Thư viện

Vị tướng ba lần được gặp Bác Hồ

Gần 60 năm tham gia hoạt động cách mạng, 51 tuổi quân, Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đã vinh dự ba lần được gặp Bác Hồ. Kỷ niệm ấy theo ông suốt cuộc đời và luôn động viên, khích lệ ông vượt qua khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó. Kể về những kỷ niệm ấy, ông bồi hồi xúc động :

“Năm 1937, tôi tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh. Từ năm 1941 đến năm 1944, tôi được Tổng bộ Việt Minh cử đi học Trường quân sự Hoàng Phố của Trung Quốc. Đoàn học viên Việt Nam có hơn 30 người, do đồng chí Hoàng Văn Thái làm trưởng đoàn.

Tốt nghiệp xong, chúng tôi được chuyển đến Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc để học tiếp 5 tháng nữa chuyên về biệt động quân. Trường quân sự Hoàng Phố này do liên quân Trung – Mỹ tổ chức, hiệu trường là Thiếu tướng Từ Quang Anh. Học viên được biên chế hỗn hợp của người Trung Quốc và Việt Nam. Tôi được cử làm tiểu đội trưởng.

Bị chính quyền Quốc dân Đảng bắt giam trái phép tại Liễu Châu, sau khi được trả tự do, Bác Hồ tìm cách liên lạc với tướng Trương Phát Khuê – Tư lệnh Đệ tứ chiến khu để bàn việc hợp tác chống Nhật. Trên đường về nước, khi đi qua Nam Ninh, Bác đến thăm đoàn học viên quân sự Việt Nam chúng tôi đang học tập tại đây. Trong không khí thân tình, Bác hỏi thăm việc học tập, ăn ở của học viên, căn dặn chúng tôi phải đoàn kết nội bộ và đoàn kết với bạn, giữ nghiêm kỷ luật, học tập tốt để sẵn sàng về nước chiến đấu. Đồng chí Hoàng Văn Thái cử tôi đi cùng Bác đến gặp vị thiếu tướng hiệu trưởng nhà trường để xin cho số học viên Việt Nam đang học ở đây được về nước chiến đấu chống Nhật. Trên đường đi, bác hỏi thăm tôi về quê quán, gia đình, việc học hành và động viên phải hăng say học tập, tu dưỡng rèn luyện. Không may hôm ấy hiệu trưởng nhà trường đi vắng nên Bác đã viết thư để lại, sau đó yêu cầu của Bác đã được nhà trường giải quyết. Trên đường về trời đã quá trưa, nhìn Bác người gầy xanh vì mới ra tù, tôi mời Bác vào hiệu Cao lâu với dụng ý đãi Bác một bữa cơm ngon để bồi bổ thêm sức khoẻ. Nhưng Bác cười và nói:

– Đất nước ta còn bị đế quốc đô hộ, dân ta đang phải sống cực khổ bần hàn, nên Bác cháu ta không được ăn uống lãng phí. Bây giờ hai Bác cháu ta đi ăn cháo quẩy.

Vừa ăn, Bác vừa nói chuyện vui vẻ. Ăn xong, Bác dứt khoát trả tiền chứ không để tôi trả. Qua đây tôi học được ở Bác lòng yêu nước, thương dân, ý thức tiết kiệm và tính chủ động trong mọi công việc. Bác không muốn làm phiền ai dù chỉ là việc nhỏ nhất.

… Mùa đông năm 1944, đoàn học viên chúng tôi tốt nghiệp khoá huấn luyện biệt động quân và trở về Pác Bó để nhận nhiệm vụ. Một hôm tôi và đồng chí Lê Thiết Hùng được lệnh đến gặp Bác Hồ. Bác tiếp chúng tôi tại ngôi nhà sàn nhỏ trong khu căn cứ. Sau khi phân tích tình hình trong nước và quốc tế, những thuận lợi và khó khăn của ta và địch, Bác nói chủ trương của Việt Minh lúc này là tiếp tục thành lập các đơn vị vũ trang tập trung để khi thời cơ đến sẽ cùng nhân dân đứng dậy cướp chính quyền. Bác giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Thiết Hùng và tôi về Lạng Sơn vận động quần chúng nhân dân ủng hộ Việt Minh, thành lập đội du kích tập trung làm nòng cốt đấu tranh chống địch. Bác cử đồng chí Lê Thiết Hùng là đại diện của Tổng bộ Việt Minh, còn tôi trực tiếp chỉ huy đội du kích. Khi chia tay, bác căn dặn chúng tôi rất tỉ mỉ và chúc chúng tôi sớm lập được chiến công để báo tin cho Bác biết.

Vâng lời Bác, chúng tôi hăm hở bắt tay vào công việc. Trong thời gian ngắn, lực lượng cách mạng ở huyện Tràng Định (Lạng Sơn) phát triển rất nhanh, hầu như vùng nông thôn do ta làm chủ, địch chỉ quản lý được thị trấn và vùng phụ cận. Chúng tôi đã thành lập được đội du kích tập trung khoảng vài chục người, vũ khí trang bị chủ yếu là súng kíp, súng trường mua lại của quân Tưởng Giới Thạch.

Tháng 5 năm 1945, Đội du kích tập trung Lạng Sơn tổ chức đánh úp một đồn lính khố xanh đóng ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc, bắt sống tên chỉ huy đồn và diệt tên bang trưởng (trưởng khu phố nhỏ thuộc đồn). Sau khi giáo dục về chính sách của Việt Minh, chúng tôi tha cho viên chỉ huy này về đoàn tụ với gia đình. Nhưng em trai của tên bang trưởng chạy thoát sang Trung Quốc cầu cứu đưa lính biệt động- thổ phỉ quốc dân đảng sang đánh để chiếm lại đồn. Đồng chí Lê Thiết Hùng lo tổ chức lực lượng phòng thủ trên đồn và phân công tôi xuống thương thuyết với chúng. Rất may viên chỉ huy lính biệt động lại chính là học viên trong tiểu đội do tôi làm tiểu động trưởng khi học ở trường biệt động, nên tôi giải thích cho hắn biết mục đích của chúng tôi đánh đồn và cùng bàn biện pháp chuẩn bị để đối phó với quân Nhật. Viên chỉ huy nghe theo và rút quân về bên kia biên giới.

… Mùa hè năm 1968, từ Mặt trận Tây Nguyên ra Bắc công tác, tôi được tham gia đoàn cán bộ Quân giải phóng miền Nam đến thăm và báo cáo tình hình với Bác. Đoàn của chúng tôi có 8 cán bộ chỉ huy cấp cao đang trực tiếp chiến đấu ở chiến trường do đồng chí Trần Văn Trà – Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam dẫn đầu.

Bác tiếp chúng tôi trong ngôi nhà tại Phủ Chủ tịch. Khi chúng tôi đến, Người đã ngồi chờ sẵn. Bác hơi gầy, da xanh, riêng cặp mắt thì vẫn sáng ngời. Chúng tôi lần lượt đến bắt tay và chúc sức khoẻ Bác. Bác mời chúng tôi ngồi, ăn bánh kẹo, uống nước và kể chuyện chiến trường cho Bác nghe. Đồng chí Trần Văn Trà thay mặt đoàn báo cáo vắn tắt với Bác tình hình chiến đấu của quân và dân miền Nam. Ta đã giành được những thắng lợi to lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đẩy chúng vào thế bị động về chiến lược. Địch đang tìm mọi cách đối phó hòng giành lại những vùng đã mất… Quân và dân miền Nam đoàn kết quyết tâm chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam để đón Bác vào thăm. Bác biểu dương quân và dân miền Nam đánh giỏi, thắng lớn, Bác căn dặn chúng tôi tuyệt đối không được chủ quan khinh địch. Vì Mỹ – Nguỵ tuy thua đau nhưng còn rất ngoan cố, chúng chưa từ bỏ ý đồ xâm lược đất nước ta mà sẽ còn tiến hành nhiều mưu đồ xảo quyệt. Quân dân miền Nam phải hết sức cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ và quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Chúng tôi ghi nhớ những lời căn dặn sâu sắc đó và lưu luyến chia tay Bác. Mọi người thầm hứa sẽ cố gắng chiến đấu để góp phần giải phóng miền Nam, để đồng bào và cán bộ chiến sĩ miền Nam được vinh dự đón Bác vào thăm.

Tôi không ngờ đó là lần cuối cùng được gặp bác.

Phạm Hoè
(Ghi theo lời kể của G.S, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong ký ức của giới văn nghệ sĩ

Thông thường, người ta biết đến nhà văn hoá Hồ Chí Minh, một quan điểm văn hoá mác – xít chân chính, một bản sắc văn hoá Việt Nam đầy tính sáng tạo trong mối liên hệ với thực tiễn lịch sử, ở sáng tác thơ văn của Người. Nhưng những gì có mối liên hệ với văn hoá trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người đã làm chúng ta phải ngạc nhiên và thán phục bởi cái bình diện vừa rộng lớn vừa sâu sắc của nó.

Bên cạnh những sáng tác thơ văn, chính luận, Người đã từng vẽ tranh, chụp ảnh, viết kịch, phê bình phim… Đối với âm nhạc – một loại hình nghệ thuật đặc thù tưởng như rất trừu tượng, chúng ta cũng tìm thấy những nét riêng có liên quan tới hoạt động cách mạng và quan điểm văn hoá của Người.

Trong các tiểu sử, hồi ký, truyện ký, chuyên luận về Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy sự hiện diện của âm nhạc như một nguồn nuôi dưỡng tinh thần và tình cảm dân tộc, một thành tố tạo nên diện mạo nhà văn hoá, một vũ khí và phương tiện đấu tranh cách mạng, một đối tượng được cảm thụ và đánh giá trên quan điểm thẩm mỹ.

Âm nhạc dân tộc đã đi vào tâm hồn và tình cảm của Bác ngay từ thời thơ ấu. Dù sau này phải rời quê theo cha vào kinh đô Huế từ thời niên thiếu, đi dạy học ở Phan Thiết, làm nghề khuân vác ở bến cảng nhà Rồng, rồi xuất dương tìm đường cứu nước suốt gần nửa thế kỷ đến khi trở thành lãnh tụ của dân tộc Bác vẫn nhớ đinh ninh những làn điệu, những câu hát dân gian ở quê nhà. Chính vì vậy, sau này khi gặp gỡ các nghệ sĩ đến thăm và biểu diễn Bác thường nói: “Lúc còn nhỏ Bác nghe nhiều cụ ở Nghệ An hát ví phường vải và các điệu dân ca Nghệ Tĩnh rất hay“. Có một lần đoàn văn công quân khu IV đến thăm và biểu diễn cho Bác xem, một diễn viên hát điệu ví đò đưa với câu mở đầu “Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục...” Bác cười và nói: “Ở Nghệ An người ta gọi là nác chứ không phải là nước”. Một diễn viên khác hát điệu hò khoan, nhưng sau mỗi câu lại không có người hát xen kẽ. Bác liền bảo: “Các cháu không hò khoan theo à?”. (Sách Bác Hồ với văn nghệ sĩ).

Ta thấy rõ Bác không chỉ nhớ từng chi tiết lời ca, nhớ các làn điệu mà cả  kết cấu của những làn điệu dân ca quen thuộc. Xin lưu ý rằng câu chuyện trên diễn ra vào năm 1969, năm Bác 79 tuổi, mùa xuân cuối cùng trong cuộc đời của Bác, trước khi Bác đi xa.

Nhà cách mạng lão thành Lê Văn Hiến kể: “… Ở chiến khu trong các hội nghị, các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ thường thích nghe tôi hát tuồng…. Có lần trong một hội nghị rất đông, tôi hát lời của “Công chúaTrại 3” tự đấu tranh với bản thân để theo chồng (là Địch Thanh)… Hát đến đó tôi ngừng lại cho như thế là đủ. Bỗng Bác bảo tôi tiếp thêm:

“Hữu tình mà hoá vô tình
Bơ vơ thê thiếp, lênh đênh nỗi chàng

Sao Bác có thể nhớ lời của nhân vật rành đến thế? Bác động viên tôi hát tiếp. Thấy hào hứng của Bác đối với nghệ thuật tuồng truyền sang mọi người. Nhiều lần cả những khi tiếp khách quý, tôi thấy Bác thường cho mời các đoàn tuồng, chèo đến biểu diễn.

Vốn cổ truyền quý báu của dân tộc, dù ở miền nào, địa phương nào đều được Bác trân trọng và cảm thụ với niềm xúc động sâu sắc. Bác tìm thấy ở di sản văn hoá tinh thần ấy một ngọn nguồn, một nền tảng để xây dựng văn hoá mới của đất nước, bên cạnh việc hấp thụ tinh hoa của loài người.

Nhưng quan điểm của Người trong công cuộc bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật dân tộc là phải biết gạn đục khơi trong, “tránh phục cổ một cách máy móc” (Thư gửi Hội nghị cán bộ văn hoá ngày 28/2/1957). Như vậy, việc giữ gìn và bảo tồn vốn âm nhạc cổ truyền phải gắn với việc phát huy, phát triển. Phát triển nhưng không làm sai lạc, mất đi cái tinh tuý cái bản sắc của nó : “Chớ có gieo vừng ra ngô”.

Sự cảm thụ tinh tế, sâu sắc của Bác đối với âm nhạc dân tộc, quan điểm của Bác trong việc giữ gìn, phát huy những tinh hoa âm nhạc dân tộc, không tách rời sự chăm sóc ân cần của người đối với văn nghệ sĩ, trong đó có những nghệ sĩ hoạt động ở lĩnh vực âm nhạc cổ truyền dân tộc. Có biết bao câu chuyện cảm động về mối quan hệ này.

Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Nho Tuý đã không ngờ cái nghề diễn tuồng trước đây bị xem là “xướng ca vô loài” lại được Bác Hồ và các đồng chí Trung ương ngồi xem trân trọng đến thế…. “Bác còn bước lên sân khấu bắt tay anh chị em tôi, lại ân cần dặn dò: “Nghệ thuật của ông cha ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn“.

Qua các đoạn hồi ký của nghệ sĩ Thương Huyền chúng ta được biết chị là một trong những nhà hoạt động nghệ thuật may mắn và vinh dự được sự chăm sóc và chỉ bảo ân cần của Bác ngay từ những ngày đầu thành lập chính quyền cách mạng “Ngay từ lúc còn là một cô gái 20 tuổi, hát trong những cuộc hội họp của quần chúng sau những ngày Cách mạng Tháng Tám, tôi đã được gặp Bác. Nghe tôi hát, Bác động viên: “Cháu hát tốt lắm, nhưng phải cố gắng, tập thêm nhiều bài mới để phục vụ chiến sĩ, đồng bào và phải chú ý thuộc nhiều dân ca” Thời kỳ tôi ở đoàn ca múa trung ương. Có lần Bác đến thăm chúng tôi biểu diễn vở chèo “Chị Tấm anh Điền”. Diễn xong, Bác cho gọi cô Tấm (do tôi đóng) đến thưởng cho một đĩa kẹo rồi nói: “Hôm nay cháu hát khá hơn các lần trước nhưng vẫn phải cố gắng nhiều hơn”.

Bác Hồ thăm hỏi các văn nghệ sĩ tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III. Ảnh: cand.com

Đối với nghệ sĩ, Bác không chỉ động viên khen ngợi, nhắc nhở phải phấn đấu tiến bộ không ngừng trong nghề nghiệp, mà con có những nhận xét chi tiết về chuyên môn để giúp nghệ sĩ khắc phục những nhược điểm nhằm đem lại hiệu quả  nghệ thuật cao hơn, phục vụ công chúng tốt hơn, Thương Huyền giữ mãi một kỷ niệm đáng ghi nhớ: “Tết năm đó, chúng tôi ăn Tết với trung ương ở ATK (an toàn khu). Riêng tôi thỉnh thoảng được Bác dặn: “Cháu hát hay, nhưng luôn nhớ là phải cố gắng hát thật rõ lời và chậm thôi để người ta hiểu được hết nội dung ý nghĩa của bài hát“. Một lần khác, vào những năm chống Mỹ, chị được mời đến Phủ Chủ tịch để xem phim. Trước khi chiếu phim Bác hỏi những người cùng xem trong cơ quan có thích nghe Thương Huyền hát không, mọi người đồng thanh hưởng ứng. Bác liền nói: “Cô Huyền hát đi, hát ru con Nam bộ, hát quan họ Bắc Ninh tuỳ ý, nhưng nhớ là hát phải thong thả và rõ lời”.

Sự quan tâm chăm sóc của Bác đối với đội ngũ nghệ sĩ, hơn thế nữa, đối với từng người cụ thể, không chỉ là mối quan hệ giữa một lãnh tụ đối với nghệ sĩ mà trước hết là tình thương của người cha, người bác  đối với con cháu. Đó là cái cốt lõi nhân bản đậm bản sắc dân tộc trong đạo đức của Người.

Đối với người nghệ sĩ Bác còn dành sự quan tâm đến đời sống thường ngày và quan hệ xã hội gia đình của họ. Nghệ sĩ  Ái Liên, người đã hoạt động trong ngành nghệ thuật cải lương từ trước cách mạng, đã kể lại những mẩu chuyện cảm động trong lần chị và gia đình được đến thăm và biểu diễn cho Bác nghe. Có lần Bác hỏi: “Cô được mấy cháu rồi? Cháu nhỏ, cô đi biểu diễn vất vả lắm không?” Gặp chị lần khác Bác lại hỏi: “Các cháu khỏe cả chứCô đi biểu diễn thế có khi nào mời bà cụ giúp việc đi xem không?”.

Bác khuyên các nghệ sĩ phải trau dồi, học hỏi vốn âm nhạc dân tộc không chỉ là làn điệu bài bản, các hình thức, phong cách… mà ở cả trong các nghệ nhân, ở những lớp người đi trước. Họ cũng là vốn quý của nghệ thuật dân tộc.

Nghệ sĩ sáo Đinh Thìn  kể lại:  Có một lần sau khi thổi sáo cho Bác nghe, nghe xong Bác gật gù và hỏi anh thổi sáo đã lâu chưa và học ai. Đinh Thìn thưa với Bác về cụ Ly, một nghệ nhân giỏi sáo dạy anh, nay đã gần 70 tuổi. Bác hỏi thân thế và hoạt động của người nghệ nhân và nói:

Thế là tốt, cháu đã gặp thầy rồi đó”.

Bác rất yêu thích âm nhạc dân tộc và quen thuộc nhiều làn điệu dân ca. Chưa có nguồn tự liệu nào cho biết thời trẻ Bác đã tập chơi loại nhạc cụ gì. Vậy mà những năm cuối đời, một lần sau khi nghe nghệ sĩ biểu diễn tiết mục sáo trúc, Bác hỏi:

– Chiếc sáo này cháu tự làm lấy hay mua?
– Dạ thưa Bác cháu tự làm.
– Tự làm như thế là giỏi… trong kháng chiến chiến chống Pháp, Bác thấy các chú bộ đội làm sáo nhanh lắm. Đi hành quân, đi tập đều mang theo thổi rất vui.

Nói rồi Bác cầm ống sáo hỏi cách thổi, bấm ngón, lấy hơi và nghệ sĩ đã kể lại cái phút lạ lùng ấy: “Bác để sáo lên miệng thổi. Không khí trong phòng bấy giờ như ngưng đọng lại, mọi người nín thở chờ đợi tiếng sáo của Bác, Bác lấy hơi, nhẹ thổi, hơi chạy vào trong ống sáo, thoát ra các ngón tay của Bác gợi thành một làn điệu dân ca. Bác thổi vừa dứt thì tiếng vỗ tay trong phòng rộn lên, vừa ngạc nhiên vừa sung sướng”.

Câu chuyện trên đây tưởng như một huyền thoại, nhưng có lẽ không phải huyền thoại. Bởi lẽ hồn nhạc dân tộc từ lâu đã thấm sâu vào trái tim và tình cảm của Người – Một cuộc đời vĩ đại mà 79 mùa xuân xuất hiện trên hành tinh này đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân toàn Đảng và bạn bầu quốc tế.

vietnamnet.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của Giáo sư – bác sỹ Tôn Thất Tùng

Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912, tại Thanh Hoá. Ông lớn lên ở Huế. Khoảng năm 1931, ông ra Hà Nội, học ở Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An) và sau đó là Trường Y.

080916154051-165-747.jpgChủ Tịch Hồ Chí Minh và một số vị trong Chính phủ kháng chiến ở Việt Bắc năm 1948. GS Tôn Thất Tùng, người thứ hai hàng trước, từ phải sang, mặc áo sơ-mi cổ bẻ, hai túi ngực, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế. (Ảnh: hochiminhhoc.com)

Ông muốn sau này sẽ làm một nghề “tự do”, không phụ thuộc vào đám quan lại hay chính quyền thực dân. Năm 1938, khi thực dân Pháp tổ chức thi nội trú cho các bệnh viện, ông là người duy nhất được nhận. Ông đã chọn Khoa Ngoại, Trường đại học Y khoa Hà Nội (nay là Bệnh viện Việt – Đức, Hà Nội) là nơi làm việc của mình.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Cách mạng Thánh Tám nổ ra tại Hà Nội, ông tham gia cướp chính quyền tại Bệnh viện Phủ Doãn, tham gia mổ xẻ ở Hà Đông và chữa bệnh cho các đồng chí Việt Minh ở Bắc Bộ phủ, những nơi mà chính quyền của ta chiếm lại được.

Trong những ngày bừng bừng khí thế của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lần đầu tiên ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông được mời đến chữa bệnh cho Bác. Tại cuộc gặp gỡ này, một “ông già gầy xanh, nhưng có đôi mắt rất sáng” ấy đã để lại trong ông một ấn tượng và niềm tin sâu sắc. Và cũng chính từ lần gặp ấy, “dưới ánh sáng của đôi mắt Bác Hồ”, tâm hồn ông đã đi theo cách mạng.

Mỗi khi đến chữa bệnh cho Bác, sau khi tiêm thuốc xong, Bác hay hỏi chuyện ông về công việc và gia đình. Khi biết tin ông đã có con trai đầu lòng, Bác nói: “Để tôi đặt tên cho nó. Tên chú có bộ mộc, nên đặt cho con chú tên Bách”1

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn, Hà Nội. Cũng như các trí thức khác của nước ta, Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng luôn luôn được Bác quan tâm, giúp đỡ và đặt nhiều niềm tin.

Không lâu sau ngày nước nhà giành được độc lập, thực dân Pháp bội ước, ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng tái chiếm Nam Bộ. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cả dân tộc ta lại tiếp tục một cuộc chiến đấu mới, trường kỳ và gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược. Cũng từ đây ông bắt đầu đi theo kháng chiến, lên chiến khu Việt Bắc cùng với gia đình.

Những năm đầu của cuộc kháng chiến, để tránh sự tàn phá ngày càng dữ dội và ác liệt của bom đạn địch, ông cùng đồng nghiệp phải di chuyển chỗ ở và làm việc nhiều lần, tới nhiều nơi. Cuộc sống cũng như điều kiện làm việc lúc đó vô cùng khó khăn, thiếu thốn, lúc thì ở Hoà Xá, Sơn Tây, khi thì lên Phú Thọ, Chiêm Hoá, Tuyên Quang, v.v.. Tuy vậy, ông vẫn cùng Giáo sư Hồ Đắc Di (là thầy giáo của ông và một nhà phẫu thuật giỏi) xây dựng Trường đại học Y khoa kháng chiến tại làng Ải, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Ông tham gia cứu chữa cho nhiều thương bệnh binh ở các mặt trận, trên các chiến trường, từ Sông Lô, Hoàng Hoa Thám cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông cũng cùng các đồng nghiệp của mình chữa bệnh cho nhân dân ở nhiều địa phương. Có lần ông cùng các đồng nghiệp mổ liên tiếp trong suốt hai ngày đêm liền. Cuốn sách “Viêm tụy cấp tính và phẫu thuật” của ông là cuốn sách khoa học đầu tiên của nước ta được xuất bản khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới được thành lập. Một cuốn sách thuộc về ngành y.

Cũng như nhiều nhà khoa học khác, trong cuộc đời cách mạng của mình, Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng đã có nhiều lần được gặp Bác, được Bác ân cần chỉ bảo và quan tâm chăm sóc. Ông có một kỷ niệm đặc biệt về Bác, một vinh dự mà rất ít người có được, đó là ông được Bác cho phép tự chọn huân chương cho mình.

Năm 1949, bác sĩ Đặng Văn Ngữ từ Nhật về có mang theo hai chủng nấm Pê-nê-xi-lin nô-ta-tum và Strep-tô-mi-xét Gri-dê-ut. Pê-nê-xi-lin nô-ta-tum và Strep-tô-mi-xét Gri-dê-ut dễ gây kháng sinh Pê-nê-xi-lin và Strep-tô-mi-xin mà Quân y ta đang rất cần. Lúc đó ở Việt Bắc còn nhiều khó khăn và dụng cụ y tế còn rất thô sơ. Sau khi thí nghiệm thành công, mỗi chiến dịch, quân y đưa ra tiền tuyến một tổ Pê-ni-xi-lin, để sản xuất kháng sinh dùng ngay ở mặt trận. Đây là một thành tích kỳ diệu mà từ trước đến nay trong các cuộc chiến tranh du kích chưa ai làm được.

Bác rất quan tâm tới việc sản xuất thành công thuốc kháng sinh Pênêxilin, một loại thuốc quý dùng để chữa bệnh cho thương binh. Vì thành tích đó, bác sĩ Đặng Văn Ngữ và ông được thưởng huân chương. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Còn với ông, Bác nói: “Bác cho phép chú lựa một huân chương nào mà chú muốn, chú tự bình bầu đi!”2. Ông đã tự chọn cho mình Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Mấy hôm sau, vào một buổi tối, Bác mời Hội đồng Chính phủ đến dự bữa cơm để trao huân chương cho ông. Bác mời cụ Tôn Đức Thắng gắn huân chương. Bác nói: “Chú Tùng là một xi-đờ-văn (cidevant, danh từ mà cách mạng Pháp 1789 dành cho các nhà quý tộc) mà nay được Chính phủ ta tặng huân chương. Chú phải cố gắng hơn nữa!”.

Nhận Huân chương Kháng chiến đầu tiên là kỷ niệm đẹp nhất trong đời cuộc đời ông, một vinh dự mà ông chưa bao giờ nghĩ tới. Ông kể lại rằng sau này về Hà Nội, Bộ Y tế đề nghị đổi Huân chương Kháng chiến hạng Ba thành Huân chương kháng chiến hạng Nhất, nhưng ông từ chối, vì đó là huân chương duy nhất trong năm huân chương mà ông có, là do Bác Hồ và Bác Tôn trao cho trong những ngày gian khổ ở chiến khu Việt Bắc.Những đóng góp của ông đối với nền y học nước nhà đã được Bác theo dõi rất sát sao. Trong những ngày ở Phú Thọ ông đã nhận được một tấm thiếp của Bác. Tấm danh thiếp đánh máy bằng mực màu tím, trên đó, Bác viết:

“Bác sĩ Tùng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Y tế báo cáo: chú làm việc rất hăng hái. Tôi rất vui lòng. Chú cứ gắng sức. Kháng chiến nhất định thắng lợi. Tổ quốc sẽ nhớ công con hiền cháu thảo. Thím và các cháu đều mạnh khoẻ chứ? Tôi luôn luôn bình an. Gửi chú và thím lời chào thân ái và quyết thắng”3.

Những lời khen ngợi, căn dặn, thăm hỏi ân cần và tình cảm của Bác đã động viên ông rất nhiều, giúp ông làm việc ngày càng tốt hơn trong công tác chuyên môn của mình, bởi ông nghĩ rằng: “Với sự quan tâm của Bác, việc gì mà tôi lại không làm?”.

Năm 1948, ông được chỉ định vào Chính phủ kháng chiến, làm Thứ trưởng Bộ Y tế – một công việc mà ông không muốn lắm, vì ông không quen công tác lãnh đạo. Ông thích làm việc ở một cơ sở sản xuất, như là ở một bệnh viện. Song mỗi tháng được họp Hội đồng Chính phủ một lần do Bác chủ tọa, cũng là dịp để ông được gặp Bác. Mỗi lần được gặp Bác, ông lại như được tiếp thêm tinh thần để làm việc càng tốt hơn.

Từ năm 1954, ông là Giám đốc Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội. Là một bác sỹ, ông cho rằng đối với bệnh nhân phải làm sao gây được cho họ lòng tin ở thầy thuốc. Với ông “sự cảm thông giữa người bệnh và thầy thuốc là yếu tố quyết định của nghệ thuật điều trị”.

Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng là một người nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu gan. Tên ông có trong danh sách những người đã tiên phong xây dựng ngành phẫu thuật gan của thế giới.

Trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, dù phải di chuyển nhiều lần, ở nhiều địa điểm khác nhau, ông vẫn tham gia tổ chức điều trị, phát triển ngành y tế, đồng thời nghiên cứu khoa học, đào tạo sinh viên để xây dựng nền tảng Trường Y khoa Việt Nam. Ông đã từng làm Cố vấn phẫu thuật ngành Quân y của Bộ Quốc phòng.

Với những đóng góp to lớn về y học ở trong nước và quốc tế, ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô, Hội viên Hội quốc gia những nhà phẫu thuật Cộng hoà Dân chủ Đức, thành viên Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris, thành viên Hội Quốc gia Những nhà phẫu thuật Algeri…

Ông đã được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Từ năm 2000, Nhà nước ta đã đặt ra một giải thưởng Y học mang tên ông: Giải thưởng Tôn Thất Tùng.

Giáo sư Malêghi (Pháp) đã viết về ông như sau: “Trường đại học Y khoa Hà Nội có thể tự hào đã có hai thành tựu trong lịch sử của mình, một là đã nghiên cứu lần đầu tiên về cơ cấu các mạch trong gan, hai là lần đầu tiên đã thành công trong việc cắt gan có kế hoạch” (Báo Lyon Phẫu thuật -1964).

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì viết: “Giáo sư Tôn Thất Tùng là một nhà bác học có tiếng, đã từng làm cố vấn quân y cho Bộ Tổng Tư lệnh trong thời kỳ kháng chiến, hiện nay là một chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận cách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta”.

Cố Bộ trưởng Bộ Y tế Đặng Hồi Xuân nhận xét: “Cuộc đời của Giáo sư Tôn Thất Tùng là một bài học sống động và phong phú, một tấm gương trong sáng đối với những người đang sống, nhất là đối với những người làm công tác khoa học và đối với thanh niên”.

Ngót một phần tư thế kỷ, Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng đã sống, làm việc và trưởng thành dưới sự chỉ bảo ân cần của Bác. Khi nghe tin Bác mất ông đã viết những dòng vô cùng xúc động:

“Bác ơi! Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”4./.

————————–

1. Giáo sư Tôn Thất Tùng: Đường vào khoa học của tôi, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1981, tr. 37. Tên PGS, Viện sĩ – bác sĩ Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội.
2. Giáo sư Tôn Thất Tùng: Đường vào khoa học của tôi, Sđd, tr. 49.
3. Giáo sư Tôn Thất Tùng: Đường vào khoa học của tôi, Sđd, tr. 44.
4. Trần Đương: Bác Hồ với Nhân sĩ, Trí thức, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 2005, tr. 140.

baotanghochiminh.vn

Nhớ Bác trong ngày hội lớn

KỶ NIỆM 121 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, 100 NĂM NGÀY NGƯỜI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Thật đặc biệt, trong những ngày tháng năm lịch sử, khi toàn dân đang nô nức chuẩn bị cho ngày bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp cũng là những ngày cả dân tộc Việt Nam hướng tới kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890) và 100 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911).

Bằng tất cả tấm lòng biết ơn vô hạn, nhân dân trên mọi miền đất nước đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm trang trọng, phong phú, thiết thực.

Sáng 18.5, đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Nước, Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dự lễ viếng vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc có các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm.

Các đồng chí nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch Nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số bộ, ngành trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng.  Vòng hoa của đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Nhân dân Nghệ An long trọng kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.     Ảnh: Đ.LNhân dân Nghệ An long trọng kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Đ.L

Cũng trong ngày 18.5, đoàn đại biểu Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng; Đảng uỷ Công an Trung ương, Bộ Công an; Thành uỷ, HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc TP.Hà Nội và các bộ, ngành, đoàn thể trung ương, địa phương đã đến đặt vòng hoa, vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tầng lớp nhân dân thủ đô và các địa phương trong cả nước đã vào lăng viếng Bác, tỏ lòng thành kính nhớ ơn Người.

Sáng 18.5, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An đã về Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên nằm trên địa bàn xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và đến Quảng trường Hồ Chí Minh ở thành phố Vinh dâng hương, dâng hoa, báo công với Bác. Tại Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên và Quảng trường Hồ Chí Minh, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã thắp hương, dâng hoa lên bàn thờ và báo công với Bác; bày tỏ lòng thành kính với công lao trời biển của Bác và hứa sẽ tiếp tục đi theo con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 18.5.     Ảnh: TTXVNLãnh đạo Đảng, Nhà nước vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng 18.5. Ảnh: TTXVN

Cùng ngày, tại đền tưởng niệm các Vua Hùng – công viên Lịch sử văn hóa dân tộc (phường Long Bình, quận 9), Thành ủy, UBND TP.Hồ Chí Minh đã tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ 19.5”. Phát biểu tại lễ phát động, ông Lê Hoàng Quân – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh – nhấn mạnh: Phong trào trồng cây, trồng rừng, bảo vệ rừng đã mang lại lợi ích to lớn và trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là hoạt động thiết thực kỷ niệm Ngày sinh của Bác, góp phần nâng cao độ che phủ rừng và cây xanh thành phố, bảo vệ môi trường, xây dựng thành phố xanh – sạch – đẹp, văn minh giàu đẹp.

Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên – Huế đã tổ chức lễ dâng hoa và triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân”. Triển lãm trưng bày gần 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật với 4 nội dung chính: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945 – 1946); Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp (1946 – 1969); Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cổ vũ nhân dân cả nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp…

Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai – Kon Tum vừa khai mạc triển lãm ảnh với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân”…

Cùng ngày, khắp cả nước đã diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm sinh nhật Bác bên cạnh nhiều hoạt động chuẩn bị bầu cử.

X.H (tổng hợp)

laodong.com.vn