Thư viện

Nghịch lý về nhân quyền trong quan hệ cộng đồng quốc tế

Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, vấn đề nhân quyền ngày càng được quan tâm và có bước tiến bộ. Song, đi liền với đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn và nghịch lý mới bắt nguồn từ sự định kiến, áp đặt. Xóa bỏ nghịch lý, thực hiện công bằng và lẽ phải về nhân quyền là trách nhiệm chung đặt ra đối với mọi quốc gia, dân tộc trong quan hệ quốc tế hiện nay.

Không phải đến bây giờ mà từ nhiều năm trước, ý thức về nhân quyền và đấu tranh cho sự tiến bộ của nó đã trở thành vấn đề chung, là sự quan tâm của nhà nước ở mọi quốc gia, dân tộc. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, đã một lần nữa được Hồ Chí Minh đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02-9-1945) – nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các tuyên ngôn đó đều khẳng định rõ: quyền con người và sứ mệnh của mỗi nhà nước trong việc thực thi quyền con người đối với mọi công dân nước mình cũng như cộng đồng quốc tế.

Sự tiến bộ về nhân quyền trong quá trình phát triển của văn minh nhân loại, in đậm dấu ấn lịch sử mỗi dân tộc. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhân quyền đối với hầu hết mọi người có chăng chỉ là nhu cầu tối thiểu nhất về sự sinh tồn. Ở đó, tầng lớp chủ nô và các lãnh chúa tuy chiếm tỷ lệ nhỏ, song lại độc chiếm hầu như toàn bộ quyền sinh, quyền sát đối với toàn xã hội. Các thành phần nô lệ, nông dân và người lao động chiếm số đông, nhưng thường xuyên rơi vào tình cảnh cùng cực, thậm chí phải chịu đòn roi, xiềng xích, bị đem bán đổi, nên quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc không bao giờ được bảo đảm.

Theo sự phát triển của lịch sử, người ta hy vọng những nghịch lý nhân quyền trên sẽ được xóa bỏ khi bước sang một chế độ xã hội mới – chế độ TBCN. Sự ra đời của chế độ TBCN đã đánh dấu bước phát triển lớn trong lịch sử nhân loại, bởi nó đã tạo ra được nguồn lực to lớn, bảo đảm cho việc thực thi nhân quyền, mà chưa có chế độ xã hội nào trước đó làm được. Chỉ trong vòng mấy trăm năm ra đời và phát triển, CNTB đã tạo ra một lượng vật chất lớn gấp nhiều lần so với tất cả các chế độ trước cộng lại. Những thành tựu do nó tạo ra, cả về tri thức, khoa học, công nghệ, pháp luật,… bảo đảm cho sự phát triển nói chung, về nhân quyền nói riêng là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thực tế những gì diễn ra kể từ khi CNTB ra đời đến nay cho thấy, không phải cứ nắm giữ nguồn lực bảo đảm cho phát triển thì sự bất bình đẳng về nhân quyền sẽ tự nhiên mất đi. Cũng không phải vì thế mà tình hình nhân quyền trong lòng chế độ TBCN sẽ ngày càng hoàn thiện, trở thành mực thước cho mọi quốc gia khác noi theo, như bộ máy tuyên truyền của họ lâu nay vẫn thường xuyên cổ xúy. Tình trạng đó có nguồn gốc sâu xa từ chính bản chất chế độ kinh tế, chính trị của xã hội tư bản. Ở đó, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất đã trở thành lực cản vô hình đối với việc thực thi nhân quyền trên mọi bình diện xã hội. Điều đó sẽ không bao giờ tạo ra cơ hội để những người lao động làm thuê được ngồi chung mâm, hưởng phần đều từ “chiếc bánh” nhân quyền cùng với các đại diện của nền dân chủ tư sản là các trùm tư bản, tài phiệt. Liệu có được sự bình đẳng, dân chủ đầy đủ, thực chất hay không ngay như trong lòng nước Mỹ hiện nay, khi người giàu chỉ chiếm 1% dân số, nhưng lại chiếm tới 21% tổng thu nhập và 35% tài sản đất nước? Lỗ hổng về nhân quyền đó là nét đặc trưng chung không gì có thể san lấp nổi của hệ thống TBCN. Thực tế trên đã diễn ra đúng như nhận định từ hơn 150 năm trước của C. Mác và Ph. Ăng-ghen: “giai cấp tư sản gọi quyền lợi của mình là nhân quyền… Kỳ thực, nhân quyền của giai cấp tư sản cũng là một đặc quyền, đặc quyền được che đậy bằng nhân quyền – đặc quyền của giai cấp tư sản”1. Bản chất kinh tế, chính trị của nhà nước cầm quyền tư sản không thể xóa bỏ được gốc rễ nghịch lý nhân quyền đã tạo ra ở chế độ xã hội trước đó, mà còn làm nảy sinh những biến thái mới, tinh vi hơn. Song, dù cố tình điều chỉnh, che đậy đến mấy, bức tranh toàn cảnh về nhân quyền dưới chế độ TBCN vẫn bộc lộ những điều bất ổn, những nghịch lý mới. Điều đáng quan tâm là, trong khi kinh tế và các nguồn lực phát triển được tăng cường, thì sự gia tăng về bất bình đẳng xã hội, phân biệt, đối xử; các giá trị nhân bản lại bị coi nhẹ và suy giảm trầm trọng. Cuộc biểu tình với khẩu hiệu “Chiếm lấy phố Wall” nổ ra vào tháng 9 năm 2011 ở nước Mỹ, lan rộng trên 950 thành phố, thuộc 82 quốc gia đã bày tỏ sự bất bình của đông đảo người lao động, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, trí thức trên toàn thế giới trước tình trạng bất công, thiếu dân chủ trong hệ thống TBCN. Đại diện cho những người cùng quan tâm tới vấn đề trên, Tô-ny – một trong số người tổ chức ra chiến dịch đấu tranh đó (ở Anh), đã thẳng thắn bày tỏ: “Chúng tôi không thể tin được các nhà chính trị và giới chủ ngân hàng đang thỏa thuận và quyết định tương lai của mình”. Ben-gia-min Dic-to – một luật sư tương lai ở Mỹ, cũng cho rằng: “Chúng tôi phải đấu tranh để mang lại dân chủ cho xã hội và phân phối lại thành quả lao động. CNTB và cái mà họ gọi là nền dân chủ tự do xuất hiện hằng ngày đã đến mức không thể chịu nổi”… Rõ ràng là lòng tin của hầu hết người dân lao động về dân chủ, nhân quyền trong lòng chế độ TBCN đã trở nên suy giảm tới mức khó có thể khôi phục được. Nếu không được Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố, thì nhiều người khó có thể tin rằng, hiện nay cứ 06 người Mỹ lại có 01 người phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Trong 50 triệu người thuộc số đó, có tới 17 triệu người nằm trong tình trạng báo động. Qua báo cáo hằng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền thế giới, người ta còn được biết việc phân biệt, đối xử với các nhóm tôn giáo; đối xử không công bằng với nhóm phụ nữ, trẻ em, các dân tộc thiểu số ở Anh còn nhiều điều nhức nhối. Cũng tương tự như vậy, tình trạng bắt giữ người kéo dài trước khi xét xử, bạo hành đối với phụ nữ, buôn bán người và ngược đãi người nước ngoài… vẫn diễn ra thường xuyên ở I-ta-li-a… Khó có thể kể hết tình trạng phân biệt chủng tộc, xung đột sắc tộc, kỳ thị tôn giáo, văn hóa; sự gia tăng về bạo lực, tội phạm… đang diễn ra với mức độ và biểu hiện nghiêm trọng ở hầu hết các nước trong hệ thống TBCN.

Thực tế trên cho thấy, nhân quyền dưới chế độ TBCN, nhất là ở các nước tư bản phát triển không hoàn hảo như họ tự nhận. Mặc dù thế, trong khi chưa giải quyết thấu đáo được vấn đề nhân quyền trong nước, những nhà cầm quyền tư sản, đứng đầu là Mỹ vẫn ráo riết phán xét, giám sát và áp đặt các tiêu chí về nhân quyền của mình đối với mọi quốc gia. Người ta còn nhớ, Báo cáo Nhân quyền thế giới năm 2010 của Mỹ đã chỉ trích 130 quốc gia vì hạn chế các quyền con người. Trong khi đó, họ lại quên Tổ chức Ân xá quốc tế đã cảnh báo về tình trạng vi phạm nhân quyền của chính nước Mỹ khi nêu ra “Là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất thế giới, Mỹ tự cho mình cái quyền đề ra tiêu chuẩn ứng xử cho các quốc gia. Nhưng Oa-sinh-tơn lại thể hiện cái xấu của mình qua hàng loạt hành động thách thức luật pháp quốc tế”! Sự phán xét mang nặng tính chủ quan, định kiến đi liền với những áp đặt võ đoán về nhân quyền, coi nhân quyền như một công cụ để can thiệp vào nội bộ nước khác chính là một nghịch lý mới trong quan hệ quốc tế hiện nay. Ngày 24-5-2012, Bộ Ngoại giao Mỹ lại công bố “Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới năm 2011”; trong đó, phê phán tình hình nhân quyền của nhiều quốc gia trên thế giới… Với tư cách và quyền hạn gì mà Mỹ lại sốt sắng làm việc này đến thế? Đó vẫn là câu hỏi đang được đặt ra với cộng đồng quốc tế. Việc làm này hoàn toàn không phải chuyện nội bộ, vì nó đã được công khai trước toàn thế giới; hơn nữa, đi liền với nó còn có các chế định chính trị, kinh tế, giám sát và khi cần thiết còn có sự hỗ trợ, can thiệp vũ trang. Dẫu cho việc làm đó chẳng khác gì “gọt chân cho vừa giày”, thế nhưng nó vẫn tồn tại và đang còn tiếp diễn. Phần nhiều các phán xét về nhân quyền của Mỹ, khi đưa ra đều không nhận được sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là từ sự tùy tiện, chủ quan áp đặt các tiêu chí nhân quyền riêng của mình để soi xét các nước khác mà bất chấp hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… cụ thể của mỗi quốc gia. Điều khác nữa, việc khai thác và xử lý các thông tin về nhân quyền thường chỉ một chiều, dựa vào ý kiến cá nhân, mang nặng định kiến, chủ quan, hoặc cực đoan, bất mãn, thù địch, chống đối chế độ và nhà nước đương quyền. Nhân quyền rất cần sự khách quan, thiện chí, nhưng khi bị thao túng bởi chủ quan, định kiến, thù nghịch,… nó sẽ bị sai lệch, méo mó. Với thái độ và cách làm nhân quyền như trên, các báo cáo về nhân quyền hằng năm của Mỹ mỗi khi đưa ra đều vấp phải sự phản bác quyết liệt của nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, mà lần này cũng không phải là ngoại lệ. Phản ứng với báo cáo nhân quyền thế giới năm 2011 của Mỹ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cho rằng: đó là một sự phân biệt, đối xử, coi thường sự thật. Bộ Ngoại giao Cu Ba tuyên bố, bản báo cáo nhân quyền của Mỹ đối với Cu Ba là những thông tin giả dối và vu cáo, chỉ nhằm bào chữa cho chính sách bao vây, cấm vận tàn bạo của Mỹ áp đặt chống Cu Ba từ hơn nửa thế kỷ qua. Cũng với tinh thần đó, nhiều quốc gia khác đều chỉ ra sự chủ quan, sai lệch, dụng ý xấu… từ báo cáo nhân quyền thế giới của Mỹ vừa qua.

Trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của một đất nước vừa trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, việc chăm lo, bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn đến quyền con người vừa là mối quan tâm hàng đầu, vừa là một thách thức lớn đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Hiện nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng hậu quả của nó vẫn còn hiện hữu nặng nề trong mọi mặt đời sống xã hội và trong mỗi gia đình Việt Nam. Khoảng thời gian đó đã đánh dấu sự vươn lên mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong sự phát triển đất nước nói chung, sự khắc phục hậu quả chiến tranh và chăm lo phát triển quyền con người nói riêng. Trong khi điều kiện bảo đảm để thực hiện việc làm đó còn vô vàn khó khăn, thiếu đồng bộ, có thể vẫn còn những hạn chế, bất cập, song không thể phủ nhận những thành tựu rất quan trọng và ngày càng phát triển, tiến bộ về chăm lo quyền con người ở Việt Nam. Điều này đã được tất cả những ai có thiện chí, yêu chuộng công lý và lẽ phải trong cộng đồng quốc tế thừa nhận. Nếu nói tiêu chí tổng quát nhất về thực hiện quyền con người trong thế kỷ XXI, trước hết phải kể đến Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc tổ chức năm 2000, với sự tham gia của 189 thành viên đã nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với 08 Mục tiêu cụ thể và đặt mốc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2015. Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu thực hiện, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá hoàn thành 90% kế hoạch đặt ra và là một trong hai nước đi đầu trong việc giảm nghèo, cải thiện sức khỏe cho nhân dân. Trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam còn được ghi nhận có sự phát triển tích cực trong việc bảo đảm các quyền con người, đặc biệt là thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân.

Những năm gần đây, nhiều nước ở Trung Đông, Đông Âu, châu Phi đã liên tiếp xảy ra những biến động chính trị, xã hội sâu sắc bởi các cuộc chiến tranh, cách mạng thay thế chính quyền sở tại. Trong vòng 12 năm (1999 – 2011), đã có 4 cuộc chiến tranh do Mỹ và NATO tiến hành đối với Nam Tư (1999), Áp-ga-ni-xtan (2001), I-rắc (2003) và Li-bia (2011). Hiện nay, họ đang can thiệp vào tình hình Xy-ri, nhằm lật đổ chính quyền sở tại. Cùng với đó là sự bùng phát và lan rộng của các cuộc “cách mạng màu” và phong trào “Mùa xuân Ả-rập” ở một số nước thuộc Liên Xô cũ và châu Phi. Điểm giống nhau là các sự kiện này đều diễn ra dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”, với các lý do mơ hồ, giả tạo, có sự can thiệp của Mỹ và phương Tây. Điều trớ trêu là, trong khi chưa đem lại điều gì tốt đẹp hơn cho người dân, thì các sự kiện “nhân quyền” đó đã cướp đi sinh mạng và làm thương tật hàng chục vạn thường dân vô tội; đồng thời, làm cho tình trạng rối ren, bất ổn ở các quốc gia này không ngừng tiếp diễn. Sự can thiệp thô bạo của Mỹ và phương Tây đã là một tác nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng đó. Thực tế trên không khỏi để người ta đưa ra điều nghi vấn: phải chăng hiện nay, bạo lực và chiến tranh đã trở thành bạn đường của nhân quyền? Nếu đúng như vậy thì quả là nghịch lý về nhân quyên đã lên tới đỉnh điểm và cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ nhân quyền, trước hết cần phải từ việc giải quyết nghịch lý ấy.

TRỊNH THỊ HOA

Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh
tapchiqptd.vn

1 – C.Mác – Ph. Ăng-ghen – Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H.1995, tr.156.

Việt Nam tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc

Khóa họp thứ 21 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) tại Giơnevơ (Geneva, Thụy Sĩ) vừa kết thúc cuối tuần qua sau hơn 2 tuần làm việc. Tại khóa họp này, Việt Nam đã tích cực và chủ động tham gia các hoạt động trong Hội đồng Nhân quyền để tiến tới việc ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016.

Theo phóng viên tại Thụy Sĩ, trong các ngày họp từ 10/9 đến 28/9, Hội đồng Nhân quyền đã thảo luận báo cáo của 10 báo cáo viên đặc biệt, nhóm làm việc và chuyên gia độc lập phụ trách các chủ đề về trẻ em trong xung đột vũ trang, người bản địa, lính đánh thuê, tác hại chất thải độc hại, nước sạch, đói nghèo cùng cực, chống phân biệt chủng tộc, các hình thức nô lệ hiện đại, nhân quyền và đoàn kết quốc tế, dân chủ và trật tự quốc tế công bằng. Hội đồng Nhân quyền cũng đã thảo luận báo cáo về tình hình nhân quyền tại Xyri, Xômali, Xuđăng và Campuchia, xem xét thông qua báo cáo kết quả của nhóm làm việc theo Cơ chế Kiểm điểm định kỳ (UPR) của 14 nước, trong đó có Philíppin, Inđônêxia, Ấn Độ, Braxin, Nam Phi, Angiêri, Êcuađo…

Đại sứ Nguyễn Trung Thành, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh cơ quan LHQ, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác đã phát biểu đánh giá cao và ủng hộ nỗ lực bảo đảm và thực thi quyền con người tại các nước Philíppin, Braxin, Nam Phi và Inđônêxia, tại các phiên họp xem xét báo cáo UPR các nước này. Đại sứ Nguyễn Trung Thành cho biết: “Chúng tôi quyết tâm không ngừng để đóng góp hơn nữa cho các tổ chức quốc tế và khu vực. Chúng tôi vô cùng cảm kích và hướng tới sự phối hợp và hợp tác rộng rãi với mọi quốc gia và các nền kinh tế trong việc thúc đẩy sự nghiệp chung và chia sẻ các mục tiêu bảo đảm hòa bình, an ninh, thịnh vượng và phát triển con người. Trong lĩnh vực này, tiếp sau việc là thành viên tích cực trong Ủy ban Nhân quyền (2001-2003), Chính phủ Việt Nam đã đệ trình với tư cách là ứng cử viên cho Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Chúng tôi rất hy vọng nhận được sự ủng hộ và hợp tác mạnh mẽ trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người”.

Trong phiên đối thoại với Báo cáo viên đặc biệt về tình hình Campuchia ngày 25/9, Đại sứ Nguyễn Trung Thành nêu rõ chính sách láng giềng hữu nghị, đoàn kết hợp tác giữa Chính phủ và nhân dân Việt Nam với Chính phủ và nhân dân Vương quốc Campuchia, hoan nghênh những thành tựu đạt được của nước bạn trong việc bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế và cam kết sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ để xây dựng một đất nước Campuchia hòa bình, ổn định và phát triển.

Trong khuôn khổ khóa họp, Hội đồng Nhân quyền cũng tiến hành 4 phiên thảo luận chuyên đề về nhân quyền gồm Ngày quốc tế Nenxơn Manđêla (Nelson Mandela), tiếp cận pháp lý của người bản địa, tăng cường vai trò của phụ nữ và các quyền kinh tế-văn hóa-xã hội, vấn đề đe dọa và trả đũa trong hợp tác với các cơ chế nhân quyền LHQ.

Kết thúc khóa họp, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua 31 nghị quyết, 14 quyết định, bổ nhiệm 2 báo cáo viên đặc biệt về Bêlarút và Êritơria, bầu 4 chuyên gia thành viên Ủy ban Tư vấn của Hội đồng Nhân quyền./.

Các từ khóa theo tin: (Theo TTXVN)
cpv.org.vn

Xuất bản sách “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”

(ĐCSVN– Để phục vụ cho việc nghiên cứu, quán triệt, học tập và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tháng 5/2011, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”. Sách do PGS, TS Lê Minh Quân, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, cuốn sách gồm 9 chương: Chương 1 – Dân chủ và dân chủ hóa – những lý thuyết và mô hình chủ yếu; Chương 2 – Những xu hướng phát triển mới của thế giới với dân chủ hóa hiện nay; Chương3 – Quá trình dân chủ hóa trên thế giới hiện nay; Chương 4 – Dân chủ hóa trong quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay; Chương 5 – Xây dựng nhà nước pháp quyền với dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay; Chương 6 – Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực với dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay; Chương 7 – Phát triển xã hội công dân với dân chủ hóa ở Việt Nam hiện nay; Chương 8 – Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng với dân chủ hóa xã hội ở Việt Nam hiện nay; Chương 9 – Dân chủ hóa ở cơ sở nước ta hiện nay.

Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm và khái niệm lý thuyết và mô hình dân chủ hóa, những yếu tố tác động và quá trình dân chủ hóa trên thế giới, cuốn sách phân tích nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Tác giả đã phân tích làm rõ dân chủ luôn là ước vọng của con người trong mọi thời đại. Nó cần như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày. Dân chủ là thước đo chất lượng cuộc sống văn minh xã hội và năng lực quản lý của một nhà nước. Dân chủ không phải tự nhiên mà có. Lịch sử đất nước ta đã chứng minh, muốn có nó phải đấu tranh, thậm chí phải hy sinh xương máu.

Dân chủ và cuộc đấu tranh vì dân chủ hay dân chủ hóa, cũng như hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển, là một xu thế lớn của thời đại. Cuộc đấu tranh vì dân chủ, cũng như vì hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển mặc dù còn gặp nhiều khó khăn và thử thách, nhưng đã và đang có những bước tiến mới. Hơn thế, dân chủ và dân chủ hóa còn ngày càng trở thành mục tiêu và động lực, nội dung và phương thức của phát triển xã hội theo hướng bền vững.

Ở nước ta hiện nay, dân chủ trở thành mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới. Vấn đề dân chủ và dân chủ hóa ngày càng có tầm quan trọng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Những thành tựu của quá trình dân chủ hóa đang góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, những khó khăn, thách thức trong quá trình dân chủ hóa cũng cản trở công cuộc phát triển đất nước. Nhận thức về vấn đề dân chủ đã khó khăn và phức tạp, nhưng nhận thức về dân chủ hóa hay quá trình hiện thực hóa những mơ ước, những giá trị dân chủ trong đời sống còn khó khăn và phức tạp hơn. Những vấn đề về mục tiêu, động lực, nội dung, hình thức và phương pháp; nguyên nhân, kinh nghiệm, nguyên tắc, phương châm và bước đi của dân chủ hóa luôn là những vấn đề khó khăn và mới mẻ đòi hỏi phải giải quyết./.

VM
cpv.org.vn

Chủ quyền và nhân quyền

Cách đây hơn nửa thế kỷ, ngày 10-12-1948, tại Cộng hòa Pháp, Liên hợp quốc đã công bố bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. Đây là một cột mốc lịch sử trong cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại vì các quyền tự do, dân chủ và các quyền cơ bản của con người. Lần đầu tiên, các quyền cơ bản của con người đã được cộng đồng quốc tế công nhận và được bảo đảm bằng một văn bản pháp lý chính thức. Bản Tuyên ngôn này tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng các công ước quốc tế về quyền con người, hình thành nên hệ thống luật quốc tế về quyền con người hiện nay.

Được công bố vào thời điểm loài người vừa trải qua cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai hết sức tàn khốc với tội ác diệt chủng tày trời của chủ nghĩa phát xít, bản Tuyên ngôn gồm 30 điều khẳng định các quyền tự do, bình đẳng của con người trong các cộng đồng dân tộc, ghi nhận thành tựu đấu tranh vì phẩm giá con người. Điều đáng lưu ý là điều 29 của Tuyên ngôn nhấn mạnh đến các nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng để bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản ghi trong Tuyên ngôn. Như vậy, Tuyên ngôn không chỉ ghi nhận các quyền cá nhân, mà còn ghi nhận mối quan hệ qua lại giữa quyền cá nhân với các quyền của cộng đồng và điều kiện cụ thể của cộng đồng để thực hiện các quyền cá nhân.

Trong 56 năm qua, cuộc đấu tranh tại các diễn đàn quốc tế về vấn đề quyền con người đã diễn ra hết sức phức tạp và quyết liệt. Người ta nhận thấy một sự khác biệt sâu sắc trong quan niệm cũng như cách thức thực thi chính sách về quyền con người giữa phương Đông và phương Tây, giữa các nước nghèo và các nước tư bản phát triển.

Nhân quyền đang được Mỹ và phương Tây triển khai như cuộc chơi lớn trên cấp độ quốc tế. Cách mà họ đang đẩy tới cuộc tiến công về nhân quyền làm cho không ít người lo ngại rằng, trận địa này sẽ trở thành một “điểm nóng xung đột” gay gắt nhất về tư tưởng và văn hóa trong tương lai. Đối với những người đang tự cho mình có sứ mệnh vạch chương trình nghị sự cho cả thế giới, thì nhân quyền không chỉ là một chủ trương có tính nhất thời, mà là một quốc sách dài lâu, không chỉ là một mắt xích trong một chiến lược mà bản thân nó là một chiến lược để áp đặt các giá trị phương Tây, các giá trị Mỹ cho toàn thể nhân loại.

Kể từ sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, phương thức khống chế, thôn tính đơn thuần bằng vũ khí bạo lực đã trở nên quá lỗi thời, thì nhân quyền ngày càng trở thành một vấn đề tế nhị, nhạy cảm trong đời sống của nhiều quốc gia và nó đang lộ diện như một vấn đề có quy mô toàn cầu. Biết bao cuộc hội thảo quốc gia, khu vực và toàn cầu đã được tổ chức, và điều nổi cộm nhất, gay cấn nhất tại các diễn đàn này chính là cách thức mà những quyền con người được các quốc gia, các dân tộc khác nhau trên thế giới nhìn nhận, bênh vực và thực hiện.

Mấy năm qua, Oasinhtơn đã nhiều lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu, nhưng có một điều không hề thay đổi là nhân quyền luôn luôn được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược đối ngoại của Mỹ thời hậu “chiến tranh lạnh”.

Nếu như lúc này, lúc khác vẫn còn những người đôi khi bị loá mắt bởi màu sắc sặc sỡ của “gánh hát dân chủ” mà Oasinhtơn cho lưu diễn om sòm khắp thế giới, thì các bản “báo cáo nhân quyền” hằng năm mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đã phơi bày trước mắt họ: sự ngạo mạn và thói áp đặt thô bạo của người tự phong cho mình sứ mệnh đặt chương trình nghị sự cho cả thế giới. Mọi thứ màn che bóng lộn của chủ nghĩa cường quyền Mỹ đã tự giật tung!

Dày tới cả nghìn trang, các bản báo cáo này lên giọng phán xét về tình hình nhân quyền của 194 nước, nghĩa là chẳng có nước nào nằm ngoài tầm mắt coi ngó và sự “chăn dắt” của Mỹ. Thành tích nhân quyền của cả thế giới được Hoa Kỳ xếp loại theo nhiều thứ bậc. Cố nhiên,”sức nặng” của bản báo cáo dồn tụ vào những nước được coi là “đạt thành tích” kém cỏi về nhân quyền. Nước này được khen là “có chút ít tiến bộ” mặc dù tình hình chung còn tồi tệ, nước kia “giậm chân tại chỗ”, nước nọ có “bước thụt lùi nghiêm trọng…”. Chẳng cứ gì nước nhỏ, mà ngay như Ấn Độ cũng bị nhắc nhở, Trung Quốc bị công kích, Nga bị cảnh cáo,… Riêng đối với nước ta, các bản báo cáo này thường bịa ra rằng, “nhà cầm quyền Hà Nội tiếp tục hạn chế các quyền tự do căn bản trong các lĩnh vực chính trị và tôn giáo”.

Bản thân nhân quyền chẳng phải là một điều gì mới lạ, thế nhưng, điều nổi cộm nhất và gay cấn nhất chính là cách thức mà những quyền này được các quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới nhìn nhận, bênh vực và thực hiện. Oasinhtơn vẫn thường nhấn mạnh rằng, họ coi nhân quyền là hòn đá tảng trong các mối quan hệ quốc tế, thế nhưng, họ cứ một mực đòi áp đặt cho cả thế giới quan điểm, tiêu chuẩn của Mỹ về nhân quyền. Họ hầu như chẳng thèm đếm xỉa đến sự khác biệt trong nhận thức của từng quốc gia, dân tộc về chủ quyền và nhân quyền xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo… Không những thế, gần đây họ còn tung ra luận thuyết mới cực kỳ nguy hiểm, là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, lấy đó làm cớ để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới”. Cơsôvô đã trở thành cuộc thử nghiệm đầu tiên cho thứ chủ nghĩa can thiệp mới này.

Nhiều nước đã khẳng định rằng, không chỉ về khía cạnh pháp lý quốc tế, mà còn cả về mặt thực tiễn thực thi nhân quyền, nước Mỹ hoàn toàn không đủ tư cách để lên lớp cho cả thế giới về nhân quyền. Ở Mỹ, hiện có tới 235 triệu khẩu súng thuộc sở hữu cá nhân. Mỗi năm ở nước này xảy ra hơn một triệu vụ giết người bằng súng. Ở vương quốc “tự do” này, hiện đang có tới sáu triệu người thụ án tù. Hệ thống chính trị ở Mỹ chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ có máu mặt, khiến dân chúng ngày càng tỏ ra chán chường về mặt chính trị. Như vậy, không phải ở đâu khác, mà chính trên đất Mỹ đang diễn ra tình trạng vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất như tệ phân biệt chủng tộc, bạo lực, bất công xã hội, quyền lực chính trị phục vụ thiểu số giàu có, tra tấn ngược đãi đối với tù nhân,… Chính Mỹ lại cũng là quốc gia thường xuyên gây chiến tranh, gieo rắc đau thương cho các dân tộc khác. Xâm hại độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác chính là tội ác nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Cộng đồng quốc tế bất bình không chỉ vì nội dung sai trái, bóp méo sự thật của các bản báo cáo mà còn vì tư cách pháp lý của người công bố cũng như thái độ trịnh thượng của “vị quan tòa” tự phong khi lên giọng phán xét về tình hình nhân quyền của các nước. Họ cứ làm như thể chỉ có nước Mỹ mới đủ trình độ, đủ tư cách để định ra những tiêu chí về nhân quyền, vạch ra con đường để các dân tộc, quốc gia trên thế giới đạt tới những tiêu chí ấy. Không những thế, họ đang sắm vai là người đôn đốc, kiểm tra, thẩm định và “đóng dấu chất lượng” cho cả thế giới về nhân quyền.

Trong phần nói về Việt Nam, các bản báo cáo này chỉ rặt một giọng điệu là “Việt Nam tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng và tình hình nhân quyền Việt Nam đang xấu đi”. Họ vu cáo “Việt Nam hạn chế quyền riêng tư của công dân”. Những kẻ đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động chống lại đất nước, bị tòa án Việt Nam xử phạt tù lại được họ phong cho là “những người đấu tranh quả cảm cho nền dân chủ và nhân quyền”. Ý đồ đen tối của Oasinhtơn đã lộ rõ khi bản báo cáo này cố tình dựng nên chuyện “Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”. Rõ ràng, các tác giả các bản báo cáo này tỏ ra rất “nhạy bén” với tình hình xảy ra ở Tây Nguyên do sự kích động, giật dây tổ chức của một số thế lực phản động và thù địch bên ngoài. Các thế lực này đã và đang theo đuổi mưu đồ tạo ra ở Tây Nguyên một “điểm nóng” xung đột về sắc tộc và tôn giáo. Họ rất mong Tây Nguyên rối loạn và bất ổn.

Các tác giả của bản báo cáo đã cố tình nhắm mắt trước một sự thật đanh thép là trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển cả về kinh tế và xã hội được dư luận rộng rãi trên thế giới đánh giá cao: năm 2003, GDP tăng trưởng 7,2% (đứng thứ hai thế giới), được đánh giá là nơi an toàn nhất châu Á – Thái Bình Dương, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, hệ thống luật pháp được hoàn thiện một bước. Đó là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt quyền con người.

Người ta không thể không đặt câu hỏi phải chăng những người cho xuất xưởng những bản báo cáo bịa đặt này và những thế lực tìm cách thông qua “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” đang phối hợp chặt chẽ với nhau để chống Việt Nam trong màn kịch “nhân quyền”.

Xem xét nội dung của “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” cũng như cung cách và thời điểm thông qua nó, người ta thấy rõ toàn bộ ván cờ này đã được Hạ nghị viện Mỹ chuẩn bị một cách công phu nhằm thực hiện những mục đích chính trị rõ ràng. Một lần nữa cái công thức: kinh tế, chính trị + nhân quyền đã được Oasinhtơn hợp pháp hóa bằng những đạo luật đối với Việt Nam trong một mưu đồ duy nhất: dùng nhân quyền để ràng buộc, đặt điều kiện cho viện trợ kinh tế và thương mại. Đây là một cuộc tấn công hai gọng kìm của Oasinhtơn để dần dần đưa Việt Nam trượt vào quỹ đạo của luật chơi do Mỹ cài đặt. Đó là luật chơi của nền kinh tế thị trường tự do và luật chơi của nền “dân chủ tự do”. Bằng cuộc thập tự chinh này, Mỹ đã sắp đặt được trật tự tại nhiều khu vực trên thế giới. Một khi đã đánh mất chủ quyền, tự chủ về chính trị, các quốc gia rất khó thoát ra khỏi cạm bẫy của cuộc chơi này. Coi mình là người sắp đặt chương trình nghị sự cho cả thế giới, Mỹ ngang nhiên ban hành và áp đặt luật chơi. Trên thực tế, đây là một cuộc chiến tranh có tuyên bố. Trên mặt trận không có tiếng súng này, chiến lược chuyển hóa có khi được thực hiện bằng những biện pháp can thiệp thô bạo và trắng trợn có lúc lại bằng những mạch ngầm thẩm thấu êm dịu, nhiều khi người trong cuộc không thể nhận ra và nếu có cảm thấy thì dễ cho là vô hại.

Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhưng đất nước ta vẫn nằm trong vòng ngắm các kế hoạch phá hoại, lật đổ của các thế lực thù địch ở Mỹ. Họ vẫn bị sự cay cú và lòng thù hận đốt nóng. Việc ký kết Hiệp định Thương mại phản ánh một xu thế không thể cưỡng lại được trong quan hệ hai nước cũng như trong đời sống quốc tế. Nhưng họ lại đang mưu toan dùng “Đạo luật nhân quyền” để ngăn trở việc thực hiện Hiệp định Thương mại, ngăn cản việc cải thiện, bình thường hóa hoàn toàn quan hệ hai nước. Không những thế, họ còn muốn sử dụng Hiệp định Thương mại để thực hiện cuộc tiến công dân chủ và nhân quyền.

Không ai ngạc nhiên khi thấy “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” cứ nằng nặc đòi Việt Nam phải từ bỏ chế độ “độc đảng” để tiến tới chế độ “đa đảng”. Chiêu bài “độc đảng” này không sao che đậy được tim đen của họ: tìm mọi cách xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ đang mưu toan đoạt lại chiến thắng trong thời bình mà họ đã để mất trong chiến tranh,…

Những “nghệ nhân” chuyên nhào nặn và bóp méo sự thật trong “Tổ chức theo dõi nhân quyền” (HRW) có trụ sở tại Mỹ còn tung ra cái gọi là “Bản phúc trình hằng năm về tình hình nhân quyền”. Bản phúc trình của HRW phán rằng “Việt Nam đã có bước thụt lùi về nhân quyền, đặc biệt, trong lĩnh vực tự do tín ngưỡng”. Làm sao có thể tin vào những “bằng chứng xác thực” cùng với những lời “đánh giá khách quan” trên đây khi người ta biết rằng, chưa một ai trong số các tác giả của bản phúc trình này đặt chân tới Việt Nam. Vậy thì nó lấy “chất liệu” cho bản phúc trình này từ đâu? Chẳng ở đâu khác ngoài những “bản báo cáo” hoàn toàn bịa đặt của một số tổ chức phản động thù địch với Việt Nam ở nước ngoài, trong đó, không thể không kể đến một số kẻ “vong quốc” chưa chịu tỉnh ngộ vẫn tiếp tục ngụp lặn trong dòng nước ngược chống lại quê hương, Tổ quốc mình. Không phải ai khác mà chính ông Chốc Xixi, một cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam trước đây, hiện đang điều hành một chương trình nhân đạo ở Việt Nam, có trụ sở tại 172, phố Quán Thánh, Hà Nội, đã gửi một bức thư cho Thượng nghị sĩ Mắc Clêlan, trong đó, vạch rõ rằng “Những thực tế” (điều khoản 101) mà “Đạo luật nhân quyền Việt Nam” lấy làm cơ sở bao gồm hầu như toàn bộ các báo cáo của một số nhóm Việt kiều hoạt động tại Mỹ. Những “thực tế” này không đúng sự thật, làm cho người ta lạc hướng,… Những ai đã từng đến Việt Nam, với cách nhìn khách quan đều thấy rằng, Nhà nước Việt Nam đã và đang làm hết sức mình để thực hiện và phát triển quyền con người. Đó là sự thật sáng rõ không ai có thể xuyên tạc. Bằng bản phúc trình bịa đặt và vu cáo trên đây, HRW đang tự bôi xấu mình.

Việt Nam là một đất nước có nhiều tôn giáo khác nhau với khoảng 20 triệu tín đồ, chiếm 1/4 dân số. Hiến pháp hiện hành của Việt Nam quy định “công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào và không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Không ai có thể bóp méo một sự thật rõ ràng là ở Việt Nam người theo đạo và người không theo đạo đoàn kết cùng phấn đấu để xây dựng và bảo vệ đất nước. Hoàn toàn không có việc ai đó bị giam giữ vì bày tỏ chính kiến hoặc vì lý do tôn giáo. Thực tế chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật mới bị giam giữ và xét xử theo pháp luật. Không thể không vạch ra rằng, thời gian gần đây các thế lực phản động thù địch ra sức câu kết với nhau, đồng thời tìm cách khai thác ý kiến của những người có cách nhìn sai lệch, thiếu thiện chí để dựng lên một bức tranh u ám về Việt Nam.

Hiến pháp Việt Nam thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đã được toàn dân thảo luận rộng rãi và được Quốc hội thông qua. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được ghi ở Điều 4 của bản Hiến pháp chính là sự thừa nhận và là sự lựa chọn dứt khoát của toàn dân tộc Việt Nam. Những ông nghị Mỹ có thể không được am tường lịch sử Việt Nam để có thể hiểu rằng, trước năm 1930, có nhiều phong trào và tổ chức yêu nước, nhưng cuối cùng, chỉ có tổ chức cộng sản tồn tại và hoạt động được trong sự khủng bố điên cuồng của bọn đế quốc. Không ai có thể dùng bất cứ một thứ ảo thuật nào để có thể phủ nhận được rằng, chính Đảng Cộng sản đã luôn luôn đứng mũi chịu sào, lãnh đạo nhân dân giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vượt qua mọi khó khăn thử thách, giành được những thành tựu vĩ đại: tiến hành thành công Cách mạng Tháng Tám 1945, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh bại những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trong thế kỷ XX, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào năm 1975.

Là bộ tham mưu tài giỏi trong chiến tranh giải phóng, Đảng Cộng sản Việt Nam lại chính là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, biết khơi nguồn nội lực để nhân dân ta làm nên những kỳ tích mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đảng ta luôn luôn tỏ rõ một bản lĩnh chính trị vững vàng và một trí tuệ mãi mãi thanh xuân. Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đã làm chói sáng vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính bằng bản lĩnh và trí tuệ, mà ngay từ buổi ban đầu, Đảng ta đã khẳng định phải gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Chính bằng bản lĩnh và trí tuệ mà Đảng ta đã nhận rõ vận hội và thách thức. Cũng chính bằng bản lĩnh và trí tuệ mà Đảng đã đặt công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào vị trí chủ yếu cho sự cất cánh kinh tế của đất nước. Như thế, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam được kết tinh trong tài thao lược của Bộ Tham mưu vĩ đại là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng cần khẳng định thêm rằng, ở Việt Nam không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân chính trị, mà chỉ có những kẻ vi phạm luật pháp và bị xử lý theo pháp luật Việt Nam. Việt Nam là một đất nước tự chủ, chỉ có Chính phủ và nhân dân Việt Nam mới có quyền giải quyết những vấn đề nội bộ của Việt Nam. Không ai, với bất cứ danh nghĩa gì, có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của một đất nước có chủ quyền. Chỉ có nhân dân nước đó mới có quyền lựa chọn thể chế chính trị nào, cũng như ai là người lãnh đạo họ.

Liên tiếp trong nhiều năm qua, trong các báo cáo về tình hình dân chủ nhân quyền trên thế giới, các tác giả Mỹ không bao giờ quên đeo cặp kính đen đầy thiên kiến và thiếu thiện chí để nói về Việt Nam. Coi tôn giáo là một trong những hướng tấn công chủ yếu trên mặt trận dân chủ, nhân quyền, họ bao giờ cũng cố nặn ra “vấn đề tôn giáo”, rồi bơm phồng lên nhằm mô tả Việt Nam như một quốc gia thi hành chính sách “đàn áp tôn giáo”.

Không ai, bằng bất cứ thủ đoạn dối trá nào, có thể làm lu mờ được một sự thật sáng rõ rằng, cả mặt pháp lý cũng như thực tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân. Điều 70, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Việc thực hiện tốt chính sách này trong suốt mấy chục năm qua đã được đồng bào tôn giáo hoan nghênh, góp phần quan trọng tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Bất cứ ai có sự nhìn nhận khách quan, khi tới Việt Nam đều thừa nhận rằng, ở những người theo tín ngưỡng, tôn giáo được tự do thờ cúng và tiến hành các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật. Không có ai bị bắt giam vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, chỉ những người lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam thì đương nhiên họ phải bị xét xử theo pháp luật.

Những biến động lớn trong đời sống quốc tế mấy năm gần đây càng cho thấy rõ rằng, mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo đang trở thành những vấn đề toàn cầu, có tác động rất lớn tới việc sắp xếp, bố cục quan hệ quốc tế trong thế kỷ XX. Vấn đề dân tộc, tôn giáo đang nổi lên mà nhiều nước phải đối phó, giải quyết. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa bá quyền và cường quyền chính trị là nguyên nhân gây ra các cuộc xung đột dân tộc và tôn giáo ngày nay. Dưới chiêu bài “nhân quyền” tự do tôn giáo, trên thực tế, Mỹ đang tiếp tay cho các thế lực cực đoan tôn giáo mở rộng không gian hoạt động, tạo ra mối hiểm họa đối với nhiều quốc gia. Đó là một trò chơi dao cực kỳ nguy hại.

“Tự do thông tin và dân chủ cho Việt Nam” là một món hàng “đáng giá” trong gánh hát nhân quyền mà các thế lực thù địch với Việt Nam tìm mọi cách đưa ra công diễn trong những năm gần đây. Họ không ngớt la lối rằng, ở Việt Nam “người dân không được quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí”.
Ở Việt Nam, quyền thông tin của nhân dân rất được coi trọng. Quyền này không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp mà còn được bảo đảm đầy đủ trong thực tế. Nhiều người đến thăm Việt Nam đã không khỏi ngạc nhiên trước sự phát triển của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Báo chí đã thật sự trở thành diễn đàn để mọi người dân có thể tự do bày tỏ ý kiến của mình về mọi lĩnh vực của đời sống đất nước. Tất cả các bộ, ngành, các tổ chức xã hội và cả Chính phủ đều thành lập bộ phận thu thập ý kiến của nhân dân thông qua báo chí. Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần đích thân chỉ thị các ngành, các cấp, các địa phương phải nghiêm chỉnh xử lý những vấn đề do báo chí nêu ra. Báo chí đã góp phần tạo bầu không khí lành mạnh trong xã hội, để mọi người dân có thêm niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, báo chí đã thật sự trở thành lực lượng quan trọng, có những đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đổi mới đất nước, luôn luôn đi đầu trong công cuộc chống tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ có sự tham gia tích cực của báo chí mà hàng loạt các vụ tiêu cực tham nhũng lớn liên quan đến cán bộ có chức có quyền trong bộ máy công quyền đã bị phơi bày ra ánh sáng và đưa ra xét xử trước pháp luật. Nếu ở một đất nước không có tự do thông tin thì báo chí không thể có những đóng góp như vậy.

Do trình độ kinh tế còn hạn chế, nên Việt Nam chưa phải là một nước đã phổ cập rộng rãi việc sử dụng Internet đến mọi đối tượng trong xã hội. Thế nhưng, bất cứ ai, ở đâu, nếu có điều kiện cũng có thể truy cập Internet một cách dễ dàng để có được những thông tin cần thiết. Khách nước ngoài đến Việt Nam đã đánh giá rằng, Việt Nam là một nước cởi mở, và người dân, tuỳ theo điều kiện kinh tế của mình, đã bắt đầu được hưởng những thành tựu của công nghệ thông tin hiện đại.

Nhưng cũng cần phải khẳng định rằng, trong khi cố gắng bảo đảm tốt quyền được thông tin của nhân dân, Việt Nam dứt khoát không cho phép truyền bá những thông tin xấu, độc, đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân, có hại cho việc xây dựng một xã hội lành mạnh, đặc biệt là những thông tin có hại cho việc giáo dục thế hệ trẻ như bạo lực, tình dục,… trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là qua mạng Internet. Luật pháp Việt Nam bảo đảm tự do thông tin, tự do báo chí, nhưng cũng kiên quyết không cho phép bất cứ ai sử dụng báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền bôi nhọ chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn chống lại chính quyền, làm mất ổn định chính trị của đất nước vốn được dư luận quốc tế đánh giá là một thành tựu nổi bật của Việt Nam trong một thế giới đầy bất ổn.
Cần phải vạch ra thói đạo đức giả của những kẻ nhào nặn ra món hàng “tự do thông tin cho Việt Nam”. Đây chỉ là ý đồ xấu xa để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, cố tạo ra ấn tượng rằng, Việt Nam là một “điểm nóng” về nhân quyền, để từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Bằng màn kịch vụng về này, họ muốn tiếp tay cho những phần tử chống đối, họ muốn các tài liệu chống chính quyền và nhân dân được tự do phát tán, tự do đưa ra nước ngoài; đồng thời những đống tài liệu xấu độc từ bên ngoài lại được tự do tuồn vào Việt Nam để thực hiện mưu đồ gây sụt lở chế độ từ bên trong của họ. Khi Việt Nam không cho phép họ làm điều đó thì họ lập tức la lối lên rằng, Chính phủ Việt Nam bóp nghẹt tự do thông tin, tự do báo chí.
Vì sao họ lại giành sự ưu tiên, sự quan tâm đặc biệt đối với Đài phát thanh châu á tự do như vậy? Đây chính là công cụ chủ lực của Oasinhtơn trong chiến lược nô dịch thông tin ở châu Á mà trước hết mũi dùi công kích được chĩa vào những quốc gia có chế độ chính trị không hợp khẩu vị của họ, bị họ xếp loại vào những nước có “thành tích bất hảo” về dân chủ và nhân quyền. Bị chính phủ và nhân dân các nước tẩy chay và vô hiệu hoá, kể từ khi ra đời đến nay, Đài phát thanh châu á tự do đã không thực hiện được những mục tiêu chính trị mà Oasinhtơn đặt ra.

Dự luật “Tự do thông tin cho Việt Nam” được tung ra trong bối cảnh các thế lực thù địch hay thiếu thiện chí ở Mỹ đang mưu toan đưa “Dự luật nhân quyền Việt Nam” ra để Hạ nghị viện Mỹ bỏ phiếu một lần nữa sau khi dự luật sai trái này đã bị Thượng nghị viện Mỹ trì hoãn không đưa ra bỏ phiếu. Đây là cuộc tiến công nhân quyền từ nhiều hướng rất thâm độc. Bằng việc đưa ra Hạ nghị viện những dự luật sai trái như vậy, các thế lực này đang mưu toan hợp pháp hoá mục tiêu chống phá và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng các văn bản pháp luật với những điều khoản bắt buộc.

Những hành động sai trái này đang cản trở, làm tổn hại đến việc phát triển quan hệ Việt – Mỹ vốn đã vượt qua được nhiều trở ngại để phát triển đáng khích lệ như hiện nay. Như vậy, có thể khẳng định rằng, đây không phải là thứ tự do thông tin đích thực cho Việt Nam, mà là thứ tự do can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam vì những mục tiêu chính trị đen tối.

Thật kỳ khôi là trong một thế giới mà việc tôn trọng chủ quyền độc lập của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau đang trở thành những nguyên tắc cơ bản nhất, thì Mỹ và phương Tây vẫn chủ trương coi nhân quyền là hòn đá tảng của các mối quan hệ quốc tế, và dường như không đếm xỉa gì đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế, những sự khác biệt trong nhận thức, quan điểm của từng quốc gia dân tộc về chủ quyền và nhân quyền xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo,… cũng như trong việc ấn định những ưu tiên của quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể.

Thật chẳng có gì khó hiểu khi lãnh đạo một quốc gia đang lâm vào nạn đói phải quan tâm trước hết đến việc cho người dân không đứt bữa, hay một quốc gia đang lâm vào cảnh rối loạn phải tìm mọi cách để ổn định xã hội, chứ không phải là việc thực thi bằng mọi giá các biện pháp bảo đảm dân chủ mà lại theo hướng dẫn từ bên ngoài. Không còn là một hiện tượng hiếm hoi khi tại nhiều nước nghèo, dân chủ vô hạn độ đồng nghĩa với vô chính phủ, dẫn tới tranh chấp, xung đột, chết chóc và đói khát.

Nhân quyền là một giá trị tổng hợp trên cả khía cạnh tinh thần lẫn vật chất. Nó không chỉ bó hẹp đơn thuần ở các quyền tự do cá nhân như phương Tây thường nhấn mạnh và luôn luôn đặt nó ở vị trí độc tôn. Rất nhiều lúc, người ta đã cố tình lãng quên rằng, nhân quyền, trên hàm nghĩa bao quát nhất của nó, là quyền của các cộng đồng, dân tộc, quốc gia, trong đó có quyền tự quyết, quyền phát triển, quyền bình đẳng, quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Chiến đấu để giành độc lập, tự do cho dân tộc là vì nhân quyền lớn nhất, thiêng liêng nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đúng vào thời điểm Liên hợp quốc công bố Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ và nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn đầy thử thách của cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, giành những quyền con người cơ bản nhất, đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền dân tộc tự quyết. Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc được loài người tôn vinh là chiến thắng của lương tri và chính nghĩa, đã đóng góp to lớn vào cuộc đấu tranh chung vì quyền con người cơ bản nhất trong thế kỷ XX.

Thử hỏi, quyền của các dân tộc nhỏ yếu ở đâu khi họ là nạn nhân của xâm lược áp bức, thôn tính, tước đoạt, phân biệt đối xử. Nếu quốc gia bị tước mất quyền cơ bản nhất là độc lập, chủ quyền dân tộc thì nhân quyền của những người dân nước đó sẽ ra sao và ai sẽ là người bảo đảm các quyền đó cho họ? Chẳng là nhân quyền gì ở chỗ quyền tự do cá nhân tuyệt đối (thực ra là chỉ của một số nhóm người) được bốc lên tận mây xanh, trong đó, có cả quyền sống dư thừa, trong lúc hàng tỉ người khác thì rên xiết trong đói nghèo và được “tự do” chết đói? Một khi dân tộc bị nô lệ, nhân dân mất quyền tự do thì làm sao người dân có được quyền tự do tuyệt đối!

Sẽ chẳng bao giờ có nhân quyền đích thực nếu chủ quyền dân tộc, quốc gia bị chà đạp. Chủ quyền dân tộc là nguyên tắc cốt lõi nhất cần phải được tôn trọng. Luật pháp Mỹ chỉ có giá trị trong biên giới nước Mỹ, không thể thay thế, không thể đứng trên hệ thống pháp lý quốc tế. Mang danh nhân quyền để chà đạp chủ quyền quốc gia đang tạo ra một nguy cơ thực sự trong thế giới hiện đại, áp đặt nhân quyền theo những tiêu chí và những mưu đồ riêng của mình, chính là sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Hội nghị quốc tế về nhân quyền tại Viên năm 1993 với sự tham gia của hàng trăm quốc gia đã long trọng xác nhận rằng, nhân quyền vừa có tính phổ biến (có người gọi là tính toàn cầu), vừa có tính đặc thù. Tất cả mọi sự phức tạp, nhạy cảm của vấn đề nhân quyền hôm nay có thể ẩn chứa trong việc giải bài toán có hai đặc tính tưởng như đối chọi này. Thực ra, tính phổ biến và tính đặc thù của vấn đề nhân quyền là hai mặt gắn bó hữu cơ và tác dụng qua lại trong một tổng thể những quyền gắn bó biện chứng với nhau. Đó là quyền của cá nhân và quyền của dân tộc và cộng đồng, quyền dân sự, chính trị, và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền của cá nhân phải đi đôi với nghĩa vụ của họ đối với xã hội. Quyền con người không thể tách rời hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển.

Tính toàn cầu ở đây lẽ ra phải được hiểu như là tính nhân loại, có nghĩa rằng, đó là những giá trị chung nhất mà tất cả các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, dù với chế độ chính trị nào, tôn giáo nào, chủng tộc nào, trình độ phát triển ra sao cũng đều thừa nhận. Những giá trị chung nhất đó, trước hết phải là quyền của tất cả các dân tộc quốc gia được sống trong độc lập, tự do, bình đẳng với các quốc gia dân tộc khác. Những giá trị chung nhất đó còn là quyền của các cá nhân được phát triển hài hòa trong một trật tự xã hội được thiết lập theo những quy chuẩn chung, được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại tương xứng và phù hợp với điều kiện khách quan của cộng đồng dân tộc mà mình chung sống.

Cần phải vạch ra một sự nhầm lẫn đáng tiếc, nếu không muốn nói đó là một sự áp đặt độc đoán của phương Tây. Họ mặc nhiên coi những giá trị phương Tây là giá trị chung của toàn nhân loại. Hễ ở đâu, có ai đó làm điều gì trái với ý họ là họ lên giọng phán xét ngay, đó là “sự vi phạm nhân quyền”(!). Trong canh bạc nhân quyền của họ, bao giờ cũng thấp thoáng, ẩn chứa những toan tính chính trị. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các nước có chế độ chính trị – xã hội không hợp khẩu vị của Oasinhtơn đều bị họ mặc nhiên xếp vào những nước có “thành tích kém về nhân quyền”.

Như vậy, bảo đảm quyền con người trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia và không một ai với bất cứ tư cách gì, sứ mệnh gì được phép xâm phạm độc lập chủ quyền của quốc gia đó. Trong một thế giới hội nhập, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc, việc thúc đẩy thực hiện các quyền cơ bản của con người có sự hợp tác quốc tế đang được coi là một điều bình thường. Thế nhưng, không ai được lợi dụng vấn đề nhân quyền như một công cụ gây sức ép trong quan hệ quốc tế, gắn nhân quyền với viện trợ kinh tế và thương mại. Tuyệt đối không được thực hiện các mưu đồ chính trị khi xử lý các vấn đề nhân quyền.

Dù nhìn dưới góc độ nào, thì nhân quyền còn mãi mãi là một tổ hợp những vấn đề tế nhị và nhạy cảm vì cái căn nguyên sâu xa của nó bắt rễ trong phong cách sống cũng như nấc thang giá trị của từng dân tộc. Thế giới mà chúng ta đang sống vừa thống nhất, vừa đa dạng, phức tạp với bản sắc riêng của từng dân tộc. Tuy rất đặc thù, nhưng nhân quyền, cũng như các lĩnh vực khác, đang trở thành một bộ phận của đời sống quốc tế. Vì thế, thay vì áp đặt theo kiểu sen đầm quốc tế về nhân quyền, nên đưa nó vào trong tiến trình của cuộc đối thoại quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia.

Đó là sự hợp lý để thực hiện các điều khoản đã được ghi trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền một cách bình đẳng.

(Theo: Quang Lợi, Lẽ phải của chúng ta, NXB Chính trị Quốc gia, 2004)
cpv.org.vn

Tăng cường công tác bảo vệ và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền trong tình hình mới

(ĐCSVN) – Trong khi tiến hành chiến lược “Diễn biến hoà bình”, các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng các vấn đề nhạy cảm: dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá các nước XHCN. Đặc biệt từ sau năm 1991 đến nay, lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng sử dụng các vấn đề nhạy cảm trên để chống phá, nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, hướng Việt Nam đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, tăng cường công tác bảo vệ và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền trong tình hình mới.

Về cơ bản, hoạt động của các thế lực thù địch chống ta tập trung vào vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo, dân tộc nhằm can thiệp, gây sức ép, kích động chủ nghĩa ly khai gây mất ổn định chính trị – xã hội diễn ra ngày càng gay gắt, ráo riết tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau đây:

Một là, thông qua các tổ chức quốc tế, các đạo luật, các báo cáo vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Vấn đề nhân quyền và nghĩa vụ thực hiện nhân quyền là mối quan tâm chung của nhân loại, là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu. Các nước phương Tây đang gia tăng lợi dụng vấn đề này để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành nghị quyết… nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tế nhân quyền ở Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức, như: Bộ Ngoại giao Mỹ, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện Châu Âu, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI)… trong các báo cáo hàng năm đều đã buộc phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực” nhưng luôn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền ở Việt Nam; đòi đưa nước ta vào diện “những nước vi phạm nhân quyền nghiêm trọng” vì họ cho rằng, Việt Nam “đàn áp người dân tộc thiểu số”, “đàn áp tôn giáo”, trấn áp “các chiến sỹ bảo vệ nhân quyền”… đòi xoá bỏ Nghị định 31/CP của Chính phủ về quản chế hành chính. Đáng chú ý, gần đây, trong báo cáo nhân quyền năm 2009, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tiếp tục xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi cho rằng: Chính phủ Việt Nam gia tăng đàn áp những người hoạt động chính trị, nhà báo, các blogger, hạn chế quyền tự do ngôn luận, đi lại, lập hội, tự do tôn giáo; cho rằng “hệ thống tư pháp ở Việt Nam bị bóp méo”, “Việt Nam tăng cường đàn áp những người bất đồng chính kiến”, can thiệp quyền tự do của công dân; hạn chế thành lập các công đoàn độc lập của người lao động; tình trạng tham nhũng gia tăng, tồn tại nạn bạo hành…”.

Đồng thanh với Mỹ, ngày 17/3/2010, Bộ ngoại giao Anh công bố “Báo cáo nhân quyền năm 2009” của các nước trên thế giới. Nội dung khuyếch đại tầm quan trọng của “nhân quyền” trong các mục tiêu chính sách can dự của Anh ở nước ngoài. Đáng chú ý, họ tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách 22 nước cần đặc biệt quan tâm về “nhân quyền” và cho rằng, trong năm 2009, ở Việt Nam “vẫn còn tồn tại một số lĩnh vực quan ngại như tự do bày tỏ chính kiến, tự do báo chí”.

Trong Quốc hội Mỹ, số nghị sĩ cực đoan tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam, liên tục đòi tổng thống Mỹ Obama đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (C.P.C). Ngày 25/3/2010, Uỷ ban nhân quyền (thuộc Hạ viện Mỹ) tổ chức điều trần về tình hình nhân quyền Việt Nam đã nhận định hết sức thiếu thiện chí rằng: “tình hình nhân quyền Việt Nam ngày càng sa sút” và ủng hộ thông qua “Dự luật nhân quyền Việt Nam” (HR.3096). Ngoài ra, chính quyền Obama liên tục có các động thái khẳng định tiếp tục thúc đẩy “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” trên thế giới theo kiểu Mỹ, trong đó chú trọng tự do thông tin, tự do Internet để dùng chiêu bài nhân quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam.

Đồng thanh với Mỹ, EU, một số nước phương Tây thông qua hoạt động hợp tác văn hoá, giáo dục để công khai hoặc ngầm khích lệ xu hướng đối lập, tiếp tục thực hiện mục tiêu “dân chủ hoá” Việt Nam.

Lợi dụng quan hệ hợp tác với Việt Nam, nhiều nước, nhất là các nước EU luôn tìm cách gắn vấn đề hợp tác phát triển viện trợ, đầu tư với những điều kiện đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền như nêu vấn đề: mở rộng tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, đòi cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài được tham dự các phiên toà xét xử số đối tượng liên quan đến các vấn đề nhạy cảm mà bên ngoài quan tâm; đòi thả số đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt, xử lý mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”. Trên các diễn đàn đa phương và song phương, các nước phương Tây thường đưa ra những lập luận tuyệt đối hoá tính toàn cầu, tính phổ cập của vấn đề dân chủ, nhân quyền với luận điểm “Nhân quyền cao hơn chủ quyền” mà không tính đến đặc thù về văn hoá, xã hội của từng quốc gia, từng khu vực; nêu vấn đề về nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam không còn phù hợp với các Công ước mà Việt Nam ký kết để tác động ta thay đổi cách tiếp cận theo quan điểm của họ.

Hai là, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để phá hoại tư tưởng, tác động “tự diễn biến” vào nội bộ ta.

Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng; đưa ra các quan điểm sai trái cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với trình độ phát triển của khoa học, công nghệ nhanh chóng như hiện nay;chế độ XHCN không còn thích hợp để làm suy giảm niềm tin của quần chúng đối với chế độ. Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng (Internet, đài phát thanh, truyền hình…) cùng nhiều loại báo chí, ấn phẩm của bọn phản động người Việt lưu vong, để mở các “chiến dịch” tuyên truyền đa nguyên, đa đảng; gây nghi kị, chia rẽ trong nội bộ ta. Thông qua các chương trình hợp tác về văn hoá, giáo dục, đào tạo để truyền bá mô hình lập pháp và nền dân chủ tư sản phương Tây, cho rằng, Việt Nam cần phải cải cách luật pháp và hệ thống xét xử theo hướng tam quyền phân lập; một số đối tượng tìm cách, tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng thực hiện ý đồ hình thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số.

Các thế lực thù địch ở bên ngoài công khai ủng hộ khích lệ bọn phản động người dân tộc thiểu số lưu vong, móc nối, kích động và chỉ đạo số chống đối bên trong ráo riết phục hồi tổ chức, phát triển cơ sở ngầm, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, tuyên truyền luận điệu “Việt Nam chiếm đất và đàn áp người dân tộc thiểu số, đàn áp tôn giáo…” để lừa mị, lôi kéo, tập hợp quần chúng tổ chức biểu tình, bạo loạn. Khi bị thất bại trong các cuộc biểu tình, gây rối ở Tây Nguyên, chúng kích động hàng nghìn người dân tộc thiểu số trốn sang Campuchia; tổ chức cho định cư ở Mỹ nhằm tái lập “trại tị nạn” làm chỗ đứng chân, tập hợp lực lượng, gây mất ổn định lâu dài ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Các phần tử phản động Khmer Crôm lưu vong đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền: Việt Nam vi phạm quyền con người đối với người Khmer để kích động trốn sang Campuchia, kích động gây hận thù dân tộc Kinh-Khmer; tìm cách móc nối với số chống đối trong nội địa tập hợp quần chúng; kích động, biểu tình đòi đất, đòi ly khai, tự trị. Một số tổ chức như: Liên đoàn Khmer CPC Crôm… đòi thành lập Văn phòng đại diện nhân quyền ở vùng Tây Nam Bộ để giám sát tình trạng vi phạm nhân quyền đối với người Khmer ở Tây Nam Bộ. Ở Tây Bắc, các tổ chức phản động người Mông, Thái lưu vong cũng đang tích cực tuyên truyền luận điệu Việt Nam phân biệt đối xử với người Mông, Thái; gia tăng phát triển đạo Tin Lành để nắm quần chúng.

Bốn là, gia tăng kết hợp, móc nối số đối tượng chống đối trong nước và bọn phản động nước ngoài để chống Việt Nam.

Vận động số nghị sỹ cực đoan trong Hạ viện Mỹ, Nghị viện châu Âu… ban hành các “Dự luật”, “Nghị quyết”, “Báo cáo”… tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động chống phá Việt Nam và hợp thức hoá sự ủng hộ đối với số chống đối; thu thập thông tin về những sơ hở thiếu sót của ta trong chính sách tôn giáo, dân tộc ở cơ sở để tạo cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Bọn phản động lưu vong đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, “mít tinh” ủng hộ cái gọi là “tiếng nói đấu tranh đòi dân chủ”. Số cơ hội chính trị trong nước liên kết với “Đảng Cấp tiến xuyên quốc gia” (TRP) đưa tổ chức “Quỹ người Thượng” của Ksor Kok đến vu cáo Việt Nam tại các diễn đàn của Liên Hợp quốc, phản đối ta đàn áp người Thượng. Đáng chú ý là các tổ chức của Võ Văn Ái, Nguyễn Gia Kiểng ở Pháp; Ngô Thị Hiền ở Mỹ thường xuyên tiến hành các hoạt động xuyên tạc, vu cáo ta.

Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đấu tranh làm thất bại các hoạt động chống phá ta về nhân quyền trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá của các thế lực thù địch:

1. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động, giáo dục sát hợp với từng vùng, địa phương nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền trong tình hình mới. Nắm chắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và tự hào về những thành tựu to lớn về nhân quyền của chúng ta đạt được, trong đó tập trung đối với việc giáo dục tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh, đồng bào theo đạo và đồng bào dân tộc, chống sự xâm nhập của các loại tư tưởng sai trái, tài liệu độc hại từ bên ngoài.

2. Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý lĩnh vực báo chí, xuất bản, giáo dục, đào tạo… ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, làm ảnh hưởng tới hình ảnh đất nước, lộ bí mật, gây phức tạp cho công tác thông tin đối ngoại.

3. Nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động mới của các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền chống phá ta, nhất là lợi dụng quyền tự do tôn giáo, quyền tự trị của người dân tộc thiểu số, quyền tự do ngôn luận, báo chí, bày tỏ ý kiến… để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Phải tạo được sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết là trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể ở Trung ương và địa phương về công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền.

4. Tập trung thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thịQuyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng ở các vùng chiến lược trọng điểm. Đặc biệt là triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 (khoá IX); Nghị quyết số 23 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết số 24 về công tác dân tộc; Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo…

5. Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đi đôi với việc kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Ban hành các luật còn thiếu, sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật và điều luật không còn phù hợp (tập trung chỉ đạo tổng kết Nghị định 31/CP của Chính phủ, bổ sung, sửa đổi án tử hình). Đầu tư nghiên cứu cơ bản về vấn đề nhân quyền làm luận cứ cho việc hoạch định chính sách, pháp luật, tôn trọng thực quyền và nghĩa vụ của công dân. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đi đôi với chống các luận điểm lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch.

6. Nắm chắc tình hình, theo dõi, phân tích thông tin dư luận trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền; dự báo kịp thời âm mưu, hoạt động mới của các thế lực thù địch, nhất là lợi dụng nhân quyền can thiệp, gây sức ép của các thế lực thù địch để chủ động đấu tranh vô hiệu hoá. Thu thập có hệ thống các tư liệu về quyền con người bị xâm hại do các hành động của chủ nghĩa đế quốc để chủ động tấn công lại địch có hiệu quả.

7. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên giữa các bộ, ban, ngành, điạ phương; phối hợp giữa hoạt động đối nội và đối ngoại. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, đảm bảo yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại, theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập phân hoá số ngoan cố chống đối; phân biệt rõ mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn nội bộ nhân dân để giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình, không để sơ hở địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

8. Có biện pháp chủ động tấn công về nhân quyền, như : công bố thực chất thành tựu nhân quyền hàng năm của Việt Nam, phê phán các hoạt động vi phạm nhân quyền ở chính các nước phương Tây. Đối với các “vấn đề” nổi cộm mà bên ngoài quan tâm cần tập trung giải quyết, không để tình hình phức tạp thêm. Tập trung phản bác những thông tin sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong báo cáo nhân quyền năm 2009 của Bộ Ngoại giao Mỹ.

9. Đấu tranh, bảo vệ nhân quyền là đấu tranh, bảo vệ về chính trị, tư tưởng. Vì vậy, Ban Cán sự Đảng các bộ, ban, ngành, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chính phủ, các tỉnh uỷ, thành uỷ chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội theo chức năng của mình góp phần tích cực tham gia công tác bảo vệ và đấu tranh về nhân quyền.

10. Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, xây dựng nội dung, phương pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, xác lập hệ thống lập luận sắc bén, phù hợp với từng loại đối tượng, đối tác; triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế về nhân quyền, làm cho các nước và nhân dân thế giới hiểu rõ về những thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, không bị ngộ nhận do những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch; Đặc biệt, cung cấp kịp thời thông tin định hướng để giúp gần 4 triệu người Việt Nam hiểu đúng, hiểu rõ tình hình và tích cực tham gia công cuộc đổi mới đất nước, như doanh nhân Nguyễn Công Chánh từ Thành phố San Fransisco (Mỹ) về nước dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất đã nói: “Chúng ta cùng ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề giữa trong nước và hải ngoại. Mọi người phải đoàn kết. Tôi tin tưởng một sự hoà hợp chắc chắn sẽ trở thành hiện thực”./.

Mai Anh (Hà Nội)
cpv.org.vn

VN chung tay cùng quốc tế thúc đẩy quyền con người

Việt Nam luôn đảm bảo phát huy quyền con người trên mọi lĩnh vực. (Nguồn: vov.vn)

Với mong muốn phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã chính thức ứng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016.

Việc ứng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc không chỉ thể hiện quyết tâm và trách nhiệm của Việt Nam cùng các nước thực hiện quyền con người, mà còn thể hiện mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người.

Trên thực tế, những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đạt được trong việc bảo đảm và phát huy quyền con người trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… đã được cộng đồng quốc tế công nhận và đánh giá cao.

Ở Việt Nam, các quyền con người được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật; việc đảm bảo quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 chỉ rõ mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật. Cam kết về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam còn được khẳng định trong Cương lĩnh Đại hội Đảng lần thứ XI: “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.”

Việt Nam đã và đang thực hiện cam kết thúc đẩy quyền con người thông qua thực hiện các chính sách lấy con người làm trọng tâm, vì người nghèo và đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhất cho người dân. Các chính sách này đã mang lại tiến bộ đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nghèo đói, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống và phúc lợi cho nhân dân. Trong hoàn cảnh khó khăn do tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, Việt Nam đã nỗ lực duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 6%, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện các quyền cơ bản của người dân.

Chính phủ Việt Nam ưu tiên cao cho cải cách luật pháp, hành chính và tư pháp nhằm đảm bảo tăng cường hơn nữa quyền của người dân cả trong luật pháp và thực tiễn, bao gồm quyền giám sát việc thực hiện pháp luật, tiếp cận thông tin. Vì thế, phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền là ba trụ cột trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Trong những năm qua, Quốc hội Việt Nam cùng với các cơ quan hữu quan đã từng bước soạn thảo, xây dựng, chỉnh lý, hoàn thiện, ban hành các văn bản pháp luật làm cơ sở để bảo đảm quyền con người như Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Tố tụng dân sự sửa đổi; Luật Giáo dục đại học…

Về chính trị, ở Việt Nam, người dân được bảo đảm các quyền cơ bản về bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Việc cử tri tích cực tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử như cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII ngày 22/5/2011, với tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu lên tới 99,51% đã phần nào cho thấy quyền của người dân trong vấn đề này đang được thực hiện nghiêm túc.

Vấn đề đảm bảo tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng ở Việt Nam luôn được coi trọng, nhất là trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và đây cũng là vấn đề thường bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, bóp méo. Kể từ khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành năm 2004, đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã có những biến chuyển tích cực. Người dân được tự do sinh hoạt tôn giáo trên cơ sở tôn trọng chính sách tôn giáo và pháp luật của Nhà nước, đồng thời bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nhà nước Việt Nam cũng luôn quan tâm duy trì và mở rộng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo. Tháng 5/2008, Việt Nam đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc với sự tham dự của hàng vạn chức sắc, tín đồ và gần 2.000 đại biểu quốc tế đến từ 71 quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Đó cũng là cơ sở để Việt Nam được chọn là nước đăng cai tổ chức Hội nghị t hượng đỉnh Phật giáo thế giới vào năm 2010.

Hiến pháp Việt Nam cũng khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam tiếp tục được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng. Hiện cả nước có khoảng 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, hơn 700 cơ quan báo chí in, khoảng 70 đài phát thanh và truyền hình t rung ương và cấp tỉnh, hơn 80 báo điện tử và hàng nghìn trang điện tử…

Báo chí ngày càng được phát huy quyền dân chủ, hoạt động cởi mở, thông thoáng, thực sự là diễn đàn để phát huy quyền làm chủ, quyền tự do ngôn luận của người dân, là công cụ quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội và trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt về quyền con người.

Người dân Việt Nam ngày càng được tiếp cận công nghệ thông tin hiện đại, nhất là Internet, nhằm nâng cao sự hiểu biết và đời sống tinh thần. Tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam tăng nhanh nhất trong khu vực châu Á. Tính đến tháng 10 này, số người sử dụng Internet ở Việt Nam là 30,8 triệu người.

Ở Việt Nam, những kẻ lợi dụng tự do tôn giáo, tự do ngôn luận để chống phá chính quyền, gây mất ổn định chính trị-xã hội, làm tổn hại an ninh quốc gia, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, đều bị trừng trị theo pháp luật.

Một trong những mục tiêu hàng đầu của việc đảm bảo quyền con người ở Việt Nam là không ngừng nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân. Sau hơn 25 năm đổi mới, người dân Việt Nam đang được sống trong một đất nước có nền chính trị ổn định, an ninh trật tự xã hội được bảo đảm, đồng thời được hưởng những thành tựu của công cuộc đổi mới.

Hệ thống an sinh xã hội ngày càng được hoàn thiện và góp phần quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, trở thành chỗ dựa vững chắc cho người nghèo và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Những thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã thực sự gây ấn tượng với nhiều nước trên thế giới. Chỉ trong năm năm qua, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%, mức hưởng thụ các dịch vụ y tế của nhân dân không ngừng tăng, đặc biệt với trẻ em, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; chỉ số phát triển con người cũng liên tục tăng. Ngay từ năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập tiểu học.

Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng đáng kể. Tháng Chín vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục đào tạo giai đoạn 2012-2015, với tổng kinh phí thực hiện là 15.200 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong sáu quốc gia đầu tiên trên thế giới tham gia Công ước về xóa bỏ mọi hình th ức phân biệt đối xử với phụ nữ và được công nhận là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua ở khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam hiện đứng thứ 40 trong tổng số 188 quốc gia trên thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong quốc hội. Với những nỗ lực trên, Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và có triển vọng đạt được các mục tiêu còn lại.

Thực hiện chính sách hội nhập toàn diện, bao gồm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã và đang tiến hành đối thoại và hợp tác với các đối tác quốc tế. Ở cấp độ khu vực, Việt Nam tích cực tham gia cùng các nước ASEAN thúc đẩy hoạt động của Cơ quan liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR). Các mối quan hệ tương tác đó cùng với các cuộc đối thoại định kỳ với một số nước là điều kiện cần thiết cho mọi giải pháp thích hợp đối với các vấn đề nhân quyền cùng quan tâm.

Ở cấp độ liên khu vực, Việt Nam cùng các nước tích cực hưởng ứng các hoạt động của ASEM nhằm thúc đẩy các quyền con người thông qua hội thảo, hội nghị về quyền con người và đối thoại giữa các tín ngưỡng. Ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các công việc chung của cộng đồng quốc tế có liên quan đến quyền con người tại các cơ quan, diễn đàn của Liên hợp quốc.

Việt Nam ủng hộ tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người.

Từ những thành tựu đạt được trong những nỗ lực nhằm đảm bảo quyền con người ở trong nước, cùng với mong muốn chung tay cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy quyền con người, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng Việt Nam có đủ khả năng đóng góp tốt hơn vào công việc của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, vì một thế giới hòa bình, thịnh vượng và công bằng…/.

Thanh Mai (TTXVN)
vietnamplus.vn

ASEAN ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

(VOV) – Tại hội nghị không chính thức Bộ trưởng ngoại giao ASEAN, các nước ASEAN khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ.

Nhân dịp Khóa họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong các ngày 27 và 28/9/2012, tại New York (Mỹ) đã diễn ra Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (IAMM), Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-Mỹ, Hội nghị giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Tổng thư ký Liên hợp quốc LHQ và Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ), các Hội nghị giữa ASEAN với đại diện Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và với Tổ chức hợp tác kinh tế (ECO).

Tại các Hội nghị, các Ngoại trưởng đã bàn về phương hướng tăng cường hơn nữa các quan hệ hợp tác, cũng như trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh dẫn đầu Đoàn Việt Nam tham dự các Hội nghị nêu trên.

Tại Hội nghị không chính thức Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, các Ngoại trưởng ASEAN nhất trí tiếp tục tăng cường phối hợp lập trường và nâng cao vai trò của ASEAN tại LHQ; ra Nghị quyết Đại hội đồng Liên hợp quốc (ĐHĐ/LHQ) về tăng cường hợp tác giữa ASEAN và LHQ; ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ứng cử vào các vị trí của LHQ; trên tinh thần đó, các nước ASEAN khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, dự kiến sẽ được bầu trong năm 2013.

Về hợp tác ASEAN, các Ngoại trưởng ASEAN đã thông qua danh mục các kết quả chính của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 45 và khẳng định quyết tâm triển khai hiệu quả các kết quả này, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông, thúc đẩy đàm phán chính thức ASEAN-Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)…

Các Ngoại trưởng đã xem xét và cho ý kiến chỉ đạo về công tác chuẩn bị cho các Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 11/2012, trong đó có việc trình dự thảo Tuyên bố Nhân quyền ASEAN, tổ chức Đối thoại toàn cầu ASEAN (AGD) và một số vấn đề khác. Trao đổi về tình hình quốc tế và khu vực, các Ngoại trưởng ASEAN đã thảo luận những diễn biến gần đây ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á; theo đó, ASEAN nhất trí đề cao tầm quan trọng Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông và Tuyên bố của Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi, kêu gọi các bên giải quyết mọi khắc biệt bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc đã cam kết và luật pháp quốc tế.

Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN-Mỹ, hai bên bày tỏ hài lòng trước những tiến triển đã đạt được và nhất trí thúc đẩy quan hệ hướng tới tầm đối tác chiến lược, vì mục tiêu chung là hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực. Ngoại trưởng Mỹ khẳng định chính sách của Mỹ đẩy mạnh hợp tác với ASEAN, ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng và đóng vai trò trung tâm ở khu vực, cùng ASEAN đóng góp vào thành công của Hội nghị Cấp cao ASEAN-Mỹ lần thứ 4 tháng 11/2012.

Tại Hội nghị giữa Ngoại trưởng ASEAN với Tổng thư ký LHQ và Chủ tịch ĐHĐ/LHQ, hai bên hoan nghênh những tiến triển đã đạt trong quan hệ ASEAN-LHQ, nhất trí cần tiếp tục triển khai Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác toàn diện ASEAN-LHQ thông qua tháng 11/2011, tăng cường hợp tác trong những lĩnh vực ưu tiên đã xác định như Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs), quản lý thiên tai, thu hẹp khoảng cách phát triển, hỗ trợ xây dựng Cộng đồng ASEAN, tăng cường phối hợp giữa hai Ban Thư ký…

Tại các Hội nghị giữa ASEAN với Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và với Tổ chức Hợp tác Kinh tế (ECO), hai bên nhất trí duy trì cơ chế trao đổi, tiếp xúc định kỳ bên lề ĐHĐ/LHQ; đồng thời, thăm dò khả năng thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa ASEAN với các khu vực này.

Phát biểu tại các Hội nghị, Thứ trưởng  Phạm Quang Vinh nhấn mạnh ASEAN cần tiếp tục tăng cường đoàn kết và hợp tác, phát huy tinh thần trách nhiệm, triển khai hiệu quả các kết quả của Hội nghị AMM-45 và nỗ lực hết sức mình để bảo đảm các Hội nghi Cấp cao của ASEAN tháng 11/2012 thành công.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh đề nghị ASEAN càng cần phối hợp chặt chẽ, phát huy vai trò trung tâm thông qua việc đề cao các nguyên tắc cơ bản các nước đã cùng cam kết và được quy định  trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Tuyên bố EAS về các nguyên tắc quan hệ cùng có lợi, nhất là các nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, hợp tác cùng có lợi…, qua đó đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu vực.

Về Biển Đông, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh các nước càng cần nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước Luật biển 1982, trong đó có quy định về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển; thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); đồng thời, ASEAN cần nỗ lực bảo đảm thực hiện hiệu quả Tuyên bố 6 Nguyên tắc về Biển Đông và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Nhân dịp này, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh đã có các cuộc tiếp xúc với Trưởng đoàn và đại diện một số nước để bàn biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương và các vấn đề cùng quan tâm khác./.

PV/VOV online
vov.vn

Những nhà “cải cách”- họ là “chí sĩ” hay những kẻ “chọc gậy bánh xe” ?

Họ tự xưng, hoặc được các thế lực thù địch bên ngoài tung hô, cổ xúy là những nhà “cải cách”, những “chí sĩ” vì “dân chủ”. Nhưng, những luận điệu, việc làm cụ thể của họ, dù có được cố tình thay đổi bằng cách này hay cách khác tinh vi hơn, cũng không che đậy được mưu đồ “chọc gậy bánh xe”, hòng gây mất ổn định đất nước, xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam.

altThời gian vừa qua,lợi dụng việc Đảng ta tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, một số người, tự xưng là những nhà “cải cách”, những “chí sĩ” đấu tranh vì nền “dân chủ mới” đã đua nhau tung lên mạng Internet nhiều bài “góp ý”, “huyết tâm thư” để đóng góp cho Đảng. Trong các “huyết tâm thư” này, người đọc có cảm giác, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chuyên quyền, độc đoán, sai lầm về quan điểm, đường lối, không đủ năng lực lãnh đạo, điều hành đất nước; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ruỗng nát, tham ô, tham nhũng. Và, dưới chế độ XHCN, đất nước, người dân Việt Nam đang trong cảnh lầm than, đời sống cơ cực, quyền “tự do”, “dân chủ” không được đảm bảo. Không những thế, họ còn lớn tiếng đòi tiến hành “cải cách” triệt để theo hướng: xóa Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN…; xây dựng một xã hội, mà họ gọi là xã hội “dân chủ mới” ở Việt Nam. Hòa cùng với những người này, cách Việt Nam nửa vòng trái đất, một số vị là nghị sĩ của Mỹ và một số nước Tây Âu cũng lớn tiếng phê phán Chính phủ Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”, “đàn áp tôn giáo”…; đòi đưa Việt Nam vào danh sách các nước “cần quan tâm đặc biệt”…

alt

Lễ hội Đền Hùng

Đối với người dân Việt Nam, luận điệu trong những bài viết, “huyết tâm thư” của những nhà “cải cách” trên thật xa lạ, thể hiện sự ấu trĩ về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, bộc lộ rõ thái độ thù địch, “chọc gậy bánh xe”, hòng ngăn cản công cuộc đổi mới của Việt Nam, phá hoại cách mạng Việt Nam – điều mà bấy lâu nay các thế lực thù địch không làm được và sẽ không thể làm được. Hẳn mọi người đều nhớ, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh (những năm thập niên 80, đầu thập niên 90, thế kỷ XX) “ngàn cân treo sợi tóc”. Bên trong nước, khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, lạm phát với tốc độ phi mã, đời sống nhân dân muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Bên ngoài, chủ nghĩa đế quốc gia tăng bao vây, cấm vận, cô lập đất nước ta. Tiếp đó là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, khiến đất nước “chất đầy khó khăn”, tưởng chừng không trụ đứng nổi. Trong tình thế hiểm nguy đó, trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh cách mạng, phân tích một cách khoa học xu thế vận động phát triển của thời đại, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, với những chủ trương, chính sách phù hợp, lãnh đạo đất nước vượt qua “phong ba, bão táp”, tiếp tục tiến bước vững chắc trên con đường XHCN đã chọn. Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng đã lãnh đạo đất nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xử lý hài hòa quan hệ giữa nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường với giữ vững nguyên tắc và bản chất của CNXH; nhờ đó, đã giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, động viên được mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH, tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng, bình đẳng và làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn: từ một nước kém phát triển vươn lên trở thành một nước đang phát triển; từ một nước phải nhập khẩu gạo vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới; tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 7,2%/năm; GDP bình quân đầu người từ mức trên dưới 100 USD/người/năm, đến nay đã đạt 1.200 USD/người/năm… Về đối ngoại, Đảng đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đường lối đối ngoại đó là sự kế thừa, phát triển quan điểm hòa hiếu của dân tộc, tư tưởng “Đại đoàn kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, thể hiện bản chất cách mạng của Đảng ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhờ đó, nước ta không ngừng mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập ngày càng sâu, rộng với khu vực và thế giới. Đến nay, nước ta có quan hệ đối ngoại với hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và nhiều tổ chức quốc tế khác; đặc biệt, được bạn bè quốc tế tín nhiệm bầu làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiều trọng trách quốc tế khác. Trong các cương vị, trọng trách đó, nước ta đã có nhiều đề xuất, sáng kiến tích cực, được bạn bè đánh giá cao, coi là những đóng góp quan trọng cho hòa bình, ổn định và sự phát triển của khu vực và thế giới. Cùng với đó, các hoạt động quốc phòng-an ninh, đối ngoại đã góp phần phá vỡ thế bao vây, cô lập, tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện quốc tế có lợi, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước ở khu vực và trên trường quốc tế; đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch… Những thành tựu đạt được trong 25 năm đổi mới vừa qua là minh chứng sống động nhất khẳng định những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, sắc diện đất nước ngày càng được đổi mới “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời Bác Hồ dạy. Những thành tựu đó cũng được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, xếp Việt Nam vào danh sách “những nước hòa bình nhất thế giới”, “những nước đầu tư có triển vọng”; là tấm gương cho các nước đang phát triển trong xóa đói, giảm nghèo và đến nay đã thực hiện được nhiều Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) của Liên hợp quốc.

altTuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình hoàn toàn mới, nhiều nội dung phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nên cùng với những thành tựu đạt được, nước ta cũng khó tránh khỏi những vấp váp, những khiếm khuyết; đó là thực tế khách quan mà nước nào cũng gặp phải trong quá trình phát triển. Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ cho toàn Đảng, toàn dân những khiếm khuyết đó, kể cả những khuyết điểm do sai lầm, hữu khuynh, duy ý chí trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong xây dựng Đảng. Đảng ta cũng chỉ rõ, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng không chỉ đang làm giảm uy tín mà còn là nguy cơ của Đảng. Đại hội XI vừa qua đã biểu thị quyết tâm của Đảng thực hiện các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để khắc phục những khuyết điểm, đặc biệt là trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa Hồng vừa Chuyên” để Đảng ta thực sự “là đạo đức là văn minh”.

Hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, khó khăn, vững bước trên con đường đi lên CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là một đảng bản lĩnh, trí tuệ, xứng đáng là ngọn cờ tiền phong, người lãnh đạo, người “đầy tớ trung thành” của đất nước và nhân dân Việt Nam. Nhân dịp diễn ra Đại hội lần thứ XI của Đảng ta, hàng trăm Đảng Cộng sản của các nước, các tổ chức và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đã bày tỏ sự cảm phục những thành công mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới; coi Việt Nam là tấm gương, hình mẫu sinh động để khẳng định: Đảng Cộng sản có đủ khả năng lãnh đạo đất nước mạnh giầu; CNXH là một thành tố không thể thiếu cho sự phát triển của nhân loại. Họ cũng bày tỏ tin tưởng rằng, với tài trí thông minh, thái độ cầu thị, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định lãnh đạo đất nước đi tới thành công.

Vậy mà, những nhà “cải cách” cố tình khoét sâu những khiếm khuyết, những mặt còn bất cập, hạn chế để phủ nhận, rũ bỏ sạch những thành quả cách mạng mà Đảng, nhân dân ta đã nỗ lực phấn đấu bằng biết bao mồ hôi, xương máu mới có được. Những việc làm đó là không có lương tri, phi đạo lý, hoàn toàn xa lạ, không thể chấp nhận được Mưu đồ và thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng xóa bỏ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam là hoàn toàn trái ngược với ý chí và nguyện vọng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Mưu đồ và thủ đoạn đó của chúng dù có được “tàng hình” tinh vi đến đâu cũng nhất định sẽ bị nhân dân lật tẩy và bị làm cho thất bại.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của 5 năm tới là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”1. Để phấn đấu hoàn thành mục tiêu chiến lược mà Đảng đã đề ra, hơn lúc nào hết, Đảng, Nhà nước, nhân dân đang rất cần những người con ưu tú, như giáo sư Ngô Bảo Châu, hàng nghìn, hàng vạn doanh nhân trẻ “Đất Việt” – những người đang ngày đêm mang tri thức, nhiệt huyết để tham gia xây dựng đất nước mạnh giầu; xây dựng sự đồng thuận trong toàn xã hội, nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nguy cơ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thực hiện thắng lợi những chủ trương, chính sách, mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra. Bài học thành công của cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định là: kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giữ vững kỷ cương, phép nước, pháp chế XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; nhưng kiên quyết xử lý thích đáng những kẻ vi phạm pháp luật, cố tình “chọc gậy bánh xe”, đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phá hoại an ninh quốc gia, phá rối an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước… Đó vẫn là bài học có giá trị thực tiễn trong thời gian tới.

MINH ĐỨC
tapchiqptd.vn

_________

1- Báo Quân đội nhân dân, ngày 20-1-2011, tr. 3

Dự luật Nhân quyền VN của Hạ viện Mỹ là sai trái

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam
Lương Thanh Nghị.

Ngày 13/9, trả lời câu hỏi của phóng viên trước việc ngày 11/9/2012, Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012 H.R.1410 và Nghị quyết H.Res.484 “kêu gọi Chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền,” Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói:

“Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã có những tiến triển tích cực trong thời gian qua. Hai nước thường xuyên trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có vấn đề quyền con người, trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng và tôn trọng lẫn nhau. Đây là cách tốt nhất để tăng hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt, góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục phát triển vì lợi ích của cả hai nước.

[Hạ viện Mỹ thông qua dự luật sai trái về Việt Nam]

Dự luật H.R.1410 và Nghị Quyết H.Res.484 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam. Việc thông qua dự luật và nghị quyết nói trên là sai trái, không phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.”./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hạ viện Mỹ thông qua dự luật sai trái về Việt Nam

Hạ viện Mỹ

Cái gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam” với những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam vừa được Hạ viện Mỹ thông qua.

Theo thông cáo báo chí đăng trên trang web của Hạ nghị sĩ Chris Smith, Hạ viện Mỹ chiều 11/9 đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012 số hiệu là H.R.1410.

Theo dự luật này, Mỹ không được viện trợ không có mục đích nhân đạo cho Việt Nam nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Mỹ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền.

Hồi tháng 3 năm nay, khi Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua dự luật kể trên, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã khẳng định dự luật đưa ra những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Ông Nghị nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng mọi khác biệt về vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại với Mỹ về vấn đề quyền con người.”

Theo người phát ngôn, trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

[“Dự luật nhân quyền Việt Nam là không công bằng”]

Khi đó, Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega cũng cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam 2011 được thông qua tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ là không công bằng với cả nhân dân và Chính phủ Việt Nam.

Nghị sĩ Faleomavaega cho rằng với việc thông qua dự luật trên, người ta đã áp dụng một “tiêu chuẩn kép” đối với Việt Nam, tức là áp đặt một tiêu chuẩn cao hơn về nhân quyền đối với Việt Nam so với các nước khác, trong đó có chính nước Mỹ.

Hạ nghị sĩ Chris Smith từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và được Hạ viện Mỹ thông qua nhưng đều bị Thượng viện bác bỏ./.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

“Dự luật nhân quyền Việt Nam là không công bằng”

Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega. (Ảnh: Đỗ Thúy/Vietnam+)

Ngày 8/3, Hạ nghị sỹ Mỹ Eni Faleomavaega cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam 2011 vừa được thông qua tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ là không công bằng với cả nhân dân và Chính phủ Việt Nam.

Nghị sĩ Faleomavaega cho rằng với việc thông qua dự luật trên, người ta đã áp dụng một “tiêu chuẩn kép” đối với Việt Nam, tức là áp đặt một tiêu chuẩn cao hơn về nhân quyền đối với Việt Nam so với các nước khác, trong đó có chính nước Mỹ.

Ông nói: “Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực hết sức để loại bỏ những xâm phạm về nhân quyền, và Chính phủ Mỹ cũng đang có những nỗ lực tương tự. Cái mà tôi muốn chỉ ra là một thứ tiêu chuẩn kép. Tại sao chúng ta lại đặt riêng Việt Nam ra trong khi các nước khác cũng có những vấn đề tương tự.”

Theo Nghị sĩ Faleomavaega, trong các cuộc tham vấn giữa Quốc hội với Bộ Ngoại giao Mỹ, chính bộ này đã thừa nhận rằng phía Việt Nam đã và đang cố gắng để cải thiện quyền con người. Ông cũng cho rằng chính nước Mỹ đang có một vấn đề về đạo đức cần phải khắc phục.

Ông nói: “Nếu đã nói về những việc làm trước kia, thì phải nói đến chuyện hàng triệu galông chất độc da cam/dioxin, loại hóa chất độc hại nhất, mà người Việt Nam phải hứng chịu, chỉ vì sai lầm của chúng ta đã gây ra cho Việt Nam,” rồi đặt câu hỏi: “Tại sao Chính phủ Mỹ không giải quyết vấn đề này?.”

Trước đó, ngày 7/3, phát biểu trong cuộc thảo luận ở Ủy ban Đối ngoại Hạ viện mà ông là thành viên, nghị sỹ Faleomavaega cho rằng dự luật nhân quyền Việt Nam có cách tiếp cận “thiển cận,” đi ngược lại những nỗ lực của các chính quyền từ Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama nhằm củng cố quan hệ đối tác với Việt Nam.

Ông cho rằng cần phải thừa nhận những tiến bộ thực chất và định lượng được mà Việt Nam đã thực hiện trong vấn đề nhân quyền. Trong khi đó, theo ông, dự luật nhân quyền Việt Nam lại chỉ dựa trên những dữ liệu có từ cách đây 10-15 năm và được nhắc đi nhắc lại bởi những người chưa bao giờ đến Việt Nam.

Để giảm bớt những khác biệt giữa hai bên, nghị sỹ Faleomavaega cho rằng Quốc hội Mỹ cần thông qua Bộ Ngoại giao Mỹ tìm hiểu cụ thể các vụ việc có cáo buộc về nhân quyền, và cần có sự phản hồi chính thức từ phía Việt Nam, xác nhận tính chân thực hay không của các sự việc, những gì đã diễn ra, các việc đã và sẽ làm./.

(TTXVN)
vietnamplus.vn

Việt Nam mong muốn thúc đẩy bảo vệ nhân quyền

Việt Nam luôn đảm bảo phát huy quyền con người trên mọi lĩnh vực. (Nguồn: vov.vn)

Vừa qua, Việt Nam đã chính thức ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc khóa 2014-2016, khẳng định cam kết và quyết tâm mạnh mẽ nhằm đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Nhân dịp này, phóng viên TTXVN đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Hải Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Các Tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao Việt Nam.

– Tại Kỳ họp vừa qua Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Lương Minh đã chính thức thông báo việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc khóa 2014-2016. Xin ông cho biết thêm thông tin về việc này?

Ông Phạm Hải Anh: Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc bảo đảm và phát huy quyền con người trên mọi lĩnh vực như dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Những thành tựu này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực quyền con người, xuất phát từ chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, với mong muốn đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Chính phủ Việt Nam đã quyết định ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc khóa 2014-2016.

Việt Nam coi trọng vai trò và những đóng góp của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc vào việc thúc đẩy thực hiện quyền con người trên thế giới. Với cam kết và quyết tâm mạnh mẽ, Việt Nam tin tưởng vào khả năng của mình đảm đương vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền, tích cực đóng góp vào công việc chung của Hội đồng để nâng cao tính hiệu quả, minh bạch, khách quan, cân bằng trên tinh thần đối thoại, hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

Chúng tôi đánh giá cao sự hợp tác, hỗ trợ tích cực và hiệu quả mà các tổ chức quốc tế, các nước đã dành cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm các quyền con người. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ quý báu của các nước đối với việc ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc khóa 2014–2016.

– Gần đây, một số nhóm ở nước ngoài khuếch trương việc Nhà Trắng sẽ gặp gỡ đại diện của người Việt ở Hoa Kỳ để tìm hiểu về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Ông bình luận gì về thông tin này?

Ông Phạm Hải Anh: Theo tôi được biết, cuộc gặp này là hoạt động tiếp xúc công chúng thông thường của Bộ phận quan hệ công chúng của Nhà Trắng.

Việt Nam cho rằng mọi khác biệt, trong đó có khác biệt trong vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại có hiệu quả với nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, về vấn đề quyền con người.

– Trân trọng cảm ơn ông!

(TTXVN)
vietnamplus.vn