Thư viện

Chuyện về đời sống của Bác – Phần 2

11. Bữa cơm kháng chiến

Khoảng giữa năm 1952, Đoàn đại biểu quân đội gồm 20 người tiêu biểu của các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong cả nước đến Tuyên Quang dự “Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua công nông binh toàn quốc”.

Trước khi vào Đại hội, Bác mời cơm mọi người. Cụ Hoàng Hanh, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, anh Ngô Gia Khảm, chị Nguyễn Thị Chiên và một em thiếu nhi được Bác gọi ngồi cùng mâm với Bác.

Trên chiếc bàn bằng tre nứa sạch sẽ, thức ăn được bày lên, có thịt gà, cá rán, dưa chua, rau và cả một bát dưa nấu giấm cá. Bác nói: “Đây là bữa cơm kháng chiến để chúc mừng các chiến sĩ thi đua đã lập nhiều thành tích trong sản xuất và chiến đấu. Trung ương Đảng và Chính phủ không có gì nhiều, chỉ toàn những thứ do anh em trong cơ quan và Bác trồng trọt, chăn nuôi thu hái được, mời cụ, các cô các chú ăn. Đã ăn là ăn thật no, ăn no để đủ sức tham gia hội nghị, nghe hiểu hết mọi điều về nói lại với nhân dân. Nào, xin mời!” Rồi Bác cầm đũa gắp thức ăn vào bát cho từng người.

Có đồng chí nói: “Chao ôi! Bác thết chúng cháu nhiều món quá”. Bác quay sang vui vẻ nói: “Tất cả đây đều là kết quả tăng gia sản xuất của tập thể cơ quan: gà và cá là Bác tự nuôi. Rau thì các cô các chú xem kìa – Bác chỉ tay ra khoảng đất phía sau hội trường. Giữa tán cây cao, có một khoảng nắng rộng, nhìn rõ các luống rau xanh và giàn bầu tươi tốt. Bác tiếp: Rau thơm, hành tỏi cũng không phải mua. Hôm nay chưa giết lợn, để Hội nghị thành công, rồi sẽ khao chung một bữa.”

Mọi người mải nghe Bác nói, không ai gắp thức ăn. Bác lại vồn vã giục: “Nào tất cả ăn đi, ăn xong ta sẽ nói chuyện với nhau”.

Có Bác cùng ăn, mọi người ăn rất ngon lành, vui vẻ. Trong bữa ăn, nhìn anh Ngô Gia Khảm có thương tật ở tay, cầm thìa xúc ăn thật vất vả, Bác rơm rớm nước mắt và cứ gắp cho anh đều. Thấy chị Chiên thích ăn cá, Bác hỏi:

– Quê cháu có nuôi cá không?

– Thưa Bác, không nuôi ạ. Khi muốn ăn thì xách giỏ ra đồng, hoặc đánh bắt ở ao, hồ, sông.

– Ở đây Bác và anh em trong cơ quan chỉ ngăn lại một quãng suối, vậy mà cá to thế đấy.

Bác vui vẻ hỏi chuyện mọi người. Bữa ăn hôm ấy thật ngon miệng, thoải mái và thân thiết.

—————

Theo: Trung Kiên

12. Quyền lao động của Bác

Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch biên giới. Chuyến đi dài ngày, gian khổ. Anh em cảnh vệ kiếm được một con ngựa, mời Bác lên. Bác cười: chúng ta có 7 người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện?

Anh em vừa khẩn khoản: chúng cháu còn trẻ, Bác đã cao tuổi, đường xa, việc nhiều… Không nỡ từ chối, Bác trả lời:

– Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ ba lô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

Ở khu an toàn, mặc dầu xa địch, nhưng mỗi lần chuyển địa điểm, ngoài việc làm lán trại, Bác cháu còn phải đào hầm, hố. Bác thường giúp đỡ các chiến sĩ bảo vệ vẽ mẫu hầm, cách cầm xẻng, phá đất đá, nện “choòng”… Ngay trong mỗi nhà, mỗi lán Bác đều cho đào công sự đề phòng máy bay tập kích bất ngờ, cây rừng đổ xuống. Cứ mỗi ngày Bác đào một ít, sau giờ làm việc vài ba buổi là xong. Ai muốn đến giúp, Bác ngăn lại, không đồng ý và nói:

– Đây là quyền lao động của Bác.

—————

Theo: Hồng Dương

13. Ai ăn thì người ấy trả tiền

Năm 1954, hòa bình lập lại trên nửa nước. Đồng bào các địa phương có sản vật gì quý đều gửi một ít lên biếu Bác để giới thiệu thành tích tăng gia với Người.

Trong một bữa cơm, Bác thấy có món cà Nghệ, quả nhỏ, cùi ròn, ngâm mắm. Bữa ấy Bác ăn rất ngon. Hôm sau lại có món cà quê hương. Bác ăn hết vài ba quả. Thấy thế đồng chí anh nuôi lại dọn cà.

Bác hỏi:

– Cà muối mua hay ai cho thế?

– Thưa Bác, đồng bào Nghệ An đưa ra tặng Bác.

– Có nhiều không?

Dạ, một ô tô ạ.

Bác chậm rãi nói:

– Thế này nhé. Cà Nghệ ăn rất ngon. Bác ăn mấy bữa liền là đủ rồi. Bây giờ ai muốn ăn nữa thì trả tiền cho đồng bào Nghệ An.

Đồng chí chiến sĩ anh nuôi lùi ra nói:

– Chết chưa! Đã bảo mà.

—————

Theo: Bích Hạnh

 14. Quả táo Bác Hồ cho em bé

Tháng 4-1946, với danh nghĩa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bác Hồ sang Pháp để đàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn đề có liên quan đến vận mệnh của đất nước. Ông Đốc lý thành phố Paris mở tiệc long trọng thết đãi Bác Hồ. Trước khi ra về, Người chọn lấy một quả táo đẹp trên bàn, bỏ vào túi. Mọi người, kể cả ông Đốc lý đều kinh ngạc chú ý tới việc ấy, ngạc nhiên và không giấu được sự tò mò. Khi Bác Hồ bước ra khỏi phòng, rất đông bà con Việt kiều và cả người Pháp nữa đang đứng đón Bác. Bác chào mọi người. Khi Bác trông thấy một bà mẹ bế một cháu nhỏ cố lách đám đông lại gần, Bác liền giơ tay bế cháu bé và đưa cho cháu bé quả táo. Cử chỉ của Bác Hồ đã làm những người có mặt ở đó từ chỗ tò mò ngạc nhiên đến chỗ vui mừng và cảm phục về tấm lòng yêu trẻ của Bác.

—————

Theo cuốn: Bác Hồ với thiếu nhi và phụ nữ

15. Mừng cho các cháu, Bác càng thương nhớ mẹ

Một lần trên đường đi thăm hợp tác xã trồng cây giỏi ở huyện Quảng Oai (Hà Tây), Bác Hồ đã nhắc đến mẹ Bác.

Hôm ấy khi xe ôtô đến Quảng Oai, một đoàn các em bé gái cổ quàng khăn đỏ, em mặc áo hoa xen em mặc áo trắng, tay cắp sách vừa ở trong trường ra, líu ríu như chim sổ lồng. Nhìn thấy các cháu vui, Bác Hồ cũng vui theo. Người nói với chú Vũ Kỳ và các chú ngồi cùng xe:

– Này! Các chú thấy không, các cháu được ăn mặc đẹp, được đi học, cháu nào cũng vui vẻ phấn khởi, Bác mừng cho các cháu.

Rồi giọng Bác bỗng trầm hẳn xuống.

– Lúc này Bác rất nhớ mẹ của Bác. Mẹ Bác rất thông minh, lại là con gái ông đồ nho. Thế mà mẹ Bác lại không được đến lớp, đến trường đâu các chú ạ. Cũng như phụ nữ ngày xưa, từ nhỏ mẹ Bác đã phải lo việc nhà.

Mọi người cùng đi không nén nổi cảm xúc trước tình cảm của Bác đối với mẹ Bác là cụ Hoàng Thị Loan.

—————

Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ

16. Không có việc gì khó

Năm 1927, với tên gọi là Thầu Chín, Bác Hồ sống và hoạt động trong kiều bào Việt Nam ở Xiêm (Thái Lan) cho đến cuối năm 1929. Đây là một trong những thời gian Người sống lâu nhất với đồng bào, trước năm 1945.

Sau khi đặt chân đến Phi Chịt, Người nêu ý kiến đi ra U Đon để tìm gặp Việt kiều. Từ Phi Chịt đến U Đon phải đi bộ, băng rừng hàng tháng. Mỗi người đi đường đều gánh theo hai thùng sắt tây đựng quần áo, đồ dùng lặt vặt, có nắp đậy để tránh mưa núi, vắt rừng. Thức ăn mang theo cũng là 10kg gạo và một ống “cheo” (thịt gà hoặc sườn lợn băm nhỏ rang muối. Năm 1945 khi đi Côn Minh, Bác cũng mang theo một ống “cheo” nhưng đặt tên là muối Việt Minh).

Thầu Chín cùng một số anh em ra đi vào dịp mùa thu. Cây rừng đang rụng lá. Trời nắng to, đường đi đá sỏi gập ghềnh, mọi người đều mệt mỏi. Thấy Thầu Chín không quen gánh, có người muốn giúp đỡ, nhưng Thầu Chín không chịu. Ít ngày sau, đôi chân của Thầu Chín đã sưng lên, rớm máu, tấy đỏ. Anh em lại yêu cầu Thầu Chín nhường gánh. Thầu Chín nói: “Thánh hiền đã dạy: Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên”, ý nói là dưới trời này không có việc gì khó, chỉ sợ lòng người không kiên trì… cứ cố gắng, để thế vài hôm nữa sẽ quen đi… Quả nhiên mấy ngày sau nữa, bước chân Thầu Chín đã nhanh, đi gọn, đôi thùng đung đưa có vẻ đã nhẹ nhàng. Mấy tháng sau, có lần từ U Đon về đến Xa Vang đường dài hơn 70 km, Thầu Chín chỉ đi hết một ngày.

Hơn 20 năm sau, vào cuối mùa đông năm 1950, trong một lần gặp gỡ anh em thanh niên xung phong làm đường ở Đèo Khế, Thái Nguyên, Bác Hồ đã đọc tặng bốn câu:

… Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

Bốn câu thơ ấy, tuy là mượn ý của “Thánh hiền” nhưng đã được kiểm nghiệm trong thực tế cuộc sống của Bác Hồ mấy chục năm trước đó…

—————

Theo: Minh Anh

17. Đạo đức người ăn cơm

Một chiến sĩ bảo vệ Bác – sau này được phong quân hàm cấp tướng – có lần nói rằng:

“Bác thường dạy quân dân ta “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, Bác dạy phải làm gương trước. Bác dạy phải nêu cao đạo đức cách mạng. Có cán bộ nghĩ rằng “đạo đức” cách mạng là để áp dụng trong công tác thôi. Bản thân tôi, được gần Bác thấy ngay trong khi ăn cơm, Bác cũng đã dạy cho chúng tôi thế nào là “đạo đức”.

Thứ nhất, Bác không bao giờ đòi hỏi là Chủ tịch nước phải được ăn thứ này, thứ kia. Kháng chiến gian khổ đã đành là Bác sống như một người bình thường, khi hòa bình lập lại có điều kiện Bác cũng không muốn coi mình là “vua” có gì ngon, lạ là “cống, hiến”.

Thứ hai, món ăn của Bác rất giản dị, toàn các món dân tộc, tương cà, cá kho…, thường là chỉ 3 món trong đó có bát canh, khá hơn là 4 – 5 món thôi…

Thứ ba, Bác thường bảo chúng tôi, ăn món gì cho hết món ấy, không đụng đũa vào các món khác. Gắp thức ăn phải cho có ý. Cắt miếng bơ cũng phải cho vuông vức. Nhớ lần đi khu IV, đồng chí Bí thư và Chủ tịch Quảng Bình ăn cơm với Bác, trong mâm có một bát mắm Nghệ hơi nhiều. Bác dùng bữa xong trước, ngồi bên mâm cơm. Hai cán bộ tỉnh ăn tiếp rồi buông đũa. Bác nhìn bát mắm nói:

– Hai chú xẻ bát mắm ra, cho cơm thêm vào ăn cho hết.

Hai “quan đầu tỉnh” đành phải ăn tiếp vừa no, vừa mặn… Chiều hôm đó, hai đồng chí đưa Bác đi thăm bờ biển, trời nắng, ăn mặn nên khát nước quá.

Lần khác, một cán bộ ngoại giao cao cấp người Hà Tĩnh được ăn cơm với Bác, đã gắp mấy cọng rau muống cuối cùng vào bát tương ăn hết. Tưởng là đã “hoàn thành nhiệm vụ” nào ngờ Bác lại nói:

– Tương Nghệ đồng bào cho Bác, ngon lắm. Cháu cho thêm ít cơm vào bát “quẹt” cho hết…

Thứ tư, có món gì ngon không bao giờ Bác ăn một mình, Bác xẻ cho người này, người kia rồi sau cùng mới đến phần mình, thường là phần ít nhất. Ăn xong thu xếp bát đũa gọn gàng, để đỡ vất vả cho người phục vụ.

Thứ năm, tôi có cảm giác là đôi khi ăn cơm có những giây phút Bác cầm đôi đũa, nâng bát cơm, Bác như tư lự về điều gì đó. Tưởng như Bác nghĩ đến đồng bào, cụ già, em bé đói rách ở đâu đấy. Tưởng như Bác nhớ lại những ngày lao động ở xứ người kiếm từng mẩu bánh để ăn, để uống, để làm cách mạng… Hay là Bác lại nghĩ đến những lần tù đày không có gì ăn. Thật khó hiểu mà càng khó hiểu, tôi lại càng thương Bác quá, thương quá. Bây giờ vào những bữa tiệc cao lương, mỹ vị, rượu bia thức ăn bày la liệt, quái lạ tôi lại nhớ đến Bác rồi… có ăn cũng chẳng thấy ngon như khi xưa ngồi vào mâm cơm đạm bạc với Bác”.

—————

Theo cuốn: Tấm lòng của Bác

 18. Gương mẫu tôn trọng luật lệ

Hàng ngày, Bác thường căn dặn anh em cảnh vệ chúng tôi phải luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, triệt để tôn trọng nội quy chung. Bác bảo: “Khi bàn bạc công việc gì, đã quyết nghị thì phải triệt để thi hành. Nếu đã tự đặt ra cho mình những việc phải làm thì cương quyết thực hiện cho bằng được”.

Một hôm chúng tôi theo Bác đến thăm một ngôi chùa lịch sử. Hôm ấy là ngày lễ, các vị sư, khách nước ngoài và nhân dân đi lễ, tham quan chùa rất đông. Bác vừa vào chùa, vị sư cả liền ra đón Bác và khẩn khoản xin Người đừng cởi dép, nhưng Bác không đồng ý. Đến thềm chùa, Bác dừng lại để dép ở ngoài như mọi người, xong mới bước vào và giữ đúng mọi nghi thức như người dân đến lễ.

Trên đường từ chùa về nhà, xe đang bon bon, bỗng đèn đỏ ở một ngã tư bật lên. Đường phố đang lúc đông người. Xe của Bác như các xe khác đều dừng lại cả. Chúng tôi lo lắng nhìn nhau. Nếu nhân dân trông thấy Bác, họ sẽ ùa ra ngã tư này thì chúng tôi không biết làm thế nào được. Nghĩ vậy, chúng tôi bàn cử một đồng chí cảnh vệ chạy đến bục yêu cầu công an giao cảnh bật đèn xanh mở đường cho xe Bác. Nhưng Bác đã hiểu ý, Người ngăn lại rồi bảo chúng tôi:

– Các chú không được làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình.

Chúng tôi vừa ân hận, vừa xúc động, hồi hộp chờ người công an giao cảnh bật đèn xanh để xe qua…

—————

Theo: Phan Văn Xoàn –

Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam

Hoàng Nhật Minh

Chuyện về đời sống của Bác – Phần 1

1. Việc chi tiêu của Bác Hồ

Các đồng chí ở gần Bác đều cho biết Bác rất tiết kiệm. Có đôi tất rách đã vá đi, vá lại mấy lần Bác cũng không dùng tất mới. Bác nói:

– Cái gì còn dùng được nên dùng. Bỏ đi không nên…

Khi tất rách chưa kịp vá, anh em đưa đôi mới để Bác dùng, Bác xoay chỗ rách vào bên trong rồi cười xí xóa:

– Đấy, có trông thấy rách nữa đâu…

Có quả chuối hơi nẫu, anh cán bộ chê không ăn, Bác lấy dao gọt phần nẫu đi, bóc ăn ngon lành, rồi nói:

– Ở chiến khu có được quả chuối này cũng đã quý…

Câu nói và việc làm của Bác làm đồng chí cán bộ hối hận mãi.

Dù cho đã làm đến Chủ tịch nước, suốt trong những năm ở Việt Bắc, ở Hà Nội, Bác chưa bao giờ “có tiền” (như anh em cán bộ, chiến sĩ, công tác quanh Bác thường nhận xét).

Thực tế lịch sử cho thấy rằng: suốt thời gian hoạt động của Bác ở nước ngoài, Bác gặp rất nhiều khó khăn về tài chính do những nguyên nhân khác nhau. Được đồng nào, chủ yếu do lao động tự thân mà có, Bác dành cho công tác cách mạng. Bác chi tiêu rất dè sẻn, cân nhắc từng xu. Liên hoan mừng thành lập Đảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh, đĩa cá. Chiêu đãi đồng chí Lý Bội Quần, người Trung Quốc, người đã mua chiếc máy chữ từ Hải Phòng về tặng Người (năm 1939), Bác cũng chỉ “khao một món canh và 2 đĩa thức ăn, thêm hai lạng rượu, tổng cộng chưa hết một đồng bạc”.

Tự thết đãi mình “khi nghe tin Hồng quân bắt sống 33 vạn quân Hít le ở Xtalingrát năm 1943”, tại nhà tù, trong túi chỉ còn vẻn vẹn một đồng bạc, Bác đã “nhờ người lính gác mua giùm cho ít kẹo và dầu chả quẩy”. Sau khi phấn khởi hô mấy khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của Liên Xô, Bác “ngồi một mình, chén tạc, chén thù rất đàng hoàng vui vẻ”…

Năm 1957, Bác về thăm Nghệ Tĩnh, khi ăn cơm chung với đồng chí Nguyễn Sĩ Quế, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Diệm, Bác đã để bớt ra ngoài mâm mấy món ăn, rồi nói: “Ăn hết lấy thêm, không ăn hết để người khác ăn, đừng để người ta ăn thừa của mình”.

Có thể dẫn ra nhiều nữa những ví dụ về cách chi tiêu sử dụng tiền bạc, cơ sở vật chất của Bác, rất “mâu thuẫn thống nhất”: chắt chiu, tằn tiện nhưng vẫn rộng rãi, không hoang phí mà cũng không keo kiệt, “ki bo”.

Thế giới, loài người tự hào về Bác. Là người Việt Nam, đồng hương của Bác, chúng ta càng tự hào biết bao! Cách ứng xử của Bác với tiền tài, với cái ăn, cái mặc, với cơ sở vật chất nói chung đâu có phải là cao quá mà chúng ta không học tập được, đâu có phải là một tòa thánh cấm uy nghiêm mà chúng ta không đặt chân lên được thềm bậc, dù là bậc thềm thứ nhất?

—————

Theo: Hồ Vũ

2. Bác Hồ tăng gia rau cải

Mùa đông năm 1952, lúc đó tôi đang công tác ở Văn phòng Trung ương Đảng. Trụ sở cơ quan đóng tại đèo Re (núi Rồng). Cơ quan Phủ Chủ tịch cũng ở sát ngay cạnh đó. Sau Hội nghị chính quyền lần thứ 5 (tháng 3-1952), Chính phủ đã phát động phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm trong toàn quốc.

Ở Trung ương, cơ quan này thi đua tăng gia với cơ quan khác. Vì hai cơ quan gần nhau, tôi được công đoàn cử ra thi đua với cơ quan bên Phủ Chủ tịch. Bên Văn phòng Phủ Chủ tịch lại cử Bác là đại diện cá nhân thi đua tăng gia với cơ quan Văn phòng Trung ương.

Buổi lễ phát động thi đua diễn ra thật sôi nổi. Tôi đang sức trẻ nên thay mặt anh em đứng lên thách thức thi đua: cùng một khoảng đất như nhau 36m2, trong một thời gian nhất định, tôi xin trồng rau ăn với sản lượng cao nhất. Bác cũng đứng lên: Bác nhận thách thức thi đua tăng gia với chú Thông, với mảnh đất 36m2 trong một thời gian bằng nhau, đạt sản lượng rau nhiều hơn chú Thông. Mọi người vỗ tay hoan hô. Một số đồng chí xì xào: một cuộc thi đua không cân sức. Bác vừa già, vừa bận nhiều việc, địch sao được với cậu Thông khỏe như voi, trồng rau đã quen. Có người nêu: “Giải thưởng thi đua là một con gà trống 2 kg”. Mọi người lại hoan hô tán thưởng. Mấy đồng chí ở Văn phòng Trung ương nói to: “Nhất định chuyến này chúng ta được ăn thịt gà của Phủ Chủ tịch”. Bác nói vui: “Các chú muốn ăn gà của Chủ tịch thì phải tích cực tăng gia để có nhiều rau xanh cung cấp cho nhà bếp cơ quan”.

Tôi về suy nghĩ: để chắc ăn và có năng suất cao thì trồng cải củ, vì cải củ ở vùng này củ rất to, rất nặng. Tôi trao đổi với anh em công đoàn, mọi người ủng hộ, cho là sáng kiến.

Sau một tuần, tôi đã làm đất và trồng xong 36m2 cải củ. Ngay sát mảnh đất của tôi, Bác và anh em bên Phủ Chủ tịch làm rất kỹ, đất nhỏ, mịn và sạch cỏ. Hơn một tuần thì Bác gieo hạt cải mào gà (cải xanh lá xoan). Anh em Văn phòng Phủ Chủ tịch làm chỗ đi tiểu gần nhà và mua một nồi hông lớn để hứng nước tiểu. Phía Văn phòng Trung ương tôi cũng huy động anh em làm nhà tiêu để lấy phân bón.

Sau một tuần các cây cải mọc đều và đẹp. Bác lấy nước tiểu pha loãng tưới. Còn tôi lấy phân bắc tươi hòa ra tưới. Mỗi lần tưới cả cơ quan bịt mũi.

Sau một tháng, hai vạt rau tốt ngang nhau. Nhiều người ủng hộ tôi cho rằng tôi sẽ thắng vì củ cải lớn rất nhanh.

Một hôm Bác nhổ rau bán cho nhà bếp chỉ được 15kg. Bác để lại những cây to, khỏe, mỗi cây cách nhau chừng hai gang. Một số anh em lo lắng vì thấy vườn rau Bác nhổ đi xơ xác mà chỉ được có 15kg rau cải con. Ba buổi chiều liền, sau giờ làm việc Bác đều ra vườn dùng chiếc dầm xới đất cho cải và tưới nước giải đều.

Sau hai tháng 10 ngày thì củ cải của tôi đã to bằng bắp tay và có cây đã có nụ. Tôi nhổ và cân cho nhà bếp được 60kg. Tôi vui mừng vì thắng lợi. Nhưng cũng lúc đó, cây cải mào gà của Bác đã to bằng cái nơm, cứ 5 ngày một lần Bác tỉa tàu cân cho nhà bếp khoảng 10kg. Kỳ lạ thay cải mào gà càng tỉa cây càng lớn, tàu càng to và càng trẻ lâu. Sau 2 tháng rưỡi cải mới có ngồng. Lúc đó Bác nhổ cả cây cho nhà bếp muối dưa. Bác còn đem biếu cụ già dân tộc gần đó 2 cây rất to làm giống. Cụ già sung sướng khoe với mọi người: “Rau cải Cụ Hồ tốt thật”.

Mở sổ nhà bếp ra cộng

– Cải con: 15kg

– Tàu cải canh: 14 lần x 10kg = 140kg

– Cây cải làm dưa nén: 20kg

Cộng: 175kg

Vậy tôi thua đã rõ ràng. Công đoàn Văn phòng Trung ương phải nộp con gà trống nuôi được cho công đoàn Văn phòng Phủ Chủ tịch. Nhờ có rau tăng gia mà cả mùa đông nhà bếp đủ rau nấu, không phải ra dân mua. Buổi tổng kết thật vui vẻ. Tôi đứng dậy xin nhận thua. Bác nói chuyện với anh em: khi tăng gia, các cô, các chú phải lưu ý bốn điều kiện: giống, cần, phân, nước. Giống: nên chọn loại rau trồng một lần, ăn nhiều lần, củ cải dễ trồng, năng suất cao, nhưng chỉ được ăn một lần thì không bằng cải mào gà, trẻ lâu, tỉa ăn được nhiều lần. Cần: người trồng rau phải chăm chỉ, chọn đúng thời vụ trồng loại rau cho hợp khí hậu, rau mới tốt. Vun xới phải đúng cách. Cải mào gà khi tốt cứ 10 ngày xới một lần cho rễ con đứt, chúng ra nhiều nhánh rễ hơn và hút được nhiều phân bón, muối khoáng trong đất. Phân: phải chọn loại phân bón thích hợp. Cải canh rất hợp nước tiểu pha loãng. Thứ phân tươi chú Thông bón cũng tốt đấy nhưng mất vệ sinh lắm. Nước: phải tưới đều và tưới đủ độ ẩm rau mới trẻ lâu và xanh tốt.

Lần ấy thua Bác, tôi hết chủ quan và rút được bài học mới về tăng gia.

—————

Theo: Hồ Vũ

3. Câu chuyện về 3 chiếc ba lô

Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, có hai đồng chí đi cùng. Vì sợ Bác mệt, nên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:

– Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào 3 ba lô rồi, Bác còn hỏi thêm:

– Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

– Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân, Bác đến chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên.

– Tại sao ba lô của chú nặng mà Bác lại nhẹ?

Sau đó, Bác mở cả 3 chiếc ba lô ra xem thì thấy ba lô của Bác nhẹ nhất, chỉ có chăn, màn. Bác không đồng ý và nói:

– Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.

Hai đồng chí kia lại phải san đều các thứ vào 3 chiếc ba lô.

—————–

Theo: Trần Thị Lợi

4. Không ai được vào đây

Sách Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 10, do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996, trang 334, có đoạn:

“Ngày 27 tháng 4 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghe hai đồng chí: Lê Đức Anh và Chu Huy Mân báo cáo công việc, sau đó Người mời hai đồng chí ở lại ăn cơm với Người”.

Sáng hôm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu bầu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã… Người bỏ phiếu tại hòm phiếu số 6, đơn vị 1, tiểu khu 1, khu phố Ba Đình, Hà Nội, đặt tại Nhà thuyền Hồ Tây.

Khi Bác Hồ đến, trong Nhà thuyền đã có nhiều cử tri đang bỏ phiếu. Tổ bầu cử thấy Bác đến, ra hiệu để đồng bào tạm dừng và tạo “điều kiện” để Bác bỏ phiếu trước. Biết ý, Bác nói “sòng phẳng”:

– Ai đến trước, viết trước, Bác đến sau, Bác chờ. Bác chờ cho đến hàng mình, mới nhận phiếu và vào “buồng” phiếu.

Nhà báo Ma Cường chợt nghĩ thật là “hạnh phúc một đời của người làm báo”, “cơ hội ngàn năm có một” và vội giơ máy lên bấm, rất nhanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy tay che phiếu lại, nói với Ma Cường:

– Không ai được vào đây. Đây là phòng viết phiếu kín của cử tri. Phải bảo đảm tự do và bí mật cho công dân.

Nhà báo buông máy, nhưng vẫn thấy hạnh phúc.

Theo lời kể của các đồng chí ở gần Bác, trước khi đi bầu cử Bác không cho ai “gợi ý” cả, Bác nói:

– Ấy, đừng có “lãnh đạo” Bác nhé. Bác không biết Đảng ủy hướng dẫn danh sách để ai, xóa ai đâu nhé. Đưa lý lịch của những người ứng cử đây để Bác xem. Có chú nào dự buổi ứng cử viên trình bày ý kiến với cử tri, nói lại để Bác cân nhắc, Bác tự bầu.

—————–

Theo: Nguyễn Việt Hồng

5. Bát chè sẻ đôi

Đồng chí liên lạc đi công văn 10 giờ đêm mới đến. Bác gọi mang ra một bát, một thìa con. Rồi Bác đem bát chè đậu đen, đường phèn, mà anh em phục vụ vừa mang lên, sẻ một nửa cho đồng chí liên lạc.

– Cháu ăn đi.

Thấy đồng chí liên lạc ngần ngại, lại có tiếng đằng hắng bên ngoài, Bác giục:

– Ăn đi, Bác cùng ăn…

Cám ơn Bác, đồng chí liên lạc ra về. Ra khỏi nhà sàn, xuống sân, đồng chí cấp dưỡng bấm vào vai anh lính thông tin:

– Cậu chán quá. Cả ngày Bác có bát chè để bồi dưỡng làm đêm mà cậu lại ăn mất một nửa.

– Khổ quá, anh ơi! Em có sung sướng gì đâu. Thương Bác, em vừa ăn vừa rớt nước mắt, nhưng không ăn lại sợ Bác không vui, mà ăn thì biết cái chắc là các anh mắng mỏ rồi…

—————–

Theo: Thủy Xuân

6. Một bữa ăn tối của Bác

Tháng 4-1946, giữa lúc đất nước đang bề bộn công việc, thì Bác vẫn dành những thì giờ quý báu về Ninh Bình dàn xếp những vấn đề đối nội, đối ngoại có lợi cho quốc gia. Vào khoảng ngày 10 đến 12, Bác đi qua thị xã Ninh Bình để xuống Phát Diệm. Lúc đó tôi là Quyền Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh. Một dịp may hiếm có được đón Bác về tỉnh, nghĩ vậy, tôi mời đồng chí Ủy viên thư ký kiêm Phó Chủ tịch và Chánh Văn phòng đến hội ý. Hai đồng chí cũng cùng chung một ý nghĩ như tôi.

Tôi phân công đồng chí Phó Chủ tịch huy động nhân dân ra tập trung đón Bác, đồng chí Chánh Văn phòng chuẩn bị cơm mời Bác, còn tôi phụ trách việc dọn dẹp văn phòng, chuẩn bị chỗ nghỉ và chỗ ngủ cho Bác qua đêm.

Quả như tôi dự đoán, sáu giờ chiều thì xe Bác về đến phía Nam thị xã Ninh Bình. Nhân dân đã vẫy cờ, hô khẩu hiệu rồi ùa xuống lòng đường đón Bác. Bác ra khỏi xe vẫy chào nhân dân. Nhân lúc đó chúng tôi mời Bác vào trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh.

Trước sự nhiệt tình của nhân dân thị xã, không nỡ từ chối, Bác đã vào gặp Ủy ban hành chính tỉnh Ninh Bình.

Đến cổng cơ quan, Bác bảo đồng chí lái xe dừng lại rồi xuống đi bộ. Vừa đi Bác vừa hỏi tình hình đời sống của nhân dân, đặc biệt đồng bào ở vùng công giáo. Chúng tôi báo cáo với Bác về những khó khăn trong tỉnh, một số nơi nông dân còn bị đói.

Bác căn dặn chúng tôi phải chú ý đoàn kết lương giáo, động viên bà con tích cực tăng gia sản xuất để chống đói, chú ý công tác diệt giặc dốt, mở nhiều lớp bình dân học vụ vào buổi trưa, buổi tối, vận động bà con đi học.

Chúng tôi mời Bác nghỉ lại cơ quan cho đỡ mệt rồi dùng bữa tối. Thực ra bữa cơm chúng tôi chuẩn bị cho Bác không có gì ngoài một con gà giò luộc, nước luộc gà nấu bí đao, vì lúc đó kinh phí của Ủy ban hành chính tỉnh cũng hết sức khó khăn.

Bác nói:

– Hàng ngàn đồng bào đang chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ ở đây để ăn cơm được vì 9 giờ tối Bác đã có việc ở Phủ Chủ tịch. Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào mươi phút, một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước. Nói chuyện xong, Bác ngược Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm được thời gian cho Bác.

Chúng tôi vâng lời Bác làm theo.

Nói chuyện với đồng bào Ninh Bình hôm đó, Bác nhấn mạnh:

– Đồng bào chú ý đoàn kết lương giáo vì âm mưu của kẻ thù luôn tìm cách chia rẽ đồng bào lương giáo.

– Đồng bào tích cực tăng gia sản xuất chống giặc đói, chống giặc dốt.

– Đồng bào chuẩn bị tinh thần chịu đựng gian khổ để chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.

Kết thúc, Bác hỏi:

– Đồng bào có đồng ý thực hiện ba điều tôi nêu ra không?

– Đồng ý! Đồng ý! Hồ Chủ tịch muôn năm.

Hàng ngàn nắm tay gân guốc giơ lên hưởng ứng. Tiếng hô và tiếng vỗ tay râm ran.

Bác vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một quãng Bác mới bắt đầu dùng “bữa ăn tối” của mình.

—————–

Theo: Hồ Vũ

7. Thời gian quý báu lắm

Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta yêu cái gì nhất, ghét cái gì nhất? Kể cũng hơi khó trả lời cho thật chính xác, bởi ở ta không có thói quen “tự bạch” và kín đáo, ý nhị vốn là một đặc điểm của lối ứng xử phương Đông.

Tuy nhiên, theo dõi qua tác phẩm, hoạt động và sinh hoạt đời thường, điều ta có thể thấy rõ cái mà Người ghét nhất, “ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm” là các thói quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí tiền bạc và thời gian của nhân dân.

Ở một mức độ khác, thấp hơn, những người có điều kiện tiếp xúc và làm việc với Bác Hồ, điều thấy rõ nhất là Bác rất khó chịu khi thấy cán bộ làm việc không đúng giờ.

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.

Trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí cấp tướng đến làm việc với Bác sai hẹn mất 15 phút, tất nhiên là có lý do: mưa to, suối lũ, ngựa không qua được. Bác bảo:

– Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai đi bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan, không chuẩn bị đầy đủ các phương án, nên chú đã không giành được chủ động.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Bác hỏi:

– Chú đến chậm mấy phút?

– Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ!

– Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây.

Bác quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu, vì vậy thường không bao giờ để bất cứ ai phải đợi mình.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh chị em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Tin vui đến làm náo nức cả lớp học, mọi người hồi hộp chờ đợi.

Bỗng chuyển trời đột ngột, mây đen ùn ùn kéo tới, rồi một cơn mưa dồn dập, xối xả, tối đất, tối trời, hai ba tiếng đồng hồ không dứt. Ai cũng xuýt xoa, tiếc rẻ: mưa thế này, Bác đến sao được nữa, trời hại quá.

Giữa lúc trời đang trút nước, lòng người đang thất vọng, thì từ ngoài hiên lớp học có tiếng rì rào, rồi bật lên thành tiếng reo át cả tiếng mưa ngàn, suối lũ:

– Bác đến rồi, anh em ơi! Bác đến rồi!

Trong chiếc áo mưa ướt sũng nước, quần xắn đến quá đầu gối, đầu đội nón, Bác hiện ra giữa niềm ngạc nhiên, hân hoan và sung sướng của tất cả mọi người.

Về sau, anh em được biết: giữa lúc Bác chuẩn bị đến thăm lớp thì trời đổ mưa to. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị Bác cho báo hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác…

Nhưng Bác không đồng ý: “Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì biết đến khi nào? Thà chỉ một mình Bác và một vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cho cả lớp học phải chờ uổng công!”.

Ba năm sau, giữa Thủ đô Hà Nội đang vào xuân, câu chuyện có thêm một đoạn mới. Vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, hàng trăm đại biểu các tầng lớp nhân dân thủ đô tập trung tại Ủy ban Hành chính thành phố để lên chúc tết Bác Hồ. Sắp đến giờ lên đường trời bỗng đổ mưa như trút. Giữa lúc mọi người còn đang lúng túng thu xếp phương tiện cho đoàn đi để Bác khỏi phải chờ lâu thì bỗng xịch, một chiếc xe đậu trước cửa. Bác Hồ từ trên xe bước xuống, cầm ô đi vào, lần lượt bắt tay, chúc tết mỗi người, trong nỗi bất ngờ rưng rưng cảm động của các đại biểu.

Thì ra, thấy trời mưa to, thông cảm với khó khăn của ban tổ chức và không muốn các đại biểu vì mình mà vất vả, Bác chủ động, tự thân đến tại chỗ chúc tết các đại biểu trước. Thật đúng là mối hằng tâm của một lãnh tụ suốt đời quên mình, chỉ nghĩ đến nhân dân, cho đến tận phút lâm chung, vẫn không quên dặn lại: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân”.

—————–

Theo: Song Thành

8. Chú còn trẻ, chú vào hầm trú ẩn trước đi

Một ngày tháng 7-1967 ở Hà Nội, đồng chí Mai Văn Bộ được Bác Hồ gọi đến mời cơm tiễn chân trước khi đồng chí lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ Tổng đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp.

Trong bữa cơm, Bác kể chuyện về khu Luýcxămbua, Môngpacnát, nơi Bác có nhiều kỷ niệm. Bác nói Bác rất yêu Paris, Paris đã dạy cho Người nhiều điều…

Bỗng tiếng còi báo động rú lên. Một chiến sĩ bảo vệ yêu cầu Bác và các đồng chí khác xuống hầm. Ít phút sau đã nghe tiếng đạn nổ.

– Thưa Bác, tác chiến báo cáo chúng nó đánh cầu Long Biên. Mời Bác vào hầm trú ngay cho.

Bác quay lại đồng chí Bộ, nói:

– Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Chú còn trẻ, chú cần vào hầm trú ẩn trước.

Rồi Bác đẩy đồng chí Bộ đi trước, sau đó đến đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí cảnh vệ.

Bác là người vào hầm trú ẩn sau cùng.

—————–

Theo: Thủy Trưởng

9. Bác có phải là vua đâu?

Có một số người có ngôi cao, chức cả, sống trong sự trọng vọng, chiều chuộng của mọi người, thường xuyên được hưởng sự ưu đãi đặc biệt, lâu dần cũng quen đi mà không hề biết rằng mình đã nhiễm phải thói đặc quyền, đặc lợi.

Suốt đời tâm niệm là người công bộc của nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, Bác Hồ của chúng ta luôn luôn hòa mình vào cuộc sống chung của đồng bào, đồng chí, không nhận bất cứ một sự ưu tiên nào người khác dành cho mình.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nhiều nhân sĩ, trí thức cao tuổi theo Bác lên Việt Bắc, đi kháng chiến, đèo cao suối sâu, đường bùn lầy, nhiều vị phải nằm cáng. Anh em phục vụ lo Bác mệt cũng đề nghị Bác lên cáng, Bác gạt đi: Bác còn khỏe, còn đi được, các chú có nhiệm vụ đưa Bác đi như thế này là tốt rồi.

Cuối năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, một xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi thấp, Bác đứng nói chuyện với nhân dân trong xã. Trời đã gần trưa, tuy đã sang đông mà nắng còn gay gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng trưa, ai cũng băn khoăn. Đồng chí Chủ tịch huyện cho tìm mượn được chiếc ô, định giương lên che nắng cho Bác, thì Bác quay lại hỏi:

– Thế chú có đủ ô che cho tất cả đồng bào không? Thôi, cất đi, Bác có phải là vua đâu?

Một lần, trong bữa ăn, đồng chí phục vụ dọn lên cho Bác một đĩa cá anh vũ, một loại cá sông quý hiếm thường chỉ có ở khúc sông Hồng đoạn Bạch Hạc – Việt Trì. Nhìn đĩa cá biết ngay là của hiếm, Bác khen và bảo:

– Cá ngon quá, thế mà chú Tô (tức đồng chí Phạm Văn Đồng) lại đi vắng. Thôi, các chú để đến chiều đồng chí Tô về cùng thưởng thức.

Miếng ngon không bao giờ Bác chịu ăn một mình. Chia sẻ ngọt bùi là thế, tưởng chuyện cũng sẽ qua đi. Nhưng đến bữa sau, trong mâm cơm lại có món cá hôm trước. Nhìn đĩa cá, Bác hiểu ngay và tỏ ra không bằng lòng.

– Bác có phải là vua đâu mà phải cung với tiến!

Rồi Người kiên quyết bắt mang đi không ăn nữa. Như Bác đã từng nói, ở đời ai chẳng thích ăn ngon, mặc đẹp, nhưng nếu miếng ngon đó lại đánh đổi bằng sự mệt nhọc, phiền hà của người khác thì Bác đâu có chấp nhận.

Những anh em công tác trong Phủ Chủ tịch hàng ngày vẫn thường đi lại bằng xe đạp, thỉnh thoảng có gặp Bác đi bộ. Nhìn thấy Bác, mọi người đều xuống dắt xe chờ Bác đi qua rồi mới lên xe đi tiếp. Thấy vậy, Bác thường khoát tay ra hiệu bảo anh em cứ đi tiếp, không cần xuống xe. Nhưng ai có thể cho phép mình ngồi trên xe khi Bác đi bộ. Một lần, Bác gọi đồng chí vừa xuống dắt xe lại gần và bảo:

– Các chú có công việc của mình nên cứ tiếp tục đạp xe mà đi. Bác đâu có phải là cái đền có biển “hạ mã” ở trước để ai đi qua cũng phải xuống xe, xuống ngựa?

Lão Tử có nói: “Trời đất sở dĩ có thể dài và lâu vì không sống cho mình nên mới được trường sinh. Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà lại lên trước, đặt thân mình ở ngoài mà lại còn”. Bác Hồ sống quên mình, không nghĩ đến mình mà lại trở thành sống mãi. Lời Lão Tử thật sâu sắc lắm thay!

—————–

Theo: Trần Hiếu

10. Từ đôi dép đến chiếc xe ôtô.

Đôi dép của Bác “ra đời” vào năm 1947, được “chế tạo” từ một chiếc lốp ôtô quân sự của thực dân Pháp bị bộ đội ta phục kích tại Việt Bắc.

Đôi dép đo cắt không dày lắm, quai trước to bản, quai sau nhỏ rất vừa chân Bác.

Trên đường công tác, Bác nói vui với anh em cán bộ đi cùng:

– Đây là đôi hài vạn dặm trong chuyện cổ tích ngày xưa… Đôi hài thần đất, đi đến đâu mà chẳng được.

Chẳng những khi “hành quân” mà cả mùa đông, Bác đi thêm đôi tất cho ấm chân, tiếp khách trong nước, khách quốc tế vẫn thường thấy Bác đi đôi dép ấy.

Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó đi, Bác tụt dép xách tay. Đi thăm bà con nông dân, sải chân trên các cánh đồng đang cấy, đang vụ gặt, Bác lại xắn quần cao lội ruộng, tay xách hoặc nách kẹp đôi dép…

Mười một năm rồi vẫn đôi dép ấy… Các đồng chí cảnh vệ cũng đã đôi ba lần “xin” Bác đổi dép nhưng Bác bảo “vẫn còn đi được”.

Cho đến lần đi thăm Ấn Độ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì anh em lập mẹo giấu dép đi, để sẵn một đôi giày mới…

Máy bay hạ cánh xuống Niu Đêli. Bác tìm dép. Anh em thưa:

– Có lẽ đã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi…

Thưa Bác…

Bác ôn tồn nói:

– Bác biết các chú cất dép của Bác đi chứ gì. Nước ta còn chưa được độc lập hoàn toàn. Nhân dân ta còn khó khăn. Bác đi dép cao su nhưng bên trong lại có đôi tất mới thế là đủ lắm mà vẫn lịch sự…

Thế là các ông “tham mưu con” phải trả lại dép để Bác đi vì dưới đất chủ nhà đang nóng lòng chờ đợi…

Trong suốt thời gian ở Ấn Độ, các chính khách, nhà báo, quay phim, chụp ảnh lại rất quan tâm đến đôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, ghi ghi chép chép… làm anh em cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “đôi hài thần kỳ” ấy.

Năm 1960, Bác đến thăm một đơn vị Hải quân nhân dân Việt Nam. Vẫn đôi dép “thâm niên ấy”, Bác đi thăm nơi ăn, chốn ở, trại chăn nuôi của đơn vị. Cán bộ và chiến sĩ rồng rắn kéo theo, ai cũng muốn chen chân, vượt lên để được gần Bác, Bác vui cười nắm tay chiến sĩ này, vỗ vai chiến sĩ khác. Bỗng Bác đứng lại:

– Thôi, các cháu giẫm làm tụt quai dép của Bác rồi…

Nghe Bác nói, cả đám dừng lại cúi xuống yên lặng nhìn đôi dép rồi lại ồn ào lên:

– Thưa Bác, cháu, để cháu sửa…

– Thưa Bác, cháu, cháu có “rút dép” đây…

Nhao nhác, ầm ĩ như thế, nhưng đồng chí cảnh vệ chỉ đứng cười vì biết đôi dép của Bác đã phải đóng đinh rồi; có “rút” cũng vô ích…

Bác cười nói:

– Cũng phải để Bác đến chỗ gốc cây kia, có chỗ dựa mà đứng đã chứ!

Bác “lẹp xẹp” lết đôi dép đến gốc cây, một tay vịn vào cây, một chân co lên tháo dép ra, “thách thức”:

– Đây! Cháu nào giỏi thì chữa hộ dép cho Bác…

Một anh nhanh tay giành lấy chiếc dép, giơ lên nhưng ngớ ra, lúng túng. Anh bên cạnh liếc thấy, “vượt vây” chạy biến…

Bác phải giục:

– Ơ kìa, ngắm mãi thế, nhanh lên cho Bác còn đi chứ. Anh chiến sĩ lúc nãy chạy đi đã trở lại với chiếc búa con, mấy cái đinh:

– Tôi, để tôi sửa dép…

Mọi người giãn ra. Phút chốc, chiếc dép đã được chữa xong.

Những chiến sĩ không được may mắn chữa dép phàn nàn:

– Tại dép của Bác cũ quá. Thưa Bác, Bác thay dép đi ạ…

Bác nhìn các chiến sĩ nói:

– Các cháu nói đúng… nhưng chỉ có đúng một phần… Đôi dép của Bác cũ nhưng nó chỉ mới tụt quai. Cháu đã chữa lại chắc chắn cho Bác thế này thì còn “thọ” lắm! Mua đôi dép khác chẳng đáng là bao, nhưng khi chưa cần thiết cũng chưa nên… Ta phải tiết kiệm vì đất nước ta còn nghèo…

Đôi dép cá nhân đã vậy, còn “đôi dép” ôtô của Bác cũng thế!

Chiếc xe “Pa-bê-đa” sản xuất tại Liên Xô Bác vẫn đi, đã cũ, Văn phòng xin “đổi” xe khác, “đời mới” hơn, tốt hơn, nhưng Bác không chịu:

– Xe của Bác hỏng rồi à?

Anh em thưa rằng chưa hỏng, nhưng muốn thay xe để Bác đi nhanh hơn, êm hơn.

Bác nói:

– Ai thích nhanh, thích êm thì đổi…

Hôm sau đến giờ đi làm, không biết là xe hỏng thật hay “ai” xui mà Bác đứng đợi bên xe mà xe cứ “ì” ra. Bác cười bảo đồng chí lái xe:

– Máy móc có trục trặc, chú cứ bình tĩnh sửa. Sửa xong Bác cháu ta đi cũng kịp…

Vài phút sau, xe nổ máy…

Bác lại cười nói với đồng chí lái xe, cảnh vệ:

– Thế là xe vẫn còn tốt!

—————–

Theo: Minh Anh

Hoàng Nhật Minh

Các chú ấy nói có đúng không

Chủ nhật trước ngày 2 tháng 9 năm 1958, khu nhà tập thể Thành hội phụ nữ đông vui hơn mọi ngày vì hôm ấy không chỉ có các ông chồng về chơi mà nhiều chị còn đón cả bố mẹ ở quê ra dự ngày hội lớn ở Thủ đô.

Khoảng ba giờ chiều, được các đồng chí lãnh đạo Thành uỷ báo sẽ có khách quý tới thăm, chị Minh Quang – phó hội trưởng vội họp ý với chị Thuý Hạnh, nhắc nhở chị em đang ở nhà dọn dẹp sạch sẽ để đón khách.

Chưa kịp bắt tay vào việc chuẩn bị thì xe của Bác đã đến. Bác nhanh nhẹn bước xuống, các chị trong cơ quan mừng quá ùa ra đón Bác, mời Bác vào phòng khách. Nhưng Bác nói:

– Không, Bác chưa vào phòng khách. Các cô chứ để Bác đi xem các cô ăn ở thế nào đã.

Vừa nói, Bác vừa đi qua dần, qua dãy nhà tập thể rồi xuống thẳng bếp. Trước đó chị Thuý Hạnh đã chạy vội đi khép cửa mấy căn hộ nổi tiếng là luộm thuộm.

Các chị đang chuẩn bị bữa cơm chiều trong bếp thấy Bác thì vui sướng chạy ào ra, miệng reo như trẻ thơ:

– A! Bác đến, Bác đến!

Các đồng chí đi cùng với Bác khẽ nhắc:

– Các chị không nên reo to.

Bác hỏi chị em:

– Đây là nhà ăn à?

– Thưa Bác, vâng ạ!

Bác cười, hỏi mấy cô cấp dưỡng:

– Thế nào? Chiều nay các cô cho chị em ăn món gì?

Chị Nhàn thay mặt cả nhóm thưa:

– Thưa Bác, chiều nay chúng cháu có rau  muống luộc, cà muối và đậu rán ạ!

Bác gạt đầu vẻ hài lòng:

– Các cô giữ bếp núc sạch sẽ như thế này là tốt. Cố gắng thay đổi món ăn luôn cho chị em.

Cả mấy chị em đồng thanh đáp:

– Thưa Bác, vâng ạ!

Từ nhà bếp, Bác đi sang nhà trẻ. Bác hỏi:

– Sao không có các cháu?

– Thưa Bác, hôm nay là chủ nhật các cháu ở nhà với bố mẹ các cháu ạ!

Bác nhìn qua cửa, thấy nhà trẻ sạch bóng, Bác gật đầu tỏ ý hài lòng.

Lúc ấy ngoài sân nhà tập thể, chồng của một số chị em đã tạm dừng công việc, phấn khởi ra đứng đón Bác, Bác cười hỏi anh em:

– Cơ quan phụ nữ sao lại có các chú ở đây?

– Thưa Bác, hôm nay chủ nhật, chúng cháu về thăm gia đình ạ.

Bác hỏi lại:

– Các chú chỉ về thăm thôi à? Các chú phải về giúp các cô việc gì chứ?

– Thưa Bác, chúng cháu có giặt giũ, bế con, dọn dẹp  nhà cửa đấy ạ.

Bác quay ra hỏi chị em:

– Thế các chú ấy có nói đúng không?

– Thưa Bác đúng ạ.

Tất cả chúng tôi rộ lên sung sướng theo cái gật đầu bằng lòng của Bác.

(Theo lời kể của một chị trước ở Thành hội –“Bác Hồ với phụ nữ Hà Nội NXB HN – 1985”)

P.S. Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết này.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Những câu truyện kể về Bác Hồ với bà con nông dân

Để Bác tự đi

Được cấp trên cho biết Bác Hồ sẽ về thăm Hợp tác xã cấp cao Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, lãnh đạo Đảng, chính quyền và Ban chủ nhiệm HTX đều lo toan chuẩn bị. Nào là bố trí làm tổng vệ sinh khu vực làm việc của Đảng ủy, ủy ban và trụ sở HTX. Cuộc họp lãnh đạo nhất trí là phải thông báo cho dân biết tin này để cùng chuẩn bị đón Bác. Thế là Ban chủ nhiệm HTX phân công cán bộ đến từng nhà dân ở gần trụ sở ủy ban và gần nơi đón Bác. Những nhà gần đó đều được xã cử thanh niên đến sửa soạn lại trong nhà sao cho ngăn nắp. Có 4 gia đình ở gần Hội trường nhất thì cho người mượn thêm tủ, bàn ghế sang trọng ở những nhà khác xa hơn đưa đến đặt vào, để khi Bác đến sẽ thấy đời sống của dân ở đây khấm khá thật.

Thế là ngày hôm sau, Bác Hồ đã đến thăm HTX Vĩnh Thành. Sau khi nói chuyện xong với cán bộ và nhân dân, Bác nói cho Bác đi thăm một số gia đình. Lãnh đạo xã mời Bác đi và dẫn Bác theo con đường có mấy nhà đã chuẩn bị trước. Ra khỏi Hội trường đi được khoảng mươi mét đến ngã ba đường làng, ông chủ tịch xã chỉ mời Bác đi đường này. Nhưng Bác xoa tay nói: “Để Bác tự đi để biết đúng thực tế, có lẽ ở đó các chú đã bố trí rồi”. Thế là Bác Hồ đi theo con đường khác. Bác đi vào nhà một gia đình bình thường có ngôi nhà tranh nhỏ bé. Trong nhà chỉ có một cái sập nhỏ đựng lúa làm bàn thờ và hai cái giường gỗ nhỏ cũ kỹ. Sau khi nói chuyện và hỏi thăm bà già đang ngồi bồng cháu trên chiếc võng, Bác lại đi thăm một số gia đình khác.

Trích theo sách: Tư tưởng lớn qua những câu chuyện nhỏ, Nxb Nghệ An, 2005

Bác hướng dẫn làm kinh tế thời kháng chiến

Thời gian rỗi, Bác cùng anh em trong cơ quan chơi bóng chuyền, tập thể thao, tăng gia sản xuất, trồng bí trồng bầu, nuôi gà, nuôi bò. Trong thời gian này, Bác nảy ra ý quản lý kinh tế theo phương thức khoán sản phẩm. Bác bảo các đồng chí, giao bò cho dân địa phương nuôi, khi bò phát triển thì một phần để lại cho nhân dân còn một phần cho tập thể. Trồng được nhiều bí, cả một bãi rộng dày đặc quả, khi thu hoạch anh em kiểm số lượng quả vì nhiều nên bị lẫn liên tục, Bác bày cho cách: đếm xong quả nào cắm một que tre, khi cắm hết chỉ cần gom số que là ra số quả tăng gia được và giao cho người quản lý.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ, Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

Biết mực nước lụt thường xuyên như chỉ huy nắm địch

Vào mùa nước sông Hồng đang lên, Bác cho gọi đồng chí Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi lên hỏi: Chú cho Bác biết mực nước sông Hồng lên bao nhiêu?” “Thưa Bác tối qua mực nước là…” Bác ngắt lời: “Tối qua Bác biết rồi, Bác muốn biết lúc này là bao nhiêu?”. Đồng chí Thứ trưởng không trả lời được, Bác nghiêm giọng nói: “Thủy – hỏa – đạo – tặc, giặc lụt tai hại bao nhiêu chắc chú đã biết rõ, vậy sao chú nắm tình tình không sát, phải như bộ chỉ huy nắm địch ấy.

Trích theo sách: Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ, Nxb Văn hóa thông tin, H.2008

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Đó là một sáng tháng 8 năm 1962, tất cả xã viên và cán bộ Mai Xá đang dồn hết sức mình ứng cứu lúa trên trận tuyến dài gần một cây số ở cánh đồng Sao. Hàng trăm chiếc gầu, hàng chục chiếc guồng nghiêng đồng đổ nước ra sông. Bác đến rất bất ngờ. Cả công trình chống úng của Mai Xá tưng bừng nhộn nhịp hẳn lên trong niềm vui được đón Bác. Mọi người chạy xô lại phía Bác. Bác bước tới dáng hồng hào khoẻ mạnh. Người mặc bộ quần áo gụ giản dị, đầu đội mũ cát, chân đi đôi dép cao su. Đến một chiếc guồng nước của hai cô xã viên, Bác bước lên và cùng đạp guồng với đồng chí Bí thư tỉnh uỷ. Sau đó Bác nói chuyện với bà con xã viên. Bác căn dặn tất cả mọi người phải đoàn kết chống úng đẩy mạnh sản xuất. Và Bác đọc một câu lẩy kiều:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Giọng nói của Bác ấm áp đã đi sâu vào trong tâm trí mọi người. Cuộc gặp gỡ diễn ra hơn một giờ đồng hồ. Sau đó Bác ra về. Xã viên Mai Xá nhìn theo Bác lòng đầy lưu luyến. Tất cả mọi người đều muốn được mãi mãi nhìn Bác, nghe những lời dạy dỗ của Bác như lời người cha hiền từ dạy bảo con cái. Và từ hôm đó mọi người cùng nêu cao quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác hăng hái chống úng đẩy mạnh sản xuất. Ngay vụ mùa đó cánh đồng Sao, cánh đồng hay ngập úng của xã Mai Xá mà Bác cùng guồng nước với mọi người đã đạt năng suất 3 tấn một héc ta.

Trích theo sách: 118 chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Lý luận chính trị, H2008

Bác là người lao động

Vào khoảng cuối năm 1953, đầu năm 1954, tuy đã ở trong ATK (an toàn khu) nhưng đội bảo vệ của Bác vẫn đào hầm sâu trong núi để đề phòng giặc. Anh em không quen nên làm việc có phần lúng túng Bác đến và làm động tác mẫu quai búa cho đồng chí phụ trách búa xem. Rồi Bác lấy một thanh tre bánh tẻ làm kẹp cây “choòng” cầm chống, ra lệnh cho người quai búa cứ quai cho đều tay. Sợ Bác mệt, anh em nói:

– Thưa Bác, chúng cháu hiểu rồi ạ.

Đến lúc anh em tranh cãi về tăng gia, Bác lại “tham gia”. Có anh phát biểu nên trồng cà, anh thì bảo nên trồng rau muống cạn. Bác hỏi:

– Các chú đều là nông dân phải không?

– Dạ, chúng cháu đều là nông dân.

Bác giải thích: Vì các chú mỗi người một quê khác nhau, thời tiết mỗi vùng một khác. Kinh nghiệm trồng trọt cũng khác nên tranh cãi là bình thường. Song phải chú ý tới người xưa đã dạy ta rằng: “Bao giờ đom đóm bay ra, cành xoan chân chó trồng cà mới nên…” Thế các chú thấy cây xoan nảy mầm tức là thò chân chó chưa”

– Dạ, chưa ạ

– Thế thì chưa trồng cà được đâu!

Trích theo sách: Chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Công an nhân dân, H.2009

P.S.: Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết về Bác Hồ.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Về “Thủ đô kháng chiến” nghe kể chuyện Bác Hồ

Báo tin tức – Trong thời gian Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã có gần 6 năm sống và làm việc tại các địa điểm khác nhau trên đất Tuyên Quang. Đến tận bây giờ, những kỷ niệm và hình ảnh về Bác vẫn in đậm trong tâm trí nhiều đồng bào các dân tộc nơi đây. 

“Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”

Đã 66 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm về Bác Hồ vẫn in đậm trong ký ức ông Viên Phúc Tần, 87 tuổi, thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Ông Tần kể: “Trước Cách mạng tháng Tám, tôi làm Thư ký Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã Kim Trận (nay là xã Tân Trào). Nhận chỉ đạo của cấp trên, tôi đã đi vận động cán bộ, nhân dân trong xã làm bè để đón Bác Hồ qua sông Phó Đáy về Tân Trào lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Trong thời gian Bác ở Tân Trào, tôi đã nhiều lần được gặp Bác. Có lần chúng tôi đi học Điều lệ Đảng về thì gặp Bác. Bác liền hỏi “Các cháu đi đâu về?”. Chúng tôi trả lời Bác là đi học về. Bác lại hỏi “Học cái gì?”. Chúng tôi trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu đi học Các Mác ạ!”.

Lán Nà Lừa – nơi Bác Hồ đã sống và làm việc từ cuối tháng 5 đến 22/8/1945.

Tuy nhiên, kỷ niệm mà tôi nhớ nhất về Bác là vào năm 1961, Bác về lại Tân Trào, nói chuyện với bà con. Lúc đó, tôi đang là quyền Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào. Biết Bác Hồ về thăm, bà con trong xã náo nức lắm. Ngay từ sáng sớm mọi người tập trung tại khu vực đình Tân Trào rất đông để nghe Bác nói chuyện. Trời nắng, một cán bộ bảo vệ lấy mấy tàu lá cọ để che cho Bác, Bác liền xua tay và bảo: “Không phải che cho Bác. Nhân dân nắng thì Bác cũng nắng”.

Cũng theo ông Tần, trong thời gian ở Tân Trào, Bác thường xuyên đi bộ và cải trang bằng chiếc khăn mặt trắng trùm lên đầu…

Rời nhà ông Tần chúng tôi tìm đến ngôi nhà sàn của ông Nguyễn Tiến Sự – người đã nhường nhà cho Bác Hồ sống và làm việc trong thời gian Người mới trở về từ Pác Bó. Ngôi nhà của ông Sự nằm cách cây đa Tân Trào khoảng 50 m. Giờ đây, ông Sự không còn nữa, nhưng các thế hệ con cháu ông vẫn luôn nhớ hình ảnh và những việc làm của Bác. Bà Hoàng Thị Mai, con dâu trưởng của ông Nguyễn Tiến Sự, năm nay đã 71 tuổi, kể lại: “Năm 1945, bố chồng tôi (ông Sự) là Chủ nhiệm Việt Minh xã Tân Trào. Một hôm, gia đình được giao nhiệm vụ đón tiếp bộ đội. Đến sẩm tối thì có một ông cụ mặc áo chàm dân tộc Nùng, đi giày vải, dẫn mấy người vào ngõ. Người trong làng được giới thiệu đó là đồng chí Thượng cấp và đều gọi Người là “Ông Cụ”. Gia đình dành một gian nhà để “Ông Cụ” ở và làm việc. Thường cứ 4 giờ sáng, “Ông Cụ” dậy và đánh thức mọi người dậy cùng tập thể dục, sau đó Cụ mới vào bàn làm việc. Thời gian rảnh Cụ dạy dân học chữ, trồng lúa, thực hiện nếp sống vệ sinh để tránh ốm đau bệnh tật, Cụ luôn gương mẫu đi đầu để mọi người làm theo. Sau đó, “Ông Cụ” chuyển lên lán Nà Lừa ở và làm việc. Và phải đến khi cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, nước nhà giành độc lập, nhân dân trong huyện nô nức đi rước ảnh Chủ tịch nước thì tôi mới biết “Ông Cụ” là Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Người được Bác Hồ tặng quà cưới

Còn với bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) – người vinh dự được Bác Hồ tặng quà trong ngày cưới, thì dù năm nay đã bước sang tuổi 87, nhưng mỗi khi nhắc đến Bác Hồ, bà vẫn bồi hồi xúc động.

Bà Nông Thị Mơ, dân tộc Tày, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, đang kể cho cháu nghe những kỷ niệm về Bác Hồ.

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà sàn theo kiến trúc truyền thống của dân tộc Tày, bà Mơ tâm sự: “Vào trung tuần tháng 6 năm 1945, vợ chồng tôi tổ chức lễ cưới. Và thật vinh dự cho vợ chồng tôi là hôm tổ chức lễ cưới, Bác Hồ đã tới dự và tặng vợ chồng tôi hai đồng. Số tiền đó được Bác để trong chiếc hộp hình chữ nhật. Bác dặn vợ chồng tôi phải sống hạnh phúc, suốt đời yêu thương nhau”.

Đã 66 năm trôi qua, chiếc hộp đựng tiền của Bác tặng vẫn được bà Mơ lưu giữ cẩn thận như một báu vật trong cuộc đời. Cũng theo bà Mơ, nhớ lời Bác dặn, dù hoàn cảnh gia đình nhiều khi rất khó khăn, nhưng vợ chồng bà luôn thương yêu nhau, chưa khi nào nặng lời với nhau. Hiện 5 người con của bà đều đã trưởng thành và có công ăn việc làm ổn định.

Không chỉ hạnh phúc vì được Bác tặng quà cưới, mà kỷ niệm về những ngày tham gia Việt Minh ở căn cứ địa cách mạng Tân Trào, hình ảnh “Ông Ké Cách mạng” vẫn in sâu trong tâm trí bà và những người dân nơi đây. Ngoài thời gian làm việc, Bác Hồ dành sự quan tâm, thăm hỏi mọi người trong làng. Người còn cùng với bà con lao động, nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ, động viên chị em phụ nữ hăng hái tăng gia sản xuất. Bác Hồ luôn động viên các chiến sỹ phải ăn thật no mới có sức đánh giặc, đem lại tự do cho đồng bào. Bà Mơ kể lại: “Thấy tôi và các chị em khác giã gạo, nấu cơm, Bác Hồ ân cần bảo “Các cô nấu cơm cho bộ đội cũng là đánh giặc đó…”.

Rời Tân Trào khi trời đã xế chiều, phong trào bê tông hóa đường giao thông nông thôn đang được bà con nơi đây triển khai rất khẩn trương để đưa Tân Trào thành vùng quê theo mô hình nông thôn mới. Ông Trần Khắc Viện, Bí thư Đảng ủy xã Tân Trào vui mừng cho biết: Phát huy truyền thống quê hương cách mạng và thực hiện lời dạy của Bác “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong xã Tân Trào quyết tâm đoàn kết, cùng nhau thực hiện thành công các mục tiêu Đại hội Đảng bộ xã đã đề ra, phấn đấu đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm dưới 20%; 95% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa…

Những địa danh ở Tuyên Quang Bác Hồ đã ở và làm việc

Thời kỳ tiền khởi nghĩa:
Ngày 21/5/1945: Bác Hồ từ Cao Bằng về tới làng Kim Long, xã Tân Trào (Sơn Dương). Bác ở và làm việc tại lán Nà Lừa tới 22/8/1945 thì rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp:
– Làng Sảo, xã Hợp Thành (huyện Sơn Dương) từ 2/4 – 19/5/1947;
– Khuôn Đào, xã Trung Yên (huyện Sơn Dương) từ 29/11 – 3/12/1947;
– Khuổi Tấu, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) từ 4/12 – 7/12/1947;
– Lũng Tẩu, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 12/9 – 16/12/1948 và từ 10/1 – 6/4/1949;
– Xóm 5, xã Trung Trực (huyện Yên Sơn) từ 19/12/1948 – 10/1/1949;
– Khâu Lấu – Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 6/4 – 12/5/1949 và từ 1/6 – 16/10/1949;
– Bản Chương, bản Cóc, xã Hùng Lợi (huyện Yên Sơn) và Làng Mạ, xã Linh Phú (huyện Chiêm Hóa) từ 16/5 – 30/5/1949;
– Hang Bòng, xã Tân Trào (huyện Sơn Dương) từ 17/10/1949 – 1/9/1950; từ 10/10/1950 – 4/2/1951 và từ 20/2/1951 – 30/12/1952;
– Xã Kim Bình (huyện Chiêm Hóa) từ ngày 5 – 19/2/1951. Tại đây, Bác đã làm việc, trực tiếp chỉ đạo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II.
(Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang)

Quang Đán – Quang Cường

baotintuc.vn

Lên Pác Bó nghe kể chuyện Bác Hồ về nước

Báo tin tức – Đã ở tuổi 88, cụ Hoàng Thị Khìn, xóm Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng vẫn rành rọt kể từng chi tiết về câu chuyện 70 năm trước khi Bác Hồ ở Pác Bó vận động, giác ngộ bà tham gia hoạt động cách mạng.

Thời gian đã in trên mái tóc bạc trắng hằn sâu những vết nhăn trên khuôn mặt phúc hậu của bà nhưng không xóa được ký ức về tình cảm thiêng liêng đối với Bác. Mỗi lời kể của bà, sâu lắng xúc động về tình cảm của ông Ké gắn bó với người dân Pác Bó trong những ngày cách mạng gian khổ, còn nguyên vẹn như vừa mới hôm qua.

Cụ Hoàng Thị Khìn kể chuyện Bác Hồ về Pác Bó năm 1941.

Năm 1939, bà là thiếu nữ người Nùng xinh đẹp sống trong cảnh đời buồn bã như bao cô gái khác trong bản vì hằng ngày chứng kiến bọn quan Tây, lính dõng bắt bớ đánh đập tàn bạo người thân, dân làng đi phu, đi lính.

Già, trẻ, gái, trai nhà nào cũng vậy, quanh năm oằn lưng làm lụng mà không đủ nộp sưu thuế. Các cô thiếu nữ Nùng xinh đẹp lớn lên chưa từng được mặc một bộ quần áo lành lặn vì nhà nào cũng nghèo xơ xác.

Cuộc đời khổ cực như trâu ngựa, dân bản chỉ biết cúi mặt cam chịu bọn quan lại áp bức mà không tìm được lối thoát. Rồi một hôm có 2 người lạ là các ông (Hoàng Tô, Lê Quảng Ba) đến nhà nói chuyện với bố, mẹ bà những điều rất mới lạ: “Theo cách mạng (CM), đánh đuổi bọn quan Tây, lính dõng, sẽ không bị khổ cực nữa”. Hai từ “Cách mạng” khắc sâu trong tâm trí bà.

Cha mẹ bà hiểu được cái lý lẽ của 2 đồng chí CM nên giảng giải, động viên các con mình đi theo CM, giúp cán bộ CM. Từ đó, gia đình bà trở thành cơ sở tin cậy của cán bộ CM. Bà và mấy người em gái được phân công lo công tác hậu cần, đưa đón cán bộ.

Vào mùa xuân năm 1941, một hôm bà được ông Lê Quảng Ba phân công hai chị em vào rừng đưa cơm cho ông Ké. Bà cùng em gái (bà Hoàng Thị Hoa) đi vào khu rừng rậm phía đầu nguồn suối Giàng (suối Lênin ngày nay) gặp ông Ké (ông già) lạ mặt. Lần đầu gặp ông Ké, ông nói chuyện bằng tiếng Nùng trìu mến ấm áp, ân cần hỏi thăm đời sống dân bản, người thân trong gia đình, hai chị em bà thấy gần gũi ấm áp lạ thường.

Ông Ké giảng giải cho hai chị em: “Bọn quan Tây không cho người dân đi học, bắt nộp sưu thuế nặng nề, mọi người dân nghèo đói ngu dốt để chúng dễ áp bức cai trị. Các cháu phải đi học chữ để hiểu biết, làm CM thì sẽ đánh đuổi được chúng”.

Mỗi lời ông Ké nói như một chân trời mới mở ra trước cuộc sống đen tối của bản làng mà bà chưa bao giờ nghĩ tới. Được ông Ké giác ngộ, tin tưởng, bà nhiệt tình tham gia hoạt động CM, vận động chị em trong bản đi học chữ do ông Ké cử cán bộ mở lớp. Sau mỗi buổi học hay giờ nghỉ, Bác thường xuyên lên thăm lớp học, động viên mọi người cố gắng và giảng bài về đạo đức người đảng viên.

Bà và chị em còn được Bác quan tâm dạy từ nếp ăn ở, sinh hoạt và tặng cả sách “Ngũ tự kinh”. Bà nhớ mãi lời ông Ké dặn: “Các cháu nhớ học chữ để hiểu biết, đọc hiểu cuốn sách này, phấn đấu nam nữ bình quyền. Các cháu học tốt, hiểu biết tham gia CM sau này đứng lên giành độc lập tự do thì Bác mới trả được hết công lao các cháu”.

Thấm nhuần lời ông Ké, ở lớp phụ nữ học chữ ai cũng cố gắng. Được Bác Hồ giác ngộ cách mạng, học chữ nâng cao nhận thức và hiểu biết, bà và chị em ngày càng tin tưởng vào con đường đấu tranh CM.

Bà vận động chị em trong bản, xã đóng góp lương thực, bán củi đổi lấy muối nuôi cán bộ, làm tốt công tác hậu cần, đưa đón, bảo vệ cán bộ CM 3 miền Bắc, Trung, Nam đến học các lớp tập huấn cán bộ, du kích và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Khuổi Nặm; tham gia đánh thổ phỉ xóm Lũng Túp (Sỹ Hai).

Bà tâm sự: Khi hoạt động CM gặp nhiều gian nan, nguy hiểm nhưng nghĩ đến lời ông Ké dặn “Mọi người đoàn kết đấu tranh thì mới đánh đổ được bọn quan Tây, lính dõng, bản làng sẽ không còn ai bị chúng đánh đập cướp bóc”, thì tôi lại cố gắng vượt qua khó khăn. Theo lời ông Ké, cả làng ai cũng hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc: Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… tất cả hợp thành khối thống nhất trong Mặt trận Việt Minh.

Tôi và mọi người trong gia đình ai cũng tham gia các tổ chức cứu quốc. Mặt trận Việt Minh ngày càng phát triển mạnh, mọi người càng thêm tin vào lời ông Ké về con đường giải phóng dân tộc, giải phóng cho chính mình. Đêm tiễn ông Ké từ Pác Bó đi Tân Trào là giờ phút thiêng liêng mà tôi không thể nào quên trong cuộc đời mình. Chị em trong bản chúng tôi khâu áo, mũ, giầy vải, khăn tặng ông Ké trước khi lên đường. Ai nấy bịn rịn thương nhớ không muốn rời trong giờ phút chia tay. Ông Ké động viên chị em và mọi người tiếp tục đoàn kết đấu tranh cách mạng giành chính quyền khi thời cơ đến.

Như lời ông Ké, Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám nổ ra, các tổ chức CM và nhân dân hưởng ứng đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay, có độc lập tự do.

Bản làng không còn cảnh quan Tây, lính dõng đánh đập, bóc lột dã man, ai cũng được tự do, có cơm no áo ấm. Người không chỉ làm thay đổi cuộc đời tôi mà thay đổi cả vận mệnh dân tộc. Những ngày tôi được gặp ông Ké không nhiều, nhưng những tình cảm, tư tưởng của Người dành cho tôi luôn là những điều kỳ diệu theo mãi bên tôi cùng năm tháng.

70 năm đã qua đi kể từ ngày Người về Pác Bó, bàn đá chông chênh Người ngồi dịch sử Đảng, chỉ đường, vạch lối đấu tranh cách mạng từ nơi đây đã trở thành bản trường ca về sức mạnh dân tộc, vươn tới những đỉnh cao của lịch sử đất nước.

Trong lòng núi rừng Pác Bó và người dân nơi đây vẫn ôm hình bóng Già Thu, hằng nhớ mùa xuân đón Bác về nhìn những đổi thay trên quê hương cội nguồn cách mạng. Đường đến Pác Bó hôm nay được Đảng, Nhà nước và nhân dân mở rộng to đẹp mang tên đường Hồ Chí Minh, hai bên đường nhà mái ngói đỏ tươi dưới chân núi. Pác Bó, Trường Hà hôm nay có đầy đủ đường, điện, trường, trạm… ; bà con tích cực tăng gia sản xuất, không còn cảnh đói nghèo.

Xóm bản nhớ ơn Người, nhân lên niềm tin khi thực hiện Cuộc vận động (CVĐ) “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chi bộ xóm gắn thực hiện CVĐ với xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, mẫu mực làm tấm gương cho con cháu noi theo. Các tổ chức, đoàn thể triển khai CVĐ gắn với nhiệm vụ hoạt động đề ra…

Chị Nông Thị Dung, xóm Pác Bó, tâm sự: Bác đã gắn bó với bản làng nơi đây, học tập và làm theo Bác lại càng có ý nghĩa để mỗi người phấn đấu xây dựng xóm làng no ấm như Bác hằng mong… Dân bản hưởng ứng CVĐ vượt khó vươn lên làm kinh tế, cái ăn, cái mặc thêm đủ đầy, cuộc sống được nâng lên, nhiều hộ đã vươn lên thành hộ khá, đoàn kết tình làng nghĩa xóm.

Con em trong bản phấn đấu học tập, làm theo lời Bác, nhiều thế hệ trưởng thành. Khu Di tích Lịch sử Pác Bó đang được đầu tư xây dựng hiện lên bề thế với những hạng mục tầm cỡ quốc gia gìn giữ di tích về Người, đón khách trong nước và bè bạn quốc tế đến với Pác Bó, đến với nơi Người mở đầu suối nguồn cách mạng, chặng đường đầu tiên cho vận mệnh dân tộc Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh.

Pác Bó hôm nay, vẫn núi thiêng hùng vĩ, trong veo tiếng suối ngàn như phút thiêng liêng mùa xuân xưa đón Người. Già Thu như vẫn ở nơi đây, bao tình cảm gắn bó với bà con không thể phai mờ. Muôn lòng dân làm theo lời Bác, đón Người về mỗi độ xuân sang.

Mạnh Hà (ghi tại Pác Bó)

baotintuc.vn

Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp

– Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về phần trả lời chất vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I cách đây gần 65 năm.

… Quốc hội khóa l, kỳ 2 khai mạc trọng thể vào sáng ngày 28/10 tại Nhà hát lớn thành phố. Quốc hội nghe báo cáo của Chính phủ về những công việc đã làm từ ngày thành lập, trong đó có cuộc đàm phán của Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau và việc ký Tạm ước ngày 14/9.

Ngày 31/10, các đại biểu chất vấn Chính phủ. Có 88 câu hỏi nêu lên thuộc các vấn đề quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, tài chính, tư pháp, nội vụ. Những câu hỏi được chuyển tới các bộ hữu quan, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ trả lời về chính sách ngoại giao của Chính phủ, việc ký Tạm ước ngày 14/9, việc Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh tự ý bỏ đi.

Người nói: Về chính sách ngoại giao của Chính phủ và việc ký bản Tạm ước ngày 14/9 trong các báo cáo trước đã nói nhiều. Tóm lại đối với các nước dân chủ, hết sức gây thiện cảm. Các nước ấy tuy chưa công khai thừa nhận ta, nhưng ít nhiều thiện cảm với ta. Còn về ngoại giao với Pháp thì từ khi ký Hiệp định ngày 6/3, qua các Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau đến Tạm ước ngày 14/9, Chính phủ quyết tâm giữ vững nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, đồng thời hợp tác thật thà và thân thiện với Pháp. Cố nhiên, người Pháp cũng phải cộng tác với ta trên nguyên tắc bình đẳng…

Người nói tiếp: Tạm ước này có ảnh hưởng tới các hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.

Người chuyển qua vấn đề khác: Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường. (Tiếng vỗ tay nổi lên). Nhưng nếu các anh em đấy biết nghĩ lại, dối không nổi lương tâm, với đồng bào, với Tổ quốc mà trở về, thì chúng ta vẫn hoan nghênh,

Trước khi bước xuống, Người nói: Nếu trong Chính phủ có các người khác lầm lỡ, thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi với đồng bào.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962.

Buổi chiều và buổi tối, các bộ trả lời những điều đại biểu đã hỏi. Nhưng khi các bộ giải đáp xong, nhiều đại biểu vẫn tiếp tục chất vấn. Chờ mọi người nêu hết những câu hỏi, một lần nữa, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ để trả lời. Vẫn bằng những lời lẽ giản dị, ôn tồn, Người nói:

Vấn đề Quốc kỳ, Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Có một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy nên Chính phủ phải đệ qua Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ Sao Vàng đã nhuộm bao nhiêu máu các chiến sỹ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn. Đôi mắt sáng rực, bằng giọng nói nhấn mạnh, Người tiếp: Bây giờ trừ 25 triệu đồng bào ra còn không ai có quyền gì mà đòi thay đổi Quốc kỳ. Cả hội trường vang lên tiếng vỗ tay, Bác nói tiếp:

Vấn đề liêm khiết của Chính phủ thì Chính phủ hiện thời đang cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở ủy ban làng đông lắm. Dù sao Chính phủ cũng đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong sẽ dùng pháp luật trừng trị những kẻ ăn hối lộ, đã trị, đương trị và sẽ trị cho kỳ hết. (Tiếng vỗ tay hoan nghênh lại nổi lên).

Còn có đại biểu nói rằng bản Tạm ước ngày 14/9 là bất bình đẳng thì Chính phủ không dám nhận như thế. Với bản Tạm ước ấy, mỗi bên đều nhân nhượng ít nhiều, ta đảm bảo cho Pháp một phần những quyền lợi văn hóa ở đây thì Pháp cũng phải đảm bảo thi hành tự do dân chủ ở Nam bộ và thả các nhà ái quốc bị bắt bớ. Còn nói Pháp thành thật thi hành bản Tạm ước hay không thì ta hiểu rằng Pháp cũng có người tốt, có người xấu. Tôi có thể nói quyết rằng đa số nhân dân Pháp bây giờ tán thành chúng ta độc lập và thống nhất lãnh thổ…

Bằng những lời nói thật giản dị nhưng cũng thật sáng rõ, khúc chiết chặt chẽ, Bác tiếp tục trả lời tất cả những vấn đề mà các đại biểu đã nêu ra. Người nói xong, không ai hỏi gì thêm. Cuộc chất vấn Chính phủ kết thúc đúng vào nửa đêm…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(Theo sách Hồi ký đại biểu Khóa I)

bee.net.vn

Người đi đầu xóa đói, giảm nghèo

Có một cựu chiến binh-đại tá, một người lính dày dạn trận mạc, trở về với cuộc sống đời thường, lại tiếp tục đi đầu trong cuộc chiến chống đói nghèo, mang niềm vui, hạnh phúc đến với mọi người.

Ông là Lê Văn Tá ở xã Hòa Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Một ngày cuối thu, tôi tìm đến căn nhà nhỏ ẩn mình trong khu vườn xinh xắn quay mặt ra cánh đồng mênh mông, ngập nước.

Câu chuyện của ông ngược dòng thời gian trở về những năm tháng chiến tranh ác liệt…. Mùa xuân năm 1961, từ Đại Từ (Thái Nguyên), ông tình nguyện trở về quê hương chiến đấu. Từ một chiến sĩ, tôi luyện trong chiến đấu, ông trở thành cán bộ tiểu đoàn. Với sự mưu trí, linh hoạt, ông cùng ban chỉ huy tiểu đoàn đã tổ chức nhiều trận đánh, phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh của địch. Trận chiến đấu mà ông nhớ nhất là trận đánh đại đội hỗn hợp dân vệ, cảnh sát Tuy Hoà sau Mậu Thân 1968. Đêm ấy, trời tối đen như mực, ông cùng đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu, rồi bất ngờ đồng loạt nổ súng tấn công tiêu diệt toàn bộ đại đội địch dưới chân núi Chóp Chài. Sau đó, đơn vị rút lui về hậu cứ, ông ở lại nắm tình hình. Bị thất bại nặng nề, địch tổ chức lực lượng lùng sục hết sức gắt gao. Ông rút xuống hầm bí mật, tay cầm lựu đạn, sẵn sàng chiến đấu đến cùng. Ông tự nhủ: Nếu hi sinh thì cũng phải trong tư thế của người cộng sản. Sau một hồi xăm xoi, địch không tìm thấy gì nên lui quân… Với những chiến công ấy, Tiểu đoàn 85 vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, riêng ông được tặng 3 huân chương chiến công hạng I, hạng II và hạng III.

Năm 1990, ông nghỉ hưu. Thấy quê hương còn nghèo, ông nghĩ: “Còn sức, còn chiến đấu. Dù ở đâu cũng phải sống xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Khi địa phương và đồng đội tín nhiệm, ông không đắn đo nhận “chức” Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của huyện và cùng lãnh đạo địa phương thực hiện công cuộc “xoá đói, giảm nghèo”, đương đầu với nhiệm vụ mới không kém phần cam go, thử thách. Hình ảnh người cựu chiến binh già trong bộ quân phục bạc màu, cùng chiếc xe đạp rong ruổi từ thôn này đến bản khác trở nên quen thuộc đối với đồng bào Hoà Vang. Ngày cũng như đêm, không quản nắng mưa, ông đến với từng chi hội, từng gia đình tìm hiểu hoàn cảnh, cùng họ tính kế làm kinh tế vườn đồi, trang trại, nuôi dạy con cái… Lăn lộn cùng đồng bào vùng dân tộc thiểu số, ông biết đời sống của họ vẫn còn muôn vàn khó khăn. Vì vậy, sau nhiều đêm trăn trở, ông đưa ra sáng kiến thành lập tổ hợp tác cựu chiến binh. Mục tiêu đặt ra là phát động phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong hội viên và giúp đỡ đồng bào dân tộc Cơ Tu. Khi nghe các cựu chiến binh phác hoạ tiềm năng đất đai tại Khe Muông, Khe Dao ở hai bản Tà Lang và Giàn Bí, không chần chừ, ông cùng họ đi ngay đến đó để khảo sát. Cứ thế, ông xông pha đến từng thôn bản hẻo lánh, lội suối, băng rừng đi tìm địa điểm đào núi, dời non lấy đất canh tác.

Thời kỳ đầu hết sức khó khăn, ông phải kiên trì tuyên truyền, vận động đồng bào từ bỏ lề lối làm ăn cũ để theo hướng mới, lập thành hai tổ hợp tác sản xuất. Có đất rồi, phải dựng trại, mở đất trồng bắp, trồng đậu, nuôi trâu bò, lợn gà. Thiếu vốn, ông bàn với Thường vụ Hội Cựu chiến binh của huyện vận động chính quyền, ngân hàng huyện, các cơ quan hảo tâm, hỗ trợ hàng chục triệu đồng mua vật tư, nông cụ sản xuất, giống và phân bón. Có thời gian ông ở lại với các cựu chiến binh hai bản Tà Lang, Giàn Bí cả tháng trời. Sáng ra cùng họ khai phá đất hoang, trỉa đậu, trồng bắp, tối về ông phổ biến kinh nghiệm chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong khoảng thời gian 3 năm, ông và bà con dân bản khai hoang được 18 ha đất canh tác, đào đắp hơn 7.500 m3 đất đá, xây một đập tràn, 4 cống xả lũ, cùng với địa phương quy hoạch lại khu dân cư. Công sức của ông đã giúp 12 hộ cựu chiến binh và nhiều hộ không chỉ đủ ăn mà còn làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Mấy năm trở lại đây, nhờ sự vận động của ông, bà con tích cực trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo vệ môi trường. Bản làng xa xôi ngày ấy từng ngày trù phú.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện, ông đã dồn hết tâm huyết cho công việc, xây dựng nhiều mô hình, đề xuất nhiều giải pháp có tính khả thi. Quỹ “đồng đội” do ông khởi xướng đã góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa nghèo trong hội viên. Đến nay, 100% hộ cựu chiến binh ở Hòa Vang có nhà ở kiên cố, 2/3 hộ có mức sống khá và giàu. Mới đây, ông giữ chức Phó chủ tịch thường trực Hội Nạn nhân chất độc da cam, công việc lại càng thêm vất vả. Hằng ngày, ông xuống từng thôn bản khảo sát, phát hiện các trường hợp bị nhiễm chất độc da cam để có kế hoạch thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ kinh phí, làm nhà cửa.

Công việc chung vô cùng bận rộn ông vẫn tranh thủ phát triển kinh tế gia đình. Chỉ với 2 sào đất quanh nhà, ông nghiên cứu kỹ thổ nhưỡng, tính toán xen canh để lúc nào cũng có thu nhập…Vào vườn nhà ông mà thấy mát con mắt. Dưới giàn bầu, bí, khổ qua là những luống khoai môn. Cạnh gốc khoai môn là rau mùi tàu, diếp cá. Giữa luống khoai lang là ngô. Xung quanh bờ rào ông trồng dây mơ và chuối sứ… Mỗi năm gia đình ông thu nhập gần 20 triệu đồng từ khu vườn ấy. Sống mẫu mực, giàu lòng nhân ái, được mọi người tin yêu, hàng chục năm nay, gia đình ông liên tục đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc”. Với những thành tích xuất sắc trong công tác đoàn thể, ông được Thủ tướng Chính phủ, Trung ương Hội CCB, UBND thành phố tặng 13 bằng khen. Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng, từ năm 2000 đến nay, năm nào ông cũng đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, trong đó có cấp thành phố và toàn quốc.

Bà Dương Thị Nhung (từng là chiến sĩ Sư đoàn 2, Quân khu 5) rất tự hào nói về chồng mình: “Từ trước đến giờ ổng là vậy đó, khi đã quyết tâm làm việc gì là kiên trì cho đến cùng, bất chấp gian khổ!”. Còn ông, chỉ “kết luận” với tôi: “Phần thưởng lớn lao nhất của đời tôi là có được niềm tin của đồng đội và bà con lối xóm”.

Theo QĐND

bqllang.gov.vn

Chiếc huy hiệu Bác Hồ

Tôi đến thăm gia đình Bai, thắp cây nhang ngày Tết. Vật kỷ niệm mà tôi đã tặng Bai ngày lên đường thoát ly vẫn còn đây, đang nằm trên bàn thờ anh, bên cạnh những tấm huy chương lấp lánh. Chiếc huy hiệu bằng bạc ánh lên màu biêng biếc của thời gian. Nó như đang trở mình và thầm kể lại những buồn, vui mà nó đã từng chứng kiến.

Năm 1961, tôi lên bảy tuổi, nhà tôi cùng cả làng Lại Yên Thượng bị dồn vào ấp chiến lược. Để chuẩn bị cho việc dồn dân lập ấp, bọn Mỹ-Diệm đã khống chế, bắt bớ dữ dội. Chú Hai Tần, dì Sáu Son và những người nòng cốt khác đã bị bắt giam ở nhà lao tỉnh. Bác Ba, ba của Bai cũng bị bắt.

Cho đến khi, việc dồn dân cả làng Lại Yên Thượng xong, chúng mới thả những người ấy ra. Bác Ba, lúc ra tù trở về nhà thì thân thể đã không còn nguyên vẹn nữa. Bọn chúng đã chặt mất của bác Ba một bàn tay. Từ nay, bà con làng Lại Yên Thượng gọi bác Ba bằng một cái tên mới, như một bằng chứng luôn nhắc nhở lòng căm thù lũ giặc: Ba Cụt.

Hôm nhà tôi được dỡ xuống để đưa vào trong ấp, tôi ngồi trên chạc ba cây me sau nhà, cắn trái me non mà nước mắt cứ trào ra. Tôi đã nghe nhiều người nói rằng, khi con thú hay cái cây mà xa chủ của nó, thì nó nhớ, cứ héo hắt dần và chết đi. Vì thế, tôi cứ đinh ninh, những ngày sắp tới, khi gia đình tôi phải vào sống trong ấp chiến lược, thì cây me của tôi cũng ủ rủ, héo úa mà khô chết đi như lời người lớn nói. Cả nhà chuẩn bị đi. Má tôi giục tôi xuống đôi ba lần không được. Cuối cùng, chị Hai doạ sẽ bỏ tôi lại để mà chết theo cây me luôn, tôi mới chịu bò ra khỏi chạc ba quen thuộc như chiếc giường ngủ, tụt xuống đất. Tôi lững thững như người mất hồn đi theo sau chiếc xe bò lịch kịch, chở lỉnh kỉnh những đồ đoàn của gia đình cùng với chiếc bàn thờ ba tôi.

Gia đình tôi bắt đầu cuộc sống âm thầm trong ấp chiến lược. Má tôi lầm lì ít nói hẳn đi. Chị Hai tôi, thì cũng đổi tính nết, hay bẳn gắt và thường ít khi ra khỏi nhà. Tôi chỉ còn biết lủi thủi chơi những trò chơi vụn vặt chẳng thú vị tí nào với Bai. Tôi với Bai thân với nhau từ bé tí. Những ngày còn ở xóm Cũ, hai đứa thường leo chuyền trên những cành me xam xáp da tay và ngủ quên trên những chạc ba.

Tôi và Bai bắt đầu cắp sách đến trường “Ấp Tân Sinh”. Nhưng cũng chỉ được bốn tháng sau, tôi bỏ học. Từ ngày vào trường; cứ mỗi buổi sáng, trước khi vào lớp, cả lủ con nít chúng tôi đứng thẳng hàng, nghiêm trang rồi ong ỏng hát lên bài “Suy tôn Ngô Tổng Thống”. Tôi thấy chán bài hát ấy, vì không hiểu gì cả, nhưng cứ phải gân cổ mà hát thật to.

Một hôm, trong giờ ra chơi, Bai kéo tôi ra sau trường rồi hỏi nhỏ:

– Này, mày có biết Ngô Tổng Thống là ai không? Tôi trả lời như học thuộc lòng:

– Ngô Tổng Thống là chí sĩ cách mạng, là người đã … đã …

– Không phải! – Nó hét lên ngắt lời tôi một cách đột ngột và giận dữ – Ngô Tổng Thống là người đã giết ba mày và chặt tay ba tao trong tù, bắt cả nhà mày, nhà tao vào ấp sống khổ cực. Mày nghe chưa?

Tôi chụp tay nó, hốt hoảng:

– Sao mày biết? Ai nói với mày?

– Ba tao nói với tao hồi tối này.

Ai chứ bác Ba Cụt nói là tôi tin ngay. Bác Ba là người thân tín nhất của gia đình tôi từ ngày ba tôi mất. Sáng hôm sau, không như thường lệ phải thức dậy sớm để chuẩn bị đi học, tôi nằm lì trên giường trùm mền kín đầu. Tưởng tôi bệnh, chi Hai tôi giở mền sờ vào trán tôi, hỏi:

– Em bệnh phải không?

– Không! Tôi vùng vằng.

– Vậy sao em không dậy đi học?

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn chị trân trân rồi nói một cách cương quyết:

– Em không thèm đi học nữa!

Chị tôi hơi ngạc nhiên, ngồi xuống mép giường, vuốt tóc tôi rồi ân cần hỏi lại:

– Em nói cho chị nghe đi, sao lại không thèm đi học?

– Tại em không thèm hát suy tôn Ngô Tổng Thống nữa!

Rồi như có một luồng hơi nóng từ ngực tôi phả lên mặt nóng bừng, tôi nói như hét vào tai chị tôi:

– Vì người ta giết ba mình. Ngô Tổng Thống giết ba mình, chặt tay bác Ba, vì…

Chị Hai vội vàng lấy bàn tay bịt miệng tôi không cho tôi nói nữa. Lần này, thì chị tôi sửng sốt thật sự. Chị ôm chặt lấy tôi. Rồi hai chị em cùng khóc. Ngày hôm đó trôi qua lặng lẽ. Hai chị em không nói với nhau lời nào, nhưng trong lòng thì như có cái gì đang âm ỉ.

Sáng hôm sau, chị Hai gọi tôi xuống bếp. Chị nhẹ nhàng cầm tay tôi và mở cho những ngón tay xòe ra. Hình như chị đặt vào đó một vật gì nhỏ như đồng xu, cồm cộm rồi nắm chặt bàn tay tôi lại. Chị hỏi tôi nhỏ nhẹ:

– Em có nhớ cây me nhà mình không?

– Có, em nhớ lắm.

– Em có muốn về lại với nó không?

Tôi ngạc nhiên hỏi lại chị:

– Nhưng mà làm sao về được?

Chị không trả lời câu hỏi của tôi, mà mở bàn tay tôi ra. Cái vật be bé, tròn như đồng xu ấy nằm giữa lòng bàn tay tôi, có màu bạc; ở giữa là hình nổi gương mặt một ông già có chòm râu dài, trán rộng, vẻ hiền từ phúc hậu hao hao như hình ông bụt trong tranh vẽ in trong sách.

– Em biết ai đây không?

Tôi lắc đầu.

– Bác Hồ đó!

Lần đầu tiên, tôi nghe nói đến cái tên ấy. Tôi cầm cái vật be bé đó lên ngắm nghía, rồi hỏi chị Hai:

– Bác Hồ giống ông Bụt quá phải không chị?

– Ừ, Bác Hồ là ông tiên đó!

Chị Hai tôi nói và cười. Nụ cười tươi tắn hiếm hoi mà tôi được thấy ở chị từ ngày về sống trong ấp chiến lược này.

– Vậy Bác Hồ có giúp nhà mình và nhà thằng Bai về xóm cũ, cho em về với cây me được không chị? Tôi nói liền một hơi.

– Ừ, chị lại cười. Bác Hồ sẽ giúp cho bà con mình về lại xóm cũ, cho em về với cây me của em.

Tôi mừng quá, muốn nhảy lên, chạy mau đi tìm thằng Bai để nói cho nó biết điều này. Tôi lại ngắm nghía cái vật be bé có ảnh ông Bụt – Bác Hồ lần nữa; và bỗng nhớ đến gương mặt bì bì trong khung ảnh lớn treo phía trên bảng đen trong lớp học. Bây giờ, tôi mới thấy nó ác làm sao!

– Chắc Ngô Tổng Thống sợ Bác Hồ lắm hả chị?

– Ừ, sợ lắm!

Tôi cảm thấy lòng mình được thỏa mãn, được trả thù. Tôi đã biết được kẻ đã giết ba tôi, mà tôi phải suy tôn mỗi sáng, phải sợ một người. Tuy rằng, người ấy, giờ đây, tôi chỉ mới hình dung qua cái vật tròn tròn be bé này. Tôi áp nó lên ngực và nói với chị tôi:

– Chị cho em xin cái này nghe chị?

– Ừ, chị cho em. Em gọi nó là “huy hiệu Bác Hồ”.

Chị tôi đứng dậy, kéo tay tôi đi lên nhà trên, đến trước bàn thờ ba tôi được đặt giữa nhà, rồi nói nhỏ với tôi giọng xúc động:

– Chiếc huy hiệu Bác Hồ này là của ba mình. Trước lúc hy sinh trong tù, ba đã gửi lại cho các bạn tù và sau đó được bác Ba đem về cho chị em mình.

Chị nhìn tôi, thoáng suy nghĩ rồi nói tiếp:

– Bây giờ, chiếc huy hiệu này là của em. Nhưng em phải cất nó vào sau lưng khung ảnh của ba mới được. Cảnh sát mà thấy, nó sẽ đánh chết chị em mình.

Tôi gật đầu và nhìn chừng ra cửa cho chị cất huy hiệu vào sau khung ảnh ba. Xong rồi, chị thắp ba cây nhang, thầm thì nói với khung ảnh ba tôi điều gì đó, chị cắm nhang vào lư. Hai tay chị run run.

Suốt bốn năm sống trong ấp chiến lược; Bác Hồ trong trí tưởng tượng của tôi, lúc thì mờ ảo giống như ông Bụt hiện lên giúp cô Tấm lấy được hoàng tử; lúc thì sừng sửng, oai nghi như vua Quang Trung cưỡi voi đại phá quân Thanh được vẽ trong sách.

Cho đến khi, ấp chiến lược bị phá xong, về được vùng giải phóng, được tiếp tục đi học và sinh hoạt trong đội thiếu niên tiền phong, hình ảnh Bác Hồ luôn ở bên tôi hằng ngày, trên ngực áo nơi trái tim. Và đến ngày Bai lên đường để vào học trường thiếu sinh quân ở Miền, tôi đã tặng vật kỷ niệm ấy cho Bai. Nó cũng đã ấp ủ bên cạnh trái tim Bai suốt bao năm học tập và chiến đấu. Khi ngã xuống, máu của Bai đã thấm ướt đẫm chiếc huy hiệu này.

Trên bàn thờ Bai, chiếc huy hiệu vẫn ánh lên màu bạc. Tôi chợt nảy ra một ý định. Tôi sẽ nói với gia đình Bai xin lại chiếc huy hiệu kỷ niệm để tặng cho phòng truyền thống của trường phổ thông của xã và kể lại câu chuyện về chiếc huy hiệu này cho các em học sinh hiểu thêm về những cuộc đời đã hy sinh để có được hòa bình hôm nay và ngày mai tươi sáng.

Ngô Đình Miên

bqllang.gov.vn

“Càng già chí khí càng dai…”

Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, hơn Bác Hồ 2 tuổi. Tình cảm giữa Bác Hồ và Bác Tôn cũng hình thành từ rất sớm, khi hai người chưa hề gặp nhau: Bác Tôn Đức Thắng từng ngưỡng mộ Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 khi Người còn hoạt động trên đất Pháp, đã đưa ra “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” 8 điểm đòi quyền độc lập cho Việt Nam làm chấn động Hội nghị Véc-xây… Nhưng mãi đến cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, khi Bác Tôn được bầu là đại biểu Quốc hội và ra Hà Nội làm việc, lần đầu tiên Bác Tôn và Bác Hồ mới gặp mặt nhau.

Tại phiên họp vào ngày 8-11-1946 của kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa một, khi Chủ tịch Chính phủ liên hiệp (lâm thời) Hồ Chí Minh phát biểu từ chức, trao quyền để Quốc hội chọn người đứng ra lập Chính phủ mới-Chính phủ “tập họp nhân tài, đoàn kết kháng chiến”-thì đại biểu Quốc hội Nam Bộ Tôn Đức Thắng đã đứng lên dõng dạc phát biểu ý kiến: “Tôi xin giới thiệu Cụ Hồ Chí Minh, tức nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc là người xứng đáng hơn ai hết, đứng ra thành lập Chính phủ mới”. Ý kiến của Bác Tôn đã làm cho nhóm đại biểu các đảng phái phản động chưng hửng, thất vọng vì họ đã chuẩn bị sẵn một “danh sách tân chính phủ”…

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12, Bác Tôn cùng hai con gái là Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia cách mạng được theo cha lên chiến khu Việt Bắc công tác. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là quyền Bộ trưởng Nội vụ, Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng ban Thường trực Quốc hội… Giữa chiến khu Việt Bắc những ngày kháng chiến, Bác Hồ thường mời Bác Tôn đến gặp để đàm đạo công việc, trao đổi ý kiến về những công việc cụ thể nhằm đẩy mạnh phong trào Thi đua ái quốc, đẩy mạnh kháng chiến.

Bác Tôn cũng là người có phong cách rất cần kiệm trong đời sống, giản dị trong sinh hoạt. Hai Bác xưng hô với nhau rất thân mật bằng đại từ “cụ” và thân tình như một đôi bạn tri kỷ luôn “tâm đầu ý hợp”. Sau ngày kháng chiến thành công, trở về sống ở Thủ đô, Bác Hồ vẫn chỉ ở và làm việc tại căn phòng của người thợ điện cạnh tòa nhà Phủ Chủ tịch. Ngày vợ chồng hai người con gái là chị Hạnh-anh Phúc và chị Nghiêm-anh Trúc theo cha (Bác Tôn) về Hà Nội, thì bà Giàu từ miền Nam tập kết ra, lúc này gia đình mới sum họp. Ở nhà 35 Trần Phú, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng rộng không quá 20m2, hai chị em nhất định nhường cho ông thư ký riêng của cha căn phòng rộng hơn, vì “gia đình ông đông người hơn”. Ở Hà Nội, Bác Hồ thường sang thăm gia đình Bác Tôn. Thấy Bác Tôn làm việc, nghỉ ngơi trên tầng 2, hằng ngày thường phải lên xuống cầu thang không thuận tiện và tốn sức tuổi già, Bác Hồ nhắc Văn phòng: “Phải sắp xếp và đưa cụ xuống tầng dưới để ít phải đi lại, xuống hầm (hầm trú ẩn tránh bom đạn khi máy bay Mỹ đánh phá) cũng nhanh hơn…”. Những thời gian có thể, thường vào chiều thứ bảy trong tháng, Bác Hồ lại cho mời Bác Tôn sang nhà sàn cùng ăn cơm và đàm đạo với nhau. Mỗi lần như vậy, khi đến giờ, Bác Hồ ra tận gốc cây sát bờ ao thả cá đứng đợi “đón bạn”. Khi Bác Tôn đến, Bác Hồ lên tiếng: “Chào cụ!”. Bác Tôn cũng liền chắp hai bàn tay đáp lại: “Chào cụ !” đáp lễ…

Vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1958), Quốc hội quyết định tặng Bác Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng. Tại buổi lễ, trước khi gắn huân chương lên ngực áo Bác Tôn, Bác Hồ rất vui và rất xúc động phát biểu: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân… Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao Vàng, là huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng…”.

Hai năm sau, ở tuổi 72, kỳ họp Quốc hội tháng 7-1960 đã tín nhiệm bầu Bác Tôn làm Phó chủ tịch nước. Bác Tôn không chịu nhận có thêm thư ký riêng với lý do “công việc không nhiều”, sử dụng thêm một cán bộ là lãng phí. Nhưng Bác Hồ không tán thành, vì Bác Tôn tuổi đã cao. Bác Hồ bàn với Văn phòng sắp xếp công việc để có người giúp việc Bác Tôn, nên năm 1962 mới có người giúp việc-thư ký cho Bác Tôn, đó là ông Lê Hữu Lập… Cho đến năm Mậu Thân 1968, Bác Tôn Đức Thắng tròn 80 tuổi giữa thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang rất quyết liệt. Bác Hồ lúc đến chúc thọ người bạn già tri kỷ Tôn Đức Thắng, đã tặng bạn hai câu thơ:

“Càng già chí khí càng dai
Chống Mỹ, cứu nước ít ai hơn già”.

Tuấn Hải
(Tạp chí Sự kiện nhân chứng)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những chuyện chưa được kể phía sau khuôn hình

Bác Hồ luôn quan tâm đến phóng viên báo chí từ những việc rất nhỏ, rất cụ thể.

Kể từ năm 1919, với bản yêu sách nổi tiếng gửi đến Hội nghị Véc-xây cho đến khi từ giã cõi đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên 2.000 bài báo, với 150 bút danh khác nhau.

Đây là những câu chuyện cảm động về Bác Hồ với những người làm báo hình của đạo diễn, quay phim, NSƯT Phạm Việt Tùng – người đã từng theo Bác những ngày đầu bước vào nghề báo hình và làm nhiều phim tài liệu về Bác Hồ.

Những câu chuyện ông kể, có chuyện do ông trực tiếp chứng kiến và có những chuyện các đồng nghiệp của ông, Nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn, Hoàng Thái, Phan Nghiêm, Phạm Văn Khoa, Mai Lộc, Phan Trọng Quỳ, An Sơn, Tô Cương, Ngọc Quỳnh, Khánh Dư, Nguyễn Đăng Bẩy… kể lại trong chặng đường tái dựng chân dung Bác Hồ của ông.

Đó là những câu chuyện không thể nào quên đối với những người có may mắn gánh trên mình trọng trách “đưa hình ảnh Bác đến với đồng bào khắp trong Nam, ngoài Bắc, trong đó có những người giúp nhân dân Miền Nam biết gương mặt đó để tin và đi theo chủ nghĩa đó” như lời kể của Nghệ sĩ Việt Tùng.

Bác cũng là người sáng lập nên nền báo chí cách mạng Việt Nam.Ở độ tuổi 20, còn rất trẻ, Phạm Việt Tùng đã “có may mắn được đi theo Bác Hồ” từ những năm 1960. Ông tâm sự: “Được tiếp xúc và gần gũi Bác, chúng tôi bị ảnh hưởng của Bác trong công việc báo hình. Thế hệ những người “cũ kỹ, có may mắn gần Bác như chúng tôi luôn suy nghĩ làm sao cho đúng, soi lại tư tưởng của Bác trước mỗi hành động“.

Những năm đầu trong nghề làm báo hình của ông gắn với nhiều kỷ niệm về Bác. Sau này, ông đã làm rất nhiều những bộ phim tư liệu về Bác Hồ. Những kỷ niệm khi quay phim về Bác tái hiện sống động trong ký ức NSƯT Việt Tùng.

Bác luôn xuất hiện ở nơi không ngờ nhất

Được báo tin Bác chuẩn bị đến thăm một địa điểm nào đó, đơn vị được Bác tới thăm bao giờ cũng muốn chuẩn bị thật chu đáo để đón Bác. Cánh quay phim thường đến sớm, chuẩn bị máy tại nơi dự kiến sẽ đón Bác.

Nhưng Bác luôn xuất hiện ở những nơi không ngờ nhất. Nhiều khi mình chuẩn bị đón tiếp tại một hướng nhưng ông Cụ lại đến từ một hướng khác”. “Không ai đoán được ông Cụ muốn kiểm tra mình cái gì”.

Năm đó, Bác Hồ trở lại thăm Pắc Bó, nơi Bác vẫn xem là quê hương thứ hai của mình. Nhân dân Pắc Bó đã làm một con đường lớn để đón Bác vào thăm mộ Kim Đồng. Nhưng khi đến thăm, Bác không đi con đường mới được xây dựng ấy. Bác lần theo đường mòn cũ, đi lại những lối đi đã từng rất quen thuộc với Bác trong thời kỳ kháng chiến, như muốn ôn lại cả chặng đường đã qua.

Mỗi khi đón Bác, các cơ quan, đơn vị đều chuẩn bị kỹ phòng họp để Bác vào thăm. Nhưng bao giờ cũng vậy, Bác thường qua thăm chỗ nhà ăn, nhà vệ sinh trước rồi mới tới gặp nhân dân. Bác quan tâm sâu sắc, cụ thể đến đời sống của họ, từng cái ăn, cái ở. “Mỗi chuyến thăm của Bác không phải Bác đến chỉ để phát biểu vài ba câu…”. Có lần, đến thăm nhà máy cơ khí số 1, trong khi mọi người đang loay hoay chuẩn bị phòng đón Bác, Bác đi vòng qua sân, nhìn thấy một cái bục nhỏ. Bác đứng lên bục và nói chuyện với công nhân ngay tại đó.

“Các chú chuẩn bị máy, Bác bảo cho mà làm”

Là vị Chủ tịch nướcnhưng Bác quan tâm đến những việc rất nhỏ của cánh quay phim, quan tâm sát sao và rất cụ thể. Ông Việt Tùng tâm sự: “Cụ luôn biết mình đang thuận lợi, khó khăn gì để giúp đỡ mình, thân tình và nhân ái”.

Ông vẫn nhớ câu chuyện của người đồng nghiệp trong chuyến quay phim dịp Đại hội Đảng lần thứ II. Bác đã chủ động hỏi các nhà quay phim: “Các chú có mang nhiều phim không?” Chú quay phim thành thật thưa với Bác: “Thưa Bác, chúng cháu chỉ có 1 cuộn phim thôi ạ“. Bác liền bảo: “Thế các chú chuẩn bị máy, Bác bảo cho mà làm… Chú quay một cái toàn cảnh rồi lia sang lá cờ. Sau đó mới tới các hoạt động của Hội nghị“. Ông Cụ am hiểu về nghề làm phim như vậy đấy, nhà quay phim Việt Tùng nói.

Bấy giờ, điện ảnh Việt Nam còn kém. Chúng ta quay phim gửi sang Trung Quốc, để Trung Quốc “làm giúp”. Đó là bộ phim “Việt Nam kháng chiến”. Ta muốn quay cảnh Bác họp hội đồng Chính phủ nhưng vì hồi ấy, chưa được trang bị các thiết bị hiện đại như bây giờ, ánh sáng trong ngôi nhà mái lá không đảm bảo cho cảnh quay. Trong lúc cánh quay phim đang “bí”, loay hoay chưa biết làm thế nào cho đủ sáng, Bác chỉ lên mái nhà, bảo với quay phim Khánh Dư lúc đó đang là phụ quay: “Chú trèo lên dỡ mấy tàu lá cọ xuống cho ánh sáng lọt vào là quay được“.

Nhà quay phim Tô Cương: “Ông cụ đã cứu mình”

Ông bồi hổi kể, Bác Hồ có thói quen đi rất nhanh. Bác bước từng sải dài, chỉ nhắm nhanh đến đích, để thực hiện công việc của mình. Anh em quay phim nhiều khi không bắt kịp hình ảnh của Bác, nhưng ngại, không biết làm như thế nào. Một hôm, trong lúc nói chuyện, Bác quay sang hỏi nhà quay phim An Sơn: “Hôm nay các chú có làm được việc không?”. Lúc này, ông mới mạnh dạn bộc bạch với Bác: “Thưa Bác, Bác đi nhanh quá ạ. Phim nhựa mang theo người nặng lắm, mà Bác đi nhanh như thế, cháu không quay được ạ”. Từ đó, khi máy quay hướng vào Bác, Bác chủ động đi chậm lại, tạo thuận lợi để thu được những thước phim về Bác.

Bác Hồ luôn quan tâm đến những việc rất bé như vậy. Câu chuyện của nhà quay phim Tô Cương được Nghệ sĩ Việt Tùng kể lại trong niềm xúc động. Đầu năm 1960, gia đình Luật sư Lô-giơ-bai, ân nhân của Bác trong vụ án Hồng Kông sang thăm Việt Nam. Bác Hồ đưa các vị khách quý đến thăm Nhà máy Công cụ số 1.

Trong lúc đang quay phim, đột nhiên máy quay bị hỏng. Bác nghe xoạch một tiếng, biết là máy quay không chạy được. Bác chủ động dừng lại, quay ra nói chuyện với các vị khách, tạo thời gian cho anh em sửa máy. “Cụ lo cho mình như thế đấy. Nếu Cụ đi thẳng, mình không chữa được máy, không quay được hình ảnh Cụ, không hoàn thành được nhiệm vụ, chắc chắn sẽ bị kỷ luật…”. Ông Việt Tùng lúc bấy giờ làm ánh sáng phụ cho ông Tô Cương quay phim về Bác kể lại. Sau lần đó, nhà quay phim Tô Cương cứ xuýt xoa: “May quá, Ông Cụ đã cứu mình”.

Đằng sau khuôn hình, tại hậu trường những cảnh quay chân thực về Bác, còn biết bao những câu chuyện giản dị và cảm động. Những câu chuyện đó đã theo họ trên suốt chặng đường làm báo, với tâm nguyện “làm gì cho xứng đáng”, bởi như Bác nhiều lần nhắc nhở: làm báo chính là làm cách mạng… là để phục vụ quảng đại quần chúng, không chỉ phục vụ một số ít cá nhân…

Theo Vietnamnet
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

“Cán bộ “gầy” nhân dân “béo” mới là vinh hạnh…”

Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ - Ảnh: Tư liệu

Năm mươi năm trước, ngày 23-9-1958, Bác Hồ lên thăm tỉnh Lào Cai. Khi đó, tôi là cán bộ bảo vệ chính trị của Ty Công an được cấp trên giao nhiệm vụ cùng đồng chí Phạm Quế phối hợp với các đồng chí tiếp cận của Bộ, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho chuyến đi.

Đúng 10g30, đoàn tàu hỏa đặc biệt mang số hiệu 424 do tài xế Nguyễn Văn Thêm lái đưa Bác tới ga Làng Giàng. Từ đây Bác Hồ lên ôtô sang sông để thăm công nhân mỏ apatit Cam Đường (thường gọi là apatit Lào Cai). Thấy giữa sông một chiếc canô đang chạy rẽ sóng với tốc độ rất cao, Bác quay lại đồng chí Hoàng Trường Minh, Bí thư Tỉnh ủy, hỏi: “Các chú biểu dương lực lượng đón Bác đấy à?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thật thà thưa: “Thưa Bác, đó là chiếc canô kiểm tra trên sông trước lúc đoàn qua đấy ạ!”.

Lúc đó, đồng chí cảnh vệ bảo vệ Bác đứng cạnh tôi, nói nhỏ: Năm trước, Bác lên thăm tỉnh Cao Bằng, Tỉnh ủy cho kết hoa thật đẹp lên chiếc xe mui trần để Bác đi. Khi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy mời Bác lên xe kết hoa, Bác nhất định không đi và nói với đồng chí Bí thư: “Chú nào ra lệnh kết hoa lên xe thì chú đó đi”. Lời phê bình nhẹ nhàng mà nghiêm khắc về bệnh phô trương hình thức đã để lại cho Cao Bằng một bài học thấm thía.

Địa chỉ và người được Bác đến thăm và tặng quà đầu tiên trong chuyến lên thăm Lào Cai là ông Trần Văn Nỏ. Ông Nỏ là một nông dân người Tày ở xã Cam Đường. Năm 1924, khi còn là một cậu bé, trên đường lên nương, mệt và khát nước, cậu chặt một ống nứa đun nước uống. Bỗng dưng ba hòn đá kê bếp bốc cháy phừng phừng, tỏa ra ngọn lửa xanh lè. Đá cháy và lửa xanh là điều chưa từng thấy làm Nỏ hoảng sợ, nghi là hòn đá ma, sợ ma báo thù vì gia đình Nỏ có làm nghề thầy cúng. Nỏ liền báo với Lý trưởng, Lý trưởng báo quan Tây… Từ đó, thực dân Pháp đã thăm dò và khai thác apatit ở Lào Cai. Cách mạng rồi kháng chiến chín năm, mỏ không hoạt động. Đến ngày 29-9-1955 ta bắt đầu khôi phục và mở rộng diện khai thác. Ông Nỏ được coi là người đầu tiên phát hiện mỏ apatit và được ghi vào lịch sử của mỏ.

Sáng hôm sau, Bác nói chuyện với cán bộ các cơ quan dân chính Đảng, đại diện các dân tộc tại sân Tỉnh ủy.

Buổi chiều, Bác xuống thăm công trường xây dựng Nhà máy Thủy điện Lào Cai.

Buổi chiều đó nắng nóng, khi Bác nói chuyện với công nhân, đồng chí Bí thư Đảng ủy công trường che ô cho Bác. Người gạt đi và nói mọi người cũng như Bác, mượn cho Bác cái mũ là được.

Sau buổi míttinh ở sân nhà Tỉnh ủy, Bác gọi đồng chí Hoàng Trường Minh (Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Lào Cai lúc đó) và một số cán bộ chủ chốt của tỉnh về đời sống và phong tục của đồng bào các dân tộc. Trong khi đồng chí Hoàng Trường Minh loay hoay tìm chỗ ngồi cho Bác thì Bác đã tháo dép ngồi ngay xuống thềm nhà mát mẻ, sạch sẽ. Thế là tất cả đều ngồi xuống thềm quây quần quanh Bác.

Riêng một đồng chí mặc complê đi giày tây bóng loáng cứ loay hoay mãi. Bác hỏi: “Chú ngồi xuống. Chú béo đấy. Chú làm công tác gì?”. Đồng chí Hoàng Trường Minh thưa: “Thưa Bác, đây là chú Tiến, Trưởng Ty Thương nghiệp”. Bác nói ngay: “Làm thương nghiệp lúc này là phải xắn quần lên, mang muối, vải và dầu hỏa lên vùng cao cho đồng bào miền núi và thu mua lương thực, thực phẩm cung cấp cho bộ đội và nhân dân… Cán bộ mà “gầy”, nhân dân mà “béo” đó là điều vinh hạnh cho Đảng ta…”.

Hai ngày 23 và 24-9-1958 là hai ngày hạnh phúc nhất của đời tôi khi được ở bên Bác, bảo vệ Bác và nghe những lời dặn dò thân thiết mà sâu sắc của Người. Đó là những lời nói giản dị, bình thường mà có ý nghĩa khai sáng, nghiêm giới suốt cả cuộc đời, khiến tôi không bao giờ sai lầm và làm được một số điều có ích cho sự nghiệp chung, có ý nghĩa trong cuộc đời tôi và gia đình tôi.

(Theo lời kể của đồng chí Phạm Ngọc Minh, cán bộ công an hưu trí, phường Pom Hán, TP Lào Cai)

Theo Tuoitre.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn