Thư viện

Nhớ ngày gặp Bác

Buổi chiều ngày 25/8/1958 đơn vị tôi được lệnh chuyển quân từ Phú Thọ về tham gia xây dựng công trường Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải. Trong lúc Ban Chỉ huy Đại đội chúng tôi đang phân công mỗi người một nhiệm vụ lo toan bố trí nơi ăn ở cho anh chị em, công việc đang bộn bề thì tôi tiếp nhận được giấy triệu tập họp. Không thể trì hoãn được, nên tôi bàn giao lại cho các đồng chí ở nhà lo liệu, còn tôi thu xếp đi họp gấp.

Từ nơi đóng quân đến chỗ họp phải đi bộ gần 2 km đường nông thôn. Đến nơi, tôi thấy có nhiều người, trong đó có cả các máy quay phim chụp ảnh đã tề tựu đông đủ. Vì công trường mới đang chuẩn bị cho ngày khởi công, hội trường chưa có nên phải tạm họp ở vạt cỏ ven đê. Đồng chí Vũ Yển – Đại tá, Phó ban Chỉ huy công trường tuyên bố nội quy Hội nghị, chúng tôi phải ngồi xếp hàng tại chỗ. Tôi thầm nghĩ: Đã qua nhiều công trường chưa thấy nơi nào lại khắt khe như vậy. Họp cán bộ thường thì rất thoải mái, cốt nhất là giữ gìn trật tự để lĩnh hội ý kiến chương trình, còn đây lại khác hẳn. Vì tôn trọng tổ chức, nên tôi ngồi theo mọi người, hơn nữa nhân lúc ấy có liên lạc đưa cho tôi công văn và tập báo, tôi tranh thủ mở ra xem. Trong lúc vừa nhìn vào tờ báo, thì thấy như nước vỡ bờ, tất cả mọi người đứng dậy. Như có một lực nào đó, tôi cũng bị cuốn theo. Khi ngước nhìn lên mặt đê thấy hai xe ô tô con đỗ từ lúc nào. Cửa xe mở, Bác Hồ với bộ quần áo lụa mầu gụ thẫm, tươi cười từ trên đê bước xuống, tay vẫy chúng tôi.

Giờ phút thiêng liêng ấy, không ai bảo ai, bỏ qua cả nội quy Hội nghị, tất cả đã ùa ra đón Bác. Nơi họp vẫn bãi cỏ xanh, vẫn ven đê dốc thoải, mới lúc nãy còn lặng lẽ, khi có Bác mọi cảnh vật nhộn nhịp hẳn lên, khuôn mặt mọi người tươi vui hớn hở.

Khi đã ổn định, Bác rút đồng hồ ở túi áo ngực ra xem. Bác bảo: “Hôm nay Bác nói chuyện với các cô, các chú 2 giờ”. Bác hỏi các đồng chí lãnh đạo công trường: “ Đây là cán bộ những đâu ?” Đồng chí Vũ Yển thưa: “Thưa Bác cán bộ ba tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương”. Thấy một chị miền Nam bế cháu bé đến dự họp, Bác tươi cười hỏi “Thế cô bé kia là cán bộ gì?” Câu hỏi bất ngờ của Bác làm vui cả Hội nghị. Thấy một số chị em nữ đứng cuối hàng, Bác hỏi: “Sao các cô đứng xa thế?”, có chị thưa: “Thưa Bác, các anh ấy chen chúng cháu”. Bác cười đôn hậu :

“Các chú thanh niên nên nhường  chị em nữ, còn chị em nữ cũng phải giành quyền bình đẳng”.

Bác nói vừa dứt, cả Hội nghị lại vang lên những tiếng cười vui vẻ. Bác cũng cười theo.

Lời đầu tiên vào đề, Bác nói: “Nước ta đến nay đã 13 năm độc lập, thì 9 năm hạn hán, 2 năm úng thuỷ”. Bác đã hướng cho mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của hệ thống thuỷ nông phải gắn liền với đồng ruộng Việt Nam và sự cần thiết của việc xây dựng công trình, qua đó Bác đã chỉ rõ cảnh lầm than cực khổ của người nông dân vùng này, không những dưới sự thống trị của đế quốc phong kiến trước kia, cũng như trong thời kỳ địch tạm chiếm, người nông dân vô cùng vất vả, cảnh đồng trắng nước trong, chiêm treo, mùa mất, hai sương một nắng, đời sống vẫn không dứt nghèo đói xác xơ. Hoà bình lập lại, nhằm từng bước nâng cao mức sống nhân dân. Trung ương Đảng, Nhà nước quan tâm tập trung sức người, sức của tiến hành xây dựng công trình thuỷ lợi cỡ lớn, công trình xã hội chủ nghĩa đầu tiên của miền Bắc. Bác căn dặn mọi người: “Đảng, Chính phủ điều các cô, các chú về đây công tác phải hết lòng phục vụ nhân dân, phải chăm sóc sức khoẻ, phải chăm lo nơi ăn, chốn ở cho mọi người để hoàn  thành nhiệm vụ”. Bác vừa nói, vừa hỏi: “Thế ai là người gương mẫu đi trước ?”. Trong Hội nghị có người thưa : “Thưa Bác, cán bộ ạ”. Bác chỉ tay nhấn mạnh: “Là đảng viên, đoàn viên, phải xung phong trước để mọi người làm theo”.

Cả Hội nghị im phăng phắc. Lời huấn thị của Bác như tiếng kèn xung trận đã thấm sâu vào tâm can, mọi người đều thấy sức sống trào dâng như muốn thưa với Bác: Chúng cháu xin hứa quyết tâm thực hiện lời Bác dạy.

Niềm tin tuyệt đối biểu lộ trên gương mặt mọi người. Bác ôn tồn nói tiếp: “Từ đây sang Hà Nội không xa lắm. Bác biết chiều thứ Bảy, ngày Chủ Nhật các cô, các chú hay sang bên ấy, xin miễn đi”

Trước lúc ra về, Bác còn dặn lại: “Bác nói chuyện với các cô, các chú 2 giờ, về phải làm bù kẻo mang tiếng Bác”. Rồi Bác vẫy tay tạm biệt chúng tôi. Tất cả mọi người xô nhau đứng dậy, vây quanh Bác, ai cũng muốn đựợc gần Bác.

Bác lên xe rồi, nhiều chị em tiễn Bác, khóc nức nở. Chúng tôi cũng không sao cầm nổi nước mắt, nghẹn ngào theo hút xe đến khi mờ hẳn.

Hồi ấy chúng tôi – những người may mắn được gặp Bác, trải qua bao năm tháng, đến nay người còn, người khuất, đều được chứng kiến hàng vạn con người, với biết bao tấm lòng hy sinh dũng cảm, những gương lao động quên mình, những khối óc sáng tạo, những bàn tay diệu kỳ đã biến quãng đê trống vắng xa xưa để sừng sững mọc lên công trình đồ sộ với con kênh lưu chuyển nước từ sông Hồng đến gần Kiến An có độ dài trên 50 km là nguồn tưới tiêu cho những cánh đồng bao la, cho biết bao cây cối đơm hoa, kết trái, làm giầu đẹp cho đất nước ./.

Theo Phạm Quang Thăng/ Báo Nam Định
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về những năm tháng phục vụ Bác Hồ

Ngày 11-10-1947 tôi được giao nhiệm vụ phục vụ Bác Hồ, hôm đó đúng vào ngày Bác di chuyển chỗ ở. Nghe tin báo địch sẽ nhảy dù xuống một số địa điểm, vì vậy nửa đêm chúng tôi đã phải lên đường.

ky niem nhung nam thang phuc vụ Bac HoChủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc

Ðoàn chúng tôi đi trước để chuẩn bị địa điểm. Ðến Tràng Xá, chúng tôi mượn nhà dân để đón Bác, sau đó mới làm lán để Bác ở.

Ở Tràng Xá, Tân Hồng, anh em vận động nhân dân ủng hộ đội võ trang tuyên truyền. Dân có gì ủng hộ nấy. Nhiều nhà có lợn, gà đã đem cúng cho người ốm khỏi bệnh, nên họ ủng hộ một con chó. Tôi về báo cáo Bác, Bác nói:

– Mình đang thiếu thốn, dân ủng hộ gì cũng quý cả, cần gì cứ phải gà với lợn. Nhưng các chú phải ghi lại để sau này có điều kiện hoàn trả lại cho dân, cho tương xứng với cái người ta đã ủng hộ mình.

Biết là nhân dân rất tình cảm, yêu quý những người cách mạng, đã ủng hộ một cách vô tư, nhưng nhớ lời Bác dặn, sau đó chúng tôi đã mua thuốc lào mang đến làm quà cho mỗi nhà một bánh.

Lán của Bác lúc đầu làm ở phía ngoài bìa rừng, sau có tin Pháp nhảy dù mới làm sâu vào bên trong. Thời gian này Bác phải di chuyển chỗ ở đến nhiều nơi.

Năm 1947 lên Bản Ca. Năm 1948 ở chân đèo De và ăn Tết ở đó. Ở Tràng Xá một thời gian Bác lại chuyển lên Khuôn Tát ở nhà anh Thảo. Ở Khuôn Tát cứ sáng dậy nấu ăn xong lại lên núi, được ba, bốn ngày thì không ở đó nữa mà lên Bản Ca (cuối năm 1947). Ðồng chí Lê Giản đưa Bác đi, Bác cũng đi bộ. Ở Bản Ca một thời gian, năm 1948 chuyển về chân đèo De, ở một cái lán bên cạnh “Trại nhi đồng”.

Năm 1949 sang Tân Trào ở nhà anh Quyết, dưới chân núi Hồng. Thời gian này Bác di chuyển chỗ ở liên tục. Bác lên ở Bản Ca hai lần. Lần thứ nhất, giặc Pháp nhảy dù, đồng chí Lê Giản đưa Bác lên Bản Ca. Lần thứ hai vào năm 1951 Bác lại lên Bản Ca ở xã Thành Công.

Năm 1951 tôi đánh bóng bị đau tức ngực sau đó bị ốm, Bác cho tôi đi nghỉ cùng anh Tô (đồng chí Phạm Văn Ðồng), anh Ðẩu và anh Trần Quý Kiên. Tôi đi nghỉ trở về thì Bác đã chuyển lên đèo Cón, ở ngã ba, một đường đi Bắc Cạn, một đường đi Thành Công, một đường rẽ vào chỗ Bác ở.

Tôi và đồng chí Phúc được chọn vào phục vụ Bác cùng một đợt. Lần đầu tiên vào gặp Bác chúng tôi rất lúng túng. Chúng tôi chào Bác bằng Cụ, Bác cười và bảo đừng gọi thế, gọi Bác thôi.

Bác hỏi tên hai chúng tôi, khi biết chúng tôi tên là Nga và Phúc, Bác nói:

– Bác đặt tên mới cho hai chú là Kiên, Quyết. Các chú phải làm việc như thế nào cho xứng đáng với cái tên của mình.

Tôi còn nhớ mấy anh em phục vụ Bác lúc đó: Đồng chí Trung, đồng chí Dũng và tôi. Tôi được Bác đổi tên là Kiên, đồng chí Phúc đổi tên là Quyết, đồng chí Lộc nấu ăn đổi tên là Ðồng và bác sĩ Chánh đổi tên là Tâm. Cùng với những người bảo vệ được Bác đặt tên Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Ðịnh, Thắng, Lợi, những cái tên được Bác đặt mang nhiều ý nghĩa, thể hiện quyết tâm, đồng lòng kháng chiến. Dù được giao nhiệm vụ gì chúng tôi cũng cố gắng làm thật tốt.

Trong thời gian phục vụ Bác chúng tôi được Bác rất quan tâm. Nhưng Bác quan tâm một cách công bằng chứ không thiên vị ai.

Năm 1950, sau chiến thắng Biên giới, Bác được nhân dân tặng một số quần áo may sẵn, Bác không dùng mà làm quà thưởng cho anh em chúng tôi. Nhưng trong số quần áo đó có nhiều loại khác nhau. Bác tặng chúng tôi, rồi đề nghị bắt số hay nhường nhau, chứ Bác không tự tay thưởng từng người một. Bác bảo làm thế cho công bằng.

Khi anh Lộc, người nấu cơm cho Bác bị ốm, rồi qua đời, Bác buồn lắm. Anh Bảy (đồng chí Phan Mỹ) nói tìm người thay anh Lộc nấu ăn cho Bác. Thấy thế Bác nói:

– Cũng không cần thiết lắm, Bác ăn uống cũng dễ. Trong nhà này cử một chú ra nấu ăn đỡ phải tìm người. Mà các chú cũng phải học mà nấu ăn, sau này về nhà khi có khách còn biết nấu các món ăn. Các chú đóng một quyển sổ nhỏ, gửi mấy cô phụ vận ở Văn phòng Trung ương nhờ các cô ấy ghi cách nấu nướng về mà thực tập.

Do đó năm ấy không lấy người ngoài vào nữa mà chuyển đồng chí Trung sang nấu ăn cho Bác.

Ðồng chí Trung chuyển sang nấu ăn cho Bác nhưng cứ băn khoăn, đi bộ đội mà chẳng được đánh  trận nào, súng đeo rách cả vai áo. Ðồng chí Trung xin chuyển sang chỗ anh Ninh. Biết việc này, một buổi tối Bác cháu cùng ngồi sinh hoạt bên bếp lửa, Bác đem câu chuyện chiếc đồng hồ ra kể với ý nhắc chúng tôi hãy yên tâm với công việc được giao. Bác cũng cho gọi đồng chí Trung lên và nói:

– Công tác cách mạng do Ðảng phân công, mỗi người một việc, các chú làm nhiệm vụ bảo vệ, hãy làm tốt việc được phân công đã.

Tuy thế, đến cuối năm 1952 đồng chí Cẩn được cử về thay đồng chí Trung nấu ăn cho Bác. Ðồng chí Trung được chuyển sang quân đội.

Những năm kháng chiến, Bác ở trên Chiến khu Việt Bắc, mà ở Chiến khu cũng không được an toàn lắm, cứ phải di chuyển chỗ ở luôn. Thấy thế một số đồng chí  thì thầm với nhau:

– Về Thái Nguyên ở có tốt hơn không, làm gì cứ phải ở bí mật, di chuyển mãi thế này cho vất vả.

Bác nghe các đồng chí nói vậy thì giải thích:

– Có bí mật mới có công khai, cũng như có kháng chiến mới có thắng lợi.

Theo cuốn “Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ”, do Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản. NXB Thông tấn, Hà Nội – 2003).

Theo Báo Nhân Dân điện tử
Huyền Trang (st)

Giáo sư Trần Hữu Tước xúc động nhớ về Bác Hồ

Giáo sư Trần Hữu Tước kể: “Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời: Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi, tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh”.

GS tran huu tuoc 1Giáo sư Trần Hữu Tước và Giáo sư Tôn Thất Tùng

Lời giới thiệu

Giáo sư Trần Hữu Tước là một trong những vị giáo sư đầu ngành của nền y học Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1913 tại phố Bạch Mai, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ nội trú các bệnh viện Pa-ri với luận văn Phương pháp tạo hình tự thân tai, áp dụng sau khi nạo vét xương chũm, ông thi đỗ và trở thành một cán bộ Khoa Tai – Mũi – Họng, Bệnh viện Nhi khoa Necker ở Pa-ri.

 Từ năm 1940 đến năm 1946, ông được bổ nhiệm làm Trợ lý thứ nhất Khoa Tai – Mũi – Họng. Trong mười năm từ năm 1936 đến năm 1946, ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về Tai – Mũi – Họng trên các tạp chí chuyên ngành ở Pháp, có công trình được đưa vào Bách khoa toàn thư y học Pháp. Ông cũng là một trong những người đầu tiên mổ điếc theo phương pháp Lempert ở Pa-ri.

 Năm 1946, do thiết tha mong muốn được đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, bác sĩ Trần Hữu Tước tình nguyện trở về nước trên chuyến tàu thủy cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một số trí thức Việt kiều nổi tiếng khác như Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Võ Quý Huân, v.v. Từ đó cuộc đời người thầy thuốc nổi tiếng ấy gắn liền với đất nước, quê hương.

 Ngay từ tháng 11 năm 1946, vừa mới về tới Hà Nội, ông đã bắt tay xây dựng chuyên ngành Tai – Mũi – Họng của Trường Đại học Y Hà Nội, do Giáo sư Hồ Đắc Di làm Hiệu trưởng. Ông chứng kiến những ngày đầu cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra tại Hà Nội, tham gia chiến đấu cùng Trung đoàn Thủ đô và ghi lại thiên bút ký rất chân thật và cảm động nhan đề Thủ đô kháng chiến.

Rời khỏi Thủ đô, chỉ mang theo 30kg dụng cụ y tế, bác sĩ Trần Hữu Tước đi tham gia cuộc kháng chiến ba nghìn ngày, lúc ở Liên khu III, Liên khu IV, khi ở Việt Bắc, đi đầu xây dựng nền móng cho ngành Tai – Mũi – Họng ở nước ta.

Năm 1946, khi từ Pa-ri về tới Hà Nội, bác sỹ nặng 75kg, đến năm 1951, chỉ còn nặng 42 kg vì bị bệnh đường ruột rất nặng! Bạn bè ướm hỏi ông có nên quay lại Hà Nội chữa bệnh một thời gian, nhưng ông kiên quyết từ chối. “Có ra sao thì cũng ở trên mảnh đất tự do, thật chưa bao giờ tâm hồn thảnh thơi như vậy, chỉ hơi chút bực mình vì bị bệnh, chưa làm gì được như ý muốn”, bác sỹ Trần Hữu Tước ghi lại.

Mấy lần Bác Hồ và “anh Tô” điện vào Thanh Hóa giục ông rời Nông Cống lên Tân Trào để sang nước bạn chữa bệnh, ông mới chịu đi bộ, mỗi ngày chỉ được 5 – 6 km, lên Tuyên Quang. Sau đó, ông được xe Jeep chở lên biên giới, rồi đi tàu hỏa sang Bắc Kinh mổ cắt khối u ở ruột, chữa lành bệnh đại tràng.

 Chúng tôi trân trọng giới thiệu sau đây một đoạn trích trong thiên hồi ký dài của Giáo sư Trần Hữu Tước kể lại sự quan tâm săn sóc nghĩa nặng tình sâu của Bác Hồ dành cho ông trong những ngày bị trọng bệnh giày vò.

 Hàm Châu  

GS tran huu tuoc 2Bác Hồ và GS Trần Hữu Tước sau Ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954

Mấy lần Trung ương và Bác điện vào Thanh Hoá, giục tôi lên Việt Bắc để ra nước ngoài điều trị. Khó nghĩ làm sao! Đi thế nào từ Nông Cống lên Châu Tự Do (tức huyện Sơn Dương, Tuyên Quang hiện nay). Lại điện nữa, giục đi. Thôi, quyết ra đi, dù khó nhọc, nhưng mấy năm nay rồi chưa gặp Bác, có lẽ là dịp hiếm có, nên thu xếp để đi. Đi bộ, mỗi ngày 5 – 6 cây số, chỉ đi buổi sớm hay chiều, vì suốt ngày Pháp cho máy bay bắn phá các đường giao thông chính. Kể cũng ung dung, tranh thủ mệt thì nghỉ, khỏe lên tý chút thì lại đi. Nhiều quãng đường thật đẹp, hấp dẫn, nên thơ.

 Dốc Đoan Hùng sao mà cao và trơn thế! Đã đến Việt Bắc, sắp sửa được gặp Bác. Bao nhiêu vất vả, đường trường gần như giảm nhẹ. Bắt đầu đi vào những con đường rừng rậm rạp, quanh co, khó có thể tưởng tượng được, ngoặt trái, rẽ phải, lại đi chếch, lội suối, rồi  trèo đèo… Một chặng rừng âm u!

 Một cái máy bay “Bà già” vè vè trên đầu, đang thòng móc xuống để tìm phá đường dây điện thoại của ta. Rồi một máy bay khu trục “Nhả Lửa” đột nhiên xuất hiện, nhào xuống xả một băng đạn. Cứ nấp vào một gốc cây to, và theo dõi. Chúng quay lại, thì ta chạy quanh gốc cổ thụ. Chán rồi, chúng bỏ đi. Ta lại thủng thẳng lần bước.

 Vào ATK, một buổi chiều. Một ngôi nhà tre nứa, nhưng khá đàng hoàng, bên bờ suối, ẩn hiện dưới hàng cây vài ba chục thước cao! Từ mấy năm nay, chưa bao giờ nhìn thấy một căn nhà cao ráo, thoáng rộng như vậy. Cái giường tre nứa cũng dài rộng, đơn sơ nhưng ra vẻ khang trang. Trên mặt bàn vuông lát nứa, thấy có mấy chai rượu vang trắng, đỏ, lại có cả rượu mạnh, cùng một số đồ hộp chiến lợi phẩm Bác đã gửi sang cho.

 Đêm hôm đó, tuy như xong một cuộc hành trình kéo dài gần một tháng rưỡi, thấm mệt, nhưng không sao ngủ ngay được, trằn trọc với biết bao cảm xúc và suy nghĩ. Chắc Bác cũng ở gần đâu đây, có lẽ ngày hôm sau sẽ được gặp. Trời đã về khuya, nước suối chảy ngay bên, rì rào trong thanh vắng, và như to dần về sáng…

 Rừng bao phủ xung quanh, rạt rào cơn gió sớm đột nhiên thủ thỉ thù thì như trò chuyện riêng tư ngay dưới tán rừng Việt Bắc. Tôi vừa bước vào một khoảng sân nhỏ, thì Bác đã nhanh nhẹn từ trong một cái nhà gần đấy đi ra! Chắc Bác ngạc nhiên lắm khi thấy tôi nay chỉ còn đôi mắt kính cận gọng đen, với một cái cổ dài lêu nghêu, chân tay da bọc xương trong bộ quần áo nâu rộng!

 Bác giơ tay bắt, và còn ôm lấy! Phút khó quên và đôi chút nghẹn ngào. Bác bớt gầy hơn mùa đông năm 1946, và rất nhanh, mạnh. Vẫn đôi mắt sáng chói, dịu hiền, nhưng râu tóc đã thoáng nhiều sợi bạc. Với một giọng ấm áp, ân cần, Bác hỏi kỹ về bệnh tật, rồi về công tác phát triển chuyên khoa Tai – Mũi – Họng. Bác cũng nói qua tình hình trong nước và nước ngoài.    Cuối cùng Bác dặn:

 – Có điều kiện, chú nên ra nước ngoài điều trị. Còn bao nhiêu công việc để mà làm…

 Bác ra về.

 Những ngày nằm chờ thu xếp, làm thủ tục xuất cảnh, và chuẩn bị phương tiện để ra đi, thật thanh thản! Đọc một số báo chí trong và ngoài nước, vài cuốn sách ngoại văn.

 Anh Tô một buổi tối mời tôi đến ăn cơm, nhưng chỉ nói chuyện được một lúc, sau cơn đau dội lên, ôm bụng đi về, không sao ngồi ăn được nữa.

 Rồi chiều hôm đó, từ trong rừng Việt Bắc, còn ánh mặt trời trên đầu ngọn cây, lại ra đi lần nữa… Sau bao nhiêu năm, lại nhìn thấy chiếc xe Jeep nhỏ ở giữa rừng âm u, cây cỏ um tùm. Sắp lên xe để ngồi cạnh anh lái xe, bỗng nghe vang lại một tiếng ngựa phi nhịp nhàng đang phi nước đại…

 Trời! Bác đến tiễn tôi đi Trung Quốc chữa bệnh!

Cũng có lẽ Bác thấy tôi gầy còm như vậy, chắc gì đã có ngày gặp lại, nên Bác đến. Cảm động nghẹn ngào!

Bác trao cho tôi phong thư do chính tay Bác viết bằng chữ Hán để chuyển cho một cán bộ đại diện Chính phủ ta ở nước bạn. Bác dặn tôi chớ nói mình là thầy thuốc và ân cần khuyên luôn cố gắng yên tâm chữa bệnh.

Thấy tôi dô cả xương mà chỗ ngồi, chỗ tựa, ghế xe Jeep rất cứng, Bác gọi lấy ra hai cái gối cỏ để chèn cho khỏi xóc đường trường. Rồi thấy đầu tôi dễ va vào khung sắt nơi mui xe, Bác lấy ngay cái mũ vàng của Bác chụp lên đầu tôi, và lần nữa Bác dặn phải chú ý!

Xe chuyển bánh. Bác đứng một lúc, vẫy tay theo. Rồi Bác nhảy lên ngựa. Lúc ngoái đầu lại, tôi chỉ còn thoáng thấy bóng con ngựa hồng trong ánh chiếu toả rạng. Và trên lưng con ngựa đang phóng, Bác gò cương phi về phía trước, tóc bạc tung bay ra phía sau, trong trùng điệp núi rừng của Tổ quốc thiêng liêng. Đó là một cảnh đẹp tuyệt vời! Bác phi ngựa hồng trong chiều tà Việt Bắc như một ảo ảnh huyền bí nhiều lần hiện lên trong óc tôi trước khi chìm vào giấc ngủ.

Sáu tháng sau, vào lúc 9 giờ đêm, tôi phải mổ cấp cứu, tại một bệnh viện ở Bắc Kinh.

Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ về thuở ấy giữa rừng Việt Bắc, tôi lại thấy như hiện lên bức tranh cảm động, đẹp tuyệt vời Bác Hồ cưỡi ngựa hồng đến tận nơi tiễn tôi ra nước ngoài chữa bệnh….

 GS. Trần Hữu Tước
Theo dantri.com.vn
Thu Hiền (st)

Đại tá Trần Đăng Khoa – nhớ mãi kỷ niệm 5 lần được gặp Bác Hồ

Trong mưa bom, bão đạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi không hiểu sao cuộc đời mình lại có những phút giây diệu kỳ như thế: 5 lần vinh dự được gặp Bác Hồ kính yêu… Dù khác nhau về thời gian, địa điểm, xúc cảm và tuổi tác, nhưng mỗi lần bên Bác, tôi lại thấy rõ hơn về sự giản dị, gần gũi, ân cần, bao dung của người. Đại tá Trần Đăng Khoa, nguyên Chính trị viên đảo Cồn Cỏ, chia sẻ.

tran dang khoa a1Đại tá Trần Đăng Khoa, nguyên Chính trị viên đảo Cồn Cỏ. Ảnh: Bùi Oanh

Đại tá Trần Đăng Khoa quả cảm băng mình dưới mưa bom, bão đạn cùng đồng đội quyết tử bảo vệ đảo Cồn Cỏ hơn bốn mươi năm về trước nay đã bước sang tuổi 79, nhưng vẫn hoạt bát. Trong căn nhà giản dị tại phường Phú Hiệp, Thành phố Huế, Đại tá Trần Đăng Khoa nhớ về những ngày tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám: “Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, gia đình bị tước đoạt hết ruộng đất, phải đi ở đợ cho địa chủ… Kiếp trâu ngựa luôn nung nấu khát vọng tự do. Cách mạng bùng lên rồi kháng chiến trường kỳ, tôi trốn nhà đi vào bộ đội” – Ông tâm sự.

Mười bốn tuổi, cậu bé Khoa quê Hải Dương, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cùng cha sau này là liệt sỹ Trần Khôi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Cách mạng thành công, Khoa được giao nhiệm vụ chuyển tài liệu, thư từ bí mật cho cán bộ chiến sỹ hoạt động tại Quảng Trị rồi nhập ngũ, trở thành người lính Bộ đội Cụ Hồ. Ông cùng đồng đội vinh dự gặp Bác Hồ tại Quảng Bình (năm 1957) và hai lần tiếp theo vào các năm 1960, 1963 tại Trường Lục quân.

Đại tá Trần Đăng Khoa, nhớ lại, đã ba lần cùng đồng đội vinh dự quây quần bên Bác. Được Bác ân cần giảng giải về con đường cách mạng, dặn dò về nhiệm vụ thiêng liêng người chiến sỹ cách mạng, mối quan hệ quân dân… Nhưng phút giây diệu kỳ trong lần gặp Bác giữa thủ đô Hà Nội, tôi vẫn hồi hộp, thao thức…

tran dang khoa a2Bác Hồ thăm hỏi đồng chí Trần Đăng Khoa tại Đại hội thi đua
Quyết thắng toàn quân năm 1965. Ảnh: Bùi Oanh

Ngày ấy, quân đội Mỹ gây ra sự kiện vịnh Bắc Bộ vào tháng 8 năm 1964 và thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng các hành động chống phá và khiêu khích như nã pháo vào các đảo và một số vùng bờ biển miền Bắc, bắt ngư dân… Đảo Cồn Cỏ nơi vĩ tuyến 17, địch muốn chiếm để làm điểm tựa tấn công ra miền Bắc nên đã huy động 6 hạm đội tinh nhuệ bao vây, bắn pháo, ném bom ngày đêm.

Đồng thời, dùng chính sách cắt đường chi viện ra đảo Cồn Cỏ bằng việc canh chừng tất cả tàu bè lại gần đảo. Vậy mà, quân dân Vĩnh Linh – Quảng Trị có ngày hy sinh đến 30 người giữa biển khơi vẫn anh dũng mở đường máu chi viện ra đảo Cồn Cỏ… Vượt lên gian khổ hy sinh, cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ vững vàng trên tuyến đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, viết lên những câu chuyện đẹp như huyền thoại về tinh thần quyết tử giữ đảo…

Đại tá Trần Đăng Khoa nhớ lại những ngày đánh máy bay Mỹ. Đảo Cồn Cỏ như rung lên mỗi lần bom nổ, đạn pháo cao xạ của ta tung lên trời như hoa lửa đốt cháy máy bay Mĩ. Tinh thần chiến đấu quân dân đảo Cồn Cỏ hai lần được Bác Hồ gửi thư khen… Sau giờ chiến đấu, chiến sỹ đi câu cá, bắt cua, hái rau rừng, chuẩn bị sức khoẻ cho trận chiến đấu mới. Đảo phó Ngọc Cừ sáng tác bài “Con cua đá” đã được Đoàn Văn công Quân khu 4 dàn dựng và biểu diễn. Đêm đêm cán bộ, chiến sỹ trên đảo Cồn Cỏ vẫn nghe bài hát của mình qua Đài Tiếng nói Việt Nam…

tran dang khoa a3Bác Hồ gặp các anh hùng chiến sỹ  miền Nam ngày 19-10-1965 (Đồng chí Trần Đăng Khoa, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ đứng thứ 6 từ trái sang phải). Ảnh: Bùi Oanh

Kể đến đây, Đại tá Trần Đăng Khoa mở tủ ra, lấy một tập tài liệu, đưa tôi xem tấm hình ông chụp chung với các đại biểu tham dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965… “Ghi nhận những chiến công hiển hách, tôi vinh dự thay mặt cán bộ, chiến sỹ Cồn Cỏ anh hùng ra Hà Nội dự Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965. Đại hội đánh giá rất cao tinh thần chiến đấu quân – dân đảo Cồn Cỏ. Nhưng niềm vui sướng nhất đời tôi trong chuyến đi ấy là được gặp Bác Hồ, Bác hỏi: Cháu ở đơn vị nào? Dạ thưa Bác, cháu ở đảo Cồn Cỏ ạ! Bác đặt tay lên tôi vỗ nhẹ và nói: “Chiến sỹ đảo Cồn Cỏ béo khoẻ thế là tốt… Bác yên tâm là chiến sỹ Cồn Cỏ đang vững vàng ở tuyến đầu” – Đại tá Trần Đăng Khoa tự hào.

Sau Đại hội thi đua Quyết thắng toàn quân năm 1965, Chính trị viên Trần Đăng Khoa được Đảng và Nhà nước cho đi tham quan Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 19-10-1965 ông trở về Hà Nội và được gặp Bác Hồ cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ miền Nam ra thăm Bác. “… Xe chở chúng tôi đến sân sau Phủ Chủ tịch, kế bên vườn cây xanh rợp bóng mát, mọi người mừng vui hồ hởi, mắt chăm chú nhìn lên khung cửa lớn, mặt phía sau tòa Dinh thự Phủ Chủ tịch. “Bác Hồ muôn năm!” – Mọi người đồng loạt reo lên khi nhìn thấy Bác từ trên cao thoăn thoắt bước xuống các bậc thềm đá hoa đến đón và ôm hôn mọi người trong Đoàn”. Đại tá Trần Đăng Khoa kể tiếp: Trên đường cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ miền Nam tiến về Phủ Chủ tịch, Bác hỏi: Cháu Khoa ăn được mấy bát? Tôi trả lời: Mỗi bữa cháu ăn năm bát B52 ạ. Bác cười gật đầu: Chiến sỹ Cồn Cỏ ăn nhiều đánh giỏi. Bác ghi nhận những nỗ lực của cán bộ, chiến sỹ đảo Cồn Cỏ. Nhưng sau đó Bác băn khoăn lần lượt hỏi những điều thiết thực về chiến sỹ trên đảo: Chiến sỹ Cồn Cỏ có đủ gạo, thực phẩm, rau xanh và nước ngọt không? Có hầm hào, khí tài chiến đấu? Bộ đội có ngủ được không? Nằm hầm nhiều da có xanh và ghẻ lở không? Thương binh có đủ thuốc men không?… Tôi xúc động thưa với Bác: Có ạ…! Bác xúc động ôm tôi và hỏi nhỏ: Khoa có nguyện vọng chi không? Tôi đáp: Dạ cháu muốn xin Bác hai điều: Một là, xin một tấm ảnh Bác làm kỷ niệm cho cán bộ chiến sỹ đảo Cồn Cỏ, hai là, cho cháu được ôm hôn má Bác. Bác cười và đồng ý nguyện vọng của tôi.

Bác đã đi xa nhưng cứ thật gần. Đại tá Trần Đăng Khoa cũng đã bước qua tuổi xưa nay hiếm nhưng lời dặn dò của Bác vẫn là những kỷ niệm sâu sắc nhất đời ông. Là nguồn sức mạnh diệu kỳ giúp ông vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong suốt hơn nửa thế kỷ phấn đấu, để luôn xứng đáng là người cán bộ của Đảng, của dân và xứng đáng là Bộ đội cụ Hồ.

Đảo Cồn Cỏ nằm vắt ngang vĩ tuyến 17, cách đất liền 15 hải lý được xem là vị trí trọng yếu, là vọng gác tiền tiêu, con mắt của đất liền, án ngữ cửa ngõ phía Nam vịnh Bắc Bộ, trạm gác của “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển”. Do vậy, Mỹ – Ngụy huy động tối đa lực lượng cùng phương tiện chiến tranh hiện đại điên cuồng bắn phá. Theo thống kê, 1.440 ngày đêm từ 1964 đến 1968, máy bay Mỹ đã ném xuống đảo Cồn Cỏ gần 1,3 vạn quả bom các loại, hàng vạn quả rốc-két, 172 lần tàu chiến pháo kích gần 4 nghìn quả pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sỹ hứng chịu 39,3 tấn bom đạn, mỗi héc-ta đất trên đảo hứng chịu 22,6 tấn bom đạn.

Theo Bùi Oanh/ dantri.com.vn
Thu Hiền (st)
cpv.org.vn

Từ kỷ niệm tuổi thơ

Cho đến nay tôi còn nhớ như in lần đầu  được gặp Bác Hồ. Cách mạng Tháng Tám thành công tôi mới là một cô bé 12 tuổi và đang học Trường nữ Trung học Trưng Vương.

tu ky niem tuoi tho
Đại biểu học sinh Trường 
Trung học Trưng Vương (Hà Nội) đến chúc thọ
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tháng 5-1956).

Một buổi sáng mùa thu, trời hơi lạnh, tôi đến trường sớm hơn mọi ngày. Chúng tôi đang đứng chơi tha thẩn bên một gốc cây, bỗng thấy một chiếc xe zip rẽ quặt vào sân trường. Chiếc xe từ từ đến gần chỗ tôi đứng. Xe chưa đỗ hẳn tôi đã nhận ra người ngồi trong xe. Thế là tôi nhảy lên, reo to:

– Bác Hồ! Bác Hồ!

Tôi lao tới sát cửa xe. Bác Hồ nhanh nhẹn bước xuống giơ hai tay đón tôi. Tôi sà vào lòng Bác. Ðược ở cạnh Bác, tôi mừng quá không còn biết nói gì nữa, chỉ níu lấy tay Bác, gọi ríu rít:

– Bác ơi, Bác ơi!

Lúc đó các bạn tôi từ bốn phía sân trường cũng đã chạy ùa tới, vây quanh Bác như đàn chim non gặp mẹ. Còn tôi vẫn là người được ở gần Bác hơn cả. Tôi nghe rõ tiếng chú bảo vệ đi cạnh Bác khe khẽ nhắc:

– Các em tản bớt ra để Bác Hồ đi nào!

Nhưng chúng tôi chẳng ai chịu rời Bác. Bác Hồ vẫn tươi cười, nói với chú bảo vệ :

– Cứ để cho các cháu vui.

Cô Hiệu trưởng và tất cả các thầy, các cô trong trường cũng chạy ra đón Bác. Trống báo vào giờ học. Chúng tôi đành phải về chỗ xếp hàng theo lớp để chuẩn bị chào cờ. Hôm ấy, toàn trường chấn chỉnh đội ngũ rất nhanh. Lớp nào cũng thẳng tắp từ hàng đầu đến hàng cuối. Không có tiếng xì xào nói chuyện riêng như mọi ngày. Phía trước chúng tôi, Bác Hồ đang đứng trên bục gỗ cùng với các thầy, các cô. Hàng nghìn con mắt hướng cả về Bác. Sau tiếng hô nghi…iêm dài và trang trọng, toàn trường hát Quốc ca. Tôi đứng thật thẳng nhìn lên lá cờ đỏ thắm bay tung trên cột cờ như đang vẫy gọi tất cả chúng tôi. Tôi lại nhìn Bác Hồ cũng đang đứng nghiêm cùng các thầy, các cô giáo chào lá cờ Tổ quốc. Tôi cảm thấy chưa hôm nào chúng tôi hát Quốc ca to và hay như hôm ấy. Tiếng hát như còn ngân vang mãi trong lòng tôi.

Chào cờ xong, chúng tôi được nghe Bác Hồ nói chuyện. Bác dặn dò các cháu học sinh phải học chăm, học giỏi để sau này phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Bác còn dặn chúng tôi tùy theo sức lực cố gắng tham gia các công tác xã hội, góp phần giữ gìn đất nước. Bác nói xong, cô Hiệu trưởng đã nhắc các lớp về học, nhưng chúng tôi không ai muốn bước đi. Tôi đi về lớp, mà mắt còn cố nhìn theo Bác Hồ vào lớp nào. Lòng tôi náo nức bao nhiêu cảm xúc và bao nhiêu điều muốn nói. Giờ ra chơi tôi sẽ kể cho các bạn tôi nghe từ lúc đầu tiên chiếc ôtô chở Bác đi vào trường, tôi đã nhìn thấy Bác như thế nào, rồi tôi còn mở được cửa xe đón Bác xuống… Tự nhiên tôi mong chóng hết buổi học để chạy thật nhanh về nhà, khoe với bố mẹ và em tôi rằng tôi đang sung sướng, tôi được đón Bác Hồ.

Giờ học đầu tiên của chúng tôi là giờ tiếng Anh. Cô giáo gọi tôi đọc bài. Ðúng lúc ấy, Bác Hồ đi vào lớp tôi. Ôi! Thế là niềm mong mỏi của tôi suốt từ lúc phải trở về lớp đến giờ phút này đã trở thành sự thực. Bác Hồ hiện lên trong lớp tôi rực rỡ hơn cả những ông tiên trong truyện cổ tích. Theo sau Bác là cô Hiệu trưởng. Tất cả các bạn đứng bật dậy vỗ tay vang dậy chào Bác. Bác khoát tay cho cả lớp ngồi xuống, còn tôi được tiếp tục đọc bài. Ðây là một bài tập ghép vần. Mọi khi tôi vẫn đọc trôi chảy, thế mà hôm ấy giọng khác hẳn mọi ngày. Không phải có điều gì lo sợ mà chính vì những niềm vui lớn đã đến với tôi dồn dập và bất ngờ quá. Có lẽ vì thế, tôi trở nên lúng túng, phát âm sai nhiều chỗ. Biết mình có lỗi, tôi lại càng lúng túng. Quyển vở trên tay cũng nặng trĩu xuống. Ngay lúc ấy, Bác Hồ đã đến gần chỗ tôi đứng. Bác ôn tồn đọc lại cho tôi những câu trong bài. Tôi cảm động nhìn Bác và chăm chú đọc lại theo Bác. Tôi đọc vẫn chưa đúng. Bác chữa lại từng câu như mọi ngày cô giáo vẫn dạy. Giờ phút ấy, tôi tưởng như Bác Hồ là người thầy thân thuộc nhất. Tôi nhớ mãi cử chỉ Bác Hồ lúc ấy hơi cúi người về phía tôi, bàn tay đưa lên trước khích lệ, Bác nói:

– Cháu đọc thế này mới đúng.

Sau đó, Bác lại dặn dò cả lớp phải vâng lời cô giáo, vâng lời cha mẹ và yêu thương các em nhỏ. Tất cả chúng tôi đồng thanh hứa:

– Chúng cháu xin vâng lời Bác!

Từ sau hôm được đón Bác, tôi luôn cảm giác mình vừa có một sự thay đổi rất lớn và muốn khoe để mọi người cùng biết. Mỗi buổi đi học, trên đường từ nhà đến trường tôi cố tình đi qua trạm gác của chú vệ quốc quân. Ðến trước mặt chú, tôi đứng nghiêm, tay phải nắm lại đưa ngang trán chào chú. Tôi muốn cả chú vệ quốc quân cũng biết tôi đã được gặp Bác Hồ. Cũng từ đấy, giờ học tiếng Anh đối với tôi là một giờ thích thú. Tôi còn chăm chú học tất cả các môn khác, vì tôi biết làm như vậy Bác Hồ rất vui lòng.

Ít lâu sau, tôi lại được cô giáo kể chuyện Bác Hồ mỗi tuần lễ nhịn ăn một bữa để dành gạo giúp đồng bào bị nạn đói. Nghe lời kêu gọi của Bác, mỗi nhà lập một hũ gạo tiết kiệm. Mỗi bữa lấy gạo nấu cơm thì bớt lại một nắm to cho vào hũ. Học tập Bác, ngày nào tôi cũng làm đều đặn để được chính tay mình bớt lại gạo tiết kiệm.

Những năm học ở bên Pháp, lòng chúng tôi luôn luôn hướng về Tổ quốc. Một đêm giao thừa, tất cả anh chị em người Việt Nam tụ tập nhau tại trụ sở đón Tết của quê hương trên đất Pháp. Một anh bạn lớn hơn tôi nhiều tuổi kể lại câu chuyện quả táo Bác Hồ cho mọi người nghe: Năm 1946, Bác Hồ với danh nghĩa là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang thăm nước Pháp để đàm phán với Chính phủ Pháp về những vấn đề có liên quan đến vận mệnh của đất nước. Chính phủ Pháp mở tiệc long trọng mời Bác. Lúc ra về Bác cầm theo một quả táo trên bàn tiệc trước những cặp mắt hết sức ngạc nhiên của mọi người. Lúc ấy ngoài đường phố, đông đảo nhân dân Pháp và Việt kiều đã đứng chờ Bác ra để hoan nghênh. Trong biển người ấy, một bà mẹ Pháp bồng con cố tiến lên gần Bác. Bác tươi cười đón em bé trên tay bà mẹ và đặt quả táo vào lòng bàn tay em bé.

Việc làm bình thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh khiến mọi người từ ngạc nhiên đến sung sướng và cảm phục. Tối hôm đó, Bác gặp Việt kiều ở Pa-ri. Anh chị em Việt kiều quây quần chung quanh Bác như những người con tụ lại bên cha già. Trong tình cảm thương yêu rộng lớn, Bác dặn dò tất cả mọi người: “Các cô, các chú phải cố gắng mỗi người học giỏi một nghề, sau này trở về giúp nước nhà, góp phần làm cho dân ta giàu, nước ta mạnh”. Lời dạy của Bác đã trở thành ánh sáng soi đường cho chúng tôi suốt những năm học tập ở xa quê hương.

Giữa năm 1959, tôi thi đỗ bằng Thạc sĩ toán học. Nhớ lời Bác, tôi  xin về nước phục vụ. Trong những năm công tác ở Hà Nội, tôi được gặp Bác ba lần, một lần Bác đến thăm Trường Đại học Sư phạm của chúng tôi. Lần thứ hai, vào dịp Tết, tôi được gặp Bác. Trong buổi liên hoan đón năm mới hôm ấy Bác rất vui. Tôi lại được ngồi gần Bác. Bác cười chỉ vào tôi và nói với các đồng chí lãnh đạo ngồi bên cạnh:

– Sao ít phụ nữ thế! Bác muốn phong trào phụ nữ tiến bộ mạnh hơn nữa.

Mùa xuân năm 1964, tôi được đi dự Hội nghị chính trị đặc biệt do Bác chủ trì. Họp xong, các đại biểu được mời cơm. Tôi ngồi ăn nhỏ nhẹ, Bác đến chỗ tôi, ân cần bảo tôi:

– Cháu ăn đi!

Từ lúc được Bác bảo, tôi ngồi ăn tự nhiên thoải mái như ở nhà. Tôi nghĩ trong đời tôi lúc bé đã được một lần Bác dạy cho cách học, những năm sống xa quê hương, hình ảnh Bác là nguồn động viên tôi khắc phục khó khăn để học tập. Khi trưởng thành lại được Bác săn sóc từ bữa ăn. Tôi là một trong hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã được Ðảng, Bác Hồ, cách mạng giải phóng và trở thành người có ích được đem sức lực của mình phục vụ nhân dân, đất nước. Ðối với tôi, không có gì sung sướng hơn là gìn giữ những kỷ niệm về Bác – cái vốn quý báu mà Bác đã trao cho tôi từ khi còn bé. Cái vốn đó mỗi ngày càng được nhân lên gấp bội, như cuộc đời tôi, được Ðảng, Bác Hồ dìu dắt mãi mãi đi trên con đường sáng./.

Theo GS.TS Hoàng Xuân Sính kể Bích San ghi/ nhandan.com.vn
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm xúc động của kiều bào về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, nguyên Phó Trưởng ban Ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh, là nhân vật chính mà chúng tôi ghé thăm. Bác sĩ Hà là đại diện duy nhất của Tổng hội sinh viên Việt Nam tại Pháp vinh dự được tổ chức sắp xếp cho về nước gặp mặt và trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây 42 năm, giữa bối cảnh chiến sự diễn ra ác liệt tại hai miền đất nước.

Kieu bao VN o Thai Lan tham BacKiều bào Việt Nam ở Thái Lan thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch
(Ảnh tư liệu)

Niềm xúc động hơn 40 năm chưa phai dấu

Bước qua tuổi 80, dù sức khỏe đã yếu, đi lại phải nhờ hỗ trợ của xe đẩy nhưng giọng Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà vẫn hào sảng, say sưa kể lại những kỷ niệm xúc động khi vinh dự được gặp Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch.

Đó là một buổi chiều đầu năm 1969, trong lúc tổ chức Đoàn Văn nghệ phục vụ Hội nghị Paris 4 bên, bàn về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam, bác sĩ Hà gặp ông Lê Đức Thọ (lúc đó là cố vấn đặc biệt cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị). Ông Thọ bày tỏ cảm kích về những hoạt động yêu nước của Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp do bác sĩ Hà tổ chức. “Đặc biệt, sau nhiều lần gặp mặt ngắn ngủi, ông Thọ hỏi tôi có nguyện vọng gì không. Lúc đó tôi còn trẻ và mơ ước được một lần gặp mặt lãnh tụ tại quê nhà từ rất lâu nên trả lời ngay: “Thưa đồng chí, tôi chỉ có nguyện vọng duy nhất là được gặp Bác Hồ. Nghe xong, ông Thọ gật đầu”.

Theo sắp xếp của tổ chức, đầu năm 1969, bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà từ Paris về Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đặc biệt, là một sự kiện không thể nào quên đối với bác sĩ Hà. Đó là ngày 20-1-1969. “Đúng 7 giờ sáng, đồng chí Vụ phó Bộ Văn hóa – Thông tin đến bảo tôi thu xếp vào Phủ Chủ tịch. Ngay lúc tới nơi, tôi đã thấy Bác trong bộ trang phục giản dị, cùng đi bên cạnh có ông Vũ Kỳ (Thư ký riêng của Bác) và ông Phạm Văn Đồng”. Nói tới đây, bác sĩ Hà không kìm nén được cảm xúc: “Lúc đó tôi chỉ biết nhìn Bác rồi khóc. Không hiểu vì sao nữa, nhưng lần đầu gặp Bác, tôi thấy Bác ốm quá, da xanh xao, nhưng giọng nói rất ấm và khỏe”.

Trong cuộc nói chuyện kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ, Bác Hồ hỏi thăm tình hình phong trào học sinh, sinh viên tại Pháp. Bác nhắc đến tên một số đồng chí khi còn học tập và làm việc tại Pháp. Đặc biệt, Bác gửi lời thăm hỏi tới bà Gerervie’ne, chủ nhiệm tờ báo “Nước Pháp buổi chiều”. Dặn dò về công tác vận động sinh viên Việt Nam tham gia vào phong trào đấu tranh tại Pháp, Người lấy trong túi áo ra một bài báo của Thông tấn xã Việt Nam với tựa đề về sự kiện treo cờ mặt trận trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris, gần nơi diễn ra Hội nghị Paris. Đại ý Bác nói, đây phải là những người bạn Pháp thực sự ủng hộ cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Việt Nam, mới có nghĩa cử đẹp như vậy. Do đó, phải hết sức trân trọng tới những tình cảm của họ. “Ấn tượng nhất là trước lúc chia tay, Bác đã gọi ông Vũ Kỳ lại và bảo lấy một tấm hình của Người, rồi tự tay viết dòng chữ “Thân mến tặng kiều bào tại Pháp” và phía dưới ký tên “Bác Hồ”. Sự chu đáo, cẩn thận của Bác khiến tôi hết sức xúc động”.

Cuộc gặp mặt tuy ngắn ngủi, nhưng đó lại là một kỷ niệm để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời của bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà.

Kiều bào nhớ ơn Người

Chia tay bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, chúng tôi có chuyến viếng thăm “không hẹn trước” với ông Bùi Mạnh Hải, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài. Dù rất bận rộn với công việc tiếp xúc cử tri khi được Ủy ban Bầu cử Trung ương giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên ông Hải vẫn dành thời gian tiếp chúng tôi.

Kể về những kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Hải bồi hồi nhớ lại: “Khoảng 10 năm trước khi Bác mất, hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào lúc giao thừa, Bác lại đều đặn xuất hiện trên Đài phát thanh đọc thơ chúc tết đồng bào, chiến sĩ cả nước. Cả gia đình tôi ngồi quây quần để nghe lời chúc tết của Bác qua đài phát thanh. Cảm giác rất hồi hộp, xốn xang”.

Khi đang tham gia sửa chữa tàu thủy phục vụ cho chiến trường miền Nam tại Mạo Khê – Đá Vách (Quảng Ninh), tôi hay tin Bác mất. Thế là cả đơn vị đều ngưng làm việc. Riêng tôi một mình đi xe đạp từ Quảng Ninh về Hà Nội, vừa đi vừa nghe đài phát thanh thông báo về lễ tang của Bác, nước mắt cứ ứa ra, giống như người thân yêu nhất trong gia đình vừa ra đi vậy.

Trong quá trình công tác, gắn bó với bà con kiều bào ở các nước, ông Hải bày tỏ ấn tượng nhiều nhất với kiều bào tại Pháp và Thái Lan. “Ở Pháp, nhiều nơi sinh hoạt của bà con kiều bào luôn có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh; còn ở Thái Lan thì cùng với bàn thờ Bác, còn có cả bàn thờ các vua Hùng. Hầu như ở đâu cũng vậy”. Lý giải về tình cảm đặc biệt mà bà con kiều bào tại Pháp và Thái Lan dành cho Bác, ông Hải khẳng định: “Nước Pháp là nơi Bác Hồ có thời gian hoạt động lâu nhất, dễ hiểu kiều bào ở đây có tình cảm đặc biệt đối với Bác. Còn đối với kiều bào tại Thái Lan, tôi còn nhớ vào năm 1960, khi chuyến tàu đầu tiên chở hơn 900 kiều bào từ Thái Lan di tản về nước cập cảng Hải Phòng, Bác Hồ đã ra tận cảng để đón, thăm hỏi sức khỏe, động viên bà con kiều bào. Cử chỉ của người rất ân cần, sâu sát và tâm lý. Hành động thể hiện Người là một lãnh tụ vĩ đại trong lòng kiều bào”.

Ngày hôm nay, khi nước nhà hưởng thái bình hơn 36 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không còn nữa nhưng hình ảnh của Người, sự vĩ đại của Người vẫn trường tồn trong trái tim của đồng bào, chiến sĩ cả nước, cũng như hàng triệu kiều bào đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài.

Theo Đại Đoàn Kết
Thúy Hằng (st)

Nhớ Bác khôn nguôi

Tôi  may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần, đó là những giây phút thiêng liêng, đã đi theo tôi suốt những năm tháng từ trung niên cho tới nay, khi đã qua cái tuổi “xưa nay hiếm”. Bác có tấm lòng nhân từ thân ái với cả những người làm bảo vệ và phục vụ như chúng tôi. Bác lại dành tình cảm rất đặc biệt, vừa thân thương, vừa ấm áp, lại rất thiêng liêng cho chúng tôi – những người lính cận vệ.

nho Bac khon nguoiBác Hồ đứng giữa hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Trà tại Việt Bắc cùng vớiTiểu đội võ trang bảo vệ phái đoàn Nam Bộ

Xuất thân từ một gia đình rất nghèo ở xã Thành Triệu, huyện Sóc Sải (nay thuộc huyện Châu Thành), tỉnh Bến Tre, tuổi thơ tôi đã trải qua những ngày tháng, cơm không đủ ăn, áo không có để mặc, ngủ chỉ có một chiếc  nóp; không được học hành, cách mạng đã đổi đời tôi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tôi tham gia Ðội Thanh niên Tiền phong. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, chúng đưa quân chiếm tỉnh lỵ Bến Tre, lấn chiếm đóng đồn tại huyện Sóc Sải, tôi bị bắt. Tên chỉ huy nói: “Mày là Việt Minh theo Hồ Chí Minh phải không?”. Tôi nghe mà không biết Hồ Chí Minh là ai. Bọn chúng tra khảo tôi rất dã man, sau đó tiếp tục hỏi: “Mày chỉ ai làm Việt Minh ở địa phương mày, tao thả, nếu mày không chỉ, sẽ bị xử bắn”. Tôi kiên quyết không nói một lời, nên bị chúng trói và bịt mắt đưa ra chợ Sóc Sải để xử bắn. Lúc đó, chợ họp rất đông. Tôi yêu cầu, trước khi bắn, cứ mở trói và không bịt mắt. Không ngờ, chúng đồng ý. Ðợi khi chúng vừa mở trói và mở bịt mắt là tôi liền phóng nhanh vào đám đông người đang họp chợ. Ðịch rượt theo, chúng bắn chỉ thiên tứ tung, may là nhờ bà con chạy tán loạn lên để che chở cho tôi chạy thoát.

Một lần, Ban Tuyên truyền lưu động Khu 8 do đồng chí Bảo Ðịnh Giang làm Giám đốc, đến biểu diễn văn nghệ tại chợ Sóc Sải, tôi đi xem, thấy có một anh thanh niên hát bài ca về Hồ Chí Minh say sưa, lúc đó, tôi mới biết Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của đất nước. Từ đó, trong tôi dấy lên niềm yêu quý và ao ước được gặp Bác… Ngày 15-3-1948, đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Khu VIII nhắc chúng tôi rèn luyện sức khỏe để sẵn sàng bảo vệ phái đoàn Nam Bộ ra chiến khu Việt Bắc, báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình kháng chiến ở miền Nam. Tôi sung sướng như được nhận phần thưởng.

Tháng 4-1948, Ðoàn đại biểu Nam Bộ gồm 20 người, trong đó có tám đại biểu, 11 bảo vệ, một y sĩ. Ðồng chí Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn, đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Phó đoàn. Ðoàn rời Ðồng Tháp Mười ngày 15-4-1948, ròng rã mấy tháng trời, đến ngày 5-10-1948, mới tới chiến khu Việt Bắc.

Có thể nói, trong suốt hành trình dài hàng ngàn dặm từ miền Nam ra Việt Bắc, nguồn động viên tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi chính là ước muốn mau được gặp Bác Hồ kính yêu. Chỉ nghĩ đến giây phút đó thôi, chúng tôi đã vơi hết mệt nhọc đường trường.

Và, giây phút chờ đợi ấy đã đến. Gặp được Bác, chúng tôi chạy ùa vào Bác như những đứa con đi xa lâu ngày sà vào ôm người cha kính yêu, đầy thương nhớ, trông chờ, rối rít, nghẹn ngào không nói nên lời. Chúng tôi quấn quýt quanh Bác, xúc động sờ lên bộ bà ba nâu của Bác, thổn thức nắm bàn tay ấm của Bác.

Khi ấy, tóc Bác bạc chưa nhiều. Bác bình dị từ trong cách ăn mặc đến cử chỉ, lời nói. Những cảm xúc của chúng tôi lúc ấy thật khó có thể diễn tả được. Cả tiểu đội vũ trang chúng tôi quây quần quanh Bác, Bác ân cần hỏi thăm từng người về gia cảnh, quê quán, đơn vị, những chiến công lẫn những gian khổ. Bác không chỉ quan tâm chuyện quốc gia đại sự mà còn quan tâm đến tình cảm riêng tư của chúng tôi. Rồi Bác bảo mọi người chụp ảnh với Bác để kỷ niệm.

Lần đó, Bác nói với chúng tôi: Giặc Pháp muốn bám rễ ở Nam Bộ để thôn tính nước ta. Chúng nó hoàn toàn ảo tưởng. Ðồng bào Nam Bộ đã chặn chân chúng. Bác mong các cháu phải tin tưởng mà công tác và chiến đấu cho thắng lợi độc lập. Rồi Bác ân cần nhắc nhở, đại thể: “Thời tiết ở đây thay đổi bất thường, không như thời tiết ở Nam Bộ, các cháu phải giữ gìn sức khỏe để làm nhiệm vụ và học tập những kinh nghiệm tốt nhằm phục vụ đồng bào”. Sau đó, đồng chí Trần Văn Trà phân công người đi làm nhiệm vụ, người đi học.

Khoảng tháng 2-1949, chúng tôi về Nam. Bác dặn: Nhớ báo cáo với đồng bào chiến sĩ rằng, Đoàn đã gặp Bác, Bác vẫn mạnh khỏe. Bác chuyển lời hỏi thăm sức khỏe đến toàn thể đồng bào, chiến sĩ miền Nam, động viên mọi người cố gắng chịu đựng gian khổ để đánh giặc. Bác và Trung ương luôn nhớ đến đồng bào, chiến sĩ. Sau đó, Bác bắt tay từng người một, có người cảm động ôm Bác khóc nức nở.

Tháng 6-1952, anh Ba Lê Duẩn được Bác Hồ gọi ra chiến khu Việt Bắc báo cáo tình hình miền Nam. Tôi lại theo Ðoàn công tác của anh Ba đi bộ dọc dãy Trường Sơn suốt mấy tháng ròng mới ra tới chiến khu Việt Bắc, đến ngày 20-11-1952.

Biết tin, Bác Hồ đến thăm đoàn ngay, Bác bắt tay và ôm hôn anh Ba Lê Duẩn. Tôi vô cùng xúc động khi Bác vẫn nhận ra tôi trong lần gặp trước đây, lúc đi với đoàn anh Trần Văn Trà.

Từ cuối năm 1952, cho đến đầu năm 1954, anh Ba Lê Duẩn làm việc tại Văn phòng Trung ương Ðảng ở chiến khu Việt Bắc. Hàng ngày, anh Ba làm việc với Bác Tôn và anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Ðồng, anh Lê Văn Lương, anh Tố Hữu, anh Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác. Suốt mấy tháng liền, anh Ba cũng thường xuyên vượt đèo De qua nhà Bác Hồ ở Tân Trào, làm việc.

Cuối năm 1953, anh Ba sang nhà Bác làm việc đến khuya, phải ngủ lại đêm. Khoảng một giờ đêm nghe tiếng máy bay địch, tôi giật mình thức dậy, đã thấy Bác Hồ và anh bảo vệ cầm cái chăn chiên căng ra theo hướng máy bay địch. Tôi bối rối: “Sao Bác không gọi cháu?”. Bác nói: “Ðể cháu ngủ, mai còn làm việc”. Tôi cảm động đến mức không thể nào chợp mắt được, cứ nằm thao thức chờ trời sáng.

Ðầu năm 1954, Bác Hồ gọi anh Ba sang làm việc với Bác và Bộ Chính trị, bàn bạc công việc từ sáng đến gần nửa đêm. Ðã khuya, Bác bảo anh Ba và mọi người ngủ lại, sáng về. Sáng sớm tinh mơ, mọi người vẫn còn ngủ, thì Bác đã thức dậy trước, sau đó, mọi người thức dậy cùng Bác tập thể dục.

Khi chia tay, Bác Hồ ôm hôn anh Ba, rồi các đồng chí ở Bộ Chính trị cũng ôm hôn anh Ba và chúc sức khỏe. Tôi ngạc nhiên về cử chỉ thân mật khác ngày thường này. Tôi đến thưa Bác, Bác bắt tay và dặn tôi: “Cháu nhớ giữ gìn sức khỏe để đi đến nơi về đến chốn”.

Sau này khi anh Ba ra Hà Nội làm việc lâu dài bên Bác và Bộ Chính trị, tôi nhớ khoảng một giờ chiều, vào một ngày tháng 2-1961, Bác Hồ đến nhà số 6 đường Hoàng Diệu, Hà Nội để làm việc với anh Ba Lê Duẩn. Lúc ấy anh Ba còn đang nghỉ trưa. Bác Hồ nói nhỏ với chúng tôi: “Cứ để chú ấy nghỉ thêm chút nữa, các cháu đừng gọi chú ấy dậy, Bác cháu ta ngồi đây nói chuyện”. Bác hướng về phía tôi hỏi: “Cháu lâu nay vẫn đi theo chú Duẩn à?”. Tôi hơi giật mình vì đã hơn bảy năm rồi mà Bác vẫn còn nhớ. Tôi thưa Bác: “Dạ, từ cuối năm 1952 ở Việt Bắc cho đến nay, cháu vẫn theo phục vụ anh Ba”.

Bác nói chuyện với chúng tôi một lúc thì anh Ba đi từ trên lầu xuống chào Bác. Bác nói: “Ðể chú nghỉ một lúc nữa, sao cháu nào gọi dậy?”. Anh Ba mời Bác lên lầu làm việc cho đến ba giờ chiều.

Ngày 19-5-1966, dịp sinh nhật lần thứ 76, Bác Hồ lên nghỉ tại nhà khách Hồ Tây. Bác Hồ cho gọi chủ nhiệm nhà khách lên gặp. Bác nói liền: “Cháu lên đây rồi à!” – “Thưa Bác, được sự đồng ý của anh Ba Duẩn, Văn phòng Trung ương Ðảng điều cháu lên làm chủ nhiệm nhà khách Hồ Tây ạ”. Hôm đó, Bác bảo tôi chuẩn bị bữa cơm để Bác mời thư ký, bác sĩ, bảo vệ, lái xe, phục vụ và ban chủ nhiệm nhà khách. Bác còn dặn thêm “… nhớ làm cơm ngon nhưng đừng lãng phí”.

Ðúng 11 giờ 30 phút hôm ấy mấy Bác cháu cùng dùng cơm. Trước khi ăn, Bác đi qua một lượt xem các món ăn, và dặn “mọi người nên ăn cho hết”. Hôm đó, tôi vinh dự được đại diện anh em chúc mừng sinh nhật lần thứ 76 của Bác. Viết bài này, tôi xin thắp nén tâm nhang để hứa với Bác suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Theo Nguyễn Văn Hoành (Tư Hoành)
Nguyên Phó Cục trưởng T.78 thuộc Văn phòng Trung ương Ðảng
Huyền Trang (st)/nhandan.com.vn

Lần đầu được gặp Bác Hồ ở Pác Bó

Hôm đó là ngày mồng 3 Tết (giai đoạn Bác Hồ mới trở lại Pác Bó, Cao Bằng – PV). Cả nhà tôi ăn cơm chiều xong, đang ngồi quây quần bên bếp lửa. Bên ngoài, trời tối dần. Nhìn ra đường đã không rõ nữa, mà trông lên các ngọn núi chung quanh nhà chỉ thấy một màu tối đen như mực. Thỉnh thoảng, một cơn gió nổi lên, lạnh rùng mình. Tôi ngồi xích lại gần đống lửa. Lúc này chỉ nghĩ đến việc phải ra ngoài cũng đã đủ thấy ngại. Chợt dưới nhà có tiếng gọi lên:

– Đại Lâm có nhà không đấy!

Tôi nghe giọng đã biết ngay là các đồng chí Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm rồi. Cả nhà tôi ai cũng biết hai đồng chí ấy. Chính các đồng chí là những người đầu tiên đến tuyên truyền cách mạng ở vùng Pác Bó này, từ năm 1937.

lan dau gap bac o phac bó aBác Hồ làm việc tại Pác Bó (Cao Bằng) sau hành trình 30 năm đi 
tìm đường cứu nước (ảnh tư liệu).

Tưởng các đồng chí đến chơi chúc Tết, bố tôi mừng rỡ chạy ra cửa đón.

Lên nhà, chưa kịp ngồi uống chén nước, đồng chí Ba đã nói ngay:

– Chúng cháu đang có việc vội. Cụ cho chúng cháu mượn hai bộ quần áo, một cái nồi, một cái chiếu, vài cái bát đôi đũa để chúng cháu mang lên hang ở.

Giá ngày thường như vậy thì cả nhà tôi chẳng ai lấy làm lạ. Nhưng đằng này lại là ngày Tết, sao lại vội vàng thế? Bố tôi mới nghe đã lắc đầu, gạt đi ngay:

– Không được! Tôi không để các đồng chí đi đâu cả!

Vừa nói, bố tôi vừa kéo tay hai đồng chí ngồi xuống. Nhưng đồng chí Ba, đồng chí Sâm vẫn nằn nì xin đi ngay. Bố tôi lại nói:

– Đã lâu ngày các đồng chí mới về, sao lại không ở chơi với chúng tôi? Hay gia đình có điều gì thiếu sót thì các đồng chí bỏ qua cho. Hôm nay hãy cứ ở đây với chúng tôi. Ai lại lên hang ở lúc này cho rét mướt, vất vả!

Hai đồng chí cứ đứng tần ngần giữa ngõ, không biết nói thế nào. Cuối cùng đồng chí Ba đành nói thật:

– Lâu nay chúng cháu vẫn nhờ bà con trong làng để sống và hoạt động. Từ đây về sau cũng thế. Nhưng hôm nay có mấy đồng chí lạ đến, xuống làng e không tiện cho việc giữ bí mật. Vậy xin cụ tha thứ cho chúng cháu.

Đến lúc đó bố tôi mới chịu để cho các đồng chí đi. Nhưng khi các đồng chí đi rồi, bố tôi vẫn thắc mắc không yên. Tôi cũng thấy lạ. Tôi đã được đi theo đồng chí Ba từ lâu, mà lần này đồng chí Ba phải giữ bí mật như thế, chắc là có điều gì đặc biệt lắm. Cả đêm hôm đó, tôi thấp thỏm không ngủ được. Tôi nằm bên đống lửa, nghe gió rít ngoài trời lại càng thương các đồng chí phải ở trên núi đá, hang sâu lạnh lẽo. Bố tôi cũng không ngủ được, chốc chốc lại dậy hút thuốc và lẩm bẩm:

– Hảo nhân đa hữu nạn! Người tốt lại thường gặp lắm gian nan!

Sớm hôm sau, trời mới mờ sáng, bố tôi đã bắt tôi đi thu xếp rượu thịt, bánh chưng, chè lam… cho vào một cái giỏ xách đi và dẫn bố tôi lên hang. Tôi cũng đang nóng lòng biết chuyện mới lạ, nên đi nhanh lắm. Đường từ nhà tôi vào hang Cốc Bó cũng có chỗ khó đi, phải lội qua mấy cái suối, leo qua vài dốc đá, nhưng hai bố con tôi đi băng băng, chỉ một chốc đã tới nơi. Đến gần hang, còn ở bên này suối, tôi đã trông thấy mấy người đang ngồi ở bãi nương dưới chân hang, bên bờ suối. Đến gần hơn, tôi trông rõ hai đồng chí già, râu dài, đang ngồi làm việc. Tôi thầm đoán: “Đây chắc là các lão đồng chí cách mạng”. Tôi còn đang ngắm nghía, suy nghĩ thì một trong hai đồng chí già đã đứng dậy ra bắt tay hai bố con tôi. Bố tôi chào lại, còn tôi thì đứng ngây ra nhìn đồng chí già không chớp mắt. Tôi thấy đồng chí râu dài hơn có đôi mắt sáng ngời, cử chỉ nhanh nhẹn, vồn vã. Nhìn những người chung quanh tôi thấy ai đối với đồng chí già này cũng tỏ thái độ tôn kính lắm. Tôi nghĩ: “Đúng là một đồng chí cao cấp rồi”.

Trước đây, tôi đã nghe nói có đồng chí Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ của Đảng. Lúc này tôi thoáng nghĩ: “Hay là chính đồng chí này đây?”. Nhưng tôi nín lặng không dám hỏi ai. Tự nhiên trong lòng tôi thấy bồi hồi cảm động. Cách mạng đã mở ra cho tôi biết con đường phải đi tới. Bây giờ lại được thấy những đồng chí lãnh tụ già tuổi đời, cao tuổi Đảng về đây, chắc chắn cách mạng ngày càng mạnh và mau chóng thành công.

Sau này tôi được biết chính xác đồng chí già đó chính là Bác kính yêu của chúng ta. Hôm đó, câu chuyện giữa bố tôi với Bác sôi nổi vui vẻ lắm. Bác hỏi thăm tình hình địa phương, việc làm ăn của nhân dân, sự khủng bố của kẻ địch…

Bố tôi đáp lại lời Bác:

– Bọn tổng lý, kỳ hào, lính dõng, thổ phỉ ở đây ác lắm. Chúng ức hiếp nhân dân chúng tôi nhiều lắm!

Để bố tôi nói xong, Bác nhẹ nhàng giải thích, đại ý:

– Tình cảnh nhân dân địa phương ta bị áp bức cũng là tình hình chung của nhân dân cả nước hiện nay. Bọn tổng lý, kỳ hào, lính dõng đúng là ác thật, nhưng nếu không có bọn đế quốc, không có thằng Tây thì bọn chúng chẳng làm gì được ta đâu.

… Nghe đến đây tôi mới nghĩ ra: “À, thế là từ trước đến nay mình chưa thấy hết tội ác của bọn đầu sỏ, mà chỉ thấy bọn tay chân của chúng thôi. Cũng như đóng một cái đinh vào gỗ thì phải có búa, nhưng mình chỉ thấy đinh mà không thấy búa. Mỗi lần bọn thổ phỉ hoặc bọn lính đồn đến cướp bóc thì mình chỉ nghĩ làm sao đánh đuổi được bọn chúng đi thôi. Còn mấy thằng Tây trên đồn Sóc Giàng họa hoằn mới đến làng và cái bọn thống trị chung cả nước, thì mình lại chưa biết đến nó. Đúng là tầm mắt mình còn hẹp quá!”. Tôi lại chăm chú nghe. Bác nói thêm, đại ý là: Muốn đánh đổ bọn thống trị làm cho đời mình khỏi khổ thì không phải chỉ nhân dân Pác Bó làm cách mạng là được. Phải đoàn kết toàn dân, già, trẻ, trai, gái cả nước thành một sức mạnh, lợi dụng lúc bọn đế quốc đang bị suy yếu trong cuộc chiến tranh thế giới mà đứng lên đánh đuổi chúng đi, giành lại độc lập cho Tổ quốc, thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, tự người mình trông nom lấy đất nước của mình.

Nghe Bác, tôi cảm thấy đầu óc được sáng thêm ra. Mỗi lời nói của Bác làm cho tôi càng thấy rõ tương lai đất nước, lại như nhắc nhở tôi phải học nhiều, biết nhiều hơn nữa, mới có thể làm cách mạng được.

Hôm ấy Bác bảo bố con tôi ở lại ăn cơm. Đồng chí cấp dưỡng của Bác đem thức ăn ra. Tôi thấy có rau cải, rau rừng, ốc suối – món ốc này chính Bác và các đồng chí ở đây đi mò lấy. Tôi cũng không ngờ món ăn ngày Tết của các đồng chí chỉ có thế. Như hiểu ý bố con tôi, Bác nói:

– Hôm nay được cụ mang cho rượu, bánh, thịt, thế là Tết đầy đủ lắm rồi.

Bố tôi cứ nằn nì mời Bác và các đồng chí xuống ở với dân làng, với gia đình cho đỡ vất vả. Bác vừa cười vừa nói:

– Ăn Tết thế này là Tết gia đình rồi đấy. Vẫn biết các cụ và bà con trong làng rất tốt, nhưng ở đây tiện công tác, tiện giữ bí mật… Bà con không có gì đáng ngại cho chúng tôi cả.

Bố tôi lại hỏi:

– Đồng chí nhiều tuổi rồi mà vẫn còn đi hoạt động được à?

Bác lại cười và nói;

– Tôi già rồi, nhưng nhiệm vụ cách mạng còn đòi hỏi nên tôi vẫn hoạt động. Cụ cũng già mà vẫn làm cách mạng đấy thôi.

Bố tôi lắc đầu:

– Tôi suốt ngày chỉ quanh quẩn ở nhà, được việc gì đâu mà bảo làm cách mạng?

– Cụ làm nhiều rồi đấy – Bác vui vẻ nói – Lâu nay cụ vẫn giữ bí mật, chăm lo chỗ ăn chỗ ở cho cán bộ, cụ lại vẫn trông nom gia đình để cho con cháu tham gia hoạt động, thế là cụ đã làm nhiều việc cho cách mạng rồi. Chỉ có bây giờ chúng ta cùng nhau cố gắng hơn nữa, làm cho toàn dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi bọn phát-xít Nhật và bọn đế quốc Pháp, thì nhân dân ta mới được ấm no hạnh phúc…

Ở chỗ Bác về, cả hai bố con tôi đều im lặng. Chắc bố tôi đang suy nghĩ nhiều về những lời Bác nói. Tôi cũng thế. Con người tôi như mới được tiếp thêm một sức mạnh mới. Trong bụng vui mừng phấn khởi. Cảnh vật chung quanh như thêm tươi đẹp. Những cơn gió lạnh đầu xuân không còn làm tôi thấy rét buốt nữa. Mặt trời đã hiện lên đỉnh núi rồi.

(Theo hồi ký của ông Dương Đại Lâm, cán bộ bảo vệ Bác Hồ thời kỳ Bác sống và làm việc ở Pác Bó – năm 1941).

Theo Dương Quảng Nam/qdnd.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm lần được đón Bác từ Fontainebleau về nước

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Người về nước tại cảng Hải Phòng tháng 10 năm 1946. Thiếu tá Cao Phong – người nhận nhiệm vụ đón Bác Hồ – không bao giờ quên giây phút lịch sử ấy.

Bài viết dưới đây được ghi lại theo tư liệu của ông Nguyễn Thế Vinh, con trai của cố Thiếu tá Cao Phong, nguyên Trưởng ty Liên kiểm Việt – Pháp miền Duyên hải Bắc bộ năm 1946.

“Trong những năm hoạt động cách mạng, có biết bao nhiêu sự kiện đến với tôi. Song được đón Bác Hồ từ Fontainebleau trở về là một kỷ niệm mà cho đến nay tôi vẫn không sao quên được.

Sau khi tham gia trận đánh lớn tiễu phỉ ngày 08 tháng 12 năm 1945 giải phóng thành Hà Giang, tôi được Bộ Quốc phòng điều về Trường Cán bộ Việt Nam Trần Quốc Tuấn do đồng chí Trần Tử Bình làm Giám đốc.

Fontainebleau 2 Từ trái sang: Hoàng Hữu Nam – Trưởng ban Liên kiểm Trung ương; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thiếu tá Cao Phong; Bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên – Chủ tịch uỷ ban hành chính Hải Phòng (Ảnh do ông Nguyễn Thế Vinh, con trai Thiếu tá Cao Phong cung cấp)

Đến ngày 15 tháng 3 năm 1946, tôi lại được Bộ giao nhiệm vụ Trưởng ty Liên kiểm Việt – Pháp Hải Phòng với quân hàm Thiếu tá. Trước khi đi nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái có gọi tôi lên căn dặn nhiêm vụ quan trọng của Liên kiểm trong tình hình đang có Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Pháp ở Hải Phòng. Trước khi trao cho tôi quyết định nhận nhiệm vụ, đồng chí Hoàng Văn Thái mở ngăn kéo lấy ra năm mét vải kaki đưa cho tôi và bảo: “Liên kiểm hàng ngày phải giáp mặt với quân Pháp, nên phải ăn mặc cho đàng hoàng. Anh cầm vải đi may ngay một bộ quân phục và phải có mặt ở Hải Phòng đúng ngày 15 tháng 3 năm 1946 để nhận nhiệm vụ”.

Ở Hải Phòng đến ngày 12 tháng 8 năm 1946 tôi lại nhận được quyết định của cấp trên giao cho chức vụ Trưởng ty Liên kiểm Việt – Pháp miền Duyên hải Bắc Bộ, quản lý một vùng đất từ Hải Phòng đến Móng Cái.

Bác Hồ trở về nước là một sự kiện quan trọng. Với tư cách là chỉ huy Liên kiểm miền duyên hải Bắc Bộ, tôi cũng được cấp trên cho biết trước. Phía Pháp, Đại tá Đép, Tổng chỉ huy Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến ở Hải Phòng, gặp tôi, đề nghị cho binh sỹ Pháp được tham gia lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Hoàng Văn Thái về yêu cầu của phía Pháp và nhận được sự đồng ý với điều kiện phía Pháp phải đón Bác Hồ theo nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Tôi trở lại làm việc với Đại tá Đép. Lần này tôi nói rõ từng chi tiết phía Pháp phải làm trong nghi lễ đón rước Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mọi yêu cầu của ta phía Pháp đều đồng ý. Riêng phần Quân kỳ danh dự của nước Pháp chào Hồ Chủ tịch như thế nào thì cứ bàn đi bàn lại mãi. Cuối cùng phía Pháp phải đồng ý cử hành nghi lễ như đón chào Tổng thống của chính nước họ. Nghĩa là khi Hồ Chủ tịch đi qua Quân kỳ của nước Pháp thì Quân kỳ danh dự của nước Pháp phải hạ xuống chấm đất để chào Người. Đó là nghi lễ trọng thể nhất của nước Pháp.

Fontainebleau 1Chân dung Thiếu tá Cao Phong

 Ngày 21 tháng 10 năm 1946, thông báo tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ của hải quân Pháp đưa Bác cập bến Ngự, Hải Phòng. Hàng quân danh dự đứng đón Bác, một bên là Vệ quốc đoàn của ta, còn một bên là hàng quân danh dự của Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Pháp, có quân kỳ Trung đoàn, có cả quân nhạc.

Nhân dân Hải Phòng đứng đón Bác chật ních cả hai bên đường. Vì có quân đội Pháp tham gia nghi lễ đón Bác và phải chịu sự chỉ huy chung của tôi nên khẩu lệnh tôi sẽ phải hô bằng tiếng Pháp. Hôm ấy, đứng ngay dưới cầu tàu đón Bác, tôi thấy có đông đảo quan khách trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố; đồng chí Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam; ông Nghiêm Kế Tố; ông Trần Huy Liệu; ông Phạm Văn Bạch. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp gọi tôi lại gần, chỉ thị: “Anh là chỉ huy cuộc duyệt binh, anh phải lên tàu rước mời Bác xuống duyệt đội danh dự”.

Nhận lệnh của Bộ trưởng, tôi bước lên tàu Đuy-mông Đuyếc-vin-lơ trong bộ quân phục chỉnh tề, bên mình đeo kiếm chỉ huy danh dự. Khi tới nơi, tôi thấy Bác Hồ chỉ có một mình, hai tay chắp ra phía sau, đi đi lại lại trên sàn tàu như Người đang suy nghĩ điều gì. Tôi mừng quá sững người lại trong tư thế đứng nghiêm, đưa tay lên vành mũ kính cẩn chào Bác và thưa: “Kính thưa Bác, Quân uỷ Trung ương uỷ nhiệm cháu lên đón Bác, kính mời Bác xuống duyệt đội danh dự ạ”.

Là chỉ huy cuộc duyệt binh, tôi hiểu trọng trách và vinh dự lớn của mình. Tôi đi chếch về phía bên phải Bác, theo đúng nghi thức một sỹ quan cận vệ bên cạnh một Nguyên thủ quốc gia. Khi còn cách hàng quân danh dự chừng mười thước, tôi hô to khẩu lệnh để nghi lễ đón Bác được bắt đầu.

Sau lời hô của tôi, hai bên hàng quân danh dự nghiêm lệnh bồng súng chào. Quân nhạc phía Pháp long trọng cử Quốc ca. Khi Bác qua hàng quân danh dự, Quân kỳ danh dự của nước Pháp đã hạ xuống chấm đất để chào Người theo đúng nghi thức trọng thể nhất. Lúc ấy, tôi thấy một nhà quay phim nước ngoài đã quỳ xuống sát đất rất lâu để quay cảnh ấy. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui sướng.

Đi qua hàng quân, Bác tiếp cận đông đảo nhân dân Hải Phòng đứng chật hai bên đường. Bác giơ tay vẫy chào đồng bào rồi lên xe về nhà khách của Ủy ban thành phố. Còn tôi, cả cuộc đời đi theo cách mạng, đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Song lần được đón Bác là kỷ niệm sâu sắc nhất của một người lính đã đi suốt hai cuộc trường chinh.

Theo Quốc Cường (trích ghi) http://dantri.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm về Bác Hồ của một cựu giảng viên đại học

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ đã có 47 năm đứng trên bục giảng từ bậc tiểu học đến đại học, có hơn 20 năm giảng dạy tại Khoa Tâm lí – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Vinh và 10 năm là chuyên gia giáo dục ở Châu Phi. Là nhà giáo mẫu mực, cụ đã đào tạo hàng nghìn học trò thuộc nhiều thế hệ. Năm 2009, cụ được tỉnh Hà Tĩnh tôn vinh “Nhà giáo lão thành có nhiều cống hiến”.

Gần 90 tuổi đời và có nửa thế kỷ đứng trên bục giảng, nhà giáo Lê Văn Đàm, nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Vinh vẫn nhớ như in những kỷ niệm xúc động về Bác Hồ kính yêu.

Lần đầu gặp Bác Hồ

Nhà giáo Lê Văn Đàm sinh năm 1926 tại Trung Lễ, một làng quê nổi tiếng về truyền thống văn hóa của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Lúc nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Văn Đàm đã quyết noi theo truyền thống gia đình họ tộc, quyết tâm học hành và luôn luôn đứng đầu lớp. Năm 1944, vừa mới bước vào tuổi 18, Lê Văn Đàm đã vinh dự đứng vào hàng ngũ những người làm giáo dục với chức trách là một giáo viên tiểu học.

Sau thời gian học tập ở Trung Quốc 3 năm (1953-1956), Lê Văn Đàm về nước, được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng Trường cấp II Trần Phú (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Mùa hè năm đó, Lê Văn Đàm được triệu tập tham gia lớp chỉnh huấn dành cho các cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên cốt cán toàn miền Bắc tại Hà Nội. Lần này, Lê Văn Đàm vinh dự được gặp Bác Hồ.

Cụ Đàm kể: “Lúc ấy lớp chỉnh huấn tập trung ở hội trường Trường Chu Văn An vào ban đêm, dù có điện nhưng không được sáng như bây giờ. Bất ngờ cả hội trường ồ lên khi được tin Bác Hồ đến thăm. Tình hình đấu tranh tư tưởng đang căng thẳng, nên được Bác Hồ đến thăm làm mọi người rất phấn khởi. Bác mặc bộ quần áo kaki trắng giản dị, người hơi gầy với chòm râu thưa. Sau khi ổn định tình hình, Bác nhìn quanh hội trường rồi hỏi: “Cán bộ nữ trong lớp chỉnh huấn của chúng ta được mấy “vắt”?

Cả hội trường hết sức bất ngờ vì cách dùng từ dí dỏm của Bác, và nhất là người cán bộ phụ trách chưa nắm được cụ thể có bao nhiêu nữ cán bộ giáo viên có mặt. Thực ra vào giai đoạn này giáo viên nữ, nhất là cán bộ quản lý rất ít. Một cán bộ đáp: “Thưa Bác, nữ được khoảng chục “vắt” ạ!”. Bác nói: “Sao ít thế?”, rồi Người nói về vai trò của phụ nữ, nhắc nhở các cán bộ quản lý giáo dục cần tuyển thêm nhiều giáo viên nữ.

Sau đó, Bác hỏi thăm về mức lương, thu nhập của đội ngũ nhà giáo. Nghe cán bộ báo cáo, Người trầm ngâm một lúc rồi nói: “Việc giáo dục hết sức quan trọng, nhà giáo có vai trò đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục, nhưng mức sống của đa số giáo viên còn thấp. Chính phủ phải có chính sách từng bước nâng cao đời sống cho đội ngũ giáo viên”.

nha giao14052010Nhà giáo Lê Văn Đàm nay nghỉ hưu tại Hà Tĩnh.

Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giáo dục sau đó đã có những chính sách để thu hút các nữ sinh vào trường sư phạm. Các nhà trường sư phạm cấp học bổng cho sinh viên, tuy không dư dật song cũng đủ ăn tiêu, không phải dựa vào chu cấp của gia đình. Các sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường sư phạm đều được phân công công tác tùy theo nhu cầu giáo dục của từng địa phương.

Lần đầu được gặp Bác, nhà giáo Lê Văn Đàm nhớ mãi phong thái giản dị, gần gũi, hài hước, sự quan tâm sâu sắc của Người đối với các nữ nhà giáo và đời sống giáo viên. Những lời dạy của Người sau đó đã được Chính phủ và ngành giáo dục áp dụng trong thực tiễn.

“Giáo cụ trực quan” là gì?

Nhà giáo Lê Văn Đàm còn có may mắn được gặp Bác Hồ lần nữa. Năm 1959, Bác Hồ đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lúc này nhà giáo Lê Văn Đàm đang học Khoa Tâm lí – Giáo dục. Vì Bác có nhã ý thăm lớp cán bộ quản lý được cử đi học, nên Lê Văn Đàm có cơ duyên gặp Người lần nữa.

“Lúc đó, mấy anh em chúng tôi đang lúi húi làm việc thì thấy có tiếng người xôn xao, cửa mở và đã thấy Bác Hồ đến ngay trước mặt. Đúng là như trong giấc mơ. Bác bắt tay từng người rồi hỏi: “Các chú đang làm gì thế?”. Nhà giáo Lê Văn Đàm thưa: “Thưa Bác, chúng cháu đang làm giáo cụ trực quan ạ”. Người hỏi lại: “Thế “giáo cụ trực quan” là gì? Nhà giáo Lê Văn Đàm đáp: “Thưa Bác, “giáo cụ trực quan” là đồ dùng dạy học ạ”. Bác hỏi: “Thế tại sao không nói “đồ dùng dạy học” mà lại nói “giáo cụ trực quan”?. Mọi người im lặng, lúng túng, Bác nói: “Chúng ta giáo dục cho con em nên chú ý việc dùng chữ. Những chữ đã có trong tiếng ta thì cần không vay mượn, cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hiện nay đang có bệnh sính dùng chữ, cần phải sửa từ những cán bộ giáo dục để làm gương cho học sinh và đồng bào”.

Trong trái tim nhà giáo lão thành, những kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu vẫn vô cùng sâu đậm.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng những lời dạy của Bác từ cuộc gặp gỡ đó mãi in sâu trong tâm trí nhà giáo Lê Văn Đàm và trở thành kim chỉ nam trong cuộc đời làm giáo dục của cụ.

Cụ Đàm tâm sự: “Thực ra lúc đó chúng ta dịch giáo trình từ Trung Quốc, Liên Xô nên có vay mượn thuật ngữ. Mặt khác, không ít cán bộ vẫn mắc “bệnh sính chữ”. Lời dạy của Bác không chỉ nói về việc dùng chữ, mà chính là vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ, và các nhà giáo phải làm gương cho xã hội”.

Sau này, trong những năm đi làm chuyên gia giáo dục quốc tế ở châu Phi (cụ Lê Văn Đàm từng làm chuyên gia giáo dục ở Ghi-nê và Ăng-gô-la hàng chục năm), cụ Đàm luôn tìm cách để giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử, văn hóa Việt Nam.

Dù xa cách ngàn trùng, đất nước và Bác Hồ vẫn rất gần

Từ năm 1965 – 1969, nhà giáo Lê Văn Đàm được Chính phủ cử đi làm chuyên gia giáo dục tại Ghi-nê. Trước khi lên đường, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật và dặn dò nhà giáo Đàm. Thủ tướng nhấn mạnh nhiệm vụ giúp bạn phát triển giáo dục cũng quan trọng không kém việc đánh giặc bảo vệ Tổ quốc (lúc này chiến sự đang rất căng thẳng), đồng thời nhắc mỗi người cần giữ gìn tư cách, tác phong của người Việt Nam khi ở nước bạn.

Khí hậu châu Phi khắc nghiệt, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với những người đã quen gian khổ như cụ Lê Văn Đàm thì không phải là vấn đề đáng ngại. Chỉ có nỗi nhớ Tổ quốc, nhớ Bác Hồ là luôn canh cánh bên lòng. Lúc đầu, các nhà giáo xa xứ nghe tình hình Việt Nam qua bản tin quốc tế tiếng Pháp của các nước, sau một thời gian mới bắt được sóng của Đài tiếng nói Việt Nam.

Dù bận đến mấy, việc nghe đài Việt Nam luôn được ưu tiên hàng đầu. Những tin tức chiến thắng dồn dập làm cho các nhà giáo phấn khởi vô cùng. Vì các sinh viên Ghi-nê rất muốn nghe về thời sự Việt Nam, nên nhà trường đã tổ chức mời nhà giáo (họ gọi là giáo sư – Professeur) Lê Văn Đàm diễn thuyết trước sinh viên toàn trường về thời sự đánh giặc Mỹ của Việt Nam. Chương trình chỉ có ba tiếng từ 8 giờ đến 11 giờ), nhưng đến 11 giờ, sinh viên yêu cầu nói thêm, chưa ăn cơm cũng được. Thế là giáo sư Lê Văn Đàm phải nói thêm 2 tiếng nữa mới nghỉ. Cả trường lặng phắc lắng nghe, cả ông bảo vệ trường cũng say sưa nghe giáo sư Đàm diễn thuyết. Sau này vì các sinh viên muốn tìm hiểu thêm, nhà giáo Lê Văn Đàm liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam để mượn các bộ phim về chiếu cho sinh viên xem. Làn sóng hâm mộ Việt Nam dâng cao, đến mức đại diện ngoại giao Mỹ tại Ghi-nê phản đối, cho rằng nhà trường “thiên vị” Việt Nam. Nhưng nhà trường nói vì sinh viên yêu thích nên họ không “bắt lí” được.

Sau 5 năm công tác, Lê Văn Đàm về Hà Nội vào đúng ngày 2/9/1969, được người nhà báo tin Bác ốm rất nặng. Sáng ngày 3 tháng 9, Lê Văn Đàm và người dân cả nước đau đớn khi được tin Bác Hồ đã từ trần. Lê Văn Đàm vội đến Quảng trường Ba Đình để xem tình hình nhưng không vào được, chen chúc trong cả biển người chan hòa nước mắt giữa trời mưa tầm tã. Lê Văn Đàm đã ở lại Hà Nội tham dự lễ tang Bác, 12 ngày sau mới về gặp gia đình ở Hà Tĩnh.

Bài và ảnh: Quang Đại – Văn Dũng/Theo dantri.com.vn
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Bồi hồi nhớ kỷ niệm được Bác Hồ trao tặng Huy hiệu

Tròn 21 tuổi, làm Bí thư Đoàn xã và còn tham gia làm Đội trưởng trong Hợp tác xã (HTX) Đại Phong. Với những thành tích đóng góp cho HTX, ông Trịnh Gia Minh vinh dự được Bác Hồ trao tặng hai phần thưởng cao quý mang tên Người.

Vào những ngày giữa tháng 5, khi cả nước đang hân hoan tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 122 năm Ngày sinh nhật Bác, chúng tôi tìm về xã Yên Trường, huyện Yên Định, gặp ông Trịnh Gia Minh – người Đội trưởng Đội 14, của HTX Yên Trường năm xưa (hay còn gọi là HTX Đại Phong).

Boi hoi 1Ông Trịnh Gia Minh bồi hồi nhớ lại ngày được gặp Bác
và được nhận huy hiệu của Người.

Đã hơn 70 tuổi, và hơn 50 năm kể từ ngày được gặp Bác Hồ, nhưng ông vẫn nhớ như in những khoảnh khắc đầy vinh dự, tự hào đó.

Vào những năm 1960, khi nước ta đang thực hiện hai nhiệm vụ chính, miền Bắc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Để thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc phát động 3 phong trào lớn: Gió Đại Phong, Sóng Duyên Hải, Cờ 3 Nhất.

Trong phong trào đó, HTX Yên Trường luôn có thành tích dẫn đầu của tỉnh Thanh Hóa và được Trung ương công nhận. Năm 1961, Bác Hồ đã trực tiếp về thăm và động viên các xã viên, bà con nhân dân trong xã tích cực hơn nữa trong tăng gia sản xuất, thực hiện thành công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

“Chiều ngày 10/12/1961, khi tôi cùng các xã viên đang làm ngoài đồng, thì có đồng chí lãnh đạo xã ra thông báo ngày mai các xã viên nghỉ sản xuất, xã ta được một phái đoàn cấp cao về thăm, và yêu cầu tôi tối nay phải họp thông báo cho các xã viên biết, đúng 6 giờ 30 phút ngày mai tất cả mọi người tập trung để ban tổ chức đưa tới vị trí mít tinh”, ông Minh nhớ lại.

Đúng 6 giờ 30 ngày 11/12, tất cả mọi người đều đã tập trung đông đủ. Ban tổ chức thông báo hôm nay cán bộ, nhân dân xã Yên Trường vinh dự được đón Bác Hồ về thăm. Hàng ngàn người vỡ òa trong niềm vui sướng, cùng hô to “Bác Hồ muôn năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”. Lúc này chiếc máy bay trực thăng từ từ hạ cánh.

Boi hoi 2Bác Hồ biểu dương những thành quả mà HTX Yên Trường đạt được. (nh tư liệu)

Boi hoi 3Cán bộ, nhân dân, quết tâm làm theo lời dặn của Bác. (nh tư liệu)

Bác bước xuống, Ban tổ chức mời Bác lên lễ đài đứng nói chuyện nhưng Bác nói: “Các chú cứ để Bác đứng đây, Bác được gần dân, nói chuyện với dân, cho dân nghe rõ”. Gặp bà con, Bác hỏi chuyện rất thân tình. Bác quan tâm đến từng bữa ăn, sức khỏe của người già và trẻ nhỏ, cách thực hiện xây dựng đời sống mới của bà con.

Ông Minh trầm giọng xuống, rồi kể tiếp: “Sau khi Bác biểu dương thành tích phát triển kinh tế, sản xuất nông nghiệp của Đảng bộ, nhân dân xã Yên Trường. Bác nói trong thành tích tập thể có thành tích cá nhân. Bác hỏi: “Cháu Trịnh Gia Minh và cháu Hoàng Thị An, có ở đây không? Lúc này tôi vui sướng thốt lên: “Thưa Bác có cháu đây ạ!”.

Bác ân cần: “Bác đã nghe thành tích của cháu và cháu An”. Bác hỏi bà con có đồng ý để Bác biểu dương thưởng cho hai cá nhân xuất sắc này không? Bác quay sang gắn Huy hiệu của Người cho tôi và cô Hoàng Thị An, rồi Bác căn dặn: “Đoàn thanh niên phải tích cực hăng say lao động sản xuất, phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng quê hương giàu mạnh. Thành tích của cháu Minh, cháu An mới là bước đầu, còn phải cố gắng hơn nữa, hàng năm nhớ viết thư về báo công cho Bác”.

Boi hoi 4
Bà Hoàng Thị An tâm sự cùng Bác sau khi được Người trao huy hiệu. (Ảnh tư liệu)

“Nhớ lời Bác dặn, cứ vào ngày 19/5 hàng năm, tôi đều gửi bảng báo công lên Bác. Vào năm 1962, sau khi tôi gửi bảng báo công ra cho Bác, thật bất ngờ Bác lại gửi cho tôi hai tấm vải, bên ngoài có ghi Phần thưởng Bác Hồ. Nhận trên tay món quà của Bác mà tôi không dám tin vào mắt mình. Đời tôi thế là đã có hai lần được nhận phần thưởng của Bác”./.

Theo Hoàng Văn – Nguyễn Thùy/Báo Dân trí
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm về Bác

QĐND Online – “Được làm cận vệ của Bác là một niềm vinh hạnh lớn không phải ai cũng có được. Được gần Bác, tôi cùng các anh em khác đã có những kỷ niệm không thể nào quên. Sự giản dị và thanh bạch của Bác là tấm gương để cho thế hệ chúng tôi và thế hệ mai sau noi theo”.

Bác Tăng Văn Soát, người vinh dự được làm cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 6 năm liền, đã xúc động chia sẻ với chúng tôi như vậy, khi ông cùng đoàn cán bộ phục vụ và bảo vệ Bác Hồ năm xưa thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 122 năm ngày sinh của Bác.

Nhập ngũ năm 1948. Năm 1953, ông được tuyển vào học lớp Công an Trung ương. Năm 1954, ông được chọn sang Cục Cảnh vệ. Sau quá trình rèn luyện, nhiều năm liền được nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua, năm 1962, ông may mắn được chọn vào đội bảo vệ Hồ Chủ tịch. Đối với ông, đó là niềm vinh dự và tự hào lớn.

Đã bước qua tuổi 80, nhưng người cận vệ năm xưa vẫn nhớ như in cảm xúc ngày được chính thức nhận vào đội cận vệ của Bác. Hôm đó, đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác nói với ông: “Trưa nay ăn cơm xong chú đi với anh”. Trong lòng băn khoăn không biết mình sẽ đi đâu. Đúng 11 giờ 30 phút, sau bữa cơm trưa, ông theo đồng chí Vũ Kỳ qua nhà sàn của Bác. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ báo cáo: “Thưa Bác, hôm nay cháu đưa chú Soát sang xin Bác làm cận vệ”. Bác gật đầu đồng ý. Ông Soát mắt rưng rưng nhớ lại: “Lúc đó, tôi xúc động đến nỗi không thốt nên lời”.

Ông còn nhớ những ngày đầu tiên làm nhiệm vụ, Bác luôn căn dặn: “Khi được giao nhiệm vụ, chú được phép hỏi lại nếu chú nghe chưa rõ”. Ông nói: “Trong suốt quá trình được gần Bác, tôi thấm nhuần lời dặn dò đó của Bác. Làm việc gì cũng phải hiểu rõ nhiệm vụ thì mới hoàn thành tốt được”.

Bác Tăng Văn Soát đang chia sẻ những kỷ niệm về Bác

Cũng từng được phục vụ trong các buổi tiếp khách của Bác, cô Nguyễn Thị Đạc, cũng chia sẻ cho chúng tôi kỷ niệm về những lần may mắn được nói chuyện với Bác Hồ.

Cô không thể nào quên lần đầu tiên được gặp Bác.

Vừa nhìn thấy cô, Bác hỏi, “Cháu tên gì?”

“Dạ thưa Bác, cháu tên Đạc”, cô hồi hộp đáp lại.

Bác hỏi tiếp, “Thế bố cháu có phải nhà Nho không?”.

Chưa kịp trả lời thì Bác nói tiếp, “Có phải tên cháu trong bài thơ này không?”. Nói xong Bác từ từ đọc:

“Mộc đạc vang lừng trong bốn cõi

Âm thanh chuyển động khắp nơi nơi”

Nghe Bác đọc xong hai câu thơ trên, cô reo lên: “Thưa Bác, đúng rồi ạ, đúng rồi ạ”.

“Tự nhiên mọi sự hồi hộp tan biến, thay vào đó là cảm giác gần gũi như nói chuyện với người thân vậy”, cô Đạc nhớ lại.

Cô chia sẻ thêm, ngày cô vào phục vụ ở đây là lúc cô mới tròn 18 tuổi, vẫn còn nhiều bỡ ngỡ. Những ngày đầu tiên làm việc, Bác luôn luôn tận tình chỉ bảo cho cô cũng như những người phục vụ ở đây.

Có lần Bác gọi cô đến và nói: “Hôm nay Bác tiếp khách, cháu ra vườn hái mỗi loại hoa một cánh hoa, rồi bỏ vào chén úp. Khi có khách thì rót nước chè vào những chiếc chén đó”. Ngày hôm đó, một vị khách vừa nhấp một ngụm trà, suy nghĩ một lát và nói: “Trà của Bác có mùi hoa bưởi”. Một người khác phản đối: “Không, trà có mùi hoa nhài”. Cứ như thế, mỗi người lần lượt đem ra ý kiến riêng của mình. Điều đó đã tạo ra không khí vui vẻ, thoải mái cho những vị khách trong buổi tiếp khách hôm đó.

Các buổi chiếu phim vào tối Chủ Nhật hàng tuần, Bác thường gọi các cháu sang xem. “Đã hơn 40 năm trôi qua, nhưng những hình ảnh về Bác vẫn còn in đậm trong trái tim tôi và chắc chắn trong tim người dân Việt Nam, những người may mắn dù chỉ là một lần được gặp Bác. Những kỷ niệm về Bác như còn mới đây thôi. Chúng tôi hy vọng rằng, những câu chuyện này sẽ giúp thế hệ trẻ ngày hôm nay hiểu thêm về Bác”, cô Đạc chia sẻ.

Bài, ảnh: Trần Hoài – Mai Hương
qdnd.vn