Thư viện

Cụ già người Mông bốn lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Cụ Thào A Chiêu đã trên cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng khi nhớ lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu và công tác, đôi mắt lại trở lên linh hoạt khác thường, giọng nói nghe còn sang sảng: “Cả đời, bố vinh dự nhất là đã từng bốn lần được gặp Bác Hồ…”.

Bác Hồ gặp gỡ đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang. (Ảnh: hanoi.vnn.vn)

Hỏi thăm nhà cụ Thào A Chiêu ở xã vùng cao Hồng Thu, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, người dân nơi đây ai cũng biết. Khi đến được nhà, đợi mãi gần đúng Ngọ, mới thấy một cụ già có mái tóc bạc, chống chiếc gậy tre chậm rãi bước về từ khu rừng xanh mướt còn ẩn hiện trong mây mờ.

Cụ Chiêu mà người dân địa phương quen gọi là cụ Thào sinh năm 1928, có bề dày thành tích chiến trận khiến nhiều người kính nể: Tham gia du kích, tiễu phỉ, rồi gia nhập quân đội chính quy đi giải phóng miền Nam, tham gia chiến tranh biên giới và giúp bạn Lào đánh giặc. Chính những năm tháng đối diện với hoàn cảnh mong manh giữa sự sống và cái chết ấy, cụ đã may mắn và vinh dự được gặp Bác Hồ nhiều lần.

Cụ Thào mở đầu câu chuyện bằng cách chỉ vào cái tai bên trái của mình mà rằng: “Con phải nói to thì bố mới nghe thấy”. Mới hai năm trước, nhân một lần các bác sỹ Bệnh viện Quân Y 103 về Sìn Hồ khám chữa bệnh cho bà con, cụ đi khám thì được các bác sỹ lấy ra từ tai bên trái một cục máu đen khô đét, to gần bằng nửa đầu ngón tay út. Lúc ấy cụ Thào đã thốt lên: “Sướng quá bác sỹ ơi, cái tai tôi nhẹ quá, nghe rõ quá”. Nhưng sau đấy vài tháng, cái tai trái của cụ cứ từ từ ù đặc, đến nay thì không còn nghe thấy gì nữa.

Cụ kể: Năm 1962, trong một trận quyết chiến ở bên Lào, cụ vác trên vai khẩu “Đê ca” 82 và bắn liền một mạch 12 phát, trong khi các xạ thủ khác chỉ dám bắn 6 phát. Bắn đến quả cuối cùng thì máu mũi, máu tai, máu miệng ứa ra, cụ ngất lịm đi, sau một tuần mới nói được trở lại. Cụ Thào được máy bay của ta chuyển về Hà Nội điều trị tại Bệnh viện Quân Y 108, sau 8 tháng tai vẫn ù.

Chính cái lúc tưởng chừng như không thể qua nổi ấy, ông được gặp Bác Hồ. Bác mặc “chiếc áo thường dân, màu cỏ úa”, vào thăm, động viên các thương binh được chuyển từ chiến trường Lào về. Toàn là những thương binh nặng “người mất tay, người mất chân, băng bó khắp người…”. Cụ Thào bảo “nhìn cảnh ấy, nhiều người không dám vào thăm đâu”. Cụ tiếc là “lần được gặp Bác Hồ lần 3” này không nghe được lời Bác Hồ nói vì tai ù đặc.

Gia đình cụ Thào có 7 anh em trai, cụ là con thứ sáu. Năm lên 13 tuổi, mẹ của cụ ốm nặng qua đời, còn người bố bị giặc Pháp bắt đi tù vì “tội” theo cách mạng. 7 anh em tự đùm bọc rau cháo nuôi nhau. Sau 5 năm bị Pháp bắt đi biệt tích, tưởng không còn hy vọng gì, bố của cụ Thào được tha về. Kể từ đó cụ Thào được nghe bố kể nhiều chuyện về Bác Hồ, về người dân các dân tộc nghe theo Đảng, theo Bác Hồ đứng lên đấu tranh bảo về Tổ Quốc ở khắp nơi trong cả nước và cho tới mãi sau này cụ Thào mới được bố nói cho biết trong 5 năm ở tù của thực dân Pháp, người bố của cụ đã gặp và được các cán bộ cách mạng giác ngộ.

Đến năm 1951, có 4 cán bộ bộ đội trong đó 3 người giới thiệu tên là Bằng Quốc Bảo, người Dao quê ở Bắc Cạn; Phan Quang Sử, người Thái ở Việt Bắc; Lương Trọng Viễn, quê ở Yên Bái… đến nhà cụ Thào, bắt liên lạc với người bố của cụ. Suốt một tháng trời hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng, vận động bà con dân bản xã Hồng Thu thành lập đội du kích, chuẩn bị đánh Pháp, 4 bộ đội được gia đình cụ Thào cùng bà con nơi đây bảo vệ, tiếp tế lương thực, thực phẩm và dẫn đi ẩn náu ở một hang đá thuộc địa bàn bản Chung Sung A.

Cụ còn nhớ: “Cứ nửa đêm, khi gà gáy là bố lại mang gạo, thực phẩm vào hang đá cho bộ đội”. Hưởng ứng lời kêu gọi, vận động của bộ đội, cả nhà cụ Thào đều tham gia đội du kích. Lúc đầu đội chỉ có 17 người nhưng càng về sau càng có nhiều người tham gia, đến đầu năm 1953 quân số tăng lên đến 30 người, trong đó có 5 phụ nữ.

Cụ Thào nhẩm tính, từ đầu năm đến cuối năm 1953, đội du kích xã Hồng Thu do ông Giàng A Tùng là Đội trưởng (nay đã mất) đã đánh 22 trận, góp một phần không nhỏ vào chiến thắng chung, giải phóng quê hương Sìn Hồ ngày 19/12/1953.

Đầu năm 1954, cụ Thào nhập ngũ, được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội địa phương C835, hành quân xuống vùng thấp Sìn Hồ tiễu phỉ hoành hành ở các xã Pu Sam Cáp, Noong Hẻo, Nậm Cuổi, Căn Co. Chỉ trong vòng 3 tháng, người Tiểu đội trưởng này và đồng đội tham gia 16 trận tiễu phỉ. Bây giờ, cụ vẫn còn nhớ trận cuối cùng đánh từ 4 giờ sáng đến khoảng 11 giờ trưa mới ngừng tiếng súng. Sáng sớm hôm sau, ba tên phỉ đầu sỏ phất cờ trắng cùng khoảng 600 tên lính mang gần 400 khẩu súng các loại xin hàng. Kể từ đó, Sìn Hồ sạch bóng phỉ.

Tháng 10/1954, trong buổi tổng kết chiến dịch Điện Phiên Phủ, cụ vinh dự được Đại tá Bằng Gia, Quân khu trưởng Quân khu Tây Bắc thay mặt Chính phủ trao tặng Huân chương chiến công hạng Nhất và cũng là người vinh dự cùng lên nhận Cờ thi đua của Chính phủ tặng Lai Châu (cũ). Sau đó cũng chính cụ là người duy nhất của huyện Sìn Hồ, là chiến sỹ thi đua được về Quân khu Tây Bắc (Sơn La) gặp và nghe Bác Hồ nói chuyện. Đây chính là lần đầu tiên cụ Thào được gặp Bác.

Tại một cái lán gianh nhỏ, cạnh khu rừng của Quân khu Tây Bắc, có khoảng 30 chiến sỹ tiêu biểu thuộc các dân tộc khu vực Tây Bắc cùng về dự. Bác Hồ đến, mặc bộ quần áo nâu, có một cái túi to ở vạt áo. Bác cười hiền từ, đi bắt tay từng chiến sỹ. Bác nói chuyện tình hình chiến thắng của Cách mạng trên các mặt trận, chừng 15 phút, với giọng trầm ấm. Bác kết thúc với câu “Chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi hoàn toàn, nhưng chưa phải đã hết giặc, mong các chú cố gắng tiếp tục chiến đấu, khi hoà bình nếu còn sống Bác sẽ nói chuyện nhiều hơn”.

Lần thứ hai, cụ Thào vinh dự được gặp Bác Hồ vào buổi lễ tuyên bố thành lập khu tự trị Thái – Mèo ở Sơn La. Bấy giờ cụ là một trong 3 đại biểu của huyện Sìn Hồ đại diện cho dân tộc Mông đi dự lễ. Cụ vẫn nhớ, lần ấy, Bác mặc chiếc áo sỹ quan màu xanh, chùng gần đầu gối. Cụ thổ lộ, cũng vì được gặp Bác Hồ, nghe Bác nói mà như được tiếp thêm sức mạnh, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Cách mạng sẽ thành công và sự thực đã là như vậy.

Một lòng theo Đảng, cụ tích cực vận động con cháu và bà con xung quanh không nghe theo kẻ xấu. 3 người con của cụ đều đã trưởng thành, trong đó một người con trai tiếp tục được bản Chung Sung A tín nhiệm bầu làm Trưởng bản.

Khi chúng tôi nóng lòng muốn biết “lần thứ tư” cụ gặp Bác Hồ trong trường hợp nào thì ông cụ bỗng lặng đi giây lát, nhìn chúng tôi với đôi mắt đượm buồn. Đó là năm 1993, tỉnh Lai Châu (cũ) tổ chức cho những cựu chiến binh về thăm Lăng Bác. Cụ Thào bảo “gặp Bác lần này Bác không nói được như trước, Bác nằm nhìn vẫn thế, chỉ có điều gầy hơn trước nhiều thôi!”.

Có lẽ cũng như hàng triệu người dân Việt Nam bấy lâu nay, trong lòng cụ Thào, Bác Hồ chỉ đang nằm ngủ!

Nguyễn Công Hải
TTXVN

dantri.com.vn

Cụ bà dân tộc Thái 3 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – Vi Thị Hoá, cô gái Thái vùng Tây Bắc thủơ nào, nay đã 80 tuổi, đã kém minh mẫn, nhưng khi kể lại quãng đời hơn 50 năm chiến đấu, công tác, đôi mắt cụ vẫn bừng sáng: “Ba lần được gặp Bác là niềm vinh dự của đời tôi”.

80 tuổi, cụ Vi Thị Hoá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người đảng viên 60 năm tuổi Đảng. Những năm trước cụ Hoá còn sức khoẻ cụ luôn luôn là một cán bộ hưu trí gương mẫu, hoà giải viên tích cực của Phường Lào Cai, thành phố Lào Cai (Lào Cai). Tài sản vô giá đối với cụ vẫn giữ vẹn nguyên là 2 tấm ảnh đen trắng, tấm ảnh hồi cụ được làm trong ban Chủ tịch đoàn ngồi cùng Bác năm 1964 và tấm ảnh cụ chụp khi Bác đang năm trong linh cữu thuỷ tinh trong suốt khi Người mới từ trần năm 1969.

Cụ Hoá hồi tưởng lại 50 năm về trước: Ngày ấy tôi là một trong những đại biểu tiêu biểu trong đoàn đại diện cho Thanh Niên Việt Nam tham dự liên hoan thanh niên thế giới lần thứ 4 tổ chức tại thủ đô Bucarest (Romania). Đang háo hức chuẩn bị cho ngày lên đường thì tôi cùng 2 người bạn trong đoàn được gọi đi có việc. Khi đến nơi tại khu căn cứ du kích bí mật Tuyên Quang, tôi vô cùng mừng rỡ vì mới biết mình được gặp Bác Hồ.

Bác căn dặn: “Các cháu sang dự liên hoan phải đoàn kết với thanh niên thế giới và thanh niên Pháp, tranh thủ sự ủng hộ của thanh niên Pháp, thể hiện mong muốn hoà bình của Việt Nam”. Khắc ghi lời Bác, noi theo gương của Người, tôi và các bạn đã khẳng định bản lĩnh và phong thái của người Việt Nam. Tham gia rất nhiều các hoạt động chung với thanh niên các nước, trong số đó có 2 thanh niên Pháp là Hăng-đi-Mac-tanh và Rây-Mông-Điêng, sau này đóng góp sức lực không nhỏ trong công cuộc đấu tranh chính nghĩa, ủng hộ hoà bình tại Việt Nam.

Sau ngày giải phóng thủ đô năm 1955, Bác Hồ đã đến thăm, chúc Tết và động viên Trường dân tộc thiểu số Trung ương nơi mà cụ Hoá đang học. Những lời Bác dạy, dặn dò hàng trăm học sinh như nuốt lấy từng lời. Thế hệ học sinh của trường ngày ấy bây giờ người còn, người mất, song đều trưởng thành, toả về với đồng bào các dân tộc đem theo lời căn dặn với mong muốn của Bác năm xưa trở thành hiện thực trên quê hương đổi mới.

Tại Hội nghị cán bộ nữ miền núi ở thủ đô Hà Nội năm 1964, Bác Hồ không chỉ đến dự mà còn tham gia Đoàn chủ tịch. Cụ Vi Thị Hoá vô cùng vinh dự được ngồi trong Đoàn chủ tịch điều hành Hội nghị cùng với Bác, Bác xưng hô thân mật “Bác” và “các cô” đầm ấm tình cảm đại gia đình.

Bác biểu dương khen ngợi và giao nhiệm vụ cho chị em theo cách riêng của Bác thật rõ ràng, cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Bác nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết các dân tộc, phụ nữ cũng là người chủ của đất nước, phải phấn đấu lao động sản xuất, xây dựng gia đình, xây dựng đời sống mới, cố gắng học tập. Bác giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ các cấp ở miền núi phải ra sức phát triển đảng viên, đoàn viên phụ nữ, đào tạo, giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc. Bác hứa sẽ thưởng cho những chị em có thành tích xuất sắc.

Cô Hoá ngỡ ngàng, rưng rưng cảm động, không ngờ bận rộn là thế mà Bác vẫn quan tâm, theo dõi từng bước tiến bộ của mình và chị em. Bác nói “Hiện nay, chị em miền núi đã tiến bộ nhiều như cô Vi Thị Hoá ở Nghĩa Lộ, là tỉnh uỷ viên…”.

Năm 1969, trong đoạn đại biểu nhân dân các dân tộc tỉnh Nghĩa Lộ về Hà Nội viếng Bác có Vi Thị Hoá. Bác nằm đó, bình yên như đang trong giấc ngủ. Vi Thị Hoá cùng 3 người trong đoàn được đứng 15 phút bên linh cữu, cùng với các đồng chí cảnh vệ, canh gác giấc ngủ cho Người. Để mặc nước mắt rơi, cố dồn nén tiếng nấc nghẹn ngào vào sâu thẳm trong tim, bằng tất cả nghị lực, tình cảm sâu lắng và lòng thành kính, Vi Thị Hoá đứng nghiêm trang bên linh cữu Người, lòng thầm gọi mãi: Bác…Bác ơi…

Ba lần được gặp Bác, hai tấm ảnh kỷ niệm, không chỉ là niềm trân trọng, vinh dự của riêng cụ, mà còn là niềm tự hào của các thế hệ con cháu trong gia đình. Đây cũng là tình cảm chân thành, niềm vinh dự tự hào chung của phụ nữ và nhân dân các dân tộc Tây Bắc với vị cha già kính yêu của dân tộc: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Bùi Thanh Hải
TTXVN

cpv.org.vn

Chuyện kể của vị thủ lĩnh diệt phỉ 2 lần được gặp Bác Hồ

(Dân trí) – “Nhắc đến Bác Hồ, ký ức vẫn còn gợi nhớ trong tâm trí già. Được gặp Bác Hồ, nói chuyện suốt 2 tiếng, cái đầu già không nhớ hết, không hiểu hết. Nhưng chỉ bằng một câu chuyện “bó đũa” của Người, đúng cái lý của người Mông, cái dạ già đã sáng ra…”.

Già Vừ Chồng Pao còn gọi là Vừ Lầu Pó, là người dân tộc Mông, sinh ngày 1/9/1930, tại bản Mường Ải, xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An). Già sinh ra và lớn lên ở nơi biên ải giáp ranh Việt Nam – Lào, là vùng “phên giậu” của Tổ quốc, quanh năm hạt gạo hạt bắp không đủ nuôi sống con người. 15 tuổi, Vừ Chồng Pao đã bộc lộ tố chất của một thủ lĩnh nơi đại ngàn.

Năm thực dân Pháp cùng bọn thổ phỉ đánh mạnh ở vùng biên giới Kỳ Sơn, Vừ Chồng Pao cùng 2 người bạn đứng ra thành lập đội du kích, vũ khí ban đầu là súng kíp tự tạo, thuốc súng tự sáng chế.

Bác Hồ thăm bộ đội (ảnh minh họa)

“Năm 1950 từ giữ chức trưởng công an xã Na Ngoi, rồi đến Ủy viên BCH huyện Tương Dương đặc trách tại Kỳ Sơn, ngày 2/9/1954, già vinh dự thay mặt đồng bào các dân tộc thiểu số huyện nhà ra Hà Nội đón Bác Hồ về thủ đô. Nhắc đến Bác Hồ, ký ức vẫn còn gợi nhớ trong tâm trí già. Được gặp Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói chuyện suốt 2 tiếng. Cái đầu không nhớ hết, không hiểu hết. Chỉ in sâu một lời duy nhất: “Muốn thắng giặc, 54 dân tộc anh em phải đoàn kết. Như một bó đũa từng chiếc một thì nhỏ, nhưng kết lại thành một bó to, sẽ tạo thành một sức mạnh khổng lồ”. Cái lý đó đối với người Mông ta thật đơn giản và dễ hiểu. Cái dạ cũng sáng ra…” – già Vừ Chồng Pao nhớ lại.

Năm 1960, Kỳ Sơn tách huyện, cái khó khăn gian khổ của huyện non trẻ không kể hết. Bọn phỉ lại một lần nữa được đế quốc Mỹ xúi giục phía sau, hỗ trợ đánh vào biên giới các huyện Miền tây xứ Nghệ. Lúc này “tướng phỉ” Vàng Pao dụ dỗ, mua chuộc bà con. Nhiều bản gần như toàn bộ đi theo phỉ.

Lúc đó, với cương vị là Chủ tịch MTTQ huyện Kỳ Sơn, già Vừ Chồng Pao lại được ra Hà Nội dự lễ kỷ niệm quốc khánh, được gặp Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tại buổi gặp, Bác đã nói để già Pao hiểu muốn diệt nạn nổi loạn, diệt phỉ thì phải hiểu kẻ thù thực sự của ta là đế quốc, chứ không phải là những người dân đi theo phỉ.

Hiểu lời dạy của Bác, khi về đến Kỳ Sơn, già đã tổ chức một cuộc họp suốt 3 ngày, truyền đạt lại lời dặn của Bác Hồ. Già phân công cán bộ đến tận các bản làng gặp mặt các già làng trưởng bản, vận động bà con các dân tộc đoàn kết, tập trung vào những gia đình có người theo phỉ.

Phong trào vào rừng gọi người thân trở về lan truyền rộng, những người theo phỉ đã lần lượt trở về làm ăn lương thiện. Đoàn kết chính là sức mạnh lòng dân, là chân lý vững chắc, già đã biết phát huy tinh thần ấy tạo thành sức mạnh rộng lớn, làm tan rã tổ chức phỉ Châu Phà.

Năm 1969, già được bầu làm Chủ tịch UBND huyện Kỳ Sơn, đại biểu Quốc hội khoá VIII. Trong thời gian 20 năm giữ cương vị Chủ tịch huyện Kỳ Sơn, mảnh đất “xung yếu”, “then khoá” chưa một ngày bình yên. Tàn quân phỉ liên tục quấy nhiễu nhưng già Vừ Chồng Pào chưa bao giờ chịu thua cuộc.

Từ đó cái tên Vừ Chồng Pao, thủ lĩnh diệt phỉ, đã lan truyền trong dân bản, tạo nỗi khiếp sợ cho bọn phỉ. Ký ức diệt phỉ của Vừ Chồng Pao được lan truyền cho đến tận hôm nay. Với những chiến công chói lọi đó, già Pao vinh dự được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh mời lên Hà Nội chơi.

Năm 2004, biết già mỗi lần về xuôi đi họp phải ngồi xe khách chen chúc, trong khi tuổi cao sức yếu, Tổng Bí thư tặng già chiếc xe con từ dự án xoá bỏ cây thuốc phiện. Nhưng già Pao nhường lại cho UBMTTQ huyện để cơ quan có xe đi phục vụ công tác, khi cần già lại nhờ lái xe chở đi.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tặng đồng hồ cho già Pao

Nay đã hơn 80 tuổi nhưng với niềm tin yêu của dân bản, của Đảng, già không cho phép mình được nghỉ ngơi. Già lại tiếp tục được bầu vào chức Phó Chủ tịch không chuyên trách UBMTTQ tỉnh đặc trách tại Kỳ Sơn.

Tháng 3/2010 vừa qua, có dịp trở lại Hà Nội, một lần nữa già vinh dự được gặp và nói chuyện thân tình với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại nhà riêng. Tổng Bí thư đã tháo chiếc đồng hồ từ tay mình trao tặng già. Món quà ấy già Pao xin nhận, lúc nào cũng giữ bên mình.

Vân Nga – Nguyễn Duy

dantri.com.vn

Trong chiếc gương kỉ vật

(DVT.vn) – Chiếc gương có tấm hình Bác Hồ đã theo suốt cuộc đời một người lính thông tin, thôi thúc anh sống, chiến đấu và cứu mạng anh trong tình huống bất ngờ.

Hồi kí của Đặng Trường Lưu

Nhiệm vụ của bộ đội thông tin trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân 1975

Trong số chín anh em cùng xung phong vào bộ đội của xã tôi dạo mùa hè năm 1967, Hoạt là người thân với tôi nhất, ít tuổi hơn nhưng anh đã có vợ và con anh chào đời cũng vừa mấy tháng. Anh là người ít nói, ưa hoạt động, xốc vác và chân tình. Khi vào chiến trường, Hoạt và tôi ở cùng tiểu đội trong tiểu đoàn bộ binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận B5. Một thời gian sau, cả tiểu đoàn chuyển sang phối thuộc với Trung đoàn 132 thông tin chiến lược của Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ khẩn trương xây dựng đường dây trần xuyên Trường Sơn, phục vụ cho Trung ương chỉ huy cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân ở Huế.

Nhiệm vụ mới như người lính thông tin, nhưng công việc chủ yếu của chúng tôi là vận chuyển trên vai hàng nghìn tấn vật tư, vật liệu như: tách sứ, dây sắt, dây đồng, bu-lông, ốc vít…, từ bãi đổ hàng (của các binh trạm có đường ô-tô) đến từng cột mốc trên tuyến để lắp đặt, dựng lên một con đường âm thanh lịch sử, qua bao đỉnh cao trên nghìn mét, qua sông Sê-bang-hiêng, hay Sê-pôn ù ù thác réo, qua những vực sâu nhìn xuống mà sởn gai người.

Bộ đội vượt Trường Sơn (Ảnh tư liệu: Internet).

Chiến dịch kết thúc, chúng tôi vừa củng cố đường dây thông tin, vừa tổng kết kinh nghiệm. Hoạt được bình bầu là chiến sĩ thi đua, là Dũng sĩ Quyết thắng, hai lần được mặt trận tặng bằng khen. Anh là gương sáng của đơn vị.

Cuối năm 1968, chúng tôi có lệnh hành quân ra bắc an dưỡng. Hoạt được đưa lên làm cần vụ cho thủ trưởng trung đoàn. Sự xốc vác và kiệm lời của anh được thủ trưởng vô cùng tin cậy. Sau ba tháng nghỉ ngơi và tập huấn, chúng tôi lại hành quân vào mặt trận. Thủ trưởng trung đoàn cùng một số cán bộ chiến sĩ xuất sắc được ở lại dự Đại hội “Thi đua lập công” toàn binh chủng, tổ chức ở Hà Nội. Hoạt cũng nằm trong số đại biểu được bầu, đại diện cho lực lượng bộ đội thông tin đang đối mặt quân thù trên khắp chiến trường miền nam. Sau đại hội, Hoạt được tranh thủ ghé thăm nhà một tuần. Đứa con gái, lúc này đã biết bám chặt vào quần mẹ, vừa ngọng nghịu hát bài “Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê” vừa chằm chằm nhìn vào người lính lạ lẫm mà mẹ bảo phải gọi bằng bố.

Khi tiểu đội đang triển khai công việc trên tuyến thì Hoạt xuất hiện. Anh em xôn xao và thực sự cảm động khi anh kể chuyện cứ nằng nặc xin thủ trưởng cho phép trở về tiểu đội cũ. Với một người như anh, cuộc sống trong vòng tay đồng đội hẳn ý nghĩa hơn nhiều. Mà thật vậy, nếu không có sự trở về để cùng “nếm mật nằm gai” với tôi và anh em tiểu đội, thì làm sao tôi với anh lại có được những kỉ niệm tuyệt vời trong câu chuyện mà tụi sắp kể ở đây, khi bộ đội thông tin toàn quân đang long trọng chuẩn bị kỉ niệm 40 năm Bác Hồ gửi thư khen ngợi.

Tấm ảnh Bác Hồ và kỉ niệm không thể quên trong đời người lính

Giữa những ngày Bác mất (tháng 9/1969), Hoạt và tôi được cử đi tăng cường cho trung đội khảo sát địa hình, chuẩn bị cho một nhánh đường dây mới. Chúng tôi chạm trán với lực lượng thám báo do đối phương thả xuống, đang len lỏi dò dẫm trong rừng hòng phát hiện nơi đóng quân và tuyến dây trần thông tin lợi hại của ta. Ác một nỗi là trang phục của chúng y hệt bộ đội ta: cũng mũ tai bèo, áo quần Tô Châu xanh lá, cũng súng AK báng gập thay vì bộ quần áo rằn ri biệt kích.

Trong khi cả trung đội khảo sát vừa bắn vừa rút nhanh khỏi khu rừng có khả năng chỉ trong ít phút thành tọa độ bom lửa, Hoạt và tôi bị thương. Chúng tôi tỉnh dậy thấy mình bị trói chặt, nằm trong một hang đá, giữa bao nhiêu đôi mắt ngầu đỏ, mở ra trừng trừng của những người dân đen đủi, hốc hác, đàn ông và đàn bà, người già và con trẻ. Ấy là những người Lào Thơng sống sót, chui lủi trong hang đá ven tây Trường Sơn, dọc hai bờ Sê-băng-phai.

Tôi và Hoạt nhìn nhau, sau khi đã nhận ra chợt ngơ ngác và khó hiểu vì những cái nhìn căm giận ấy. Khi mọi người xô đẩy rồi cùng nhau quỳ xuống, nhìn vượt qua đầu những người Lào Thơng khốn khổ, tôi và Hoạt cùng kinh ngạc nhận ra một bàn thờ được xếp lên bằng những tảng đá, và khói trầm đầm đìa ngút ngát từ một miếng vỏ cây đang cháy. Mấy nải chuối xanh xếp thành vòng tròn quanh cây chuối còn nguyên những tàu lá xanh mướt. Trên bẹ chuối lớn, người ta xăm hình một ngôi sao 5 cánh cùng những vạch tỏa ra tựa hồ ánh sáng. Họ ngồi im lặng và khóc, lẫn trong tiếng nấc nghẹn ngào. Không hiểu tiếng Lào, càng không biết tí gì thứ ngôn ngữ líu ríu như chim của những người Thơng kia, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy một từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Hồ, Hồ, Hồ…

Thế là rõ. Tin Bác Hồ của chúng ta vừa mất đã đến được với những người dân Lào dưới chân Trường Sơn. Ai đã báo tin cho họ hay sự mách bảo của trời đất? Cái bàn thờ được dựng lên trong hang đá kia với biểu tượng ngôi sao khắc vào bẹ chuối thay bức chân dung mà họ không sao có được cùng với khói hương từ vỏ cây trầm đã nói lên tất cả. Chúng tôi lẳng lặng khóc. Một lát, những người Lào Thơng đứng lên, người cầm nỏ, kẻ cầm dao, nhiều người cầm đá, chậm rãi và dữ tợn, tiến về phía chúng tôi. Thì ra, họ nghĩ chúng tôi là biệt kích. Trong giờ phút đau thương, họ muốn hành xử kẻ thù.

Giữa khoảnh khắc vô cùng nguy hiểm ấy, Hoạt vùng vẫy, la hét: “Tôi là lính Bác Hồ! Tôi là lính Bác Hồ! Lấy cái gương trong túi cho tôi!”. Đầu anh ngúc ngoắc và cằm đập liên hồi xuống phía ngực. Một thanh niên với mảnh khố rách bươm tiến đến, thò tay vào túi áo của Hoạt, lấy ra chiếc gương tròn, to gần bằng miệng bát đưa cho già làng. Ông lão không thể hiểu câu nói của Hoạt: “Mở ra, mở vành nhựa ra, ở bên trong…”. Một cô gái xin nhận chiếc gương, đem đến bàn thờ đá, quỳ xuống và lẩm nhẩm điều gì đó. Rồi như được thần linh mách bảo, cô kéo lật vành tròn nhựa.

Ảnh tư liệu minh họa (Nguồn: Internet).

Từ phía trong, kẹp giữa tấm nhựa và miếng kính, đột ngột rơi ra tấm ảnh hai mẹ con, người thiếu phụ trẻ ôm đứa bé gái mũm mĩm: Hẳn đó là vợ con Hoạt. Một mảnh giấy báo gấp tư được mở ra. Gần như cùng một lúc, tất cả ồ lên và quỳ xuống. Đó là tấm ảnh Bác Hồ cầm ống nói được chụp ở Việt Bắc cùng với bức thư khen bộ đội thông tin in ngay dưới bức ảnh. Lập tức, chúng tôi được cởi trói. Hoạt nhanh nhẹn găm mảnh báo cũ hình Bác Hồ ấy vào bẹ chuối trên bàn thờ, dưới hình ngôi sao tỏa sáng. Trong không gian thiêng liêng hang đá Trường Sơn và mùi trầm thơm ngát, tôi và Hoạt cứ để cho dòng nước mắt đầm đìa tuôn chảy.

Sau những ngày được chữa chạy, vết thương đã tương đối lành, chúng tôi tìm về đơn vị đường dây của mình. Suốt chặng vượt rừng ấy, Hoạt kể tôi nghe về mảnh báo mà anh cắt từ tờ báo quân đội, phát hành trong ngày Đại hội thi đua của binh chủng ở Hà Nội, rồi kể về tấm ảnh vợ con, kể về chiếc gương xin được từ một người lính khi gặp nhau trên bến phà Xuân Sơn, kẻ ra Bắc đi học, người về lại chiến trường. Tấm ảnh vợ con cùng mẩu báo có hình Bác Hồ và bức thư của Người, anh kín đáo giấu vào chiếc gương, giữa hai lần kính và nhựa.

Tại sao phải giấu diếm thế? Kỉ luật chiến trường quy định: Những người lính đi B không được phép để lộ nhân thân của mình. Với anh, đây là chứng tích của một kỉ niệm đẹp, là niềm vinh dự lớn. Lời Bác khen Bộ đội Thông tin cũng là lời nhắc nhủ bản thân anh phải luôn gắng để vượt lên qua bao gian khổ và sống chết.

Những bí mật về bức ảnh “đặc biệt” ấy

Sau chiến thắng 1975, tôi về quê thăm nhà. Tôi không quên tìm đến gia đình những người đồng đội. Trong chín anh em đi cùng tôi đợt ấy, năm người hi sinh và đã có giấy báo tử gửi về. Riêng Hoạt, vợ và con anh vẫn trông chờ mỏi mắt. Tôi không giúp được gì cho chị, bởi tôi cũng không một manh nha tăm tích của anh. Sau cái lần bị thương và thoát hiểm trước cơn giận dữ do hiểu lầm của những người Thơng bên Lào hạ, nhờ tấm ảnh Bác Hồ và bức thư in trên mảnh báo mà Hoạt bí mật giấu trong chiếc gương, chúng tôi tìm về đơn vị. Hoạt được điều sang một đơn vị thông tin khác của chiến trường khu 5. Hai đứa bặt tin nhau từ đó.

Mãi cuối năm 1976, người ta mới đưa giấy báo tử cùng những di vật của Hoạt về gia đình. Anh đã hi sinh anh dũng từ mùa xuân năm 1974, trong một trận càn dữ dội của đối phương tràn lên trên núi, khi anh đang cố gắng ngụy trang đoạn đường dây rải hớ hênh qua khoảng trống của rừng.

Năm ngoái, sau ngày giỗ của Hoạt, vợ anh mời tôi nán lại. Trong câu chuyện nhỏ to, gián đoạn bởi những giọt nước mắt cạn kiệt, chị hỏi tôi nhiều về người chồng yêu quý, trong những câu hỏi, gợn lên một điều: Di vật mà anh để lại trong ba lô, có một chiếc gương. Đó không phải là chiếc gương của chị. Chị không tặng gương cho chồng trước lúc đi xa như nhiều người đàn bà khác, bởi chị nghĩ: “Chiến tranh khốc liệt thế, đạn bom sống chết là thế, tấm gương làm sao tránh được rạn vỡ!” Vậy thì ai đã tặng tấm gương ấy để đến lúc anh hi sinh, tấm gương vẫn nằm gọn trong đáy ba lô mà về đây với chị? Phải chăng…

Thì ra vậy! Người vợ suốt mấy chục năm lấy tuổi thanh xuân nuôi con thờ chồng ấy vẫn có một điều canh cánh không thể tự trả lời. Tôi bỗng cảm thấy mình có lỗi với mẹ con chị, có lỗi với vong linh của Hoạt. Sau đề nghị khẩn khoản của tôi, chị vào buồng, mở tủ lấy ra chiếc gương được bọc kỹ trong vuông vải ka-ki màu đỏ. Tôi đỡ lấy chiếc gương và thầm mong một lần nữa, phép màu lại hiện ra.

Bộ đội thông tin liên lạc (Ảnh tư liệu: Internet).

Quả thế! Tấm ảnh mẹ con chị và mảnh báo in hình Bác Hồ cầm ống nói, cùng bức thư của Người vẫn còn nguyên đó, dù đã ố vàng và dính bết vào nhau. Phải thận trọng bóc dần từng tí một. Mấy chục năm rồi, những dòng chữ nhỏ li ti vẫn đủ nét để tôi còn đọc được trong nghẹn ngào: “Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ thông tin liên lạc”… “đã có cố gắng, cần cố gắng hơn nữa…”, “…Cho xứng đáng là những chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”… Tấm gương mà anh giữ trọn trong ngực áo mình chính là cuộc đời trọn vẹn của anh, là tấm gương vĩnh cửu, làm sao có thể lu mờ hay rạn vỡ!

Không thể nói thêm điều gì, tôi và chị lặng ngắm di ảnh của anh. Rồi chị đứng lên, cầm bức ảnh, cùng tôi mở khung kính, ộp vào đó mảnh báo có hình Bác và bức thư của Người. Chị run run treo lại tấm ảnh của người chồng yêu quý, người chiến sĩ thông tin đã sống, chiến đấu và hi sinh, xứng đáng với lời khen của vị lãnh tụ thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, trước khi anh về cõi vĩnh hằng.

Ngoài sân, chiều đã bắt đầu chạng vạng. Cả khung trời phía tây chợt bừng lên những nan quạt khổng lồ màu đỏ tía. Lòng ngổn ngang bao ý nghĩ về thời cuộc, về tình người, về những thế hệ đã đi qua cuộc chiến suốt gần thế kỉ, tôi xin chị được thắp thêm mấy nén nhang cho anh, rồi thầm gọi: “Hoạt ơi!”.

Tháng 12 năm 2008

dvt.vn

Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn in đậm nét trong trí nhớ của tôi

Nguyễn Tử Nên

Vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Bộ Thông tin – Văn hoá CHDCND Lào đã phát hành cuốn sách quí “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” được dịch từ nguyên bản cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Dân Tiên và dịch giả là nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa. Cuốn sách dày trên 170 trang (khổ 13 x 19cm) được in bằng giấy tốt và do họa sĩ Xútchay Đuôngmixay Lycayđa (con trai Nhạc sĩ Đuôngmixay) vẽ bìa; trong đó nổi bật chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền màu tím của cánh sen và bao quanh là hoa sen, lá sen và hai sợi chỉ trắng và đỏ đan vào nhau thể hiện tình hữu nghị Lào – Việt mãi mãi xanh tươi và đời đời bền vững. Việc Bộ Thông tin – Văn hoá Lào cho dịch, xuất bản và phát hành cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống và hoạt động” đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Bác là một sự kiện có ý nghĩa trong quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào.

Chúng tôi đã gặp và trò chuyện với dịch giả – nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về công trình dịch thuật của anh. Nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa vui vẻ kể: Tôi có may mắn được tiếp xúc với quân tình nguyện Việt Nam từ những năm còn rất nhỏ và hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bản nhạc, câu chuyện do các anh bộ đội Việt Nam kể đã in đậm trong trí nhớ của tôi. Năm 11 tuổi tôi được sang Việt Nam học văn hoá và sau đó lại được học tiếp khoa sáng tác (hệ trung cấp) Nhạc viện Hà Nội. Với gần 10 năm sống và học tập tại Việt Nam, tôi có điều kiện hiểu sâu sắc về đất nước, nhân dân Việt Nam và về Bác Hồ kính yêu cùng những tình cảm và sự giúp đỡ to lớn mà nhân dân Việt Nam đã dành cho cách mạng Lào. Gần 20 năm trở lại đây, do công tác trong ngành TT – VH (nhạc sỹ hiện là Phó Cục trưởng Cục Nghệ thuật) mà tôi nhận ra rằng sách viết về Bác Hồ, người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị đòan kết đặc biệt Lào – Việt, dịch ra tiếng Lào còn quá ít. Từ đó, tôi nảy ra ý định tìm dịch một cuốn sách về Bác với mong muốn là góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức các mạng, giáo dục truyền thống đoàn kết thủy chung son sắt giữa hai dân tộc Lào – Việt qua tấm gương về nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Và cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” đã được dịch ra tiếng Lào trong trường hợp đó.

Chúng tôi hỏi nhạc sỹ Đuôngmixay Lycayđa về những khó khăn khi dịch cuốn sách này và nhạc sĩ đã thổ lộ: Là một cán bộ quản lý nên quỹ thời gian dành cho các lĩnh vực khác không nhiều. Do đó, tôi phải tranh thủ mọi lúc rảnh rỗi và phải mất hơn 2 năm trời gần như dành toàn bộ tâm trí sức lực, quỹ thời gian, vốn từ ngữ và cả kiến thức xã hội về Việt Nam mà mình có để dịch mới hoàn thành được tác phẩm. Cái khó nhất đối với tôi là có nhiều danh từ riêng chỉ các địa phương, mà chủ yếu là ở nước ngoài hoặc những đoạn người viết tả bối cảnh xã hội của Việt Nam và các nước Bác đến, phải dịch thế nào để người Lào đọc và hiểu được trong khi vẫn giữ được những bản sắc vừa giàu hình ảnh, vừa đậm nét dân tộc của Việt Nam và các nước. Trong trường hợp đó, tôi phải tìm các sách như: “Hồ Chí Minh – về đạo đức cách mạng”, “Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp”, “Chuyện kể về Bác Hồ, những năm đầu trường kỷ kháng chiến” bằng tiếng Việt và cuốn “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Lào để tham khảo hoặc tìm các đồng chí Việt Nam để hỏi. Những cuốn sách mà tôi đã đọc cùng với những cuộc trao đổi thân tình với các đồng chí Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong cách diễn đạt ngữ pháp Việt Nam, trong việc sử dụng câu từ để làm sinh động thêm những đoạn tả cảnh mà người viết đã có dụng ý nhấn mạnh để phục vụ cho nội dung chủ yếu của cuốn sách.

Kết thúc câu chuyện, nhạc sĩ Đuôngmixay Lycayđa tâm sự: Tôi coi việc dịch cuốn sách quý này là vinh dự, là hạnh phúc lớn lao trong đời hoạt động cách mạng của mình. Đối với nhân dân các bộ tộc Lào cũng có thể coi đây là món quà kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 113 Ngày sinh của Người.

cpv.org.vn

Suốt đời tôi nhớ Bác

Suốt đời tôi nhớ BácSuốt cuộc đời tôi, những lúc khó khăn gian khổ hay vui sướng, vinh quang, tôi đều nhớ đến những hình ảnh và lời nói thân thương của Bác Hồ. Lần tôi được gặp Bác đầu tiên là năm 1950.

Ngày ấy, tôi là chỉ huy trưởng Mặt trận Bình-Trị-Thiên, nhận lệnh ra Việt Bắc báo cáo tình hình kháng chiến với Bộ Tổng tư lệnh. Dịp ấy, điều hạnh phúc nhất đã đến: Tôi được dự lễ mừng sinh nhật Bác tròn 60 tuổi, lại được ngồi ngay bên cạnh Bác. Bác ân cần hỏi chuyện về tình hình đời sống kháng chiến của đồng bào Bình-Trị-Thiên. Khi ăn cơm, Bác gắp thức ăn cho tôi. Ở bên cạnh Bác tôi cảm thấy thân thiết, tự tin hẳn lên. Tôi đưa ra tấm ảnh chân dung Bác, xin chữ ký để mang về làm kỷ niệm cho đồng bào, chiến sĩ. Bác cầm tấm ảnh rồi phóng bút ghi: “Kháng chiến nhất định thắng lợi!”, ký tên Hồ Chí Minh. Trao ảnh cho tôi, Bác ân cần:

– Chú về, cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào và chiến sĩ trong đó…

Kỷ vật thiêng liêng ấy tôi lưu giữ suốt những năm kháng chiến, thôi thúc động viên tôi luôn luôn phấn đấu, rèn luyện hoàn thành tốt nhiệm vụ và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, đúng như những dòng Bác ghi trên tấm ảnh. Vừa qua, tôi đã gửi lại tấm ảnh gốc có bút tích của Bác cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên – Huế. Hiện tại, tôi chỉ lưu giữ bản sao, được phóng lớn hơn (xem ảnh).

Đến năm 1954, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ làm Trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp căn dặn: “Bác Hồ bảo, anh về làm việc ở Thủ đô thì phải “luôn luôn nhớ giữ nâu sồng kháng chiến”. Lời dặn giản dị ấy chính là nhắc nhở tôi phải cảnh giác trước lối sống nơi đô thị, không được sa ngã, không bị cám dỗ… luôn luôn giữ vững phẩm chất cách mạng. Ấy vậy mà trong một lần trở lại Việt Bắc, báo cáo với Bác công việc ở Hà Nội và tình hình công tác với Ủy ban Quốc tế, Bác hỏi: “Nghe nói chú mới mua một chiếc xe đẹp lắm phải không?”. Tôi giật mình trước câu hỏi của Bác, liền thưa: “Thưa Bác, do nhu cầu công tác, cần đi lại với Ủy ban Quốc tế, cơ quan phải sắm ô tô. Anh em bàn tính mãi, nếu mua xe cũ, phải mất 3.000 đồng Đông Dương. Mua xe mới thì mất 3.600 đồng, nên chúng cháu quyết định mua xe mới, vẫn tinh thần tiết kiệm, không dám xa hoa…”. Bác gật đầu, không nói gì thêm. Tôi hiểu, Bác không phê bình mà hỏi rõ ngọn ngành, thấy hợp lý nên Bác thông cảm.

Những cử chỉ, lời nói của Bác ngày ấy là sự nhắc nhở, chỉ bảo ân cần, độ lượng như tình cha con, tôi luôn ghi nhớ và vận dụng trong ứng xử suốt cuộc đời mình.

ĐÀO VĂN SỬ (ghi theo lời kể của Đại tá Hà Văn Lâu, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp)
qdnd.vn

Bác Hồ – cha của chúng con

Thật hiếm đôi vợ chồng nào trong cả nước có vinh dự, hạnh phúc nhiều lần được trực tiếp gặp Bác, bảo vệ Bác, được báo cáo với Bác, được nghe Bác trò chuyện, khuyên bảo, được Bác chụp ảnh cùng, tặng kỷ vật, được ăn cơm với Bác, được túc trực bên linh cữu Bác như cựu chiến binh, đại tá Nguyễn Sáng, nguyên Tham mưu phó, Cục trưởng Cục Kinh tế Quân khu Ba cùng vợ là bà Lê Thị Định, nguyên đại biểu Quốc hội khoá II, Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Qua những câu chuyện kể của ông Sáng, bà Định, chúng ta càng hiểu thêm và học tập được nhiều bài học về tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Ngày 10-1-1946, tôi được đồng chí Nguyễn Văn Nam – Chính trị viên, đồng chí Nguyễn Văn Bắc – Chi đội trưởng Chi đội 3 Giải phóng quân thị xã Thái Bình giao nhiệm vụ huy động lớp đào tạo tiểu đội trưởng cùng với bộ phận cảnh vệ Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Thái Bình bảo vệ Bác và Chính phủ về thăm đê Đìa Hưng Nhân bị vỡ.

Không hiểu thế nào từ trưa, nhân dân thị xã đã chờ sẵn ở cổng. Khoảng 15h, Bác và các thành viên Chính phủ về tới Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh. Đồng chí Bùi Đăng Chi – Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh “khẩn cấp” yêu cầu tôi chuẩn bị một chiếc bàn, chiếc ghế để Bác nói chuyện. Tôi cùng mấy đồng chí học viên lớp tiểu đội trưởng vào khênh chiếc bàn to cùng chiếc ghế đặt giữa cổng để Bác nói chuyện. Kê bàn xong thì Bác tới, tôi được đứng liền ngay sau Bác. Tất cả cán bộ, nhân dân trật tự lắng nghe từng lời Bác căn dặn. Nhìn Bác, vị Chủ tịch nước bộn bề công việc của người đứng đầu chính quyền cách mạng non trẻ, vẫn vượt đường xa về chia sẻ những thiệt hại do thiên tay gây ra với nhân dân Thái Bình, tình cảm tôi cứ trào dâng, nước mắt cứ tự nhiên chảy ra, “quên” cả nhiệm vụ bảo vệ. Một thanh niên mới trở thành anh bộ đội được một năm, tôi đã được gặp và bảo vệ Bác kính yêu.

Chỉ cần một lần được đứng cạnh Bác đủ để nhớ suốt đời, nhưng đâu ngờ ba tháng sau, tôi được bảo vệ Bác. Lần này gần hơn, lâu hơn!

Đó là ngày 28-4-1946, như đã hứa, Bác về thăm đê Đìa khi đê đắp xong. Tôi lại được đồng chí Nguyễn Văn Bắc giao cho khẩu súng ngắn Pạc-khoọc để làm nhiệm vụ bảo vệ Bác cùng với các đồng chí cận vệ. Tôi mặc quần soóc, đội mũ ca lô. Khoảng 9h Bác lên gác hai của Hội trí – thể dục (Sân vận động Thái Bình ngày nay) nói chuyện với hai cố đạo người Tây. Tôi đứng ngay sau ghế của Bác để bảo vệ Bác. Sau đó đồng chí Nguyễn Văn Ngọ – Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình mời Bác ra ban công nói chuyện với nhân dân. Lần này Bác về, sáng sớm dòng người đón Bác từ 12 phủ, huyện như trảy hội, kín cả sân bãi rộng. Cờ, băng, biển, biểu ngữ đủ màu sắc rợp trời. Tiếng hoan hô: “Cụ Hồ muôn năm!” vang như sấm dậy. Trời nắng và nóng, tôi được đồng chí Ngô Lãng – Phó ban Tuyên truyền tỉnh giao “thêm” nhiệm vụ cầm ô che cho Bác. Che cho Bác được mấy phút, đang nói, Bác quay lại nhắc tôi: “Chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi đáp: “Vâng ạ!”. Nhưng tôi vẫn chỉ che cho Bác. Một hai phút sau, Bác lại quay lại nhắc, lần này kiên quyết hơn: “Bác đã bảo chú che cho cụ Huỳnh!”. Tôi liền đứng vào giữa (ở phía sau) để che ô cho Bác và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hôm đó, Bác nhắc nhở cán bộ, nhân dân Thái Bình phải cố gắng hơn nữa để chiến thắng “giặc đói, giặc dốt” và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Với tấm lòng biết ơn vô hạn, tỏ quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Bác, nhân dân Thái Bình biếu Bác một buồng chuối, quả bí đao, quả bí ngô và mười củ khoai lang to. Bác quay sang bảo tôi: “Chú bê quả bí lên cho đồng bào nhìn thấy quả bí ngô to”. Tôi liền bê quả bí lên ngang đầu mà không làm che Bác và cụ Huỳnh. Quả bí phải nặng tới chục cân. Tiếng hô: “Cụ Hồ muôn năm!” lại vang lên tưởng như không dừng nếu Bác không giơ tay lên cao vẫy chào tạm biệt.

Năm 1952, lúc đó tôi là Tham mưu trưởng “Mặt trận 5” được giao phụ trách 7 đồng chí cùng lên chiến khu Việt Bắc dự một lớp chỉnh huấn. Sau 15 ngày đường giao liên, chúng tôi đã có mặt ở khu vực Quán Vuông, huyện Sơn Dương ATK. Hôm khai mạc, cả lớp được đón Bác. Sau hai tháng học tập, trước khi lớp bước vào đợt “tự kiểm điểm”, “tổng tiến công vào chủ nghĩa cá nhân”, Bác đến động viên, quán triệt. Bàn nói chuyện của Bác đặt ở đỉnh đồi, học viên các tỉnh đứng xung quanh, đoàn Thái Bình ở xa đến sau nên phải đứng ở chân đồi cạnh đường mòn. Bỗng tự nhiên Bác xuất hiện ngay trước mặt, sau này tôi đoán ra chắc Bác nhìn thấy đoàn chúng tôi đều mặc quần áo nâu (các đoàn khác mặc nhiều màu như xanh, tím, vàng… vải ka-ki chiến lợi phẩm) nên Bác dừng lại trước đoàn Thái Bình và hỏi: “Các chú ở đâu?”. Tôi báo cáo: “Thưa Bác chúng cháu ở Khu tả ngạn vùng hậu địch”. Bác còn hỏi ra lâu chưa, có khoẻ không? Rồi tự nhiên Bác bảo đồng chí Hiệu trưởng Hồng Cương là Bác không lên đỉnh đồi mà sẽ đứng tại đây nói chuyện, cho anh em quay lại. Thế là tôi cùng 6 anh em Thái Bình được gần Bác nhất. Sau này các đoàn khác đùa vui bảo: “Thái Bình trâu chậm lại uống nước trong”. Tôi không hiểu sao đời mình lại có may mắn lạ kỳ đến thế!

Tôi không bao giờ nghĩ là mình sẽ được gặp Bác một lần nữa. Vậy mà hạnh phúc lại đến bất ngờ. Lúc đó tôi là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn pháo binh 374 đóng ở Thậm Thình cách Đền Hùng 3 cây số. 3 giờ sáng ngày 18-8-1962, tôi nhận được công văn của đồng chí Nguyễn Khai – Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương: “Đúng 7 giờ sáng nay (19-8) đồng chí Thủ trưởng Lữ đoàn lên đền Hùng làm việc và đón Bác vào thăm đơn vị”. Ngay lập tức, tôi triệu tập Đảng uỷ lữ đoàn, các ban chỉ huy tiểu đoàn họp khẩn cấp bàn kế hoạch đón Bác. Cả đơn vị vừa phấn khởi, vừa “cuống” cả lên! Đêm đó tôi viết đi viết lại báo cáo với Bác mà không biết báo cáo những nội dung gì. Đúng giờ, lên đền Thượng, tôi đã thấy phái đoàn ngồi quanh Bác trên chiếc chiếu hoa trước cửa đền. Đồng chí Nguyễn Khai giới thiệu và nhường tôi ngồi cạnh Bác. Bác nói luôn: “Có gói mứt chuối đặc sản Phú Thọ, Bác cho chú, chú ăn ngay đi, ngon lắm đấy!”. Rồi Bác hỏi vui: “Lữ đoàn là cái gì hở chú?”. Tôi bối rối đành trả lời Bác: “Thưa Bác, lữ đoàn bé hơn sư đoàn và lớn hơn trung đoàn ạ”. Bác cười rất vui và bảo: “Chú này láu cá, láu cá”. Bên tháp cổ tôi tranh thủ báo cáo kế hoạch đón Bác với đồng chí Nguyễn Khai. Tôi nhìn vào thấy Bác nằm nơi cửa Đền Hùng giản dị trong quần áo nâu nhạt màu, gối lên chiếc khăn bông, chiếc khăn mặt đặt trên trán. Tự nhiên nước mắt cứ trào ra.

Bác vào đơn vị, thăm doanh trại, nơi ăn ở, Bác hỏi tôi: “Bếp của đơn vị chú ngày nào cũng sạch bóng như thế này à?”. Tôi lúng túng, đồng chí Nguyễn Khai đỡ lời: “Thưa Bác chắc các chú có sự chuẩn bị chu đáo hơn để đón Bác”. Bác nhìn tôi đầy tình cảm vị tha. Trên đường đến “lễ đài” có một chiến sĩ báo cáo rất to: “Báo cáo thủ trưởng: C12 đang hành quân cấp tốc chưa về kịp”. Biết thế, Bác bảo tôi dừng lại chỗ cây si rất đẹp, cành lá sum xuê. Bác cầm tay tôi rồi nói: “Bác cháu ta ngồi xuống đây nghỉ một lát, chờ đơn vị đang về, nhân thể chú xem còn vấn đề gì lát nữa Bác nói chuyện với đơn vị”. Tất cả những điều tôi báo cáo, Bác đều nhắc nhở đồng chí Nguyễn Khai ghi lại. Nói chuyện với đơn vị xong, Bác đã ghi vào sổ vàng truyền thống những dòng chữ sáng rõ, nghĩa tình: “Luôn luôn cố gắng học tập, cố gắng lao động sản xuất, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc. Chúc các cháu vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết, tiến bộ” – Bác Hồ 19-8-1962.

Cây bút Pác-ke mà đại tá Sáng đưa Bác ghi những dòng lưu niệm trên, đại tá đã giữ suốt 2 cuộc kháng chiến và suốt 30 năm. Đầu năm 1999, Bộ Tư lệnh pháo binh đã cử người về xin nhận chiếc bút đưa vào Bảo tàng lịch sử Binh chủng Pháo binh.

“Bác cho cô Định cái gậy này…”
Đồng chí Lê Thị Định kể

Cuộc đời phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân của tôi đã hai lần vinh dự trực tiếp được gặp Bác, lần nào cũng ghi tạc trong lòng.

Một ngày cuối tháng 2-1967, đang ở khu sơ tán xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, Thái Bình, tôi được điện về ngay Tân Hoà, Vũ Thư họp Thường vụ Tỉnh uỷ bất thường. Đang có chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, không hiểu họp gì, nhưng sao tôi cảm thấy rất vui. Sau khi thông báo việc chuẩn bị đón Bác về thăm Thái Bình, đồng chí Ngô Duy Đông – Bí thư Tỉnh uỷ và tôi lúc đó là Phó chủ tịch tỉnh được giao nhiệm vụ đón Bác tại bến phà Triều Dương. Xe của chúng tôi sang được bến Hưng Yên thì đồng chí Vũ Kỳ cho biết xe của Bác đã xuống phà và đồng chí dẫn chúng tôi xuống chào Bác. Bác bắt tay chúng tôi thân mật. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ mời Bác về cơ quan Tỉnh uỷ sơ tán tại xã Tân Hoà, Vũ Thư (nay trở thành khu lưu niệm về Bác). Xe đến bến đò Cống Vực, chúng tôi mời Bác xuống ca-nô. Nhìn thấy Bác, đồng chí lái ca-nô ngồi thụp xuống. Bác biết đồng chí cảm động liền hỏi: “Chú lái ca-nô này à?”. Chúng tôi đáp lời vì đồng chí ấy không dám đứng trước Bác. Bác nói ngay: “Bác cho phép, chú lái ca-nô đi”. Tới gần bờ, ca-nô không vào được, chúng tôi chuẩn bị ca-nô lúc nước lớn, khi Bác qua là ban đêm, nước xuống. Mọi người rất lo, nhất là đang thời kỳ “chiến tranh phá hoại của Mỹ”. Đồng chí Ngô Duy Đông đành mời Bác xuống thuyền. Thuyền đến bờ, tôi cùng đồng chí Tố Hữu đi hai bên đưa Bác lên đê. Bác hỏi tôi: “Cô Định cho Bác biết còn lối nào đi lý thú hơn”. Đồng chí Tố Hữu nhắc tôi: “Bác phê bình đấy!”. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa hết suy nghĩ về việc chuẩn bị chưa kỹ lưỡng.

Về đến xã Tân Hoà, trong bữa cơm, Bác ăn cơm nắm mang theo từ Hà Nội. Tôi cứ nài nỉ Bác ăn bát cơm nóng và xin Bác miếng cơm nắm. Bác nói: “Bác ăn cơm nắm quen rồi”. Biết tình cảm của chúng tôi, Bác cho một miếng cơm nắm. Tôi bẻ đôi đưa cho đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ một nửa. Bác thấy tôi thích món dưa chua, Bác hỏi: “Cô Định ăn dưa chua có ngon không?”. Tôi đáp: “Thưa Bác ngon ạ!”. Bác cười trìu mến và nói: “Dưa Bác đưa từ Hà Nội về đấy!”. Bữa cơm giản dị nhưng ấm áp tình cha con thân thiết vô cùng. Sau bữa ăn, Bác kể chuyện đi Pháp, Anh, Ấn Độ. Bác hỏi tình hình tỉnh, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh báo cáo với Bác. Nghe xong Bác lần lượt hỏi chuyện từng đồng chí cán bộ tỉnh. Bác hỏi tôi: “Cô Định làm việc gì?”. “Dạ thưa Bác, cháu phụ trách tài chính, thương nghiệp ạ!”. “Cô có sợ thiếu hàng không?”. “Thưa Bác cháu thấy khó khăn lắm!”. Bác dặn dò ngay: “Hàng ít nhưng cốt sao phân phối cho công bằng hợp lý”. Bác còn hỏi toàn tỉnh có bao nhiêu phụ nữ tham gia chính quyền. Nghe tôi báo cáo xong, Bác gợi ý: “Cô có báo cáo gì với Bác không?”. Tôi suy nghĩ và mạnh dạn thưa: “Chị em phụ nữ còn vất vả lắm mà vẫn bị chồng đánh ạ!”. Tôi vừa nói xong, nét mặt Bác buồn hẳn, nghiêm lại, rồi Bác nhắc nhở: “Bác giao cho các đồng chí là phải giáo dục toàn Đảng, toàn dân tuân theo pháp luật, đánh vợ là phạm pháp, là dã man. Trên thế giới người ta tôn trọng phụ nữ lắm. Đồng chí Lê-nin cũng nói: “Phụ nữ là nửa dân số của xã hội, nếu phụ nữ không được giải phóng thì nửa dân số chưa được giải phóng…”. Đêm đó Bác làm việc tới tận 1 giờ sáng, các đồng chí lãnh đạo tỉnh phải mời Bác đi ngủ. Sáng hôm sau, Bác dậy rất sớm, tay xách đèn bão bước ra nhà ngoài. Bác nói: “Năm mới Bác chúc Tết các đồng chí”. Chúng tôi rất cảm động, lẽ ra chúng tôi đến chúc Tết Bác trước mới phải. Đúng là sự bao dung của một lãnh tụ, của một người cha.

Sáng hôm sau, trên đường đến đình Phương Cáp nói chuyện với nhân dân, qua chiếc cầu tre, Bác nhắc nhở chúng tôi phải lưu ý cầu cống, đường sá cho dân đi lại an toàn. Đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ giới thiệu Bác với nhân dân, Bác nói ngay: “Bác mà chú còn phải giới thiệu cơ à?”. Hôm đó Bác nói chuyện về sản xuất nông nghiệp, về trồng cây, nuôi cá. Bác hỏi đồng chí Chủ tịch tỉnh: “Thái Bình đã trồng được bao nhiêu cây?” Đồng chí Chủ tịch báo cáo mỗi người trồng đựơc 12 cây, Bác lại hỏi: “Cây thì chú tính thế nào, vì có nơi tính cả cây muồng muồng cho nhiều!”. Cả hội trường cười vang. Bác lại hỏi Thái Bình nuôi cá thế nào. Đồng chí Bí thư trả lời: “Chúng cháu đã làm…” Bác nhắc nhở ngay: “Chú nói cụ thể chứ nói đã và đang thì dễ thôi”. Rồi Bác động viên khen ngợi các cụ phụ lão, khen xã Hợp Hoà, HTX Tân Phong xã Việt Hùng sản xuất giỏi. Cuối cùng Bác hỏi vui: “Nghe nói Thái Bình vẫn còn tệ đánh vợ. Ngồi ở đây có chú nào đánh vợ thì dũng cảm giơ tay lên”. Cả hội trường im lặng. Thấy thế đồng chí Đào Ngọc Chế – Phó chủ tịch tỉnh liền đáp: “Thưa Bác, không dám đánh mà chỉ kỳ kèo thôi ạ!”. Bác nghiêm lại rồi nói thêm: “Kỳ kèo rồi đi đến chỗ bạt tai chứ gì?”. Cả hội trường vỗ tay vang dội.

Lần thứ hai tôi được gặp Bác là vào đầu năm 1969, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình lại được Ban Bí thư cho lên báo cáo với Bác kế hoạch chuẩn bị đại hội đảng bộ. Nghe báo cáo xong, Bác hỏi về tình hình mọi mặt, rồi đột ngột Bác hỏi tôi: “Riêng tệ đánh vợ Bác hỏi cô Định, Thái Bình đã giảm chưa”. Tôi không ngờ bận trăm công ngàn việc của đất nước đang trong thời chiến mà Bác vẫn nhớ câu chuyện Bác về Thái Bình mấy năm trước. Tôi liền thưa với Bác là Thái Bình có sự chuyển biến, tiến bộ hơn. Nghe xong, Bác liền chỉ vào cây gậy và nói: “Bác cho cô Định cái gậy này để trừng trị những ai đánh vợ”. Và thật không ngờ, đây là lần cuối cùng tôi được ngồi bên Bác. Mấy tháng sau Người đã đi xa…
Sau này, chiếc gậy mà Bác cho đã được chuyển về và đặt vào bảo tàng tỉnh Thái Bình.

Những giây phút được túc trực bên linh cữu Người
Đại tá Nguyễn Sáng kể

Theo Chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, Quân khu Đông Bắc được cử các cán bộ cao cấp về Hà Nội chịu tang Bác. Chúng tôi được Ban tang lễ phân công mỗi người 2 ca trực, mỗi ca 15 phút bên linh cữu Bác. Ban tang lễ quy định khi “làm nhiệm vụ” không được khóc thành tiếng. Bên ngoài Hội trường Ba Đình, các đoàn đại biểu xếp hàng kín cả sân trước, còn nhân dân cứ nối hàng suốt đêm ngày qua lễ đài viếng Bác. Mưa gió tầm tã mà không một ai mặc áo mưa. Vào ca trực 22h đêm, một bên là cụ Phan Văn Bạch – Chánh toà án tối cao, một bên là tôi. Cụ Bạch xúc động quá, chỉ đứng được mấy phút. Còn tôi cứ phải cắn chặt răng lại nhất là khi thấy các cháu thiếu nhi khóc lóc thảm thiết, nước mắt tôi tuôn trào suốt ca trực, ướt cả vạt áo trước ngực. Đến phiên trực lần thứ hai, 2h sáng tôi và đồng chí Tư lệnh hải quân Nguyễn Bá Phát trực. Đồng chí Phát trực được 5 phút, khẩu súng trường vẫn trong tay và người cứ khuỵ dần xuống. Còn tôi lúc đó cảm thấy “như là không trọng lượng”. Tuy vẫn tỉnh nhưng mắt tôi không còn trông rõ gì nữa. Nước mắt vẫn tuôn chảy ướt đẫm áo ngực. Xong 15 phút trực, tôi không chủ động xách khẩu súng trường được nữa. Một đồng chí trong ban tổ chức tang lễ đã đến xách giúp tôi. Đó là lần thứ 5 tôi may mắn được bên Người và cũng là lần đưa tiễn Bác – Người cha của toàn thể dân tộc đi xa…

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng online

hcmpc.com.vn

Nhớ người cha thân yêu

TTO – Sau chiến dịch Điện Phủ toàn thắng ngày 7 tháng 5 năm 1945, tôi và một số đồng chí  thuộc E98 – F316 được cấp trên cho đi làm nhiệm vụ “đặc biệt”. Ai cũng hồi hộp. Đến khi cấp trên tuyên bố: “Các đồng chí được vinh dự lớn, bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung Ương và Bác Hồ” thì lòng tôi vỡ òa sung sướng…

Tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954, ngày 11-10-1954 anh em chúng tôi trong trang phục gọn gàng, súng đạn sẵn sàng tiến quân vào Hà Nội nhận nhiệm vụ cao quí mới. Những ngày đầu, cơ quan Trung ương đóng tại nhà thương Đồn Thủy (nay là Quân y viện 108), về sau chuyển về khu Ba Đình.

Năm đó Bác rất khỏe và đi đứng nhanh nhẹn, ánh mắt Bác thật ấm áp trìu mến. Thường ngày Bác hay mặc bộ bà ba màu nâu và đi dép cao su. Lúc rảnh rỗi, Bác tập trung anh em cảnh vệ lại, bằng giọng nói rõ ràng và ấm áp, Bác chỉ bảo cho chúng tôi biết phong tục tập quán riêng của đồng bào Hà Nội, cách đi đứng và những việc thông thường rất cần thiết như vào nhà tắm, nhà vệ sinh, uốn nắn chúng tôi từng lời ăn tiếng nói…

Với tấm lòng yêu mến lãnh tụ, nhân dân trong nước và kiều bào nước ngoài thường hay tặng Bác những món quà đặc biệt quí hiếm. Một lần, có người dân chài lặn lội từ miền biển lên, biếu Bác mấy cân bong bóng cá. Bác giao cho đồng chí Cẩn mang đến tặng đơn vị chúng tôi. Bác còn cẩn thận nhờ đồng chí Cẩn, là người lo cơm nước cho Bác chế biến để anh em chúng tôi được thưởng thức đặc sản.

Một lần khác, có tiền nhuận bút từ Liên Xô (cũ) gởi về, Bác đem đến tặng đại đội chúng tôi trước lễ Quốc Khánh 2-9 khoảng hai, ba tháng. Bác dặn: “Nhiều no ít đủ, Bác không có nhiều tiền cho các chú. Số tiền này, các chú mua con giống tăng gia thêm để đến ngày Quốc Khánh các chú có đủ thịt, cá, rau mà liên hoan cùng nhau”.

Ngày lễ lớn những năm đầu tiếp quản Thủ đô, nhân dân Hà Nội và các cơ quan đoàn thể tham dự mit tinh thả bồ câu trắng tung bay rợp trời, tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Hàng đàn bồ câu trắng ở lại quanh lễ đài, quanh nhà khách Chủ tịch và quanh nhà Bác ở. Đất lành chim đậu, Bác rất vui. Những lúc rảnh rỗi, Bác thường cho bồ câu ăn. Vậy mà có một vài đồng chí bộ đội vô ý thức bắt bồ câu làm thịt. Bác không vui, phê bình thật nhẹ nhàng, thấm thía: “Nhân dân thả bồ câu để cầu nguyện hòa bình, sao các chú nỡ giết thịt?”.

Nhớ một ngày hè, Bác dạo quanh vườn bắt gặp tổ 3 người chúng tôi là anh Hạnh, anh Thái và tôi đang trèo cây hái nhãn. Sợ quá, tưởng Bác sẽ quở trách, ai ngờ Bác vui vẻ dặn dò: “Hái nhãn ăn cũng được nhưng phải hết sức cẩn thận, kẻo ngã thì khốn”.

Những việc làm của Bác, những lời của Bác dạy bảo chúng tôi chỉ là những chuyện thông thường, rất giản dị nhưng đã làm chúng tôi nhớ mãi như những điều thiêng liêng, bởi những điều đó xuất phát từ tình thương bao la của Bác, thắm đượm tình cảm của Bác – như tình cảm một người cha dành cho những đứa con thân yêu của mình.

Những lần đại tiệc, tiếp khách nước ngoài, Bác đều dặn dò bộ phân giao tế nhớ để phần cho bộ đội bảo vệ. Những hôm có đoàn ca kịch hoặc chiếu phim, ngoài những người đang làm nhiệm vụ còn tất cả chúng tôi đều được quây quần quanh Bác cùng xem. Một lần đoàn kinh kịch của Trung Quốc biểu diễn tích xưa có vai các tướng đấu kiếm với nhau, buổi biểu diễn kết thúc, các đại sứ nước ngoài đua nhau tặng hoa cho vị tướng đóng vai thắng trận. Riêng Bác, Bác tặng hoa cho viên tướng đóng vai thua trận. Bác cười vui: “Ăn cho đều, kêu cho khắp, phải động viên họ để lần sau đánh thắng chứ”.

Có lần đoàn tuồng Ái Liên biểu diễn phục vụ cơ quan Chính phủ vở Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, diễn viên trình diễn xuất sắc làm rung động lòng người, khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Xong buổi diễn Bác có vẻ không được vui, Người bước lên sân khấu và đọc mấy vần thơ:

“Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
Chữ tình nên trọng, chữ tài nên thương
Lão già dở dở ương ương.
Làm đôi anh chị dở duyên không thành
Đánh cho phong kiến tan tành,
Cho trăm ngàn Sơn Bá – Anh Đài thành đôi”

Bác dạy chúng tôi những bài học thật tế nhị, trong lúc chờ phim, chúng tôi quây quần bên Bác vui văn nghệ, một cô gái xung phong hát bằng tiếng nước ngoài, Bác đề nghị: “Người mình nên hát tiếng mình thì Bác và các chú ở đây mới hiểu, mới hay chứ”. Lại một đồng chí bộ đội xung phong: “Tôi ra đây hát mừng Cụ Hồ sống lâu muôn tuổi”, Bác bảo: “Chú hát bài khác, bài này cũ lắm rồi!”.

Có một đêm chiếu phim ở Liên Xô (cũ) không có người thuyết minh chính, một cán bộ học ở Nga về có lẽ chưa quen nên dịch nghe không được rõ. Bác cười bảo để Bác thuyết minh cho. Chúng tôi lắng nghe từng đoạn, từng ý, Bác dịch thật mạch lạc, gãy gọn, dễ hiểu… Ở Bác, điều gì cũng thật giản dị, và hình như điều gì Bác cũng có thể làm được!…

HOÀNG VĂN HIỂN

tuoitre.vn

Anh bưu tá 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

(Nguoiduatin.vn) – Là nguyên thủ quốc gia, thế nhưng khi về thăm quê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có khi lại chỉ đi chiếc ô tô giản dị do một người bưu tá điều khiển.

Ông Nguyễn Đình Ngọc, người có vinh dự được Bác 2 lần ngồi trên chính chiếc ô tô do mình cầm lái kể lại dù đã hơn 50 năm kể từ lần đầu tiên được gặp Bác nhưng với ông, đó là kỷ niệm và niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời.

Ông Ngọc (bên phải) kể chuyện 2 lần chở Bác về thăm quê cho con trai nghe

Vị lãnh tụ giản dị

Ông Nguyễn Đình Ngọc sinh ra và lớn lên tại Thọ Hạc, Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Điện Biên, TP Thanh Hoá). Năm 1946 ông vào quân ngũ và học lái xe. Đến năm 1953, ông được điều động lái xe chở hàng chi viện phục vụ chiến trường Điện Biện Phủ. Trong giai đoạn này, ông còn vinh dự được Chính phủ giao chở đoàn công tác của Ấn Độ sang thực hiện Hiệp định Giơnevơ ở Việt Nam.

Sau khi giải phóng Điện Biên Phủ, ông Ngọc được điều chuyển về Nghệ An lái xe cho Tỉnh uỷ, với nhiệm vụ vận chuyển công văn, thư từ hoả tốc đến các vùng. Cũng từ đó, anh về sinh sống cùng vợ con ở khối 4, phường Lê Lợi (TP Vinh).

Ông Ngọc kể: Ngày 13/6/1957, Tỉnh uỷ họp phiên đột xuất và thông báo sáng mai (tức 14/6) tỉnh sẽ đón một cán bộ cao cấp của trung ương tại sân bay Vinh. Tất cả thông tin về chuyến đi này được tuyệt đối giữ bí mật, kể cả danh tính của vị lãnh đạo ấy. ông Ngọc được giao nhiệm vụ lái xe phục vụ và bảo vệ vòng ngoài.

Giờ G đã đến, tất cả thực hiện đúng nhiệm vụ đã được phân công. Khi chiếc máy bay trực thăng hạ cánh, ai nấy đều hồi hộp. Một người đàn ông mang bộ ka ki bạc màu bước ra cầu thang máy bay. Dù chưa một lần gặp mặt, nhưng ai nấy đều nhận ra đó là Bác Hồ. Tất cả chạy ùa về phía Bác. Bác bắt tay, ôm hôn mọi người và bất ngờ bước lên chiếc xe commăngca cũ kỹ của ông Ngọc chứ không phải chiếc xe chở khách chuyên dụng sang trọng hơn mà Tỉnh uỷ Nghệ An đã chuẩn bị trước đó.

“Lúc đó xe cộ đông đúc và lộn xộn. Vui và hồi hộp quá, tôi quên mất nhiệm vụ cấp trên giao mà chỉ biết thực hiện theo mệnh lệnh của Bác. Theo lời Bác, tôi cho xe chạy thẳng về trung tâm TP Vinh. Những chiếc xe khác cứ chạy theo phía sau, các cận vệ tỏ ra lo lắng. Bác bảo tôi chở Bác tham quan một vòng để vẫy chào bà con 2 bên đường và đi về thăm quê hương Kim Liên (Nam Đàn). Thông qua hệ thống phát thanh nên hầu hết người dân Nghệ An, Hà Tĩnh đều đã biết Bác Hồ về thăm quê nên người ở dọc tuyến đường từ Vinh lên Kim Liên cứ nườm nượp từng đoàn người”, ông Ngọc kể lại.

Ông Ngọc cho biết, là người rất cẩn thận, giữ an toàn nên trên quãng đường, Bác không nói chuyện với lái xe mà chỉ vẫy tay chào nhân dân 2 bên đường đứng đón Bác. Nghe tin Bác về quê, ai ai cũng náo nức, phấn khởi chờ Bác từ rất sớm. Trong một buổi sáng tháng 6 nắng chan hoà, với bộ quần áo ka ki, đôi dép cao su mòn gót, Bác tươi cười vẫy chào nhân dân. Cả rừng người hò reo mừng đón Bác.

Câu chuyện xúc động

Khi về tới quê, một vị lãnh đạo tỉnh mời Bác đi vào nhà khách mới được xây dựng, nhưng Bác ngăn lại: “Bác xa nhà, xa quê đã lâu rồi nên phải về thăm nhà trước đã. Nhà khách là dành để tiếp khách, cho khách ở. Chứ Bác là người nhà chứ có phải là khách đâu!”.

Ông Nguyễn Đình Ngọc bên chiếc xe đã 2 lần chở Bác Hồ về thăm quê

Đến trước chiếc cổng tre dẫn lối đi vào nhà ngang thấy hàng chữ ghi trên tấm bảng nhỏ “Nhà Bác Hồ”, Bác liền quay lại bảo: “Viết thế này là chưa đúng. Đây là nhà cụ Phó Bảng chứ có phải là nhà của Bác Hồ đâu”. Đúng như Bác nói, ngôi nhà này chính dân làng Kim Liên đã góp công, góp sức dựng mừng quan Đại khoa Nguyễn Sinh Sắc nhân dịp ông thi đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901.

Rồi Bác bước vào trong và tiếp tục phê bình: “Các chú mở lối như thế này là sai. Cổng nhà cụ Phó Bảng ở hướng Đông, chứ đâu phải chỗ này”. Điều này cho thấy trí nhớ của Bác rất tốt. Đã 50 năm Bác bôn ba khắp nơi, nay mới trở về thăm quê, thăm nhà lần đầu nhưng Bác vẫn không quên bất cứ điều gì ở đây.

Bác đứng tần ngần, nhìn bao quát 2 ngôi nhà và chỉ cho những người đi theo, đâu là nơi trồng cây ổi, chỗ nào có cây thanh yên… đã mọc trên mảnh vườn xưa của nhà Bác. Bác đi vào nhà, đi đến đâu Bác chỉ cho mọi người vị trí đặt, để các đồ vật. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của Người.

Bác lại đi ra sân, đứng ngắm lại ngôi nhà đã gắn bó một giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời Bác. Ngôi nhà này là nơi chứng kiến quá trình lao động, học tập và trưởng thành của Bác; là nơi ghi dấu những cảm xúc đầu tiên về lòng yêu nước, về nhận thức xã hội và ghi dấu những hoạt động cứu nước bước đầu của Người.

Trong buổi sáng mùa hè đặc biệt ấy, ngay trước sân nhà mình, Bác đã xúc động nói: “Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải phóng, nhân dân đã được tự do”.

Gần 4 năm sau, ngày 8/12/1961, Bác Hồ lại về thăm quê lần thứ 2. Đảng bộ và nhân dân Nghệ An tiếp tục được đón Bác tại sân bay Vinh trong niềm vui vô bờ. Lần này, ông Ngọc được lãnh đạo tỉnh tin tưởng giao nhiệm vụ tháp tùng Bác. ông Ngọc còn nhớ rất rõ, đó là chiếc máy bay mang ký hiệu BS 58482. Lần về thăm quê này, Bác tóc đã bạc hơn.

“Gặp ai Bác cũng dặn dò. Bác căn dặn phải siêng năng lao động sản xuất, phải yêu nước. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng Bác trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình”, ông Ngọc kể.

Khi bài viết này lên trang thì nhân vật Nguyễn Đình Ngọc vì tuổi cao sức yếu đã qua đời. Trong lần gặp chúng tôi cuối cùng để cung cấp tư liệu cho bài viết, ông Ngọc bồi hồi: “Chỉ là một anh bưu tá, đưa thư, trước đó tôi chưa bao giờ dám tin một ngày được gặp Bác. Vậy mà đã 2 lần tôi có vinh dự được lái xe chở Bác về thăm quê. Vinh dự này không phải ai trong đời cũng 1 lần có được”.

Phan Xuân Hồng

nguoiduatin.vn

Kiều nữ Thành Nam lần đầu gặp Bác

(Nguoiduatin.vn) – “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi của Bác làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa.

Với bất cứ ai, được trực tiếp nhìn thấy Bác một lần trong đời là niềm hạnh phúc lớn. Riêng đối với bà Nguyễn Thị Kim Dung – Nguyên cán bộ Ban Tổ chức Thành ủy Nam Định, nguyên đại biểu Quốc hội khóa III – niềm hạnh phúc đó thật to lớn vì bà không chỉ được gặp Bác hai lần mà còn được Người trò chuyện và dạy bảo.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung thời trẻ

Sinh năm 1937 tại xã Hải Quang (Hải Hậu), bà Kim Dung cùng gia đình chuyển tới sống tại xã Nam Phong vào năm 1963. Một năm sau, bà được Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nam Định giới thiệu ra ứng cử rồi được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa III. Tại kỳ họp thứ nhất ở Thủ đô Hà Nội, bà và các đại biểu trẻ vinh dự được vào gặp Bác ở vườn cây gần nơi Bác ở.

Quá xúc động và bỡ ngỡ vì lần đầu tiên trong đời được gặp Bác, bà không nghe thấy Bác gọi tên mình. Phải tới khi Bác gọi đến lần thứ ba và mọi người xung quanh nhắc, bà mới vội vàng đứng dậy, lúng túng đến nỗi để chiếc áo dài quấn vào ghế.

Bác nhìn bà đôn hậu rồi hỏi đùa: “Thế cháu là nông dân, mặc áo dài đi cày, áo quấn vào cày, cháu cày làm sao?”. Câu hỏi làm nữ đại biểu Quốc hội thẹn thùng, mặt nóng như đổ lửa. Thấy vậy, Bác nói ngay: “Thôi, Bác đùa đấy. Thế Chi bộ Vạn Phong và Đảng bộ Nam Phong vẫn 4 tốt chứ?”.

Sau khi trò chuyện, hỏi han, Bác cùng mọi người ra cửa Phủ Chủ tịch chụp ảnh kỷ niệm. Hôm đó, các đại biểu trẻ được về gặp Bác rất đông, ai cũng muốn được đi gần Bác. Các anh chị em khác chen nhau đi trước còn bà Dung đi sau.

Bỗng Bác dừng lại bên cạnh rồi nắm lấy tay bà nói: “Những thành tích của cháu đạt được, Bác rất hoan nghênh. Bác sẽ tặng cho cháu Huy hiệu của Bác. Cháu cố gắng học tập để có đủ trình độ làm tốt nhiệm vụ của nguời Đảng viên, người đại biểu Quốc hội nhưng Bác cũng phê bình cháu, cháu ít tuổi nhưng nhiều con. Cháu phải sinh đẻ có kế hoạch thì mới tiến bộ được”.

Những lời dạy bảo của Người làm bà vô cùng vui sướng và xúc động. Bà không ngờ một vị Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc như vậy mà lại có thể nắm rõ một cách tường tận thành tích của một Chi bộ, một Đảng bộ và hơn thế là cả lai lịch chi tiết của một đảng viên trẻ ở vùng quê như bà. Lời Bác như những lời dạy bảo chân tình của người ông nội, người cha đối với con, cháu trong nhà.

Bà Kim Dung được Bác nắm tay dẫn đi tiếp trên con đường rải sỏi, dưới hàng cây mát rượi. Trong bàn tay ấm áp của Người, bà cảm thấy như được truyền thêm sức mạnh để có thể vượt qua tất cả mọi khó khăn và sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong lần chụp ảnh đó, Bác còn bảo với bà: “Cháu thấp, cháu đứng đằng trước để thợ chụp ảnh nhìn cho đẹp”. Khi lấy ảnh, bà mới biết được rằng mình được đứng ngay dưới chân Bác. “Trải qua mấy chục năm rồi nhưng thời khắc thiêng liêng đó vẫn không phai mờ trong ký ức của tôi” – Bà nói, tay nâng niu bức ảnh cũ đã sờn, khóe mắt ngấn lệ vì xúc động xen lẫn vẻ tự hào.

Bác Hồ tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần 3, tháng 5-1962

Sau lần gặp đó, vào năm 1968, bà được Đảng bộ tỉnh cử đi dự Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng 4 tốt toàn miền Bắc tại Hội trường Ba Đình. Đến giờ giải lao, các đại biểu xôn xao vì không thấy Bác đến dự.

Khi đang đứng ở hội trường, bà thấy đồng chí Lê Hoành – Chuyên viên Ban Tổ chức Trung ương – đến tìm và nói: “Bác đang hỏi cô. Cô về chụp ảnh với Bác”. Lúc gặp, Bác vẫy vẫy tay gọi bà đến bên và bảo: “Bác cháu ta ngồi xuống để chụp ảnh”.

Bà ngồi xuống ôm chân Bác như một đứa cháu nhỏ. Nhìn thấy Bác gầy và xanh, bà hỏi: “Thưa Bác, Bác có khỏe không ạ?”. Bác hiền từ nhìn bà và bảo: “Bác vẫn khỏe”. Bác còn quan tâm hỏi han bà rất nhiều về chuyện chồng con, cuộc sống gia đình… Bà không ngờ đó là lần cuối cùng bà được gặp Bác và được chụp ảnh chung với Bác.

Trong 8 năm làm đại biểu Quốc hội cũng như trong quá trình công tác và về địa phương nghỉ hưu sau này, bà vẫn luôn nhớ và làm theo lời Bác dặn: Phấn đấu rèn luyện phẩm chất lối sống để mãi là người đảng viên tốt được quần chúng tin yêu.

Năm 1993, bà nghỉ hưu nhưng vẫn tích cực tham gia hoạt động trong các tổ chức như Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Mặt trận Tổ quốc… Cách đây 2 năm, bà xin thôi giữ chức Chủ tịch Hội Khuyến học xã Nam Phong và bàn giao công việc cho người khác.

Trong cuộc sống hàng ngày, bà luôn xông xáo, miệng nói tay làm, sẵn sàng đi đầu giải quyết những vụ việc khó khăn, phức tạp ở địa phương với tinh thần “bất cứ lúc nào, bất cứ đâu cần là mình có mặt”.

Bà tâm niệm phải cố gắng làm tốt nhất những gì mình có thể, làm những gì có lợi cho Đảng, cho dân và rất tự hào đến nay vẫn giữ được cốt cách, đạo đức của người đảng viên. Điều hạnh phúc nhất của bà là cả 5 người con đều đã thành đạt và có gia đình êm ấm. ở bất kỳ vị trí nào, các con bà đều luôn phấn đấu để xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình.

Bà Kim Dung chia sẻ, năm tới sẽ được nhận Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Bà cũng kể thêm, có một cán bộ trên Trung ương vừa tìm về xin mượn tấm huy hiệu mà Bác đã trao tặng cho bà cách đây gần 50 năm cùng tấm huy hiệu đại biểu Quốc hội để trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bà quyết định xin giữ lại tấm Huy hiệu cao quý Bác tặng để làm kỷ niệm cho mình và cho con cháu sau này.

Hữu Chiến

nguoiduatin.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của một cựu giảng viên ĐH

(Dân trí) – Gần 90 tuổi đời và có nửa thế kỷ đứng trên bục giảng, nhà giáo Lê Văn Đàm, nguyên giảng viên Trường đại học Sư phạm Vinh vẫn nhớ như in những kỷ niệm xúc động về Bác Hồ kính yêu.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, một làng quê nổi tiếng về truyền thống văn hóa của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Lúc nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Văn Đàm đã quyết noi theo truyền thống gia đình họ tộc, quyết tâm học hành và luôn luôn đứng đầu lớp. Năm 1944, vừa mới bước vào tuổi 18, Lê Văn Đàm đã vinh dự đứng vào hàng ngũ những người làm giáo dục với chức trách là một giáo viên tiểu học.

Sau thời gian học tập ở Trung Quốc 3 năm (1953-1956), Lê Văn Đàm về nước, được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường cấp II Trần Phú (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mùa hè năm đó, Lê Văn Đàm được triệu tập tham gia lớp chỉnh huấn dành cho các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cốt cán toàn miền Bắc tại Hà Nội. Lần này, Lê Văn Đàm vinh dự được gặp Bác Hồ.

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ đã có 47 năm đứng trên bục giảng từ bậc tiểu học đến đại học, có hơn 20 năm giảng dạy tại Khoa Tâm lí – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Vinh và 10 năm là chuyên gia giáo dục ở châu Phi. Là nhà giáo mẫu mực, cụ đã đào tạo hàng nghìn học trò thuộc nhiều thế hệ. Năm 2009, cụ được tỉnh Hà Tĩnh tôn vinh “Nhà giáo lão thành có nhiều cống hiến”.

Cụ Đàm kể: “Lúc ấy lớp chỉnh huấn tập trung ở hội trường trường Chu Văn An vào ban đêm, dù có điện nhưng không được sáng như bây giờ. Bất ngờ cả hội trường ồ lên khi được tin Bác Hồ đến thăm. Tình hình đấu tranh tư tưởng đang căng thẳng, nên được Bác Hồ đến thăm làm mọi người rất phấn khởi. Bác mặc bộ quần áo kaki trắng giản dị, người hơi gầy với chòm râu thưa. Sau khi ổn định tình hình, Bác nhìn quanh hội trường rồi hỏi: “Cán bộ nữ trong lớp chỉnh huấn của chúng ta được mấy “vắt”?

Cả hội trường hết sức bất ngờ vì cách dùng từ dí dỏm của Bác, và nhất là người cán bộ phụ trách chưa nắm được cụ thể có bao nhiêu nữ cán bộ giáo viên có mặt. Thực ra vào giai đoạn này giáo viên nữ, nhất là cán bộ quản lý rất ít. Một cán bộ đáp: “Thưa Bác, nữ được khoảng chục “vắt” ạ!”. Bác nói: “Sao ít thế?”, rồi Người nói về vai trò của phụ nữ, nhắc nhở các cán bộ quản lý giáo dục cần tuyển thêm nhiều giáo viên nữ.

Sau đó, Bác hỏi thăm về mức lương, thu nhập của đội ngũ nhà giáo. Nghe cán bộ báo cáo, Người trầm ngâm một lúc rồi nói: “Việc giáo dục hết sức quan trọng, nhà giáo có vai trò đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục, nhưng mức sống của đa số giáo viên còn thấp. Chính phủ phải có chính sách từng bước nâng cao đời sống cho đội ngũ giáo viên”.

Nhà giáo Lê Văn Đàm nay nghỉ hưu tại Hà Tĩnh.

Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giáo dục sau đó đã có những chính sách để thu hút các nữ sinh vào trường sư phạm. Các nhà trường sư phạm cấp học bổng cho sinh viên, tuy không dư dật song cũng đủ ăn tiêu, không phải dựa vào chu cấp của gia đình. Các sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường sư phạm đều được phân công công tác tùy theo nhu cầu giáo dục của từng địa phương.

Lần đầu được gặp Bác, nhà giáo Lê Văn Đàm nhớ mãi phong thái giản dị, gần gũi, hài hước, sự quan tâm sâu sắc của Người đối với các nữ nhà giáo và đời sống giáo viên. Những lời dạy của Người sau đó đã được Chính phủ và ngành giáo dục áp dụng trong thực tiễn.

“Giáo cụ trực quan” là gì?

Nhà giáo Lê Văn Đàm còn có may mắn được gặp Bác Hồ lần nữa. Năm 1959, Bác Hồ đến thăm Trường đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc này nhà giáo Lê Văn Đàm đang học Khoa Tâm lí – Giáo dục. Vì Bác có nhã ý thăm lớp cán bộ quản lý được cử đi học, nên Lê Văn Đàm có cơ duyên gặp Người lần nữa.

“Lúc đó, mấy anh em chúng tôi đang lúi húi làm việc thì thấy có tiếng người xôn xao, cửa mở và đã thấy Bác Hồ đến ngay trước mặt. Đúng là như trong giấc mơ. Bác bắt tay từng người rồi hỏi: “Các chú đang làm gì thế?”. Nhà giáo Lê Văn Đàm thưa: “Thưa Bác, chúng cháu đang làm giáo cụ trực quan ạ”. Người hỏi lại: “Thế “giáo cụ trực quan” là gì? Nhà giáo Lê Văn Đàm đáp: “Thưa Bác, “giáo cụ trực quan” là đồ dùng dạy học ạ”. Bác hỏi: “Thế tại sao không nói “đồ dùng dạy học” mà lại nói “giáo cụ trực quan”?. Mọi người im lặng, lúng túng, Bác nói: “Chúng ta giáo dục cho con em nên chú ý việc dùng chữ. Những chữ đã có trong tiếng ta thì cần không vay mượn, cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hiện nay đang có bệnh sính dùng chữ, cần phải sửa từ những cán bộ giáo dục để làm gương cho học sinh và đồng bào”.

Trong trái tim nhà giáo lão thành, những kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu vẫn vô cùng sâu đậm.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng những lời dạy của Bác từ cuộc gặp gỡ đó mãi in sâu trong tâm trí nhà giáo Lê Văn Đàm và trở thành kim chỉ nam trong cuộc đời làm giáo dục của cụ.

Cụ Đàm tâm sự: “Thực ra lúc đó chúng ta dịch giáo trình từ Trung Quốc, Liên Xô nên có vay mượn thuật ngữ. Mặt khác, không ít cán bộ vẫn mắc “bệnh sính chữ”. Lời dạy của Bác không chỉ nói về việc dùng chữ, mà chính là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ, và các nhà giáo phải làm gương cho xã hội”.

Sau này, trong những năm đi làm chuyên gia giáo dục quốc tế ở châu Phi (cụ Lê Văn Đàm từng làm chuyên gia giáo dục ở Ghi-nê và Ăng-gô-la hàng chục năm), cụ Đàm luôn tìm cách để giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Dù xa cách ngàn trùng, đất nước và Bác Hồ vẫn rất gần

Từ năm 1965 – 1969, nhà giáo Lê Văn Đàm được Chính phủ cử đi làm chuyên gia giáo dục tại Ghi-nê. Trước khi lên đường, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật và dặn dò nhà giáo Đàm. Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ giúp bạn phát triển giáo dục cũng quan trọng không kém việc đánh giặc bảo vệ Tổ quốc (lúc này chiến sự đang rất căng thẳng), đồng thời nhắc mỗi người cần giữ gìn tư cách, tác phong của người Việt Nam khi ở nước bạn.

Khí hậu châu Phi khắc nghiệt, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với những người đã quen gian khổ như cụ Lê Văn Đàm thì không phải là vấn đề đáng ngại. Chỉ có nỗi nhớ Tổ quốc, nhớ Bác Hồ là luôn canh cánh bên lòng. Lúc đầu, các nhà giáo xa xứ nghe tình hình Việt Nam qua bản tin quốc tế tiếng Pháp của các nước, sau một thời gian mới bắt được sóng của Đài tiếng nói Việt Nam.

Dù bận đến mấy, việc nghe đài Việt Nam luôn được ưu tiên hàng đầu. Những tin tức chiến thắng dồn dập làm cho các nhà giáo phấn khởi vô cùng. Vì các sinh viên Ghi-nê rất muốn nghe về thời sự Việt Nam, nên nhà trường đã tổ chức mời nhà giáo (họ gọi là giáo sư – Professeur) Lê Văn Đàm diễn thuyết trước sinh viên toàn trường về thời sự đánh giặc Mỹ của Việt Nam. Chương trình chỉ có ba tiếng từ 8 giờ đến 11 giờ), nhưng đến 11 giờ, sinh viên yêu cầu nói thêm, chưa ăn cơm cũng được. Thế là giáo sư Lê Văn Đàm phải nói thêm 2 tiếng nữa mới nghỉ. Cả trường lặng phắc lắng nghe, cả ông bảo vệ trường cũng say sưa nghe giáo sư Đàm diễn thuyết. Sau này vì các sinh viên muốn tìm hiểu thêm, nhà giáo Lê Văn Đàm liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam để mượn các bộ phim về chiếu cho sinh viên xem. Làn sóng hâm mộ Việt Nam dâng cao, đến mức đại diện ngoại giao Mỹ tại Ghi-nê phản đối, cho rằng nhà trường “thiên vị” Việt Nam. Nhưng nhà trường nói vì sinh viên yêu thích nên họ không “bắt lí” được.

Sau 5 năm công tác, Lê Văn Đàm về Hà Nội vào đúng ngày 2/9/1969, được người nhà báo tin Bác ốm rất nặng. Sáng ngày 3/9, Lê Văn Đàm và người dân cả nước đau đớn khi được tin Bác Hồ đã từ trần. Lê Văn Đàm vội đến quảng trường Ba Đình để xem tình hình nhưng không vào được, chen chúc trong cả biển người chan hòa nước mắt giữa trời mưa tầm tã. Lê Văn Đàm đã ở lại Hà Nội tham dự lễ tang Bác, 12 ngày sau mới về gặp gia đình ở Hà Tĩnh.

Bài và ảnh: Quang Đại – Văn Dũng

dantri.com.vn

Một lần đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Với Trung tá về hưu Lương Văn Vở một lần được lái xe cho Bác Hồ là vinh dự vô cùng lớn lao. Đã hơn 50 năm trôi qua nhưng với ông từng lời nói, cử chỉ, việc làm của Bác đều trở thành những hình ảnh đẹp trong ký ức không thể nào quên.

Hành trình đưa Bác về thăm chiến khu xưa

Trong biết bao ký ức cuộc đời, ông Lương Văn Vở 75 tuổi ở phường Suối Hoa (thành phố Bắc Ninh) vẫn luôn dành một vị trí trang trọng nhất cho kỷ niệm lần được gặp Bác. Ông xúc động kể lại câu chuyện của hơn 50 năm về trước.

“Năm 1958, Bác Hồ về thăm căn cứ địa cách mạng Việt Bắc. Theo yêu cầu của cấp trên cần có đồng chí lái xe giỏi, quen đường rừng, núi, đèo, dốc, để đưa Bác đi. Còn đồng chí lái xe chính cho Bác đi sau để khi quay về lái cho quen đường. Lúc đó, tôi đang là lái xe của đồng chí Lê Quảng Ba, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Sáng sớm, tôi được chỉ huy đơn vị thông báo sẽ nhận nhiệm vụ lái xe cho Bác. Bấy lâu chỉ được nhìn Bác qua ảnh, nghe giọng Bác nói trên đài, nay sẽ được trực tiếp lái xe cho Bác. Vinh dự lớn lao ấy làm tôi vô cùng xúc động. Mặc dù có kinh nghiệm lái xe đường rừng núi, nhưng trong lòng cũng không khỏi lo lắng vì đây là lái xe cho Bác Hồ. Tôi lập tức đi kiểm tra và chuẩn bị xe thật cẩn thận.

Khoảng 9 giờ sáng, xe của Bác đến Bộ Tư lệnh Quân khu tại Thái Nguyên. Giây phút đầu tiên được gặp Bác, tôi rất hồi hộp. Bằng tác phong nhanh nhẹn, Bác chủ động bắt tay tôi và tươi cười nói: “Chú lái xe của Tư lệnh trẻ lắm!”. Cử chỉ thân mật của Bác khiến tôi thấy ấm áp và gần gũi biết bao. Theo bố trí, tôi lái xe cho Bác Hồ, đồng chí Lê Quảng Ba cùng ngồi để tiện trao đổi công việc.

Cả đoàn khởi hành, đi trước là xe làm nhiệm vụ dẹp đường và bảo vệ. Đường hồi đó hẹp, xấu, đèo, dốc cao cua liên tiếp cây cối rậm rạp khó đi. Xuất phát được vài trăm mét, Bác hỏi tôi: “Chú học lái xe bao giờ mà trẻ thế?”. Đồng chí Lê Quảng Ba báo cáo Bác: “Đồng chí Vở học khóa đầu tiên trường lái xe Tiến Bộ khi trường chuyển từ Quảng Tây, Trung Quốc về nước và được giữ lại làm giáo viên. Quân khu sang nhà trường xin về làm lái xe cho Tư lệnh vì đồng chí học giỏi nhất trường. Đồng chí còn tham gia thêm công tác thanh niên, làm Bí thư chi đoàn Bộ tham mưu Quân khu”. Bác bảo ngay: “Chú làm Bí thư thanh niên bản thân phải gương mẫu, trong sáng, làm tốt, nói thật, sống ngay thẳng. Luôn giản dị, khiêm tốn và biết vận động anh, em cùng làm tốt. Phải thương yêu đồng chí và giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ”.

Suốt hành trình, Bác tranh thủ thời gian trao đổi, dặn dò đồng chí Lê Quảng Ba rất nhiều điều. Còn tôi thì tập trung tất cả tinh thần để lái xe cho thật tốt, làm sao vừa an toàn vừa thật êm để Bác đỡ mệt. Những chặng đường này với tôi đã rất quen thuộc. Tôi nhớ từng ổ gà, đoạn cua, con đèo… Lái thạo ở những cung đường khó nhất như: đèo Giàng, đèo Gió, đèo Colia… với những dốc cao, đường hẹp, cua tay áo. Sau khi thăm và nghỉ trưa tại Tỉnh ủy tỉnh Bắc Cạn, đoàn đi thẳng lên Cao Bằng. Sáng hôm sau, tôi lại được lái xe đưa Bác đi thăm những nơi Người từng ở và làm việc, thăm một số gia đình đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Buổi trưa, trước khi về xuôi, Bác đã khen tôi: “Chú Vở trẻ nhưng lái xe rất giỏi! Đưa Bác vượt qua đường dài, xấu mà không thấy mệt mỏi…”.

Hơn một ngày được bên Bác là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng đã để lại trong tôi ấn tượng vô cùng sâu đậm về tấm gương đạo đức của Người. Với cấp dưới, Bác gần gũi, tận tình chỉ bảo. Với đồng bào, Bác ân cần thăm hỏi, động viên. Bác luôn căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải không được quên công ơn của đồng bào đã cưu mang, giúp đỡ cách mạng. Nhắc nhở ăn uống phải đơn giản, phải tiết kiệm trong sử dụng tiền của nhân dân… Tất cả với tôi có ý nghĩa khích lệ to lớn để tiếp tục cố gắng phấn đấu tu dưỡng rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Lời Người soi sáng đường ta đi

“Khi chưa được gặp Bác, tôi đã sớm đi theo con đường cách mạng của Đảng. Khi được gặp Bác, tôi càng thấy con đường mình đi là đúng đắn”, ông Vở chia sẻ. Sự chia sẻ bằng trải nghiệm từ chính cuộc đời.

Ông Lương Văn Vở sinh năm 1935 trong 1 gia đình nghèo (ông Vở cùng 3 anh, chị của mình phải chịu cảnh đi ở cho nhà giàu để nuôi thân) thuộc huyện Việt Yên (Bắc Giang). 15 tuổi tham gia cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chiến đấu trong vùng địch hậu, tham gia tiễu phỉ ở vùng Đông Bắc rồi được đi học lái xe… Từ đó, cuộc đời như gắn với buồng lái cơ động khắp các chiến trường.

Đi cùng những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhiệm vụ liên tục thay đổi, đối diện với biết bao gian khổ, hứng chịu sự hành hạ của bệnh sốt rét rừng, 4 lần bị sức ép của bom, 3 lần bị thương, trải qua 3 lần phẫu thuật mà vẫn còn mảnh đạn trong người… nhưng thương binh hạng 2/4 Lương Văn Vở vẫn luôn tâm niệm: “Trong tim tôi khắc ghi lời Bác dạy vượt qua khó khăn vững vàng vị trí chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”.

Trọn nghĩa với nước non, bước ra khỏi cuộc chiến về trong thời bình tiếp tục công tác rồi nghỉ hưu, ông Vở vẫn không ngừng phấn đấu để xứng đáng là người đảng viên, “bộ đội cụ Hồ” gương mẫu trong mọi công việc: ngược xuôi tất bật vận động, xin tài trợ để thành lập Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh và tổ chức thành công cho đồng đội đi thăm chiến trường xưa (gia đình ông Vở đã ủng hộ hơn 10 triệu đồng); động viên con cháu ủng hộ tích cực các loại quỹ nhân đạo… Nay dù tuổi đã cao, sức đã yếu, vết thương hay tái phát nhưng ông Vở vẫn vững vàng một niềm tin: “Tôi sẽ tiếp tục cùng đồng đội tích cực cống hiến sức lực và trí tuệ góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh như Bác Hồ hằng mong”.

Bài: Bảo Anh

baobacninh.com.vn