Thư viện

Hồ Chủ tịch ở Bắc bộ phủ

SGTT – Đây là một trong những sáng tác sớm nhất về vị chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một hình ảnh mới về một nguyên thủ kiểu mới, khác hoàn toàn với hình ảnh quyền quý, oai vệ đầy hào quang thần thánh như người Việt Nam từng biết đến qua những tranh thờ, tượng thờ. Bác Hồ – tuy đã được suy tôn là lãnh tụ huyền thoại của đất nước, được hoạ sĩ mô tả như một ông già quắc thước, hiền hậu và giản dị.

Nhân vật duy nhất được nhìn cận cảnh, thân người chiếm trọn chiều cao khung tranh. Bác Hồ đang ngồi viết bên bàn. Phục sức của lãnh tụ quá bình dân và căn phòng làm việc của Người đơn sơ, gần gũi như phòng công chức bất kỳ nào: cái bàn, khung cửa sổ, lọ mực, cái gạt tàn, hộp công văn… mộc mạc, rõ ràng. Ánh sáng rọi lên gương mặt khắc khổ, tư lự, tập trung tinh thần cao độ. Bác như đắm trong dòng suy tư của riêng mình. Đối lập với mảng ngang của cái cạnh bàn chia mặt tranh làm hai phần đều đặn và các mảng dọc vuông vức tĩnh lặng là những nét uốn lượn và xiên chéo mô tả nhân vật và ánh sáng rất sinh động. Tô Ngọc Vân sử dụng ngay các đặc điểm chắc khoẻ, rành mạch, thô mộc của chất liệu gỗ để làm nổi bật chủ đề của bức tranh: cái giản dị vĩ đại, sự tận tâm tự nhiên, vẻ trí tuệ bình dị của Hồ Chủ tịch.

Tôi cho rằng trong hàng ngàn sáng tác mỹ thuật, những tượng đài kềnh càng, sơ lược về Bác Hồ, đây là một tác phẩm thành công hiếm hoi cho ta thấy được con người thật và tầm vóc vĩ nhân huyền thoại của Người.

Tô Ngọc Vân (1906 – 1954) là một hoạ sĩ tài năng và uyên bác của trường Mỹ thuật Đông Dương. Từ Cách mạng tháng tám 1945, ông là “thủ lĩnh” của giới mỹ thuật kháng chiến. Với sự chuyển hướng từ lãng mạn sang hiện thực, sáng tác trực diện đời sống kháng chiến, đào tạo cả một lớp hoạ sĩ từ công nông mà ra, ông trở thành người khởi xướng cho cả một giai đoạn mỹ thuật mới, đặt nền móng cho xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này. Hy sinh trên đường tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, ông trở thành biểu tượng cao đẹp của người nghệ sĩ – chiến sĩ. Tên ông được đặt cho nhiều con đường ở các thành phố lớn của Việt Nam.

NGUYỄN QUÂN

Hồ Chủ tịch ở Bắc bộ phủ, khắc gỗ,
1946, 60 x 40cm.

Họa sĩ Tô Ngọc Vân

sgtt.vn

Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây

Tháng 6 năm 1919, nghe tin các đoàn đại biểu mười mấy nước Đồng minh chiến thắng họp ở Vécxây cách thủ đô Pari 14 km, Nguyễn Tất Thành bàn với nhà yêu nước Phan Châu Trinh và luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường viết bản ”Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Vécxây.

Nhà yêu nước họ Phan trịnh trọng nói:

– Bảy điều yêu sách mà anh Thành nêu ra, theo tôi thật là xác đáng và đúng như bọn mình thường trao đổi với nhau. Chú Trường xem có nên thêm điều gì không?

– Tôi thấy thế là tốt… Thử xem còn vấn đề gì về quyền của nhân dân ta cần đòi…- Văn Trường nói và gõ nhẹ vào trán mình theo thói quen của ông khi cần suy tính một điều gì.

– Thưa hai bác – Tất Thành lên tiếng – Hôm trước cháu phác thảo ra 7 điều yêu sách đưa hai bác xem, nhưng đêm hôm qua cháu mới nảy thêm một ý. Cháu thấy rằng ở Đông Dương, bọn quan lại chỉ dựa vào các sắc lệnh của tên toàn quyền để cai trị dân ta mà không hề có luật. Cháu muốn đưa thêm một điều yêu sách nữa: “Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp”.

– Đúng! Đúng. Luật sư họ Phan sôi nổi hưởng ứng. Muốn cho dân ta có tự do thì phải đòi họ cai trị theo luật pháp!

Tôi cũng tán đồng! Phan Châu Trinh nói như kết luận buổi gặp mặt. Bây giờ ta làm thế nào để chuyển bản Yêu sách tới Hội nghị Vécxây đây?

Tất Thành:

– Thưa bác, cháu nghĩ rằng phải nhờ bác Phan Văn Trường viết ngay ra bằng tiếng Pháp thì mới kịp.

Hai ngày sau, Nguyễn Tất Thành đã ngồi bên luật sư Phan Văn Trường, trước bản ”Yêu sách của nhân dân An Nam” vừa thảo xong bằng tiếng Pháp.

– Chúng ta sẽ đứng tên dưới bản yêu sách này như thế nào đây? Bác đứng tên nhé. Nguyễn Tất Thành nêu ý kiến.

– Không! Phan Văn Trường đáp – bản Yêu sách này tuy là tôi chấp bút viết ra bằng tiếng Pháp. Nhưng tôi phải viết chỉ vì anh chưa thông thạo Pháp văn mà thôi, chứ sáng kiến lớn lao này là của anh, và hầu hết ý kiến nêu ra trong bản Yêu sách cũng là của anh.

– Thưa bác, sáng kiến của cháu cũng chỉ là phản ánh nguyện vọng chung của những người yêu nước chứ có phải của riêng cháu đâu. Bác là một nhân vật có danh tiếng, bà con Việt kiều trên đất Pháp đều biết bác là một luật sư yêu nước dám bênh vực công lý, che chở cho bà con. Bác đứng tên cho bản yêu sách này thì giá trị của nó càng cao, ảnh hưởng của nó càng rộng.

– Không! Không thể được! Tôi tuy có chút danh vọng hơn anh ngày nay, nhưng cái tâm, cái chí của anh còn lớn hơn tôi nhiều. Vả lại về nguyên tắc, người trí thức không được phép lấy công người khác làm công của mình: “Cái gì của Xêda thì phải trả lại cho Xêda”.

Đó mới là lẽ phải. Chẳng những tôi không thể đứng tên, mà bác Hy Mã Phan Châu Trinh cũng không nên đứng tên.

Cuộc trao đổi giữa hai nhà yêu nước đi tới kết luận: dùng một cái tên gì tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân, nhưng phải là tên một cá nhân thì tính chất pháp nhân của văn bản mới có giá trị. Cuối cùng anh Nguyễn quyết định tự mình đứng mũi chịu sào với cái tên chung cho tấm lòng của mọi người. Anh ký:

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam

NGUYỄN ÁI QUỐC

Ngay buổi chiều hôm ấy, sau khi bản Yêu sách được gửi đi, anh Nguyễn rời khỏi nhà số 6 đường Vila đê Gôbơlanh, nơi anh vẫn ở với luật sư Phan Văn Trường. Anh sống bí mật, đề phòng sự truy lùng ráo riết của bọn mật thám Bộ Thuộc địa Pháp.

Vào buổi sáng sớm có người đến bấm chuông căn nhà số 6 phố Đôbinhi. Đây là nhà của Giuyn Cămbông, đại sứ cũ của Pháp ở Đức, hiện là thành viên của đoàn đại biểu Pháp đi dự Hội nghị Vécxây. Giơnơvievơ Tabui, cô cháu gái trẻ của Cămbông ra mở cửa. Sau này cô là một nhà báo nổi tiếng, nhưng lúc bấy giờ cô là thư ký của cậu cô. Người bấm chuông là một thanh niên châu Á, mảnh khảnh, có khuôn mặt cởi mở, dễ mến, đôi mắt to, sáng long lanh. Anh lịch sự chào cô và nói bằng thứ tiếng Pháp không sõi:

– Tôi muốn trao cho ngài đại sứ Cămbông một văn kiện.

Giơnơvievơ mời khách đến sớm vào nhà rồi ra hiệu cho khách ngồi xuống cạnh chiếc bàn dài chạm trổ theo kiểu đế chế. Chiếc bàn này hiện nay vẫn kê trong phòng khách gia đình Tabui. Cô gái hỏi người thanh niên là ai?

– Thưa cô, tôi là Nguyễn Ái Quốc, tôi muốn gặp ngài Cămbông.

Chàng thanh niên lấy ra một cuốn giấy buộc bằng dây mảnh. Anh mở ra và trao cho cô gái.

– Tôi đến đây để trao cho ngài đại sứ “bản trần tình” của nhân dân Đông Dương.

Có thể thấy ngay là những tờ giấy trong cuộn giấy viết bằng một thứ chữ rất đẹp. Tờ đầu tiên là bức thư gửi cho chủ nhà:

”Thưa ngài đại sứ Cămbông, đại điện toàn quyền của nước Pháp tại Hội nghị Vécxây. Tôi là người đại diện cho nhân dân Đông Dương. Chúng tôi là một dân tộc chậm phát triển, chúng tôi đã được biết thế nào là nền văn minh của nước Ngài …”.

Tài liệu mà người thanh niên châu Á mang đến có tên là “Bản Yêu cách của nhân dân An Nam”. Bản Yêu sách viết:

“Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luậtnhư người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7 Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của nguời bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Vài ngày sau, các đoàn đại biểu khác tham gia Hội nghị và nhiều nghị sĩ Pháp cũng nhận được bản yêu sách tương tự như vậy. Kèm theo bản yêu sách có bức thư ngắn:

“Thưa ngài! Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi để Ngài kèm theo đây bản ghi những yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở sự độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ bản yêu sách này trước những người có thẩm quyền.

Thay mặt nhóm những người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc”.

Người ta nhiều lần bắt gặp người thanh niên Việt Nam kiên trì này với tập giấy tờ cặp dưới nách tại các hành lang ồn ào, mù mịt khói thuốc của các ban biên tập báo ở Pari, trong các gian phòng chật chội do các công đoàn và đảng Xã hội thuê để tổ chức các cuộc họp và mít tinh.

Lui Ácnu, Trưởng ban Đông Dương của Sở Mật thám Pháp, sau này là Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương, nhún vai khi nghe báo cáo về hành động của một người nào đó tên là Nguyễn Ái Quốc và về nội dung một ”tài 1iệu chống Pháp” đang được người đó phân phát khắp nơi. Do nghề nghiệp đòi hỏi, Ácnu hầu như biết rất rõ mọi người An Nam khả nghi sống ở Pari, được báo cáo tỉ mỉ về bước đi của “những kẻ chủ mưu gây bất an” từ Đông Dương sang. Một trong những người đó là Phan Châu Trinh, mở một hiệu ảnh và thực tế đã ngừng hoạt động chính trị. Vả lại, hành động “khiêu khích” như vậy vốn không phải là Phan Châu Trinh, vì ông lúc nào cũng có thái độ kính nể nước Pháp. Một người khác là luật sư Phan Văn Trường, cũng sống ở Pari, được coi là nhà mácxít, nhưng chỉ là người dịch sách báo chính trị ra tiếng Việt và không bao giờ tham gia làm những việc như vậy. Chỉ còn một người duy nhất trong số những nhân vật quen biết cũ của Sở Mật thám dám cả gan làm việc này là Phan Bội Châu. Nhưng Ácnu biết chắc chắn Phan Bội Châu đang ở một nơi nào đó tại miền Nam Trung Quốc, hơn nữa, mới đây ông ta có cho đăng một bài báo, lời lẽ rất ôn hoà có lợi cho chủ trương hợp tác Pháp – Việt.

Vào lúc đó, cả Ácnu – kẻ có con mắt cú vọ, nhòm ngó khắp nơi, thậm chí cả những người bạn gần gũi của người yêu nước trẻ tuổi đã cả gan cất lên tiếng nói bảo vệ nhân dân bị áp bức của mình ngay giữa trái tim của bọn đế quốc Pháp cũng không biết được và cũng không thể ngờ rằng, Nguyễn Ái Quốc – tác giả bản Yêu sách, anh Văn Ba – người phụ bếp trên tàu biển, cậu bé ham hiểu biết Nguyễn Tất Thành – người con trai quan Phó bảng duy nhất ở làng Sen, cũng chỉ là một người mà thôi./.

(Trích trong Kể chuyện Bác Hồ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006)

cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đặc sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Bác Hồ đọc tấm bia "Côn Sơn Tư Phúc tự bi” tại chùa Côn Sơn tỉnh Hải Dương, ngày 15-02-1965

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh).

Thực đúng như vậy, nghiên cứu quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc ta, có thể có đầy đủ cơ sở để đi tới một nhận định có tính khái quát: Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam được bộc lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ ở lĩnh vực nào. Yêu nước đã trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam, là đạo lý của dân tộc Việt Nam, một truyền thông sâu bền, cao đẹp, không còn dừng lại ở trình độ một nhận thức, một tình cảm, mà đã trở thành một chủ nghĩa, một lực lượng tinh thần vô cùng mạnh mẽ, có tác dụng to lớn trong việc động viên, cổ vũ mọi người dân sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc khi có nguy cơ xâm lược từ ngoài tới, hay kiên trì góp hết tinh thần và sức lực vào sự nghiệp dựng nước.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam tuyệt nhiên không phải là một cái gì trừu tượng, mà là một sản phẩm đích thực của chính lịch sử Việt Nam, nó bắt nguồn từ những điều kiện cụ thể của Việt Nam, về hoàn cảnh địa lý, về khí hậu, về đời sống kinh tế, văn hóa – xã hội, về lịch sử. Cũng cần phải thấy yêu nước là một tình cảm và tư tưởng phổ biến mà dân tộc nào cũng có. Duy chỉ khác nhau là ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc thì tư tưởng và tình cảm yêu nước bị hình thành và phát triển trong những điều kiện không giống nhau, sớm muộn, đậm nhạt khác nhau mà thôi.

Liên hệ với nước Việt Nam chúng ta, về hoàn cảnh địa lý, nước ta ở vào một vị trí vô cùng quan trọng trên báo đảo Đông Dương, vào nơi tiếp xúc, ngã tư đường của vùng Đông Nam Á cả về tự nhiên và văn hóa, ở góc cực đông nam của đại lục châu Á, mặt nhìn ra biển Đông nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Là bao lơn của Thái Bình Dương, trên một chiều dài 3.300km, Việt Nam tuy được nối liền với lục địa bằng một mạng lưới đường giao thông thủy bộ thuận lợi, từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, nhưng cũng tạo thành những hành lang thuận lợi cho việc thực hiện tham vọng bành trướng của các thế lực đen tối từ ngoài tới.

Về mặt khí hậu, Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới gió mùa, phù hợp với nghề trồng lúa nước, nhưng thường xuyên phải chống chọi hàng năm với lũ lụt, bão tố, hạn hán… Cũng là một vùng đất thống nhất trong đa dạng trên rừng, dưới biển, nằm sâu dưới đất đều chứa đựng nhiều tài nguyên phong phú và quý giá (ngọc trai, ngà voi, sừng tê, khoáng sản…) nên từ rất sớm đã phải đương đầu với các kẻ thù đầy tham vọng từ các nơi tới.

Rõ ràng trong bối cảnh đó, nhân dân Việt Nam từ rất sớm đã phải đứng trong vị thế vừa dựng nước vừa giữ nước. Lịch sử Việt Nam bắt đầu bằng một sự kiện có ý nghĩa vô cùng trọng đại là sự ra đời rất sớm của Nhà nước Văn Lang trên cơ sở hợp nhất tự nguyện của người Việt cổ (Lạc Việt và Âu Việt): “Vua Hùng đã có công dựng nước”, và nước Việt ngay từ lúc mới ra đời đã là một quốc gia có cương vực ổn định với một nền văn hóa rực rỡ, với sản phẩm trống đồng. Có thể khẳng định rằng sự xuất hiện sớm của Nhà nước Văn Lang đã tạo điều kiện rất cơ bản cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hình thành sớm.

Nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam là nước Âu Lạc (thống nhất giữa Tây Âu và Lạc Việt) với người thủ lĩnh kiệt hiệt là Thục Phán để chống lại sự xâm lược của nhà Tần từ phương Bắc tràn xuống, với sự kiện này đã nói rõ một đặc điểm của lịch sử Việt Nam: Bắt đầu dựng nước cũng là bắt đầu giữ nước! Tư thế chung của dân tộc ta trong lịch sử là phải luôn luôn vừa lao động xây dựng đất nước , vừa chiến đấu bảo vệ đất nước dựng nước đi đôi với giữ nước là một đặc điểm bao trùm, một quy luật cơ bản của lịch sử Việt Nam.

Đến cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, vào cuối thời Văn Lang (và các vua Hùng) sang đầu thời Âu Lạc (và vua Thục) dân tộc Việt Nam đã đi vào chính sử. Và công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã được thực hiện quyết liệt và có kết quả. Vào cuối đời vua Hùng (thế kỷ 3 trước Công nguyên) đế chế Tần (Tần Thủy Hoàng) với âm mưu bành trướng xuống phía Nam đã cử 50 vạn quân xuống phía Nam để bình Bách Việt. Nhưng chúng đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của người Việt (cư dân Văn Lang – Âu Lạc) do Thục Phán đứng đầu đánh bại sau một cuộc kháng chiến kéo dài đến 6-7 năm trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, thiếu thốn đủ bề (từ 214 trước CN – 209 trước CN). Thục Phán là một thủ lĩnh người Âu Lạc đã cùng các thủ lĩnh người Văn Lang và quân dân Việt tổ chức cuộc chiến đấu, bãi chiến trường là miền rừng núi Việt Bắc và miền trung du miền Đông Bắc ngày nay. Cuối cùng nhà Tần đã phải ra lệnh bãi binh, rút hết quân ra khỏi phạm vi đất nước người Việt, cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ đầu tiên của tổ tiên ta đã giành được toàn thắng. Nước Âu Lạc là cao điểm cuối cùng của kỷ nguyên bắt đầu dựng nước và giữ nước. Sau chiến thắng oanh liệt đó, (đặc biệt là qua việc đoàn kết chiến đấu), tinh thần cố kết dân tộc trong nội bộ cộng đồng người Việt càng được củng cố và tăng cường.

Sau chiến thắng quân Tần (khoảng 208 trước CN) nhân uy tín sẵn có Thục Phán đã xưng là An Dương Vương đổi quốc hiệu là Âu Lạc, phản ánh sự hợp nhất chặt chẽ hơn giữa hai thành phần Việt tộc (Âu và Lạc) trong một chỉnh thể quốc gia, một kết cấu chính trị – xã hội cao hơn. Âu Lạc là một thể thống nhất Việt tộc có ý nghĩa là vừa thống nhất Dân tộc, vừa thống nhất Quốc gia) cao hơn Văn Lang. Thục Phán (An Dương Vương) quyết định dời đô từ Việt Trì (Phú Thọ) về ngã ba sông Đuống – sông Hồng là vùng đất Cổ Loa (huyện Đông Anh) xây thành, đánh dấu sự phát đạt của nền kinh tế vùng đồng bằng (cả về mật độ dân số, về trình độ nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự thành lập nước Âu Lạc là bước phát triển kế tục nước Văn Lang với hai thành tựu nổi bật về kỹ thuật quốc phòng (đắp thành Cổ Loa và cải tiến nỏ và tên nỏ)đáp ứng một nhu cầu bức xức chống ngoại xâm từ phía Bắc tới. Thời đại Văn Lang và Âu Lạc là thời đại văn minh Sông Hồng, thời đại các Vua Hùng và Vua Thục, một thời đại vô cùng quan trọng của lịch sử Việt Nam. Đó là thời kỳ hình thành dân tộc với nền tảng là một đời sống kinh tế chung cho toàn quốc, là thời kỳ hình thành Nhà nước đầu tiên. Đó cũng là thời đại hình thành một nền văn hóa dân tộc với một bản sắc độc đáo phi Hoa, phi Ấn với một phong cách Đông Sơn rất đặc trưng, rất điển hình và có ảnh hưởng lớn đến toàn vùng Đông Nam Á. Cộng đồng dân tộc Việt xây dựng từ đó một lối sống riêng, có một bản lĩnh vững vàng, và trên nền tảng đó đã xây dựng được một xã hội, một lối sống Việt Nam, một truyền thống Việt Nam. Đó cũng là thời kỳ hình thành ý thức dân tộc được tổng hợp từ những tình cảm gia đình, họ hàng, quan hệ đồng bào, tình làng nghĩa nước để trở thành một lòng yêu nước Việt Nam bất khả chiến bại, một ý thức về quyền sở hữu chung của dân tộc, về địa bàn đất đai, đất nước, lãnh thổ để trên nền tảng đó ý thức hệ của công cuộc giữ nước bắt đầu. Đó là kỷ nguyên bắt đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, mở đầu truyền thống dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc, từ đó được nâng lên trình độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Nhưng vào năm 183 trước CN, Triệu Đà lợi dụng tình hình phương Bắc rối loạn để xưng đế, lập nước Nam Việt, rồi đưa quân xuống phía Nam chiếm nước Âu Lạc, mở đầu một thời kỳ mất nước kéo dài hơn ngàn năm, là một thời kỳ thử thách lớn lao đối với sức sống của dân tộc với âm mưu đồng hóa toàn diện và triệt để của kẻ thù. Nhưng dân tộc Việt Nam đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ đấu tranh để bảo tồn cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, quyết giành lại độc lập dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đánh Hán, Triệu Thị Trinh chống Ngô, Lý Bí chống Lương dựng nên nước Vạn Xuân, Triệu Quang Phục đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, nhưng đến đầu năm 603 sau CN lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Bất chấp tình hình bất lợi, phong trào khởi nghĩa vẫn bùng nổ liên tục, trên khắp mọi miền đất nước. Đến đầu thế kỷ 10 (905), Khúc Thừa Dụ đánh thắng quân phong kiến nước ngoài, xây dựng một chính quyền tự chủ. Năm 930, nhà Nam Hán sang xâm chiếm, Dương Đình Nghệ lại đánh bại chúng giành lại quyền tự chủ. Đến cuối năm 938 Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc oanh liệt thời kỳ mất nước kéo dài hơn 1.000 năm. Một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu. Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa, đánh dấu một bước phát triển mới của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Sau khi Ngô Quyền mất, chính quyền trung ương bị tan rã, các thế lực phong kiến chia nhau hùng cứ các phương và tranh giành nhau quyết liệt, tạo nên thế 12 sứ quân cát cứ các địa phương. Yêu cầu cấp thiết của lịch sử lúc đó là phải khôi phục sự thống nhất của nước nhà. Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (năm 968), đóng đô ở Hoa Lư, lập quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Từ đó, trải qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, suốt trong năm thế kỷ (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15), quốc gia thống nhất ngày càng được củng cố, công cuộc xây dựng đất nước được tiến hành trên quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của Nhà nước phong kiến độc lập, việc dựng nước gắn liền với giữ nước. Nhưng cũng trong năm thế kỷ đó, không có thế kỷ nào dân tộc ta không phải chống ngoại xâm, thế kỷ 13 phải tới ba lần chống Nguyên – Mông. Đến thế kỷ 15, nhà Trần đổ nát và bị nhà Hồ thay thế. Nhưng cuộc kháng chiến do Hồ Quý Ly đứng đầu đã nhanh chóng thất bại vì không phát huy được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống giặc giữ nước. Phong trào yêu nước dâng lên mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp, mọi thành phần, phát triển rộng khắp dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu.

Sau 10 năm chiến đấu (1418-1428), với thắng lợi của cuộc kháng chiến, nền độc lập dân tộc được khôi phục và giữ vững, âm mưu xâm lược của kẻ thù bị đánh bại hoàn toàn. Tình hình đó tạo ra những điều kiện rất thuận lợi để củng cố và xây dựng đất nước. Nhưng đến thế kỷ 16, nhân triều Lê suy yếu, các phe phái phong kiến (Mạc, Trịnh, rồi Trịnh – Nguyễn) xung đột nhau. Đất nước bị chia cắt trên 200 năm. Trong sự phát triển như vũ bão của nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, dân tộc ta đã đánh thắng cả thù trong và giặc ngoài (1789). Sau chiến thắng, Vua Quang Trung cương quyết tiến hành xây dựng đất nước. Công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế của Quang Trung đang mang lại những kết quả bước đầu đầy hứa hẹn thì ông đã bị bạo bệnh và mất đột ngột để tới năm 1802 chế độ quân chủ chuyên chế nhà Nguyễn lại được thiết lập trên cả nước.

Thời kỳ này chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạn khủng hoảng suy vong. Phong trào nông dân khởi nghĩa tiếp tục lan tràn, chỉ trong vòng nửa thế kỷ đầu của triều Nguyễn đã có tới trên 300 cuộc khởi nghĩa nông dân lớn và nhỏ. Tới giữa thế kỷ 19, vận mạng dân tộc ta đứng trước một thử thách mới vô cùng nghiêm trọng là sự xâm lăng của tư bản Pháp. Lịch sử Việt Nam cũng chuyển sang một trang mới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển theo những khuynh hướng mới. Chính Đảng vô sản ra đời (ngày 3-2-1930) tạo nên một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Từ đây Cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo của thời đại. Chủ nghĩa yêu nước lúc này là chủ nghĩa yêu nước của nhân dân, không bị hạn chế, biến chất bởi chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, chủ nghĩa sô vanh tư sản, phong kiến. Chính trong thời kỳ Đảng lãnh đạo, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam càng có những điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển. Yêu nước ngày nay là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản chân chính, là đem hết nhiệt tình, trí tuệ và tài năng để xây dựng Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước mắt là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và hội nhập, cùng nhau phát triển.

Để kết luận, có thể khẳng định chủ nghĩa yêu nước là động lực, là chìa khóa của lịch sử Việt Nam, đoàn kết yêu nước là sức mạnh vô địch của dân tộc. Về vấn đề này, có thể vận dụng bài học của Bác Hồ về yêu cầu khai thác, phát triển lòng yêu nước, cũng được trình bày trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951):

“Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”./.

Theo GS. Đinh Xuân Lâm
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đậm đà dấu ấn quê hương

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt được chứng kiến bữa ăn của vị Chủ tịch Nước, đều nhận xét, Người vẫn nhớ từng món ăn của quê hương. Trên mâm cơm, vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản…

Người dân Nghệ An hiếu học, cần cù, chịu khó, nhân ái, vị tha… tất cả những nền tảng đó đã hình thành nên nhân cách Hồ Chí Minh ngay từ thuở niên thiếu. Lớn lên, được sự dạy dỗ, chỉ bảo nghiêm khắc của cha, sự yêu thương của mẹ và nhất là sự kèm cặp, dạy bảo của người ông ngoại, dấu ấn quê hương, gia đình đã in đậm trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dù bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước; dù trong ngục tối lao tù của thực dân, đế quốc hay trong gian khổ của cuộc trường kỳ kháng chiến nhưng lúc nào, Người cũng đau đáu nỗi lòng nhớ về quê hương nơi có những người thân yêu nhất của mình.

Những cán bộ, nhân viên, chiến sĩ… có vinh dự được sống gần gụi với Người đều có chung một nhận xét: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người con của quê hương xứ Nghệ, từ thuở niên thiếu đến lúc về già; từ người thanh niên yêu nước đến khi trở thành lãnh tụ, Người vẫn mang đậm phong cách quê hương qua từng suy nghĩ và việc làm.

Như chúng ta đều biết, sau khi giải phóng Thủ đô, cuối năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Người đã khước từ ngôi nhà sang trọng, đến ở ngôi nhà của người công nhân thợ điện và sau đó là ngôi nhà sàn – ngôi nhà đã đi vào huyền thoại.

Trong tư tưởng và tình cảm của Người, sự giản dị, đơn sơ trong cuộc sống là sự chí công, vô tư, vượt lên hết thảy mọi sự ham muốn vật chất đời thường và đó cũng là sự cần kiệm trong cuộc sống, một đức tính tốt đẹp của người dân xứ Nghệ.

Những đồng chí có dịp được ở gần Người, khi tận mắt được chứng kiến bữa ăn của vị Chủ tịch Nước, đều nhận xét, Người vẫn nhớ từng món ăn của quê hương. Trên mâm cơm, vẫn bát canh, quả cà, miếng cá kho hoặc miếng thịt kho, tuyệt nhiên không thấy những món ăn đặc sản, xa cách với người lao động bình thường.

Sinh thời Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Dùng cơm với Cụ hàng trăm lần, lần nào cũng thấy Cụ tém vén không để rơi một hạt cơm nào, bởi vì Cụ trọng lao động của con người làm ra lúa gạo. Chuyện nhỏ, đức lớn hài hòa ở một con người”.

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay, vẫn lưu giữ bộ quần áo ka ki Người mặc lúc sinh thời. Trước đây, khi thấy Người mặc bộ quần áo ka ki cũ, các đồng chí phục vụ có ý đề nghị thay bộ mới hơn, Người nói: “Dân ta đang nghèo, đang khó khăn nhiều, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi”.

Xí nghiệp May 10 của Tổng cục Hậu cần gửi biếu Bác bộ quần áo ka ki mới, Bác nhận, song Người gửi lại để xí nghiệp làm phần thưởng thi đua cho anh chị em công nhân.

Trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn dành thời gian để tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi cá… Quanh ngôi nhà Bác ở là một khu vườn với nhiều loại cây hoa trái. Hàng dâm bụt – gợi nhớ quê nhà, những khóm mộc, khóm nhài và đặc biệt là cây vú sữa của đồng bào miền Nam tặng Bác.

Chiều chiều, sau giờ làm việc, Người lại cùng các chiến sĩ Cảnh vệ chăm lo từng gốc cây, cắt tỉa từng khóm lá.

Giờ đây, khi Người đã đi xa, nhân dân trong nước và bầu bạn quốc tế đến viếng thăm nơi ở và làm việc của Người lúc sinh thời, ai ai cũng ngậm ngùi xúc động, cảm phục một tấm gương hy sinh tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn.

Có những câu chuyện hết sức cảm động, đó là vào dịp lễ, Tết và kỷ niệm ngày sinh của Bác, Người không muốn tổ chức chúc tụng rườm rà và Người đã chủ động bố trí những chuyến đi công tác xa. Đá Chông là địa điểm được Người đến nhiều nhất.

Trong bối cảnh, miền Nam chưa được thống nhất, đế quốc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn Đá Chông làm nơi sơ tán, làm việc của Trung ương khi cần thiết.

Đây là một địa danh nằm dưới chân núi Ba Vì, thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nơi đây có rất nhiều những tảng đá thon nhọn tựa như những mũi chông, ngọn mác từ dưới đất mọc lên, có thể vì thế mà nhân dân địa phương gọi địa danh này là Đá Chông.

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định lựa chọn Đá Chông, Cục Doanh trại, Tổng cục Hậu cần được giao nhiệm vụ khảo sát, thiết kế và xây dựng khu làm việc của Trung ương và Bác Hồ. Công trình được đặt mật danh là “Công trường 5”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng công trình, nhiều lần Người đã lên kiểm tra, biểu dương tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của cán bộ, bộ đội và nhân dân địa phương. Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sơn Tây có vinh dự được đóng góp một phần công sức vào việc xây dựng công trình quan trọng này. Từ năm 1958 đến năm 1960, Công trường 5 được hoàn thành, đưa vào sử dụng và được đổi tên là K9.

Từ năm 1960 đến năm 1969, K9 do Văn phòng Trung ương Đảng quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên K9 nhiều lần để làm việc và tiếp khách. Vào những ngày lễ hoặc sinh nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật từ Hà Nội lên Đá Chông.

Thời gian Bác làm việc ở Đá Chông có hai vị khách quốc tế đặc biệt được Bác tiếp, đó là Anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.M Ti-tốp và bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai.

Sau khi Bác qua đời, K9 đã được chọn là nơi giữ gìn thi hài Bác trong chiến tranh và được đổi tên là K84 (1969 – 1975). Giai đoạn này, K84 được giao cho Bộ Quốc phòng quản lý.

Ngày nay, mỗi khi đến tham quan khu di tích, được đi trên con đường rèn luyện sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa, chúng ta còn thấy những cây bông bụt khá to được trồng hai bên đường. Đó chính là hàng cây Bác đã cho trồng từ khi xây dựng khu căn cứ để gợi nhớ đến những cây trồng trong vườn nhà ở quê hương Kim Liên, Nam Đàn.

Lên cầu thang, trước khi vào phòng nghỉ của Bác, chúng ta gặp một chiếc bể nhỏ chứa nước để Bác tắm. Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác kể lại rằng: Khi làm công trình phụ, Bác đã nhắc nhở các đồng chí thiết kế xây cho Bác một chiếc bể nhỏ đựng nước trong nhà tắm; mặc dù trong nhà tắm đã có vòi sen, két nước tự động, nhưng Bác vẫn muốn có một chiếc bể nhỏ, để mỗi lần tắm, Bác múc từng gáo nước giội lên người như lúc nhỏ, mẹ Bác vẫn múc từng gáo nước tắm cho Bác.

Nhiều người đến khu di tích Đá Chông và được nghe giới thiệu về những hiện vật đã gắn liền với sinh hoạt đời thường của Bác đã không cầm nổi nước mắt, nhất là tình cảm của Bác với quê hương và gia đình.

Tuy Bác đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mãi mãi là tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân học tập, noi theo. Những hiện vật như vẫn còn ấm hơi Người, sẽ là những điều kỳ diệu để minh chứng cho một con người vĩ đại nhưng rất giản dị, khiêm tốn và rất đời thường.

Ban Biên Tập

bqllang.gov.vn

Nét bình dị trong cuộc sống đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Suốt cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người không ham danh vọng, không có của riêng. Tất cả những gì thuộc về Người đều trở nên gần gũi, thiêng liêng với non sông, đất nước, làm nên một huyền thoại Hồ Chí Minh, “kỳ diệu không những về mặt con người mà còn với tư cách là lãnh tụ của một dân tộc, của một quốc gia. Chữ “kỳ diệu” dùng ở đây là để nói về một con người có một thể chất và một tâm hồn giản dị như thế, xuất thân từ nơi đồng ruộng”[1].

Hồ Chí Minh là một người giản dị, yêu thiên nhiên, luôn gần gũi với thiên nhiên. Trong bất cứ thời điểm nào, đang làm gì, ở đâu thì cuộc sống đời thường của Người cũng luôn thanh đạm, nề nếp, có chừng mực, điều độ, ngăn nắp, gọn gàng. Dù là anh Văn Ba đang làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latut xơtrêvinl, là Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng sống đầy khó khăn ở thủ đô Pari của nước Pháp, là một vị Chủ tịch nước đang sống kham khổ nơi chiến khu trong những năm kháng chiến, hay là một vị nguyên thủ quốc gia đang sống và làm việc tại Khu Phủ Chủ tịch ở Thủ đô Hà Nội, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh yêu lao động, hết sức giản dị và tiết kiệm. Càng yêu thương nhân dân, khát vọng đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, Người càng giản dị, tiết kiệm trong cuộc sống đời thường. Không chỉ yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, sống hoà quyện với thiên nhiên một cách bình dị, thanh tao, với nếp nhà sàn nhỏ, có vườn cây, ao cá, những khóm hoa của Người luôn lộng gió thời đại, song vẫn đậm đà bản sắc, cốt cách tâm hồn Việt.

Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nhưng khác nhiều vị lãnh tụ, Người chọn cho mình một cuộc sống bình dị như đại đa số người dân bình thường, không cách biệt, không vương giả. Từ chối dinh thự của Toàn quyền Đông Dương cũ, Người chọn nơi ở và làm việc cho mình là một ngôi nhà chật hẹp vốn của người thợ điện phục vụ trong khu vực Phủ Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mặc dù các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước mời Người ra ở tại toà nhà lớn để cuộc sống đỡ vất vã hơn, nhưng Người từ chối. Cuối cùng, Người đã chọn ngôi nhà sàn, giống kiểu nhà sàn của đồng bào nơi vùng cao của chiến khu Việt Bắc. Khi dọn về ở và làm việc tại ngôi nhà sàn, Người dùng tầng dưới dùng làm nơi họp Bộ Chính trị và làm việc với cán bộ các bộ, ban, ngành, tiếp một số đoàn khách, bạn bè đồng chí gần gũi, hoặc các cháu thiếu niên, nhi đồng. Người chỉ dành cho mình một chút riêng ở tầng trên nhà sàn với hai phòng nhỏ, diện tích mỗi phòng hơn 10m2. Ghét thói xa hoa, lãng phí, hưởng thụ, và xa lạ với thói phô trương, hình thức, trong phòng làm việc cũng như phòng ngủ của Người chỉ có những đồ vật thật sự cần thiết và hết sức đơn giản.

Bữa ăn hàng ngày của Bác thường có canh cua, tương cà, dưa muối, cá bống kho với lá gừng… Đó là những món ăn quen thuộc, dân giã, mang hương vị của mỗi làng quê Việt Nam mà Người ưa thích. Quý trọng công sức, tài sản và cả thời gian của nhân dân, trong mỗi bữa ăn, Người không bao giờ để thừa, tránh lãng phí. Nếu biết không thể ăn hết, Người thường san ra trước khi ăn để phần người khác dùng hoặc để lại cho bữa sau. Đặc biệt, sau các bữa ăn, Người thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ khi thu dọn đỡ vất vả. Tiết kiệm và sức giản dị, vị Chủ tịch nước những lúc làm việc ở nhà thường mặc bộ quần áo bà ba lụa màu nâu, đi đôi guốc gỗ. Còn khi tiếp khách, đi công tác Người thường mặc bộ quần áo ka ki bốn túi và đi đôi dép cao su. Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân. “Người cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách biệt với quần chúng”[2].

Trong sinh hoạt hàng ngày, Người luôn đặt cho mình một kỷ luật hết sức chặt chẽ, giữ nếp trật tự, ngăn nắp gọn gàng, thường xuyên chú ý đến việc rèn luyện sức khoẻ, đồng thời sắp xếp thời gian thực hiện mọi công việc thật hợp lý và hiệu quả. Rất chú ý cho việc rèn luyện sức khoẻ được dẻo dai, hàng ngày Người giữ nếp tập thể dục hay quyền thuật buổi sáng và đi bách bộ buổi chiều đều dặn. Những năm tháng sống ở trong Khu Phủ Chủ tịch, Người thường luyện gân tay bằng cách nắm hai hòn cuội, luyện đôi chân bằng cách đi bách bộ, tập võ hay đánh bóng chuyền để nâng cao thể lực và sức khoẻ, phòng tránh bệnh tật, ốm đau. Cho đến những năm cuối đời, Người vẫn gắng đi bộ, và mỗi ngày đi thêm mấy chục mét với hy vọng vẫn có sức khoẻ để mong thực hiện khát vọng được vào thăm đồng bào miền Nam.

Người luôn giữ thói quen đọc báo chí, bản tin trước giờ làm việc hàng ngày, đánh dấu các bài cần chú ý để tiện việc theo dõi, trao đổi ý kiến và sử dụng khi cần thiết. Người đã đọc, đối chiếu, cắt dán và sưu tầm được 19 quyển báo cắt dán về tấm gương Người tốt, Việc tốt. Qua những bản báo cáo, những bản tin, và có theo dõi, đối chiếu, Người đã tặng gần 4000 Huy hiệu cho những tấm gương người tốt, việc tốt với hy vọng nhân rộng những bông hoa đẹp đó để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”.

Với những công việc trong ngày, trong tuần, trong tháng – từ việc họp hành, làm việc với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, phụ trách các Bộ, ban, ngành, tiếp khách trong nước và quốc tế, đến việc viết báo, đọc và trả lời thư từ, đi thăm cán bộ, nhân dân các địa phương, hay xem phim, xem văn nghệ, v.v… đều được Người bố trí một cách hết sức hợp lý. Người luôn cố gắng để mỗi công việc sao cho tốn ít thời gian, ít làm phiền cơ sở, mà lại thu được kết quả cao nhất.

Người cũng có thói quen tự mình đánh máy lấy những bài báo, bài viết, những thư từ gửi đi các nơi. Những việc cá nhân trong sinh hoạt thường ngày như chuẩn bị chăn màn đi ngủ, sắp xếp gọn gàng sau khi thức dậy Người đều tự mình làm lấy. Thương những đồng chí phục vụ vất vả, những hôm trời mưa to, Người ác vẫn xắn quần đi đến nhà ăn. Cũng thương đông đảo mọi người phải chờ mình vất vả, dù trời mưa rất to, Người vẫn cố gắng đi đến cho kịp buổi họp.

Ngoài giờ làm việc, một trong những công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu thích đó là tăng gia sản xuất. Hình ảnh một Hồ Chí Minh cuốc đất trồng rau, thực hiện khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!” trong những năm tháng kháng chiến không khác một Hồ Chí Minh cùng anh em cán bộ trong Khu Phủ Chủ tịch cuốc đất trồng rau, vừa để cải thiện bữa ăn, vừa để rèn luyện sức khoẻ.

Những lúc ốm đau Người không chỉ tự mình chịu đựng, mà còn động viên những người chung quanh. Không muốn làm phiền đến mọi người, để mọi người lo lắng quá nhiều, khi thấy sức khoẻ bắt đầu giảm sút dần, Người ung dung bắt đầu ngồi viết bản Di chúc lịch sử để lại cho hậu thế. Cách bốn năm trước lúc đi xa (từ ngày 19/5/1965), cứ mỗi năm vào dịp tháng 5, Người lại đem ra xem lại một lần và sửa chữa bổ sung. Cuối cùng, Người để lại muôn vàn tình thương yêu và những lời dặn dò tâm huyết cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta và bạn bè quốc tế trong Tài liệu Tuyệt đối bí mật đó.

Là một vị Chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh vẫn khôn nguôi nỗi nhớ những đầm sen, những hàng dâm bụt, giếng cốc, núi Hồng Lĩnh, sông Lam … ở quê nhà và những danh lam thắng cảnh của đất nước mà Người từng thấy trên con đường vào Huế, trên suốt cả chặng đường dài đi về phía nam của Tổ quốc thuở trước. Người mang theo những hình ảnh thân thương đó trong suốt những năm tháng đi tìm đường cứu nước và khi trở về hoạt động bí mật ở vùng núi phía Bắc, Người thường sống gần gũi với núi, với suối, với rừng cây,v.v..

Khi sống trong trong ngôi nhà sàn dưới bóng cây râm mát ở khu Phủ Chủ tịch suốt ngày rộn rã tiếng chim, Người thường ra bờ ao ngồi cho cá ăn vào buổi chiều. Mảnh đất nhỏ trước nhà sàn, Người dành trồng đủ các loại cây hoa hoa mộc, hoa nhài, hoa sói, hoa dạ hương, hoa bưởi, hoa ngâu có hương thơm dịu mát, có hàng rào hoa dâm bụt chạy quanh nhà như ở Làng Sen quê nhà. Phía sau nhà là vườn cam quê hương, bên kia bờ ao cá là vườn trồng rau xanh và một số cây ăn quả như cam, bưởi, hồng, táo, xoài, dừa … bốn mùa có hoa thơm, quả ngọt và rau xanh. Đầu nhà sàn là cây vú sữa, trước nhà là những cây dừa đều là những cây của đồng bào miền Nam ruột thịt gửi tặng. Những lúc mát trời, Người vẫn ngồi đọc sách, tiếp khách bên giàn hoa giấy trong một không gian thiên nhiên thoáng đãng phía sau toà nhà Phủ Chủ tịch. Yêu thiên nhiên, nên dù công việc bận rộn nhiều, nhưng Người vẫn sắp xếp thời gian đi thăm các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử của đất nước. Bảo vệ thiên nhiên, Người nâng nui cả một cây bụt mọc bên bờ ao cá bị sâu mục và mối ăn làm rỗng ruột đến quá nửa thân. Người không đồng ý chặt bỏ với một lời giải thích hết sức đơn giản và thuyết phục: việc chặt bỏ một cây thì dễ nhưng trồng được cây to, có bóng mát như vậy thì phải mất hàng chục năm mới có được, và Người đã hướng dẫn cho người làm vườn cách cứu chữa cho cây bụt mọc bị sâu mục và mối xông khỏi bệnh.

Không chỉ biết thụ hưởng những gì thiên nhiên dành cho con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn con người phải trả lại cho thiên nhiên những gì đã bị mất đi vì con người, vì thiên tai địch hoạ. Đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, Người nói: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”[3], và yêu cầu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”[4]. Phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc do Người phát động ngày nay đã trở thành một phong tục tập quán tốt đẹp trong nhân dân:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”[5].

Với Người, tình yêu thiên nhiên gắn liền với xuất phát từ tình yêu đất nước, tình yêu con người, vì hạnh phúc của con người, vì tương lai của đất nước. Gắn trồng cây với nhiệm vụ trồng người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, chăm lo đào tạo thế hệ cách mạng cho muôn đời sau. Mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Người đi trồng cây trên đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây. Người mời một số cán bộ có trách nhiệm đến bàn tiếp vấn đề trồng người. Người từng suy nghĩ: Phải bắt đầu từ việc chăm sóc cây mới trồng, từng con người mới lớn, nâng niu từng tấm gương người tốt, việc tốt xuất hiện ở trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu triệu quần chúng nhân dân lao động trong cả nước. Phải có nhiều cây mới thành rừng, phải có nhiều người tốt mới thành một xã hội tốt đẹp. Bác Hồ là người khởi xương, cổ vũ, tổ chức và mãi mãi là tấm gương sáng cho mọi thế hệ trong sự nghiệp trồng cây, trồng người của đất nước và dân tộc ta.

Yêu thương con người và tình yêu thiên nhiên rộng lớn đã tạo nên tinh thần lạc quan, tâm hồn thư thái, khoáng đạt, phong cách ung dung tự tại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mọi hoàn cảnh. Hơn tất cả mọi người, Người truyền tinh thần lạc quan cho những người xung quanh bằng những lời nói đầy thuyết phục, những câu chuyện vui nhẹ nhàng, những trao đổi hài hước luôn đem lại những tiếng cười sảng khoái dễ chịu, và đặc biệt là sự quan tâm đầy tình nghĩa đối với mọi người, mọi gia tầng trong xã hội.

Ham muốn tột bậc của Người “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[6]. Người là vậy, là một Hồ Chí Minh bình dị trong cuộc sống đời thường của cá nhân mình, để dành hết thảy cho dân cho nước, cho khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghiã xã hội trên đất nước ta. Một Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc Việt Nam bình dị trở thành một mẫu mực của đạo đức cách mạng luôn sống mãi: “Những gì thuộc về Người, từ phẩm chất đến hành động, vẫn sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam, nhân dân các dân tộc yêu độc lập, tự do, hoà bình, công lý và những người tiến bộ trên trái đất. Tấm gương anh hùng và tấm gương đạo đức sống tràn đầy tình yêu Tổ quốc và nhân dân một cách tự nguyện đó đã được truyền lại cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam ngày nay”[7]./.

Nguyễn Văn Công
Phó GĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn
Tâm Trang (st)

[1] Cụ Hồ Chí Minh từ trần, báo A-sa-hi buổi chiều, ngày 5/9/1969, Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, tập III, Nxb. Sự thật, H.1971, tr.232
[2] Cốc Nguyên Dương: Tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Unesco và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.120.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CT QG, Hà Nội, 2000, Tập 9, tr. 558.
[4]Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, Tập 10, tr. 110.
[5] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, Tập 11, tr. 356
[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr 161.
[7] Nay Pe-na: Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Cam-pu-chia, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Unesco và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.49.

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Điện Biên Phủ

Bác Hồ tặng thưởng huân chương cho chiến sĩ Điện Biên - ảnh minh họa

Tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị và quyết định tập trung tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, đánh chắc thắng”.

Người đã theo dõi chặt chẽ việc chuẩn bị cho chiến dịch và gửi thư động viên bộ đội, dân công quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cùng với quyết tâm bao vây tiêu diệt cứ điểm Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tuyên bố sẵn sàng thương lượng với chính phủ Pháp để giải quyết hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở thật sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam.

Thắng lợi về quân sự đã tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh ngoại giao đã buộc Chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chiến thắng ở Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã quyết định thắng lợi tại Hội nghị Genève về Đông Dương ngày 20 tháng 7 năm 1954, trong đó chính phủ Pháp phải ký kết đình chiến và công nhận chủ quyền toàn vẹn của ba nước Việt Nam, Lào, Camphuchia.

Tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đế quốc Mỹ đang là kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân ta và đề ra khẩu hiệu hành động: “ Hòa bình-thống nhất, độc lập, dân chủ”.

Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào cả nước, trong đó khẳng định Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào ta nhất định được giải phóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ gian khổ ác liệt hy sinh của dân tộc Việt Nam. Người đã cùng tập thể Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo quân và dân ta lập nên những chiến công hiển hách mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, làm chấn động “Năm Châu bốn biển”. Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Tên tuổi của Người đã được nhân dân thế giới nhắc đến với niềm tin yêu và cảm phục. Chiến thắng Điện Biên còn chứng minh một điều là một nước thuộc địa nhỏ yếu cũng có thể đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh nếu dân tộc đó có quyết tâm và đường lối đúng.

Ngọc Bích – ảnh PXL

ubmttq.hochiminhcity.gov.vn

“Giá trị của tự do, của độc lập”

Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống đói. 55 năm sau, 150 vị đứng đầu Nhà nước, Chính phủ và các quan chức của Liên Hợp quốc đã ra tuyên bố thiên niên kỷ và quyết định lấy ngày 17-10 hằng năm, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống đói làm “Ngày thế giới chống đói nghèo”.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập. Việc đầu tiên, Bác lo chống đói. Ngày 17-10-1945, Người ra lời kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung chống giặc đói. Người nói: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là ba thứ giặc đều phải chống, nhưng người đặt giặc đói lên hàng đầu vì lý do: “Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhưng nước ta được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì”.

Phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kiến quốc ngày 10-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa lại nhấn mạnh bổn phận Nhà nước đối với việc chăm lo cuộc sống của dân: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ, chúng ta phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn; Làm cho dân có mặc; Làm cho dân có chỗ ở; Làm cho dân được học hành”.

Tư tưởng và tình cảm của Bác đã thổi bùng lên truyền thống quý báu ngàn đời của dân tộc ta, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”… Truyền thống đó đã trở thành đạo lý làm người, phẩm chất của nền văn hoá nhân văn, nếp sống cao đẹp của mỗi người Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Hơn 60 năm tuân theo lời kêu gọi của Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào “Xoá đói giảm nghèo” đã trở thành mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân. Một sự nghiệp cao cả, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trong chương trình “Xoá đói giảm nghèo”, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, ban hành nhiều chính sách, chỉ đạo các bộ, ngành lập ra các chương trình dự án xoá đói, giảm nghèo cho các vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chương trình dạy nghề, giải quyết việc làm, nhằm tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi khuyến khích mọi người, mọi thành phần kinh tế phát huy cao độ nguồn lực và tài năng sáng tạo, ra sức phát triển sản xuất, kinh doanh, làm giàu hợp pháp, giảm nhanh các hộ nghèo, phấn đấu vươn lên: dân giàu, nước mạnh.

Cùng với việc động viên phát triển sản xuất, Đảng và Nhà nước khuyến khích toàn dân, các tổ chức xã hội, các đoàn thể mở các cuộc vận động, các chương trình dự án, xoá đói giảm nghèo. Nông dân có phong trào thi đua “Sản xuất, kinh doanh giỏi”, Mặt trận Tổ quốc Việt nam có “Ngày vì người nghèo” hoạt động “Nối vòng tay lớn” gây quỹ xoá nhà dột nát. Phong trào đã mở rộng cả Trung ương và cơ sở, tất cả các bộ, ngành và của toàn dân. Đảng và Nhà nước khuyến khích toàn dân thực hiện tốt các chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với nước, tham gia các hoạt động công ích, hoạt động từ thiện, gắn tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội.

Cuộc vận động “Vì người nghèo” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam phát động đã thu hút toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, với hàng triệu cán bộ, đảng viên, nhân dân tham gia, đem lại kết quả to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần và đạo lý. Hàng vạn ngôi nhà tình thương đã mọc lên. Nhiều tỉnh đã xoá xong nhà dột nát. Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, sự phấn đấu vươn lên của các hộ nghèo, xã nghèo, sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, chúng ta đã vượt trước thời hạn mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc đề ra giảm một nửa tỉ lệ đói nghèo và phổ cập tiểu học, được hội nghị thượng đỉnh tháng 9-2005 của Liên hợp quốc đánh giá cao.

Một tờ báo nước ngoài đã viết: “Sau hai thập niên cải cách kinh tế, Việt Nam đang trên con đường hoàn thành ước muốn độc lập và thịnh vượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Trần Công Huyền

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong Cải cách ruộng đất

Bác Hồ thăm hỏi bà con nông dân Tuyên Quang trong cải cách ruộng đất (1953). (Ảnh tư liệu)

(DVT.vn) – Sau đây là một vài mẩu chuyện nhỏ nói lên sự nhân ái, tài tình của Bác trong đời sống, trong công tác tư tưởng.

Nguyễn Sĩ Đại

Thiên cao Hồ viễn

Trong báo cáo bế mạc Hội nghị cán bộ TƯ tháng 3-1955, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ:

“Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã đề ra 6 công tác để củng cố miền Bắc:

1.- Hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc.
2.- Ra sức khôi phục kinh tế, nâng cao sản xuất.
3.- Xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, củng cố quốc phòng.
4.- Chấn chỉnh công tác văn hóa, xã hội.
5.- Củng cố chính quyền nhân dân.
6.- Thành lập khu tự trị Thái, Mèo.

Trong 6 công tác cụ thể để củng cố miền Bắc thì cải cách ruộng đất là công tác trọng tâm, là công tác thứ nhất”.

Từ năm 1953, cuộc vận động Giảm tô (thuế) , sau đó là Cải cách ruộng đất được phát động. Người cày có ruộng, nông dân không còn bị địa chủ áp bức. Không khí phấn khởi từ hậu phương góp phần tạo nên tinh thần quyết chiến quyết thắng ở Điện Biên Phủ và các chiến trường khác. Nhưng sự khuynh tả đã gây nên nhiều oan ức và tổn thất lớn. Truy bức, đấu tố là một hình thức tai hại nhất, không đúng với phương pháp cách mạng và đạo lý dân tộc.

Xin trích tài liệu được in trong tập san Phát động quần chúng của Ủy ban Cải cách ruộng đất trung ương :

“Tính từ đầu đợt 6 giảm tô và đợt 2 cải cách ruộng đất đến nay ở các tỉnh Vĩnh- phúc, Bắc- giang, Sơn -tây, Thái – nguyên, đã xảy ra nhiều vụ tự sát nghiêm trọng. Theo báo cáo của các Đoàn ủy, trong những người tự sát không chỉ riêng có địa chủ mà có cả phú nông, người có ít ruộng đất cho phát canh và có cả trung nông, bần nông nữa.

Ở Bắc- giang có 19 vụ tự sát thì có 9 địa chủ, 1 phú nông, 2 con địa chủ, 1 tiểu thương có ít ruộng cho phát canh, 1 dân nghèo, 4 trung nông, 1 bần nông. Ngoài ra ở một số xã còn một số người định tự sát nhưng có người biết cứu được. Trong số những người tự sát thì địa chủ đầu sỏ rất ít, đa số là địa chủ thường và các thành phần khác. Riêng ở Thái- nguyên vì cán bộ chủ quan, thiếu cảnh giác nên đã xảy ra ba vụ địa chủ cường hào gian ác tự sát trước khi đấu tranh và một vụ địa chủ tự sát ngay trong khi xử án. Những vụ tự sát trên đều dồn dập vào cuối bước 2 và phần lớn xảy ra ở vùng mới giải phóng, nếu ta  không kịp thời sửa chữa thì sang giai đoạn đấu tranh quyết liệt các vụ tự sát còn có thể xảy ra nhiều hơn nữa”.
(Tài liệu đã dẫn, số 3, ngày 10-12-1954)

Trung ương Đảng, nhất là Bác Hồ , sớm phát hiện ra những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trong một bài nói chuyện tổng kết đợt 2 (đăng trên Tập san Phát động quần chúng số 7, ngày 5-3-1955)  Bác Hồ nói:

“Đợt cải cách ruộng đất thứ hai vừa rồi, các cô các chú đã có thành tích: đã giúp đỡ 75.000 nông dân có ruộng cày, tức là đã thực hiện được một phần chính sách “Người cày có ruộng”.

Khi nói về khuyết điểm, Người rất đau lòng  khi nhận thấy trình độ cán bộ rất thấp, không phân biệt được địch-ta, coi đội cải cách là vua, ”Thậm chí, có một số cán bộ hủ hóa, làm hại đến danh dự của Đảng, của Chính phủ, của tất cả cán bộ. Đó là một điều thật đáng thương tâm”.

Dùng nhục hình là điều phổ biến, điều Chủ tịch Hồ Chí Minh rất phản đối: “Trong đợt 2, một số cán bộ còn phạm khuyết điểm dùng nhục hình. Nhục hình là lối dã man, là cách của đế quốc, tư bản, phong kiến, nó dùng để trị quần chúng, trị cách mạng. Chúng ta có chính sách đúng, lý lẽ đúng, có lực lượng mạnh, sao còn dùng cách dã man? Dùng nhục hình là chưa tẩy sạch tư tưởng dã man, đầu óc phong kiến đế quốc… Đợt này, tuyệt đối không được dùng nhục hình, nếu dùng nhục hình là trái với chính sách của Đảng”…

Tuy vậy, khuyết điểm này còn kéo dài. Bệnh thành tích, quy cho được nhiều địa chủ, nhất là đầu sỏ, phản động khiến nhiều đội bắt con tố cha, vợ tố chồng, truy bức bắt phải nhận là Quốc dân đảng, Việt gian phản động…

Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Thêm bạn bớt thù”; trong khi nhiều đội, đoàn lại theo phương châm của Mao Trạch Đông :”Tranh thủ số đông, đả kích số it, lợi dụng mâu thuẫn, đánh từng tên một”. Cái phương châm này sau được áp dụng trong cách mạng văn hóa, gây tổn thất lớn ở Trung Quốc trong những năm sáu mươi.

Tại Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất Bắc – Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), đầu năm 1956, Bác lại nghiêm khắc phê bình:

“Chưa nhận rõ ai là địch, ai là ta nên một số cán bộ mắc phải khuyết điểm nữa rất nghiêm trọng là dùng nhục hình. Bác đã nhiều lần nhắc: Dùng nhục hình là dã man. Chỉ có bọn đế quốc phong kiến mới dùng. Đánh người ta đau quá thì không có người ta cũng nhận là có. Như thế là cán bộ đã tự mình lừa mình”.

Oan khuất nhiều, đến nỗi có nơi 100% đảng viên đều bị xem xét, xử lý. Nhiều cán bộ trung cao cấp của Đảng cũng bị Đội bắt. Ngay cả bần, cố nông cũng bị tố. Hồi đó có câu Thiên cao Hồ viễn , nghĩa là trời thì cao, Bác Hồ thì xa, ai thấu nông nỗi này!

Ông Mai Văn Hách, Bí thư Đoàn 12 Bắc Hưng Yên tự kiểm điểm :  Cho rằng, tất cả những người trước đây ở trong bộ máy thống trị của địch chẳng nhiều thì ít đều có tội nên chúng tôi cho bắt nhất loạt… Lúc đó chúng tôi chỉ nghĩ : Có bắt như thế mới kiên quyết trấn áp phản cách mạng… Qua thống kê, thấy con số bắt ít, chúng tôi chỉ thúc cho các đội”sao bắt ít thế”. Việc duyệt địa chủ cường hào gian ác và bọn cầm đầu phá hoại, chúng tôi hoàn toàn giao cho các đồng chí Đoàn ủy viên cụm duyệt, cũng không kiểm tra lại xem duyệt có đúng không; do đó có đồng chí đã duyệt cho đội bắt một lúc hàng chục người…

Tình hình đó tạo ra một không khí nặng nề  Bà con họ mạc, hàng xóm láng giềng không dám đến chơi nhà nhau, gặp nhau ngoài đường không dám trò chuyện, thậm chí không dám chào hỏi vì sợ nhỡ xảy ra việc gì lại liên quan. Tối tối , nhan dân đi họp rất  đông, nhưng chỉ ngồi nghe, không phát biểu; đi họp đông đủ cũng vì sợ ở nhà nhỡ xảy ra việc gì lại liên quan…(Mai Văn Hách).

Cốc nước đổ rồi, đừng làm đổ thêm

Trong cải cách, với tinh thần” triệt để” của cách mạng nông dân, địa chủ thì quy lên địa chủ cường hào gian ác; phú nông thì quy lên địa chủ, trung nông, nông dân cũng quy lên phú nông. Hiện tượng quy sai phổ biến. Nông dân Việt Nam nghèo. Năm 1954,1955 lại càng nghèo. Vì thế, ở Phú Thọ, nhà nông dân có ba cái chum, 5 cái nồi đồng mâm thau cũng bị trưng mua. Tình hình cải cách, chỉnh đốn Đảng ở Nghệ Tĩnh càng thiên tả.

Bác Nguyễn Văn Phượng, Phó Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An thời kỳ 1957-1961 hiện trú tại khối 17, Phường Hưng Bình, thành phố Vinh có kể lại  với tôi một câu chuyện sau:

Dịp 2-9-1956, Khu ủy khu 4 (lúc đó do đồng chí Đặng Thí làm bí thư) mời các cụ đảng viên 1930- 1931 ở Nghệ An và Hà Tĩnh về thành phố Vinh dự Quốc khánh.

Năm ấy bão lớn. Nhà cửa đổ nhiều. Các cụ phải di chuyển chỗ ở hết chỗ này sang chỗ khác. Trong hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Đường (tức Thạc), Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An , được ủy nhiệm báo cáo về sai lầm cải cách ruộng đất và chủ trương sửa sai. Các cụ phát biểu rất hăng. Gặp mặt xong, tổ chức tặng quà, đưa các cụ về nhưng không ai chịu. Các cụ nói: “Bây giờ địch họa, thiên tai không còn đường sống nữa. Chúng tôi chỉ mong được gặp mặt Bác Hồ ở quê hoặc được ra Hà Nội báo cáo tình hình với Bác”. Chữ “địch họa” ở đây với ý là tổn thất lớn do chính ta gây ra với ta trong cải cách ruộng đất. Nguyện vọng đó được báo cáo với Bác. Bác chấp thuận nhưng gợi ý đoàn ra Hà Nội không quá mười người. Khu ủy khu 4 đã mời các cụ Tam, Nhu, Hài của Hà Tĩnh, cụ Kế (Nghệ An) với các đồng chí Hoàng Văn Đường, Tỉnh ủy Nghệ An; Phan Văn Trưng, Bí thư Huyện ủy Thanh Chương; nữ đồng chí Liên (Nam Đàn); đồng chí Phổ (Anh Sơn) là những địa phương làm “ mạnh” trong cải cách ruộng đất. Phụ trách hậu cần và tổ chức chuyến đi là đồng chí Nguyễn Văn Phượng, cán bộ Văn phòng Tỉnh ủy Nghệ An.

Đoàn ra Hà Nội ăn nghỉ tại 54 Nguyễn Du. 14 giờ ngày 8-9-1956, xe đón đoàn vào gặp Bác tại ngôi nhà của Chính phủ tại phố Mai Xuân Thưởng.

Mọi người vừa ngồi xong thì Bác và đồng chí Nguyễn Duy Trinh xuất hiện. Bác ngăn không cho chào đón và lần lượt bắt tay thân thiết từng người một.

An tọa, Bác nói trước: “Báo cáo về tình hình Nghệ An, Hà Tĩnh, Bác đã đọc rồi… Mời các chú uống nước”.

Lời mời của Bác không thể không theo. Từng ngụm nhỏ trà sen thanh tao và đậm đà ân tình làm cho nỗi bực bội trong lòng mỗi người được lắng dịu đôi phần. Rồi không biết vô tình hay cố ý, bàn tay Bác chạm vào cốc nước trước mặt, làm nước đổ ra đĩa. Bác đặt cái chén lên như cũ và nói đại ý:

– Các chú cẩn thận nên được uống nước. Bác vô ý làm đổ chén nước thì Bác không được uống. Nước đã đổ ra đĩa rồi, có rót lại cũng không được đầy như trước mà lại còn mất vệ sinh… Mục đích ta làm cải cách ruộng đất để cho người cày có ruộng là đúng. Đúng không các chú.

Tiếng “Đúng ạ” đồng thanh.

– Nhưng phương pháp làm – Bác nói tiếp – thì có sai. Sai thì sửa…

Sau khi thăm hỏi, nghe thêm và quán triệt chủ trương của Trung ương, Bác gợi ý đi thăm Nhà máy Diêm và một số cơ sở nông nghiệp khác ở Hà Nội nhưng cả đoàn đều nói bây giờ thì sáng rồi, tình hình ở nhà còn bề bộn, đoàn xin phép về để cùng các địa phương tiếp tục sửa sai. Bác đồng ý và chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Duy Trinh đưa các cụ đi khám mắt, tặng mỗi người một cặp kính. Rồi Bác chia cho mỗi người một điếu thuốc lá dặn chung:

– Đoàn kết sửa sai tốt nhá!

Bác quay sang hỏi giờ đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Bác Phượng nhìn theo bóng Bác bàng hoàng.

Mới chớp mắt mà đã năm mươi phút trôi qua. Một buổi gặp ngắn ngủi với Bác giữa thủ đô mà bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu điều không hiểu như mây mù bỗng được vén lên. Bầu trời lại cao xanh một niềm tin phấn chấn.

dvt.vn

Tinh thần cùng với người dân


Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890/19-5-2011)

QĐND – “Nói về lịch sử Việt Nam, thì tinh thần yêu nước, thương dân, yêu dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một nhân vật vĩ đại xứng đáng là tấm gương cho các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới”.

Lời khẳng định trên là của Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, thuộc Trường Đại học Chosun Hàn Quốc, khi nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà ông đã dành hơn 20 năm để nghiên cứu, tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-2010), ở Hà Nội.

Vị Chủ tịch gần gũi nhân dân

Trong bài viết của mình, Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan nhấn mạnh: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nói một cách tóm tắt là Tinh thần cùng với người dân. Cả đời Người hiến thân vì sự nghiệp độc lập và tự do cho Tổ quốc Việt Nam, và thực hiện ba tinh thần là tinh thần cùng sống với người dân, tinh thần cùng ăn với người dân và tinh thần cùng làn việc với người dân”.

Tại sao lại có sự khẳng định như vậy? Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan phân tích: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã không thần tượng hóa hay thần thánh hóa về mình. Người được nhân dân thân thương gọi là Bác Hồ. Cả đời Người sống thanh bần, không lập gia đình riêng. Người không màng tới địa vị của mình. Người được thừa nhận là nhà lãnh đạo mang tầm cỡ thế giới và là một người yêu nước, sống như cuộc sống của một người dân bình thường, hiến thân phục vụ vì đại nghĩa, luôn chăm lo cải thiện cuộc sống của đồng bào Việt Nam. Chính những tư tưởng trên của Người đã đưa Người tới gần nhất với đời sống của nhân dân.

Các đại biểu và học giả trao đổi bên lề Hội thảo diễn ra vào tháng 5-2010.
Ảnh: Hoa Huyền

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan, khi một nhà lãnh đạo chính trị hành động với tinh thần tập thể cùng sống, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với người dân thì tập hợp được sức mạnh của toàn dân, đất nước dù có gặp những khó khăn thế nào cũng khắc phục và tìm được con đường giải quyết, đưa đất nước khỏi con đường bế tắc. “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã cùng sống, cùng ăn và cùng làm việc với người dân. Ngay cả khi ở địa vị tối cao của một nhà lãnh đạo, Người cũng không đòi hỏi đặc quyền gì cho bản thân mình. Một nhân vật đã cùng khổ, cùng sướng với người dân và qua đó đã có được một cơ sở vững chắc là sự tin cậy của người dân – nguồn sức mạnh để giành lại độc lập từ tay thực dân Pháp”, Giáo sư Ahn Kyong Hwan nói.

Suốt đời hy sinh cho dân tộc Việt Nam

Trong bài viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua cảm nghĩ của một người Hàn Quốc” mà Giáo sư-Tiến sĩ Ahn Kyong Hwan trình bày tại Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, Giáo sư đã nhấn mạnh, cho dù có sự khác biệt về tư tưởng hay tôn giáo với các vĩ nhân khác trên thế giới, nhưng về nhân cách của Người, đáng để cho tất cả mọi người trên thế giới tôn kính. Giáo sư Ahn Kyong Hwan cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc và là nhà yêu nước xuất sắc. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới phải noi gương tinh thần yêu nước, yêu đồng bào vĩ đại của Người.

Phân tích luận điểm trên, Giáo sư Ahn Kyong Hwan đã dẫn giải rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước chân chính, tuyệt đối không mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Chủ nghĩa dân tộc của Người là “chủ nghĩa dân tộc mở”, luôn hướng về thế giới. Chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc bao gồm thế giới, đâu phải là chủ nghĩa dân tộc bị trói buộc trong một vòng chật hẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lựa chiến lược vận động cho độc lập, thống nhất đất nước bằng đấu tranh vũ trang, bằng chiến tranh nhân dân, nhưng về cơ bản Người là một người theo chủ nghĩa hòa bình, một nhà văn hóa.

Trong 79 năm cuộc đời mình, Người đã cùng dân tộc trải qua con đường chông gai trong suốt cuộc đấu tranh giành độc lập. Người đã cùng dân tộc Việt Nam làm nên nhiều thắng lợi lịch sử. Người đã vì Tổ quốc và dân tộc mà sống một cuộc đời đầy gian khổ. Người là một nhân vật luôn tuân theo mệnh lệnh tối cao của dân tộc mà đấu tranh để giành độc lập-tự chủ. Những con người đi theo con đường vì Tổ quốc, vì dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là niềm tự hào, là vĩ nhân bất diệt của nhân dân Việt Nam. Hiểu về Người, là đã hiểu một phần về Việt Nam. Khi tinh thần của Người được kế thừa và phát huy, chắc chắn thắng lợi của Việt Nam là đời đời bền vững. Người luôn sống mãi trong lòng người dân Việt Nam.

NGUYỄN HÒA (ghi)

qdnd.vn

Vang mãi khúc khải hoàn Pác Bó

(GD&TĐ) – Cách đây đúng 70 năm, ngày 28-1-1941, Bác Hồ chính thức đặt bước chân lên cột mốc biên giới 108 (Cao Bằng) – mảnh đất địa đầu phía Đông Bắc của Tổ quốc sau 30 năm bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Cùng về nước với Bác có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An. 

Sáng sớm ngày 28-1-1941 (nhằm mùng 2 Tết Tân Tỵ), đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang (Quảng Tây – Trung Quốc). Đi đầu là đồng chí Phùng Chí Kiên, người rất thông thạo đường đi lối lại vùng rừng núi; nhóm đi giữa gồm có Bác, đồng chí Lê Quảng Ba và Thế An, đều là cán bộ người dân tộc Tày, thông thạo tiếng nhiều dân tộc và rất giỏi võ, kế đến là đồng chí Hoàng Văn Lộc và cuối cùng là đồng chí Đặng Văn Cáp, một thanh niên rất khỏe, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi, biết chữa bệnh bằng thuốc nam. Bác đề nghị cả nhóm hóa trang ăn mặc như đàn ông Nùng để che mắt địch, vì phong tục của họ là cứ đến Tết các chàng rể đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Bác mặc đúng kiểu đàn ông Nùng trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay.

Sau 8 giờ đi đường, vượt qua dãy núi Phia Sum Khảo, đoàn đặt chân đến cột mốc biên giới số 108 vào giữa trưa, khoảng 12 giờ. Đoàn cán bộ trong nước do đồng chí Hoàng Sâm dẫn đầu được cử đi đón Bác cũng đã có mặt tại cột mốc. Sau 30 năm bôn ba xứ người, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước.

Theo hồi ký của thiếu tướng Lê Quảng Ba, khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, đưa mắt ngắm nhìn núi rừng trùng điệp quê hương rồi cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt Bác rưng rưng. Cả đoàn lặng đi trong niềm xúc động khi chứng kiến khoảnh khắc thiêng liêng ấy của lịch sử.

Cột mốc 108

Nơi Bác đặt chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Bác đặt tên là suối Lê – Nin. Hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác.

Ngày đầu tiên đồng chí Lê Quảng Ba đưa ông Ké (“ông ké”- theo tiếng địa phương có nghĩa là cụ già – là cách gọi Bác Hồ một cách thân thiện của người dân Pác Bó) về nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng. Nhà có hai gian cũ và làm thêm một gian mới để đón khách, khách và chủ cùng quây quần bên mâm cơm ngày Tết của gia đình họ Lý.

Sau bữa cơm chủ nhà đã thu xếp chỗ ăn ở và làm việc cho đoàn cán bộ nhưng ông Ké bảo Lê Quảng Ba: Ta có nhiều người, ở lại nhà ông Lý làm phiền chủ nhà quá, thôi nên dứt khoát “sáu sán” thôi.

Sáng sớm hôm sau ông Lý dẫn ông Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Pác Bó. Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ quốc Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng tác:

Non xa xa nước xa xa
Nào phải thêng thang mới gọi là
Đây suối Lê – nin kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà

Trong bối cảnh cuộc sống còn gian khó, đất nước sống dưới ách áp bức của các thế lực thực dân phong kiến, nhưng ở mảnh đất Pác Bó người dân Cao Bằng đã gíac ngộ hướng về cách mạng và bảo vệ cách mạng. Tại Pác Bó Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Từ đó ở khu Pác Bó có một ông Ké mặc bộ quần áo chàm, quần sắn cao, tay cầm gậy, dáng đi nhanh nhẹn nhưng ưng dung, thoải mái vui vẻ tiếp các cán bộ về thỉnh thị và báo cáo. Bác hoà mình vào hoàn cảnh mới hết sức tự nhiên, tâm hồn của Bác luôn ung dung lạc quan, với cuộc sống gian khó mà Bác vẫn có những vần thơ bất hủ.

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

oBức họa tái hiện thời khắc Bác cùng các đồng chí trong đoàn về nước

Khi về Pác Bó, Bác đã mở nhiều lớp đào tạo huấn luyện cán bộ, gắn họat động cách mạng với thực tiễn tại cơ sở, tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh, các Hội cứu quốc các giới do 43 cán bộ đã được huấn luyện làm chủ chốt, mở rộng tổ chức ra các xã, châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình hoạt động rất có kết quả, từ kết quả này đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị tổng kết thí điểm tại Coọc Mu (Hà Quảng) vào tháng 4/1941 đó là những thực tế sinh động cho nội dung Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

gfdgrNgày nay, địa danh lịch sử gắn liền sự kiện ngày Bác Hồ về nước được đông đảo đồng bào cả nước, du khách đến tham quan, ôn lại lịch sử (ảnh Internet)

Ở hang Pác Bó hơn một tháng Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm (suối nước), địa điển này tiện lợi đi lại không phải lội qua suối, nếu có động dễ thoát nhanh chóng. Tại đây Bác lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản trịêu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hội nghị khai mạc sáng 10/05/1941, Hội nghị đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là Hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng Minh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa.

Sau Hội nghị Bác tự tay thảo ra bức thư ”Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dân tộc ta liên tiếp giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Kiên Hưng (st)
gdtd.vn

Thời điểm bế tắc của cuộc đàm phán Fontainebleau

– Ngày 12/8/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp và nói chuyện với Đoàn đại biểu Việt Nam đang dự Hội nghị Fontainebleau và bà con Việt kiều vào thời điểm cuộc đàm phán bế tắc và ở Việt Nam quân Pháp đẩy mạnh khiêu khích.

Bình luận về cuộc đụng độ giữa lực lượng vũ trang Việt-Pháp tại Bắc Ninh và cuộc oanh tạc bằng không quân của Pháp, khi trả lời tờ “Le Combat” (Chiến đấu), người đứng đầu nhà nước Việt Nam nói: “… Ý kiến của tôi là mặc dầu trách nhiệm về bên nào, vụ xung đột ấy cũng rất đáng tiếc”; còn về  Hội nghị Fontainebleau, Bác cho rằng: “Hội nghị chỉ có thể gián đoạn chứ không thể tan vỡ được. Tôi sẽ không khởi hành trước khi chúng ta có thể đi tới một sự thoả thuận”. Còn với tờ “Libération”(Giải phóng), Bác nói rõ “Tôi không đặt điều kiện cho việc nối lại cuộc Hội nghị Fontainebleau”.

dNgày 12/8/1954, Bác cùng Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng tiếp các vị trong Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành hiệp định Genève về Việt Nam.

Nhằm cứu vãn tình hình, trong ngày 12/8/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet bày tỏ quan điểm: “Điều trước tiên là chúng ta cần làm dịu đầu óc những người Pháp và những người Việt Nam… Cần làm cho cả hai bên đều hiểu những cái mà họ có thể giành được. Những vấn đề mà người Pháp cũng như người Việt Nam tha thiết nhất, đó là vấn đề độc lập dân tộc và vấn đề Nam Bộ…”. Sau khi cho biết sẽ gửi văn bản chính thức và tiếp tục thảo luận riêng, bức thư tỏ ý “Tôi chắc chắn rằng, với thiện ý chung và sự tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ nhanh chóng đi đến một thoả thuận có lợi cho cả 2 dân tộc chúng ta”.

Cũng với mối quan tâm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho Tổng bí thư đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez yêu cầu các Bộ trưởng cộng sản Pháp trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ Pháp khi thoả thuận về vấn đề Việt Nam hãy ủng hộ quan điểm của Việt Nam và xác định “Số phận Việt Nam tuỳ thuộc nhiều vào cuộc thảo luận đó”.

Trả lời tờ “Franc-Tireur”, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh khẩn thiết khẳng định: “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không. Tôi muốn khi trở về nước sẽ đem về cho nhân dân Việt nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng tôi mong đợi ở nước Pháp. Nước Việt Nam không chịu trách nhiệm về các cuộc xung đột đã xẩy ra. Cần phải tạo nên bầu không khí thuận lợi cần thiết cho cuộc cộng tác Việt-Pháp. Muốn thế, cần làm yên lòng người Việt cũng như người Pháp. Về phần chúng tôi, chúng tôi quyết định bảo đảm cho nước Pháp những quyền lợi tinh thần, văn hoá và vật chất, nhưng trái lại nước Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi”.

Đó là bằng chứng những nỗ lực của Việt Nam cho hoà bình và thân thiện, đồng thời cũng thể hiện nguyênlý ngoại giao mà Bác Hồ đã căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.

X&N
bee.net.vn

Kết thúc “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”

– Ngày 12/1/1933 Nguyễn Ái Quốc lúc này mang bí danh là Tống Văn Sơ lên tàu đi Singapore sau khi Toà án Anh ở Hồng Kông đã ra lệnh thả. Nhà cách mạng Việt Nam quyết định đi Anh, nhưng tàu vừa cập bến cảng Singapore thì chính quyền sở tại theo yêu cầu của nhà cầm quyền ở Hồng Kông ra lệnh cho nhà cách mạng Việt Nam không được nhập cảnh và phải quay lại nơi xuất phát.

Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của các luật sư tiến bộ, chính quyền Hồng Kông buộc phải trả tự do để sau đó, trong vai một thương gia khá giả, Nguyễn Ái Quốc lên tàu tới Hạ Môn để rồi từ đó đi Thượng Hải và trở lại nước Nga, kết thúc “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”.

12-1-1967 HCM thăm đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nướcNgày 12/1/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Đại hội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước

Ngày 6/6/1931, từ việc bắt một số cán bộ cộng sản ở Sài Gòn và Singapore, địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc khi đó đang trú tại Hồng Kông bị lộ, cảnh sát Anh đã bắt được nhà hoạt động cách mạng đã từng bị chính quyền ở Đông Dương kết án tử hình. Lúc này mang bí danh là Tống Văn Sơ, Nguyễn Ái Quốc bị giam tại Sở cảnh sát rồi nhà tù Victoria.

Ngày 24/6/1931, được một đồng chí người Việt Nam nhờ can thiệp, Luật sư Lôdơbi tiếp cận thân chủ của mình. Sau nhiều lần ra văn bản “lệnh bắt giam” và thẩm vấn, ngày 31/7/1931 Toà án tối cao xét xử ra lệnh trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương có nghĩa là để thụ án tử hình.

Với sự giúp đỡ của ông Lôdơbi và một số luật sư tiến bộ khác, sau 9 phiên xét xử, Toà án Hồng Kông đồng ý cho kháng án lên Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh. Ngày 21/7/1932, phán quyết của Vua Anh và Hội đồng Cơ mật cho phép Tống Văn Sơ đến Anh, nhưng chính quyền Hồng Kông tìm cách gây trắc trở cho đến ngày 28/2/1933 mới được tự do…

Ngay sau khi được tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt, chính quyền thực dân Pháp đã tìm mọi cách can thiệp với chính quyền Hồng Kông để bắt giữ và Bộ thuộc địa Pháp đã cảnh báo “Việc trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc chỉ có thể làm trầm trọng thêm những hoạt động có hại của phong trào Đông Dương mà các Sở an ninh Đông Dương đều biết là ông ta đã tập trung tất cả trí thông minh, quyền lực và sự nổi tiếng của mình”. Và sau hơn 2 tháng Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hồng Kông, chính quyền thực dân Pháp mới phát lệnh truy nã thì nhà cách mạng Việt Nam đã trở lại với nước Nga.

Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời gia đình Luật sư Lôdơbi đến Hà Nội để tạ ơn xưa, và vị luật sư người Anh này đã đáp lại rằng: “Ngài nói rằng tôi đã cứu sống Ngài, điều đó có thể đúng. Nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm và đó mãi mãi là một việc làm sáng suốt!”.

X&N
bee.net.vn