Thư viện

Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris

(Dân trí) – 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Dưới đây là bài viết của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhân dịp kỉ niệm 40 năm Hội nghị Paris.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình MinhBộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh

Ngày 27/01/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc. Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/01/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” .  Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
dantri.com.vn

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.
(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.
(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973

– 140 bức ảnh, 23 hiện vật, 3 bộ tài liệu đồ sộ…giới thiệu trong triển lãm kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris đang được mở cửa tại 29 Hàng Bài, Hà Nội thu hút sự chú ý của rất nhiều người.

Điều đặc biệt của triển lãm này là ngoài những hiện vật và bức ảnh quý, lần đầu tiên văn bản gốc Hiệp định Paris 1973 được trưng bày sau đúng 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử này.

Với quy mô của triển lãm được đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay, công chúng sẽ có dịp được tìm hiểu kĩ hơn về ý nghĩa lích sử của Hiệp định Paris về Việt Nam, về ý chí và khát vọng của nhân dân Việt Nam trong việc giành độc lập, tự do, qua đó cho thấy nghệ thuật ngoại giao tài tình của những con người đã từng tham gia vào phái đoàn ngoại giao ngày đó.

Toàn cảnh buổi khai mạc Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kléber, Paris.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại sân bay Bourgert khi đến Paris đàm phán với Mỹ (9/5/1968)

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)

Đại diện 4 bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ; Cộng hòa Việt Nam) ký hiệp định Paris (27/1/1973).

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)

 

Đại diện 12 nước ký Định ước tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam; Tổng thư ký Liên hợp quốc Kurt Waldheim chứng kiến Lễ ký với tư cách là quan sát viên tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, Paris, ngày 2/3/1973.

Hai chiếc bút được dùng để ký kết Hiệp định Paris năm 1973

Trên thân bút khắc rõ thông tin liên quan đến ngày ký kết Hiệp định Paris.

Văn bản gốc cuốn Hiệp đình Paris lần đầu tiên được mang ra trưng bày trước công chúng.

 

Những cuốn hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao được phái đoàn của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày đó sử dụng.

Con dấu của Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một cuốn sách cực lớn là tập hợp chữ ký của nhân dân Cu Ba ủng hộ nhân dân Việt Nam là một hiện vật quý và rất có giá trị.

Những cuốn sách viết về nghệ thuật ngoại giao cũng như qua trình đám phán đấu tranh để giành độc lập dân tộc cũng được trưng bày tại triển lãm.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris.

Có rất nhiều người dân quan tâm đã chủ động đến và tham quan triển lãm để tìm hiểu và nhớ lại những kỉ niệm về một thời kì lịch sử của đất nước.

Bức ảnh được cho là gây ấn tượng nhất tại triển lãm là bức hình cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt nam như một mốc son sáng chói với “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”  hay còn gọi là hiệp định Paris.

Hiệp định đã buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dẫn đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Vi Vi
vietnamnet.vn

Dân tộc và thời đại với nội hàm mới…

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy.

LTS: Nhân 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã phát biểu như trên với nhóm phóng viên Tuần Việt Nam về quan điểm lịch sử khi đánh giá ý nghĩa của Hiệp định và về những kinh nghiệm trong quan hệ với các cường quốc tại hòa đàm Paris. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

Việt Nam trên bàn cờ các nước lớn
Trên ván cờ nước lớn: Từ Geneva đến Paris
Việt Nam với nước lớn hay chuyện lòng tin và lợi ích
Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước
‘Nước Đại Nam đối diện với Mỹ và Trung Hoa’

– Lùi lại 40 năm sau sự kiện chấn động thế giới, giờ đây các nhà nghiên cứu quốc tế, từ nhiều góc nhìn khác nhau, nhận xét Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 như một “tao đoạn kỳ lạ” (strange interlude), một “cự ly an toàn” (decent interval) trong cuộc chiến. Xin ông bình luận?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Nhận xét Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như một “strange interlude” là muốn nói tới “thời gian giải lao” giữa hai trận đánh. Trên thực tế, các hoạt động quân sự và ngoại giao đâu có dừng lại trong thời đoạn từ lúc ký Hiệp định cho đến khi tổng tấn công và nội dậy!

Còn “cự ly an toàn” là muốn nói về ý đồ của Nixon vừa muốn tái cử, vừa muốn giữ Thiệu. Tuy nhiên, do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn, nên cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ.

Nhưng vượt lên các thuật ngữ ấy là vấn đề triết lý lịch sử, nhất là khi chúng ta đã qua một thời gian khá dài, lùi lại 40 năm như phóng viên vừa nói.  Về phương pháp luận, phải biết dựa vào những dữ kiện có thật, chứ không thể chỉ dựa vào cảm quan của người viết

Có thể có chút phóng đại, nhưng tôi chia sẻ với nhận xét, có một lịch sử như nó diễn ra và một lịch sử như nhà sử học viết ra…

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt…. nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán! Ảnh Lê Anh Dũng.

Phương án đấu tranh ngoại giao

Hiệp định Paris về Việt Nam, ngay như tên gọi đã có phần thiếu chính xác, một “misnomer” (gọi sai!). Tiếng là Hiệp định hòa bình năm 1973, nhưng trên thực tế, mãi tới ngày cuối cùng của tháng 4/1975, hòa bình thực sự mới được vãn hồi, nhưng nền hòa bình ấy được lập lại không theo cách mà các điều khoản của Hiệp định quy định. Ông bình luận như thế nào về nhận định này của GS Kolko, tác giả một trong những cuốn sách “best seller” về sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta, cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến”?

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nói.

Hiệp định là phương án đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Và như mọi dự án chính trị trong lịch sử, đó là sự thỏa hiệp giữa các bên tham gia cuộc đàm phán ma-ra-tông. Phương án này phản ánh so sánh thế và lực giữa các bên, phản ánh các tình huống trong cuộc chiến vào thời điểm các bên quyết định ký kết để chấm dứt một giai đoạn, phục vụ cho ý đồ chính trị, quân sự của giai đoạn tiếp theo.

Một trong những điểm mấu chốt là ý đồ của các bên không giống nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau. Cả bốn bên đều ý thức rõ điều này khi chấp thuận đặt bút ký. Vì vậy mới có định nghĩa kinh điển “ngoại giao là nghệ thuật của những điều không thể”.

Việc lập lại hòa bình đã không diễn ra như các điều khoản của Hiệp định không hề giảm giá trị đích thực của Hiệp định, bởi vì lịch sử không bao giờ đứng yên. Lịch sử như một tiến trình và khi tiến trình ấy vận động thì nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai, mà tùy thuộc vào diễn tiến khách quan của nhiều nhân tố. Bao giờ cũng có một giả thiết lịch sử và một thực tế lịch sử như tôi đã nói ở trên; sự giao thoa giữ hai mảng này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tương quan lực lượng và tùy thuộc vào tương tác giữa các nhân tố chủ đạo trong quá trình vận động. Trên thực tế, nội dung Hiệp định đã mở ra nhiều “không gian trống” cho các tình huống về sau này…

Vâng, như chúng ta thấy, mặc dầu ký Hiệp định, nhưng Nixon vẫn tuyên bố, Mỹ chỉ công nhận Việt Nam Cộng hòa do Thiệu cầm đầu là chính phủ hợp pháp duy nhất. Điều này có nghĩa là Mỹ chỉ ủng hộ những nội dung nào của Hiệp định có lợi cho Mỹ và bỏ qua những phần còn lại.

Đến lượt mình, chính quyền Thiệu cũng từ chối công nhận chính quyền cách mạng và chỉ chịu ký một văn bản tách rời, loại trừ mọi ám chỉ liên quan đến công nhận chính phủ cách mạng lâm thời. Tại sao lại có sự tréo ngoe như thế?

Đấy là phương thức của thỏa hiệp, mà căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm. Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống” như tôi đã đề cập ở trên.

Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau.

Vì các bên không công nhận nhau, đó là cơ sở khách quan để chính quyền cách mạng chủ động thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi trên chiến trường về sau.

Quan hệ nước lớn với nước nhỏ

Ông đánh giá như thế nào về việc xử lý các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn liên quan đến quá trình đàm phán Paris? Làm thế nào mà chúng ta vẫn đạt mục tiêu trong bối cảnh có chia rẽ sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc?

Đây là một chủ đề lớn, phức tạp nhưng rất bổ ích, nó không chỉ liên quan đến hòa đàm Paris, mà còn là “nguồn mạch chính” vận động hữu hình và vô hình trong quan hệ quốc tế giữa nước lớn với các nước nhỏ nói chung, cũng như trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam nói riêng.

Với tư cách là một cán bộ ngoại giao được chứng kiến sự chỉ đạo sát sao và trực tiếp của Bộ Chính trị, tôi nhận thức được một số nguyên tắc cơ bản để xử lý mối quan hệ với các nước lớn, dù đó là bạn bè, đồng minh hay đối thủ.

Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại. Ảnh Lê Anh Dũng.

Ta đã giữ được quan hệ “cân bằng động” giữa Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ tích cực của cả hai đồng minh lớn, mặc dù mỗi nước giúp Việt Nam tùy thuộc vào khả năng và xuất phát từ yêu cầu chiến lược của mình. Các đồng minh lớn của ta, tuy bất đồng nhau, nhưng vẫn ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta, vì một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: “Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”

Với chính quyền Mỹ, ta đã chủ động có các cuộc tiếp xúc, tìm hiểu, gián tiếp và trực tiếp, nắm được yếu điểm cũng như điểm yếu chiến lược của siêu cường lúc bấy giờ để chuẩn bị các phương án đấu tranh.

Thời kỳ khó khăn nhất là năm 1972, lúc cả Trung Quốc và Liên Xô đều đi vào hòa hoãn với Mỹ, ta phải đối mặt với sức ép từ nhiều phía khác nhau, nhưng rồi đều vượt lên được, nhờ đường lối độc lập, tự chủ kết hợp với chủ trương đoàn kết quốc tế. Trong quá trình đàm phán ta đã tối ưu hóa các phương thức tập hợp lực lượng quốc tế, đồng thời tìm mọi cách tác động vào nội bộ đối phương, chuyển hóa tương quan lực lượng theo hướng có lợi cho cách mạng.

Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng. Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng.

Và ngành ngoại giao đã có những đóng góp như thế nào để phát huy mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực của tình hình quốc tế trong thời gian hòa đàm?

Căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm.

Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống”. Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau

Ngành ngoại giao đã thực hiện tốt chức năng là “khớp nối mềm” giữa đất nước với thế giới, đã thực hành tốt bài học lớn của cách mạng Việt Nam là “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại”. Nhờ đó, chúng ta đã hình thành nên mặt trận rộng lớn nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Về nghiên cứu chiến lược, ngoại giao đã đi trước một bước trong phân tích tình hình, đánh giá ý đồ của các bên liên quan. Chúng ta đã phát huy được vai trò tích cực và chủ động của ngoại giao, áp dụng phương thức vừa đánh vừa đàm. Biết người biết ta, biết cách kết thúc chiến tranh, đó là những bài học không bao giờ cũ cả.

Dân tộc/thời đại bối cảnh mới

Ý ông muốn nói tới bài học thời sự của Hiệp định đối với hoạt động đối ngoại của ta hiện nay?

Hoàn toàn chính xác!

Nhưng như tôi đã nói, lịch sử chuyển động không ngừng, vì vậy, khi áp dụng các bài học trước đây phải luôn ý thức được nội dung mới trong những khái niệm cũ. Nói kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì giờ đây phải hiểu rằng cả hai vế trong định đề ấy đã có nhiều thay đổi.

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy. Có như vậy, mới có sức mạnh tổng hợp và vị thế Việt Nam mới thực sự vững chắc.

Các quốc gia nói chung và các cường quốc nói riêng đang rất thiếu nền tảng của văn hóa khoan dung. Cái tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Đấy cũng là căn nguyên của việc trước đây các bên ký Hiệp định đã không tận dụng được tối đa cái cơ hội, cái triết lý của Hiệp định đã mở ra.

Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!

Ngày nay, chúng ta đang thực thi chính sách hội nhập toàn diện. Trong xu thế ấy, hẳn nhiên, một nền ngoại giao hiện đại là một nền ngoại giao phải xuất phát từ tâm thức văn minh thời đại, biết lấy các giá trị phổ quát làm động lực phát triển. Đó là cơ sở để bảo vệ các lợi ích quốc gia một cách hiệu quả! Trong quá trình này, vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn để cốt tử của cách mạng.

Hãy nhớ hai vế đối trên mộ Nguyễn Trường Tộ: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ”; có thể hiểu là: “Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời / Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm!”.

Phương Loan – Hoàng Lâm (thực hiện)
vietnamnet.vn

Việt kiều Pháp hết lòng vì Hiệp định Pari

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định pari (27/1/1973 – 27/1/2013)

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Pari (27/1/1973 – 27/1/2013), phóng viên TTXVN tại Pháp đã gặp gỡ một số Việt kiều từng chứng kiến và tham gia tích cực các hoạt động ủng hộ đoàn đại biểu Việt Nam tham dự cuộc đàm phán, góp phần không nhỏ vào thành công của hội nghị.

Bác Nguyễn Văn Bổn.

40 năm trước, đa số Việt kiều sang Pháp để du học, đoàn tụ gia đình…, là những thanh niên tuổi đôi mươi, cùng tập hợp dưới mái nhà chung là “Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp” với mục tiêu ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hội lúc đó gồm nhiều tổ chức như: Hội sinh viên Việt Nam, Liên hiệp trí thức Việt Nam, Hội công nhân, Hội thương gia, Hội phụ lão, Hội y học… Đến cuối năm 1975, sau khi nước nhà đã hoàn toàn thống nhất, Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp tự giải tán; Việt kiều tại Pháp tập hợp trong “Hội người Việt Nam tại Pháp” (UGVF), ra đời năm 1976 và tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay. Nhớ lại chặng đường lịch sử cách đây 40 năm khi diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật để đi đến ký kết Hiệp định Pari, ký ức của những Việt kiều năm xưa như vẫn còn vẹn nguyên, khiến các bác không khỏi xúc động.

Bác Nguyên Văn Bổn, từng là Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam và nay là Phó Chủ tịch UGFV, cho biết, thời kỳ đó, các tổ chức hội đều tham gia hỗ trợ các phái đoàn đàm phán bằng cả tấm lòng của một con dân đất Việt. Hàng ngày, ba bộ phận cùng phối hợp làm việc là nhóm làm báo, dịch tài liệu, nhóm chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong đoàn và nhóm theo dõi hoạt động của đối phương. Còn có một bộ phận khác theo dõi thông tin liên quan đến dư luận của nhân dân Pháp, Việt kiều, sinh viên… đối với cuộc kháng chiến của dân ta. Cứ vào thứ ba hàng tuần, các nhóm lại họp với ông Nguyễn Minh Vy và bà Nguyễn Thị Trơn, thư ký của bà Nguyễn Thị Bình – Trưởng đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, ông Phan Văn Soàn (Phan Nam)…

Những người trực tiếp làm công tác tuyên truyền đã thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các buổi mít tinh để giải thích về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta và thông báo về diễn biến của cuộc đàm phán. Thông qua các cuộc làm việc, khi gián tiếp, khi trực tiếp với các đồng chí Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và một số người có trách nhiệm trong phái đoàn đàm phán của ta, Việt kiều đã nắm được diễn biến trên bàn đàm phán.

Bác Bổn nhớ rất rõ một điều là để đảm bảo bí mật, ai làm việc gì thì chỉ biết việc đó, tránh để bị theo dõi. Trong nhiều cuộc họp, đồng chí Lê Đức Thọ viết ra giấy những việc quan trọng, đưa cho mọi người xem xong rồi xé đi luôn.

Đối với bác Bổn, kỷ niệm sâu sắc nhất gắn liền với cuộc đàm phán Hiệp định Pari là hình ảnh lá Cờ đỏ Sao vàng trên chiếc xe ô tô chở đồng chí Xuân Thủy bay phấp phới trên đường phố Pari khi bác cùng đoàn bà con Việt kiều đón đoàn từ sân bay Bourget về nơi ở. “Bà con Việt kiều rất hãnh diện và cảm động. Hình ảnh đó đã cho thấy sự công nhận của quốc tế, ít nhất là của Pháp, đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Vì thời gian đó, lá Cờ đỏ Sao vàng của Việt Nam bị cấm nghiêm ngặt và chỉ được xuất hiện tại các cuộc họp nội bộ bí mật.

Bác Bùi Thanh Tùng.

Cùng chung những tâm sự của bác Bổn, bác Bùi Thanh Tùng, hiện nay là Tổng thư ký UGVF, cho biết bác sang Pháp năm 1967, với nhận thức chính trị còn chưa đầy đủ do bị chính quyền Sài Gòn bưng bít thông tin. Nhưng khi được tiếp xúc với bạn bè, các nhà trí thức, bác đã được giác ngộ. Chính vì thế, giai đoạn 1968 -1972, bác thường xuyên hoạt động trong phong trào Liên hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp. Như nhiều sinh viên khác, bác có nhiệm vụ tổ chức, hỗ trợ các cuộc biểu tình, hội thảo, sinh hoạt của giới trí thức, các cuộc gặp gỡ với bạn bè ở Pháp để giúp họ hiểu về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Tại các ký túc xá sinh viên, nhiều buổi hội thảo kéo dài cho đến khuya; nhiều cuộc tranh cãi, thảo luận diễn ra căng thẳng vì không phải lúc nào bạn bè, sinh viên quốc tế cũng có cùng suy nghĩ với ta. Nhưng nhìn chung, các bạn sinh viên quốc tế đều ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Bác Tùng tâm sự: “Cuộc đời tôi có nhiều dấu mốc mà dấu mốc lớn nhất là tôi đã biết tin vào cách mạng và biết đâu là chính nghĩa”. Bác không thể quên được hình ảnh, sáng sớm ngày 27/1/1973 lịch sử, dòng người đứng thành hàng dài hai bên cửa Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, nơi diễn ra lễ ký kết Hiệp định Pari, với Cờ đỏ Sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cờ xanh, đỏ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam để bày tỏ sự ủng hộ cho hòa bình của Việt Nam cũng như chiến thắng của nhân dân Việt Nam.

Bác Bùi Thanh Tùng.

Cách đây 40 năm, cô Thérèse Nguyễn Văn Ký – nay đã hơn 80 tuổi, là Chủ tịch UGVF – là bác sỹ được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho đoàn đàm phán và bà con Việt kiều. Vóc người nhỏ nhắn, “cô” dường như được ông trời phú cho một sức khỏe thật dẻo dai, làm việc không biết mệt mỏi. Vì điều kiện công tác bí mật, ngay cả những người thân trong gia đình cũng không được biết những việc làm của cô.

Sau 40 năm, đến nay “cô” vẫn thường đau đáu nhớ về hình ảnh Lá Cờ đỏ Sao vàng tung bay trên đường phố Champs Elysées ở trung tâm thủ đô Pari như lời khẳng định thắng lợi của các cuộc đàm phán về hòa bình ở Việt Nam.

Cộng đồng người Việt ở Pháp chào mừng chiến thắng lịch sử ngày 27/1/1973.

Còn bác Đoàn Hữu Trung 40 năm trước được giao nhiệm vụ tiếp xúc với bà con Việt kiều, tổ chức các cuộc mít tinh ở những nơi có bà con Việt kiều và giúp đỡ đoàn đàm phán. Ngoài kỷ niệm riêng là con gái đầu lòng của bác được sinh ra đúng những năm tháng diễn ra đàm phán, bác luôn nhớ đến thời gian sống và làm việc cùng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu. Bác cảm thấy mình thật may mắn khi được gần với cách mạng.

Nói sao cho hết những cống hiến và đóng góp của bà con Việt kiều Pháp đối với thắng lợi của cuộc đàm phán tại Pari đi đến ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, cũng như thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam.

Lê Hà – Nguyễn Tuyên – Trung Dũng (P/v TTXVN tại Pháp)
baotintuc.vn

“Học hỏi được nhiều bài học quý giá từ Hiệp định Paris”

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Triển lãm Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, ngày 25/1. (Ảnh: THTT)

Dù khá mệt sau chuyến công tác nhưng chiều nay (25/1), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh vẫn đến thăm quan và chúc mừng triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam” tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 29 Hàng Bài, Hà Nội.

“Tôi xem toàn bộ những bức ảnh và thực sự xúc động, cảm phục ý chí của các bậc lãnh đạo Nhà nước ta và đặc biệt các thế hệ ngoại giao đàn anh đã đấu tranh rất kiên cường, bền bỉ, thông minh để đi đến thắng lợi. Họ đã thể hiện bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam, nền ngoại giao của một dân tộc mới phát triển với một nền ngoại giao nhà nghề trong suốt Hội nghị Paris. Cuộc đấu tranh đã hoàn toàn thắng lợi, đưa đến ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam,” Bộ Trưởng chia sẻ.

Hội nghị Paris về Việt Nam và quá trình đi đến thương lượng để ký kết Hiệp định Paris không chỉ là thắng lợi to lớn về mặt quân sự mà còn là thắng lợi to lớn về mặt ngoại giao. Thắng lợi đó cũng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho các thế hệ những nhà làm ngoại giao sau này. Chính vì thế, Bộ Trưởng Phạm Bình Minh cho biết thế hệ những người làm ngoại giao như ông đã học hỏi được từ đó nhiều bài học quý giá.

“Đầu tiên đó là sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ các chủ trương, tiến trình đàm phán trong Hội nghị Paris. Bộ Chính trị đã trực tiếp chỉ đạo rất chặt chẽ cùng sự thực hiện nghiêm túc của đoàn đàm phán đối với toàn bộ những chỉ thị của Trung ương Đảng. Trong triển lãm hôm nay cũng đã đưa ra rất nhiều bản nghị quyết, những ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và có thể nói kết quả của Hội nghị Paris đã phản ánh việc thực hiện toàn bộ những chỉ đạo đó,” Bộ Trưởng nói.

Bài học thứ hai, theo ông Phạm Bình Minh, đó là sự độc lập, tự chủ trong hoạt động ngoại giao. Bởi trong quá trình đàm phán có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng của các nước bên ngoài nhưng chúng ta vẫn giữ vững được độc lập, tự chủ và đưa ra những quyết sách rất quan trọng.

Bên cạnh đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao và chỉ có những chiến thắng trên chiến trường mới đảm bảo được đàm phán trong ngoại giao của chúng ta đạt kết quả. Đặc biệt, trên bàn đàm phán không thể thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam.

Cuối cùng, ông Phạm Bình Minh nhấn mạnh sự trau dồi kiến thức, nghiệp vụ của các thế hệ ngoại giao đàn anh đi trước là bài học không thể thiếu đối với những thế hệ ngoại giao sau này như ông. “Bởi trong tất cả các cuộc đàm phán, chúng ta phải nắm vững luật pháp quốc tế mới đảm bảo thực hiện được lợi ích và các yêu cầu,” Bộ Trưởng nói./.

ChiLê (Vietnam+)
qdnd.vn

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris tại Pháp

Các đại biểu tham dự míttinh. (Nguồn: Hà Lê/Vietnam+)

Ngày 24/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013).

Tham dự buổi lễ có Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng; Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean Noël Poirier ; Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO; ông Pierre Laurent, Thượng nghị sỹ, Bí thư toàn quốc Đảng Cộng sản Pháp; lãnh đạo hai thành phố Choisy-Le-Roi và Verrières-Le-Buisson, nơi hai đoàn đàm phán Việt Nam từng lưu trú giai đoạn 1968-1973; đại diện các hội đoàn hữu nghị và đoàn kết với Việt Nam cùng những Việt kiều từng tham gia giúp đỡ đoàn và bạn bè Pháp yêu mến Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại sứ Dương Chí Dũng khẳng định rằng việc ký kết Hiệp định về Việt Nam tại Paris cách đây 40 năm là một sự kiện lịch sử, một dấu mốc quan trọng trong cuộc chiến tranh hào hùng của nhân dân Việt Nam giành độc lập và giải phóng dân tộc. Việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973 buộc Mỹ phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và rút quân khỏi Nam Việt Nam, mở đường cho việc thống nhất đất nước vào tháng 4/1975.

Hai sự kiện là ký kết thắng lợi Hiệp định Paris năm 1973 và thống nhất đất nước vào năm 1975, đã đi vào biên niên sử của nhân loại như một ví dụ về ý chí của một dân tộc kiên quyết đấu tranh vì các quyền cơ bản của con người và là minh chứng hùng hồn về ý chí của một dân tộc quyết đấu tranh để giành độc lập dân tộc và tự do.

Để giành được thắng lợi vẻ vang đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ hết lòng của bạn bè quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình, trong đó phải kể đến các thành viên của Đảng Cộng sản Pháp, các tổ chức, cá nhân người Pháp trực tiếp và gián tiếp ủng hộ Việt Nam cùng cộng đồng người Việt yêu nước ở Pháp.

Đại diện của Đảng Cộng sản Pháp và hai thành phố từng giúp đỡ đoàn đàm phán Việt Nam bày tỏ tinh thần đoàn kết, hữu nghị gắn bó với nhân dân Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng thắng lợi của nhân dân Việt Nam cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự cổ vũ lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới vì tự do và hòa bình.

Nhân dịp này, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức triển lãm ảnh về hoạt động của hai đoàn đám phán Việt Nam cũng như các bài báo viết về quá trình đàm được đăng trên các báo địa phương, nêu bật sự đấu tranh kiên trì và bên bỉ của nhân dân Việt Nam trên các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao.

Cũng nhân dịp này ông bà Pierre Gueguen đã tặng Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp hai bức tranh về ngôi biệt thự lịch sử tại Verrières-Le-Buisson, nơi gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên tiến tới việc ký kết Hiệp định Paris lịch sử./.

(TTXVN)
vietnamplus.vn

Hội nghị Paris: Cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất

Quang cảnh cuộc nói chuyện giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ về hòa bình tại Việt Nam tại phòng họp trung tâm hội nghị quốc tế ở Paris ngày 13/5/1968. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Nhân dịp Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Paris, VietnamPlus xin giới thiệu Bài viết của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh về sự kiện lịch sử đặc biệt này.

Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (Nguyễn Đình Bin chủ biên, Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2002, trang 199).

Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc.

Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995, trang 306).

Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạng và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt,” “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn.

Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.

Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc.

Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không,” Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút.”

Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào.”

Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình.

Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại.

Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm,” giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau.

Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận,” trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính,“ không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011), trang 236). Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

40 năm ngày ký Hiệp định Paris: Xúc động và tự hào!

Cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cu-ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam
(Ảnh: Thanh Hải/TTXVN)

Những ngày này, công chúng Thủ đô lại thêm một lần được nhắc nhớ và tự hào về trang sử hào hùng của dân tộc trên cả hai phương diện quân sự và ngoại giao qua triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam.”

Không chỉ có các nhân vật “làm nên lịch sử,” các cựu chiến binh, anh hùng lực lượng vũ trang mà rất nhiều người dân; trong đó có không ít các bạn trẻ đã đến Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 29 Hàng Bài, Hà Nội để cùng sống lại một thời oanh liệt với ông cha mình.

Chiến thắng ngoại giao qua ảnh

Hơn hai tiếng đồng hồ tỉ mẩn đứng xem từng bức ảnh và những hiện vật, tài liệu quý… tại triển lãm, chàng thanh niên 8X tên Tú nhà ở cạnh ga Trần Quý Cáp, Hà Nội tỏ ra rất xúc động và quyến luyến. Cậu đứng rất lâu trước từng bức ảnh và kỷ vật, đọc kỹ chú thích rồi thi thoảng lại gật gù, xem đi xem lại.

Biết được về triển lãm qua báo chí, Tú quyết định phải đến tận nơi. “Được tận mắt xem những hình ảnh tái hiện lại một giai đoạn đấu tranh ngoại giao đầy khó khăn của các bậc cha ông mình tôi thấy cảm phục vô cùng, càng thêm quý trọng giá trị cuộc sống hòa bình mà thế hệ chúng tôi đang được thụ hưởng,” Tú nói.

Trước chỉ được nghe các thầy cô giáo giảng về Hiệp định Paris, nay có cơ hội “ôn lại lịch sử bằng những hình ảnh tái hiện từng giai đoạn của cuộc đàm phán,” Tú thấy thế hệ trẻ cần phải có trách nhiệm hơn với cuộc sống của mình.

Không chỉ Tú mà bác Khánh nhà ở Khâm Thiên cũng trầm ngâm khi nhìn lại một chặng đường đã ảnh hưởng tới vận mệnh của cả dân tộc.

“Đối với tôi, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973 là một sự kiện có ý nghĩa sâu sắc không chỉ bởi tầm vóc của nó, mà còn vì gia đình tôi ở khu phố Khâm Thiên bên dãy số lẻ. Ngôi nhà mà cha mẹ và anh chị em chúng tôi ở bao năm đã sụp đổ hoàn toàn trong đêm rải thảm 26/12/1972,” bác Khánh hồi tưởng.

Trong không gian của triển lãm, có rất nhiều mái tóc đã bạc trắng cùng ánh mắt rưng rưng xúc động. Những ánh mắt dừng lại thật lâu trước cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cuba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam, trước hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định…

Tự hào dân tộc ta ơi!

Đến tham dự khai mạc sự kiện, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình cho biết là người tham gia ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27/1/1973, nhìn lại những hình ảnh của cuộc đàm phán bà vô cùng xúc động.

“Thắng lợi của Hiệp định Paris về Việt Nam là thắng lợi của toàn dân chúng ở miền Bắc cũng như miền Nam, là thắng lợi to lớn về quân sự cũng như về ngoại giao. Và trong dịp này chúng ta cũng nhớ đến hàng triệu người yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên toàn thế giới đã nhiệt tình ủng hộ sự nghiệp của chúng ta,” bà Nguyễn Thị Bình ghi lại cảm xúc trong cuốn sổ lưu niệm của triển lãm.

Trong khi đó, bà Trần Thị Như Quỳnh nhớ lại: “Bốn mươi năm đã trôi qua nhưng tôi không bao giờ quên khoảnh khắc lịch sử ấy, Hiệp định Paris được ký kết. Thật hạnh phúc và bất ngờ vì chỉ có ai trải qua chiến tranh ác liệt mới hiểu được giá trị vô giá đó.”

Trong ký ức của bà Quỳnh, Hà Nội mùa đông 1972 đã lạnh càng lạnh hơn khi trải qua 12 ngày đêm hứng chịu B52, chứng kiến những trận bom rải thảm, lửa cháy rực trời, những hố bom giữa đường phố Thủ đô, bệnh viện đổ nát, nhà cửa phố xá chỉ còn là những đống gạch vụn…

Ngày đó còn là học sinh nên phải đi sơ tán, vậy là cô bé Quỳnh cùng bạn bè với mũ áo, túi thuốc cá nhân, cặp sách lên đường đến sau dãy núi Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Bà Quỳnh vẫn nhớ, đó là một ngày nắng đẹp, dãy núi có hang động được mệnh danh “đẹp nhất trời Nam” hiện ra đầy ấn tượng như trong cổ tích với lũy tre xanh, mái rạ, dòng sông, cánh đồng, mây núi… Ngày đó bà chẳng hiểu nổi vì sao cảnh làng quê thanh bình như thế mà đất nước vẫn chiến tranh!

Rồi một ngày, bất ngờ thầy cô giáo đến thông báo tin Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. “Niềm hạnh phúc về cuộc sống hòa bình như bừng sáng lên trong lòng chúng tôi, khoảnh khắc ấy thật đẹp biết bao,” bà Quỳnh nói.

Thấm thoắt đã 40 năm từ ngày đó, nay được xem lại bộ ảnh về chặng đường lịch sử của “Hiệp định Paris” về Việt Nam, nhìn lại từng gương mặt của những nhân vật lịch sử đã làm nên lịch sử cho dân tộc, bà Quỳnh mắt rơm rớm.

“Đây là bộ ảnh vô cùng giá trị, đã khái quát được một phần quãng thời gian đáng ghi nhớ mà cả dân tộc Việt Nam ta đã trải qua. Thật đáng ghi nhớ và tự hào!” bà xúc động nói./.

Xuân Mai (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris

Người dân đến xem triển lãm sáng nay. (Ảnh: Thanh Hải/TTXVN)

Triển lãm ảnh “Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam” đã khai mạc sáng nay (23/1) và kéo dài tới hết ngày 28/1 tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, 29 Hàng Bài, Hà Nội.

Với gần 150 bức ảnh, hơn 20 lời trích cùng nhiều hiện vật quý, tài liệu, sách…, triển lãm đã tái hiện sinh động quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris.

Đặc biệt, có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày như Bản gốc Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam, hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định, chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định…

Có những hiện vật rất đặc biệt như cuốn sổ tập hợp hơn 1.000 chữ ký của nhân dân Cu-ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Triển lãm đã làm rõ cuộc đấu tranh cam go trên mặt trận ngoại giao kéo dài gần năm năm để ký được Hiệp định Paris (27/1/1973) buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga phát biểu tại lễ khai mạc: “Cuộc Triển lãm này là hoạt động nằm trong chuỗi các sự kiện đầy ý nghĩa Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Ngày 27/3/1973 đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi với việc ký kết hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Hiệp định Paris là văn bản pháp lý quốc tế toàn diện và đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, theo đó Hoa Kỳ đã buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”

Bà Nga cũng khẳng định, ý nghĩa to lớn về những bài học lịch sử đàm phán và ký kết Hiệp định Paris mãi mãi còn nguyên giá trị. Tôn vinh thắng lợi lịch sử, trân trọng, tri ân những đóng góp, hy sinh của thế hệ cha ông để noi gương, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.

Xuân Mai (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris: Báo Nhân Đạo với cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam

Báo L’Humanité (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp là một công cụ đấu tranh thực sự trong chiến dịch ủng hộ hòa bình.

Trước tháng 5-1968, L’Humanité bóc mẽ “những thủ thuật để làm chậm giờ đám phán”. Trong các cuộc đàm phán ban đầu, Đảng Cộng sản Pháp (PCF) tố cáo thái độ của Harriman, người dẫn đầu phái đoàn Mỹ từ chối nói về ngừng ném bom và các hành động chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong khi hội nghị được tổ chức là vì lý do này. Mỹ cũng sẽ phải đơn phương chịu trách nhiệm về 3 tháng cuối của chiến tranh đặc biệt đầy chết chóc khi từ chối ký Hiệp định ngày 20-10-1972 và quyết định tiếp tục ném bom Hà Nội trong tháng 12 cùng năm. Mỹ cũng bị lên án đã sử dụng Hội nghị Paris để làm giảm ý chí chống chiến tranh của dân chúng. Từ tháng 8-1972, PCF tố cáo thái độ của Nixon cho tung tin đồn về những tiến triển như là thủ thuật bầu cử trong khi đàm phán vẫn dậm chân tại chỗ. Năm 1969, Bộ Chính trị PCF lo ngại về thái độ của chính quyền Mỹ: “Nixon có ý đồ che đậy chính sách hiếu chiến qua các tuyên bố và các biện pháp có thể nhất thời tạo ra những ảo tưởng. Ông ta có ý đồ làm cho người ta tin rằng người Việt Nam không có đề xuất gì và rằng hai bên Việt Nam chịu trách nhiệm về sự chậm chễ trong đàm phán ở Paris. Do vậy, quan trọng là phải tiến hành một chiến dịch chính trị có hệ thống để làm sáng tỏ tất cả những vấn đề này và đồng thời, tìm kiếm tất cả các phương tiện để phát triển hành động.”

Trước các thái độ xấu này, PCF dành cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam sự ủng hộ vô điều kiện. L’Humanité tạo ra một diễn đàn thực sự cho các nhà đàm phán Việt Nam là Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình… Các tuyên bố của họ được đăng lại hàng tuần. “Trong khi Mỹ hoàn toàn bị động tại Hội nghị Paris, nơi mà vai trò của phái đoàn chính quyền Nixon cho tới giờ là tránh mọi tiến triển để đi tới một giải pháp thương lượng, thì bà Bình đã 5 lần đưa ra những đề xuất mà tất cả các nhà quan sát thừa nhận là nghiêm túc và linh hoạt”.

Nguyễn Thế Mai (dịch)
daidoanket.vn

Hiệp định Paris, nhìn từ người Mỹ phản chiến

Jerry Elmer, người Mỹ phản chiến nổi tiếng thế giới và là tác giả cuốn “Tội phạm vì hòa bình” kể vể bầu không khí cực kỳ căng thẳng ở Mỹ những ngày trước khi Hiệp định Paris được ký kết.

>> Ảnh gây chấn động về cuộc chiến ở Việt Nam

Elmer là nghiên cứu viên thuộc Quỹ Hòa giải của Mỹ, thành lập từ năm 1915 với mục tiêu hành động vì hòa bình, công lý và phi bạo lực. Cuốn sách “Tội phạm vì hòa bình” của ông được nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2005, và tái bản lần thứ ba vào tháng 1/2013, nhân kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết

Cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống năm 1972 diễn ra giữa ứng cử viên chủ trương hoà bình, thượng nghị sĩ George McGovern, và đương kim tổng thống Richard Nixon, người đã duy trì và leo thang cuộc chiến tại Việt Nam trong 4 năm tại nhiệm.

Ngày 30/4/1970, Mỹ xâm lược Campuchia. Tháng 2/1971, Mỹ tấn công Lào. Cuộc đàm phán nhằm kết thúc chiến tranh ở bán đảo Đông Dương, bắt đầu từ tháng 5/1968, đã qua hàng trăm phiên kín và công khai, vẫn tiếp tục tại Paris nhưng có vẻ chưa đi đến đâu.

Chiều ngày thứ năm 26/10, 11 ngày trước cuộc bầu cử, Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ khi đó, (sau là Ngoại trưởng Mỹ) tổ chức cuộc họp báo tại Nhà Trắng tuyên bố một tin chấn động về cuộc đàm phán hòa bình. “Hòa bình trong tầm tay”, Kissinger tuyên bố. Ngày hôm sau, những từ này thành tiêu đề cho mọi trang nhất của các tờ báo của Mỹ: “Hòa bình trong tầm tay”.

Tuyên bố đầy bất ngờ của Kissinger sau đó trở thành cảm hứng cho một “thành ngữ”, vẫn được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống ngày nay ở Mỹ – “bất ngờ tháng 10”. Bất ngờ tháng 10 là tuyên bố đột ngột về một tin tức hết sức tốt lành, xuất hiện ngay trước cuộc bầu cử. Tin này không sai, chỉ có điều nó bao hàm dụng ý khi được công bố vào thời điểm chiến lược ngay trước cuộc bầu cử.

Thực tế, Kissinger không nói dối. Một tuần trước đó, ngày 20/10, Kissinger và người đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ đã hoàn tất thỏa thuận về việc chấm dứt sự tham gia trực tiếp của quân đội Mỹ tại Việt Nam, thực hiện lệnh ngừng bắn và trao trả tất cả tù nhân chiến tranh của cả hai bên.

Video: Lễ ký kết hiệp đinh Paris năm 1973

Trong những tháng trước cuộc bầu cử, để đáp lại những cuộc biểu tình đòi hỏi hòa bình từ bên trong Mỹ, ít nhất 35 dự án luật về nội dung chống chiến tranh được đệ trình lên quốc hội Mỹ. Một số chỉ là những nghị quyết không ràng buộc, nhưng một số khác mang tính quyết định khi cắt kinh phí cho chiến tranh. Ví dụ ngày 24/7, Thượng nghị viện đã phê chuẩn Phụ lục Cooper-Brooke thi hành việc rút hoàn toàn quân khỏi Việt Nam để đổi lấy việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phóng thích các tù binh chiến tranh.

Trong cuộc họp với Tổng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ vào mùa thu, Nixon xem xét đến tinh thần phản đối chiến tranh đang dâng cao trong Thượng viện, và nói: “Mỹ đã đi trước một bước, chỉ còn thiếu việc cắt giảm ngân sách”.

Ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger tại Paris năm 1973. Ảnh: AFP

Bận rộn với tình hình chính trị trong nước, Nixon và Kissinger đã không thông báo cho đồng minh của mình ở Việt Nam – chính quyền Sài Gòn và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, về thỏa thuận đạt được giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Vì vậy, cấp phó của Kissinger, tướng Alexander Haig, được phái đi Sài Gòn để xoa dịu Thiệu và thuyết phục Thiệu ủng hộ thỏa thuận này. Nhưng hẳn nhiên là Thiệu nhận ra chính quyền của ông ta, vốn đã không được lòng dân nay lại không được sự hỗ trợ quân sự của Mỹ, thì sẽ sụp đổ. Thiệu không đồng tình với thỏa thuận ngày 20/10 và đưa cho Haig một danh sách dài những phản đối cụ thể của mình.

Kết quả là đến ngày 20/11, lần gặp tiếp theo của Kissinger và ông Lê Đức Thọ tại Paris, Kissinger yêu cầu thay đổi 69 điểm trong văn bản ngày 20/10, nhằm xoa dịu Thiệu. Lập trường của Mỹ là hoàn toàn không hợp lý, chính Kissinger thừa nhận việc này trong cuốn hồi ký “Những năm tháng ở Nhà Trắng”, trang 1459.

Đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tất nhiên là tức giận với hành động của chính quyền Nixon: thống nhất về một hiệp ước hòa bình hoàn chỉnh vào ngày 20/10 để rồi thất hứa chỉ trong một tháng sau đó. Ngày 24/11, tại Paris, Kissinger và Haig đe dọa đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về một cuộc leo thang chiến tranh nếu đoàn không đồng ý với những thay đổi.

Đến ngày 16/12, đàm phán hoàn toàn thất bại và ngày 18/12, Mỹ bắt đầu chiến dịch ném bom hai thành phố đông dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.

Trong 12 ngày đêm ném bom, 200 máy bay B-52 đã bay hơn 700 chuyến và các máy bay chiến đấu, máy bay ném bom nhỏ hơn đã bay hơn 1.200 chuyến bổ sung. Những máy bay này thả xuống 20.000 tấn bom. B-52 rải thảm hai thành phố, san bằng mọi thứ trên mặt đất. Xét trên cả ba khía cạnh pháp luật, đạo đức và thực tiến, việc ném bom hai thành phố kể trên đều là bất hợp pháp. Đánh bom dân thường là vi phạm luật quốc tế và là tội ác chống lại loài người.

Ngoài ra, phong trào vì hòa bình nổi lên mạnh mẽ sau vụ ném bom Giáng sinh và các cuộc biểu tình nổ ra khắp đất nước Mỹ cũng như tại các nước khác.

Quốc hội Mỹ nhanh chóng có những hồi đáp với phong trào hòa bình. Ngày 2/1/1973, Hạ viện quyết định cắt kinh phí cho cuộc chiến và ngày 4/1, Thượng viện cũng ra quyết định tương tự. Nixon và Kissinger lâm vào tình cảnh không mong muốn.

Tuy nhiên, các quan chức Mỹ lập luận rằng cần phải có những hành động mạnh mẽ mới có hòa bình, rằng chính cuộc đánh bom đã xúc tiến sự ký kết Hiệp định Paris. Cuối tháng 1/1973, trong bản ghi nhớ bí mật của tổng thống Nixon cho tổng tham mưu trưởng liên quân khi đó là Bob Haldeman, Nixon viết: “Chỉ có hành động cứng rắn mà chúng ta đã thực hiện hồi tháng 12 mới có thể thuyết phục đối phương, và chúng ta không lâm vào cảnh phải nhượng bộ Quốc hội hơn nữa”

Nhưng quan điểm này thực ra không đúng với sự thật. Trên thực tế, các điều khoản và quy định định trong Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là hoàn toàn trùng khớp với bản thỏa thuận 20/10/1972.

Người dân Mỹ tổ chức nhiều cuộc biểu tình trong những năm 1970 để phản đối chiến tranh tại Việt Nam. Biểu ngữ của người biểu tình viết: “Chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và Đông Dương ngay bây giờ”. Ảnh: Linzik

Cụ thể, trong biên bản tháng 10, nguyên văn Điều 1, Chương I, như sau: “Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công nhận trong Hiệp định Geneva năm 1954”. Các từ ngữ trong phiên bản tháng 1 không sai một chữ.

Một điểm gây chú ý nữa trong Hiệp định Paris là Điều II, Mục 3, Phần b, yêu cầu lệnh ngừng bắn trên thực địa tại miền nam Việt Nam, không giống như Hiệp định Geneva năm 1954, cho phép tái vũ trang ở miền bắc và nam lấy vĩ tuyến 17 làm căn cứ. Trong biên bản tháng 10 có viết: “Các lực lượng vũ trang của hai đảng ở miền nam Việt Nam được duy trì tại chỗ”. Phiên bản tháng 1 cũng giống hệt như vậy. Từng phần, từng phần của hai biên bản cũng giống nhau như đúc.

Thật đáng buồn! Vụ ném bom Giáng sinh không hề “cần thiết” và không có một chút tác động nào đến Hiệp định. Mục đích duy nhất của cuộc ném bom chỉ là tàn phá nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó tìm cách kéo dài thời gian tồn tại cho chính phủ mà Mỹ hậu thuẫn ở Sài Gòn mà thôi.

Tôi hy vọng những nỗi buồn sẽ nguôi ngoai, như trong một bài thơ của Hồ Chí Minh viết trong tập Nhật ký trong tù:

Sự vật vần xoay đà định sẵn
Hết mưa là nắng hửng lên thôi!
… Người cùng vạn vật đều phơi phới
Hết khổ là vui vốn lẽ đời.

Vũ Hà (lược dịch)
vnexpress.net

Ảnh gây chấn động về cuộc chiến ở Việt Nam

Larry Burrows, phóng viên ảnh chiến trường, ghi lại một ngày sinh tử của binh lính Mỹ trên một chiếc trực thăng tháng 3/1965, tạo nên bộ ảnh tư liệu quý giá về sự ác liệt của cuộc chiến.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris dẫn đến việc Mỹ phải rút toàn bộ quân ra khỏi Việt Nam, tạp chí Life giới thiệu lại bộ ảnh “Một ngày cùng bay với Yankee Papa 13” – từng đăng tải ngày 19/4/1965 và gây chấn động dư luận bởi nó cho thấy mức độ ác liệt của cuộc chiến. Trong lần tái xuất này, Life đưa ra những bức ảnh chưa từng công bố trong cả phóng sự.

Mùa xuân năm 1965, chỉ trong vài tuần, 3.500 lính thủy đánh bộ Mỹ được điều đến Việt Nam. Larry Burrows, một phóng viên ảnh người Anh khi đó 39 tuổi, làm việc cho tạp chí Life, gửi về tổng bộ “báo cáo từ Đà Nẵng” và chỉ ít ngày sau, cả thế giới phải rúng động bởi phóng sự về chuyến bay tử thần.

Đội trực thăng của Thủy quân lục chiến Mỹ với nhiều máy bay Yankee Pappa (YP) tập trung ở Đà Nẵng để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển một tiểu đoàn của quân đội Việt Nam Cộng hòa đến một địa điểm cách thành phố 32 km trong ngày 31/3/1965.

Một ngày trước khi thực hiện nhiệm vụ, James Farley, 21 tuổi, cùng với xạ thủ của mình, Wayne Hoilien, 20 tuổi, đi chơi và thăm thú trên đường phố Đà Nẵng. Trong ảnh, Farley tinh nghịch thử một chiếc mũ.

Farley, chỉ huy chiếc Yankee Papa 13, hăm hở cầm khẩu súng máy M-60 lên trực thăng.

Yankee Papa 13 là một trong 17 trực thăng tham gia nhiệm vụ. Phi công chính và phụ đã sẵn sàng, xạ thủ Hoilen lên đạn cho khẩu M-60.

Trực thăng đáp xuống cánh đồng, những người trên máy bay nhảy xuống tham chiến.

Trực thăng và lính Mỹ trên đồng lúa, nhìn từ máy bay Yankee Papa 13.

Một chiếc trong đội, YP 3, bị hạ. Từ phía YP 3, một xạ thủ bị thương – trung sĩ Owens, chạy về phía YP 13 trong khi Farley đứng đón ở cửa.

“Trong buồng lái chiếc YP 3, chúng tôi nhìn thấy phi công đã đổ sập thân hình xuống bàn điều khiển. Anh ta không cử động. Mặt anh ta đầy máu và có một lỗ ở cổ. Chúng tôi tin rằng anh ta đã chết”, Phóng viên Burrows vừa chụp ảnh vừa ghi âm. “Tôi quỳ xuống đất để tránh đạn”.

Farley tiếp tục bắn để thoát khỏi hiện trường. Anh ta vừa nã đạn ra ngoài vừa nhìn chằm chằm vào viên phi công phụ của trực thăng YP 3 đang nằm trên sàn.

Farley lấy đồ sơ cứu cho vết thương của phi công phụ Magel của YP 3, trong khi Hoilen chăm sóc cho xạ thủ Owens (đeo kính đen) ngồi gục mặt cạnh đó. Owens bị vỡ vai vì đạn.

Kiệt sức trước những căng thẳng, Farley bước qua xác Magel trong khi Hoilien cố gắng an ủi Owens. Đột nhiên, Farley chửi thề rồi bật khóc. Ban đầu anh ta còn giấu mọi người nhưng về sau không quan tâm ai đang nhìn mình khóc.

Về đến Đà Nẵng, Owens được đưa xuống khỏi máy bay để đi chữa trị vết thương.

Trên sàn máy bay đầy vỏ đạn đã sử dụng trong trận chiến.

Farley và Hoilien, kiệt quệ sau chuyến bay, nói với những người khác rằng nếu chỉ ở lại trên cánh đồng đó thêm 10 giây nữa thôi thì họ sẽ trúng đạn và không bao giờ quay về được nữa.

Trong kho tiếp tế, tay che mặt, James Farley òa khóc vì một ngày mệt mỏi và đau thương trên chiến trường.

6 năm sau khi đăng phóng sự “Một ngày cùng Yankee Papa 13”, Larry Burrows tử nạn cùng 3 phóng viên khác khi chiếc trực thăng chở họ bị bắn rơi trên đất Lào tháng 2/1971.

 

Vũ Hà (Ảnh: LIFE)
vnexpress.net