh niên công nhân và thanh niên học sinh hiểu rõ và thừa nhận các tư tưởng của cách mạng dân tộc và cách mạng quốc tế.

Ra lời kêu gọi gửi tất cả thanh niên công nhân, thanh niên nông dân, binh lính và sinh viên với những lời kết thúc dưới đây:

Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Đả đảo bọn tư bản bóc lột!

Cách mạng toàn thế giới muôn nǎm!

Hiện nay “Hội thanh niên cộng sản” có 6.000 hội viên. Các nhóm và các chi hội dần dần được lập ra trong khắp đất nước. Sinh viên và thanh niên kiều bào cũng thành lập các nhóm cộng sản ở nước ngoài. Trong số đó có hơn l00 người đã học chủ nghĩa Mác tại Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông ở Mátxcơva.

cpv.org.vn

—————————-

78. Trung quốc và thanh niên Trung Quốc: Trong thời gian hoạt động ở Liên Xô và học tập ở Trường đại học phương Đông (1924), Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ, trao đổi với nhóm thanh niên Trung Quốc học ở đây. Người đã tập hợp những tư liệu về lịch sử và phong trào cách mạng Trung Quốc và tổ chức viết thành cuốn sách Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc. Sách viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Nga, Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản nǎm 1925. Cuốn sách giới thiệu khái quát lịch sử, địa lý, kinh tế, vǎn hoá, xã hội và con người Trung Quốc. Cuốn sách cũng trình bày tình cảnh các tầng lớp nhân dân Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử và nhất là thời kỳ bị chủ nghĩa tư bản quốc tế áp bức. Chủ nghĩa đế quốc xâm nhập vào Trung Quốc là nguồn gốc của mọi cǎn bệnh xã hội: đói khổ, bệnh tật, chết chóc. Nông dân bị bóc lột hà khắc. Công nhân bị đày đọa trong các công xưởng nhà máy. Thanh niên bị đầu độc, bưng bít. Cuốn sách cũng chỉ rõ những nét đặc trưng về phong trào cách mạng Trung Quốc, sự khởi sắc của phong trào công nhân và đề ra những nhiệm vụ chủ yếu của tuổi trẻ Trung Quốc trong sự nghiệp cách mạng. Tr.369.

Công tác quân sự của Đảng trong nông dân

CÁC PHƯƠNG PHÁP DU KÍCH CÁCH MẠNG

Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực.Đó là một sự thực hiển nhiên đối với cả hai cuộc cách mạng – cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản. Trong thời kỳ cách mạng tư sản dân quyền, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để thực hiện các khẩu hiệu của mình và chuyển cuộc cách mạng tư sản dân quyền thành cách mạng vô sản không thể giành được thắng lợi hoàn toàn nếu không có khối liên minh cách mạng của giai cấp vô sản và nông dân, nếu không có sự tham gia tích cực của quần chúng nông dân bị áp bức vào việc thực hiện những khẩu hiệu của cách mạng. Ba cuộc cách mạng Nga, cuộc cách mạng vĩ đại Trung Quốc và các cuộc đấu tranh cách mạng ở nhiều nước khác đã chứng minh rõ ràng điều đó. Đối với tất cả những nhà cách mạng chân chính hiện nay, nguyên tắc lêninnít cǎn bản ấy là sự thực hoàn toàn không thể chối cãi. ở Trung Quốc, ấn Độ, ở Mỹ Latinh, ở nhiều nước châu Âu (các nước vùng Bancǎng, Rumani, Ba Lan, Italia, Pháp, Tây Ban Nha…), bạn đồng minh cương quyết của giai cấp vô sản trong cách mạng là quần chúng nông dân. Cách mạng chỉ có thể thắng lợi nếu như những làn sóng cách mạng lay động được quần chúng nông dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Do vậy mà việc tuyên truyền của Đảng trong nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt.

Bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong

nông dân, như chúng ta đã thấy (và còn thấy bây giờ) ở Trung Quốc, thoạt đầu xuất hiện dưới dạng những cuộc nổi dậy lẻ tẻ, tự phát, rời rạc của các nhóm du kích chống lại bọn đại địa chủ, bọn phú nông, thương gia và bọn cho vay nặng lãi; chống lại các nhà chức trách thu thuế; nói vắn tắt, chống lại mọi thế lực chính trị và hành chính tồn tại ở làng quê hay thành phố và chống lại chế độ hiện hành để tịch thu và chia ruộng đất, bỏ địa tô, xoá nợ và thay thế chính quyền bằng các tổ chức nông dân. ở giai đoạn đầu của phong trào cách mạng, nông dân ít khi nêu ra bất kỳ khẩu hiệu rõ ràng nào về cách mạng ruộng đất; họ chỉ phản đối những tên địa chủ “tàn ác” và đòi giảm tô và thuế…

Đặc điểm cǎn bản của cuộc cách mạng nông dân ở giai đoạn đầu là tính chất tự phát của nó: những hành động lẻ tẻ, rời rạc; không có một cương lĩnh chính trị nhất quán cho cả vùng; không có những khẩu hiệu ổn định.

Đối với nông dân, mục đích của đảng vô sản là rõ ràng. Đảng vô sản phải giành lấy quyền lãnh đạo phong trào, tổ chức, động viên quần chúng nông dân xung quanh những khẩu hiệu giai cấp nhất định phù hợp với tính chất của cuộc cách mạng, nói tóm lại là phải dẫn dắt toàn bộ phong trào tiến tới thực hiện những khẩu hiệu ấy. Đảng của giai cấp vô sản cần phải phối hợp phong trào nông dân với các mục tiêu cách mạng và các hoạt động của giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp.

Đảng cách mạng phải hiểu rằng phong trào nông dân, cho dù có quy mô to lớn tới đâu đi nữa, cũng không mong gì giành được những thắng lợi quyết định nếu như giai cấp công nhân không hành động. Điều đã nói cũng đúng đối với các hoạt động của giai cấp công nhân (ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp) nếu như các hoạt động đó không được hỗ trợ bởi hoạt động cách mạng mạnh mẽ từ phía nông dân. Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp, nếu có thể cùng một lúc ở thành thị và nông thôn thì đó sẽ là mục đích cǎn bản của đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp.

ở Trung Quốc, nhờ kết quả của cuộc Bắc phạt mà phong trào nông dân đạt tới tầm vóc to lớn. Cho tới thời điểm Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 5-1926) có khoảng 10 triệu nông dân được tổ chức lại trong các Nông hội ở Hoa Trung và Hoa Nam. Đại bộ phận, chủ yếu ở miền Nam, ở lưu vực sông Dương Tử, đã đấu tranh (nǎm 1927) có ý thức dưới khẩu hiệu của cách mạng ruộng đất. Đảng Cộng sản Trung Quốc (bộ phận lãnh đạo của đảng thời kỳ này) đáng lẽ phải tiến hành tuyên truyền cổ động trong nông dân phù hợp với những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản; đáng lẽ phải hướng quần chúng nông dân đi theo con đường hành động cách mạng bằng cách giúp họ tổ chức lại, vạch ra cương lĩnh chính trị và kế hoạch hành động, bằng cách thúc đẩy sự phân hoá xã hội trong nông thôn; đáng lẽ phải kìm giữ phong trào trong ảnh hưởng của đảng và chỉ đạo theo chiến lược của đảng theo hướng mở rộng và làm sâu sắc thêm cuộc cách mạng ruộng đất, thì đằng này lại phụ thuộc vào phong trào nông dân và phối hợp với Quốc dân đảng chiến đấu chống lại cái gọi là sự hà lạm 1 quá đáng, tức là cái mà trong thực tế đã là sáng kiến cách mạng của các tổ chức nông dân. Đó là sai lầm lớn nhất trong lãnh đạo của những người cộng sản lúc đó.

Điều hết sức ngạc nhiên là chính sách của Đảng Cộng sản đối với nông dân và khối liên minh đó với Quốc dân đảng đã làm nảy sinh một kết cục sau đây: Ngày 1-8-1927, khi nghĩa quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long ở Nam Xương tiến xuống miền Nam thì họ không thể tìm ra một số lượng phu đủ để vận chuyển đạn dược và các vật liệu chiến tranh khác 2 . Nông dân đã bỏ làng đi để khỏi bị động viên. Đội quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long đành phải để lại phía sau vô số đạn dược để rồi lọt vào tay quân địch. Tương tự như vậy, ở vùng Sán Đầu, các viên chỉ huy cộng sản và cánh tả Quốc dân đảng của quân đội cách mạng đang cố thuyết phục nông dân gia nhập quân đội của mình và muốn phân phát số vũ khí thừa cho họ. Người nông dân không gia nhập quân đội cách mạng vì họ không phân biệt được quân đội cách mạng và quân đội của bọn quân phiệt khác nhau ở chỗ nào. Thực tình là không thể phân biệt được, vì mặc dù trong một số sư đoàn (sư 24 và 25) tất cả những viên chỉ huy trung đoàn và 20 phần trǎm sĩ quan đều là những người cộng sản, và mặc dù uỷ ban quân sự cách mạng cũng có những người cộng sản, chính sách của quân đội đối với nông dân về mọi phương diện không khác với cánh tả Quốc dân đảng. Thay cho những khẩu hiệu như “Đả đảo bọn đại địa chủ”, “Sung công ruộng đất!” mà Nông hội đã nêu lên, thì Uỷ ban cách mạng nêu ra các khẩu hiệu sau đây: “Đả đảo bọn địa chủ tàn ác!”, ‘Tịch thu số ruộng đất trên 20 mẫu!”, “Giảm tô 50%!”… Vì lẽ đó, không phải ngạc nhiên khi quần chúng nông dân từ chối không gia nhập quân đội cách mạng và rời bỏ làng quê của mình trốn vào núi. Cũng không lấy làm lạ, tại trấn Ôn Tuyền, đội quân của Diệp Đĩnh và Hạ Long được thương nhân biểu tình chào đón thân thiết, mà không có một bóng nông dân nào.

Nên nhớ rằng, lúc bắt đầu và trong suốt cuộc Bắc phạt, những người nông dân ấy với hy vọng Quốc dân đảng sẽ giải thoát cho họ về xã hội và kinh tế, đã chiến đấu với tất cả những gì họ có thể có để giúp Quốc dân đảng đè bẹp đội quân của những viên tướng tá kiểu cũ (Tôn Truyền Phương, Ngô Bội Phu). Họ đã làm như vậy bằng những cuộc nổi dậy ở hậu phương; quấy rối chúng bằng những trận tấn công du kích bền bỉ, và ám sát các sĩ quan và những tên đại địa chủ; nói tóm lại, bằng cách phá thế ổn định ở hậu phương của chúng.

Cần phải nhấn mạnh rằng, chính sách kém cỏi về vấn đề nông dân của Đảng cộng sản là một trong những nguyên nhân quyết định làm cho cuộc cách mạng Trung Quốc nǎm 1927 thất bại.

Những sự kiện nǎm 1923 ở Bungari là một thí dụ khác về việc không quan tâm tới phong trào nông dân. ở đây, vào mùa thu nǎm 1923, các cuộc khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ tự phát ở một loạt vùng. Vậy mà, Đảng Cộng sản Bungari suốt cả một tuần vẫn không làm gì để giành quyền lãnh đạo phong trào. Các cuộc khởi nghĩa nông dân – do thiếu tổ chức và hợp đồng, do sự biệt lập với nhau và vì thiếu vắng sự lãnh đạo cụ thể của Đảng Cộng sản – đã bị phản cách mạng đè bẹp.

Mặt khác, cuộc Cách mạng Tháng Mười không thể giành được thắng lợi nếu như Đảng Bônsêvích không có khả nǎng động viên quần chúng nông dân dưới khẩu hiệu của mình và dẫn dắt họ tham gia vào cuộc chiến đấu lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản. Nếu như Đảng Bônsêvích không có một chính sách cụ thể đối với nông dân thì không bao giờ có chuyện quân đội Sa hoàng ngả về phía cách mạng. Nhờ chính sách rõ rệt đối với nông dân của Đảng Bônsêvích hoàn toàn đúng đắn nên Đảng có khả nǎng to lớn thu hút quân đội Sa hoàng – gồm chủ yếu là nông dân.

Một nguyên nhân làm cho cuộc khởi nghĩa Quảng Châu thất bại là vào lúc giai cấp vô sản vùng dậy trong thành phố thì ở những vùng ngoại vi không có một phong trào nông dân cách mạng quan trọng nào cả. Ngược lại, vô số các cuộc nổi dậy của nông dân ở nhiều tỉnh khác nhau của Trung Quốc (ví dụ như ở Sơn Đông) bị thất bại chủ yếu do không phối hợp được với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các trung tâm công nghiệp, và không được hoạt động của giai cấp vô sản trong các thành phố ủng hộ.

Vào thời điểm giai cấp vô sản Nga đang đấu tranh cách mạng sôi nổi nǎm 1905, khối quần chúng nông dân to lớn hãy còn thể hiện hoạt động cách mạng nhỏ bé. Phong trào nông dân ở nước Nga chỉ đạt tới đỉnh cao của nó vào những nǎm 1906-1907, tức là khoảng một nǎm sau khi những làn sóng cách mạng của giai cấp vô sản thành thị đã lắng xuống. Phong trào cách mạng ở các thành phố không phối hợp được với phong trào cách mạng ở nông thôn là một sự thực và đó chính là nguyên nhân cǎn bản đã dẫn cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất tới thất bại.

Để bảo đảm chắc chắn cho sự phối hợp hành động giữa giai cấp vô sản và nông dân, đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân. Công tác này không được phó thác cho sự may rủi hay tiến hành gặp chǎng hay chớ, một kiểu giống nhau trên khắp cả nước. Nó phần nào phải ǎn nhịp với phương hướng cơ bản của Đảng về mệnh lệnh và ngày tháng cho các hành động cách mạng khác nhau có thể diễn ra ở bất kỳ một vùng hay một tỉnh nào. Việc tuyên truyền cổ động chính trị hoặc công tác tổ chức y như nhau ở một nước rộng lớn như Trung Quốc chắc chắn sẽ dẫn tới chỗ làm phân tán sức người, sức của. Sự không đồng đều của các tỉnh khác nhau trong đời sống chính trị ở Trung Quốc (cũng như ở các nước tương tự) xác định quyền ưu tiên công tác đảng trong nông dân ở mỗi tỉnh. Do đó, tầm quan trọng về chính trị của Cam Túc, Quế Châu, Quảng Tây và các tỉnh cùng loại khác không thể sánh với các tỉnh Quảng Đông, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô … có các trung tâm thương mại và công nghiệp lớn và giai cấp vô sản đông đúc. Lẽ đương nhiên, việc tuyên truyền cổ động cách mạng cần phải được tiến hành trong nông dân ở mọi nơi, nhưng sức mạnh chủ yếu của Đảng phải được dồn cho một tỉnh hay một vài tỉnh đặc biệt. Nguyên tắc này rút ra từ sự thực được mọi người thừa nhận là ở những nước như Trung Quốc, hiện tại có sự khác biệt rất lớn về điều kiện địa lý, kinh tế và chính trị, cuộc cách mạng (việc giành chính quyền của giai cấp vô sản liên minh với nông dân và dân nghèo thành thị) không thể được hoàn thành như một hành động đơn giản (tức là diễn ra trong một vài tuần hoặc một vài tháng), mà nhất thiết phải trải qua cả một thời kỳ kéo dài ít lâu của các phong trào cách mạng ở các tỉnh khác nhau hoặc các trung tâm công nghiệp và chính trị.

Chắc chắn rồi đây chính quyền Xôviết sẽ được thiết lập ở Trung Quốc trong một vài tỉnh hoặc một số tỉnh có trung tâm thương mại và công nghiệp lớn, đó sẽ là cǎn cứ địa cho sự phát triển nhảy vọt của cách mạng. Ngày mà các vùng lãnh thổ mới, sẽ nhập vào cǎn cứ địa cách mạng ấy sẽ tuỳ thuộc vào cán cân lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, không chỉ ở Trung Quốc mà trên toàn thế giới. Đó là vấn đề chỉ có thể giải quyết được bằng đấu tranh. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, việc củng cố và thống nhất cách mạng Trung Quốc sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn thời gian cần thiết để tống khứ các lực lượng phản cách mạng ra khỏi nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười ở Pêtrôgrát và Mátxcơva.

Do vậy, khi đảng cách mạng đoán trước được tình thế cách mạng trực tiếp đang tới gần, thì (trong khi tiếp tục giáo dục và vận động giai cấp công nhân) phải chỉ ra được tỉnh nào hay huyện nào là quan trọng nhất theo quan điểm tuyên truyền trong nông dân, phải dồn sự chú ý của Đảng và tập trung các nguồn lực của Đảng cho các tỉnh này. Cùng với sự quan tâm tới công tác tuyên truyền trong nông dân, Đảng cần phải quan tâm sǎn sóc hơn đến những vùng tiếp giáp với các trung tâm chính trị và công nghiệp chính. Điều đó cũng đúng đối với nhiều nước châu Âu (Ba Lan, Pháp, Rumani…).

Khi phong trào cách mạng mạnh mẽ của nông dân bắt đầu sau khi giai cấp vô sản bị thất bại (có nghĩa là sau cách mạng 1905 ở Nga, hoặc ở Trung Quốc sau sự thất bại của giai cấp vô sản nǎm 1927), Đảng phải tự mình thay thế vị trí đứng đầu phong trào nông dân ấy và dẫn dắt nó. Cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp nông dân, đặc biệt nếu nó phát triển thắng lợi ở những vùng có các trung tâm thương mại và công nghiệp quan trọng, là một thứ vũ khí mạnh; nó có thể khích lệ giai cấp công nhân – giai cấp đã bị thất bại và đã hơn một lần rơi vào những ổ phản động, lấy lại thế chủ động và hành động.

Thông thường, bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang (nghĩa là những hoạt động quân sự thực sự của những toán du kích nông dân) chống lại sự lộng quyền của bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, những công chức chính phủ, v.v., đó là điều hoàn toàn cốt lõi để bàn luận công tác quân sự của Đảng trong nông dân suốt thời gian dài.

Không thể giấu mình một cách đơn giản vào những toán nông dân vũ trang đã có vào bất kỳ thời điểm nhất định nào, cũng tựa như không thể tuỳ ý thành lập các đội tự vệ đỏ trong các nhà máy vậy. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân với tư cách một hình thức đấu tranh quần chúng, xuất hiện trong những tình thế chính trị đặc biệt – khi mà ách áp bức của giai cấp thống trị trở nên không thể chịu nổi và quần chúng nông dân đang ở trong tình thế sôi sục cách mạng sẵn sàng xả thân chiến đấu chống lại trật tự hiện hành. Những hành động tự phát của các toán nông dân vũ trang là dấu hiệu chứng tỏ rằng “quần chúng bị bóc lột và bị áp bức đã nhận thức là không thể tiếp tục sống như trước được nữa mà đòi phải thay đổi” (Lênin), rằng đất nước đang bước vào tình thế cách mạng trực tiếp. Không thể có một phong trào du kích cách mạng trong “hoàn cảnh bình thường và hoà bình” vì nó chứng tỏ sự khởi đầu thời kỳ nội chiến công khai giữa hai bộ phận cư dân.

Kinh nghiệm lịch sử của chiến tranh du kích ở các nước khác nhau chỉ ra rằng thoạt đầu nó được đặc trưng bởi những cuộc giao tranh nhỏ chỉ có ý nghĩa địa phương. Điều đó là do sự non yếu và số lượng hạn chế của các đơn vị du kích, do trình độ nhận thức còn thấp kém về mục tiêu trong nông dân – do họ thiếu kinh nghiệm cách mạng và Đảng vô sản không có ảnh hưởng thoả đáng trong nông thôn. Mục tiêu chính của các toán du kích ở thời kỳ này là bảo vệ nông dân trong vùng khỏi bạo lực của chính quyền phản động, khỏi những lệnh độc đoán của quân đội (trong thời chiến), v.v.. Cho tới cuối thời kỳ này, các đơn vị du kích thường sử dụng hình thức khủng bố cá nhân hay phá hoại chống lại bọn viên chức trong làng, các thương nhân, địa chủ, sĩ quan, cảnh sát, các thủ lĩnh phát xít hoặc các tổ chức Trǎm đen 1 ; tấn công những đơn vị lẻ tẻ đang đi tiễu phạt hoặc tấn công những toán lính nhỏ để tước vũ khí của chúng hoặc giải thoát tù nhân; sử dụng hình thức phá đường bộ và đường sắt; hình thức “sung công”, thu lấy một số lớn tiền; đất nhà cửa…

Những vấn đề liên quan tới việc chiếm chính quyền, sự phối hợp các hoạt động du kích giữa các vùng khác nhau hoặc sự áp dụng các hoạt động này vào cuộc đấu tranh chính trị và kinh tế của giai cấp vô sản thành phố thông thường không được đặt ra ở thời kỳ ban đầu này của nội chiến trong nông thôn. Các khẩu hiệu của chiến tranh du kích chưa mang tính chất giai cấp rõ ràng.

Nhưng rồi do sự bột phát cách mạng diễn ra trong nông thôn, do đối kháng giai cấp ở nông thôn trở nên gay gắt và do ảnh hưởng của giai cấp vô sản tới giai cấp nông dân tǎng lên, các hoạt động du kích sẽ bắt đầu tǎng lên gấp bội. Số lượng các toán du kích tǎng nhanh và tiếp tục bao chiếm những khu vực mới. Các hoạt động của họ cũng trở nên có hy vọng hơn. Cuộc đấu tranh vũ trang của nông dân bị áp bức chống bọn phản động bây giờ bắt đầu mang tính chất quần chúng. Nó sẽ nhanh chóng chuyển từ hành động phòng thủ sang hành động tiến công và sẽ làm cho chính quyền luôn lo sợ về những cuộc tiến công bất ngờ.

Trong thời kỳ này, các toán du kích không còn tự giới hạn hoạt động trong địa phương mình nữa. Họ đã vươn ra khỏi làng hay huyện của mình, dần dần tự chuyển thành những đội quân xuất quỷ nhập thần, liên kết với những toán du kích từ các vùng khác và táo bạo hoạt động trên quy mô rộng. Các mục tiêu của họ bây giờ cũng rõ ràng hơn. Cùng với những cuộc tiến công nhỏ vào các nhà kho – giết những tên đại địa chủ, bọn phản động và bọn cảnh sát, đốt cháy những dinh cơ lớn… bây giờ họ bắt đầu tiến công thường xuyên vào cảnh sát và quân đội, tiến công bất ngờ vào các thành phố nhỏ.

Lịch sử đấu tranh của nông dân trên khắp thế giới minh hoạ một cách phong phú con đường mà phong trào du kích dần dần tự chuyển thành một lực lượng nghiêm chỉnh; thành một lực lượng có khả nǎng cung cấp những người lãnh đạo đích thực, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng có tầm quan trọng lớn lao.

Trong suốt cuộc Bắc phạt, nǎm 1926 và đầu nǎm 1927, quân đội cách mạng của chính phủ Quảng Châu, lúc đầu khi rời tỉnh Quảng Đông chỉ có chừng 90.000 lính mà đã đánh bại quân đội của Ngô Bội Phu, Tôn Truyền Phương và Trương Tôn Xương đông gấp đôi, đó thực sự là một ngoại lệ theo chuẩn mực Trung Hoa. Quân đội Quảng Châu nhỏ bé về số lượng, vũ khí và trang thiết bị nghèo nàn chỉ có thể giành thắng lợi quân sự vĩ đại đó bởi các hoạt động tích cực của các toán du kích nông dân trong vùng địch hậu. Trong suốt cuộc Bắc phạt, đặc biệt là vào lúc đầu, nông dân ở các tỉnh miền Nam và miền Trung lúc đó đã xem quân đội cách mạng dân tộc như là đội quân mẫu mực của cuộc đấu tranh chống bọn đại địa chủ, bọn quý tộc, bọn đế quốc, bọn quân phiệt, đại thể là chống lại tất cả bọn phản động, vì vậy, họ đã ủng hộ không tính toán quân đội dân tộc bằng những hoạt động du kích, những cuộc khởi nghĩa, cắt đường rút lui của quân địch, tiến công bất ngờ vào chúng. Quân đội của bọn quân phiệt vừa phải chống đỡ các cuộc tiến công của quân cách mạng ở ngoài mặt trận, đồng thời phải tổ chức kháng cự tuyệt vọng với các toán du kích nông dân ở hậu phương của chúng. Lẽ tất nhiên, trong hoàn cảnh như vậy không có một đội quân nào có thể chiến đấu có hiệu quả. Quân đội của bọn quân phiệt ở Hoa Nam và Hoa Trung, được chủ nghĩa đế quốc ủng hộ mạnh mẽ, đã tan rã, không thể tránh được trước những đòn tiến công phối hợp của quân đội dân tộc và của nhiều toán du kích nông dân đang tiến công hậu phương của chúng.

Thông qua công tác tiến hành trong nông dân ở các tỉnh do bọn quân phiệt chiếm giữ, Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng đã góp phần đáng kể vào việc tổ chức và lãnh đạo các toán du kích nông dân phá vỡ hậu phương của chúng.

Lịch sử cuộc đấu tranh cách mạng ở Trung Quốc cũng đưa ra một ví dụ tiêu biểu về việc dùng các toán du kích nông dân vào mục đích phản cách mạng. Đầu nǎm 1926, Quân đoàn 2 của Phùng Ngọc Tường đóng ở tỉnh Hồ Nam đánh nhau với quân của Ngô Bội Phu. Do chiến tranh liên miên giữa các phe phái quân phiệt, tỉnh Hồ Nam trở nên tiêu điều, nông dân nghèo khổ xác xơ. Sự nghèo đói của nông dân vẫn tiếp tục diễn ra trong khi Quân đoàn 2 đóng quân ở đấy – 20 vạn binh sĩ tất nhiên phải được nhân dân cấp dưỡng. Sự nghèo đói ấy đã đẩy hàng trǎm ngàn nông dân vào các bǎng cướp. Một số khác tụ tập thành những hội mang tính chất tôn giáo và nửa tôn giáo mà con số hội viên tǎng lên gấp bội trong những nǎm 1925-1926.

Sự bất mãn của nông dân Hồ Nam đã được Ngô Bội Phu khai thác. Những tên tay chân của hắn đã tiến hành tuyên truyền khôn khéo chống lại Quân đoàn 2. Các tổ chức nông dân khác nhau (“Hồng Giáo”, “Trường Đao”, “Bụng rỗng”…) hǎng hái chống lại chế độ mà Quân đoàn 2 đã xây dựng trên đất Hồ Nam; họ tiến công và làm tan vỡ hậu phương của Quân đoàn 2, tiến hành các cuộc tiến công bất ngờ có hệ thống vào các đơn vị nhỏ, kêu gọi lính đào ngũ và gia nhập những toán du kích nông dân…

Do sự thù địch của các tổ chức nông dân bán quân sự, tinh thần của Quân đoàn 2 rệu rã cực điểm. Đội quân 20 vạn người ấy đã tan rã ngay sau những cuộc tiến công đầu tiên của một lực lượng ít ỏi của Ngô Bội Phu.

Ngô Bội Phu đã có thể khai thác những tiềm nǎng cách mạng của nông dân Hồ Nam cho mục đích phản cách mạng. Tuy vậy, khi quân lính của Ngô Bội Phu đặt chân vào tỉnh thì chính những người nông dân ấy, những con người đã từng phẫn uất tiến công Quân đoàn 2, giờ đây lại quay súng chống lại Ngô Bội Phu. Do hành động thù địch của các toán du kích mà y đã bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến đấu chống lại quân đội Quảng Châu.

Ta có thể tìm thấy vô vàn những tấm gương về hoạt động du kích quả cảm trong lịch sử cuộc nội chiến Nga – ở Xibêri, ở Ucraina, ở vùng sông Đông, ở Bắc Côcadơ… – Du kích đã giúp Hồng quân giải phóng đất nước khỏi các lực lượng phản cách mạng: các tướng lĩnh Sa hoàng, bọn địa chủ và tư sản.

Chìa khoá dẫn tới những thắng lợi vững chắc của các toán du kích là sự liên hệ mật thiết với quần chúng nông dân. Hoạt động du kích là việc phi thường trong tình thế cách mạng, là sự sôi sục cách mạng trong quần chúng nông dân. Cuộc đấu tranh du kích phải phản ánh được lợi ích của quảng đại quần chúng nông dân và phải có tình thế cách mạng trực tiếp thì mới có thể giành được thắng lợi. Những đội quân của bọn Culắc do các đảng phái phản cách mạng lập ra một cách hình thức trong nhiều vùng của nước Nga suốt trong cuộc nội chiến đã không và không có thể giành được bất cứ một thắng lợi vững chắc nào, bởi lẽ đội quân đó không phản ánh khát vọng của nông dân, những người cự tuyệt hoàn toàn chiến đấu chống lại chính quyền Xôviết. Những thắng lợi tạm thời của chúng ở tỉnh Tambốp vào nǎm 1920, đã nhanh chóng đi tới thất bại, và đẩy tới sự vùng dậy của quần chúng nông dân chống lại các thủ lĩnh phản cách mạng của chúng.

Những điều kiện của cuộc đấu tranh, quy mô của phong trào cách mạng ở nông thôn; những mục tiêu mà nông dân tự đặt ra, – đó là những nhân tố quyết định các hình thức đấu tranh du kích ở bất kỳ thời điểm nào, ở bất cứ nước nào. Từ những hình thức đó lần lượt mới hình thành tổ chức và cấu trúc các đơn vị du kích. Đảng vô sản luôn có bổn phận phải tính tới những điều kiện cụ thể về thời gian, làm sao có khả nǎng đưa lại cho phong trào du kích những hình thức phù hợp với hoàn cảnh đặc thù ấy và dẫn dắt các hoạt động của nó. Phong trào du kích không chỉ được lãnh đạo về chính trị, mà còn được lãnh đạo về quân sự và chiến thuật.

Các phương pháp chung và công thức phổ biến cho việc tổ chức và chiến thuật là hoàn toàn không thể áp dụng được vào cuộc đấu tranh của các chiến sĩ du kích nông dân. Những hình thức đấu tranh được áp dụng ở Trung Quốc chẳng hạn, khác một cách cǎn bản với những hình thức sẽ được áp dụng ở Pháp. Chỉ riêng mảnh đất hoạt động đã có sự khác nhau rồi chứ chưa nói tới tất cả các loại khác biệt và nét đặc thù khác. Nếu người ta không muốn đi chệch khỏi mảnh đất của chủ nghĩa Mác và có cơ rơi vào sự trừu tượng thì người ta chỉ có thể nói một cách chung nhất về các hình thức và cơ cấu của các đơn vị du kích, chỉ có thể khái quát những vấn đề nguyên tắc chung.

Trước khi khuyên sử dụng một hình thức tổ chức nào đó trong chiến tranh du kích phải xuất phát từ tình hình chính trị trong vùng đang được xem xét mà tiến hành phân tích hết sức cụ thể, chi tiết. Toàn bộ những đặc điểm về lối sống và vǎn hóa của cư dân phải được tính đến cùng với kinh nghiệm đấu tranh giai cấp đã có của nông dân.

Trong toàn bộ mô hình đấu tranh giai cấp, các phong trào du kích đóng vai trò của một nhân tố bổ trợ: nó không có thể tự mình đạt được mục tiêu lịch sử, mà chỉ có thể góp phần giải quyết cái được đưa ra bởi một lực lượng khác – giai cấp vô sản. Theo đó ta thấy rằng mục tiêu đặc thù của các hoạt động du kích là quấy rối và tiêu hao lực lượng phản động, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi chung của các giai cấp lao động dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản.

Về phần tổ chức, các điều kiện cǎn bản mà phong trào du kích phải tuân thủ như sau:

a) Tổ chức phải mềm dẻo và cần phải có một số cấp có khả nǎng hoạt động độc lập với nhau;

b) Tổ chức phải cơ động; có khả nǎng hoạt động nhanh; có thể xoay chuyển cực nhanh khi hoàn cảnh đòi hỏi chuyển từ điều kiện bí mật sang công khai và ngược lại, và kết hợp đúng đắn các phương pháp công khai, bán công khai và bí mật;

c) Cấu trúc phải làm sao cho Đảng thực hiện quyền lãnh đạo về chính trị và tác chiến của mình;

d) Cấu trúc phải đơn giản, dễ hiểu đối với quần chúng và phù hợp với phong tục tập quán của họ, bảo đảm tiếp tục phát triển lực lượng mới.

Vào thời kỳ đầu, lúc mà mục tiêu của phong trào còn là bảo vệ nông dân địa phương chống lại sự lộng quyền của bọn phản động, các toán du kích (tức là những nhóm nhỏ ban đầu) được thành lập theo tuyến lãnh thổ. Theo lệ thường, những toán du kích đó còn bí mật. Dần dà, do cuộc đấu tranh giai cấp trở nên gay gắt trong nông thôn và do nó chuyển thành cuộc nội chiến công khai, những nhóm du kích đầu tiên đó nhập lại với nhau để hình thành những đơn vị du kích có quy mô lớn, theo vùng (xã, huyện).

Không thể nói rằng, các đơn vị du kích phải bao gồm những phần tử tiên tiến nhất trong làng mạc (việc này trên thực tế diễn ra lộn xộn). Tuy thế, ở thời kỳ đầu, do nhu cầu phải giữ bí mật, do sự dò la và khiêu khích của các nhà cầm quyền, nên việc tuyển lựa người của các nhóm sơ khai phải được xem xét rất kỹ lưỡng. Về sau, khi phong trào chuyển thành một dòng thác rộng lớn, mạnh mẽ, thu hút vào hàng ngũ du kích tất cả những phần tử tiên tiến và hǎng hái trong các làng mạc thì nguyên tắc giữ bí mật và thẩm tra nhân sự không còn quan trọng lắm. Nhưng việc lựa chọn kỹ những người chỉ huy – những người phải đáng được tin cậy về chính trị và đã được huấn luyện đầy đủ về quân sự, – vẫn luôn luôn là một vấn đề nóng hổi; mọi sự xem thường điểm này chắc chắn sẽ có hậu quả tai hại đối với toàn bộ tổ chức.

Đảng của giai cấp vô sản chỉ có thể lãnh đạo tốt phong trào du kích nếu như Đảng có ảnh hưởng tới nông dân, nếu như nông dân chấp nhận những khẩu hiệu và cuộc đấu tranh của Đảng để thực hiện những khẩu hiệu đó. ở những nước đã có các tổ chức quần chúng nông dân, Đảng cần phải phấn đấu giành ảnh hưởng và hướng dẫn phong trào du kích cả trực tiếp lẫn thông qua các tổ chức quần chúng (đối với các đơn vị du kích do các tổ chức nông dân chỉ đạo một cách đúng đắn). Nơi nào chưa có các tổ chức quần chúng như thế thì Đảng cần phải sử dụng các tổ chức du kích làm công cụ để hướng dẫn nông dân về chính trị. Tổ chức du kích tự nó thực sự phải là đội tiền phong của giai cấp nông dân chân lấm tay bùn – một bộ phận tích cực, đầy tính chiến đấu và lãnh đạo của nó.

Các cuộc khởi nghĩa ở Bungari (nǎm 1923) không phát huy được ảnh hưởng là do, lúc đó lực lượng vũ trang và bộ máy lãnh đạo các đơn vị du kích chưa được tổ chức đúng đắn. Điều đó giải thích vì sao sự phối hợp hoạt động của các đơn vị rời rạc như vậy và lý do vì sao quân đội chính quy điều đến đàn áp các cuộc khởi nghĩa, lại thực hiện được một chiến dịch tương đối dễ dàng như vậy. Đảng Cộng sản chỉ bắt tay xây dựng bộ máy lãnh đạo vào đầu nǎm 1924. Các lực lượng vũ trang nông dân định thành lập hoặc xây dựng lại cho khá hơn thì phải tuân theo cách sau đây: ở cơ sở, toán 6 người (một chỉ huy và 5 chiến sĩ); ba hoặc bốn toán 6 người lập một trung đội và từ 3 đến 5 trung đội lập một đại đội. Trong trường hợp cần thiết, từ 3 đến 5 đại đội ấy có thể kết hợp lại để lập ra một đơn vị lớn.

ở cấp làng, ban chỉ huy làng (về chính trị và quân sự) chỉ đạo tổ chức chiến đấu của nông dân, ở cấp huyện là ban chỉ huy huyện, các đại đội được đặt dưới quyền chỉ huy của nó.

Phải ghi nhận rằng, việc tổ chức các đại đội ở Bungari là dựa trên cơ sở phân biệt khá rõ ràng các chức nǎng để bổ sung cho các đơn vị chiến đấu của một đại đội còn có lính trinh sát, chiến sĩ bắn súng máy, chiến sĩ thông tin liên lạc, v.v..

Nếu như một tổ chức nhận thức đầy đủ như vậy và thành công trong việc tự thích nghi với những điều kiện của khu vực hoạt động và phù hợp với mục tiêu đã chọn, với nhu cầu giữ bí mật, v.v. thì chắc chắn nghĩa quân Bunguri đã thực hiện được một cách có hiệu quả những nhiệm vụ mà họ được trao. Đáng tiếc là, Đảng Cộng sản tổ chức lại các lực lượng du kích theo đường lối đó hơi muộn, đến nỗi trên thực tế không thực hiện được ở một nơi nào cả. Vì vậy, Đảng bắt đầu thấy cần thiết đặt ra vấn đề tổ chức lực lượng vũ trang trong các làng mạc vào lúc làn sóng cách mạng ở Bungari đang ở lúc thoái trào sau thất bại tháng 9-1923.

ở Trung Quốc, cơ cấu các tổ chức chiến đấu của nông dân (“Hồng Giáo” và các tổ chức còn lại) khác với ở Bungari. Đơn vị cơ sở là toán 10 người; những toán đó hợp thành nhóm 100 người và đơn vị 100 người sau đó thường lập thành những đơn vị mạnh hơn.

ở Đức, cuối nǎm 1923, đầu nǎm 1924 các đơn vị du kích nông dân Pomerania và Đông Phổ được tổ chức theo cùng sơ đồ như đại đội 1 vô sản ở thành phố: đội gồm từ 10 đến 15 người, ba hoặc bốn đội lập thành trung đội, hai hoặc ba trung đội lập thành đại đội.

Thật khó lòng mà đánh giá cơ cấu đó hiện có đến mức nào bởi lẽ tổ chức đại đội vô sản Đức đã không phát triển lên nữa; Đảng cũng chỉ bắt tay xây dựng nó vào lúc mà làn sóng cách mạng bắt đầu thoái trào và các tổ chức đó nhanh chóng tan vỡ. Tuy nhiên các đại đội đó về bản chất là sự lập lại cơ cấu đại đội trong quân đội đế quốc (do kinh nghiệm chiến tranh, quần chúng không lạ gì nó). Và vì đại đội vô sản trong các thành phố được quần chúng yêu mến, trong suốt nǎm 1923 (và thậm chí trước đó nữa) nên người ta có thể cho rằng tổ chức theo kiểu đại đội là hình thức tốt nhất phù hợp với điều kiện nước Đức.

ở Nga, suốt trong thời kỳ nội chiến, phong trào du kích về đại thể đã xây dựng theo hình thức như là những đơn vị nhỏ hơn của quân đội chính quy: tiểu đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn kỵ binh. Dần dần, khi Hồng quân tiến công phía trước và du kích đánh sau lưng phối hợp đuổi quân thù ra khỏi vị trí chúng chiếm giữ, các đơn vị du kích hoặc hợp nhất với các đơn vị Hồng quân, hoặc tiếp tục tồn tại như những đơn vị độc lập của Hồng quân – tiếp nhận các sĩ quan chỉ huy, các trang thiết bị từ lực lượng dự trữ của Hồng quân và hoạt động theo mệnh lệnh của chỉ huy tối cao Hồng quân.

Những ví dụ đã nói ở trên về cơ cấu của phong trào du kích ở các nước khác nhau chỉ rõ rằng, về bản chất những nguyên tắc như thế áp dụng ở đây cũng như với các đơn vị cơ sở của quân đội chính quy – nhưng cũng cần phải tính đến những nét đặc thù của từng nước, mục tiêu của phong trào du kích ở từng thời kỳ, vũ khí hiện có (hoặc có thể được trang bị trong quá trình chiến đấu) và cuối cùng là cần phải giữ được bí mật.Nếu như tất cả các điều kiện ấy được tuân thủ, chúng ta sẽ đi tới cơ cấu đặc thù của các đơn vị du kích: ở thời kỳ đầu, những nhóm chiến đấu nhỏ, ít nhiều có cùng nhiệm vụ gồm nǎm, tám hoặc mười người, được hình thành từ làng nọ đến làng kia và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các làng, thông qua các chỉ huy của họ, tới các Uỷ ban quân sự xã, huyện và đại diện của họ tại các làng. Khi phong trào phát triển (cùng với cuộc đấu tranh của nông dân nghèo ngày càng trở nên quyết liệt) các nhóm nhỏ đó hợp thành những đơn vị lớn (trung đội, đại đội, tiểu đoàn).

Những đơn vị đó, đến lượt nó, có thể được tập hợp thành những đơn vị lớn hơn. Trong quá trình đó, nếu các đơn vị du kích nhỏ hợp thành những đơn vị lớn thì cần phải tuân theo nguyên tắc đã được xác lập của khoa học quân sự; khoa học này thừa nhận rằng trong suốt quá trình hoạt động, một chỉ huy không được chỉ huy quá bốn, nǎm đơn vị; bởi lẽ nếu chỉ huy số lượng đơn vị nhiều hơn thế thì nhiệm vụ lãnh đạo sẽ rất khó khǎn và kết quả cuối cùng sẽ bị ảnh hưởng ngược lại. Nguyên tắc này phải được tôn trọng triệt để đối với các đơn vị du kích vì những nét đặc thù của nó và bệnh kinh niên thiếu các vị chỉ huy giỏi trong bản thân du kích. Vấn đề lãnh đạo luôn luôn là một trong những vấn đề họ khó lòng giải quyết được.

Giám sát việc thành lập các đơn vị du kích, việc huấn luyện quân sự của nó và hoạt động của nó ở xã, huyện, tỉnh hoặc trên khắp cả nước, tất nhiên đó là trách nhiệm của từng Uỷ ban chuyên môn trong hội đồng quân sự của Đảng Cộng sản, vì hội đồng này phụ trách toàn bộ công tác quân sự của Đảng. Các đồng chí công tác chuyên trách trong nông dân phải có chân trong hội đồng này. Các hội đồng huyện và xã nhất thiết phải có đại diện quân sự riêng của mình trong nông dân ở từng làng hoặc từng nhóm làng; nhiệm vụ của họ sẽ phải chỉ đạo việc thành lập các đơn vị du kích và huấn luyện quân sự tại chỗ, thông qua vai trò trung gian của những người lãnh đạo (những chỉ huy) có uy tín thuộc các đơn vị du kích cấp thấp hơn và các tổ chức nông dân khác đã có.

Huấn luyện tác chiến cho du kích, trước hết là phải dạy cho họ sử dụng thành thạo các loại vũ khí cầm tay, là một trong những nhiệm vụ chính yếu của những người tổ chức và những người lãnh đạo – trước hết ở những nước mà nông dân chưa bao giờ học nghệ thuật chiến tranh trong quân đội chính quy (tức là những nước có quân đội chuyên nghiệp hoặc hạn chế về quân đội, những nước không dự vào cuộc chiến tranh thế giới vừa qua, hoặc các cuộc chiến tranh khác). Dạy cho du kích biết một ít cách sử dụng các loại vũ khí mà họ có ở thời điểm đặc biệt vẫn chưa đủ; họ cũng cần biết càng nhiều càng tốt cách sử dụng mọi thứ vũ khí mà họ có thể bất ngờ cướp được từ tay kẻ thù. Nguyên tắc cǎn bản ở đây là mỗi một du kích phải được học bắn thành thạo súng trường, các loại súng lục, học ném lựu đạn và học cho thành thạo khi đánh giáp lá cà (giáo, mác, kiếm …).

Một điều cũng rất quan trọng là, mỗi đơn vị du kích cần phải có một số lượng đầy đủ các chiến sĩ trinh sát được huấn luyện thích hợp, các chiến sĩ bắn súng máy, các chiến sĩ thông tin liên lạc, các kỹ sư và y tá. Việc tạo ra một số lượng đầy đủ các chiến sĩ như vậy là một phần trách nhiệm của ban lãnh đạo các đơn vị du kích.

Làm thế nào có thể kiếm được vũ khí để trang bị cho tổ chức du kích mới được thành lập? Đây là một vấn đề khó giải quyết cũng tựa như vấn đề trang bị cho cận vệ đỏ vậy. Tuy nhiên vấn đề này có thể giải quyết được, mặc dù khó khǎn, nhưng ít ra là đủ khả nǎng để có thể chiến đấu đoạt lấy vũ khí. Đại thể, cũng phải nhận rõ rằng không bao giờ có thể tích góp trước một kho vũ khí. Nhất thiết phải dùng mọi cách để có vũ khí: các loại vũ khí thích hợp với nông dân (súng sǎn, súng lục, rìu, thanh sắt, v.v.) cộng thêm lựu đạn và bom mìn, giáo mác và kiếm … Trong những trường hợp nhất định có thể mua súng ngắn. Nhưng nguồn trang bị vũ khí chủ yếu cho du kích sẽ là tập kích vào các kho vũ khí, cướp vũ khí của cảnh sát và các toán lính – tất cả điều đó được thực hiện với khí giới thô sơ có thể kiếm được lúc đầu. Cần phải nhấn mạnh rằng, đối với mỗi phong trào du kích nghiêm chỉnh, việc bổ sung cho kho dự trữ vũ khí và đạn dược của du kích sẽ là một nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài.

Lịch sử phong trào du kích ở Nga, Trung Quốc và ở những nước khác chỉ ra rằng, các đơn vị du kích tiến hành đấu tranh chống lại các nhà cầm quyền và quân đội lúc đầu không có bất kỳ thứ vũ khí nào khác ngoài rìu, thanh sắt, cái chĩa, liềm hoặc gậy gộc. Dần dà, trong quá trình chiến đấu họ cướp được những thứ vũ khí hiện đại cần cho họ (súng trường, súng máy, đại bác, v.v. với các thứ đạn dược cần thiết).

Cuộc đấu tranh du kích, cũng tựa như hoạt động của cận vệ đỏ ở thành phố, phải được tiến hành theo đúng những nguyên tắc cǎn bản của khoa học và chiến thuật quân sự. Tuy vậy, vào thời điểm nhất định, nhất thiết phải tính đến những nét đặc thù về thời gian và điều kiện mà các đơn vị du kích phải hoạt động.

Cũng giống như tổ chức chiến đấu trong thành phố, đơn vị du kích chỉ có thể giành được thắng lợi nếu như mỗi chiến sĩ, đặc biệt là các chỉ huy, biểu lộ tối đa nǎng lực; nếu như, trong các hoạt động chuẩn bị, yếu tố “thời gian” được tuân thủ một cách nghiêm túc; nếu như kế hoạch tác chiến được thảo ra chi tiết từ trước; nếu như các lực lượng được phân công thực hiện từng nhiệm vụ đặc biệt được bày binh bố trận hợp với hoàn cảnh hiện hành; nếu sự hiểu biết tường tận về kẻ thù và địa bàn hoạt động được hoàn tất; nếu như nguyên tắc tiến công bất ngờ được tuân thủ và v.v.. Việc thiếu vũ khí, không có những đơn vị lớn (phân tán các lực lượng), khó khǎn trong việc kiện toàn hệ thống chỉ huy giỏi trên toàn tỉnh hoặc thậm chí trên toàn huyện – những điểm yếu ấy cần phải và có thể được bù đắp bởi những điểm mạnh như bất ngờ, táo bạo và quả quyết trong hoạt động du kích.

Để khẳng định ý tưởng này, chúng ta hãy lấy một trong muôn vàn ví dụ trong lịch sử các chiến sĩ du kích đỏ ở Nga.

Cuối tháng 7-1918, bọn bạch vệ đã bao vây Xôviết huyện San. Làng Platốpxcaia đã bị phân đội Gnilôribốp, với một trǎm sĩ quan và khoảng 200 người Canmức 1 bị cưỡng bức vào lính đánh chiếm. Chúng bắt đầu bắn những người nông dân có thiện cảm với những người bônsêvích. Buđônnưi lập một nhóm 4 người ở ấp Cudôrinô và quyết định tiến công Platốpxcaia để giải thoát tù nhân. Trong đêm 27 rạng ngày 28-7, nhóm này thực hiện một cuộc tiến công táo bạo, giải thoát tù nhân, tước vũ khí của những người lính Canmức đang kinh ngạc và lập tức vũ trang cho những tù nhân vừa được giải thoát. Sau cuộc chiến đấu giáp lá cà ác liệt, một đại đội sĩ quan rút lui để lại cho Buđônnưi chiến lợi phẩm: 2 đại bác, bốn súng máy, 300 súng trường, 60.000 viên đạn và 150 con ngựa với đầy đủ yên cương 2 .

Các đơn vị du kích chừng nào mà chưa nhóm thành một đội quân nông dân đủ mạnh thì không có khả nǎng tiến hành cuộc chiến đấu chống lại quân đội chính quy cùng những trận đánh công kiên hoặc trên đất trống. Trong trường hợp các đơn vị du kích ấy bị quân đội chính quy tiến công thì cách giải quyết tốt nhất đối với họ là tránh đánh nhau hơn là bắt tay tự phòng thủ như quân đội chính quy. Bởi vì, xét thấy điểm yếu liên quan, các chiến sĩ du kích không thể hy vọng giành bất cứ thắng lợi nào trong hành động phòng thủ. Sức mạnh của du kích không nằm trong phòng thủ, mà nằm trong những hành động tiến công táo bạo và bất ngờ. Các chiến sĩ du kích không đủ mạnh về quân sự cho hành động phòng thủ. ở mọi nơi, mọi lúc họ phải kiên quyết vận động; giáng những đòn nhanh và bất ngờ vào quân địch. ở những nơi, những lúc mà chúng ít ngờ tới, và nhanh chóng rút lui và tránh một cuộc giao tranh quyết liệt nếu như hoàn cảnh và cán cân lực lượng ở nơi đặc biệt ấy, ở thời điểm đặc biệt ấy không có lợi cho mình, để rồi làm cho quân thù bạt vía kinh hồn ở một nơi khác.

Trong việc tổ chức các cuộc tiến công trên quy mô rộng vào thành phố, các chiến sĩ, v.v., chỉ huy các đơn vị du kích phải chú ý nhiều tới vấn đề lựa chọn hướng đột kích chủ yếu. Mọi sự cố gắng xuất kích với sức mạnh như nhau ở tất cả các điểm đều có nghĩa làm phân tán lực lượng đã có. Các chỉ huy cần phải tập trung nỗ lực và sự chú ý của mình vào một tuyến tiến công chủ yếu mà họ có hy vọng giành được thắng lợi nhanh chóng và quyết định, chỉ giữ lại sức người, sức của tối thiểu cho nhiệm vụ thứ yếu. Vả lại, trong việc tổ chức phối hợp tác chiến của một số đơn vị nhằm đạt được một mục tiêu nào đó bằng sự bất ngờ thì phải ghi nhớ rằng yếu tố “thời gian” là cực kỳ quan trọng. Việc không tuân thủ hai nguyên tắc chiến thuật đó thường dẫn tới thất bại, thậm chí dẫn tới tiêu vong các đơn vị đang tiến công.

Trong tác chiến kết hợp ấy sự thống nhất chỉ huy cũng đóng vai trò rất to lớn. Không có ban chỉ huy giỏi, hoặc có một vài ban chỉ huy (với mỗi đơn vị đang tác chiến độc lập) là điều không được phép. Kế hoạch tác chiến phải được soạn thảo tập thể và trong khi chiến đấu sự lãnh đạo tập thể phải đưa mệnh lệnh tới những đơn vị tham gia tác chiến. Đó là điều kiện cốt lõi cho kết hợp tác chiến có hy vọng giành được thắng lợi.

Nhu cầu về chỉ huy thống nhất trong các hoạt động du kích là chiến thuật thông thường trong đánh du kích – thực ra là của tất cả các cuộc chiến nói chung. Tuy vậy, kinh nghiệm của cuộc chiến tranh du kích vừa qua, đặc biệt ở Trung Quốc chỉ ra rằng đòi hỏi sơ đẳng ấy không phải bao giờ cũng được tuân thủ hoặc vận dụng trong thực tế. Đã thường xảy ra những trường hợp nhiều đơn vị du kích có cùng mục tiêu nhưng thiếu chỉ huy thống nhất nên đã phân tán những nỗ lực của họ và do đó bị thất bại.

Không thể có tác chiến mà thiếu sự hiểu biết trước một cách kỹ càng. Thông tin chính xác về quân địch, về các vị trí của nó, về điểm mạnh, yếu của nó, về địa thế, đường sá, phương tiện giao thông, cư dân, v.v., tất cả những điều đó phải nhận được từ các đội trinh sát và phải xem là cơ sở của kế hoạch tác chiến. Luồng tin tức thường xuyên của tình báo về đối phương là một yêu cầu cơ bản trong chiến tranh du kích. Trước mỗi cuộc tác chiến, các chiến sĩ du kích cần phải có những hiểu biết đặc biệt về mục tiêu, phải chú ý tới những chi tiết cực kỳ nhỏ bé.

—————————-

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Dự thảo Điều lệ Đảng (2-1925)

Quảng Châu, tháng 2-1925

1- Tên gọi: Đảng của chúng tôi mang tên…

2- Mục đích (Tôn chỉ): a) Hoạt động giác ngộ anh em và giành chính quyền; b) Hoạt động vì hạnh phúc của giai cấp vô sản – người lao động và thợ thủ công.

3- Đảng viên: Toàn thể nhân dân không phân biệt giới tính, tuổi từ 18, tự nguyện tuân theo các quy định của Đảng, biết đọc và viết chữ quốc ngữ đều có thể được kết nạp vào Đảng.

4- Nghĩa vụ của đảng viên:

a) Tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Đảng, không quản hiểm nguy có thể gặp phải;

b) Không khai báo công việc của Đảng cho người nhà và những người ngoài Đảng biết;

c) Yêu thương và giúp đỡ đồng chí;

d) Bí mật tuyên truyền chủ nghĩa của Đảng.

5- Không được kết nạp Đảng:

a) Những người hút thuốc phiện;

b) Những người uống rượu, đánh bạc;

c) Những người làm nghề tôn giáo;

d) Những người đã làm hại cho nhân dân hoặc phản bội Tổ quốc.

6- Tổ chức hành chính: Đảng chúng tôi có các chi bộ trong mỗi tỉnh lỵ, phủ, huyện, thôn xóm, làng bản trong cả nước.

Đảng viên thuộc đảng bộ cấp cao sẽ tổ chức ra các đảng bộ cấp dưới của mình.

7- Số lượng đảng viên mỗi chi bộ ấn định là 10 người.

8- Mỗi đảng viên không được cùng lúc sinh hoạt tại 2 chi bộ.

9- Khi một chi bộ mới thành lập, sẽ tiến hành bầu một người lãnh đạo chi bộ.

10- Tổ chức kinh tế: Mỗi đảng viên sẽ phải tham gia vào tổ chức kinh tế của phân ban của mình. Như vậy, Giáp, thuộc chi bộ của huyện, làm nghề trồng trọt, thì sau khi thành lập chi bộ cấp dưới sẽ phải tổ chức ra ban nông dân. ất, thuộc chi bộ làng, làm nghề thủ công, sau khi lập chi bộ thôn sẽ phải tổ chức ban thợ thủ công, và cứ tiếp tục như vậy…

11- Hàng tháng, người đứng đầu chi bộ thôn sẽ báo cáo tình hình của ban cho lãnh đạo chi bộ làng; người này cũng làm báo cáo như vậy gửi lên người phụ trách ban của xã, v.v..

12- Tổ chức kinh tế và hành chính là thống nhất đối với mỗi chi bộ. Tuy nhiên không có sự giới hạn nào về địa dư có thể áp đặt đối với tổ chức kinh tế.

13- Các khoản chi tiêu: Các khoản chi tiêu của Đảng do đảng viên đảm trách.

Mỗi đảng viên đóng 1 đồng 20 một nǎm; đảng viên nghèo chỉ đóng 0 đ 60.

14- Tuyên thệ: Chỉ sau khi tuyên thệ đảng viên mới sẽ được coi như thành viên của một chi bộ. Lễ tuyên thệ sẽ được tiến hành như sau: Ban đêm, tại một nơi thanh vắng, người mới kết nạp đứng trước mặt người đứng đầu chi bộ của mình, thắp hương, giết một con gà trống và đọc những lời sau: “Đêm nay, tôi xin thề gia nhập chi bộ này để hoạt động a) vì tự do cho đồng bào tôi, b) vì hạnh

phúc cho những người nông dân bị áp bức; vì mục đích này, trước hết tôi tham gia lật đổ các quốc gia đế quốc chủ nghĩa và xâm lược nhằm lập nền tự trị cho đất nước; sau đó, tôi sẽ chiến đấu chống lại sự phân biệt giai cấp xã hội và tham gia vào cách mạng thế giới, đó là mục tiêu cuối cùng chúng ta theo đuổi. Tôi xin thề không màng phú quý, giàu sang hay bất kỳ lợi ích cá nhân nào, xin thề tuyệt đối tuân theo mọi mệnh lệnh của Đảng. Tôi xin thề hy sinh tính mạng cho Đảng, không làm gì tổn hại cho Đảng.

Nếu tôi tiết lộ bí mật của Đảng, bội lời thề với Đảng, thoái hoá và làm hại đến học thuyết của Đảng, thì tôi sẽ chịu chung số phận như con gà này”.

Nǎm… tháng… ngày.

Xin thề

15- Điều lệ này là tạm thời và có thể được sửa đổi tuỳ theo hoàn cảnh.

————————-

Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Tuyên ngôn của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức (7-1925)

Quảng Châu, tháng 7-1925

Hỡi các bạn thân yêu, từ khi bọn tư bản tháo bỏ mặt nạ và công khai hành động như bọn đế quốc, các dân tộc yếu, nhất là các dân tộc ở á châu ngày càng bị áp bức. Chúng biến đất nước của chúng ta thành thuộc địa của chúng hay nửa thuộc địa (như Trung Quốc và Xiêm). Chúng cướp đoạt toàn bộ của cải của đất nước chúng ta. Chúng bắt chúng ta phải mua thuốc độc (thuốc phiện, rượu cồn). Chúng nghiền nát chúng ta bằng thuế khoá đủ loại. Chúng biến chúng ta thành phu phen và đầy tớ… Chúng không chỉ tước đoạt đi những quyền chính trị của chúng ta, mà chúng còn làm cho chúng ta khốn khổ bần cùng. Tệ hơn, chúng còn tìm cách tận diệt nòi giống chúng ta.

Hỡi các bạn thân yêu, muốn xua tan những đau khổ đó cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm cách mạng. Bọn đế quốc ở tất cả các nước đã liên minh lại để áp bức chúng ta. Còn chúng ta, những người dân thuộc địa và toàn thể công nhân trên thế giới, chúng ta phải hợp lực lại để chống lại chúng.

Những nhà cách mạng của công đoàn thợ thuyền và những nhà cách mạng trong Tổng liên đoàn các dân tộc bị áp bức theo các phương pháp khác nhau nhưng tất cả đều có một mục đích, là đánh đuổi tất cả những kẻ đi chiếm đoạt kia. Những dân tộc bị áp bức

như chúng ta có thể hoặc tốt hơn, phải liên minh với thợ thuyền của tất cả các nước để vùng lên và đòi tự do khắp nơi.

Ngày 9-7-1925, những người cách mạng An Nam, Trung Quốc, ấn Độ và Triều Tiên đã họp lại để thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức 1 . Đây là sự thức tỉnh của các dân tộc châu á. Nhân dịp trọng đại này, chúng tôi xin gửi đến các bạn lời kêu gọi sau đây:

Hỡi hết thảy những người bị áp bức, anh em! Nếu bọn đế quốc áp bức chúng ta và đối xử với chúng ta như loài vật, đó là vì chúng ta không đoàn kết! Nếu chúng ta đoàn kết chúng ta sẽ trở nên đáng gờm.

Sự nghiệp của chúng ta là sự nghiệp của hàng nghìn, hàng nghìn người. Kẻ thù của chúng ta chỉ là một nhúm người. Chúng ta không được sợ chúng. Cho dù chúng có súng đạn dồi dào, chúng cũng không thể giết hết chúng ta được.

Hỡi các bạn thân yêu, chúng ta nên sớm kết đoàn lại! Hãy hợp lực để đòi quyền lợi và tự do của chúng ta! Hãy hợp lực để cứu lấy nòi giống chúng ta!

Hỡi các bạn thợ thuyền! Tất cả các bạn đều biết rằng những kẻ áp bức chúng tôi và những kẻ ngược đãi các bạn chỉ là một. Chẳng phải trong cuộc chiến tranh 1914-1918, bọn tư bản đã dùng người da đen và da vàng để tàn sát người da trắng, cũng như chúng đã dùng công nhân da trắng để giết những ngưới da vàng và da đen đó sao ? Như vậy là, nếu các bạn muốn thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ đang hành hạ các bạn thì các bạn hãy kết đoàn với chúng tôi! Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các bạn. Chúng ta cùng có chung lợi ích, nên khi đấu tranh cho chúng tôi là các bạn cũng chiến đấu cho các bạn. Khi giúp đỡ chúng tôi các bạn cũng tự cứu mình.

Các bạn thân yêu! Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy kết đoàn với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng.

Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc châu á muôn nǎm!

Tình đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức và thợ thuyền trên trái đất muôn nǎm!

Cách mạng muôn nǎm!

—————————-

Báo Thanh niên, số 5, ngày 19-7-1925.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết (23-8-1925)

Quảng Châu, 23-8-1925

Hãy yêu thương nhau, cùng nhau ta đoàn kết
Hãy lắng nghe câu hát từ đáy lòng tôi.
Kẻ không đoàn kết cũng như chim lạc đàn
Chóng hoặc chày rồi sẽ trúng tên
Vì đơn độc sẽ làm mồi cho hiểm hoạ
Từ kết đoàn hạnh phúc sẽ sinh sôi.
Chúng ta phải làm sao đoàn kết?
Hãy liên kết như thể thân mình
Ngũ quan cùng với tay chân dính liền
Tách rời nhau thời không thể sống
Chỉ cùng với nhau sức lực mới sinh sôi
Nào ta hãy cùng yêu thương đoàn kết
Chớ ham lợi Pháp mà phản bội sự nghiệp
Hãy kết đoàn tương trợ lẫn nhau
Tựa tứ chi kết lại ta sẽ thành công
Đất nước ta ta xây một thiên đường
Hãy yêu thương nhau và cùng nhau đoàn kết
Nghĩa vụ một người dân là phải yêu Tổ quốc
Mau cải thiện tâm, tài, lực cho dân
Vì sự nghiệp chung hãy học sống và học chết
Hỡi đồng bào yêu quý hãy lắng nghe tôi hát
Rồi học thương yêu nhau và đoàn kết cùng nhau.

——————————-

Báo Thanh niên, số 9.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta (27-9-1925)

Quảng Châu, 27-9-1925

Trong lá thư vừa rồi, chị đã không thừa nhận là người của chúng tôi; mặc dù vậy, từ đó chúng tôi vẫn coi chị như thế, bởi chúng tôi tin chắc rằng chị sẽ chấp nhận điều đó sau khi đọc bài báo này.

1- Các vua quan, thư lại, thông ngôn, theo chị là những người phản cách mạng. Chị đã nhầm rồi, bạn thân mến, bởi vì một ông vua có thể suy nghĩ và biết cảm thông với những bất hạnh chưa từng thấy đang giáng xuống dân tộc của ông; vì vậy ông ta thà làm một người dân bình thường còn hơn là trị vì một dân tộc nô lệ.

Chính chúng tôi là người dạy cho các vị vua chúa bài học đó và chỉ ra cho họ thấy rằng họ làm cách mạng thì có lợi hơn là sống dưới ách ngoại bang.

Với quan lại, thư ký và thông ngôn, họ miễn cưỡng phục vụ người Pháp. Bị chìm đắm trong bóng tối ngu dốt từ nhỏ, họ không bao giờ có thể tự trau dồi kinh điển hay tri giác được những tiến bộ của nhân loại qua việc đọc báo chí. Họ không biết vì sao có kẻ sung sướng, lại có kẻ nô lệ khổ sở. Họ giống như những con gà què chỉ ǎn quẩn cối xay; họ không có chút nỗ lực nào nên đành bằng lòng với thứ thức ǎn mà kẻ khác đem cho họ. Vậy nhiệm vụ của chúng ta là phải hướng họ theo lý luận cách mạng.

2- Nếu chúng ta nói với những người cần lao và thợ thuyền:

“Tất cả những gì anh em kiếm được bằng mồ hôi của anh em đều chui vào túi người Pháp. Nếu cách mạng thành công, anh em sẽ nộp thuế nhẹ hơn so với hiện nay, và chúng ta sẽ dùng thuế đó để đào mương, làm đường, xây trường học, lập nhà thương, làm tất cả những gì có ích cho anh em. Thắng lợi của cách mạng sẽ mở ra một thời kỳ dân chủ, nghĩa là tự do của anh em và quyền tự quyết của anh em.

“Hãy xem người Nga, họ cũng bị áp bức như anh em. Nhưng từ khi có cách mạng, họ là người sung sướng nhất trần gian. Hết thảy mọi người đều có ruộng, có nhà, mọi người đều được học hành và bỏ phiếu bầu cử”.

Nếu chúng ta làm cho công nông hiểu được điều này thì hết thảy họ đều giúp chúng ta làm cách mạng.

3- Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi.

ở nước Nga, không có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà. Phụ nữ có quyền bỏ phiếu và được bầu. Hiện nay có một bà là bộ trưởng, một bà là đại sứ; nhiều người khác là dân biểu.

Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng.

———————————-

Báo Thanh niên, số 13.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Truyện ngụ ngôn (1925)

Quảng Châu, nǎm 1925

Hãy nghe câu chuyện ngụ ngôn này. Tất cả các bạn, hãy im lặng và lắng nghe!

Loài vật đang tranh nhau công trạng

Con rồng mày râu óng ánh, mào và vảy rực rỡ lên tiếng trước tiên:

– Ta là thuỷ tổ của giống nòi An Nam từng chứng kiến sinh ra biết bao vị anh hùng lừng lẫy.

Đến lượt tôm: – Anh bạn nói đùa đấy chứ. Phận tôi còn sướng hơn phận người An Nam. Anh hãy nhìn thân hình tôi. Nó còng xuống là theo ý trời, trong khi đó con cháu anh thì xương sống gập xuống dưới gánh nặng sưu thuế và khổ sai.

Cừu nói: – Lời anh nói khiến tôi buồn. Thực ra người An Nam cũng tựa như loài thỏ. Anh biết đấy, mỗi nǎm tôi bị cắt lông có một lần, còn những con người tội nghiệp kia thì bị Pháp bóc lột tứ thời.

Bò lên tiếng: – Chưa hết đâu nhé. Tôi dám khẳng định rằng người An Nam còn khốn khổ hơn loài bò. Chúng tôi có nước da tươi tắn, bụng đầy cỏ và xương sườn dạng mo cau, nhưng chúng tôi có thể kiêu hãnh vì được hưởng một thứ tự do còn lớn hơn tự do của họ.

Cua cười chua chát mà rằng:

– Chúng tôi hơn đứt những người An Nam đang cúi mình trước mọi sự đỏng đảnh của người Pháp và những kẻ nô lệ tội nghiệp kia vẫn cam phục vụ bọn chúng mà không hề hé rǎng nửa lời.

Rắn nói: – Các chị châm chọc mỉa mai nữa kìa. Thử xem, ai là người chiến thắng bằng sự cao quí của tình cảm ? Tôi, hay là những người Pháp khẩu Phật tâm xà mà người An Nam đưa vào nước họ?

Voi nói: – Người An Nam sẽ muôn đời phải gánh chịu hậu quả những lầm lỗi mà họ vô tình phạm phải. Họ đã rước voi về giày mả tổ lại còn bỏ mặc cho người Pháp cái quyền lãnh đạo cả Tổ quốc của họ nữa.

Lươn nói: – Nghĩ đến người An Nam mà tôi buồn.

Họ để cho đồng tiền cám dỗ cứ như mật dụ ruồi. Với những kẻ nô lệ ấy, cúi mình hạ nhục cốt để kiếm chút danh tước bạc bẽo có hề gì.

Chuột nói: – Hãy xem loài chuột chúng tôi, ai cũng có bản mệnh của mình. Còn người An Nam không còn nghĩ gì đến đất nước của họ nữa. U mê vì của cải và giàu có, họ đang thờ ơ can dự vào cuộc diệt chủng giống nòi và vong quốc.

Gà trống nói: – Ta là ông hoàng trên sân gà. Ta sống hoà hợp với các ả thần dân của ta và chúng ta không bao giờ tranh nhau miếng ǎn ngon lành như bọn người An Nam vì tiền bạc mà bội bạc phản trắc.

Cá chép: – Nước với tôi cùng nhau sung sướng, rồi nhất định có ngày hóa được thành rồng, tôi sẽ bay đến tận cung tiên. Còn người An Nam thì suốt đời chỉ khoanh tay quỳ gối trong cảnh nô lệ mà không dám vùng lên.

ếch: – Hỡi anh em, suy đi tính lại, nếu thực sự chúng ta thương xót người An Nam thì hãy cùng nhau đi cứu họ. Loài ếch hèn mọn chúng tôi nhờ có kêu ca mà làm trời phải mủi lòng, và lẽ nào vô cớ trời lại bỏ ngoài tai lời cầu khẩn mà để loài ếch vĩnh viễn bị tận diệt? Nếu họ đồng tâm và đồng sức, nếu họ kết liên trong, ngoài thì người Pháp sẽ mất tinh thần, kinh hãi và phải trả lại cho họ những quyền tự do của họ.

Ôi, những người An Nam, các anh phải luôn nhớ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh!

—————————-

Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo chí bình dân (17-1-1926)

Quảng Châu, 17-1-1926

Các bạn của chúng ta phàn nàn nhiều lần rằng các bài báo của ta quá thiếu trau chuốt để có thể gây ảnh hưởng đến tâm trí dân chúng.

Chúng tôi xin báo với các độc giả của mình rằng chúng tôi bất chấp (xem thường) việc sử dụng những từ mỹ miều, vǎn phong lịch lãm, câu chữ đong đưa, nhịp câu đǎng đối song hành, những sự tô vẽ vǎn chương mà các nhà nho ham chuộng. Nhưng ngược lại chúng tôi gắng sức, vì lợi ích của tất cả mọi người, dùng một vǎn phong sáng sủa, chính xác và dễ hiểu.

Vì mục đích của chúng tôi là: l- đánh trả sự tàn bạo của người Pháp, 2- khích lệ dân tộc An Nam kết liên lại, 3- làm cho họ thấy được nguyên nhân những đau khổ, đói nghèo của họ và chỉ ra cho họ làm cách nào để tránh được những điều đó, nên bản báo chúng tôi làm tròn nhiệm vụ là hồi kẻng báo động mà người ta gióng lên khi có đám cháy để báo cho người đang trong ngôi nhà cháy, giục giã họ chạy thoát thân để khỏi bị chôn vùi hoặc bị thiêu cháy, và gọi những người xung quanh đến ứng cứu.

Tiếng đàn cầm chắc chắn hay hơn tiếng kẻng; nhưng trước mối hoạ đang đe doạ chúng ta, tốt nhất là đánh kẻng còn hơn gẩy đàn.

Có nhiều cách làm rung động lòng người. Khóc lóc, than vãn, đọc Kiều hay Tam Quốc đều khiến ta mủi lòng. Nhưng đó chỉ là những cảm xúc thoảng qua và hời hợt mà chúng tôi không muốn gợi lên trong lòng độc giả của chúng tôi. Ngược lại, chúng tôi muốn rằng vǎn của chúng tôi gây được cho họ một ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài.

Ví dụ: Nếu gặp một nông dân An Nam quần áo tả tơi, chúng tôi sẽ bằng một giọng đầy thương cảm, nhưng che giấu đi niềm xúc động và nuốt nước mắt mà nói rằng: “Than ôi! sao mà số phận anh khổ đến thế này. Anh mua giống hết 2 đồng, mua phân 4 đồng; anh thuê trâu 3 đồng, thuê thợ 5 đồng và nộp thuế 1 đồng. Tiền anh chi đã lên đến 15 đồng, anh bán thóc được 18 đồng. Nhưng vì anh đã phải nộp thuế chợ 1 đồng nên thực ra anh chỉ được 2 đồng, mà tiền ấy anh cũng bị Pháp cướp mất. Vì thế tôi mới bảo rằng anh khốn khổ”.

Anh nông dân của chúng tôi sẽ không khóc, không than. Nhưng anh ta suy nghĩ, hiểu ra và cuối cùng sẽ vùng lên và làm cái việc tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc.

Còn những ai yêu thơ, thì họ cứ tự do đắm chìm mà đọc Cung Oán hay Nhị Độ Mai.

————————

Báo Thanh niên, số 28.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn

Mục dành cho phụ nữ: về sự bất công (4-4-1926)

Quảng Châu, 4-4-1926

Đại Đức Khổng Tử nói: Chồng phải dạy vợ.

Đức Mạnh Tử lại lưu ý rằng: Đàn bà và trẻ con khó dạy bảo: nếu cho họ gần thì họ khinh nhờn; nếu bỏ mặc họ thì họ thù oán.

Người Trung Quốc thường so sánh phụ nữ với con gà mái: “Gà mái gáy báo sáng là điềm gở cho cả gia đình”.

ở An Nam, chúng ta nói: Đàn bà phải quanh quẩn trong bếp.

Trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì. Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?

MỘNG LIÊN

—————————-

Báo Thanh niên, số 40.
Dịch lại từ bản dịch ra tiếng Pháp
cpv.org.vn