Thư viện

Chớ phô trương, hình thức

Sinh thời, Bác Hồ là một tấm gương về lối sống giản dị, tiết kiệm. Đặc biệt, Người luôn yêu cầu phải chống căn bệnh phô trương, hình thức. Câu chuyện sau đây cho thấy điều đó.

Năm 1961, Bác Hồ về thăm quê lần thứ hai. Bác yêu cầu các đồng chí ở Tỉnh ủy Nghệ An đón tiếp Bác thật tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức. Nhưng địa phương vẫn chuẩn bị sẵn một chiếc ôtô con mui trần, có vải trắng kết xung quanh và lót phía trong xe để đón Bác. Khi xuống máy bay, Bác nhìn chiếc xe rồi cười và nói: “Bác về cốt là thăm quê hương, đồng bào, chứ có là quan khách đâu mà các chú làm hình thức, tốn kém”. Nói rồi Bác bước về phía chiếc xe đi đầu của bảo vệ và ngồi bên cạnh người lái xe. Dọc đường, mọi người đều hướng về chiếc xe sang trọng, nhưng không thấy Bác đâu. Không ai biết rằng Bác đã ngồi ở chiếc xe cảnh vệ đi đầu, còn anh em cảnh vệ thì đi chiếc xe được dành để đón Bác.

Về đến nhà khách Tỉnh ủy, thấy có nhiều bông hoa rực rỡ hai bên đường, Bác dùng tay nhổ nhẹ một cành lay ơn và biết được rằng cành hoa không hề có rễ. Bác gọi đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tới nghiêm giọng: “Đây là một việc làm thiếu chân thực và lãng phí. Tưởng các chú trồng hoa thì hay, có lợi cho môi trường. Nào ngờ, vì Bác vào thăm nên các chú phải mua bông này về trồng. “Trồng” hình thức nó sẽ chết. Đây là một căn bệnh phô trương, hình thức. Đón Bác như thế này Bác không vừa lòng!”. Các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An nhận ra khuyết điểm đã xin lỗi Bác và hứa sẽ sửa chữa khuyết điểm.

Những lời phê bình nhẹ nhàng của Bác trong việc này có một ý nghĩa giáo dục vô cùng to lớn. Đó là phải luôn luôn trân trọng giá trị thực, tránh phô trương, hình thức. Đó cũng chính là bài học quý cho mỗi chúng ta khi học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

  • Minh Tuệ

baobinhdinh.com.vn

Nâng niu tất cả chỉ quên mình

Một lần một người bạn nước ngoài hỏi Bác về tài sản riêng, Bác vui vẻ chỉ đàn cá Bác đang cho ăn và nói: “Đây là tài sản của tôi”.

Bác sống trọn cuộc đời cống hiến, ra đi không để lại chút gì riêng tư, từ nguồn vui gia đình – sản phẩm tinh thần quý giá của con người bình thường, đến tài sản vật chất.

Suốt cuộc đời Bác chỉ nghĩ đến giải phóng những người lao động cần lao, nghĩ đến nhân dân mình, dân tộc mình. Lo từ việc nhỏ bình thường đến đại sự quốc gia. Quan tâm từ miếng ăn cho người nghèo đến sự thái bình cho dân tộc.

Nhớ hồi làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ăn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ăn xin ngoài đường. Khi dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Khi mùa hè đến, mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sĩ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Khi đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh năm không rụng lá, Bác nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên Bác khuyên tìm cách đưa loại cây ấy về nước.

Khi đi thăm hồ Suối Hai thấy nhà nghỉ của Tỉnh ủy xây to đẹp, Bác bảo phải lo xây nhà cho nhân dân lao động trước. Lúc đi công tác xa lâu ngày Bác nghĩ đến những người phục vụ mình ở nhà, Bác dặn những ngày Bác đi xa các chú tranh thủ về thăm quê hương, gia đình. Đối với người phục vụ, Bác quý trọng xem như những người thân thiết nhất, Bác không có gia đình riêng, họ là những người gần gũi với Bác như những người ruột thịt.

Đầu tháng 5.1948, đồng chí Lộc, người nấu ăn cho Bác không may bị sốt rét ác tính mất. Bác thương xót và đã khóc như mất đi một người ruột thịt. Đến ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, anh em tìm một bó hoa rừng chúc mừng sinh nhật Người. Trong phút giây xúc động, Bác rơm rớm nước mắt: “Cảm ơn các chú, nhưng bó hoa này ta mang ra đặt lên mộ đồng chí Lộc.”

Bác quý trọng nhân cách con người, dù người đó là ai, tầng lớp nào, bên Bác dẫu một lần ai cũng cảm thấy giá trị của cuộc đời được nâng lên. Bác không bao giờ nói “cho” mà chỉ nói “biếu cô”, “biếu chú’’, “tặng cô”, tặng chú”… Bác không ngồi nghe khi người khác đứng nói, sẵn có ghế Bác mời cùng ngồi, nếu không có ghế thì cùng đứng. Có lần đến thăm bà con nông dân, có các cụ già đến nghe Bác nói chuyện không có ghế phải ngồi xuống đất, Bác bảo tìm ghế cho các cụ rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện với mọi người.

Bác sống cuộc đời một vị Chủ tịch nước, nhưng mỗi người chúng ta đều thấy một phần cuộc đời mình trong đó, bởi vì Bác là hiện thân cốt cách dân tộc, là cái chung trong mỗi cái riêng.

  • Đinh Xuân Thu

baobinhdinh.com.vn

Các chú bộ đội cũng phải biết hát

Hồi ấy, vào những năm 1960, hàng tuần, những tối thứ bảy và chủ nhật, cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 600 chúng tôi thường được đến xem phim với Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Như thường lệ, trước khi chiếu phim, các cháu thiếu nhi ở Khối văn phòng cơ quan lên hát góp vui. Có hôm có cả các chị Trần Thị Tuyết, Ngọc Dậu và các ca sĩ khác đến hát và ngâm thơ, hát chèo. Bác thích xem hát chèo. Có hôm, các anh chị trong Khối văn phòng, nhiều anh chị đã lớn tuổi cũng đứng lên thành hàng để hát. Mỗi lần hát xong được Bác thưởng kẹo.

Hôm đó, cũng như ngày khác, chúng tôi được đến xem, ai nấy đều đã ngồi vào vị trí. Tất cả hướng về Bác như chờ đến giờ Bác cho xem. Bỗng thấy Bác nhìn và cười vui, chỉ tay về phía cán bộ, chiến sỹ chúng tôi nói: “Hôm nay các chú bộ đội lên hát để Bác xem”. Cán bộ, chiến sỹ chúng tôi đứng lên xếp hàng ngay ngắn. Nhưng rồi không thể hát được, vì quá đột ngột, vì chưa tập, chưa quen đứng lên hát như thế bao giờ. Tất cả cứ đứng ngây người ra. Đồng chí Lợi, Bí thư Đảng ủy thưa với Bác là xin để lần sau lên hát. Bác nhìn chúng tôi âu yếm và cười vui đôn hậu, rồi Người nói: “Các chú bộ đội cũng cần biết hát, biết biểu diễn văn nghệ để đơn vị được vui tươi, lành mạnh. Đó là tiêu chuẩn thi đua của đơn vị”.

Từ hôm đó trở về sau này, đơn vị chúng tôi tổ chức tập hát, đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ, viết báo tường và coi đó là một trong những chỉ tiêu thi đua. Văn hoá, văn nghệ cũng được chấm điểm như các chương trình huấn luyện khác. Và cũng nhờ tập luyện văn nghệ thường xuyên như thế, đơn vị chọn ra một số anh em có năng khiếu làm hạt nhân để hằng tuần, mỗi buổi đến xem phim lên hát góp vui. Đây là việc khó của đơn vị vì phần đông anh em là những cán bộ có kinh nghiệm trong chiến đấu, công tác, đã qua thử thách, tuổi đã từng trải, từng là cán bộ trung đội, đại đội về đây làm chiến sỹ. Còn nhớ, đúng vào dịp kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ, chúng tôi lần đầu tiên được lên hát để Bác nghe. Nhiều đồng chí mới tập hát và cả những người chưa quen hát bao giờ cũng đứng lên thành hàng, hát bài “Mùa xuân ơn Đảng”, được Bác khen: “Thế là tốt rồi”, được Bác thưởng kẹo.

Tôi (Minh Hiền) và đồng chí Khuê được đơn vị và chi đoàn phân công tập một làn điệu chèo. Đây là một việc khó vì là lần đầu chúng tôi tập hát chèo (tôi quê ở Quảng Bình). Đơn vị không có nữ, tôi được phân công đóng vai con gái, lại còn khó hơn. Không ngờ sau quá trình luyện tập, buổi hát hôm ấy đạt kết quả hơn mong đợi, được Bác khen: “Hát thế là tốt”. Rồi tất cả anh em chúng tôi xếp thành hàng để được Bác thưởng kẹo. Bác nhìn trong hàng không thấy tôi, vì lúc ấy tôi đang lui lại phía sau để tẩy trang, Bác hỏi: “Cháu gái đâu rồi?”. Tôi nghe Bác hỏi, vội vàng đi đến bên Bác và xúc động nói: “Dạ thưa Bác, cháu đây ạ”. Lúc này tôi mới bỏ được tóc giả, còn lại quần áo con gái vẫn còn nguyên. Thấy tôi trong trang phục như thế Bác cười, xoa đầu tôi và khen: “Cháu hát tốt lắm, Bác thưởng kẹo nhiều hơn”.

Theo ditichhochiminhphuchutich.gov.vn 
Kim Yến (st)

Bác Hồ luyện giọng đọc (*)

Ngày 15-11-1968, Bác Hồ tiếp đại biểu cán bộ và công nhân ngành Than.

Trước đó, ngày 4-11, Bác bị ho, bãi nhổ thấy có máu. Các bác sĩ vào khám cho Bác, cho biết: Họng vỡ tia máu, phải bôi thuốc. Từ đó, tiếng nói của Bác yếu hẳn đi.

Vì sức khỏe, Bác không xuống Quảng Ninh trực tiếp gặp gỡ cán bộ và công nhân ngành than được, nên Người đã cử Thủ tướng Phạm Văn Ðồng xuống gặp gỡ và làm việc với anh em công nhân, sau đó mời một đoàn đại biểu của ngành than lên làm việc với Bác.

Bác Hồ không muốn vì tiếng nói của mình yếu có thể gây lo lắng cho cán bộ và đồng bào, nên một mặt Bác dặn phải chuẩn bị máy phóng thanh cho tốt, để dù Bác có nói yếu, mọi người vẫn nghe rõ, mà không biết Bác mệt; hai là Bác tiến hành luyện đọc, sao cho to giọng, tròn tiếng để chuẩn bị gặp gỡ cán bộ ngành than.

Từ ngày 5-11, mỗi buổi sáng sau khi rửa mặt xong, Bác vào phòng làm việc của đồng chí Vũ Kỳ, cầm quyển “Kiều” và tập đọc to thành tiếng.

Bác nói với đồng chí bảo vệ:

– Chú đứng thật xa ra để nghe Bác đọc, xem nghe có rõ không? Nếu nghe không rõ, sẽ xích gần thêm lại, đến lúc thật rõ thì dừng lại để xem khoảng cách là bao nhiêu.

Ðồng chí bảo vệ đi ra. Bác đọc:

Trăm năm trong cõi người ta!
Chữ tài chữ mệnh khéo là yêu nhau!

Sau đó, Bác gọi đồng chí bảo vệ lại, hỏi:

– Bác đọc chú nghe có rõ không?

– Thưa Bác, rõ ạ.

– Chú thử nói lại xem Bác đọc câu gì?

Ðồng chí bảo vệ đọc lại đúng nguyên văn câu Kiều:

“Trăm năm… khéo là ghét nhau!”.

– Ðấy, chú có nghe thấy rõ Bác đọc cái gì đâu?

Và từ đó liên tục Bác luyện đọc vào các buổi sáng.

15 giờ chiều 15-11-1968, Bác tiếp đại biểu ngành than. Khoảng 14 giờ 30 phút, đồng chí Nguyễn Hữu Mai, Bộ trưởng Ðiện và Than vào báo cáo chương trình làm việc với Bác. Người nói với đồng chí Nguyễn Hữu Mai:

– Chú là Bộ trưởng, chỗ đứng của chú không phải là ở bên Bác. Chỗ đứng của chú là ở cuối phòng. Chú nghe  Bác nói, nếu không được rõ chú giơ tay làm hiệu, lúc đó Bác sẽ cố gắng nói to hơn để mọi người đều có thể nghe được rõ hơn.

Sau này, đồng chí Nguyễn Hữu Mai  trầm trồ mãi: Thật là một bài học lớn cho cuộc đời làm Bộ trưởng của tôi! Mình có nghe rõ mới biết quần chúng có nghe được hay không.

May mắn lớn là hôm đó, đồng chí Mai không phải giơ tay làm hiệu lần nào. Ðó là kết quả cố gắng rèn luyện của Bác, và bài học lớn Bác truyền lại cho chúng ta: Nói với quần chúng, không phải chỉ quan tâm đến nội dung, câu chữ, mà còn cả giọng điệu nữa, để xem cuối cùng nó có đến được với quần chúng không.

Tính mục đích, tính thiết thực, tính hiệu quả của nói và viết ở Bác Hồ nhất quán là như vậy.

Trần Hiếu Ðức
(Theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ)

—————————-

(*)  Trích trong cuốn sách Ðiều Bác Hồ yêu nhất và ghét nhất – NXB CAND, tr58-60.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi

Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố bản “Tự phê bình” trước toàn thể nhân dân. (Bản này được đăng công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào ngày 28 tháng 1 năm 1946).

Mở đầu, Chủ tịch viết:

“Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”.

Sau khi nêu lên những công việc làm việc trong hoàn cảnh khó khăn, Người tự nhận xét: “Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân. Tuy nhiên người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch… Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi…

… Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”.

Cuối bản “tự phê bình”, Bác Hồ thân yêu của chúng ta viết: “Tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ”.

Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy
(st)

Chiếc máy điều hòa nhiệt độ đặt trong phòng Bác ở (*)

… Dịp may hiếm có, trong lúc chúng tôi đang nghĩ cách chống nóng cho Bác thì các đồng chí bên Bộ Ngoại giao công tác ở nước ngoài gửi biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Khi nhận máy về, từ các anh ở Văn phòng của Bác đến anh em phục vụ, bảo vệ ai nấy đều vui mừng thấy như các đồng chí bên Bộ Ngoại giao đã giúp mình tìm ra đáp số của một bài toán khó.

Lúc đó Bác đi công tác vắng. Các anh quyết định cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác, định khi Bác về xin phép sau. Các đồng chí thợ điện tích cực làm việc, chỉ một buổi sáng, chiếc máy đã được đặt gọn vào tường trong phòng làm việc của Bác. Cầu dao điện vừa đóng, tiếng máy chạy ro ro, giống như có bầy ong về tổ. Ít phút sau, nhiệt độ giảm dần, ngoài vườn ra rả tiếng ve, cây cối đứng im phăng phắc mà trong phòng Bác mát tựa trời thu. Lúc đó ở Hà Nội, máy điều hòa nhiệt độ còn hiếm, anh em chúng tôi nhiều người mới biết lần đầu, cứ tấm tắc khen.

Tuy vậy chúng tôi vẫn hồi hộp chờ ý kiến của Bác, bởi lẽ chúng tôi đều biết Bác sống rất giản dị… Tôi còn nhớ chuyện anh Trần Quốc Hoàn gửi biếu Bác chiếc két sắt. Anh em phục vụ xin phép được kê vào phòng làm việc của Bác. Bác cười nói vui:

– Hễ có cái gì quý các chú cũng đem tặng thì phòng Bác chứa sao hết?

Một đồng chí báo cáo với Bác chiếc két này rất tiện lợi, xin Bác nhận để tài liệu cho chắc chắn.

Bác chỉ mấy anh em đang đứng bên cạnh:

– Ở ngoài đã có các chú cảnh vệ canh gác, ngay bên Bác cũng có các chú đây. Nếu phải dùng đến két sắt hóa ra Bác không tin các chú à?

… Bác liền cho hướng giải quyết ngay:

– Có thể Văn phòng Phủ Thủ tướng cần cái két sắt này đấy, các chú hãy chuyển sang cho các chú bên ấy.

Bác đi công tác về, chúng tôi phấp phỏng về chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Sau khi thăm hỏi anh em, Bác đi về phòng ở. Vừa bước vào phòng, chợt Bác dừng lại, hỏi:

– Các chú này, hôm nay nhà mình có mùi gì lạ quá… Biết không giấu được Bác, anh Vũ Kỳ và các đồng chí phục vụ xin lỗi Bác, rồi trình bày rõ lý do về chiếc máy điều hòa nhiệt độ… Buổi trưa hôm ấy, chúng tôi không ngủ được. Chiếc máy điều hòa là chủ đề cho những câu chuyện rôm rả, niềm vui thật sự của những người trực tiếp phục vụ, bảo vệ Bác.

Nhưng chỉ đến đầu giờ làm việc chiều hôm ấy, Bác cho gọi anh Vũ Kỳ đến và ân cần bảo:

– Chiếc máy điều hòa nhiệt độ tốt đấy, các chú có thể đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là được rồi.

… Khoảnh khắc ấy tôi bỗng nhớ lần Bác đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội. Ðang lúc Bác thăm hỏi sức khỏe anh em thì có một đồng chí thương binh hỏng mắt nhờ đồng chí y tá xin được vào gần Bác, vừa quay lại thì Bác cũng đi tới. Bác đưa tay đón đồng chí thương binh. Hình như có linh cảm đặc biệt, đồng chí thương binh hỏng mắt bước tới ôm chầm lấy Bác, nghẹn ngào hai tiếng “Bác ơi”. Hai dòng nước mắt lăn xuống gò má còn chưa lành hẳn vết thương. Bác cũng lặng đi giây lát rồi Bác thăm hỏi đồng chí thương binh hỏng mắt và các đồng chí đang có mặt. Buổi chiều hôm ấy trời nóng, Bác vừa hỏi chuyện vừa cầm chiếc quạt giấy của Bác quạt cho anh em. Nhiều đồng chí xúc động cứ nhìn Bác mãi không nói được. Giờ đây, trong căn phòng mát mẻ, chắc Bác chạnh lòng nghĩ đến các đồng chí thương binh.

Anh Vũ Kỳ và các đồng chí phục vụ đã hết lời đề nghị, nhưng Bác vẫn không thay đổi ý kiến.

———–

(*) Theo Phạm Lê Minh – trích trong cuốn sách Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ – NXB Thông tấn, Hà Nội, 2003, Tr.178.

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ chăm sóc cán bộ(*)

Tháng 2-1941, Bác Hồ về Pác Bó. Ðể trực tiếp chỉ đạo phong trào và bồi dưỡng cán bộ, Bác cho mấy anh em Huyện ủy Hà Quảng (Cao Bằng) đang hoạt động bí mật ở cùng với Bác…

Hồi ấy, có đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm phụ trách bảo vệ cơ quan Bác và Tổng Lục Khu. Còn tôi thì được phân công trực tiếp phụ trách Tổng Hà Quảng (gồm những xã Sóc Hà, Nà Sắc và vùng mỏ Sắt bấy giờ), kiêm nhiệm vụ kiểm tra Tổng Thông Nông.

Trước khi chúng tôi đi xuống cơ sở công tác, bao giờ Bác cũng bảo báo cáo chương trình, kế hoạch cụ thể cho Bác nghe. Bác bổ sung thêm rồi bảo chúng tôi nhắc lại thật đúng rồi mới cho đi. Do đó, bọn tôi rất vững dạ, như người đi rừng có địa bàn trong tay.

Cứ mỗi lần có đồng chí rời hang là Bác lại lo lắng: Lo sao anh em được bình yên trở về, thoát khỏi mọi sự bất trắc dọc đường. Khi thấy anh em về, Bác vui hẳn lên. Câu đầu tiên Bác nói là hỏi han sức khỏe, sau đó tuyên bố cho anh em nghỉ ngơi, tắm giặt, rồi mới làm việc. Lúc ấy, phong trào đang lên, công việc rất nhiều, nên anh em chúng tôi không ai muốn nghỉ, đợi được báo cáo tình hình, xong là đi ngay. Nhưng Bác không nghe.

Thỉnh thoảng đi công tác về, chúng tôi lại được Bác chia cho kẹo. Hỏi đồng chí Cáp mới biết đó là quà của nhân dân Pác Bó đi chợ mua về biếu Bác. Bác chỉ ăn một, hai chiếc. Còn bao nhiêu gói lại, cất vào ống tre, Bác bảo:

– Ðể dành cho các chú ấy đi công tác về ăn.

Quà Bác tuy nhỏ, nhưng cử chỉ của Bác là cả một tình thương, có sức động viên chúng tôi rất mạnh. Mỗi lần đi lâu ngày mới về, bao giờ Bác cũng dặn đồng chí cấp dưỡng cố gắng tìm mua thức ăn về “thết tiệc” anh em. Gọi là tiệc, nhưng chỉ thêm vài miếng thịt lợn luộc chấm muối.

Ở hang, nhưng hàng ngày Bác vẫn giữ đúng giờ giấc. Ðến giờ, nếu ai ngủ chưa dậy thì Bác khẽ đánh thức. Song, đối với anh em chúng tôi mới đi công tác về, Bác bảo anh em khác phải im lặng, giữ ý từng bước chân, để chúng tôi được ngủ thêm một lúc.

Tôi còn nhớ một lần, đồng chí Ðức Thanh đi công tác về bị ốm, nằm liệt giường. Bác buồn lắm. Bác bảo đồng chí Cáp vào rừng lấy lá thuốc về cho đồng chí Thanh uống và xông. Chốc chốc Bác lại đến sờ trán đồng chí Ðức Thanh.

Ngồi làm việc ở một góc hang, tôi im lặng theo dõi từng cử chỉ của Bác. Nhìn nét mặt lo âu của Bác, tôi bỗng nhớ đến lúc còn bé, bị ốm chốc chốc mẹ lại sờ trán tôi, nét mặt vui buồn đều gắn vào độ nóng, lạnh trong người tôi truyền qua bàn tay răn reo của mẹ. Cử chỉ của Bác trong lúc này chẳng khác dáng dấp của mẹ tôi khi xưa.

Những tình cảm sâu sắc của Bác đối với chúng tôi hơn ruột thịt, đã động viên chúng tôi vượt qua mọi khó khăn, gian khổ những năm tháng sống trong hang giữa rừng.

———–

(*) Trích từ cuốn: Bác Hồ sống mãi với chúng ta (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005, trang 596, 597.

Theo HOÀNG TÔ/nhandan.com.vn
(Nguyên Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam Khu tự trị Việt Bắc)

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Lộc bất tận hưởng

Đó là câu tục ngữ, câu răn dạy, khuyên bảo con người, có nghĩa là “có lộc không nên hưởng hết một mình” mà nên chia sẻ cho người khác.

Tháng 8 năm 1945, trên đường từ chiến khu về Hà Nội, dừng chân ở một căn nhà làng Gạ, ngoại thành Hà Nội. Khi gia đình dọn cơm, Bác đã sẻ phần thịt gà ngon, mềm vào bát cụ chủ nhà.

Trong những tháng năm kháng chiến chống Pháp, trên Việt Bắc, ăn cơm cùng với các chiến sĩ bảo vệ, anh nuôi, bao giờ Bác cũng chia đều thức ăn cho cả mâm. Chị Minh Phương giúp việc chăm sóc sức khỏe Bác bày ra cái mẹo ninh gà nhừ, ít nước đặc để riêng cho Bác. Bác biết ý, nói vui: “Thế là khôn ăn cái, dại ăn nước”. Rồi Bác cũng lấy thìa san cho đủ người trong bữa ăn.

Một lần, Văn phòng Chủ tịch nước nhận được một miếng cao đặc mật ong của các vị lãnh đạo Đảng Trung Quốc tặng. Anh em đưa lên Bác để “Bác dùng cho khỏe”.

Bác cho gọi đồng chí cấp dưỡng lên, nói:

– Chú đem miếng cao này xuống bếp, bỏ vào nồi, đong đủ 24 bát nước, có ít gạo tẻ, gạo nếp càng tốt, đun lên, chia đều cho 24 người của Văn phòng.

Bác cũng chỉ là một trong 24 suất ấy. Đồng chí cấp dưỡng tần ngần chưa chịu đi. Bác cười nói:

– Làm đi chứ. “Lộc bất tận hưởng” mà chú!

“Trích trong “120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy
(st).
bqllang.gov.vn

Thắt lưng của Bác

Trong suốt cuộc đời hi sinh vì dân vì nước, Bác đã gần như quên đi những gì thuộc về bản thân mình. Chúng ta, và cả người nước ngoài, đã biết tới đôi dép cao su, những chiếc áo, chiếc quạt, viên gạch sưởi lưng… vô cùng giản dị của Bác.

Nhân đọc một tư liệu lịch sử mới xuất bản của Trung Quốc (Chu Ân Lai và Hội nghị Geneve, Nhà Xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc) có một tình tiết mới rất cảm động về chuyện riêng của Bác Hồ mà lâu nay chúng ta chưa biết. Chuyện xoay quanh chiếc thắt lưng.

Thời kỳ đó là tháng 6 năm 1954. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam tới Geneve để đàm phán. Hội nghị kéo dài được gần một tháng thì các bên tạm nghỉ để về nước báo cáo lập trường các bên cho chính phủ mình.

Phía Trung Quốc đã mời phái đoàn Việt Nam sang Trung Quốc để trao đổi. Phái đoàn Việt Nam do Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu.

Hôm đó, Bác Hồ nghỉ tạm tại nhà nghỉ Đảng bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Tây. Sáng Bác Hồ đi họp. Ở nhà, một đồng chí của bạn đi kiểm tra phòng Bác xem các đồng chí phục vụ phòng có chu đáo không. Sau khi kiểm tra một lượt, đồng chí này thấy trên sàn nhà một mảnh vải đã cũ, dài khoảng 80cm, rộng khoảng 10cm, màu vàng đã bạc. Đồng chí này cầm lên xem, không hiểu là vật gì. Đoán đây là dây gói tài liệu rớt ra sau khi cầm tài liệu đi, đồng chí này bỏ mảnh vải vào thùng đựng giấy rác.

Bác đi họp về, hỏi: “Thắt lưng của tôi đâu? Tôi thường để sau ghế tựa nên bị rơi xuống đất”. Mọi người tìm và đưa lại cho Bác.

Một chiếc thắt lưng bằng da, bằng dây dù… cũng không đắt hơn một miếng vải là bao. Nhưng vấn đề ở đây: Cái quí báu trong nhân cách của Bác là tính cách luôn hi sinh, cái riêng bao giờ cũng là tối thiểu, cái dành cho sự nghiệp chung bao giờ cũng được ưu tiên tối đa. Phẩm chất trong sáng thể hiện thường trực trong những cử chỉ của Bác, dù nhỏ nhất.

Thời điểm đó, sau chiến dịch Điện Biên Phủ, thắt lưng chiến lợi phẩm thu được rất nhiều, nhưng Bác vẫn chỉ tiếp tục dùng chiếc thắt lưng quen thuộc cũ kỹ của mình.

Nguồn: báo Tuổi Trẻ (DT)
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Câu chuyện về tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ thuở còn ấu thơ tôi đã được nghe những lời ru ngọt ngào: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Vâng! Chủ tịch Hồ Chí Minh – một con người sinh ra từ chân lí – người Việt Nam đẹp nhất. Người đã đi xa “Phòng lặng rèm buông tắt ánh đèn” nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức đã trở thành bất tử. Người là kết tinh và toả sáng những gì ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của trí tuệ và đạo đức Việt Nam. Phẩm chất và đạo đức của Người mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho dân tộc Việt Nam noi theo.

Trong suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Tư tưởng đạo đức của Người bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc đã được hình thành trong suốt chiều dài của lịch sử, kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại để lại. Đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề xướng và cùng Đảng ta dày công xây dựng bồi đắp đó chính là “Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. Người coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông núi. Bởi lẽ con đường giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước không phải là một đại lộ thẳng tắp, nó đầy chông gai và gian khổ đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mọi người, mọi thế hệ. Việc chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng là công việc làm thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, và toàn xã hội.

Ngạn ngữ có câu. “Mọi việc bắt đầu từ lời nói”. Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thủy là hành động”. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh lời nói luôn đi đôi với hành động, điều đó đã trở thành một nguyên tắc sống. Người không chỉ là nhà giáo dục đạo đức mà còn là biểu tượng cao đẹp của đạo đức. Gần nửa cuộc đời bôn ba tìm đường cứu nước, chịu bao đắng cay gian khổ Người vẫn một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, sống giản dị, thanh bạch, gần gũi yêu thương con người. Cuộc đời của Người, tấm lòng của Người với quê hương đất nước là câu chuyện sinh động nhất về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong vô vàn những mẩu chuyện về Người, tôi thực sự tâm đắc và thấm thía trước bài học đạo đức lớn về tấm lòng trung hiếu, nhân nghĩa của Người qua câu chuyện: “Tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu chuyện được kể theo lời kể của các đồng chí cảnh vệ của Bác gồm Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam in trong cuốn: “Những mẫu chuyện đạo đức của Bác Hồ”

Hàng ngày, Bác thường căn dặn anh em cảnh vệ chúng tôi (Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam) phải luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, triệt để tôn trọng nội quy chung. Bác bảo: “Khi bàn bạc công việc gì, đã quyết định thì phải triệt để thi hành. Nếu đã tự đặt ra cho mình những việc phải làm thì cương quyết thực hiện cho bằng được”.

Một hôm chúng tôi theo Bác đến thăm một ngôi chùa lịch sử. Hôm ấy là ngày lễ, các vị sư, khách nước ngoài và nhân dân đi lễ, tham quan chùa rất đông. Bác vừa vào chùa, vị sư cả liền ra đón Bác và khẩn khoản xin Người đừng cởi dép, nhưng Bác không đồng ý. Đến thềm chùa, Bác dừng lại để dép ở ngoài như mọi người, xong mới bước vào và giữ đúng mọi nghi thức như người dân đến lễ.

Trên đường từ chùa về nhà, xe đang bon bon bỗng đèn đỏ ở một ngã tư bật lên. Đường phố đang lúc đông người. Xe của Bác như các xe khác đều dừng lại cả. Chúng tôi lo lắng nhìn nhau. Nếu nhân dân trông thấy Bác, họ sẽ ùa ra ngã tư này thì chúng tôi không biết làm thế nào được. Nghĩ vậy, chúng tôi bàn cử một đồng chí cảnh vệ chạy đến bục yêu cầu công an giao thông bật đèn xanh mở đường cho xe Bác. Nhưng Bác đã hiểu ý. Người ngăn lại rồi bảo chúng tôi:

– Các chú không được làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình.

Chúng tôi vừa ân hận, vừa xúc động, hồi hộp chờ người công an giao thông bật đèn xanh để xe qua.

(Lược trích theo tác phẩm những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí minh – Sưu tầm).

Một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một bài học đạo đức lớn đã để lại trong tôi biết bao suy nghĩ và cảm xúc. Tôi chợt nhớ tới câu nói nổi tiếng của một nhà hiền triết phương đông: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là Dân là qúy, Nhà nước là thứ yếu, Vua là không đáng kể. Tiếp thu tư tưởng dân là quý, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì qúy bằng nhân dân”. Có thể nói đó chính là tư tưởng dân chủ của Người, nó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Dân chủ không chỉ là một phạm trù chính trị mà còn là một phạm trù đạo đức bởi nó gắn với lý tưởng nhân văn, tôn trọng con người, tất cả vì con người và do con người. Cả cuộc đời của Bác là một tấm gương mẫu mực về việc tôn trọng pháp luật. Từ công việc quốc gia đại sự đến những việc làm trong cuộc sống hàng ngày Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tôn trọng luật lệ, tuân thủ nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật. Là Chủ tịch nước, là lãnh tụ cao nhất của Đảng ở cương vị đầy quyền lực nhưng Người không bao giờ nghĩ đến việc dùng quyền lực. Người luôn coi mình là nô bộc của dân và luôn tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là quyền dân chủ chính trị được thể hiện rõ trong tổng tuyển cử. Không đặt mình ở cương vị là Chủ tịch nước mà hơn tất cả với tư cách là một công dân có quyền bầu cử, ứng cử. Người nói: “Tôi là công dân của một Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa” và Người yêu cầu nhân dân hãy thực hiện quyền công dân của mình để đảm bảo tự do dân chủ thực sự.

Trong tư tưởng dân chủ của mình Bác cho rằng dân chủ phải gắn với quyền hạn. Quyền hạn đi đôi với nghĩa vụ cũng có nghĩa là dân chủ phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Sống trong một xã hội dân chủ ai cũng phải tuân theo những quy tắc chung. Xã hội dân chủ là một đất nước có trật tự kỷ cương đảm bảo cho mọi người cùng có quyền tự do dân chủ như nhau. Đứng đầu Nhà nước, Người rất nghiêm khắc đòi hỏi mọi tổ chức Đảng cùng tuân thủ pháp luật, không ai được đứng trên hay ngoài pháp luật. Đó chính là tư tưởng “phụng công thủ pháp”. Sự thi hành pháp luật còn quan trọng hơn là tạo ra nó, chính vì thế là một lãnh tụ được dân qúy dân yêu nhưng không bao giờ Người cho phép mình đứng trên nhân dân, không bao giờ Người đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính chất đặc quyền đặc lợi. Bước chân vào ngôi chùa cổ Người đã tuân theo đúng quy định với khách thập phương: cởi dép vào lễ chùa. Đó là một cử chỉ giản dị mà vô cùng cao đẹp thể hiện cái tâm trong sáng thành kính của Người trước sự linh thiêng chốn chùa chiền. Đứng trước một ngã tư đèn đỏ, Người đã nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông như bao người dân khác. Chỉ vậy thôi cũng đủ cho ta thấy cái lớn lao vĩ đại của một con người luôn tôn trọng kỷ cương phép nước không nhận bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền nào cho riêng mình.

Không chỉ vậy Người còn luôn tôn trọng và đề cao quyền tự do dân chủ của con người. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người đã nhắc lại lời tuyên bố trong Tuyên ngôn Nhân quyền – Dân quyền 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi” và Người khẳng định : “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Lẽ phải đó đã được Người thực hiện bằng chính cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không theo một tôn giáo nào, nhưng không vì thế mà Người không coi trọng vấn đề tôn giáo. Người chủ trương thực hiện dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo. Dù theo đạo Phật hay đạo Thiên chúa hay bất cứ một tôn giáo nào đều giáo dục con người ta hướng tới cái thiện cái đẹp. Chính vì thế khi bước chân vào ngôi chùa cổ Người thực sự như một phật tử thành tâm hướng thiện. Trước con mắt của du khách nước ngoài, của các vị tăng ni phật tử và bà con, một vị Chủ tịch nước gần gũi hoà mình với nhân dân, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đã khiến họ vô cùng cảm phục.

Đất nước ta đã hội nhập và đang trên đà phát triển. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta không thể phủ nhận những tồn tại yếu kém cũng như những khó khăn thử thách ở phía trước. Vẫn còn đó một số ít cán bộ chưa thực sự gương mẫu, tham ô tham nhũng tài sản của nhà nước, quan liêu hách dịch, cậy thế ỷ quyền nhũng nhiễu nhân dân, coi thường pháp luật . Mặt khác các thế lực thù địch trong và ngoài nước với những âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, luôn đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta thực hiện vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo. Đứng trước các con số khổng lồ về số vụ tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay, tôi thiết nghĩ câu chuyện trên sẽ là bài học đạo đức lớn cho chúng ta noi theo. Vào những năm đầu khi đất nước ta mới giành được độc lập, tuy là một nhà nước còn non trẻ nhưng Bác đã rất chú trọng đến các vấn đề thiết thực trong đời sống như dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và an toàn giao thông.Việc Bác gương mẫu thực hiện đúng những quy định về bầu cử, về luật lệ giao thông đã thể hiện được cái tâm và cái tầm của một người lãnh đạo hết lòng lo cho dân cho nước.

Những mẩu chuyện không xa vời, huyễn hoặc mà rất gần gũi thiết thực đã trở thành một di sản tinh thần quý báu của dân tộc. Đó chính là nhân cách Hồ Chí Minh mà ngày nay đã trở thành nhân cách dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam trong thời đại mới. Vượt qua lửa đạn của chiến tranh, vượt qua quy luật khắc nghiệt của thời gian, những bài học đạo đức của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Mọi thế hệ người Việt Nam đã và đang nguyện suốt đời học tập rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có biết bao con người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nêu gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả chúng ta học tập. Trong vô vàn những con người ấy phải kể đến vị trí thức yêu nước ( luôn là thần tượng của Tôi trong những ngày còn ngồi ở giảng đường trường Đại học luật TP.HCM người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ .Con người ấy, cuộc đời ấy đã làm xúc động hàng triệu trái tim người Việt Nam nói chung và những người là luật gia, luật sư như chúng tôi nói chung bằng tấm gương đạo đức, bằng sự cống hiến cho sự nghiệp xây dựng nền pháp luật non trẻ của nước CHXHCN Việt Nam .

Tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- Người thầy vĩ đại của mọi thời đại – là một người cán bộ pháp chế của Tổng Công ty Điện lực TP.HCM, một luật gia của Chi hội luật gia EVNHCMC, luật sư của Đòan Luật sư TP.HCM tôi luôn tâm niệm và đang không ngừng rèn luyện để có được những phẩm chất đạo đức cách mạng không thể thiếu của một người cán bộ làm công tác pháp luật. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tôn chỉ sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật được xem là chủ trương quan trọng nhất trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, với vai trò vừa là cán bộ pháp chế, vừa là thành viên chi hội luật gia Tổng công ty Điện lực TP.HCM, tôi sẽ luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ CNV trong Tổng Công ty Điện lực TP.HCM nói chung và Công ty Điện lực Gia Định nói riêng và sẽ không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trở thành một tấm gương đạo đức và tự học. Là luật gia chúng tôi không chỉ phổ biến tuyên truyền pháp luật, chính sách của Đảng và nhà nước và người lao động mà còn phải đi đầu trong công tác chống lại mọi hành vi tham nhũng lãng phí, các lọai tội phạm đi ngược lại sự phát triển của đất nước, khai phá mọi rào cản sự phát triển của xã hội hướng tới mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một nhiệm vụ vô cùng cao cả và thiêng liêng, chính vì thế tôi luôn cố gắng rèn mình, sửa mình từ lời nói, cử chỉ, hành động của minh trong công việc hàng ngày, trong họat động của Hội luật gia và trong những vụ việc do Đòan luật sư TP.HCM phân công, tôi nguyện suốt đời sống, chiến đấu, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng dẫn cho đồng nghiệp, nhân viên dưới quyền có thể kế tục sự nghiệp quang vinh mà Người để lại.

Từ những bài học đạo đức của Người, đặc biệt qua câu chuyện tôi vừa kể trên đây, tôi thực sự xúc động và kính phục trước cuộc đời của một vị lãnh tụ vĩ đại, một tấm gương mẫu mực của mọi thời đại. Tôi luôn thầm hứa và nhắc nhở mình phải sống xứng đáng với nghề nghiệp chân chính của mình : Người luật sư của nhân dân.

Có thể nói cuộc đời và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử và đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đó chính là chất người cộng sản toả ánh hào quang soi đường chỉ lối cho mọi thế hệ người Việt, cho bạn, cho tôi và cho tất cả chúng ta. Qua những câu chuyện kể về Người có thể mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau nhưng bao trùm lên tất cả là tình cảm trân trọng biết ơn.

Luật gia Khương Kim Tuấn – PCGĐ
hcmpc.com.vn

Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

 – Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho  Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

eBác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954. Ảnh TL.

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

Trần Kỳ – Tap chí Hồn Việt
bee.net.vn

Tôi vẽ Bác Hồ (*)

… Khi thấy tôi vẽ cái bàn làm việc của Bác trong một bức tranh, các đồng chí phục vụ Bác hỏi tôi:

– Anh biết chuyện cái bàn này chưa?

– Chưa.

– Khi trước chưa có cái bàn này Bác vẫn phải ngồi xếp bằng, làm việc trước một cái bàn con. Nhìn Bác già yếu mà phải khom lưng mãi thế, thương quá, chúng tôi mới bàn nhau kiếm cái bàn này. Bác đi công tác về, thấy cái bàn. Bác bảo: Làm việc với cái bàn con trên nhà đấy, đủ rồi, các chú phải nhọc công tìm kiếm làm gì?

Có lần, anh Ðịnh, người nấu ăn cho Bác thấy Bác làm việc nhiều, nghe người ta nói rượu ba ba uống bổ lắm, anh tìm mua một con ba ba, lấy tiết pha rượu dâng Bác. Thấy cốc rượu, Bác hỏi:

– Gì đấy chú?

– Thưa Bác, rượu ba ba.

– Ở đâu vậy. Chú mua đấy à?

Anh Ðịnh sợ quá phải nói dối:

– Dạ, con ba ba cháu bắt được. Nghe đồng bào nói rượu huyết ba ba người lớn tuổi uống khỏe ra. Cháu làm để Bác dùng…

– Thôi, Bác không uống đâu. Bác cho chú đấy.

Lúc đó là sáng sớm. Anh Ðịnh ấp úng không biết nói sao, đành phải mang xuống nhưng lòng áy náy không yên. Khoảng chín giờ, anh lại bưng cốc rượu lên. Bác lại hỏi:

– Gì đấy chú?

– Dạ, cháu nghe nói rượu ba ba bổ lắm. Bác mệt…

– Bác đã nói là Bác không uống đâu.

Anh Ðịnh đành mang xuống lần thứ hai. Trưa đến lúc Bác ngồi ăn cơm, lại thấy cốc rượu ban sáng trên bàn. Bác nhìn anh Ðịnh mỉm cười rồi cầm cốc rượu uống. Nhưng Bác chỉ uống một nửa, còn một nửa, Bác đưa lại:

– Bác uống thế là đủ rồi. Phần này Bác cho chú đấy!

Mỗi bữa Bác chỉ ăn hai bát cơm. Tôi ái ngại, hỏi Bác:

– Cháu thấy Bác ăn ít quá, sức khỏe có kém không?

– Bác ăn thế, thấy sức khỏe cũng bình thường.

Tôi bày anh Ðịnh làm thêm nhiều món, biết đâu lạ miệng có khi Bác ăn được nhiều chăng? (Mà nào có gì đâu, chỉ là rau rừng, đọt bí, măng nứa vậy thôi). Nhìn cơm, nhìn thức ăn, Bác nói với anh em:

– Hôm nay các chú làm cơm cho Bác nhiều quá. Bác ăn còn thừa, đổ đi cũng không ai biết, nhưng Bác không nỡ. Ðồng bào mình còn đang thiếu thốn…

Một cái bàn, một vài bát cơm, một hai đĩa rau có gì là nhiều? Nhưng Bác vẫn không muốn nhận cho mình bất kỳ một cái gì nhiều hơn người khác, tuy rằng công việc của Bác nặng nề, to lớn hơn bất kỳ người nào khác.

Một hôm thấy Bác thay áo ra, có đồng chí phục vụ vội cầm xuống suối giặt. Anh vừa ngồi xuống tảng đá, thì có tiếng người gọi, anh vội bỏ áo đấy chạy đi. Một lát sau, trở lại không thấy cái áo đâu. Anh lo quá, cứ men theo suối đi tìm. Tìm mãi vẫn không thấy, anh đành về thưa thật với Bác, Bác cười nói:
– Bác xuống suối thấy áo, Bác đã giặt và phơi kia rồi. Lần sau chú đừng bỏ như thế nhỡ nước lũ trôi mất, lãng phí…

————-

(*) Theo Diệp Minh Châu – Trích trong cuốn sách Bác Hồ sống mãi với chúng ta – (NXB CTQG, HN, 2005, T2, trang 520).

Theo nhandan.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn