Thư viện

Một tin tức lạ (9-6-1956)

Tin tức các báo (23-5): “Mỹ muốn giúp nước Libăng 17 triệu đôla, nhưng Libăng từ chối, không nhận”. Có lẽ bà con ta lấy làm lạ, vì sao người ta mời lấy tiền, mà Libăng lại từ chối ? Xin xem câu chuyện dưới đây, thì bà con sẽ rõ:

“Liên Xô đã giúp:

300 triệu đôla cho Nam Tư để phát triển thêm kinh tế,

100 triệu đôla cho ápganixtan để xây dựng lại đê điều thuỷ lợi,

150 triệu đôla cho ấn Độ để lập xưởng đúc gang, mỗi năm sản xuất 1 triệu tấn,

500 triệu đôla cho Ba Lan,

125 triệu đôla cho nước Đức dân chủ,

250 triệu đôla cho Triều Tiên dân chủ,

1.400 triệu đôla cho Trung Quốc để thêm vốn vào kế hoạch 5 năm.

Liên Xô giúp các nước đủ sức để sản xuất mỗi năm 9 triệu tấn gang, 4 triệu tấn dầu lửa, 5 triệu rưởi kilôoát điện …

Liên Xô lại giúp các nước dân chủ Đông Âu 1.500 kỹ sư và giúp các nước ấy đào tạo thêm 2.300 kỹ sư và chuyên gia.

Liên Xô có thể giúp các nước nhiều như vậy, là vì kinh tế của Liên Xô phát triển rất nhanh; công nghiệp nặng của Liên Xô năm nào cũng sản xuất vượt mức kế hoạch đã định. Nhất là Liên Xô sản xuất mau chóng đủ các thứ máy móc, đào tạo ra nhiều kỹ sư và chuyên gia”.

Đó là báo cáo của Đalét trước Quốc hội Mỹ hồi đầu tháng 5. Đalét nói thật, đó cũng là một tin tức lạ.

Từ 1950 đến nay, Mỹ đã “giúp” các nước phe Mỹ 25.000 triệu đôla, trong số đó hơn 13.000 triệu là vũ khí. Vả lại, như tờ báo tư sản Mỹ Tin tức (14-4) đã viết:

“Các nước châu á không ưa “viện trợ” của Mỹ, vì nó kèm theo nhiều điều kiện nặng nề … Bởi vì Mỹ cốt bán chạy các hàng hoá ế đọng của Mỹ, chứ không giúp đỡ thật sự cho các nước ấy … Sự giúp đỡ của Liên Xô thì hợp với nhu cầu của các nước được giúp …, làm cho các nước mới được độc lập thoát khỏi ách kinh tế của phương Tây …”.

Hôm 2-4, Hội các chủ nhà máy Mỹ đã tuyên bố rõ ràng: “Mỹ không nên giúp cho các nước xây dựng công nghiệp, vì e họ sẽ cạnh tranh với công nghiệp Mỹ”.

Hôm 11-4, một đại biểu Quốc hội Phi Luật Tân nói: “Viện trợ của Mỹ kèm theo những điều kiện tàn nhẫn hơn là xiềng xích
sắt …”.

Cũng vì lẽ đó, mà Thủ tướng Pháp đã nói: “Mỹ càng giúp đỡ, thì thiên hạ càng oán ghét Mỹ”.

Và Thủ tướng nước Xâylan nói: “Đôla Mỹ không thể mua chuộc lòng tự tôn của nhân dân ta…”.

Vậy, người Mỹ có câu rằng:

Có tiền mà cậy chi tiền,
Mất tiền, mà lại vô duyên lạ đời!

C.B.

———————————–

Báo Nhân dân, số 827, ngày 9-6-1956.
cpv.org.vn

Bình dân học vụ (17-6-1956)

“Đoàn quân văn hoá của nhân dân, trống rung cờ mở, ào ạt tiến lên, quyết chiến quyết thắng”. Đó là câu nói hùng hồn của một nữ học sinh dạy lớp bình dân học vụ. Mà thật vậy. Tính đến tháng 5, cả miền Bắc đã có ngót 1.715.000 người đi học, từ các lớp i. t. đến các lớp bổ túc cấp 2.

Có thành tích ấy là vì nhân dân ta hiểu thấu rằng: bất kỳ làm nghề gì, nếu không biết chữ thì khó tiến bộ, cho nên nhiều người cố gắng đi học.

Từ thành thị đến thôn quê, ở các đường phố, các nhà máy, các công trường, các chợ búa… khắp nơi có lớp học. Già, trẻ, gái, trai, ai chưa biết chữ đều tìm cách vượt khó khăn để đi học. Buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, đến đâu cũng nghe tiếng học. Thật là một phong trào sôi nổi, một cảnh tượng tưng bừng của một dân tộc quyết rời bỏ chỗ tối, bước lên chỗ sáng.

Cảm động nhất, là có những cụ tuổi đã rất cao, mà cũng xung phong đi học để khuyến khích con cháu, như bà cụ Nguyễn Thị Xuyến (100 tuổi, xã Nghi Tân, Nghệ An), cụ Lê Siêu (106 tuổi, xã Sơn Phố, Hà Tĩnh) và nhiều cụ khác.

Học sinh các trường công và tư là quân chủ lực tinh nhuệ của đội ngũ giáo viên bình dân học vụ. Nhưng cũng có nhiều cụ phụ lão (như cụ Dương 80 tuổi, cụ Mỹ 79 tuổi), các em nhi đồng, nhiều anh chị công nhân và cán bộ … cũng không ngại khó nhọc, xung phong đi dạy.

Ngoài cách dạy và cách học thông thường, lại có nhiều sáng kiến và hình thức như: dán bài vào cánh tay, viết chữ trên mẹt hàng, găm bài học vào lưng áo người đi trước để người đi sau nhìn mà học, viết chữ cắm ở những nơi đông người qua lại … Như vậy, đồng bào có thể vừa lao động, vừa học chữ. Một dân tộc siêng làm, ham học như thế, thì làm việc gì cũng thành công!

Đồng bào các giới thì đều tuỳ khả năng của mình mà ủng hộ phong trào diệt giặc dốt, như: tổ chức giữ trẻ để cho chị em có con mọn đi học được. Cho mượn nhà làm lớp học. Đóng bàn ghế không lấy tiền. Giúp dầu đèn, bút, giấy cho những học viên nghèo, v.v..

Bình dân học vụ đã trở nên một phong trào quần chúng. Tuy vậy, đó chỉ mới là bước đầu. Hiện nay còn nhiều người mù chữ chưa đi học.

Để hoàn thành nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ trong 3 năm (1956-1958), các cấp đảng uỷ và chính quyền, các chi bộ, các công đoàn, các tổ chức thanh niên, các cán bộ chỉ huy công trường và nhà máy… cần phải thiết thực phụ trách đẩy mạnh phong trào thanh toán nạn mù chữ một cách có kế hoạch và liên tục, bền bỉ. Các cơ quan văn hoá, giáo dục cần phải có sách và báo rất thông tục, dễ xem, dễ hiểu, cho những người đã biết đọc biết viết có thể tiếp tục học thêm.

Với sự săn sóc của Đảng và Chính phủ, với lòng hăng hái, phấn khởi của nhân dân, chúng ta nhất định tiêu diệt giặc dốt trong thời gian đã định.

C.B.

————————-

Báo Nhân dân, số 835, ngày 17-6-1956.
cpv.org.vn

Sicagô và Sài Gòn (20-6-1956)

Sicagô là một thành phố to hạng nhì ở Mỹ, có độ ba triệu dân và rất nhiều công nghiệp và thương nghiệp. Nó cũng là sào huyệt của những “vua” cướp của, giết người, buôn lậu và các thứ tội ác. Hiện nay, Mỹ đang đưa “văn minh” Sicagô đến miền Nam Việt Nam ta.

Tối hôm 9-6, hai nhân viên của “phái đoàn viện trợ” Mỹ đã bắn nhau chết ở tiệm rượu “Đồng tiền vàng”. Có lẽ đó mới là bước đầu.

Hôm 12-6, một bọn cướp với súng ống đầy đủ, đã cướp chuyến xe hơi ở Xuân Lộc, cách Sài Gòn 80 cây số.

Các báo miền Nam cho biết: từ 21-5 đến 7-6, ở Sài Gòn và các thành phố xung quanh có 48 vụ trộm cướp và 47 vụ tống tiền. ở Sài Gòn – Chợ Lớn, ngày nào cũng xảy ra những vụ ăn cắp xe đạp và xe hơi. Có những tên đã đánh cắp hơn 20 chiếc xe hơi.

Tệ hại nhất là “văn minh” Sicagô đã lan rộng đến lớp thanh niên học sinh. Thí dụ: 1 nam học sinh 17 tuổi, ở Tân Sơn Nhất, đã phạm tội giết người, cướp của.

Một nữ học sinh trường luật, 23 tuổi, đã phạm tội tống tiền gần nửa triệu đồng…

Đế quốc Mỹ xúi giục Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu trường kỳ chia cắt đất nước ta. Đó đã là một tội ác tày trời, không thể tha thứ. Chúng lại còn âm mưu phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta, đầu độc thanh niên ta – Hai tội chồng chất, càng không thể tha thứ.

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 838, ngày 20-6-1956.
cpv.org.vn

Cần ra sức củng cố các tổ đổi công (10-7-1956)

Vụ chiêm qua, đồng bào nông dân chống được hạn, sâu, nước úng, và thu hoạch rất khá. Kết quả ấy một phần là nhờ các tổ đổi công cố gắng nhiều.

Hiện nay, các nơi tổ đổi công phát triển khá mạnh. Cả miền Bắc có hơn 19 vạn tổ, bao gồm hơn 58% gia đình nông dân. Đó là một điều tốt. Số tổ tuy nhiều, nhưng tổ thường xuyên còn ít, cả miền Bắc mới có hơn 2 vạn tổ. Đó là vì:

– Sau cải cách ruộng đất, nông dân hăng hái sản xuất, sẵn sàng vào tổ đổi công. Tuy vậy đại đa số tổ viên còn thói quen và tư tưởng làm ăn riêng. Tư tưởng tập thể và tư tưởng cá nhân đang đấu tranh với nhau và cuộc đấu tranh ấy không dễ hoàn toàn giải quyết trong một thời gian ngắn.

– Một số cán bộ chưa biết lãnh đạo. Họ còn ham chuộng hình thức; còn dùng cách mệnh lệnh, gò ép. Khi phân công cũng gò ép; khi khai hội, khi học tập cũng gò ép. Vì vậy, nhiều nông dân e ngại vào tổ đổi công thường xuyên.

Cán bộ ta cần hiểu thấu và nhớ kỹ rằng: tổ đổi công phải theo nguyên tắc tự giác, tự nguyện. Lãnh đạo tổ đổi công cần phải dân chủ.

Dân chủ nghĩa là: Việc to thì phải bàn bạc với các tổ viên mà quyết định. Việc nhỏ thì cán bộ bàn bạc với nhau mà làm. Quyết không nên độc đoán, bao biện, gò ép. Phải tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh. Phải khéo khuyến khích tự phê bình và phê bình trong tổ.

Đối với các tổ viên, cán bộ cần phải chịu khó tuyên truyền, giải thích, thuyết phục, giáo dục. Phải nâng cao dần giác ngộ chính trị của mỗi tổ viêc. Phải nhớ rằng “công tác chính trị là mạch sống của mọi công tác kinh tế”.

Cán bộ huyện và tỉnh cần phải đến tận nơi mà hướng dẫu, giúp đỡ và kiểm tra một cách thiết thực; không thể chỉ thoả mãv với những báo cáo và những con số trên mặt giấy.

Cán bộ làm được như vậy (và phải làm như vậy), thì các tổ đổi công thường xuyên sẽ phát triển vững vàng và vụ mùa sắp tới sẽ chắc thắng lợi.

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 858, ngày 10-7-1956.
cpv.org.vn

Bước đầu (14-7-1956)

Chính sách của Đảng và Chính phủ ta trước hết là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân, nhất là nhân dân lao động. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, chính sách ấy đã bắt đầu có kết quả. Thí dụ ở khu mỏ Hồng Quảng:

Về chính trị, anh chị em công nhân đã biết mình là người chủ của nước nhà, chứ không phải là nô lệ của bọn tư bản thực dân như ngày trước.

Về vật chất, cũng đã tiến bộ dần dần. Mùa rét trước, anh chị em đã nhận được của Đảng và Chính phủ tặng 7.000 cái áo bông và non 11.000 thước vải. ở các tầng làm việc đã đặt hơn 200 lò sưởi. Trung bình mỗi gia đình được cấp 250 ký than.

Nhà ở, đủ 188 gia đình đã dọn đến nhà ở của xí nghiệp, không mất tiền thuê. 185 ngôi nhà của công nhân được sửa chữa tươm tất. ở Hà Tu, xí nghiệp vừa làm hơn 100 gian nhà cho công nhân và sẽ làm thêm 200 gian nữa.

Khu phố lao động đã quét vôi sạch sẽ, đã có đèn điện, có nước máy.

Ở các công trường khai thác đã có hơn 100 chiếc nhà để công nhân có chỗ nghỉ ngơi và ăn uống.

Về việc phòng bệnh, đã có hàng trăm cán bộ vệ sinh, có trạm cấp cứu để săn sóc sức khoẻ cho công nhân. Phòng khám bệnh đã được làm thêm. Chế độ phụ cấp cho người ốm cũng được tăng hơn trước. ở đây, nên nêu lên một điều đầy tinh thần hữu nghị quốc tế: các đồng chí chuyên gia y tế Liên Xô đã đến thăm khu mỏ. Riêng ở Cẩm Phả, các đồng chí đã khám bệnh và cấp thuốc cho 3.000 anh chị em.

Đối với phụ nữ, vài nơi đã có nhà đỡ đẻ, nhà để cho con bú. Đã có chế độ phụ cấp khi sinh đẻ. Một số chị em đã được tăng lương.

Về văn hoá, ở khu mỏ có 18 câu lạc bộ và phòng xem sách. Hà Tu sắp xây dựng một câu lạc bộ chứa được 400 người. Hồng Gai, một câu lạc bộ chứa được 1.200 người.

Hiện nay có 211 lớp sơ cấp và dự bị với hơn 3.000 công nhân đến học. Các nơi đều có lớp bình dân học vụ. Nhiều nơi, độ 80% công nhân đã biết chữ.

Ở nông thôn, cải cách ruộng đất căn bản đã làm xong, vụ chiêm thu hoạch khá, mức sống của đồng bào nông dân cũng bắt đầu khá hơn.

Cố nhiên, so với mục đích thì thành tích ấy còn rất nhỏ. Chúng ta không được tự mãn. Nhưng đó là thành tích bước đầu nó khuyến khích chúng ta cố gắng hơn nữa, cố gắng lên mãi.

C.B.

——————————–

Báo Nhân dân, số 862, ngày 14-7-1956.
cpv.org.vn

Lời đáp trong buổi lễ trình quốc thư của Đại sứ nước Cộng hoà nhân dân Rumani (19-7-1956)

Thưa đồng chí Đại sứ thân mến,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư của Chủ tịch đoàn Quốc hội tối cao nước Cộng hoà Nhân dân Rumani uỷ nhiệm đồng chí làm Đặc mệnh toàn quyền Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tôi rất cám ơn những lời chúc mừng của đồng chí.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Công nhân và Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Rumani, nhân dân Rumani đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đang phấn khởi thực hiện kế hoạch 5 nǎm lần thứ hai. Nước Cộng hoà Nhân dân Rumani đã không ngừng phát triển quan hệ ngoại giao, mở rộng trao đổi kinh tế và vǎn hoá trên tinh thần chung sống hoà bình với tất cả các nước trên thế giới. Nhân dân Rumani đóng góp một phần tích cực trong công cuộc bảo vệ hoà bình và hợp tác quốc tế do Liên Xô lãnh đạo.

Tôi vui lòng nhận rằng trong công cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của mình, nhân dân Việt Nam đã luôn luôn được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân Rumani anh em. Quan hệ kinh tế và vǎn hoá giữa hai nước chúng ta đang có đà phát triển mạnh. Tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta ngày càng củng cố và thắt chặt hơn.

Trước đây, đồng chí cựu Đại sứ Côxôvianu đã ra sức củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta. Từ nay tôi chắc rằng đồng chí Đại sứ sẽ tiếp tục tǎng cường mối tình anh em thắm thiết đó.

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí lãnh chức Đại sứ ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong công tác của đồng chí để phát triển và củng cố tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta, nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ ra sức giúp đỡ để đồng chí hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó.

Nhân dịp này tôi nhờ đồng chí chuyển đến Đảng Công nhân, Chính phủ và nhân dân Rumani lời chào thân ái của chúng tôi.

——————————

Đọc ngày 19-7-1956.
Báo Nhân dân, số 868, ngày 20-7-1956.
cpv.org.vn

Tự phê bình, phê bình, sửa chữa (26-7-1956)

Tự phê bình là cá nhân, (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm.

Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ.

Mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ.

Từ xưa đến nay, có bao giờ bọn phong kiến, tư bản, đế quốc, thực dân tự phê bình và để người khác phê bình chúng không? Không! Bởi vì chúng không muốn mà cũng không thể sửa chữa khuyết điểm căn bản của chúng là chế độ người bóc lột người. Hơn nữa, ai phê bình thì bị chúng khủng bố. Chỉ có nhân dân dám phê bình chúng bằng cách mạng đánh đổ chúng.

Dưới chế độ dân chủ, thì mọi người, trước hết là mọi cán bộ, mọi cơ quan và đoàn thể cần phải thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; có như vậy mới tiến bộ được.

Phê bình là cốt để giúp nhau tiến bộ. Cho nên phê bình phải có thái độ thành khẩn, tính chất xây dựng. Không nên phê bình ẩu, phê bình suông. Khi phê bình cần phải xét nguyên nhân của khuyết điểm, phải cân nhắc đến ưu điểm, phải đề ra cách sửa chữa. Thí dụ: Nhân dân ta mạnh dạn phê bình. Đó là một điều rất tốt. Thế là dân chủ thật sự. Nhưng khi phê bình, chúng ta cần phải:

– Xét rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, những khó khăn. Như: nước ta bị phong kiến thống trị hàng nghìn năm, bị thực dân áp bức bóc lột gần 100 năm, chiến tranh tàn phá suốt 15 năm, miền Bắc giải phóng chưa đầy hai năm, hạn lụt liên tiếp, v.v..

– Kiểm điểm thành tích – Cải cách ruộng đất căn bản thắng lợi, gần 8 triệu nông dân có ruộng cày, hơn 386 vạn nông dân đã vào nông hội, 14 nông giang lớn và 3.600 cây số đê đã được xây đắp, tu bổ. Chúng ta đã khôi phục nhiều xí nghiệp cũ và xây dựng một số nhà máy mới, đã đắp lại hơn 500 cây số đường xe lửa. Nhiều trường học được mở thêm, chỉ trong mấy tháng đã hơn 2 triệu đồng bào thanh toán nạn mù chữ…

– So với thời gian non hai năm thì những thắng lợi căn bản ấy không phải là ít; nhưng khuyết điểm chắc cũng có nhiều. (Có khi khuyết điểm là cái bóng của thành tích).

Đảng và Chính phủ ta rất sẵn sàng nhận những lời phê bình của nhân dân và có quyết tâm sửa chữa. Cho nên khi phê bình, chúng ta cần phê bình một cách thiết thực và đề nghị phương pháp sửa chữa hợp lý. Phê bình và giúp đỡ sửa chữa, đó là quyền lợi và nghĩa vụ dân chủ của nhân dân ta.

Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên – mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắc chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

C.B.

—————————-

Báo Nhân dân, số 874, ngày 26-7-1956.
cpv.org.vn

Phải xem trọng ý kiến của quần chúng (21-8-1956)

Nhân dân ta đã tiến bộ nhiều. Không những trong các cuộc hội họp, quần chúng đã thẳng thắn bày tỏ ý kiến của mình, mà nhiều khi còn gửi thư cho các báo, cơ quan và đoàn thể, hoặc thành khẩn phê bình và tự phê bình, hoặc nêu những đề nghị thiết thực.

Đó là một điều rất tốt: Nó làm cho nhân dân càng gần gũi và càng tin tưởng đoàn thể và chính quyền. Nó làm cho đoàn thể và chính quyền càng hiểu thấu nguyện vọng của quần chúng, càng thấy rõ những thiếu sót của mình để sửa chữa. Nó làm cho chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ. Nó càng chứng tỏ chế độ của ta là thật sự dân chủ.

Trách nhiệm của cán bộ chính quyền và đoàn thể là phải xem trọng những phê bình và những đề nghị của quần chúng. Những cán bộ (hoặc cơ quan, đoàn thể) được phê bình cần phải thật thà và công khai tự phê bình, ra sức sửa chữa. Nếu lời phê bình có chỗ không thật đúng, thì phải giải thích rõ ràng cho quần chúng hiểu. Nhưng dù phê bình đúng cả hay là chỉ đúng một phần nào, chúng ta cũng cần luôn luôn hoan nghênh quần chúng phê bình. Tuyệt đối không được áp bức phê bình. Chúng ta phải nhớ rằng cán bộ đoàn thể cũng như chính quyền, từ trên đến dưới, đều là đày tớ của nhân dân, phải xem trọng ý kiến của nhân dân. Nhiều cán bộ ta cố gắng làm đúng như thế.

Nhưng vẫn có nhiều cán bộ không làm đúng như vậy. Vài thí dụ:

Các báo thường đăng lời phê bình của nhân dân. Nhưng nhiều khi như “nước đổ đầu vịt”, cán bộ, cơ quan và đoàn thể được phê bình cứ im hơi lặng tiếng, không tự kiểm điểm, không đăng báo tự phê bình và hứa sửa chữa.

Thậm chí có cán bộ địa phương đã tự tiện bóc thư cấp trên gửi cho nhân dân, dùng dằng trao thư ấy cho nhân dân một cách chậm trễ, hoặc không trao mà cán bộ tự viết trả lời cho cấp trên (như Uỷ ban hành chính xã Đồng Minh, Nam Ninh). Có cán bộ đã doạ nạt nhân dân vì họ đã gửi thư cho cấp trên (như Phó Chủ tịch xã Xuân Yên, Hà Tĩnh).

Làm như vậy, các đồng chí ấy đã phạm kỷ luật: một là bóc thư riêng của người khác; hai là bưng bít tai mắt cấp trên, bịt mồm bịt miệng quần chúng. Sai lầm ấy phải được chấm dứt.

Một điểm nữa cần nói: phê bình và đề nghị là quyền dân chủ của mọi công dân. Khi gửi thư cần suy xét kỹ lưỡng, bày tỏ thật thà, viết tên họ và địa điểm rõ ràng, thì cơ quan nhận được thư mới có thể điều tra, nghiên cứu. Thư mà không có tên họ và địa điểm là không có giá trị gì.

Nói tóm lại, cán bộ, cơ quan và đoàn thể cần thật sự xem trọng ý kiến của quần chúng nhân dân.

C.B.

————————

Báo Nhân dân, số 900, ngày 21-8-1956.
cpv.org.vn

Chi bộ ở nông thôn (19-2-1957)

Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở nông thôn. Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sách của Đảng và Chính phủ nhất định thi hành được tốt.

Muốn vững mạnh, thì tất cả đảng viên trong chi bộ phải thật thà đoàn kết nhất trí.

Cách mạng Tháng Tám thành công, trường kỳ kháng chiến thắng lợi, một phần quan trọng là do chi bộ nông thôn đoàn kết nhất trí, vượt mọi khó khăn, lãnh đạo nhân dân, động viên thanh niên tham gia chiến đấu, động viên đồng bào hăng hái sản xuất và đóng góp. Chi bộ đã hoàn thành những nhiệm vụ Đảng đã giao cho.

Những sai lầm khuyết điểm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã ảnh hưởng nhiều đến các chi bộ ở nông thôn. Nhiều chi bộ bị đả kích nặng. Nhiều đảng viên bị xử trí sai. Nhưng, do lập trường giai cấp vững chắc, đại đa số những đồng chí bị xử trí sai vẫn một lòng tin tưởng vào Đảng.

Từ ngày sửa sai, được trả lại tự do, khôi phục đảng tịch và phân phối công tác, các đồng chí ấy lại hăng hái làm việc như xưa. Các đồng chí ấy đã đoàn kết nội bộ, đoàn kết nông thôn, ra sức thi hành chính sách của Đảng và Chính phủ. Do đó mà chi bộ lại vững mạnh, sửa sai làm được tốt.

*
* *

Tuy vậy, vẫn còn một số chi bộ chưa thật tốt, chưa thật đoàn kết. Đó là vì còn có vấn đề giữa những đảng viên bị tố sai và những đảng viên đã tố sai, giữa đảng viên cũ và đảng viên mới, giữa đảng viên trung nông và đảng viên bần cố nông…

Sở dĩ có tình trạng ấy là vì các đồng chí ấy chưa hiểu rõ:

– Tố sai là do sự chỉ đạo không đúng, chứ không phải các đồng chí đó cố ý tố sai. Dù sao, nay việc đã qua rồi, những đồng chí đã tố sai thì cần thành khẩn tự phê bình. Những đồng chí bị tố sai thì cần xoá bỏ sự bực tức cũ, cần ra sức đoàn kết nội bộ, đoàn kết nông thôn, để cùng nhau ra sức sửa sai cho tốt.

– Những đảng viên cũ ngày nay trước kia là đảng viên mới. Những đảng viên mới ngày nay, sau này sẽ là đảng viên cũ. Đảng ta luôn luôn phát triển, phải có đảng viên cũ, cũng phải có đảng viên mới. Có như vậy, Đảng mới càng ngày càng mạnh, mới làm trọn nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của mình.

Cho nên nhiệm vụ của đảng viên cũ là phải thương yêu, dìu dắt và giúp đỡ đảng viên mới cùng tiến bộ. Đảng viên mới thì cần phải thương yêu đảng viên cũ, học tập kinh nghiệm công tác và tinh thần phấn đấu của đảng viên cũ, để ngày càng tiến bộ thành người đảng viên tốt. Cũ và mới phải thật thà đoàn kết nhất trí, cùng nhau ra sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân.

– Là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, thì dù xuất thân từ thành phần khác nhau, cũng đều chung một đại gia đình cách mạng, đều chung một mục đích là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đều chung một lập trường là lập trường của giai cấp công nhân. Cho nên trong chi bộ không nên có sự phân biệt đồng chí này là trung nông, đồng chí kia là bần cố nông.Bất cứ là trung nông hay bần cố nông, đã là đảng viên thì đều chung một lập trường giai cấp, lập trường của Đảng. Tất cả đều phải thật sự đoàn kết nhất trí, đồng tâm hiệp lực, lãnh đạo nông thôn thi hành cho đúng chính sách của Đảng và Chính phủ.

Chi bộ thật thà đoàn kết nhất trí thì lãnh đạo được nông thôn đoàn kết nhất trí. Chi bộ và nông thôn đoàn kết nhất trí thì công việc sửa sai cũng như công việc sản xuất và mọi công việc khác tuy nhiều khó khăn phức tạp, cũng nhất định làm được tốt.

Mong các chi bộ ở nông thôn thi đua làm trọn nhiệm vụ Đảng đã giao cho.

C.B.

———————————–

Báo Nhân dân, số 1079, ngày 19-2-1957.
cpv.org.vn

Diện tích và sản lượng (1-3-1957)

Định diện tích và sản lượng cho thật đúng, là cốt để đồng bào nông dân đóng góp cho công bằng, hợp lý; do đó mà giúp sức vào việc xây dựng nước nhà.

Dưới chế độ cũ, ngoài thuế thân và thuế ruộng nặng nề, nông dân ta còn phải chịu nhiều sự bóc lột khác. Lúc đó nông dân ta làm lụng đổ mồ hôi, sôi nước mắt để đóng thuế, để làm giàu cho bọn thực dân và phong kiến, mà tự mình và gia đình mình thì suốt đời đói rách lầm than.

Chế độ ta là chế độ dân chủ nhân dân. Nhân dân làm chủ nước nhà. Nông dân làm chủ nông thôn.

Ở nông thôn, ngoài lợi ích của nông dân, Đảng và Chính phủ không có lợi ích nào khác.

Lợi ích của nông dân và lợi ích của Nhà nước là nhất trí. Nước mạnh thì dân giàu.

Nước ta là một nước nông nghiệp. Đại đa số nhân dân là nông dân. Để xây dựng nước nhà, một phần lớn lực lượng cũng do nông dân đóng góp. Sự đóng góp của nông dân trở lại phát triển lợi ích của nông dân.

Sau 80 năm bị thực dân Pháp bóc lột dã man và bị 15 năm chiến tranh tàn phá, nước ta đã lâm vào cảnh rất nghèo nàn. Thế mà chỉ trong hai năm qua, nhân dân và Chính phủ ta đã thu được nhiều thành tích to lớn trong công việc khôi phục kinh tế và phát triển văn hoá, như:

Về công nghiệp – Đã xây dựng xong 7 xí nghiệp mới, đang xây dựng 11 xí nghiệp mới, đã củng cố 28 xí nghiệp cũ.

Về nông nghiệp – Chia ruộng đất cho nông dân, khôi phục 155.000 mẫu tây ruộng hoang, hoàn thành 23 hệ thống thuỷ nông tưới được hơn 126 vạn mẫu tây ruộng, củng cố hơn 3.000 cây số đê, cho nông dân vay 40.743 triệu đồng để tăng gia sản xuất, tiếp tế cho nông dân đồng bằng ngót 4 vạn con trâu bò… Nhờ vậy mà năng suất trung bình của ruộng đất đã vượt mức trước chiến tranh 36%.

Về văn hoá – Hồi còn thực dân Pháp, cả nước Việt Nam ta từ Bắc đến Nam (trong những vùng địch chiếm) chỉ có hơn 54 vạn học trò. Hơn 85% nhân dân là mù chữ.

Ngày nay chỉ ở miền Bắc, chúng ta đã có hơn 83 vạn học trò. Bình dân học vụ thì phát triển khắp nơi.

Trên đây chỉ kể tóm tắt mấy thành tích lớn. Chính phủ ta lấy tiền đâu để làm những công việc đó?

Ngoài sự giúp đỡ hết lòng của các nước anh em (tức là sự đóng góp của nhân dân các nước ấy), một phần là nhờ sự cố gắng của nhân dân ta, phần lớn là nhờ sức lao động của công nhân và thuế nông nghiệp do đồng bào nông dân đóng góp.

Nếu định diện tích và sản lượng không đúng, thì phần đóng góp của nông dân sẽ kém sút, sẽ ảnh hưởng không tốt đến công cuộc xây dựng, đến lợi ích chung của nhân dân và lợi ích riêng của nông dân.

Chính cũng vì lợi ích của nông dân mà việc định diện tích và sản lượng phải làm thật đúng, thật tốt. Làm đúng làm tốt, thì nông thôn sẽ đoàn kết chặt chẽ hơn và nông dân sẽ yên tâm, hăng hái tăng gia sản xuất hơn. Muốn làm thật đúng, thật tốt thì phải kiên quyết theo đúng đường lối chung của Đảng và Chính phủ ở nông thôn: thật thà dựa hẳn vào quần chúng bần cố nông, thật thà đoàn kết với trung nông, thật thà liên hiệp với phú nông, v.v.. Đảng viên, cán bộ và nông dân đoàn kết nhất trí, thì việc định diện tích và sản lượng (cũng như các việc khác) nhất định làm được tốt.

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 1089, ngày 1-3-1957.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện với các đại biểu nhân dân Thanh Hoá (13-6-1957)

Tôi được báo cáo hôm nay có các đại biểu phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, phụ nữ, thanh niên, các cán bộ miền Nam tập kết, các đồng chí thương binh, bệnh binh, các học sinh, các đại biểu các dân tộc, các tôn giáo, các đại biểu các gia đình liệt sĩ, các chiến sĩ thi đua, đồng bào công thương, các cháu nhi đồng và đại biểu Hoa kiều.

Tôi thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ đưa đến các đại biểu lời chào thân ái.

Trước kháng chiến tôi có đến đây một lần. Trong kháng chiến đồng bào tỉnh ta, các tầng lớp nhân dân đều tỏ ra đoàn kết tham gia kháng chiến. Tôi chỉ nói vài điểm, ví dụ: dân công đã ra sức rất nhiều, trong một chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hoá góp 12 vạn dân công vận tải lương thực cho bộ đội. Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó. Trong kháng chiến ngoài việc ủng hộ kháng chiến có những vùng du kích rất oanh liệt như Phú Lệ, Hải Thanh, chứng tỏ đồng bào ta lương giáo cực kỳ đoàn kết, vì thế ta đã thắng lợi. Cũng cần phải nhắc trong kháng chiến tất cả mọi người bằng cách này cách khác đều tham gia kháng chiến. Các cụ phụ lão đôn đốc khuyến khích con cháu tham gia kháng chiến. Thanh niên tham gia bộ đội, có các đồng chí anh hùng như đồng chí Lò Văn Bường, Phạm Minh Đức, Tô Vĩnh Diện, Lê Công Khai. Đó là những người con rất ưu tú, chẳng những làm vẻ vang cho tỉnh nhà mà còn làm vẻ vang cho cả nước ta.

Từ hoà bình lập lại, đồng bào cũng cố gắng. Do sự giúp đỡ vô tư của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em, do sự cố gắng của bản thân mà chúng ta đã khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá từng bước. Ví dụ như Thanh Hoá đã xây dựng nhà máy điện, máy nước, nhà máy phốtphát, nông trường Yên Mỹ, nhà máy giấy, máy phóng thanh. Về nông nghiệp, chúng ta có xây dựng hệ thống thuỷ lợi Bái Thượng, hai con đê sông Mã, sông Chu. Tỉnh nhà có phong trào chống hạn có kết quả. Vì những công tác trên, bốn vụ thu hoạch tốt. Tổ đổi công khá, tôi nói khá nghĩa là còn phải cố gắng nhiều. Về nông nghiệp có những chiến sĩ xuất sắc như đồng chí Trịnh Xuân Bái, Nguyễn Thế Khương… Đó là những người con ưu tú của Tổ quốc, của tỉnh nhà, là những người xung phong cho nhân dân ta noi theo. Cũng như những chiến sĩ trong kháng chiến, các chiến sĩ ấy đều làm vẻ vang cho tỉnh nhà, cho cả nước chúng ta.

Về văn hoá, bước đầu là bình dân học vụ, đồng bào Thanh Hoá cố gắng có kết quả tốt, ví dụ như xã Vĩnh Khang đã xoá xong nạn mù chữ, được Chính phủ khen thưởng, Chính phủ đang chờ khen thưởng cho thị xã Thanh Hoá. Nói như thế là để đồng bào thị xã cố gắng.

Nói chung về văn hoá, xã hội, đồng bào tỉnh ta đều có cố gắng.

Về công thương, tỉnh nhà đã phát triển, hoặc khôi phục một số cơ sở như lò chum, lò gạch, dệt vải, giúp vào quốc kế dân sinh có kết quả, nhưng cần cố gắng nữa.

Chị em phụ nữ Thanh Hoá có tinh thần cần cù lao động rất tốt. Như thế là vừa làm lợi nhà, vừa làm ích nước, mong rằng nam giới hãy thi đua với phụ nữ.

Còn thanh niên thì cũng khá như trong các việc chống hạn, hay vừa đây có phong trào lấy phân bón ruộng, tham gia sản xuất, xoá nạn mù chữ; nhưng còn phải cố gắng nữa.

Trên đây là những ưu điểm của Thanh Hoá cần cố gắng phát triển.

Bây giờ các đại biểu có sẵn sàng nghe phê bình không? (Hội nghị đồng thanh nói: Có). Một là: Đồng bào đang còn lãng phí, lãng phí nhiều. Trên kia nói đồng bào cố gắng sản xuất nhiều mà không tiết kiệm thì như nước ở chỗ này chảy ra chỗ kia, nên kết quả ít. Vì vậy nên Chính phủ đề ra tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì như gió vào nhà trống.

Trong kháng chiến ta có thực hiện khá nhiều đời sống mới như lấy vợ lấy chồng rất giản đơn, thân mật. Nhưng bây giờ thách cheo cưới không thách bằng xôi thịt như trước mà lại thách “văn minh” hơn như chè ngon, kẹo, thuốc lá. Trước thách xôi thịt hết 50 vạn đồng thì bây giờ thách chè, kẹo tốn 49 vạn 9.999 đồng. Thử hỏi có khác gì? Trước họ nội họ ngoại ăn một bữa, rồi để cho cô dâu chú rể phải mang nợ. Giờ cũng để cho cô dâu chú rể mang nợ. Như thế có tốt không? (Hội nghị trả lời: Không ạ!). Nhất là thanh niên, có tốt không? (Hội nghị đáp: Không ạ!). Mong rằng các cụ, các bà, trước là do các cụ, các bà nên đề xướng ra việc sửa chữa, còn thanh niên phải ủng hộ.

Chúng ta làm việc suốt năm, vui ngày Tết là xứng đáng, nhưng vui một cách lành mạnh thì nên vui. Tết vừa qua ta đã lãng phí nhiều, ví dụ: ngày Tết giết thịt bừa bãi, rồi không có trâu bò mà cày, như huyện Hoằng Hoá trong 3 tháng giết tới 340 con trâu bò, thế thì còn lấy gì mà tăng gia nữa? Tôi mong các cụ, các bà chống lãng phí, vì lãng phí chỉ có hại cho dân, cho nước, cho nhà, vì nó đưa đến phong tục hủ bại, rượu chè, hút xách. Một dân tộc đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, những cái đó không có thể tha thứ được.

Từ Tết đến nay, chơi bời quá độ, hát chèo hát bội lung tung. Như thế thời giờ sản xuất, nghỉ ngơi, học tập bị chơi bời lôi cuốn đi. Chơi có nên không? Nên. Nhưng phải có chừng độ. Chơi quá độ, bừa bãi, không nên. Nếu chơi nhiều thì không tăng gia sản xuất, học tập được. Ta có câu: “Lạc bất khả cực, lạc cực sinh ai” nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn.

Một điều nữa như trên đã nói, chúng ta có xây dựng về công nghiệp như nhà máy điện, nhà máy phốtphát, về nông nghiệp, thì xây dựng các công trình thuỷ lợi… để phát triển kinh tế nước nhà, như thế thì các cụ, các bà, anh em có tán thành không? Muốn xây dựng một nhà máy, một cái cống, có cần tiền không? Tiền lấy đâu ra? Không phải lấy ở túi của tôi, của các cụ, của các cháu, mà là do đồng bào góp lại để làm lợi ích cho đồng bào. Có đồng bào nói, trước kia cũng phải nôp thuế, giờ dân chủ cũng phải nộp thuế. Nói như thế có đúng không? (Hội nghị trả lời: Không ạ!). Trước ta nộp thuế là nộp cho Tây, chúng lấy mồ hôi nước mắt của nhân dân ta mà làm giàu cho chúng nó, để xây dựng bộ máy áp bức bóc lột đồng bào ta. Nhưng nay ta đóng thuế là để làm lợi cho ta.

Khi trước Bảo Đại, Toàn quyền Pháp nó muốn tiêu xài bao nhiêu thì nó bắt dân đóng góp. Hay như Ngô Đình Diệm và bà con dòng họ dâu rể nó; đồng bào góp cho nó bao nhiêu thì nó làm giàu bấy nhiêu.

Tóm lại muốn xây dựng nước nhà, Chính phủ phải có tiền, tiền đó do đồng bào góp lại. Trước hết là đồng bào nông dân đông nhất rồi đến công thương. Nếu không có tiền thì Chính phủ không xây dựng được. Vì vậy, đồng bào phải giúp Chính phủ, nghĩa là đồng bào phải nộp thuế.

Một khuyết điểm nữa của đồng bào Thanh Hoá (đây tôi nói đồng bào Thanh Hoá, đến chỗ khác tôi nói đồng bào nơi khác):

Là vay tiền của Chính phủ rồi không trả.

Vay tiền, chưa nói thuế này khác, chỉ nói vay tiền ngân hàng đã hai tỷ rồi mà không chịu trả, không trả nợ cho Chính phủ, không những hại cho Chính phủ mà còn hại cho nhân dân.

Tóm lại, đồng bào ta có những ưu điểm cần phát triển, có khuyết điểm chúng ta cần cùng nhau sửa chữa.

Bây giờ tôi nói nhiệm vụ:

– Đoàn kết, phải đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc Kinh và thiểu số, đoàn kết Nam – Bắc, đoàn kết quân dân, đoàn kết Việt – Hoa.

Theo kinh nghiệm mấy năm nay bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được hết cả. Ví dụ: lật đổ chế độ thực dân phong kiến có khó không? Khó. Thế nhưng ta đoàn kết nên ta lật đổ được. Lúc bắt đầu kháng chiến ta ở trong hoàn cảnh rất khó khăn. Pháp có hải quân, không quân, xe tăng, có những tên tướng có kinh nghiệm mấy chục năm, có khí giới của Mỹ giúp. Lúc đó cơ đồ ta chỉ có tay không mà phải đánh một kẻ địch mạnh hơn. Nhưng chúng ta đã thắng. Vì sao? Vì đoàn kết.

Đoàn kết phải biểu hiện như thế nào?

Phải biểu hiện trong việc làm là tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, để dần dần đi đến mọi người dân được cải thiện sinh hoạt, ăn no, mặc ấm. Không như thế thì không thể tiến lên chủ nghĩa xã hội và không cải thiện sinh hoạt được.

– Trước cải cách ruộng đất, đồng bào nông dân lao động không có đất cắm dùi, hoặc rất ít ruộng. Nhưng bây giờ thì đã có ruộng chưa? (Hội nghị trả lời: Có rồi ạ). Từ nghìn xưa, từ đời tổ tiên Hồng Bàng, đồng bào nông dân ước ao gì? (Hội nghị nói: Ruộng ạ). Nay đồng bào đã có ruộng, thế thì cải cách ruộng đất thắng lợi hay không thắng lợi?(Hội nghị đồng thanh đáp: Thắng lợi).

Nhưng trong cải cách ruộng đất có sai. Sai thì chúng ta sửa chữa. ở Thanh Hoá sửa bước ngắn 1 khá, bước ngắn 2 cũng khá. Tôi mong đồng bào ủng hộ nông dân sửa sai cho tốt. Trong cải cách ruộng đất, nông dân với địa chủ kình địch nhau. Giờ sai lầm là việc trong nhà. Đồng bào nông dân thắng lợi là ta thắng lợi. Ta có câu bần cố trung nông một nhà. Bần cố trung nông đoàn kết quyết tâm thì sẽ sửa chữa được tốt và quyết sửa chữa cho kỳ được.

– Trong việc khôi phục kinh tế, một mặt các nước bạn giúp nhưng ta cố gắng là chính. Nước bạn giúp ta máy móc, nhưng chưa đủ, chúng ta phải mua. Muốn mua phải có tiền. Không phải tiền ta đưa ra mua được. Vì vậy chúng ta phải bán cái gì ra để mua máy móc, hàng hoá vào. (Nhưng mặt khác phải làm thế nào để bớt cái mua vào). Ví dụ: làm chè bán ra, mua vải, thuốc uống, máy móc về. Ta có Nhà máy sợi Nam Định để dệt vải và cung cấp sợi. Muốn thế phải có cái gì? Phải có bông. Bông ở đâu ra? ở nhân dân. Thế thì nhân dân phải bán bông cho Chính phủ. Nếu không bán cho Chính phủ thì làm thế nào được. Còn bán các thứ hàng khác cho Chính phủ như lạc, vừng… nữa. Vì vậy mong đồng bào bán nông sản cho Chính phủ.

– Một điểm nữa: năm nay khí hậu khác thường. Trung Quốc cho biết sẽ có bão lụt to. Trước đây vì ta đoàn kết nhất trí nên chống bão lụt thắng lợi. Năm nay việc hộ đê chống bão rất quan trọng. Thà đắp đê cao một tí, chuẩn bị nhà cửa trước, nếu không có bão lụt cũng không sao, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì thiệt hại lớn. Đắp đê chống lụt bão phải kịp thời.

– Một điểm nữa: vệ sinh phòng bệnh, nghe nói đồng bào ta bị cúm nhiều. Một phần do thời tiết. Nhưng một phần do chưa thực hiện đúng vệ sinh phòng bệnh. Nếu chúng ta chú ý vệ sinh phòng bệnh thì tránh được bệnh. Ta thường nói phòng bệnh hơn chữa bệnh.

– Về bình dân học vụ, tỉnh ta có tiến bộ, có xã như Vĩnh Khang đã xoá nạn mù chữ, nhưng phải cố gắng hơn nữa. Chủ lực quân trong mặt trận văn hoá là thanh niên, các cháu biết chữ giúp được cả. Văn hóa phải phục vụ sản xuất tiết kiệm, phục vụ nhân dân, phục vụ đoàn kết, phục vụ Tổ quốc.

Cần xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục. Các đồng chí nước bạn sang ta nói nhân dân Việt Nam rất cần cù, giản dị. Thuần phong mỹ tục là đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau sản xuất, tiết kiệm, vì vậy nên cần phát triển thuần phong mỹ tục. Việc đó nhờ các cụ giúp nhiều, tất cả đồng bào ủng hộ, nhất định làm được.

Trước kháng chiến tôi có đến đây (1) . Hồi đó tôi có khai hội với đồng bào, đồng bào có hứa với tôi: “Tỉnh Thanh Hoá sẽ thành một tỉnh kiểu mẫu”. Thế bây giờ tôi hỏi lại tất cả các cụ, các đại biểu có giữ được lời hứa không? (Toàn thể đại biểu đồng thanh nói to: Có). Rất tốt!

Tôi về Thanh Hoá muốn đi thăm chỗ này chỗ khác, nhưng thời giờ hẹp quá, tôi nhờ các cụ, các đại biểu chuyển lời thăm của tôi đến đồng bào địa phương.

————————————

Nói ngày 13-6-1957.
Sách Thanh Hoá khắc sâu lời Bác, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thanh Hoá, 1975, tr.35-42.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin nǎm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

cpv.org.vn

Cách mạng Tháng Mười vĩ đại soi sáng con đường đưa chúng ta tới hạnh phúc (7-1957)

Khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra ở nước Nga, tôi sống ở Pháp. Lúc đó, tôi chưa hiểu ý nghĩa của cuộc Cách mạng Nga. Trình độ tiếng Pháp của tôi còn kém và nhận thức chính trị của tôi còn bị hạn chế. Tôi mới chỉ là một người yêu nước có tinh thần cách mạng và một người chống chủ nghĩa thực dân. Nhưng ngay lúc đó, trên đường phố Pari tôi đã phân phát những tờ truyền đơn yêu cầu trao trả độc lập cho Việt Nam, tôi đã gặp gỡ nhiều công nhân Pháp. Đó là những con người rất tốt, có thái độ chân thành và có cảm tình với nhân dân Việt Nam. Họ giúp tôi gần gũi với Đảng Xã hội Pháp, là đảng mà tôi đã tham gia năm 1919. Những người vô sản Pháp đã giúp tôi hiểu rõ ý nghĩa vĩ đại của những sự kiện lịch sử diễn ra ở nước Nga.

Lúc bấy giờ, trong Đảng Xã hội Pháp đã nổ ra cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề Đảng phải đứng vào hàng ngũ của Quốc tế nào. Trong Đảng, có những người tán thành Quốc tế thứ ba (32) và cũng có người theo những quốc tế cải lương là Quốc tế thứ hai (33) và Quốc tế thứ hai rưỡi (34) . Là một đảng viên mới của Đảng Xã hội, có lúc tôi thấy khó phân tích được các cuộc tranh luận, hình như tất cả mọi người đều đúng. Nhưng tôi rất thích tham dự những cuộc tranh luận sôi nổi đó, thích đọc các tác phẩm của V.I. Lênin nói về các vấn đề thuộc địa. Tại Đại hội nổi tiếng ở Tua năm 1920 (35) , khi phải xác định rõ thái độ của mình đối với các Quốc tế, tôi đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba. Tại sao? Chính là vì Quốc tế thứ ba đấu tranh để giải phóng các dân tộc bị áp bức, còn các đại biểu của Quốc tế thứ hai, trong tất cả những lời phát biểu của họ, đã ra sức lảng tránh vấn đề vận mệnh của các thuộc địa.

Đó là nguyên nhân chủ yếu khiến tôi đứng dưới ngọn cờ của Quốc tế thứ ba. Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tiến hành tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế.

Trong những năm 1921-1922, khi nước Cộng hoà xôviết non trẻ vừa mới đẩy lùi sự can thiệp của bọn đế quốc và đánh tan bọn phản cách mạng trong nước, bị lâm vào nạn đói, thì những người lao động Pháp đã phát động một phong trào giúp đỡ nhân dân Nga. Tôi tham gia phong trào đó và thu nhặt tất cả những thứ mà người ta có thể góp vào quỹ đoàn kết với những người lao động của đất nước xôviết.

Năm 1924, lần đầu tiên tôi đến Liên Xô (1) . Trong những ngày ở Pháp có phong trào giúp đỡ giai cấp vô sản Nga, tôi đã nghe nói – và trong thời gian tôi đến Liên Xô lần đầu, tôi đã thấy đất nước xôviết phải bắt đầu con đường đi của mình trong những điều kiện khó khăn như thế nào.

Mấy năm sau, tôi lại tới Liên Xô. Thật khó mà kể lại được chủ nghĩa anh hùng hết sức vĩ đại và tinh thần hy sinh quên mình của những công nhân và nông dân đã bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, cũng thấy rõ những thành tựu đầu tiên của nhân dân Liên Xô. Bước tiến nhanh chóng của đất nước xôviết, bất cứ thành tựu nào của đất nước đó đều gây ra trong trái tim của mỗi người cách mạng niềm vui và niềm hạnh phúc, đều làm cho chúng tôi đầy lòng tự hào về sự nghiệp của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.

Cách mạng Tháng Mười ảnh hưởng tới Việt Nam tương đối chậm. Sở dĩ như vậy là vì bọn thực dân Pháp đã kìm giữ, nói đúng ra là hoàn toàn cô lập đất nước này, chúng tìm mọi cách để cố gắng ngăn cản không cho những sự thật về Liên Xô lọt vào nước chúng tôi và đồng thời chúng lại tung ra những tin tức dối trá về Liên Xô. Mặc dù vậy, những người cách mạng Việt Nam đã kiên trì đi tìm và đã tìm thấy sự thật. Dần dần, họ đã biết rõ toàn bộ ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười. Đối với nhân dân và đặc biệt là đối với những người cách mạng, Cách mạng Tháng Mười vĩ đại là ngọn đèn pha soi sáng cuộc đấu tranh cho tự do và hạnh phúc. Cách mạng Tháng Mười đã đem lại cho chúng tôi chủ nghĩa Mác – Lênin. Học thuyết bất hủ đó đã vạch ra con đường mà chúng tôi phải đi theo.

Có thể nói rằng nếu không có Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thì nhân dân Việt Nam không thể hoàn thành được cuộc Cách mạng Tháng Tám của mình. Việc quân đội Liên Xô đánh tan bọn phát xít Hítle và bọn quân phiệt Nhật là một nhân tố góp phần lớn nhất vào thắng lợi của chúng tôi hồi tháng Tám năm 1945.

Ngày nay, với sự giúp đỡ anh em của Liên Xô, của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và của các nước xã hội chủ nghĩa khác, nhân dân chúng tôi đang xây dựng cuộc sống mới. Tóm lại, đúng như Giônrít, một người Mỹ, đã nói một cách đúng đắn, Cách mạng Tháng Mười đã làm rung chuyển toàn thế giới.

Sau đó ít lâu, nhân dân mười một nước nữa đã đi vào con đường xã hội chủ nghĩa. Sớm hay muộn, tất cả các nước đều sẽ đi theo con đường đó.

Tất nhiên, các dân tộc xây dựng xã hội mới, đang gặp phải và sẽ gặp phải những khó khăn nhất định. Nhưng chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng những lời nói sau đây của Lênin sẽ thành sự thật, sớm hoặc muộn, tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, những người lao động trên toàn thế giới vui mừng chuẩn bị đón chào ngày kỷ niệm 40 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại. Ngày kỷ niệm vinh quang đó đồng thời cũng là ngày hội của nhân dân Việt Nam. Đối với những người lao động Việt Nam, việc kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười là sự kiện lớn và thân thiết đối với họ. Chúng tôi hoàn toàn đồng lòng với công nhân, nông trang viên và giới trí thức nhân dân của Liên Xô. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và nhìn xa của Đảng Cộng sản Liên Xô mácxít lêninnít, nhân dân Liên Xô anh hùng đang xây dựng thắng lợi chủ nghĩa cộng sản. Tấm gương của Liên Xô càng cổ vũ nhiều hơn nữa các nước anh em trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chính như thế là góp phần củng cố hoà bình trên toàn thế giới.

—————————————

Sách Hồ Chí Minh: Về Lênin, chủ nghĩa Lênin và tình hữu nghị Xô – Việt không gì phá vỡ nổi, Nxb. Chính trị, Mátxcơva, 1970, tr.112-115.

(1) Hội nghị Giơnevơ: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao của một số nước họp từ ngày 26-4 đến ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Hội nghị này được triệu tập theo chủ trương của Hội nghị Béclin năm 1954. Chương trình thảo luận của Hội nghị gồm 2 vấn đề: giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Do thái độ ngoan cố của Mỹ và các nước chư hầu đã tham gia chiến tranh Triều Tiên, cuộc thảo luận về vấn đề Triều Tiên không thu được kết quả.

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được Hội nghị Giơnevơ thảo luận. Phái đoàn Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn tham gia Hội nghị với tư thế đoàn đại biểu của một dân tộc chiến thắng.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia; quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc Tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956. Tr.7.

(32) Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản): Một tổ chức cách mạng của giai cấp vô sản quốc tế, trung tâm lãnh đạo phong trào công nhân thế giới.

Tháng 3-1919, dưới sự lãnh đạo của Lênin, các đảng cộng sản, nhóm cộng sản của 30 nước đã tiến hành Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva. Quốc tế Cộng sản có vai trò lịch sử và công lao to lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Quốc tế Cộng sản rất chú trọng đến vấn đề giải phóng dân tộc. Những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã đặt nền tảng cho việc giải quyết đúng đắn những vấn đề phức tạp của công cuộc giải phóng dân tộc. Tại Đại hội lần thứ VII (1935), Quốc tế Cộng sản đã đề ra chủ trương lập Mặt trận nhân dân chống chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh.

Tháng 5-1943, căn cứ vào hoàn cảnh mới, Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản với sự tán thành của đại đa số các đảng cộng sản, đã thông qua nghị quyết tự giải tán. Tr. 440.

(33) Quốc tế thứ hai: Thành lập năm 1889 tại Đại hội Liên minh quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa khai mạc tại Pari (Pháp) theo sáng kiến của Ph. ăngghen. Quốc tế thứ hai đã có tác dụng phổ biến chủ nghĩa Mác về bề rộng, đã đánh dấu thời kỳ chuẩn bị cơ sở để cho phong trào cách mạng phát triển rộng rãi trong nhân dân lao động ở nhiều nước.

Sau khi ăngghen mất, cơ quan lãnh đạo của Quốc tế thứ hai rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa, bọn này đã xét lại học thuyết cách mạng của Mác và hoạt động chống phá phong trào công nhân các nước.

Về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế thứ hai ủng hộ chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước thuộc địa. Tr. 440.

(34) Quốc tế hai rưỡi: Tên gọi chính thức là Liên hiệp quốc tế các đảng xã hội chủ nghĩa, là tổ chức quốc tế của các đảng và các nhóm xã hội chủ nghĩa phái giữa đã ly khai Quốc tế thứ hai do sức ép của quần chúng cách mạng. Tổ chức này được lập ra vào tháng 2-1921 tại hội nghị đại biểu ở Viên. Trên lời nói, những người cầm đầu Quốc tế hai rưỡi công kích Quốc tế thứ hai, nhưng trên thực tế, đối với tất cả các vấn đề quan trọng nhất của phong trào vô sản, họ đã tiến hành một chính sách cơ hội chủ nghĩa, chia rẽ trong giai cấp công nhân và mưu toan sử dụng liên minh được tạo ra này để chống lại ảnh hưởng ngày càng lớn của những người cộng sản đối với quần chúng công nhân.

Tháng 5-1923, Quốc tế thứ hai và Quốc tế hai rưỡi hợp nhất lại thành cái gọi là Quốc tế công nhân xã hội chủ nghĩa. Tr. 440.

(35) Đại hội Tua: Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, họp tại thành phố Tua (Pháp), từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920. Đại hội đã quyết định gia nhập Quốc tế Cộng sản, với đa số phiếu tuyệt đối (3.208 phiếu tán thành, 1.022 phiếu chống), và lập ra Đảng Cộng sản Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc đó mang tên Nguyễn Ái Quốc, đảng viên Đảng Xã hội Pháp, tham gia Đại hội với tư cách là đại biểu Đông Dương. Người đã đọc bản tham luận quan trọng lên án mạnh mẽ chủ nghĩa thực dân, nêu rõ tầm quan trọng của cách mạng thuộc địa và trách nhiệm của những người mácxít đối với cuộc cách mạng ấy. Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, mở đường cho cách mạng Việt Nam ra khỏi cuộc khủng hoảng về đường lối. Tr. 441.

cpv.org.vn