Thư viện

“Nơi Bác yên nghỉ – Nơi hội tụ niềm tin”

(ĐCSVN) – Hơn 31 nghìn người! Đó là con số kỷ lục về lượng du khách đến viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào một buổi sáng… Nhưng phía sau dòng người vô tận ấy là biết bao công việc miệt mài của những cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Bác, Đại tá, TS. Vũ Văn Bình- Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lăng đã có cuộc trò chuyện với Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thưa đồng chí, một mốc quan trọng trong gần 40 năm giữ gìn, bảo vệ an toàn thi hài Hồ Chủ tịch là việc chúng ta đã pha chế thành công dung dịch và làm chủ công nghệ bảo quản thi hài Bác. Xin đồng chí cho biết, Bộ Tư lệnh (BTL) Lăng đã làm thế nào để có được thành tựu quan trọng ấy?

Sau khi Người qua đời, đồng bào, chiến sĩ cả nước thương nhớ Người khôn xiết, bầu bạn quốc tế cũng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc với chúng ta. Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã quyết định bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Nhiệm vụ thiêng liêng và trọng trách lớn lao đó được giao cho Quân đội. Đoàn 69- đơn vị tiền thân của bộ đội bảo vệ Lăng được thành lập và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những năm đầu giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác. Gần 40 năm qua, cán bộ, chiến sĩ tổ y tế đặc biệt, Đoàn 69 và từ năm 1975 đến nay là Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vừa xây dựng vừa trưởng thành, hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngay từ ngày Bác đi xa, chúng ta đã một mặt dựa vào sự giúp đỡ của Liên Xô để bảo quản tốt thi hài của Người, một mặt tích cực xây dựng lực lượng cán bộ khoa học hướng tới tự chủ, tự lực, tự cường trong công tác bảo quản và giữ gìn thi hài của Bác.

Do được chuẩn bị tốt như vậy, nên khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chúng ta từng bước làm chủ công nghệ giữ gìn thi hài Bác. Song công việc đó không hề đơn giản, bởi đấy là một ngành khoa học công nghệ tổng hợp. Khi thực hiện quá trình công nghệ giữ gìn thi hài Bác, chúng ta phải kết hợp nhiều ngành kĩ thuật trong khi chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên vẫn phải giữ tốt thi hài của Bác với 3 yêu cầu: “Thi hài không bị phân huỷ, không sạm màu, không bị biến dạng” để nhân dân đến viếng vẫn thấy thi hài nguyên vẹn như lúc Bác còn sống.

Một vấn đề hết sức quan trọng là phải có một loại dung dịch hóa chất để bảo quản thi hài. Trước năm 1990 các chuyên gia Liên Xô trực tiếp có mặt tại Việt Nam để giúp ta về công nghệ pha chế dung dịch này, nhưng đến năm 1992, do sự biến động chính trị, việc giúp đỡ ngày càng hạn chế. Trước tình hình trên, các nhà khoa học Việt Nam phải nhanh chóng, chủ động khắc phục khó khăn. Sau 3 lần pha chế thành công tại Hà Nội, dung dịch để bảo quản thi hài Bác do các chuyên gia Việt Nam pha chế đã được các bạn Nga công nhận. Vì thế, từ ngày 29/4/1995 các bạn đã chính thức bàn giao cho ta nhiệm vụ làm thuốc thường xuyên bảo quản thi hài Bác. Cho đến nay, thi hài Bác vẫn rất tốt, và sẽ bảo quản được lâu dài đáp ứng niềm mong mỏi của toàn dân.

Theo các chuyên gia về y học, việc gìn giữ thi hài trên thế giới rất khó khăn (không chỉ riêng ở VN) để công tác giữ gìn thi hài của Bác được lâu dài, BTL Lăng sẽ phải làm như thế nào?

Về công nghệ giữ gìn thi hài trên thế giới thì nước Nga có nhiều kinh nghiệm và ta cũng đã tiếp thu, học tập được rất nhiều. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu là giữ gìn thêm mỗi năm là thêm sự phức tạp. Hơn nữa thi hài nào cũng sẽ bị chuyển hoá theo thời gian và năm tháng, do sự tác động của môi trường, nhất là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm ở nước ta. Song, giữ gìn được lâu dài thi hài của Bác luôn là quyết tâm của Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương, các ngành khoa học và cũng là mong ước của toàn dân. Để làm được như vậy chúng tôi đã phối hợp với các ngành khoa học, các giáo sư của trường đại học và một số viện nghiên cứu khoa học… nhằm tìm ra các giải pháp tốt nhất. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực, sáng tạo của BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ hiệu quả của bạn, tôi xin khẳng định, trong điều kiện hiện nay, chúng ta sẽ tiếp tục bảo quản lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch.

Vẫn biết việc bảo quản giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao cho các anh và là công việc không đơn giản chút nào. Nhưng hiện nay có ý kiến cho rằng, hoạt động của bộ đội Lăng Chủ tịch là rất ” nhàn”. Vậy đồng chí suy nghĩ gì về vấn đề này?

Có thể khẳng định rằng, chỉ những ai ít quan tâm, thiếu hiểu biết về bộ đội Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nói như vậy. Chứ còn đại bộ phận nhân dân đều có thể hiểu được sự gian khó, hy sinh của chúng tôi, nhất là những đồng chí đang ngày đêm canh giữ giấc ngủ bình yên cho Bác; các chiến sĩ đã phải vất vả tập luyện gian khó mới có thể đứng nghiêm hàng vài giờ đồng hồ như vậy. Không phải ai cũng có thể làm được việc đó. Rất nhiều đồng chí qua thời gian đầu được rèn luyện, huấn luyện đã không chịu được. Có đồng chí còn ngất đổ “như cây chuối” và phải chuyển sang công việc khác. Đó là còn chưa kể nắng, mưa, đêm hôm… Chúng tôi cũng đang ngày đêm nỗ lực phấn đấu vươn lên trên tất cả các lĩnh vực công tác. Rồi hàng loạt công việc: nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ ướp, bảo quản thi hài trong điều kiện nhiệt đới, trùng tu để công trình luôn khang trang, đảm bảo an ninh và sạch đẹp khu vực Quảng trường… Nói như thế để thấy rằng, tất cả cán bộ, chiến sĩ trong Bộ Tư lệnh đều cống hiến bằng trái tim, khối óc của chính mình.

Hiện nay đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, xa đến được HN vào thăm viếng Lăng Bác là rất khó khăn. Để tạo điều kiện cho các đồng bào dân tộc thiểu số và các bà con vùng sâu, xa được vào thăm viếng Bác, BTL Lăng đã tổ chức thực hiện như thế nào?

Chúng tôi đã phối hợp với ngành đường sắt Việt Nam và các tỉnh ở xa để có sự hỗ trợ về tiền tàu, xe cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa khi về Hà Nội để vào Lăng viếng Bác. Đối với những bà con có chế độ chính sách thì được giảm từ 60% – 90% giá vé đi lại (tùy theo chế độ). Khi bà con đến Hà Nội, chúng tôi cho xe ra tận ga để đón và liên hệ mượn nhà nghỉ để khách thăm Lăng chỉ phải trả tiền điện, nước chứ không phải trả tiền thuê phòng. Vì hiện nay, BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chưa có nhà khách.

Do làm tốt công tác đó nên mấy năm trở lại đây, những đoàn khách ở xa như: Đồng Nai, Tiền Giang… và các tỉnh khác đến viếng Bác rất đông. Tiêu biểu là ngày 2-9-2004, số lượng khách thăm viếng lên tới hơn 31.000 người trong một buổi sáng.

Khi có số lượng khách đông như thế, mọi công tác đảm bảo an ninh trật tự cho đến vệ sinh môi trường có nhiều khó khăn… Nhưng chính tình cảm của nhân dân đối với Bác lại là động lực, là niềm vui thôi thúc chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Cùng với nhiệm vụ bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài của Bác thì một nhiệm vụ rất quan trọng của các đồng chí là phải góp phần làm nổi bật văn hóa Hồ Chí Minh cho du khách. Vậy, BTL Lăng đã quan tâm đến vấn đề này như thế nào?

Hình ảnh Bác Hồ đã đọng lại không chỉ trong trái tim nhân dân Việt Nam, mà còn đọng lại trong bạn bè quốc tế. Chính vì thế ai tới Hà Nội và nhiều khách quốc tế cũng đều mong muốn vào Lăng viếng Bác. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên BTL Lăng phải thể hiện sự nhiệt tình, chu đáo, văn minh… nhất trong việc tiếp đón và như thế chính là góp phần gìn giữ tư tưởng của Người, bởi vì việc mỗi cán bộ chiến sĩ thể hiện tư thế, tác phong quân nhân chững chạc, có văn hoá cũng chính là góp phần tô thắm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” với những phẩm chất cao đẹp mà chính Người lúc sinh thời đã dày công rèn luyện, vun đắp. Trong những lần du khách đến viếng Lăng Bác, chúng tôi còn chiếu những phim tư liệu để đồng bào được xem những hình ảnh khi Bác còn sống. Chính vì thế mà nhiều du khách đã vào Lăng viếng Bác xong rồi nhưng lại không muốn ra về, cứ nấn ná ở lại như muốn được kéo dài thêm thời gian bên Bác- người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới.

Xin cảm ơn đồng chí./.

Triệu Sơn Hảo (thực hiện)

cpv.org.vn

Đẩy mạnh hoạt động công tác dân vận ở Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại tá Phạm Văn Lập, Phó Tư lệnh tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác dân vận năm 2011

Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị được Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ chính trị đặc biệt: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và Công trình Lăng của Người; tổ chức đón tiếp phục vụ đồng bào, khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Khu Di tích K9; tổ chức phục vụ các hoạt động tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và nghi lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng. Trong những năm qua, đơn vị đã chủ động khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng Đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD.

Trong đó, đã làm tốt công tác giáo dục về chính trị, tư tưởng; tổ chức các lớp học nghiên cứu, quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, các quy chế, quy định của địa phương trên địa bànđóng quân. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên triển khai thực hiện nghiêm túc có hiệu quả công tác dân vận; cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương, các lực lượng có liên quan phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giải quyết tốt các sự việc xảy ra, giữ vững trật tự, an toàn khu vực.

Thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định và triển khai thực hiện nghiêm túc, phát huy tốt nhất vai trò trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp nâng cao chất lượng quản lý đơn vị toàn diện về mọi mặt. Tập trung thực hiện tốt một số quy chế, quy định như: Quy định tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; Quy chế về công tác phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng Ban Quản lý Lăng với các lực lượng vũ trang Thủ đô trong bảo đảm an ninh an toàn tuyệt đối cho các buổi lễ viếng cấp Nhà nước, các đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn cấp Bộ trưởng, đón tiếp đồng bào và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác, thắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tham quan Thủ đô; xây dựng và chấp hành nghiêm Quy chế công tác dân vận của đơn vị. Các quy chế, quy định phối hợp bảo đảm an ninh với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương trên địa bàn đóng quân đã góp phần tăng cường quan hệ phối hợp các lực lượng và đoàn kết quân dân; giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong đơn vị, tạo môi trường thuận lợi để đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn đóng quân an toàn, góp phần giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng và Thủ trưởng Phòng Chính trị,
Đoàn 595 trao nhà tình nghĩa cho bà Đỗ Thị Xuyên tại xã Trịnh Xá,
huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Hàng năm đơn vị đã chủ trì tổ chức Hội nghị phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang của các quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối như: Phục vụ Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, các ngày lễ, tết, các sự kiện sinh hoạt chính trị, văn hóa diễn ra tại Lăng, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ.

Phối hợp và tổ chức tốt việc giao ban an ninh theo quy định giữa Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng với Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, với các lực lượng vũ trang trên địa bàn quận Ba Đình, quận Đống Đa, huyện Ba Vì, kịp thời thông báo tình hình, kết quả công tác phối hợp, hiệp đồng trong giải quyết các sự việc cụ thể có liên quan tới công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, không để xảy ra bị động, bất ngờ; trong từng thời kỳ và hàng năm làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, biểu dương khen thưởng kịp thời đối với những tập thể và cá nhân có thành tích suất sắc trong công tác dân vận. Bên cạnh đó, đơn vị đã phối hợp cùng với Sở Giáo dục thành phố Hà Nội, các trường trung học phổ thông trên địa bàn đóng quân như Trường Phạm Hồng Thái, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Siêu, Hoàng Diệu…Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hoàn thành xuất sắc các nội dung giáo dục kiến thức quốc phòng cho học sinh các nhà trường; tổ chức tốt, an toàn, chu đáo 2 lớp “Học kỳ quân đội” cho 180 cháu, tạo ấn tượng, tình cảm tốt đẹp về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bên Lăng Bác. Tích cực hưởng ứng các phong trào của địa phương phát động, như vận động 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ tham gia phong trào xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”, Quỹ “Vì người nghèo”; tổ chức tặng sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách phường Điện Biên, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” của thành phố Hà Nội; xây tặng nhà tình nghĩa, thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách trên địa bàn đóng quân nhân kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7, tham gia ủng hộ Quỹ “Chất độc da cam”; Quỹ “Người tàn tật” quận Ba Đình. Qua đó giáo dục cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ về truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, tri ân các thế hệ đi trước, sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn, lá lành đùm lá rách thể hiện nghĩa cử cao đẹp của người chiến sỹ bên Lăng Bác góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân dân. Tích cực tham gia các phong trào hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ với các đơn vị kết nghĩa, các lực lượng quần chúng địa phương trên địa bàn, tạo được tình cảm ấn tượng tốt đẹp.

Thường xuyên giáo dục, quán triệt, rèn luyện nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động nhận thức đầy đủ về vai trò tầm quan trọng của công tác phòng chống lụt, bão, cứu hộ, cứu nạn giảm nhẹ thiên tai và phòng chống cháy nổ, cháy rừng; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện phương án và tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục, sẵn sàng đối phó với các tình huống có thể xảy ra. Chú trọng công tác phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các cấp, các lực lượng của địa phương, chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, vật chất bảo đảm cho xử lí các tình huống nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ với công an các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động nắm vững và chấp hành nghiêm Luật giao thông, bảo đảm 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ và người lao động chấp hành nghiêm Luật giao thông và tham gia giao thông bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Từ thực tế đó đã khẳng định việc tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả về công tác dân vận ở Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần và trách nhiệm phục vụ tận tình, chu đáo đối với đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan Khu Di tích K9 và các hoạt động chính trị diễn ra trên Quảng trường Ba Đình. Phát huy những thành tích đã đạt được, trong thời gian tới đơn vị sẽ tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, góp phần xây dựng địa bàn đóng quân an toàn, giữ vững tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân./.

Đức Hùng

bqllang.gov.vn

Công trường 5: cơ sở nội dung và giá trị lịch sử

Năm 1956, sau khi hoàn thành nhiệm vụ Chủ nhiệm Hậu cần đoàn XP do Bác Hồ sáng lập tôi về nhận công tác mới tại cơ quan Phủ Chủ tịch cùng với đồng chí Vũ Kỳ, Tạ Quang Chiến… Thời gian đầu được giao phụ trách nhà khách. Năm 1957, tôi được cử vào làm nhiệm vụ trực tiếp giúp việc về sinh hoạt và làm việc của Bác kính yêu.

Đầu năm 1958, tôi được giao theo dõi việc làm ngôi nhà sàn bằng gỗ của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ông Nguyễn Văn Ninh Viện trưởng Viện thiết kế Bộ Kiến Trúc trực tiếp nghe yêu cầu của Bác. Thiết kế xong, anh Ninh trình bản vẽ lên được Bác duyệt và cho thi công. Bác tự chọn khoảnh đất để dựng nhà. Biển gắn tại nhà sàn ông Ninh trực tiếp thiết kế tôi trình lên Bác duyệt và cho gắn lên nhà. Nhà sàn làm xong, Bác chuyển sang ở trong dịp tháng 5-1958. Mọi người đều phấn khởi. Anh em tham gia xây dựng công trình rất xúc động khi được Bác tổ chức buổi gặp gỡ trực tiếp cám ơn, chụp ảnh cùng anh em. Bức ảnh đó hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Năm 1959, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, chuẩn bị trang thiết bị, làm đầu mối liên lạc để giúp các đồng chí lãnh đạo Văn phòng PTT và PCT mà trực tiếp là các đồng chí Phan Mỹ, Nguyễn Kim Cương, Vũ Kỳ chỉ đạo điều hành công việc xây dựng Công trường 5 (Sơn Tây) – Tên gọi bí mật của Khu di tích Đá Chông ngày nay. Tên gọi Công trường 5 do ai đặt và tại sao như vậy tôi không rõ. Khi nhận nhiệm vụ và tiếp nhận các tài liệu văn bản tôi đã thấy tên gọi Công trường 5 được ghi trong các văn bản chính thức rồi.

Được tham gia công trình và trên cơ sở các tài liệu gốc của công trình còn lưu giữ trong đó có bản vẽ Bình đồ Công trường 5 do Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu Cần – Bộ Quốc phòng) hoàn chỉnh ngày 8-11-1959 gửi VP Chủ tịch nước ngày 11-9-1959 có thể tóm tắt lược những vấn đề chính sau đây:

1. Phạm vi khu vực Công trường 5

Khu A: Được xây dựng trong các chỉ giới cắm mốc từ M1 đến M7gồm 2 dãy nhà nối liền nhau bằng lối đi có mái che (nhà cầu).

Ngôi nhà thứ nhất được thiết kế kiểu nhà sàn ở Hà Nội. Cao 2 tầng
Tầng 1 là nơi tiếp khách, là phòng họp Bộ Chính trị có kê một dãy bàn dài và ghế ngồi. Vì ở núi cao nên khác với nhà sàn ở Hà Nội nhà ở đây có lắp cửa để tránh rắn rết và các loại côn trùng.Cửa lùa làm bằng gỗ có thể có thể tháo rời. Khi cần bệ cửa thành ghế cho khách ngồi.

Tầng 2 chia thành 4 phòng: 3 phòng nghỉ và 1 phòng khách. Phòng nghỉ ở đầu hồi dành riêng cho Bác, hai phòng còn lại dành cho các đồng chí lãnh đạo hoặc tiếp khách và 1 phòng khách. Tổng diện tích xây dựng ngôi nhà này là 318,5m2 trong đó có 191,44m2 sử dụng.

Phía trước bên phải, đầu cầu thang xuống có xây hầm trú ẩn nhỏ bằng đá hộc đủ chỗ cho 3, 4 người sử dụng. Xung quanh nhà có rải sỏi, bó nền bằng gạch lá dừa đỏ. Bậc tam cấp vào nhà và hiên được làm bằng granitô.

Ngôi nhà thứ hai trong khu A là nhà 1 tầng. Được nối liền với nhà 2 tầng và chia thành các phòng chức năng: Thư ký, Bảo vệ tiếp cận, Bếp nấu ăn… Tổng diện tích xây dựng là 124,96 m2 trong đó có 85,2 m2 sử dụng

Khu B: Khu B nằm trên một quả đồi giữa khu nhà A và núi U Rồng theo thế yên ngựa. Khu vực này gồm có 2 nhà:

Ngôi nhà thứ nhất xây 2 tầng chia thành nhiều phòng để các đồng chí Trung ương, các đồng chí lãnh đạo cao cấp làm việc. Nhà xây để liền một lúc có thể đón tiếp và đủ chỗ làm việc cho nhiều người. Ngôi nhà 2 tầng này có diện tích xây dựng 301,65 m2 trong đó có 175 m2 sử dụng. Phía sau nhà có hầm trú ẩn dài cho nhiều người cùng sử dụng được.

Ngôi nhà thứ hai là nhà phục vụ: Bếp ăn, nhà kho… Ngôi nhà này có diện tích xây dựng 141,4 m2 trong đó có 104,25 m2 sử dụng.

Đi tiếp từ khu B sang, lên dốc là địa điểm làm sân bay trực thăng có diện tích 10.000 m2 giữa có sân bê tông phủ đất và trồng cỏ rộng 1600 m2 . Sân bay này được xây theo đồ án thiết kế và có sự giám sát của cán bộ kỹ thuật Cục Không quân

Khu C: Có dãy nhà xây 1 tầng kề hồ và sát phía xóm Đồi, gần đường mòn đi xuống bờ sông. Đây là nhà giành riêng cho cán bộ, chiến sĩ trung đội cảnh vệ Trung đoàn 600 thuộc Công an vũ trang. Diện tích xây dựng khu C là 342,76 m2trong đó có 205 m2 sử dụng.

Cùng với các dãy nhà, sân bay trực thăng… Công trường 5 còn có các công trình phụ trợ thiết yếu như: Nhà kho, nhà tắm, nhà vệ sinh… và nhà máy điện 25KVA, các bể chứa nước cho cả 3 khu vực, trạm lọc nước bảo đảm tiêu chuẩn, bệ rửa xe ôtô, bốt gác, vườn hoa, hòn non bộ….

Đường vào khu vực Công trường 5 có rải nhựa song cỏ mọc lan kín đường chỉ đủ cho một luồng xe vào, ra.

Nối vào khu vực ở Công trường 5 là các đường nội bộ rải đá cấp phối. Ra vào khu vực có đường đi riêng xa các khu nhà ở phía trong, rất kín đáo. Xung quanh khu vực này người dân địa phương vẫn đi lại bình thường, thuận tiện bằng đường mòn ven sông và đường nối các làng với nhau.

Vị trí Công trường 5 nằm giữa một khu rừng tự nhiên có nhiều cây cao bao phủ. ở giữa các ngọn đồi là vùng trũng có một hồ chứa, nước sông Đà có thể lưu dẫn vào hồ tự nhiên. Xung quanh cỏ lác mọc đầy. Các loại gà cỏ, chim, muông thú nhỏ thường lui về đây kiếm ăn tự nhiên.

Để giữ bí mật, khi xây dựng cây trong khu vực không được phép tuỳ tiện chặt phá. Nhiều cây lâu năm cạnh nhà sàn đến nay vẫn còn: Cây gạo, cây vải, long não, cây vải (ngoã), bồ hòn, cà phê… Nhiều cây được trồng thêm sau này như: Bạch Quế của Bộ Lâm nghiệp tặng trồng ở đây vừa thêm bóng mát lại có hương thơm lợi cho môi trường. Cây vú sữa miền Nam trồng trong vườn Bác cũng được chiết vài cành đem trồng trên Công trường 5 và một số nơi khác như: nhà nghỉ Hồ Tây, Khu vườn ươm trong PCT vì sợ nếu Mỹ ném bom trúng vào làm chết cây thì mất giống. Con đường dốc đi bộ từ phía bờ sông lên nhà, Bác nhắc trồng cây dâm bụt. Đến nay một số cây vẫn còn.

2. Quá trình xây dựng

Khu Công trường 5 có quyết định xây dựng từ tháng 6-1959. Sau vài tháng chuẩn bị, tháng 9-1959 bắt đầu khởi công xây dựng. Toàn bộ tài liệu liên quan đến công trình hiện còn lưu giữ đều đóng dấu và bảo quản theo mức độ Mật hoặc Tuyệt mật bởi tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của công trình.

Trước những yêu cầu về chất lượng và thời gian thiết kế, thi công công trình Ban lãnh đạo và Ban chỉ huy công trường đã được thành lập dưới sự chỉ đạo, điều hành của các đồng chí phụ trách Văn phòng Phủ Thủ tướng và Phủ Chủ tịch và đại diện tỉnh Sơn Tây, các lực lượng tham gia công trình.

Ngày 14/10/1959, Cục Doanh trại (Tổng cục Hậu cần) đã ra chỉ thị số 58/XD do Cục trưởng Dương Gia Khương ký đóng dấu Tối mật gửi Thượng khẩn đến Văn phòng Chủ tịch Phủ trong đó ghi rõ:

1/ Phòng thiết kế chịu trách nhiệm thiết kế đồ án theo yêu cầu của sở quan và lập dự toán để sở quan chuẩn bị tài chính và vật liệu cũng như nhân công
Đặc trách đ/c Nguyễn Duy Tuất trưởng ban Hội hoạ theo dõi việc chấp hành các đồ án thiết kế về mặt mỹ thuật cũng như kỹ thuật cho đến khi hoàn thành

2/ Phòng thiết kế phối hợp với Phòng kỹ thuật, ban điện thiết lập đồ án và dự toán thiết bị điện, bàn ghế tủ nước, màn và trang hoàng bên trong và giúp việc hướng dẫn thi công cho đến khi hoàn thành. Đồng chí Huyền có thể đứng trong BCH công trường nếu như được BLĐ chỉ định và chỉ có quan hệ với Cục về mặt kỹ thuật

3/ Tổng đội I chọn 1 đội công trình đảm nhận thi công chính cho việc xây dựng cho đến khi hoàn thành và cố gắng giúp đỡ công trường theo yêu cầu của đồng chí Huyền
4/ Phòng quản lý xây dựng doanh trại biệt phái đ/c Trương Quang Huyền trợ lý kỹ thuật đến làm đội trưởng đội công trình và chịu trách nhiệm hướng dẫn thi công bảo đảm kĩ thuật cho đến khi hoàn thành

Chỉ thị cũng nhấn mạnh: Các phòng, Ban chỉ huy tổng đội và các đ/c có tên có trách nhiệm động viên và làm công tác chính trị thật tốt để hoàn thành nhiệm vụ đúng kỳ hạn, bảo đảm chất lượng…

Theo quyết định của cấp trên UBHC tỉnh Sơn Tây đã cử đ/c Phương Chủ tịch tham gia Ban chỉ đạo và Đ/c Nguyễn Văn Rự Phó CVP UBHC tham gia BCH công trường đồng thời tham gia Đảng uỷ công trường. Tiếp đó cử 1 tổ cán bộ công tác trực tiếp dưới sự lãnh đạo của BCH công trường. Khi đ/c Phương đi học dài hạn TV Tỉnh ủy phân công Đ/c Nguyễn Văn Lễ, Uỷ viên UBHC tỉnh Sơn Tây thay thế. Tỉnh Sơn Tây có nhiệm vụ: Huy động nhân lực; Giải quyết những vấn đề có quan hệ đến tài sản của nhân dân; cung cấp các loại vật liệu có ở địa phương cho Công trường 5 lúc thi công. Văn phòng PTT cung cấp ngân sách và các điều kiện để Hà Tây hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cục Không quân chịu trách nhiệm trong việc xây dựng đề án sân bay trực thăng: Chọn địa điểm; Làm thiết kế mẫu sân đỗ và chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn và quy cách kỹ thuật; Tổ chức kiểm tra các giai đoạn trong quá trình thi công. Nội dung nhiệm vụ đã được ghi rõ trong tài liệu số 164/HC-KQ ngày 8/4/1960 của Cục Không quân do đ/c Cục trưởng Đại tá Đặng Tính ký có đóng dấu Tối mật gửi Văn phòng PCT. Đồng chí Đào Hữu Liêu Chủ nhiệm Hậu cần Cục Không quân được giao nhiệm vụ trực tiếp chăm lo công việc này

Trạm nước và hệ thống bể chứa, máy bơm, bể lọc và đường ống dẫn nước.. do Viện Thiết kế dân dụng thuộc Bộ Kiến trúc chịu trách nhiệm thiết kế và kỹ thuật

Viện Vi trùng học và Viện Vệ sinh (Bộ Y tế) chịu trách nhiệm lấy mẫu và phân tích đối chiếu tiêu chuẩn nước sử dụng trong khu vực.

Nguyên vật liệu xây dựng công trình do Tổng công ty Vật liệu xây dựng (Bộ Nội thương) đảm trách. Người trực tiếp được giao nhiệm vụ này là Đ/c Lưu Trọng Lạc…

Lực lượng xây dựng chủ yếu là bộ đội thuộc tiểu đoàn 2 và đại đội 4 Trung đoàn 259 thuộc Cục Công binh và quân số thuộc trung đoàn 600. Dân công chủ yếu sử dụng người của địa phương ở 3 xã: Thuần Mỹ, Ba trại và Minh Quang…

Các cơ quan, Bộ, Ngành và địa phương đã cùng phối hợp để xây dựng và hoàn thiện khu Công trường 5 theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng của một công trình quan trọng và có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn này.

Thời gian thi công khu vực Công trường 5 khoảng 10 tháng nhưng ngôi nhà sàn được xây dựng đầu tiên nên hoàn thành sớm nhất. Khi xây xong, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Vũ Kỳ chúng tôi đã tiến hành việc lắp đặt và sắp xếp các thiết bị, đồ dùng bên trong ngôi nhà. Hầu hết là những thứ có sẵn của PCT đưa lên. Nhiều thứ có từ thời Pháp trong Dinh Toàn Quyền cũ. Bộ bàn ghế dùng họp BCT đưa từ Giao tế sang.

Trang thiết bị lắp đặt sắp xếp trong các phòng nghỉ ở tầng 2 đều giống nhau. Nhà tắm và nhà vệ sinh có lắp các thiết bị dùng chung chứ không chỉ cho riêng mình Bác dùng như nhiều người vẫn nói.

Khi nhà sàn xây xong, đường xung quanh nhà và đường đi từ phía bờ sông lên nhà đều lát sỏi cho thoát nước và mát chứ không phải để tiện cảnh vệ hoặc để Bác massage chân như một vài thông tin trước đây đã công bố trên báo chí. Có một lần khi ở nhà sàn gỗ tại Hà Nội, Bác hỏi tôi (Cù Văn Chước):

– Tại sao các chú lại lát gạch bê tông ? Sao không để sỏi như cũ quanh nhà sàn cho mát?

Tôi báo cáo: Thưa Bác, anh em sợ Bác bị vấp ngã.

Sau đó, không thấy Bác nhắc gì nữa.

Thời gian chúng tôi quản lý Công trường 5, Ban TCQTTW đã cử ông Huấn, ông Ven đến để cùng tham gia bảo quản và chăm sóc. Năm 1962 – 1963 khu Công trường 5 được giao cho Cục quản trị, Ban TCQTTW trực tiếp quản lý và sử dụng. Cử đồng chí Nguyễn Văn Bắc phụ trách nhà máy điện, trạm nước tiếp tục tham gia quản lý công trình. Còn các anh em khác thuộc Văn phòng Phủ Chủ Tịch, Văn phòng Thủ Tướng đều trở lại cơ quan cũ.
Sân bay trực thăng là một trong nhưng hạng mục thi công sau cùng với khu vực phụ trợ như: Bếp ăn, nhà kho ở khu C

3. Giá trị lịch sử Công trường 5

Khu vực Công trường 5 có ý nghĩa lịch sử hết sức đặc biệt: Lúc hoà bình đó là nơi họp Bộ chính trị, nơi làm việc của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nhìn vào mục đích thiết kế khi xây dựng, căn cứ vào thực tế sắp xếp trong khu vực ta thấy đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đến làm việc, tổ chức các kỳ họp, tiếp khách Quốc tế,… và khi cần thì đề phòng với tình thế chiến tranh.

Thời gian đang xây dựng, tôi biết đôi lần Bác đến Công trường 5. Một lần, Bác đi cùng KTS Hoàng Linh và Phó Cục trưởng Đặng Kim Giang. Bác lên từ sáng mãi đến chiều mới về. Thấy đá tường và rèm cửa ngôi nhà màu hồng, Bác hỏi đ/c Hoàng Linh:

– Năm nay chú bao nhiêu tuổi ?

Sau khi nghe trả lời Bác nói:

– Chú sao trẻ tính thế ?

Ý Bác là dùng màu hồng để trang trí ngôi nhà này không hợp. Bác còn góp ý sửa lại cầu thang lên tầng 2 thích hợp với việc đón khách.

Hôm đó mảng trần nhà phòng ở của anh Vũ Kỳ bị lở mảng vữa rơi xuống, Bác nhắc anh em phải làm lại cho cẩn thận. Lần nữa lúc làm xong nhà Bác có lên gặp gỡ và nói chuyện với anh em. Giống như lần trước ở nhà sàn Bác cùng đến gặp và cám ơn anh em khi công trình hoàn thành.

Khối ảnh tư liệu của Bảo tàng cũng cho ta biết ngày 23/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng lên thăm khu vực đồn điền cà phê cũ ( CT. 5 sau này), cùng đi có anh Vũ Kỳ, bảo vệ có anh Định (Đội trưởng) và anh Uyển nay đã về hưu sống ở Nghệ An. Đón Bác tại đây có đ/c Phương, CT UBHC tỉnh uỷ Sơn Tây và đ/c Nguyễn Văn Rự, Phó chánh VP UBHC tỉnh hiện đã về hưu sống ở thôn Quảng Yên, xã Yên Sơn, Huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây. Hôm đó, Bác và đoàn công tác nghỉ ăn trưa tại đây. Buổi chiều, lúc 14 h Bác nói chuyện với gần 500 cán bộ chủ chốt của tỉnh và thị xã Sơn Tây về Hội nghị các ĐCS và Công nhân các nước XHCN và Tuyên ngôn hoà bình của Hội nghị đại biểu các ĐCS và Công nhân 65 nước họp tại Liên Xô. Báo Nhân Dân ngày 25/2/1958 đưa tin này trên đầu trang nhất.

Khi Công trường 5 đưa vào sử dụng Bác và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ: Bác Tôn Đức Thắng, đ/c Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp… đã lên CT.5. Có lần đồng chí Phạm Văn Đồng đến ở đây nhiều ngày nghiên cứu tài liệu….

Sinh thời, hai lần Bác Hồ mời khách quốc tế thăm Công trường 5. Tháng 3/1961, Bác đưa Bà Đặng Dĩnh Siêu, phu nhân của Thủ tướng Chu Ân Lai – Khách mời của Đại hội Phụ nữ Việt Nam lên thăm Công trường 5. Cùng đi có Đại sứ Hà Vĩ, đ/c Lương Phong cán bộ SQ và 2 nữ đồng chí một là thư ký, một là phiên dịch.

Bà Đặng Dĩnh Siêu khi đến CT. 5 có mang 1 cây quít loại quả tròn có hạt từ Trung Quốc sang và 1 cây hoa Ngọc lan chuẩn bị từ Hà Nội lên để trồng tại đây. Hôm đó, Bà đã chụp nhiều ảnh sau có gửi lại tặng nên ta mới lưu lại được. Đó là những hình ảnh tư liệu rất hiếm về cuộc tiếp khách quốc tế ở CT. 5 Trong ảnh, Bác mặc chiếc áo khoác ngoài bằng lụa màu đen, vải may áo chính là quà tặng của Bà Đặng Dĩnh Siêu trước đó. Bác rất tinh tế và tình cảm trong ứng xử khi mặc chiếc áo này để tiếp người đã tặng vải cho mình.

Tháng 1/1962, Bác đưa anh hùng phi công vũ trụ Liên Xô G.Titốp lên thăm CT. 5. Tại đó

G.Titốp đã trồng cây hoa vàng làm kỉ niệm.

Khi sân bay xây dựng xong, có 2 lần Bác đi CT.5 bằng máy bay trực thăng. Cả 2 lần đều do phi công Liên Xô lái. Xuất phát từ sân Cột Cờ, khi lên đó bên dưới chỉ cần đốt lửa có khói báo hiệu là máy bay xuống được. Bác lên nhiều lần song tôi chưa thấy Bác ngủ lại đêm trên CT. 5. Bác đi trong ngày tối lại về Hà Nội.

Những năm đầu, cán bộ VPPTT và VPCTP chịu trách nhiệm quản lý công trình. Anh Hồ Văn Nhất (Trường), Lưu Quang Lập (Kiệm), Phan Đăng Lưu, Trần Văn Bắc ở đây chăm lo công việc sẵn sàng đón Bác và các đồng chí lãnh đạo lên làm việc, họp hành, nghỉ ngơi… Lực lượng cảnh vệ thuộc Trung đoàn 600 do anh Tăng Văn Dong và anh Việt Dũng phụ trách.

Bây giờ nghĩ lại thấy Bác và TƯ thật sáng suốt, lo xa. Công trường 5 là nơi họp BCT, nơi làm việc rất yên tĩnh, an toàn… Đặc biệt, đây là một trong những nơi tiếp khách quốc tế với không gian rất đẹp, văn minh thể hiện qua sự tinh tế, lịch thiệp không dễ có được ở một đất nước đang chiến tranh, bị chia cắt.

Hơn thế, với các điều kiện làm việc, sinh hoạt lâu dài và những điều kiện cơ sở để đối phó với chiến tranh phá hoại như: Bí mật địa điểm, xây hầm trú ẩn, sân bay và cơ sở vật chất tạm đủ để đáp ứng yêu cầu phục vụ các cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến… Trên cơ sở các tiêu chí đó ta thấy Công trường 5 thực sự đã mang trong mình tầm vóc của khu căn cứ để có thể tiến lui an toàn khi cần thiết.

4. Công trường 5: Nơi gìn gìn an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đất nước đang bị chia cắt. Miền Bắc phải đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vô cùng tàn khốc. Điều kiện thời tiết khí hậu vô cùng khó khăn cho công tác gìn giữ bảo vệ an toàn thi hài Bác…

Vấn đề tìm địa điểm bảo vệ an toàn đã trở lên cấp thiết. Chính trong thời điểm đó Công trường 5 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quân đội… chọn làm địa điểm bí mật cho công việc thiêng liêng này.

Lịch sử Công trường 5 từ đó chuyển sang trang mới. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bộ Tư lệnh 969) được thành lập có vinh dự gánh vác trách nhiệm to lớn. Vào những thời khắc quan trọng nhất tập thể cán bộ chiến sĩ đã âm thầm cống hiến trí tuệ, công sức, toàn tâm toàn trí hoàn thành trách nhiệm.

Năm 1975, Tổ quốc thống nhất, Nam Bắc một nhà. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành ngày 29/8/1975, chính thức mở cửa đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế đến viếng Bác.

Từ đó Công trường 5 trở thành một địa điểm có ý nghĩa lịch sử văn hoá lâu dài. Nơi đây, đánh dấu những mốc quan trọng trong nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại, về tầm vóc tư duy, trí tuệ và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc sáng suốt chỉ đạo và lựa chọn để xây dựng một nơi làm việc, tiếp khách một cách khoa học, văn minh đồng thời là căn cứ an toàn nhằm bảo vệ cơ quan đầu não lãnh đạo của ta trong cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược

Ngày nay, Công trường 5 còn là nơi góp phần nghiên cứu, tuyên truyền về sự nghiệp và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, một nơi sinh hoạt văn hóa – chính trị với các hình thức đa dạng, phong phú thu hút được sự quan tâm chú ý của đồng bào và chiến sỹ trong cả nước.
Là đơn vị trực tiếp quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng mà Đảng, nhân dân và quân đội tin cậy giao phó. Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 40 năm qua thực sự đã góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh. Đặc biệt nhất là trong việc gìn giữ an toàn, lâu dài, tôn vinh các giá trị vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã và sẽ mãi mãi là tấm gương soi sáng sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta tự hào là con cháu Bác và nguyện suốt đời giương cao ngọn cờ Bác trao để đi đến thắng lợi cuối cùng

Trên đây là cơ sở nội dung và giá trị lịch sử của Công trường 5 – Khu vực có ý nghĩa và giá trị đặc biệt không gì sánh được. Những trang sử mới của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng trong giai đoạn tiếp theo, chúng tôi nghĩ đã có nhiều các đồng chí lãnh đạo cơ quan, cán bộ, chiến sĩ đã và đang nghiên cứu sâu sắc hơn chúng tôi vì vậy cho phép chúng tôi xin được dừng tại đây.

Hà Nội, tháng 5/2007

Cù Văn Chước
Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chuyện bây giờ mới kể

(TBDN) – Ngày ngày dòng người từ khắp mọi miền quê đất nước đi trong thương nhớ thành kính về lăng viếng thăm Bác, nhưng chuyện xây dựng Lăng như thế nào không phải ai cũng biết. Đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư (TBT) Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1991 – 1997, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng từ năm 1973 – 1977, chính là Trưởng Ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973 – 1975).

Công trình của những tấm lòng

Hơn 38 năm qua, nhưng nguyên TBT Đỗ Mười còn nhớ không quên những tháng ngày chỉ đạo xây dựng Lăng Bác với tấm lòng thành kính của toàn dân. Ông kể: Ngày Bác mất, với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, thể theo ý nguyện rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, khi Người qua đời, Đảng và Nhà nước đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người. Nhiệm vụ thiết kế Lăng được thông qua tháng 10/1970. Việc xây Lăng do Bộ Quốc phòng phụ trách lắp ráp thiết bị bên trong công trình. Cán bộ kỹ thuật, công nhân Việt Nam, bao gồm nhiều đơn vị tham gia, với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô.

Đầu tháng 2/1972, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các bộ, các ngành, các địa phương tham gia xây dựng công trình. Giữa lúc hàng ngàn người đang sẵn sàng bắt tay vào việc xây Lăng, thì Mỹ ném bom trở lại miền Bắc (16 tháng 4 năm 1972). Công việc xây dựng phải tạm dừng. Ngày 28/1/1973, tin ký kết Hiệp định Paris được công bố trên Đài tiếng nói Việt Nam; công việc xây dựng Lăng được tái khởi động, không chậm trễ.

8 giờ sáng ngày 18/6/1973, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp… ra chứng kiến việc tháo dỡ lễ đài Ba Đình cũ, nơi mà cách đây 65 năm, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, và cũng chính nơi này ngày 2/9/1973 đã diễn ra lễ khởi công xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch, giữa một rừng cờ, khẩu hiệu và hàng ngàn công nhân công trường.

Ngày ấy đất nước còn chiến tranh, kinh tế còn khó khăn, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, cả nước dồn công của cho công việc dựng xây. Cát được lấy từ suối Kim Bôi ở Hòa Bình, đá cuội lấy từ suối Sơn Dương – Chiêm Hóa, đá nhồi, đá hồng ngọc từ Thanh Hóa, đá hoa, cẩm thạch từ Chùa Thầy và đá đỏ, đá hoa cương từ Ngũ Hành Sơn, đá ngọc từ Cao Bằng, cùng 16 loại gỗ quý ở dọc đường Trường Sơn

Nguyên TBT Đỗ Mười nói: Thời gian xây dựng Lăng năm từ 1973 -1975 là giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ. Chính tôi cũng không thể ngờ năm 1975 nước nhà thống nhất, cũng là năm khánh thành Lăng, kịp đón đồng bào miền Nam ra viếng Người thỏa lòng mong ước.

Công trình xây dựng Lăng Bác không thể tính bằng tiền, mà tính bằng những tấm lòng của nhân dân, những gỗ đá của cả non sông trang trọng dành cho một người đã từng hy sinh, dành trọn đời cho nền độc lập của Tổ quốc. Vì thế “Từ điển bách khoa thế giới” của Anh giới thiệu Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam như là một mẫu kiến trúc độc đáo nhất thế giới. Vì không nơi nào có một công trình xây lăng tẩm, lại được xây dựng bằng cát, đá, gỗ nói chung là vật liệu, được chính lòng dân tuyển chọn khắp non sông đem đến cho công trình.

Phát huy tự lực, tự cường

Với quyết tâm xây dựng Lăng trong 3 năm, cần hàng vạn tấn xi măng mác cao, ngày đó nước ta chưa sản xuất được loại xi măng này, nếu nhập từ nước ngoài đi tàu biển về Việt Nam, thì không thể hoàn thành vào năm 1975, để khi đất nước thống nhất đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế về viếng thăm Bác. Phải nghĩ cách có thể sản xuất xi măng mác cao trong nước. Phó Thủ tướng Đỗ Mười giao việc này cho ông Nguyễn Mạnh Kiểm, ngày ấy là Viện phó Viện Vật liệu xây dựng, được giao phụ trách phòng nghiên cứu chất lượng xây Lăng.

Ông Kiểm suy nghĩ rồi mạnh dạn trả lời :

– Báo cáo Phó Thủ tướng, có khả năng làm được. Nhưng mình phải điều chỉnh kỹ thuật sản xuất để đạt tiêu chuẩn xi măng mác cao theo yêu cầu xây dựng công trình.

Nghe vậy Phó Thủ tướng Đỗ Mười rất mừng:

– Nếu thế thì tốt quá, cậu về bàn ngay với Viện, Tổng cục hóa chất và nhà máy xi măng Hải Phòng ta làm thí nghiệm để có kết luận sớm cho tôi trả lời với bạn có phải nhập xi măng không? Công trình xây khẩn trương 3 năm phải xong nên chất lượng xi măng là quan trọng lắm.

Ông Kiểm kể:

– Thấy Phó Thủ tướng tâm huyết như vậy, tôi bỗng can đảm lên, quyết tâm và tự tin chỉ đạo sản xuất thử xi măng mác cao, bằng điều chỉnh chế độ nung đốt, điều chỉnh các thông số kỹ thuật, đã cho ra đời thành công mẻ xi măng mác 600. Sau thí nghiệm thành công, tôi đến báo cáo “Sản xuất thử thành công rồi, báo cáo Phó Thủ tướng, mình tự làm xi măng mác cao được”

Phó Thủ tướng Đỗ Mười khen: “Các cậu giỏi thật, sản xuất thành công xi măng mác cao tôi rất mừng, nhưng vẫn phải làm thử vài lần nữa. Tự sản xuất được xi măng thì tốt rồi, mình biết phát huy tính tự lực tự cường không phải nhập xi măng của nước bạn nữa, chủ động được xi măng có nghĩa là chắc chắn sẽ xây dựng lăng xong trong 3 năm…”

Về chuyện này, ông Kiểm nhận xét: Nhờ có ý kiến và sự quan tâm, tin tưởng, tạo điều kiện của Phó Thủ tướng Đỗ Mười với lực lượng khoa học kỹ thuật của ngành xây dựng, cộng với nỗ lực của cán bộ công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, đã tự sản xuất được xi măng mác cao, đó là yếu tố quyết định góp phần chỉ trong 2 năm việc xây Lăng Bác đã hoàn thành, mở ra con đường Việt Nam sản xuất được xi măng chất lượng cao, phục vụ việc xây dựng những công trình lớn sau thống nhất nước nhà .

Sau câu chuyện Việt Nam tự sản xuất xi măng mác cao xây dựng Lăng Bác, với trách nhiệm Trưởng Ban xây dựng Lăng, Phó Thủ tướng Đỗ Mười lại có băn khoăn lo lắng lượng phóng xạ của các vật liệu xây dựng có ảnh hưởng đến thi hài của Bác không? Phó Thủ tướng lại giao nhiệm vụ này cho ông Kiểm, tập hợp mẫu các vật liệu xây dựng sang Liên Xô, nhờ thử phóng xạ. Kết quả các vật liệu xây dựng Lăng Bác qua kiểm nghiệm phóng xạ tại Liên xô “thấp dưới mức cho phép”.

Về kiến trúc Lăng, Phó Thủ tướng Đỗ Mười cũng có những quan điểm riêng, góp ý cho kiến trúc tổng thể. Theo đó kiến trúc sư Nga, thiết kế nguyên bản với Lăng Lê Nin, sân quảng trường hoàn toàn bằng bê tông. Phó Thủ tướng Đỗ Mười đề nghị kiến trúc sư thay đổi một phần kiến trúc Lăng và toàn bộ khối sân bê tông thành những ô cỏ xanh. Ý kiến của Phó Thủ tướng được chấp nhận. Phó Thủ tướng Đỗ Mười chính là “Tổng công trình sư” của công trình xây dựng Lăng Bác…

Ngày 2/9 năm nay, kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh cũng là kỷ niệm 42 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 36 năm ngày khánh thành xây dựng Lăng của Người. Ngày ngày dòng người từ khắp mọi miền đất nước đi trong thương nhớ, vẫn thành kính về Lăng viếng Bác. Đến thăm và dạo quanh Lăng, chúng ta có thể ngắm nhiều hàng cây biểu trưng cho nông thôn miền núi Việt Nam, như tre Cao Bằng, chò nâu Đền Hùng, hoa ban Điện Biên. Hai bên cửa lối vào để viếng là hai cây hoa đại tượng trưng cho sự trong sáng, thanh cao. Phía trước và phía sau lăng trồng 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 mùa xuân của Hồ Chủ tịch (1890 – 1969). Hai bên phía Nam và Bắc của Lăng là hai khóm tre ngà, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam, còn phía trước Lăng là một thảm cỏ dài 380 m chia thành 240 ô vuông xanh tươi, đó là thảm cỏ được thay thế sân bê tông theo đề nghị của nguyên TBT Đỗ Mười.

Nghiêm Thị Hằng

thoibaodoanhnhan.com

Chuyện kể về hai lá cờ bằng đá trong lăng Bác Hồ

(Tamnhin.net) – Đã gần 40 năm trôi qua nhưng người dân huyện miền núi Bá Thước (Thanh Hóa) vẫn còn nhớ như in những ngày tháng hàng nghìn người nô nức khai thác những hòn đá có màu đỏ tươi dưới lòng đất để góp phần xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Trương Phúc Chủ kể lại với PV chuyện khai thác đá Hồng Ngọc góp phần xây lăng Bác Hồ

Khoảng thời gian không lâu nhưng cũng đủ để khẳng định màu sắc nguyên bản của loại đá mang tên Hồng Ngọc riêng chi có ở bản Duồng thuộc xã Điền Hạ (Bá Thước – Thanh Hóa).

Đá Hồng Ngọc là loại đá có màu đỏ tươi, nặng hơn các loại đá khác nếu cùng kích cỡ. Đặc biệt, loại đá này theo nghiên cứu của các nhà khoa học màu đỏ nguyên bản của đá không bị phai mờ đến hàng nghìn năm sau. Chính vì thế, khi thực hiện việc xây dựng Lăng Bác và tìm nguồn đá làm 2 lá cờ là Quốc Kỳ và Đảng Kỳ, loại đá này đã được lựa chọn.

Câu chuyện về việc khai thác, vận chuyển đá ngày đó đã trở thành một giai thoại trong lịch sử của người dân vùng núi Điền Hạ – Bá Thước. Để tận mắt chứng kiến và tìm hiểu về một loại đá quí hiếm và những con người cách đây gần 40 năm về trước trực tiếp khai thác đá, chúng tôi đã ngược TP. Thanh Hóa về phía tây hơn 100km để đến bản Duồng, nơi chứa ẩn câu chuyện về những ngày khai thác đá chưa từng được kể. May mắn thay chúng tôi đã tìm được người trực tiếp chỉ đạo công trường khai thác đá Hồng Ngọc ngày đó, ông Trương Phúc Chủ, nay đã ngoài 80 tuổi, người được phân công trực tiếp quản lý và phân phối, điều động nhân công tham gia khai thác đá.

Màu sắc nguyên bản của đá Hồng Ngọc

Trong niềm tự hào, ông Chủ kể: Vào thời gian cuối năm 1973 đều năm 1974, một công trường khai thác đá sục sôi khí thế của hàng nghìn người dân tình nguyện (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường, Dao, Thái) đến từ khắp nơi đổ về bản Duồng ở xã Điền Hạ (Bá Thước – Thanh Hóa). Vui như ngày hội khi người dân được biết tại nơi đây có thứ đá mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam có và đã được chọn làm 2 lá cờ mang biểu trưng cho Tổ quốc để đặt trong Lăng Bác.

“Khi đó, cứ vào mỗi buổi sáng, hàng nghìn người dân từ các địa phương lân cận không kể già trẻ, gái trai lại ùn ùn đổ về bản Duồng hăng say đào bới sâu hàng chục mét dưới lòng đất để chọn từng hòn đá có màu đỏ tươi rói mang cái tên Hồng Ngọc (đẹp như Ngọc và có màu đỏ). Ngày đó, khi nghe tin Trung ương lựa chọn đá có màu đỏ tại đồi Chợ Phét (đồi cây đa) không những tôi mà tất thảy người dân vùng núi Bá Thước vui lắm. Khi này tôi đang là cán bộ của huyện, tôi cũng như hàng nghìn bà con tự hào lắm vì vùng quê mình có một thứ đá mà không nơi nào trên đất nước Việt Nam chúng ta có được”.

Thời gian đó, ông Chủ đang là trưởng phòng giáo dục huyện Bá Thước nhưng vì là người nhiệt huyết và nơi lấy đá chính là nơi ông sinh ra và lớn lên. Vậy là ông trược tiếp được phân công chỉ đạo công trường khai thác đá. Đặc biệt là việc kêu gọi và huy động người dân tham gia đào đá để kịp thời gian làm hai lá cờ.

Cán bộ xã Điền Hạ chỉ cho chúng tôi đặc điểm của đá Hồng Ngọc

Ông Chủ kể tiếp về những thăng trầm, vất vả trong suốt 7 tháng trời đào đất, tìm đá: “Khi thời gian chỉ còn 1 tháng mà đá kiếm chưa đủ vì phải đào bới sâu dưới lòng đất hàng chục mét, trên diện rộng cả chục hécta đồi rừng. May mắn thay, đúng lúc này thì chúng tôi phát hiện ra một tảng đá lớn hơn 3 mét khối (nặng chừng 7 tấn) treo leo trên ngọn đồi Chợ Phét. Thời gian không còn nhiều, việc rời tảng đá xuống chân đồi và vận chuyển ra Hà Nội là một bài toán khó, bởi lẽ trong quá trình đó không được dùng gậy sắt, không được lăn thẳng xuống đất vì nếu không may làm vỡ hay sứt tảng đá sẽ không kịp thời gian để cung cấp đá cho quá trình xây và hoàn thành Lăng Bác.

Ngay lúc đó, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến, hay đúng hơn là hiến kế trong hơn 3 nghìn người dân địa phương. Có nhiều ý kiến cho rằng phải phá bỏ đi 3 ha rừng già rồi dùng trực thăng cẩu tảng đá xuống xe để vận chuyển. Nhưng nếu vậy sẽ mất hàng tháng trời với rất nhiều người tham gia, sẽ không kịp thời gian bàn giao đá. Như điều gì đã định trước, ông Chủ người trực tiếp ngày đêm chỉ đạo tại công trường đã nảy ra ý tưởng là chặt các cây gỗ to và thẳng sau đó kết thành mảng rồi từ từ cho tảng đá lăn xuống chân đồi vừa không phải phá bỏ rừng vừa mất ít thời gian, công sức.

Được mọi người đồng ý, ngay lập tức việc chặt cây, kết mảng được triển khai và thành công khi chỉ cần 1 tuần, tảng đá đã được đưa xuống chân đồi vẹn nguyên. Khi này lại thêm một vấn đề nữa là đưa tảng đá lên xe để vận chuyển. Dù đã dùng dòng dọc loại to nhất có thể để kích tảng đá nhưng trong quá trình kích vì quá nặng nên dòng dọc làm bằng sắt đã bị gãy. Một lần nữa hàng nghìn người dân địa phương phải dùng cách đào hầm dưới tảng đá rồi cho xe lùi vào.

Đưa được tảng đá lên xe, tưởng chừng mọi việc thuận tiện nhưng một vấn đề nữa nảy sinh đó là đường vận chuyển. Vì khi đó các con đường vào bản Duồng nhỏ và lầy lội, xe ô tô không thể vận chuyển đá với khối lượng lớn. Hơn 3 nghìn người đã ngày đêm mở 3km đường xuyên qua cánh đồng, khe suối rồi dùng các loại cây gỗ xếp thành đường để xe có thể vận chuyển đá. Cuối cùng, hơn 50 xe ô tô với hơn 300 khối đá Hồng Ngọc (tương đương 4000 hòn đá lớn nhỏ) được người dân Bá Thước khai thác và vận chuyển an toàn ra Hà Nội để bàn giao cho các đơn vị xây dựng Lăng Bác.

Địa điểm khai thác đá Hồng Ngọc cách đây gần 40 năm về trước

Khi vận chuyển đã ra Hà Nội, ông Trương Phúc Chủ cũng chính là người đã đại diện cho nhân dân ra để bàn giao và tham gia quá trình xẻ đá, chọn đá để gắn thành cờ. Hơn 1 tháng ở Hà Nội cùng những nghệ nhân chế tác, các nhà khoa học cuối cùng 2 lá cờ đã hoàn thành (mỗi lá cờ dài 1,2m, rộng 80cm) sau khi hoàn  thành  Lăng Bác, 2 lá cờ được đặt nơi trang trọng nhất mà đến ngày nay những ai viếng thăm Lăng Bác đều thấy rõ 2 lá cờ màu đỏ tươi được làm bằng đá Hồng Ngọc ngàn năm sau màu sắc chẳng phai mờ (theo nghiên cứu của các nhà khoa học khi chọn đá Hồng Ngọc làm cờ).

Câu chuyện về đá Hồng Ngọc được dùng làm 2 lá cờ đặt nơi trang trọng nhất trong Lăng Bác cho đến ngày nay vẫn là một dấu ấn lịch sử của người dân vùng núi Bá Thước khi chính những đôi bàn tay, công sức của họ được khắc ghi trong một công trình vĩ đại của đất nước – Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bài, ảnh: Phúc Ngư

tamnhin.net

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Song song với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Trung ương rất quan tâm tới việc xây dựng lăng mộ của Người. Quan điểm yêu cầu xây lăng mộ được thống nhất trên tinh thần tính hiện đại, dân tộc, trang nghiêm nhưng giản dị và thuận tiện cho nhân dân vào thăng lăng. Lăng nằm gần ở Quảng Trường Ba Đình là trung tâm trong tổng thể các di tích lịch sử: Quảng Trường Ba Đình, khu lưu niệm Bác ở Phủ Chủ Tịch và các khu vực tiếp giáp, đặc biệt sau này có thêm bảo tàng Hồ Chí Minh như một bông sen trắng nổi lên tô đẹp thêm quần thể các di tích đặc biệt về Bác. Vấn đề xây lăng mộ cho bác được các cơ quan cao nhất của Đảng và Nhà Nước ta đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó Đảng và Chính Phuủ Liên Xô hết lòng giúp đỡ, xem đây là một trách niệm lớn lao và quang vinh với Bác Hồ kính yêu.

Từ ngày đầu Liên Xô đã cử các đoàn chuyên gia sang cùng ta trao đổi kinh nghiệm xây lăng mộ, cùng bàn bạc chân tình cởi mở từ bản dự thảo “nhiệm vụ thiết kế” đến gửi sang giúp ta trang thiết bị trong lăng. Liên Xô huy động nhiều cơ quan, viện nghiên cứu cùng một tập thể các nhà khoa học tài năng ngày đêm khẩn trương hoàn chỉnh các tài liệu về các phương án thiết kế, với một khối lượng công việc đồ sộ, thể hiện kết quả cao nhất của tri thức khoa học tiên tiến và tình cảm đặc biệt đối với Bác Hồ. Hướng về Bác Hồ kính yêu từ tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam, ai cũng muốn góp phần công sức của mình để được xây dựng lăng Bác. Từ tập thể các kiến trúc sư đến những chiến sĩ công binh, từ mỗi người dân đều muốn tìm một kỷ vật gì đó mong được góp phần xây lăng, đến các chiến sĩ quân giải phóng vừa đánh giặc vừa tìm gỗ quý gửi ra miền Bắc xây lăng. Tất cả dân tộc hướng về Bác nhân dịp xây lăng để tỏ tấm lòng thành trước Bác, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước công lao trời biển của bác dành cho dân tộc.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân để mỗi người dân đều góp ý kiến về việc xây lăng. Trung ương quyết định mở đợt sáng tác mẫu thiết kế lăng và ở các địa phương đều tổ chức trưng bày các mẫu sáng tác để lấy ý kiến nhân dân. Tổng kết đợt lấy ý kiến nhân dân có tới 745.487 lượt người tham gia, trong đó có 34.022 lượt người ghi ý kiến đóng góp. Nhiều thiết kế lăng bác được các tác giả tham khảo kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm trong lịch sử kiến trúc dân tộc. Trên thế giới, có nhiều công trình tưởng niệm lăng mộ vĩ đại, thể hiện tính dân tộc như mộ các vua Pharaol – thể hiện tính dân tộc sâu sắc Kim Tự Tháp Ai Cập có phương án lấy chủ đề tư tưởng “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”. Bác sinh ra từ làng sen, lăng bác được thể hiện như một khối bông sen cách điệu. Có phương án khá độc đáo: tại khu Ba Đình đắp một quả đồi khoảng chừng một triệu mét khối đất, xây lăng bác trên quả đồi này. Trên đỉnh lăng có thiết kế như một lầu thờ, xung quanh là hồ nước và cây xanh, rất nhiều ý kiến đồng phương án này vì cho rằng nơi tưởng niệm các vua Hùng cùng trên đồi cao, hàng năm nhân dân sẽ đến trồng cây tưởng nhớ Bác. Hơn nữa, quả đồi cao từ xa có thể thấy phần lăng Bác, lầu thơ trong phảng phất “Khuê Văn Các”, đường nét cổ kính phù hợp với những cấu trúc hiện đại. Cuối cùng phương án chính chọn có sự kết hợp nhiều phương án tổng hợp lại: khối chính của lăng đặt trên bệ tam cấp gần gũi thân thuộc phong cách kiến trúc người Việt, thân lăng gợi hình dáng ngôi nhà giản dị 5 gian như bao ngôi nhà của người dân Việt Nam. Bậc tam cấp được làm ở mái lăng có hình vát, gợi lên đường nét kiến trúc cổ kính đình làng nơi hội tụ của mỗi tâm hồn quê hương.

Bàn về vị trí lăng, cũng có nhiều ý kiến phong phú. Có ý kiến đề nghị lăng đặt trong vườn Phủ Chủ Tịch, có người muốn xây lăng gần núi Tam Bảo, hay đền Hùng, hoặc đưa về quê bác Làng Sen. Nhiềy ý kiến đề nghị nên giữ lại đài Ba Đình cũ làm nơi lưu niệm lịch sử, lăng tách khỏi lễ đài, có ý kiến xây lăng quay về hướng nam phù hợp với phong tục làm nhà của nhân dân ta và hợp với tấm lòng bác hướng về miền Nam – thành đồng tổ quốc, nhiều thư từ gửi về bày tỏ nhiều nguyện vọng với nhiều ý tưởng rất hay cả về mặt kiến trúc về mặt tình cảm. Có thư đề nghị làm “Núi Bác Hồ”, dùng sức nổ đục quả núi lớn thành pho tượng bác hồ, một công trình điêu khắc độc đáo sẽ trở thành trung tâm danh lam thắng cảnh tập trung những tưởng niệm bác, di tích, bảo tàng về lịch sử dân tộc, về cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước. Cuộc trưng cầu ý dân về xây lăng bác trở thành đợt sinh hoạt chính trị chưa từng có, thể hiện trí tuệ của quần chúng nhân dân vô cùng to lớn, phong phú, sâu sắc và tình cảm đối với Bác, với cách mạng thật lớn lao.

Mọi mặt chuẩn bị xây lăng đã chín mùi. Ngày 3/11/1971, thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định chính thức thành lập ban phụ tránh xây dựng lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí Đỗ Mười, Phó thủ tướng làm trưởng ban. Những người được lựa chọn tham gia xây dựng lăng bác hội tụ các điều kiện tốt về tinh thần nhiệt tình, sức khỏe tốt và trình độ chuyên môn cao. Tham gia xây dựng công trình, lực lượng chính, chủ công nòng cốt là bộ kiến trúc và bộ quốc phòng. Giữa lúc không khí hào hứng xây dựng lăng bác đang dâng cao, thì đột nhiên tình hình chiến sự thay đổi. Trung ương nhận định địch sẽ đánh phá Hà Nội, do đó tạm dừng thi công công trình lăng bác một thời gian.

Trong những ngày điện biên phủ trên không, ở Hà Nội bộ phận lớn đã kịp thời sơ tán để bảo toàn mọi lực lượng, nhưng ở nơi sơ tán mọi việc chuẩn bị vẫn được tiến hàng khẩn trương. Đặc biệt công tác nghiên cứu các phương pháp thi công khoa học nhanh chóng, hiệu quả nhất. Trong đợt không quân Mỹ đánh phá Hà Nội, phó chủ tịch là một trong những mục tiêu chúng bắn phá của chúng. Một quả tên lửa đã bắn trúng phủ chủ tịch gây ra một số thiệt hại. Cấp trên kịp thời chỉ thị cho đơn vị công binh có biện pháp để bảo vệ an toàn ngôi nhà sàn của bác. Những trận oanh kích ác liệt ở miền bắc nước ta, Mỹ không làm lung lay ý chí quyết thắng của nhân dân Việt Nam, cả trên trận địa, cả trên bàn đàm phán. Ngày 28/1/1973, chúng buộc phải ký hiệp định Paris rút quân khỏi Việt Nam. Tin chiến thắng đồng thời đối với những người vinh dự được lực chọn xây lăng Bác là nỗi mừng khôn xiết vì từ nay thực sự được làm nhiệm vụ quanh vinh mà bấy lâu mong chờ. Lực lượng tham gia xây dựng lăng chủ yếu là quân đội, nhưng có một số hạng mục công trình do yêu cầu kỹ thuật bên quân đội không đủ điều kiện theo yêu cầu. Được sự chấp nhận của cấp trên, một bộ phận lớn công nhân kỹ thuật các ngành dân sự được biệt phái vào quân đi để tham gia thi công xây dựng. Các ngành, các địa phương sẵn sằng cả về nhân lực và vật lực luôn sẵn sàng khi đoàn có yêu cầu là đáp ứng được ngay với chất lượng cao. Khi Mỹ ném bom Hà Nội, ta yêu cầu Liên Xô tạm thời ngưng những hoạt động liên quan đến xây dựng lăng. Sau khi Mỹ rút ta tiếp tục trở lại công trình được ngay, nhưng ở Liên xô kế hoạch trong năm họ không đặt ra nên không thể giúp ta được ngay. Đặc biệt những chủng loại thiết bị tối tân, bạn cũng phải đặt mua các nước khác nên phụ thuộc nhiều vào nơi sản xuất. Nhưng trong cái khó ló ra cái khôn. Ta chủ động cử người sáng các công trình xây dựng tìm vay các trang thiết bị cần thiết mà Liên xô đã ký giúp xây dựng lăng, sau đó chính phủ Liên Xô sẽ hoàn trả lại. Do tính cấp bách và quan trọng của công trình nên những cơ sở đó luôn tạo điều kiện thuận lợi cho ta, thể hiện tình cảm lớn của nhân dân Liên xô đối với Bác Hồ. Trong chiến đấu họ hết mình giúp ta, trong xây dựng những công trình quan trọng, bạn cũng dành ưu tiên cho ta. Công trình xây dựng bề bộn, thời gian đầu do chưa quen công việc trong phối hợp nên có phần bỡ ngỡ, nhưng dưới sự lãnh đạo sát sao và tinh thần trách nhiệm của mỗi người ở mức cao nhất, nên những đặc điểm đó nhanh chóng được khắc phục. Học hỏi trao đổi kinh nghiệm và kiến thức ngay trên thực tế công trình. Trên tinh thần vừa làm vừa học, nhanh chóng nắm bắt được những yêu cầu kỹ thuật bậc cao. Có những việc tưởng không phải đi học thời gian lâu mới làm được nhưng ngay ở công trình được sự hướng dẫn của những người có chuyên môn, anh em đã nhanh chóng làm chủ được kỷ thuật. Cả nước hướng về công trình lăng Bác, một công trình đặc biệt quan trọng, như muốn nhắn nhủ muôn thế hệ mai sau, thông qua chương trình, tình cảm của thế hệ dựng nước luôn hướng về Bác kính yêu làm nên chiến thắng. Vào thời điểm xây lăng Bác, tất cả các địa phương đến cơ quan đơn vị khi gặp công việc liên quan đến xây dựng công trình, là dành sự ưu tiên tuyệt đối. Cảng Hải Phòng bề bộn công việc bốc xếp hàng hóa trong nước và quốc tế, nhưng hễ kiện hàng nào phục vụ cho công trình lăng Bác là ưu tiên giải quyết trước. Họ xem đó không những là trách nhiệm của thành phố cảng, mà còn là vinh dự lớn lao được phục vụ Bác Hồ. Ngành đường sắt không những dành những chuyến tàu ưu tiên, mà còn dành những toa đầu, những toa tốt nhất cho công trình. Tỉnh Ninh Bình dành cho công trình những chiếc máy cắt thép tấm duy nhất. Nhà máy cán thép Gia Sàng nhận làm toàn bộ vỏ nhôm bảo ôn ống nước và cho mượn palăng, tời, máy đánh gỉ, máy uốn ống. Bộ tư lệnh phòng không quân cho mượn nhiều loại máy đo lường điện- điện tử. Nhà máy Từ Sơn, cơ khí điện ảnh và xưa xưởng quân giới X10 nhận sản xuất hàng chục vạn bộ bulông đai ốc co chất lượng cao để liện kết các đường ống hơi, ống nước của công trình búa đóng cọc và cọc bản thép chưa sang kịp, nhịp độ thi công không thể dừng lại. Công trường đã được su hỗ trợ cọc thép và máy đóng cọc từ Hải Phòng kết hợp với chiếc búa điêzen của bộ xây dựng kịp thời đóng lũy thép bao quanh hố móng công trình. Hai chiếc búa thi nhau hối hả ngày đêm lập nên kỷ lục đóng cọc chưa bao giờ có trong lịch sử xây dựng Việt Nam. Một ngày một máy có thể vượt trên 30 cọc với chất lượng cao nhất, trước sự kiểm tra ngặt nghèo của bộ kỷ thuật. Một thời gian rất ngắn, 1.200 cọc thép được đóng xong, tạo thành bức tường thép vây kín hố móng công trình. Thi công vào thời điểm tháng 8, những cơn mưa xối xả. Những người xây dựng từ công nhân đến cán bộ chỉ huy đẫm mình trong mưa bất kể ngày đêm vất cả khó nhọc. Nỗi lo của họ không phải là những cơn mưa mà là nguyên vật liệu không đủ cho thi công để kịp thời đổ bê tông phần ngầm trước mùa lụt, đám bảo tiến độ thi công của công trình. Thử thách gay go đối với bộ phận vật tư là làm sao huy động cả trong nước và ngoài nước để vật liệu đến kịp công trình. Nhưng rồi như có một sự linh nghiệm, sang bạn, đến các cơ sở của bạn, họ đều nhiệt tâm ủng hộ. Trong nước kết hợp thu gom và khai thác, cuối cùng bài toán khó vật tư đã được giải đáp.

Công trình xây dựng lăng Bác là một công trình mang tính xã hội sấu sắc, hàng vạn lượt người lao động tự nguyện lên công trình như vào ngày hội quần chúng to lớn, các cơ quan đóng ở Hà Nội từ trung ương đến địa phương ai cũng xung phong tình nguyện lên công trình. Nhiều đồng chí lãnh đạo của đảng và nhà nước mặc dầu công việc bề bộn nhưng cũng dành thời gian tham gia lao động với tập thể hòa quyện với nhau trong không khí hăng say quên mình. Thầy trò các trường học xung phong lao động xã chủ nghĩa trên công trường. Công trường là ngày hội toàn dân. Do mặt bằng thi công hẹp nên cùng một lúc không thể đáp ứng số lượng người làm được nhiều do đó phải b trí các cơ sở luân phiên nhau. 60 ngày đêm lao động trong không khí đặc biệt sôi động – công đoạn đầu tiên- hố móng lăng bác đã hoàn thành.

Bước tiếp theo công trình đòi hỏi những yêu cầu mới, cần huy động nhân lực, vật lực ở diện rộng hơn cả về trình độ kỹ thuật với tư tưởng độc lập tự chủ, việc gì ta làm được thì tự làm không chờ viện trợ bên ngoài. Trên tư tưởng đó, nhà máy xi măng Hải Phòng tập hợp những cán bộ kỹ sư giỏi ngày đêm gấp rút nghiên cứu loại xi măng mác cao để phục vụ công trình. Quy trình sản xuất với kỹ thuật mới, đến việc chọn lựa loại đá Tràng Kênh, những khối đá có chất lượng cao và tuyển nguyên liệu phụ gia xi măng lấy đất ở vùng Cổ Tháp. Cuối cùng loại xi măng mác cao đầu tiên do Việt Nam sản xuất được ra lò đáp ứng ngay cho công trình lăng bác. Hàng chục tấn xi măng được chuyển tới công trình. Trên mỗi bao bì đều in đậm dòng chữ : “đời đời nhớ ơn Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Chọn đá dăm phục vụ xây lăng, các cán bộ kỹ thuật tìm đến khu vực thác Bà và xác định chất lượng và hình dáng phù hợp nhất với kết cấu bê tông vĩnh cửu. Đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Thái nô nức như ngày hội trên khu vực khai thác đá dăm gửivề xây lăng bác. Mọi người tự hào những viên đá dăm của quê hương mình sẽ tạo nên sự vĩnh hằng xung quanh bác trong giấc ngàn thu. Việc tìm kiếm cát vàng xây lăng được cán bộ kỹ thuật lựa chọn công phu. Theo tài liệu của Pháp khi khảo cứu chất lượng cát xây dựng ở Việt Nam chỉ chất nhận cát vàng ở sông Lô là có chất lượng cao nhất. Trên thực tế ta cũng đã nhiều năm khai thác nơi đây để xây dựng nhiều công trình. Nhưng công trình xây lăng Bác là công trình đặc biệt, nên việc lựa chọn chất liệu không chỉ qua thông tin quá khứ mà phải kiểm nghiệm trên thực tế khoa học. Khi đưa cát đó kiểm tra thì vẫn còn một số bùn tạp chất, do đó yêu cầu kỹ thuật chưa đát. Cuộc tìm kiếm cát được mở ra diện rộng. Cuối cùng phát hiện ra cát vàng ở vùng sông Bôi là cát có chất lượng cao nhất. Đây là loại cát vàng từ sỏi vỡ vụn ra, rắn và sạch, vàng óng ánh, hầu như không có tạp chất. Từng núi cát vàng óng ánh đưoc bà con các dân tộc tỉnh Hòa Bình chất lên để chở, hàng đoàn xe đưa cát về Hà Nội xây lăng Bác.

Quyết tâm của công trình là phải hoàn thành trước mùa mưa lũ những hạng mục công trình cơ bản. Nhưng những yếu tố khách quan chưa lường được ngày đêm gây bao khó khăn cho tiến độ. Một công trình lớn, lại vừa thiết kế vừa thi công, nguyên vật liệu thiếu thốn phải đi gom nhặt khắp nơi. Mặc dầu nơi nào cũng sẵn sàng giúp đỡ vô điều kiện. Công trình đang trên đà tiến triển, nguyên vật liệu đá đã được chuẩn bị đủ, nhưng bộ phận bảo vệ phát hiện trong đá đang dùng có chất phóng xạ nguy hiểm vượt quá mứa cho phép. Đây là một phát hiện cực kỳ quan trọng, cần có sự kiểm tra bằng các phương tiện hiện đại, nhưng ở nước ta chưa có. Do đó phải cử cán bộ mang mẫu đá sang nhờ phương tiện khoa học của bạn giúp. Khi được kiểm tra chính xác, các thông số kỹ thuật cho phép loại đá đó tiếp tục xây dựng không có ảnh hưởng gì cả. Nhưng thời gian thì bị chậm lại rất nhiều so với du kiến.

Việc lắp ráp bảo đảm hoạt động của lăng là một công việc phức tạp. Theo thỏa thuận được ký kết giữa ta và bạn, ta chịu trách nhiệm lắp ráp, ban lo cung cấp máy móc phương tiện. Nhưng trên thực tế cả hai mặt trên đều khó khăn. Về phần ta thì trình độ tay nghề còn yếu chưa đảm đương được những hạng mục công trình khó. Về phía bạn, thì bạn đặt mua máy mãi tới năm 1974 mới đưa sang được. Theo thời hạn thì ngày 2/9/1975 lăng sẽ mở cửa đón đồng bào, đồng chí viếng bác. Khó khăn của ta được bàn bạc kỹ lưỡng để tìm giải pháp khắc phục. Lực lượng kỹ thuật cần bao nhiêu, nơi nào có thể đáp ứng được. Lúc nào bộ quốc phòng phải sẵn sàng tung những át bài chủ của mình mới giải quyết được công việc. Những chiến sĩ công binh ưu tú của bộ tư lệnh công binh được phép tập kết trên công trình trước tết nguyên đán hai ngày. Họ đón tết cổ truyền dân tộc ngay trên công trường với không khí lao động quên mình. Họ hiểu sâu sắc rằng Bác là người cha của các lực lượng vũ trang, được xây lăng Bác là một vinh dự lớn, một trách nhiệm vẻ vang. Bạn đưa sang giúp ta những chuyên gia kỹ thut giỏi, giàu lòng nhiệt tình với cách mạng Việt Nam và có tình cảm quý mến sâu sắc với Bác Hồ. Công trường rộn tiếng búa, tiếng cười nói hòa trong màu sắc áo lao động, trên nền màu áo xanh nổi bật của những người lính trẻ.

Đóng góp sức người sức của để xây dựng lăng Bác, như một tiếng gọi thiêng liêng mà mỗi người dân, mỗi địa phương như muốn dành những gì ưu tú nhất của quê hương để được dâng lên người. Các chiến sĩ miền Nam, không được vinh dự đón Bác vào thăm, thương tiếc Bác vô hạn, họ đã cầm súng vững vàng hơn để cho ngày độc lập được đến gần. Khi nghe tin xây lăng Bác, các chiến sĩ quân giải phóng đã vào rừng tìm gỗ quý gởi ra miền bắc xây lăng Bác. Miền đông tìm được cây gỗ quý Nu có đến hàng trăm năm tuổi, có màu vàng tươi, viền xung quanh màu nâu sậm, vân gỗ thanh thoát chỗ góc nướu cuốn xoắn tạo thành những hình mây bay sóng lượn. Cây gỗ được đưa từ Lộc Ninh trên chặn đường gian nan 20 ngày đêm. Trong buổi lễ trao tặng gỗ quý, đồng chí phó tư lệnh Nguyễn Thị Định thay mặt đồng bào chiến sĩ miền Nam nói lên tấm lòng với Bác: “ cây gỗ Nu quý giá tượng trưng cho sức sống kiên cường bất khuất của nhân dân miền Nam. Với tấm lòng trung chinh vô hạn, đồng bào, chiến sĩ kính dâng lên Bác để ghi nhớ công ơn cha già dân tộc”. Bộ đội Trường Sơn cũng gửi cây gỗ Trắc đại thọ ra góp phần xây lăng, rồi các địa phương Quảng Nam- Đà Nẵng đi đầu diệt Mỹ, Tây Nguyên kiên cường gửi những cây gỗ Trắc đẹp nhất để góp phần làm đẹp thêm ngôi nhà của Bác”. Chuyển gỗ ra bắc lăm gian nan vất vả, có khi còn đổ máu hy sinh. Những cây gỗ quý hiếm miền Nam sẽ được chọn làm những hạn mục công trình quan trọng làm đẹp thêm cho công trình, như cửa ra vào lăng, lan can…

Nếu như cả công trình là một trận đánh thì việc đổ bê tông phần ngầm là một đột phá khẩu cực kỳ quan trọng. Theo kinh nghiệm tính toán thì khả năng đổ cao nhất một ngày chỉ khoảng 200m³, muốn hoàn thành công trình đúng thời gian thì phải nâng mức đổ lên 400m³. việc đó ngoài dự đoán của nhiều người. Nhưng đối với các chiến sĩ công binh đã từng dày dạn kinh nghiệm trận mạc, họ hiểu thế nào là khả năng tạo nên chiến thắng mà không một ai, không một lý thuyết nào có thể tính toán được. Khả năng sáng tạo của những người lính Cụ Hồ lại một lần nữa được kiểm chứng. Ngoài những công cụ hiện đại như cần cẩu lớn, xe ben chuyển vật liệu, … tất cả tạo nên một sự hợp đồng binh chủng các lực lượng đều là thủ công. Do vậy, năng suất tăng vọt khó ai có thể tin được. Trận chiến thách thức với thời gian đối với các chiến sĩ chỉ là một sự khẳng định thắng lợi của ý chí và sức sáng tạo hoàn thành đúng tiến độ phần ngầm, tạo tiền đề thuận lợi cho những bước tiếp theo.

Phần nổi và phần trang trí mỹ thuật không nặng nhọc nhưng yêu cầu kỷ thuật cao. Công trình lăng Bác là một công trình văn hóa nghệ thuật. Phần công việc trang trí chiếm gần hơn một nửa thời gian xây dung đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao. Nhìn toàn bộ phía trong và ngoài lăng như một khối kiến trúc làm bằng đá. Nhận thấy đất nước ta có nhiều mỏ đá quý cho nên lúc đầu ta nhận hoàn toàn cung cấp đá ốp lát trong và ngoài. Nhưng không ngờ việc cắt xén đá, công đoạn mài đá đòi hỏi hỹ thuật cao, mới có tảng đá bảo đảm chất lượng cao đặc biệt có loại đá bảo đảm đúng yêu cầu thì ta phải nhờ Liên Xô giúp. Hai vạn miếng đá quý được cho từ Liên Xô sang kịp thời. Bên cạnh đó ta cố gắng khi thác những mỏ đá quý như An Dương. Ở nước ta có những mỏ đá quý đặc biệt, màu sắc và độ cứng bảo đảm tốt. Loại đá màu xám đậm có nhiều nét vân hoa tạo nên vẻ tôn nghiêm thành kính của lăng. Dòng chữ “ chủ tịch Hồ Chí Minh” trên nóc lăng được chọn loại đá ngọc Cao Bằng. Cứa chính của lăng được ốp bằng đá đen bóng, như tấm gương phản chiếu trong lung linh, phòng khách và lối lên lễ đài nền và bậc cầu thang cũng lát bằng đá hoa cương. Tường lát bằng đá cẩm thạch, loại đá mềm, mịn. Tường chính mặt tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tươi, làm nền cho dòng chữ “ không có gì qúy hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác bằng vàng nổi lên rực rỡ. Phòng Bác nằm làm bằng đá cẩm thạch Hà Tây. Những viên đá có hình chữ nhật xếp hình thắng đứng tu chân tường lên đến đỉnh trần, làm ta liên tưởng tới những thanh gỗ lát ở nhà sàn Bác, tạo cảm giác ấm cúng, yên tĩnh, trang nghiêm như thầm nhắc ta hãy nhẹ nhàng giữ yên giấc ngủ của Bác. Phía trước bức tường cao được ghép loại đá hồng ngọc, một loại đá trên triền núi trùng điệp Bá Thước tạo nên hình hai là cờ- cờ Đảng và cờ Tổ Quốc trang nghiêm hướng phía đầu Bác nằm nghỉ. Những cây gỗ quý được lựa chọn làm thành 200 bộ cửa. Tất cả gỗ được xẻ bằng tay cẩn thận và tiết kiệm, vì mỗi miếng gỗ đều thấm mồ hôi xương máu của của đồng bào miền Nam. Những thợ xẻ gỗ giỏi của miền Nam Hà được huy động để xẻ kịp thời gian. Gỗ xẻ xong còn phải được mang ngâm tẩm chống mối mọt, sấy khô bằng lò sấy hiện đại. Những nghệ nhân nổi tiếng nghề mộc của các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc, được hội tụ để thi hối tài năng. Đặc biệt có gia đình nổi tiếng làm nghề đóng cửa ở Gia Hòa xin được tự nguyện về làm cửa lăng Bác, gia đình nghệ nhân này hàng bao đời nổi tiếng nghề mộc, làm nơi đâu nổi tiếng đến đó. Cánh cửa vào chính là do hai bố con làm. Cửa chốt theo kiểu mộng mòi, có khóa cài cả hai chiều, không cần ke, không cần đóng chốt, khó phân biệt mối ghép. Tất cả như được kết tụ tinh hoa kỹ xảo truyền thống của nghề mộc cổ truyền dân tộc Việt nam. Các chuyên gia nước ngoài không ngớt lời khen ngợi “đôi bàn tay vàng” của nghệ nhân Việt Nam. Cửa ra vào lễ đài được ốp đá, những cánh cửa tiếp giáp với mưa nắng được phủ lớp nhựa chống nứt. Trang trí trong lăng, ngoài đá, gỗ, còn có các loại kim loại khác như trần làm bằng nhôm, lan can mạ kền, lưới gió, tay vịn bằng đồng. Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được hội đồng thẩm định chất lượng kiểm tra thu nghiệm chu đáo.

Một công việc không kém phần quan trọng là lắp rắp các trang thiết bị điện, nước, điều hòa thông gió cho công trình. Trong đó hệ thống điều hòa Liên Xô đặt làm ở nước khác nên phải phụ thuộc ở nhà máy thông báo các thông số kỹ thuật mới tiến hàng việc thiết kế lắp đặt. Mọi công việc đều phải tiến hàng sau các hạng mục công trình khác, lại đòi hỏi kỹ thuật cao, đối với nước ta lại hoàn toàn mới mẻ với tinh thần tự chủ sáng tạo. Những người đảm nhận công việc này không thụ động ngồi chờ mà luôn tự chủ gia công, hoặc gom góp những cơ sở trong nước sẵn có nhưng với điều kiện bảo đảm kỹ thuật. Những sáng tạo, phát minh mới có đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam một lần nữa được khẳng định, những ống hơi, bảo tồn ôn, chi tiết ổ điện, chia dây, giá móc đều tự gia công, khi kiểm tra đều phải bảo đảm tiêu chuẩn. Mỗi múi bàn đều được bàn tay khéo léo của người thợ Việt Nam bàn với trình độ cao nhất. Làm việc trong điều kiện trên công trường nhiều bộ phận cùng thi công, có những lúc phải tranh thủ thi công nhanh. Mục đích cao nhất là chất lượng và tiến để kịp thời với công trình. Những hệ thống thông gió phải lắp đặt trên những độ cao 21m, những đoạn ống to nặng lại đòi hỏi chính xác cao, khi lặp đặt nếu không huy động trí tuệ tập thể thì khó có thề thành công nhanh chóng. Sáng kiến dùng tời, lắp đặt theo từng đoạn rồi liên kết với nhau đã tạo nên hiệu quả công việc rất cao ngay cả chuyên gia bạn rất ngạc nhiên đến thán phục. Lắp đặt tổng đài điện thoại và hệ thống camera là những công việc mới và tỉ mỉ, công phu.

Đặc biệt công việc lắp rắp hệ thống điều hòa diễn ra căng thăng vì đây là một trong những công đoạn quan trọng, bảo vệ giữ gìn thi hài lâu dài về sau này, máy móc nhiều chủng loại mới mẻ được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới. Có tất cả 17 hệ thống hơi, điều hòa. Có 4 hệ điều hòa trung tâm nặng 160 tấn thuộc loại hiện đại nhất thế giới, hệ thống thông gió bảo đảm một giờ thông được 8m³ khí. Để đưa máy nén nặng 7 tấn của trạm lạnh lên giá, nhờ có sáng kiến mà công việc tăng năng suất lên 200%. Hệ thống cấp thoát nước, đảm bảo nhu cầu nước rất lớn của lăng, phải xây dựng một nhà máy nước riêng, bảo đảm một ngày cung cấp được trên một vạn mét khối nước. Phải lắp đặt một hệ thống bình chứa trên 5.000m³ nước. Ngoài ra công trình còn có những hạng mục đặc biệt như hệ thống báo cháy tự động, hệ thống bảo vệ điều khiển từ xa hệ thống nâng hạ linh cữu bác lắp đặt đặc biệt hiện đại, chính xác, ánh sáng đèn có nhiều tia, khúc xạ bởi các lăng kính hợp lý, hòm kính linh cữu bác đặc biệt trong suốt, kín tuyệt đối. Hệ thống bảo đảm an toàn tuyệt đối trong mọi trường hợp sự cố xảy ra tất cả những máy móc tinh xảo, phải có trình độ kỹ thuật cao mới hoàn thành công việc được, những người thợ tài hoa của Việt Nam đã lắp đặt thành công.

Lăng Bác được tôn nghiêm đẹp hơn trên nền quảng trường Ba Đình lịch sử. Nơi đây Bác đã khai sinh nước Việt Nam mới, đã chứng kiến bao kỷ niệm với Bác với cách mạng. Cùng tiến hành xây lăng bác, đồng thời quảng Trường cũng được tôn tạo lại. Tổng diện tích xây dựng toàn bộ là 14ha, riêng phần Quảng Trường trước lăng có diện tích 2,8ha chứa khoảng 10 vạn người chia thành 168 ô vuông trồng cỏ, giữa có lối đi rộng 1,4m xung quanh quảng trường có hè rộng 7m. Tổng diện tích lát hè là 7.800m². Dưới mặt đất có hệ thống thoát nước nối với hai trạm bơm đặt ngầm dưới lòng đất. Đường Hùng Vương đi qua trước lăng làm bằng bê tông cốt thép, có chiều dài 1.060m, đường Bắc Sơn dài 280m, đường Ba Đình dài 400m. Toàn bộ công trình làm lăng quảng trường được giao cho cán bộ, các ngành và địa phương đảm nhận thi công. Bộ xây dựng làm các hạng mục công trình bê tông, hệ thống cấp thoát nước. Bộ giao thông vận tải huy động xe vận tải và làm đường rải nhựa, tổng cục bưu điện thi công hệ thống thông tin, truyền thanh, phát thanh tổng cục lâm nghiệp phủ màu xanh cho quảng trường, chuẩn bị cây xanh, cây cảnh. Đường Hùng Vương trồng Chò Nâu Vĩnh Phú, đường Bắc Sơn trồng hoa Ban giáp lòng đường. Các loại cây được chọn từ khắp mọi miền đất nước cùng hội tụ về đây như thay mặt nhân dân các dân tộc, cho mỗi quê hương được ngày đêm đứng bên Bác giữ yên giấc ngủ ngàn thu của Người. Những khóm trúc Pác Bó gắn bó những tháng năm gian khổ cháo bẹ rau măng thời kỳ đầu mới về nước, những cây dầu nước lấy từ chót mũi Cà Mau nơi Bác vẫn muốn về thăm lúc người vẫn còn sống. Cây đa lấy từ Tân Trào gắn với kỷ niệm quốc dân đại hội và đội tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Những luống cây, cây tre từ quê hương Lê Lợi, những cây quế Trà Mi, cây Lòng Boong xứ Quảng, cây đào được chiết từ cây đào Tô Hiệu. Những cành mai từ miền nam gửi ra. Phía sau lăng được trồng những giống hoa lúc sinh thời Bác rất ưa thích như nhài, hương mộc, dạ hương, được kết hợp suốt bốn mùa khoe sắc hương bên bác. Phía hai bên lăng óng ả hàng tre tươi mát ngày đêm rì rào tiếng quê hương. Giống ngọc bút trắng được trồng cạnh hoa tường vi hồng tuơi. Phía trước sát bên lăng là hai hàng vạn quế. Dưới chân lăng hai cây Đại tượng trưng cho sự thanh khiết, trường tồn những chậu cây thế, cây cảnh nổi tiếng các nơi được đặt trong những bồn đúc riêng đặc biệt do các nghệ nhân ở các địa phương làm nên gửi đến. Bên Bác vẫn ngát hương sen của quê hương làng sen, của Đồng Tháp Mười, ngào ngạt hương sen lúc còn sống người vẫn ưa thích ngày ngày vẫn có trong lăng…

Ngày 22/8/1975, sau hơn ba tháng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, một tin vui đến với đồng bào chiến sĩ cả nước: lăng Bác được khánh thành. Tất cả đều sẵn sàng đón Bác vào lăng để ai ai cũng ngắm Bác, nhìn thấy Bác, thỏa lòng mong ước lớn lao trong đời. Bộ phận đón khách được hình thành, 150 chiến sĩ lữ đoàn 144, trước đó được lệnh hành quân lên một khu đồi ở Vĩnh Phú, dựng một mô hình giống như mô hình lăng Bác để luyện tập. Những động tác như bồng súng đứng nghiêm, đi đều, đổi gác, khiêng hoa, dẫn khách được tập đi tập lại thuần thục chính xác từng chi tiết nhỏ, họ là những chiến sĩ tiêu binh ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người, là những chiến sĩ bảo vệ anh ninh khu vực lăng, bảo vệ an toàn cho đồng bào chiến sĩ vào lăng viếng bác.

20h ngày 18/7/1975, lần di chuyển thứ sáu thi hài Bác, lần di chuyển cuối cùng đưa Bác về Ba Đình sau chặng đường dài mất sáu năm vất vả gian nan, đoàn xe đưa Bác về nơi yên nghỉ vĩnh hằng dừng bánh trước cửa chính cuả lăng. Bên linh cửu Bác, các đồng chí lãnh đạo trong khóe mắt xúc động nước mắt trước một con người vĩ đại nhất của dân tộc.

Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều lăng tẩm của các nhân vật nổi tiếng về văn hóa, chính trị. Nhưng chỉ có Lênin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành và Bác Hồ kính yêu của chúng ta thi thể được ướp xác nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay. Theo đánh giá của các chuyên gia về xác ướp của Bác có thể để tới 1.000 năm và hơn thế nữa.

Cứ hàng năm từ tháng 10 đến tháng 12, lăng Bác lại tạm ngưng tiếp khách để bước vào thời gian trùng tu kiểm tra lại trang thiết bị, hệ thống máy móc trong lăng.

Được viếng lăng Bác, ta sẽ cảm nhận được những cảm giác xao xuyến lâng lâng khó tả như không muốn nói lời tạm biệt với Hà Nội. Có biết bao du khách đã nghẹn ngào, xúc động và sẽ không bao giờ quên những giây phút được nhìn thấy thi hài của Bác qua lăng kính, đã có bao người miền Nam ra thăm lăng Bác, trong dòng người đó có nhà thơ Viễn Phương. Chính những dòng cảm xúc sâu lắng đó đã bật thành thơ và đã trở thành bất hủ trong lòng người.

Viếng lăng Bác

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng cháy đỏ
Ngày ngày hàng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên
Giưã một vầng trăng sáng trong dịu hiền
Dẫu rằng trời xanh biếc là mãi mãi
Biết rằng biển xanh dẫu là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Mai về miền Nam nhớ Bác không nguôi
Muốn làm con chim ca hát quanh lăng
Muốn làm bông hoa hương toả đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

saigontoserco.com

Những câu chuyện cảm động bên Lăng Bác Hồ

Ông Hồ Ngọc Khiết tại điểm xuất phát ở Dinh Độc lập ngày 27/2/2011

Cùng hành trình với các phóng viên của Đài Truyền hình Việt Nam để ghi lại những phóng sự về Lăng Bác nhân dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, chúng tôi thật bất ngờ khi đi bên cạnh mình là một ông lão ngoài 70 tuổi, râu dài, tóc bạc, da ngăm đen, gầy gò trong bộ quần áo bộ đội đã bạc màu nhưng bước chân còn rất nhanh nhẹn.

Đó là ông Hồ Ngọc Khiết, sinh năm 1939, thường trú tại thôn Cát Lợi, xã Phước Cát 1, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Ông đã hai lần xuyên Việt, một lần bằng xe đạp và lần này là đi bộ từ Dinh Thống Nhất ra viếng Lăng Bác. Sau 2 tháng 18 ngày đi bộ liên tục (trong đó có 5 này ông phải nghỉ vì trời mưa), vượt qua gần 2.000 km đường, ông Hồ Ngọc Khiết đã có mặt tại Hà Nội và vào Lăng viếng Bác đúng vào kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người, để hoàn thành chuyến đi bộ xuyên Việt của mình.

Để chuẩn bị cho chuyến đi, một tháng liền, ông Khiết đi bộ 12 km mỗi ngày để luyện tập sức bền. Ông dành dụm tiền từ việc bán cây cảnh để làm chi phí đi đường. Đầu tháng 4-2010, ông đã quyết định xuyên Việt bằng xe đạp ra Hà Nội viếng Bác và năm nay nhân kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 121 năm ngày sinh của Bác, ông muốn làm một điều gì đó thật ý nghĩa nên quyết định một lần nữa xuyên Việt bằng chính đôi chân của mình. Điểm xuất phát được ông chọn là Dinh Thống Nhất và điểm đến là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Và điểm đến là Lăng Bác Hồ vào sáng ngày 19/5/2011

Ông Khiết cho biết: Mục đích chuyến đi này của ông là tái hiện hình ảnh anh Bộ đội Cụ Hồ năm xưa “Sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”, để ôn lại những chiến công hiển hách, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và cũng là để góp phần giáo dục thế hệ trẻ, tiếp lửa truyền thống cha ông.Đúng 4h ngày 27/2, tại Dinh Độc Lập, ông Khiết bắt đầu cuộc hành trình. Hành trang gọn nhẹ với một chiếc ba lô trên vai đã bạc mầu với chiếc mũ tai mèo đội trên đầu và một ít đồ dùng sinh hoạt cá nhân, trong đó chỉ có 2 bộ quần áo lót, 2 bộ quần áo bộ đội mặc thay đổi, một chiếc võng dù, một chiếc chăn, một chiếc màn đơn, một ít thuốc, một cái máy đo huyết áp để tự kiểm tra sức khỏe, một chiếc máy ảnh, một cuốn nhật ký và một chiếc điện thoại di động để liên lạc với bạn bè và gia đình.

Khi biết được câu chuyện cảm động ấy, các phóng viên và đồng bào về Lăng viếng Bác đã vây quanh ông để hỏi thăm sức khỏe và nghe những kỷ niệm trên đường hành trình từ Nam ra Bắc của ông. Tất cả ai cũng bày tỏ sự khâm phục về ý chí quyết tâm, nghị lực của người đàn ông này.

Với gần 2.000 km đường đi bộ là cả một thử thách mà không phải ai cũng vượt qua được nhưng với tinh thần và nghị lực phi thường, bằng ý chí và niềm tin mãnh liệt, người lính Cụ Hồ năm xưa đã kiên trì đi bộ dọc chiều dài của đất nước để về bên Bác đúng dịp kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Người./.

Đức Hùng

bqllang.gov.vn

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – công trình kiến trúc “Hiện đại, dân tộc, trang nghiêm và giản dị”

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nho học yêu nước, quê hương có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Ngay từ nhỏ, Người đã được hấp thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào đấu tranh chống Pháp, Người thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân mất nước, không cam chịu để dân tộc mình sống cuộc đời nô lệ, lầm than dưới ách đô hộ của chế độ thực dân, phong kiến. Tình cảm yêu quê hương đất nước, căm thù giặc sâu sắc đã hun đúc lên hoài bão lớn lao của Người. Vượt khỏi tầm nhìn của những nhà yêu nước đương thời, năm 1911, Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Bằng thiên tài trí tuệ, lòng yêu nước thương dân mãnh liệt, ý chí gang thép, đạo đức vô song Hồ Chí Minh đã đáp ứng yêu cầu lịch sử. Sau 10 năm bôn ba, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường Cách mạng vô sản”. Hơn hai phần ba thế kỷ qua, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành ngọn đèn pha soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đưa Việt Nam từ một dân tộc bị đô hộ, lên hàng các dân tộc cách mạng tiên phong trên thế giới, đã chứng minh tính khoa học, tính sáng tạo vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng là một tổn thất vô cùng lớn lao, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bầu bạn quốc tế, nhất là đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày, đêm tranh đấu giành độc lập, tự do để mong sớm đón Bác vào thăm.

Sinh thời, Ng­ười không muốn một sự tôn thờ, sùng bái cá nhân nào. Tr­ước lúc đi xa, trong Di chúc, Ng­ười còn căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”[1]. Như­ng trong tâm khảm mỗi ng­ười dân Việt Nam, Bác Hồ là người Anh hùng giải phóng dân tộc, một “Thánh nhân” của đất n­ước. Sau khi Bác qua đời, trong khói lửa của cuộc chiến tranh ác liệt, nhân dân Cà Mau, Trà Vinh và rất nhiều nơi khác đã lập đền thờ Ng­ười và quyết tâm chống trả mọi sự phá hoại của Mỹ, Ngụy. Đồng bào ta từ Bắc chí Nam, đã tự nguyện lập bàn thờ Bác ngay trong gia đình. Tất cả những việc làm đó, đều xuất phát từ tình cảm biết ơn, ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Thấu hiểu sâu sắc và thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Bộ Chính trị Trung ­ương Đảng đã quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người”.[2]

Việc thiết kế và chuẩn bị thi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tiến hành khẩn trương ngay từ đầu năm 1970. Yêu cầu cao nhất đối với việc xây dựng Lăng là phải giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tránh được mọi ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, đồng thời đảm bảo sức khoẻ và đi lại thuận tiện của nhân dân khi đến viếng Bác. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải hiện đại, có cấu trúc hài hoà, mỹ thuật, có phong cách dân tộc, trang nghiêm mà giản dị.

Đông đảo kiến trúc sư, kỹ sư và cán bộ ở nhiều cơ quan thiết kế các ngành và quân đội… đã đem hết khả năng và trí tuệ của mình để nghiên cứu phương án thiết kế Lăng. Trong một thời gian ngắn, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế của 16 đơn vị, ngành và cá nhân gửi dự thi; 24 phương án có nhiều ưu điểm nhất đã được sơ tuyển và trưng bày. Ban Tổ chức đã trưng bày, lấy ý kiến cùng một lúc tại 5 địa phương: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. Cuộc trưng bày ở 5 địa điểm trên đã thu hút 745.487 lượt người đến tham quan và có hơn 34 ngàn ý kiến tham gia. Nhiều ý kiến của các kiến trúc sư, nhà văn hoá, các bậc lão thành cách mạng, đồng bào và tầng lớp nhân dân ở hai miền Nam – Bắc, kiều bào Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đã gửi về đóng góp và bổ sung cho các phương án thiết kế.

Tháng 4 năm 1971, trên cơ sở thiết kế của các chuyên gia Liên Xô và phương án thiết kế của ta, kết hợp với sự tham gia góp ý của đông đảo các tầng lớp nhân dân, Bộ Chính trị – Trung ương Đảng đã quyết định chọn phương án thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là phương án của sự kết hợp nhiều phương án tổng hợp lại: Khối chính của Lăng đặt trên bệ tam cấp gần gũi, thân thuộc phong cách kiến trúc Việt Nam; thân Lăng gợi hình dáng ngôi nhà 5 gian giản dị; mái Lăng có hình vát, gợi lên đường nét kiến trúc cổ kính đình làng, nơi hội tụ của mỗi tâm hồn quê hương Việt Nam.

Sau những lần phải trì hoãn do chiến tranh, ngày 2 tháng 9 năm 1973, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng tại Quảng trường Ba Đình – nơi Người đã đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á, đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng Chính phủ được cử là Trưởng ban xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Cùng với đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp đỡ ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản.

Ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành giữa Ba Đình lịch sử. Từ Quảng trường Ba Đình nhìn lên, Lăng Bác uy nghi mà giản dị, toàn bộ khối Lăng mang hình dáng cách điệu của một đài sen, được chia thành 3 phần: Mái, cột và nền. Mái và các cột bằng đá hoa cương màu xám bạc, chịu được nắng, mưa và khí hậu khắc nghiệt của miền nhiệt đới. Nền Lăng cấu trúc tam cấp được ốp bằng đá hoa cương màu xám đen. Sự khác nhau giữa hai màu đá tôn dáng của Lăng thêm vững chắc. Phía trong hàng cột là thân Lăng, đó là phòng đặt thi hài Bác, toàn bộ mặt ngoài được ốp đá hoa cương màu đỏ sẫm. Mái Lăng được xếp tam cấp, bốn góc chếch đầu đao, có dáng dấp như mái chùa cổ kính tôn nghiêm mà quen thuộc.

Công trình Lăng với dòng chữ: “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH” trên mái Lăng được ghép bằng đá ngọc ở vùng Cao Bằng, cửa chính của Lăng được ốp bằng đá ngọc bích, các bậc cầu thang được lát bằng đá hoa cương, tất cả tường và cột phía trong được ốp bằng đá cẩm thạch. Riêng tường chính tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng tương, làm nền cho dòng chữ “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chữ ký của Bác, dòng chữ và chữ ký được mạ vàng sáng nổi lên rực rỡ – đây cũng chính là ước nguyện, là khát vọng và là tư tưởng xuyên suốt của Bác từ khi rời Bến cảng Sài Gòn đi tìm đường cứu nước đến khi là vị Chủ tịch Nước, cả một đời đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc.

Phòng Bác yên nghỉ được ốp bằng đá cẩm thạch Hà Tây, Bác nằm đầu hướng về bức tường có lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng. Cờ Đảng bên trái, cờ Tổ quốc bên phải, dài 5,9m, rộng 2,5m, ghép bằng 4.000 miếng đá hồng ngọc Thanh Hóa màu đỏ thắm, ngôi sao vàng năm cánh và búa liềm ghép bằng đá cẩm vân màu vàng sáng.

Góp phần vào hoàn thiện công trình Lăng Bác là những khối gỗ quý của đồng bào Nam Bộ, được các nghệ nhân tài hoa từ các tỉnh Nghệ An, Nam Hà, Hà Bắc xẻ bằng tay, với những kỹ thuật tinh xảo đóng thành 200 bộ cánh cửa. Cửa ra lễ đài được ốp đá, những cửa tiếp giáp với nắng được quét nhựa chống nứt. Ngoài đồ gỗ, trong Lăng còn dùng các kim loại để trang trí như nhôm làm trần, đồng làm tay vịn, lưới gió…Mỗi vật liệu đưa vào trang trí đều được Hội đồng thẩm định chất lượng kiểm tra thử nghiệm chặt chẽ.

Lễ đài chính dùng cho những cuộc diễu binh, duyệt binh lớn của cả nước được xây dựng gắn với Lăng, phía trên cửa chính của Lăng, so với phòng Bác nằm thấp hơn. Hai bên là hai lễ đài, đặt thẳng hàng với lễ đài chính tạo sự cân đối cho cả khối công trình.

Trước cửa Lăng có hai cây Đại, tượng trưng cho sự thanh khiết, thiêng liêng, trường tồn, do các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trồng khi khánh thành Lăng Bác, mỗi bên lễ đài trái, phải trồng 9 cây vạn tuế như hàng tiêu binh đứng trang nghiêm ngày đêm giữ yên giấc ngủ của Người.

Phía sau Lăng, ở hai bên là bức tường lưu niệm ốp bằng đá hoa cương đỏ, sau tường trồng 19 cây ngọc lan, hoàng lan tỏa hương thơm ngát, trước tường có 8 ô vuông trồng hoa hồng bốn mùa xanh tốt.

Phía trước Lăng là đường Hùng Vương và Quảng trường Ba Đình. Đường Hùng Vương dài hơn 1.000m. Phía trước, cách Lăng 49m là cột cờ với chiều cao 25m. Kể từ ngày 19/5/2001, nhân kỷ niệm 111 năm ngày sinh của Người, được phép của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm 365 ngày đều đặn, không kể mưa hay nắng, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trọng thể, trang nghiêm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thảm cỏ thiên nhiên trên Quảng trường Ba Đình dài 320m, rộng 100m, chia thành 240 ô cỏ xanh tươi là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, giữa các ô có đường đi lại, rộng 1,4m được lát bằng những tấm bê tông sỏi nổi. Những viên sỏi mà các em học sinh của tỉnh miền núi phía Bắc nhặt từ lòng suối, rửa sạch sẽ để lát quanh Lăng và Quảng trường Ba Đình. Dưới các thảm cỏ của Quảng trường có các tầng lọc nước, mạng ống và mương ngầm, đi đôi với hệ thống thoát nước, có hệ thống cấp nước. Hệ thống cấp nước phục vụ cho các nhu cầu cần thiết của hệ thống kỹ thuật. Phía Bắc giáp đường Phan Đình Phùng, phía Nam giáp đường Trần Phú, phía Tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch – Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, ao cá, vườn cây, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt… Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam.

Trên mảnh đất Ba Đình lịch sử này – nơi Bác Hồ đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – nơi Bác đã ở và làm việc 15 năm cuối cùng của cuộc đời vì nước, vì dân. Bên cạnh công trình Lăng còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, tạo nên một quần thể thống nhất Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình. Mặc dù chức năng, nhiệm vụ tổ chức khác nhau, nhưng có một điểm chung tổ chức đón tiếp, tuyên truyền. Ngày 16/6/1999 Thường vụ Bộ Chính trị đã ra thông báo số 224/TB-TW về tổ chức việc quản lý và các hoạt động của Cụm di tích lịch sử – văn hoá khu Ba Đình, ngày 25/2/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 28/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo phối hợp hoạt động Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình.

Hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, hoa Mai vàng như thay cho lời chúc mừng năm mới của Đảng bộ, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân Nam bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáp lại tình cảm đó, hàng năm Ban Quản lý Lăng đã gửi tặng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhân dân Nam bộ sắc đỏ hoa đào thay lời cảm ơn và chúc mừng năm mới may mắn, tốt lành. Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội vẫn luôn có sắc thắm đỏ hoa đào, sắc vàng hoa mai như tượng trưng cho mối gắn kết keo sơn, tình nghĩa anh em ruột thịt của nhân dân hai miền Nam – Bắc. Và hơn thế nữa là tấm lòng thuỷ chung, đồng sức đồng lòng cùng hướng về Thủ đô, về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình lịch sử – nơi hội tụ tinh hoa của cả dân tộc, biểu tượng cho tinh thần đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc nhân dân và quyết tâm xây dựng đất nước ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Chủ tịch Hồ Chí Minh h»ng mong muốn.

Quyết định đúng đắn và sáng suốt của Bộ Chính trị đối với việc giữ gìn lâu dài thi hài Bác, xây dựng công trình Lăng của Người không những là quyết định hợp lòng dân mà còn là thể hiện một tư tưởng chính trị: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi nhân dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng do Người vạch ra và kế tục sự nghiệp cách mạng của Người. Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng tập trung nhất của ý chí chiến đấu quật cường vì độc lập dân tộc – “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, và là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là tư tưởng lớn nhất, sâu sắc nhất, xuyên suốt nhất, làm nổi bật ý nghĩa chính trị tư tưởng của một công trình đặc biệt, và là tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày nối ngày, dòng người vẫn nối dài tưởng như bất tận để được vào Lăng viếng Bác, từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức Nhà nước, tuy mỗi người có tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thản, bình yên. Tính đến nay có hơn 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách nước ngoài của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng của Người, trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam đối với Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của Việt Nam. Đây còn là một điểm đến hấp dẫn của mỗi người nước ngoài khi tới Việt Nam. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, đứng trước Lăng của Người đã từng thốt lên:“ Hiếm có Lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Lúc này chỉ cần nhìn vào dòng người đi viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy được đất nước của các bạn ổn định, yên bình như thế nào”.

Những năm gần đây, nhờ thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước có sự tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân được cải thiện, điều kiện đi lại của dân được thuận lợi hơn, nhưng không phải là điều quyết định, mà chính là do tình cảm, nguyện vọng tha thiết của nhân dân mong muốn được về bên Người. Đó chính là sự thành kính, lòng biết ơn vô hạn đối với Bác, nguyện trung thành, mãi mãi đi theo con đường mà Bác đã lựa chọn. Đồng chí Đỗ Mười nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nói: “Chúng ta thật hạnh phúc vì có Bác, được thấy Bác nằm yên nghỉ trong Lăng giữa Ba Đình, như tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta vượt qua những khó khăn, xây dựng đất nước to đẹp hơn, đàng hoàng hơn như điều Bác hằng mong muốn”.

Ở Lăng Bác, ngoài việc tổ chức lễ viếng hàng ngày, còn diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước; nơi tổ chức các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng các ngày lễ lớn của đất nước, dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hoá, nghệ thuật, báo công, giao ước thi đua, kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn, kết nạp Đội… nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tình cảm kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và là nơi hun đúc chí khí cách mạng của các thế hệ người Việt Nam. Những năm gần đây, một số loại hình sinh hoạt chính trị mới như đặt hoa trư­ớc ngày cư­ới của nam nữ thanh niên, lễ tuyên thệ trư­ớc khi nhận nhiệm vụ mới, khai giảng năm học mới của các trư­ờng phổ thông, đặc biệt từ ngày 19/5/2001, được phép của Thủ tướng Chính phủ, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trọng thể, trang nghiêm trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy tốt tác dụng giáo dục truyền thống. Biểu tượng của Tổ quốc với hình ảnh của Lãnh tụ được hoà quyện vào nhau càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Là một công trình có ý nghĩa lịch sử, chính trị và văn hóa to lớn, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ trường tồn mãi cùng đất nước Việt Nam, là trái tim của trái tim Việt Nam, là nơi hội tụ những tinh hoa về kiến trúc và không gian văn hóa của Thủ đô Hà Nội – mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến. Là công trình trung tâm trong Cụm Di tích Lịch sử – Văn hoá Ba Đình, Lăng Bác đã trở thành địa chỉ hướng đến đầu tiên của du khách mỗi khi tới Thủ đô Hà Nội, là nơi hội tụ tình cảm và niềm tin của nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại.

_________________________

[1] Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội – 1989 trang 50.
[2] Nghị quyết BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 29/11/1969.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương
Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

bqllang.gov.vn

Phát huy ý nghĩa lịch sử, chính trị, văn hoá công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời nhưng Người vẫn sống mãi với non sông, đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người dân nước Việt. Ngay sau khi Người qua đời, thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người giữa Ba Đình lịch sử, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam Á.

Với sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của Đảng, Nhà nước Liên Xô, trực tiếp là các nhà khoa học y tế, đã giúp đỡ Việt Nam giữ gìn, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện chiến tranh ác liệt, khí hậu nhiệt đới thất thường. Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo tiền đề cơ bản cho quá trình giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này.

Ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng. Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô đã cử những chuyên gia giỏi sang Việt Nam giúp đỡ ta xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quê hương của V.I Lê-nin vĩ đại, coi việc giúp đỡ Việt Nam là nghĩa vụ, tình cảm quốc tế cao cả của những người cộng sản.

Với tấm lòng biết ơn và kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân và toàn quân đã đem hết trí tuệ và tinh thần, tập trung cao độ để xây dựng ngôi nhà vĩnh cửu của Người. Ngày đêm trên công trường xây dựng Lăng Bác nhộn nhịp tiếng búa, tiếng máy, tiếng cười, mọi người đều mong sao Lăng sớm được khánh thành để được gặp lại Bác sau thời gian Người đi xa.

Cả nước hướng về công trường xây dựng Lăng Bác, đóng góp sức người, sức của để xây dựng Lăng Bác như một tiếng gọi thiêng liêng của mỗi người dân, mỗi địa phương trong cả nước. Nhà máy xi măng Hải Phòng đã sản xuất hàng vạn tấn xi măng có chất lượng tốt nhất để gửi về xây dựng Lăng Bác. Cảng Hải Phòng bề bộn công việc bốc xếp hàng trong nước và quốc tế, nhưng kiện hàng nào phục vụ cho công trình Lăng Bác đều được ưu tiên vận chuyển trước. Ngành đường sắt đã dành những đầu tầu, toa tầu tốt nhất để vận chuyển vật tư xây dựng Lăng Bác. Cảm động nhất là đồng bào, chiến sỹ miền Nam đang ngày đêm đối mặt với cuộc chiến tranh ác liệt, đã vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, vận chuyển gỗ quý từ Tây Nguyên, từ cực Nam của Tổ quốc gửi ra Thủ đô Hà Nội để đóng góp công sức xây dựng Lăng của Người. Đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Quân giải phóng miền Nam đã thay mặt đồng bào, chiến sỹ miền Nam thưa với Bác: “Cây gỗ quý tượng trưng cho sức sống kiên cường, bất khuất của nhân dân miền Nam. Với tấm lòng trung trinh vô hạn, đồng bào chiến sỹ kính dâng lên Bác để đời đời ghi nhớ công ơn trời biển của Người”.

Sau 2 năm khẩn trương, liên tục, với khí thế thi đua chia lửa với miền Nam anh hùng, cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên các lực lượng xây dựng Lăng Bác đã không quản ngày đêm hoàn thành tốt các hạng mục công việc. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, công việc xây dựng Lăng đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, chỉ sau hơn 3 tháng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể; Bác đã về ngôi nhà vĩnh cửu của mình để cùng chung vui với con cháu trong Lễ mừng chiến thắng của toàn dân tộc diễn ra tại Quảng trường Ba Đình lịch sử vào ngày Quốc khánh 2/9/1975.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ XX, là công trình của tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô và Liên bang Nga ngày nay; công trình của “Lòng dân – ý Đảng”; là biểu tượng của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc; một kỳ quan vĩ đại của thế hệ hôm nay tặng lại cho muôn đời con cháu mai sau… như lời Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh phát biểu tại Lễ khánh thành Lăng ngày 29/8/1975: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu. Đây là nơi nhân dân Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Người; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh”.

Thấm thoát đã gần 42 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta và gần 36 năm khánh thành Công trình Lăng của Người. Ngày nối ngày, dòng người vào Lăng viếng Bác như dài vô tận. Lăng Bác đã đón tiếp 40 triệu lượt người, trong đó có hơn 7 triệu lượt khách quốc tế của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Lăng của Người, trở thành nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người Việt Nam đối với Người Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế trong nước tăng trưởng, hệ thống giao thông được mở mang, đời sống nhân dân được cải thiện… số lượng nhân dân các địa phương trong cả nước về Lăng viếng Bác ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước. Những ngày nghỉ, ngày lễ, kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của Bác mỗi ngày có tới hàng vạn người vào Lăng viếng Bác. Ngoài tổ chức lễ viếng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng của Nhà nước, nơi tổ chức các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng các ngày lễ lớn của dân tộc; nơi thường xuyên tổ chức các sinh hoạt chính trị, văn hoá, nghệ thuật… nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”; nơi hun đúc chí khí cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Từ ngày 19/5/2001, nghi lễ chào cờ hàng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hoà quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hoá, tinh thần và ý nghĩa chính trị của Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt từ năm 2006 đến nay, Bộ Chính trị Trung ương Đảng phát động toàn Đảng, toàn dân và toàn quân triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các cấp, các ngành và các địa phương trong cả nước đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt chính trị có ý nghĩa trước Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình lịch sử. Tiêu biểu là các hoạt động của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; tuổi trẻ Quân đội, tuổi trẻ Công an; Đảng bộ tỉnh Hải Dương; Đảng bộ Huyện Ba Vì; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty cổ phần May 10…. Ngoài ra Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phối hợp chặt chẽ với ngành Lao động Thương binh xã hội trong cả nước và Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các gia đình ở vùng sâu, vùng xa về Lăng viếng Bác. Việc làm đó đã để lại ấn tượng và tình cảm tốt đẹp cho mỗi người khi về viếng thăm Bác.

Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, từ người dân bình thường đến cán bộ, công chức nhà nước, tuy mỗi người một tâm trạng khác nhau nhưng khi về bên Bác đều thấy thanh thản, bình yên. Gần 36 năm qua, kể từ ngày mở cửa Lăng đến nay, dòng cảm tưởng của nhân dân trong nước, kiều bào ở nước ngoài và khách quốc tế đã được lưu giữ như mỗi ngày một dài thêm….mỗi người một vẻ, nhưng tựu chung lại là sự kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện mãi mãi học tập và làm theo lời Bác dạy. Cô giáo Nguyễn Thị Huệ, 20 tuổi, người dân tộc Hơ-mông, trong đoàn giáo viên huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang về viếng Bác đã xúc động viết: “Cháu là người dân tộc Hơ-mông, lần đầu tiên vinh dự được về Hà Nội viếng Bác. Cháu chưa một lần được thấy Bác, hôm nay được gặp Bác, cháu rất cảm động. Người Hơ-mông chúng cháu được như ngày nay, được cơm no, áo ấm, được có chữ, cùng tiến bộ như các dân tộc đa số, riêng cháu lớn lên trở thành cô giáo là nhờ ơn Đảng, Bác Hồ. Cháu và dân tộc Hơ-mông chúng cháu rất ơn Đảng, ơn Bác. Cháu nguyện sẽ học tập và cố gắng giảng dạy cho các em học sinh người Hơ-mông đời đời theo Đảng, theo Bác…”. Đoàn nữ cựu tù chính trị Côn Đảo, gồm 18 chị em từ thành phố Hồ Chí Minh ra Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác đã nhòa nước mắt, ghi lại tình cảm của mình: “Hôm nay con về thăm Lăng Bác; nuốt lệ mừng nhớ lại tháng năm xưa…. Tháng năm trong nhà tù Mỹ – Ngụy, hay tin Bác mất, chị em quyết định mặc niệm, để tang đồng phục đen, quấn tang trắng chào cờ và hát mặc niệm ngay trước mũi địch, làm chúng tức tối đàn áp rất dã man. Cuối cùng chúng cháu vẫn là người chiến thắng, vì là con cháu của Bác Hồ luôn luôn mang tư tưởng bất khuất và tin tưởng ở chiến thắng cuối cùng sẽ về ta, nên luôn lạc quan cách mạng và đã được trao trả với tư thế của người chiến thắng”. Đoàn đại biểu Mặt trận Tổ quốc Quận 1, thành phố mang tên Bác đã viết: “Chúng tôi vô cùng xúc động được đến viếng Bác. Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam bộ. Về Lăng viếng Bác, thương nhớ Bác vô cùng, nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đối với khách nước ngoài, Lăng Bác là một địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn của mỗi người khi tới Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, hầu hết khách du lịch khi đến Hà Nội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; số lượng khách quốc tế vào Lăng viếng Bác tăng gần 4 lần so với những năm trước đây. Nhiều người nước ngoài khi đến Việt Nam, vào Lăng viếng Người đã có cảm tưởng: Hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân mến mộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong số khách đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh không ít người trước đây là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, nhưng ngày nay, trước chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước, họ đã đến Việt Nam và vào Lăng thăm viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự hận thù, đối lập dường như không còn nữa, quá khứ được khép lại và cùng nhau hướng về tương lai. Có lẽ đây cũng là điều đặc biệt, chỉ có ở Việt Nam và chính tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cội nguồn của sức mạnh đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Cố Chủ tịch CHDCND Lào Hoàng thân Xu-Pha-Na-Vông đã trân trọng ghi cảm tưởng: “Chúng tôi vô cùng biết ơn Bác Hồ, Người đầu tiên thấm nhuần đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin bách chiến, bách thắng vận dụng vào Đông Dương. Người thành lập, rèn luyện, tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương, Người đã dồn hết tâm trí và sự quan tâm vun đắp mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt anh em giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Lào- Việt Nam và tình đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng”. Đoàn đại biểu Đại sứ quán Cuba tại Việt Nam khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi lại những dòng cảm tưởng: “Chúng tôi chứng kiến thực tế giản dị, lòng nhân đạo của một nhà thơ vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả tình yêu của Người với thiên nhiên và cuộc sống giản dị mà Người đã yêu, giờ đây con cháu của Người và nhân dân Việt Nam tiếp tục giữ gìn bảo vệ. Chúng tôi xin gửi tới Người với tất cả tấm lòng thành kính của người Cuba”. Và thật cảm động, khi một khách du lịch người Thái Lan đã viết: “Tôi đã đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi đây rất đẹp và trang nghiêm, nó không chỉ dành riêng cho người Việt Nam mà còn là của nhân loại”. Có thể nói, những dòng tình cảm của mỗi người khi đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho dù màu da, tiếng nói có khác nhau, nhưng đều đã dành những tình cảm đặc biệt đối với Người. Tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người mãi mãi là bó đuốc soi đường cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại, vì vậy, cách đây hơn 20 năm, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hoá lớn, Anh hùng giải phóng dân tộc. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng đạo đức tác phong của Người luôn cổ vũ động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là một địa chỉ thiêng liêng, với những giá trị lịch sử, chính trị, văn hóa để giáo dục, hun đúc truyền thống cách mạng cho mọi thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau./.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng
Chủ tịch Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Những cận vệ bên Lăng Bác

Lễ chào cờ hàng ngày trước Lăng Bác

Đúng 6 giờ, trong giai điệu bài Quốc ca hào hùng, lá cờ đỏ sao vàng tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được kéo lên. Hàng ngàn cặp mắt ngước nhìn bầu trời, phía lá cờ tổ quốc đang tung bay. Mười hai phút diễn ra lễ chào cờ, dường như mọi hoạt động nơi Quảng trường Ba Đình đều dừng lại. Dừng lại để cảm nhận giá trị của độc lập tự do, của niềm tự hào dân tộc và để hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tấm lòng thành kính và niềm xúc động. Nghi thức thiêng liêng ấy quen thuộc với người dân Thủ đô Hà Nội đã hơn 6 năm nay. Và hình ảnh những người chiến sĩ bên Lăng cũng gần gũi, thân thương với đồng bào cả nước mỗi khi về thăm Bác. Họ – những chiến sĩ cận vệ giữ yên giấc ngủ cho Người – Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng Tám, nắng như đổ lửa, không gian phía sau Lăng yên ắng, chỉ còn nghe tiếng người hô khẩu lệnh, tiếng súng lách cách, tiếng gót giày đập xuống nền bê tông theo mỗi bước chân… Những chiến sĩ trẻ vai áo ướt đầm mồ hôi, nét trang nghiêm hiện trong từng ánh mắt, trên từng gương mặt, từng cử chỉ. Họ đang luyện tập để ngày đêm giữ yên giấc ngủ cho Bác- một nhiệm vụ vinh dự, thiêng liêng và rất đỗi tự hào.

Dù đã ba mươi hai năm trôi qua nhưng vẫn in sâu trong ký ức của những người chỉ huy Đoàn, trước ngày khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 6 tháng, 150 cán bộ chiến sĩ của Đoàn M44 được lệnh hành quân về một vùng đồi thuộc thị trấn Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ) để luyện tập. Từ một quả đồi, các chiến sĩ dựng nên mô hình giống như Lăng Bác để tập bồng súng đứng nghiêm, đổi gác, rước vòng hoa… Tập ngày chưa đủ, các cán bộ chiến sĩ tập cả đêm. Biết bao giọt mồ hôi đã đổ xuống vùng đồi này. Kết thúc sáu tháng luyện tập, 150 cán bộ, chiến sĩ quay trở lại Hà Nội và Tiểu đoàn H75 (tiền thân Đoàn H75 ngày nay) được thành lập từ đó. Ngày 29/8/1975, lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể tại hội trường Ba Đình, Tiểu đoàn H75 ra quân, khởi đầu cho những ngày đêm canh giữ giấc ngủ cho bác Hồ.

Và hôm nay, trong khuôn viên của Đoàn H75, trên những bậc bê tông tượng trưng cho bậc cầu thang dẫn vào Lăng, các chiến sĩ tiêu binh tập đứng gác, tập đổi gác. Mỗi một ca gác dài 30 phút, nhưng để đứng trang nghiêm được 30 phút ấy, thì tại sân tập này, người chiến sĩ phải đứng được 2 giờ. Có những chiến sĩ đã bị ngã vì cảm nắng trong thời tiết khắc nghiệt của mùa hè, trong wots đầm mồ hôi nơi vai áo. Đôi chân khi mới tập đứng gác tưởng chừng không muốn cử động sau mỗi buổi huấn luyện. Nhưng không nản lòng, không nhụt ý chí, người chiến sĩ kiên cường thách thức cái nắng cháy da mùa hè, cái rét buốt xương đêm đông để hoàn thành nhiệm vụ và giữ vững truyền thống người cận vệ bên Lăng.

Với 4 đội hình: Tiêu binh danh dự, Cảnh vệ đặc biệt, Canh gác vũ trang, Trinh sát đặc nhiệm, Đoàn H75 là một đơn vị chủ chốt của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng ngoài nhiệm vụ canh gác bảo vệ Lăng còn phải thể hiện cho du khách tới viếng Bác thấy được một văn hoá Hồ Chí Minh. Hình ảnh người chiến sĩ với tư thế, tác phong nghiêm trang thành kính cùng sự nhiệt tình, chu đáo văn minh trong đón tiếp đã góp phần tô thắm truyền thống anh “Bộ đội Cụ Hồ”. Và không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu binh canh gác, bảo vệ giấc ngủ cho Bác, người cận vệ còn phải tạo nên một hình ảnh, một nét đẹp, một niềm tin cho nhân dân và khách quốc tế khi tới viếng Bác. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Đoàn H75 luôn đề cao công tác giáo dục ý thức cho mỗi cán bộ chiến sĩ: tuyệt đối trung thành, đặc biệt nghiêm cách trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị chính quy, đoàn kết, tận tuỵ, nhiệt tình, chu đáo…

Có một câu chuyện thường được kể trong mỗi buổi giáo dục truyền thống cho các chiến sĩ của Đoàn, chuyện về một người ngoại quốc tới Lăng viếng Hồ Chủ tịch. Trước lúc ra sây bay về nước, người ngoại quốc đã đặt trước tượng Bác trong Bảo tàng Hồ Chí Minh một bó hoa và cúi đầu. Ông nói: Thưa ngài Hồ Chí Minh, tôi đã đến viếng Ngài. Tôi vô cùng cảm động trước tình yêu mà dân tộc Việt Nam đã dành cho Ngài. Và đặc biệt, tôi khâm phục đạo đức người cận vệ của Ngài… Trong lễ viếng sáng hôm ấy, hai vợ chồng ông đã đánh rơi một túi xách, trong có số tiền lớn cùng toàn bộ giấy tờ, hộ chiếu, vé máy bay. Hạ sĩ Lê Trí Công trong lúc làm nhiệm vụ nhặt được và báo cáo về đơn vị. Khi nhận lại tài sản, ông dường như không tin vào mắt mình và rưng rưng một niềm xúc động. Và gần đây, ngày 24/5/2007, Trung sĩ Nguyễn Hồng, chiến sĩ Đội canh gác vũ trang, khi làm nhiệm vụ ở vọng gác Vườn Trúc cũng nhặt được một túi xách cùng số tiền lớn, ngay sau đó, số tài sản đã được trao lại cho chủ nhân…

Nhân dân Việt Nam luôn sáng mãi một niềm tin nơi Hồ Chủ tịch. Và những chiến sĩ Đoàn H75 đang ngày đêm bên Lăng Bác cũng đã tạo được một niềm tin khi đón tiếp nhân dân về thăm Người. Trong dòng người dài như vô tận vào viếng Bác mỗi ngày, có những cụ già cả cuộc đời chỉ mơ một lần được gặp Bác, và khi đứng trước Bác đã không kìm được tiếng khóc: “Bác ơi”, có những người khuyết tật ngồi trên xe lăn kiên nhẫn chờ từng phút giây để được nhìn thấy Bác. Tất cả đều có bàn tay người cận vệ của Bác Hồ đỡ từng bước đi trong niềm xúc động hay nâng bánh chiếc xe lăn qua những bậc thềm.

Mỗi lần về đứng trên Quảng trường Ba Đình là một lần cảm nhận tình thương bao la của Bác. Tình thương ấy thấm vào từng ngọn cỏ, nhành cây để màu xanh luôn tươi mát, thấm vào lá quốc kỳ để màu đỏ thêm thiêng liêng, thấm vào tâm hồn những người cận vệ đang ngày đêm canh giấc Bác để ta cảm nhận một không khí trang nghiêm, trọng đại, thành kính mỗi khi đặt bàn chân lên Quảng trường Ba Đình.

Gặp những chiến sĩ trẻ mới nhập ngũ hay những chiến sĩ sắp hoàng thành nghĩa vụ ở Đoàn H75, tất cả đều chung một niềm vinh dự, tự hào vì được thay mặt cho tuổi trẻ cả nước làm nhiệm vụ tại Lăng Bác. Những năm tháng rèn luyện phấn đấu ấy sẽ như một dấu son không phai trong cuộc đời người chiến sĩ.

Mỗi sớm mai, mỗi đêm về, bên cạnh Bác đều có những người chiến sĩ. Và những người chiến sĩ cận vệ của Bác Hồ chỉ duy nhất tâm nguyện: Giữ yên giấc ngủ cho Người.

Phạm Long Hà

bqllang.gov.vn

Giới thiệu sách “Bên Lăng Bác Hồ”

Nhân dịp kỷ niệm 32 năm Ngày truyền thống của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/8/1975 – 29/8/2007), Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà Xuất bản Quân đội xuất bản cuốn sách “Bên Lăng Bác Hồ”.

Trải qua 38 năm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và 32 năm xây dựng, trưởng thành, lớp lớp cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn “Trung hiếu vẹn toàn, đoàn kết hiệp đồng, tự lực tự cường, chủ động sáng tạo” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; giữ gìn lâu dài và bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Bác, những nét đặc trưng của Người lúc sinh thời được giữ gìn nguyên vẹn.

Để giúp bạn đọc hiểu thêm về sự nghiệp giữ gìn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng của Người, chúng tôi lần lượt giới thiệu các bài viết trong cuốn sách “Bên Lăng Bác Hồ” của cán bộ, chuyên gia Nga, phóng viên, nhạc sĩ; thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng biết ơn sâu sắc của Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người trực tiếp được làm nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác và công trình Lăng của Người kính dâng lên Đảng, Bác Hồ muôn vàn kính yêu, là món quà tinh thần gửi tới đồng bào, đồng chí cả nước.

Cuốn sách gồm lời nói đầu, 24 bài viết và 4 bài hát.

Ban Biên tập

bqllang.gov.vn

Lời nói đầu
Thay cho lời cám ơn
Một ngày và mãi mãi
Về công việc giữ gìn Thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam
Ngày đầu giữ gìn thi hài Bác ở “75A”
Nơi Bác Hồ yên nghỉ trong những năm tháng chiến tranh
Tổ Kỹ thuật trên Công trình K9
Kỷ niệm của những người phục vụ Bác ở Đá chông
Đi Liên Xô tham gia thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đón những chuyến hàng đặc biệt
Kỷ niệm về Trường “C 100”
Màu áo của Bác
Những thông số nóng … lạnh
Đêm cuối thu
Xứng đáng là “người cán bộ của cán bộ”
Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong những năm 1981-1989
Người dẫn đầu cuộc hành quân rèn luyện
Nhớ về ban “quản lý xây dựng công trình cơ bản”
Bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa ta và Bạn
Một quyết nghị của ý chí độc lập tự chủ
Nắm vững thời cơ, vững vàng đi lên trong khó khăn
Kỷ niệm về một chuyến đi công tác
Những giây phút thiêng liêng bên Người
Một lần giao lưu trực tuyến
Tháng năm mãi mãi bên Người

120thAnniversary

Tháng năm mãi mãi bên Người

Năm 1975, sau chiến thắng 30-4, công trình xây dựng Lăng Bác Hồ đã hoàn thành thực sự là một sự kiện lớn làm nức lòng quân dân cả nước. Giờ đây, chúng ta đã biết công việc bảo vệ thi hài Bác trong những năm chiến tranh khốc liệt từ ngày Bác mất đến ngày đón Bác về Lăng. Trong 6 năm (1969-1975) đằng đẵng lo âu ấy, thi hài Bác đã 5 lần phải di chuyển để tránh địch hoạ, thiên tai. Mỗi lần di chuyển thi hài Bác trọn vẹn an toàn là một chiến công lớn của những cán bộ, chiến sĩ Đoàn 69 – Đơn vị tiền thân của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ đã được Đảng và nhân dân tin yêu giao cho gìn giữ tài sản tinh thần vô giá của dân tộc. Nhưng đây là công việc đặc biệt, tuyệt mật. Vì thế trong muôn nỗi lo toan của quân và dân ta ngày ấy có một nỗi lo canh cánh mà không ai dám hỏi, dám nói ra rằng: Bác đang ở đâu, thi hài của Người liệu có được bảo vệ chu toàn cho đến ngày đất nước toàn thắng?.

Năm 1972, Sư đoàn 308 chúng tôi đang chiến đấu tại Quảng Trị. Đến cuối năm đế quốc Mỹ vẫn trì hoãn ký hiệp định Pa-ri nhằm leo thang chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc. Tin Mỹ dùng máy bay B52 ném bom xuống Thủ đô Hà Nội làm cho chúng tôi hết sức lo lắng, bồn chồn. Sau buổi nắm tình hình tư tưởng bộ đội của sư đoàn hôm ấy, chúng tôi đã ghi nhận nhiều tâm tư của cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị, trong đó rất nhiều người băn khoăn về việc bảo vệ thi hài Bác trong trận quyết chiến cuối cùng này. Tháng 5 năm 1975 vào Sài Gòn vừa được giải phóng, tôi đến Đại học xá Minh Mạng gặp gỡ nói chuyện với các em sinh viên, nhiều em sinh viên băn khoăn hỏi tôi: “ Thi hài Bác Hồ có được giữ gìn tốt không anh? Bao giờ thì công trình Lăng Bác khánh thành?”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Việc này các em mới biết hay đã biết từ trước ngày giải phóng Sài Gòn?”.

Một nữ sinh viên nhanh nhẹn trả lời: “Bọn em biết từ lâu rồi. Chúng em thường xuyên nghe trộm đài Hà Nội. Chúng em mong đến ngày Lăng Bác hoàn thành để được ra Hà Nội gặp Bác”. Tôi càng hiểu thêm tình cảm sâu nặng của thanh niên, học sinh miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu.

Cuối cùng thì ngày cả nước mong đợi cũng đã đến. Ngày 29 tháng 8 năm 1975, công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh khánh thành, Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến có thêm một công trình văn hoá lớn nằm liền kề biểu tượng của Việt Nam, của Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội: Chùa Một Cột độc đáo được xây dựng từ thời Lý vào lúc đạo Phật hưng thịnh nhất. Trước cửa Lăng Bác Hồ xuất hiện một cảnh tượng chưa bao giờ người dân Việt Nam được chứng kiến trên đất nước ta- Những kíp tiêu binh lễ phục trang nghiêm, đẹp cả trong tư thế đứng nghiêm và trong từng bước đi, nhịp quay khi đổi gác. Hai chiến sĩ Nông Văn Thành và Nguyễn Văn Ri được vinh dự đứng tiêu binh trước Lăng Bác trong ngày khánh thành. Họ đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, tay nắm chắc thân súng, không một cử động nhỏ. Trước mắt các anh là những dòng người bước đi nhẹ nhàng như một dòng chảy bất tận vào Lăng.

Đã nhiều lần tôi được vào Lăng viếng Bác hoặc có việc đi qua khu vực Lăng Bác. Dù được gặp Bác hay chỉ đi ngang qua Lăng cứ bắt gặp thảm cỏ Ba Đình xanh mát mắt, trong tim tôi lại nhớ đến bài thơ phổ nhạc của Viễn Phương:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng
Thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ
Từng dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”.

Đã có hàng trăm tác phẩm thi ca viết về Người, bài ca nào cũng bắt nguồn từ xúc cảm sâu xa của các nghệ sĩ đã may mắn được gặp Bác hoặc chưa có dịp để có được niềm hạnh phúc lớn ấy. Nhưng đến nơi yên nghỉ của Người, như một phản xạ tự nhiên, tôi cứ nhớ ngay những câu thơ trên, vì hình tượng thơ của Viễn Phương luôn diễn ra hàng ngày trước mắt tôi: những dòng người với sắc áo muôn màu chuyển động, uốn quanh, như một tràng hoa, như một đoá hoa đang bừng nở. Từ ngày đầu tiên đến hôm nay vẫn thế.

Ngay sau ngày Bác Hồ qua đời, mặc dù trong lúc đất nước còn đắm chìm trong mịt mù khói lửa chiến tranh, nhưng việc xây dựng Lăng Bác đã trở thành nguyện vọng thiết tha của toàn dân, toàn quân ta. Đồng bào và chiến sĩ cả nước đều mong muốn có một nơi an nghỉ cuối cùng của Bác để thể hiện phần nào công lao và sự nghiệp vĩ đại của Người, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau có điều kiện tới viếng Bác và nguyện đi tiếp con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Tổ quốc ta lúc đó còn bị chia cắt làm hai miền. Miền Nam đi trước về sau, lúc sinh thời Người nhớ thương da diết. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, có một ước ao lớn nhất chưa thực hiện được là trở lại Sài Gòn, gặp lại miền Nam yêu dấu. Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim của Bác và Bác cũng luôn có trong trái tim mỗi người dân miền Nam. Năm 1966, khi tiếp một nhà báo Cuba, Bác đã đặt một bàn tay lên ngực mình nói rằng: “Nhân dân miền Nam, mỗi nhà, mỗi người có một nỗi đau riêng, đem cộng lại tất cả những nỗi đau đó lại là nỗi đau của tôi”. Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Bác nhiều lần đề nghị Bộ Chính trị bố trí cho Bác vào thăm hỏi, động viên quân dân ta ngay tại chiến trường miền Nam. Nhưng nhận thấy sức khoẻ của Bác không đảm bảo, nên Bộ Chính trị đã tìm mọi cách trì hoãn chuyến đi ấy. Vào mùa xuân năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ trước khi vào miền Nam công tác đã đến chào Bác. Bác lại tha thiết đề nghị Bộ Chính trị được đi thăm miền Nam. Đồng chí Lê Đức Thọ lại phải khéo léo từ chối nói rằng: Bác chỉ có thể đi đường hàng không qua Phnôm Pênh. Như vậy phải làm hộ chiếu và người ta dễ dàng nhận ra Bác vì Bác có râu. Bác bảo: “Thì cạo râu đi”. Đồng chí Lê Đức Thọ thưa: “Bác cạo râu đi thì đồng bào miền Nam không còn nhận ra Bác nữa”. Nghe vậy, Bác ngồi yên rất buồn. Lúc chia tay, Bác đã ôm lấy đồng chí Lê Đức Thọ và Người không kìm được nước mắt. Hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 1911 trên con tàu buôn mang tên “Đô Đốc La-tut-sơ Tơ-rê-vi-lơ” rời bến Nhà Rồng. Người đã đi khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ La tinh làm nên sự nghiệp lớn “chấn động địa cầu” – là người khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Có ai ngờ lần tạm xa ấy cũng là lần Bác vĩnh biệt Sài Gòn, vĩnh biệt miền Nam yêu thương.

Quyết định của Bộ Chính trị giữ gìn nguyên vẹn và lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây Lăng lúc đó thực sự là nguồn cổ vũ lớn đối với đồng bào miền Nam, đối với quân dân cả nước, biến đau thương thành sức mạnh, quyết “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giành toàn thắng để sớm được về Lăng gặp Bác. Những gì diễn ra bên Lăng Bác Hồ trong những năm qua đã chứng minh quyết định giữ gìn nguyên vẹn lâu dài thi hài Bác và xây dựng Lăng là đúng ý Đảng, hợp lòng dân, phù hợp với truyền thống đạo lý nhân nghĩa, uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Tính đến hết tháng 12 năm 2006 đã có 32.750.170 lượt người vào Lăng viếng Bác, trong đó khách nước ngoài có 3.573.309 người thuộc 132 nước và 68 tổ chức quốc tế. Công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu quan trọng, điều kiện đi lại của nhân dân thuận tiện, giao lưu quốc tế phát triển đã làm cho lượng khách trong nước và nước ngoài đến Lăng thăm viếng Bác mấy năm gần đây tăng lên không ngừng. Vào những ngày này, trung bình có từ 50 đến 70 đoàn khách quốc tế cùng hàng ngàn đồng bào ta, đủ các lứa tuổi từ khắp mọi miền đất nước ngày ngày lặng lẽ, thành kính xếp hàng dài vào Lăng viếng Bác. Thủ đô Hà Nội có cả ngàn năm lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh. Nhưng không có danh thắng nào lại có được sức hấp dẫn như khu vực Lăng Bác. Nhiều cụ già ở các miền quê xa chưa một lần đặt chân đến Thủ đô đã nói với con cháu: “Ước gì ra Hà Nội để được vào Lăng viếng Bác”. Với khách nước ngoài thì nhiều người chung một ý kiến: Chưa đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thì coi như chưa đến Hà Nội. Ngay cả những ngày Lăng không mở cửa trong tuần theo thường lệ (thứ hai và thứ sáu) bà con ta, các cháu thiếu nhi, du khách nước ngoài cũng vẫn đi lại tấp nập trên những con đường trong khu vực Lăng Bác để hít thở không khí trong lành, ngắm cảnh quan, ghi hình chụp ảnh lưu niệm.

Những cuốn sổ vàng mà Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu giữ xếp thành một chồng cao ngất đã lưu lại những cảm nghĩ chân thành sâu lắng của đồng bào, đồng chí, của nhân dân các dân tộc ở khắp mọi miền đất nước, của bè bạn trên khắp các lục địa với đủ các ngôn ngữ gốc Sla-vơ, La tinh, tượng hình, Phạn…

Đoàn đại biểu quận 1, thành phố Hồ Chí Minh viết: “Vô cùng xúc động được vào Lăng viếng Bác, Bác mãi mãi sống trong trái tim đồng bào Nam Bộ, lời ấy đời đời giữ mãi trong lòng của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh … Nhớ thương Bác vô cùng. Nguyện học tập và sống theo gương Bác”.

Đoàn đại biểu Ê-ti-ô-pi-a viết: “Đến thăm Lăng Bác Hồ, chúng tôi có một ấn tượng sâu sắc: Bác Hồ không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà Người còn là niềm hy vọng của các dân tộc châu Phi cũng như những dân tộc khác đang đấu tranh quét sạch chủ nghĩa đế quốc ra khỏi Tổ quốc mình…”.

Đoàn đại biểu phụ nữ Mỹ viết: “Chúng tôi yêu mến đất nước Việt Nam vì ở Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc đời của Người là một biểu tượng hoà bình đầy đủ nhất… Chúng tôi coi lãnh tụ Hồ Chí Minh như lãnh tụ của nhân dân tiến bộ Mỹ”.

Bà A-sa-la-li, Chủ tịch Liên đoàn phụ nữ Ấn Độ viết: “Tôi xin nghiêng mình tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người châu Á vĩ đại, một con người thật sự vĩ đại, người tiên phong của tất cả các dân tộc bị áp bức. Lời nói bất hủ của Người về tự do là món quà quý giá nhất mà loài người phải giữ lấy…”.

Những dòng cảm tưởng của hàng triệu người đã đến Lăng viếng Bác tập hợp lại có thể in thành nhiều pho sách. Nhưng đấy mới chỉ là một phần nhỏ bé so với tình cảm bao la nồng thắm đối với Bác bất kể thời gian và những biến động của lịch sử.

Có lần, tôi được gặp đoàn các Bà mẹ Anh hùng từ vùng đất Mũi Cà Mau vào Lăng viếng Bác. Các mẹ đều đã ở tuổi trên dưới 70, lại đi bằng ô tô. Tuổi trung niên như tôi, nghĩ đến một chuyến đi xuyên Việt bằng ô tô đã thấy ngại, thế mà các mẹ lại không thích ngồi máy bay. Tôi hỏi nguyên do, thì một mẹ giải thích: “Đi ô tô để tham quan đất nước, để việc hành hương về thăm Bác có thêm nhiều ý nghĩa”.

Người cao tuổi nhất trong đoàn là mẹ Nguyễn Thị Thanh, đã 73 tuổi. Cả ba người con trai của mẹ đều đã hy sinh trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Những mất mát quá lớn lao đã làm cho mẹ già hơn nhiều so với tuổi tác. Mẹ cao gầy, gương mặt hốc hác, tóc sương, da mồi. Mới chỉ thoáng nghe câu hỏi của tôi: “Cảm xúc của mẹ như thế nào khi vào Lăng viếng Bác”, ánh mắt già nua của mẹ bỗng mờ đi, nước mắt từ từ lăn trên đôi gò má nhăn nheo đen sạm. Một lát sau mẹ mới thốt lên được mấy lời: “Buồn lắm, cảm động lắm… ước chi những ngày này Bác còn sống để chứng kiến cảnh nước nhà thống nhất, để Bác vào thăm bà con miền Nam, bà con đất Mũi”. Mẹ Thanh chỉ nói được có vậy. Những câu hỏi tiếp theo của tôi chỉ được mẹ trả lời bằng hai hàng nước mắt của một người mẹ đã khô héo vì khổ đau, tưởng như không bao giờ còn có thể khóc được nữa. Nhìn mẹ Thanh khóc, sống mũi tôi bỗng thấy cay cay dẫu trước đó tôi đã được nghe các anh, chị trong Ban Đón tiếp kể lại nhiều mẩu chuyện về tình cảm của đồng bào miền Nam với Bác.

Đúng như đàn con hiếu thảo khi cha mất đã không có mặt chịu tang, các đoàn miền Nam ra thăm Bác những ngày đầu Lăng Bác mới mở cửa đón khách có nhiều chuyện thật cảm động. Mới bước vào phòng tiếp đón nhiều người đã khóc sụt sùi. Đến khi vào Lăng mong được một lần trông thấy Bác thì mắt nhoè lệ, xúc động cứ dâng trào không thể kìm nén cho đến tận lúc rời Lăng. Thế là từ miền Nam xa xôi ra Hà Nội gặp Bác, đứng bên Bác mà không nhìn rõ được gương mặt cha già.

Chị cán bộ Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau, có nhiệm vụ dẫn đoàn các mẹ đi viếng Bác tâm sự với tôi: Nhận nhiệm vụ này em vừa vui vừa lo. Vui vì đây là lần đầu tiên em được ra Thủ đô, được vào Lăng viếng Bác. Lo vì các mẹ tuổi đã cao, đường đất lại xa xôi thế có chuyện gì xảy ra ở giữa đường nơi đèo cao, đồng vắng thì thật rầy to. Nhưng may quá trừ một sự cố ở thành phố Hồ Chí Minh, còn lại càng đến gần Hà Nội, các mẹ lại càng khoẻ ra. Chính em có lúc cũng rất mệt lại được các mẹ xúm vào động viên: “Cố ăn cho nhiều để khi ra đến Hà Nội khoẻ mạnh, má con chúng mình vô Lăng viếng Bác ngay”. Trong lúc nói chuyện với tôi ánh mắt chị trưởng đoàn long lanh vui và còn ẩn chứa một điều kỳ lạ gì đó mà chị chưa hiểu hết đã làm cho các mẹ anh hùng của Cà Mau đến được Hà Nội bình an, mạnh khoẻ.

Những người dân từ khắp mọi miền đến đây mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, trăm người trăm số phận, mỗi người có cách thể hiện riêng nhưng có một nét chung là tất cả đều mang trong lòng tình cảm đối với Bác rất sâu xa, thánh thiện mà dân dã. Xin dẫn ra một vài thí dụ: Bà Nguyễn Thị Lan ở thành phố Hải Phòng từ nhiều năm nay năm nào bà cũng đến viếng Bác ba lần vào dịp: Tết âm lịch, ngày sinh Bác 19-5, ngày Quốc khánh cũng là ngày Bác mất 2-9. Bà đã trở thành người thân của tập thể cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ, đón tiếp đồng bào trong nước và khách quốc tế vào Lăng viếng Bác. Con cháu, dòng họ của bà Lan cũng thường xuyên vào viếng Bác. Có lần đoàn con, cháu, họ hàng của bà Lan vào viếng Bác đông tới 50 người, ngồi chật cả một phòng khách lớn. Bà Lan là người có tính cách khác lạ. Có lần bà nói: “Tôi không có thì giờ để đến các chùa chiền. Đi chùa là để lễ thánh cầu phúc. Bác Hồ anh minh là bậc thánh từ lúc còn sống, không chỉ dân ta, mà khắp bàn dân thiên hạ đều biết, nên tôi thấy chỉ đến viếng, đến lễ Bác là đủ phúc đức cho con cháu rồi. Đấy là ý nghĩ của riêng tôi. Tôi nghĩ thế nào cứ nói ra đúng như thế”.

Cụ Đỗ Viết Ân ở Thái Bình cũng là một lữ khách để lại cho cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng nhiều ấn tượng đặc biệt. Không chỉ ở khu vực Lăng, ở nhà khách 37 Hùng Vương, mà ở chùa Quán Sứ, nhiều người cũng biết cụ, giúp đỡ, phục vụ cụ rất tận tình. Cụ Ân đã hơn trăm tuổi nên được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình dành cho chế độ ưu đãi đặc biệt. Cụ Ân có thẻ đi tàu xe không mất tiền. Lên Hà Nội viếng Bác khi thì cụ vào ăn nghỉ tại nhà khách 37 Hùng Vương (tất nhiên cũng không mất tiền), lúc thì ra “ăn mày” cửa phật ở chùa Quán Sứ. Dù nghỉ ngơi ở chỗ nào từ năm 1990 trở về trước cứ sáng ngày 3 tháng 9 là cụ có mặt ở Ban Đón tiếp để vào Lăng viếng Bác. Đã thành lệ từ chiều mồng 2, mấy anh chị em trong Ban Đón tiếp đã nhắc nhở nhau: “Nhớ sáng ngày mai đón cụ Ân vào Lăng viếng Bác”.

Cùng với năm tháng, những dòng người ngày nối ngày lặng lẽ vào Lăng viếng Bác để soi vào tấm gương trong sáng của Bác, để nâng cao lòng tin, xoá những ưu tư, xác nhận những chân giá trị cuộc sống trước bão tố cuộc đời, để yêu cái Người đã từng yêu, để được bồi đắp thêm sinh lực đi tiếp con đường Người đã đi suốt cả cuộc đời. Cùng với hoạt động lớn đó, Lăng Bác còn là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt chính trị phong phú. Nhiều đơn vị tân binh trước ngày lên đường, lễ kết nạp đoàn viên, đảng viên, nhiều đoàn đại biểu của nhiều cơ quan, xí nghiệp, những tài năng trẻ dâng lên Bác kính yêu những thành tích trong lao động, học tập, công tác đã sôi nổi diễn ra thường xuyên bên Lăng Người. Ngọn lửa thiêng từ nơi đây được chuyển đi thắp sáng tinh thần thượng võ ở các đại hội thể thao toàn quốc, ở các địa phương. Nhiều đôi trai gái khi làm lễ thành hôn cũng đến trước Lăng bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Người. Trong những đôi trai gái đến đây dâng hoa lên Người trong ngày lễ thành hôn, có một chú rể mà cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng hay nhắc đến đó là Thượng uý Phạm Minh Thanh thuộc Đoàn M25 Bộ đội Hải quân. Anh Thanh là một người lính thường xuyên gắn bó với những hòn đảo xa xôi nhất của Tổ quốc. Từ Trường Sa, Thanh được nghỉ ít ngày để tổ chức lễ cưới. Ngày giờ tiến hành hôn lễ đã được đôi bên gia đình hai họ quyết định. Nhưng vào ngày đó, Lăng Bác lại không mở cửa đón khách theo quy định thường lệ. Cô dâu, chú rể và cả hai gia đình coi dâng hoa tưởng niệm Bác là một việc làm có ý nghĩa lớn và hệ trọng phải thực hiện bằng được và ngày cưới của họ đã lùi lại rất tự nguyện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, là người bạn lớn của nhân dân thế giới. Hoà cùng hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt Nam ngày ngày vào Lăng viếng Bác luôn có những đoàn khách nước ngoài đến Việt Nam, đến với Bác từ khắp các quốc gia. Các đồng chí trong Ban Đón tiếp tại Lăng là người thường xuyên tiếp xúc với khách quốc tế, đã kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện thể hiện tấm lòng của bè bạn bốn phương từ các nguyên thủ quốc gia đến những khách du lịch dành cho Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Cách đây mấy năm, có một đoàn rất đông cựu chiến binh Pháp vào Lăng viếng Bác. Hôm ấy là ngày lễ, nên đồng bào ta và khách nước ngoài đến viếng Bác lên đến hơn 30 ngàn người. Dưới nắng hè gay gắt phải chờ đợi hàng tiếng đồng hồ, một vài người trong đoàn tỏ vẻ bực bội khó chịu. Nhưng trong đoàn cựu chiến binh Pháp nhiều người lại biểu lộ thái độ rất trầm tĩnh kiên nhẫn. Nghe cán bộ ta giải thích, xin lỗi vì sự chậm trễ, có vị cựu chiến binh vội vàng xua tay nói:

– Các ông không có lỗi, không có lỗi. Đứng đây chờ đợi phải chịu nắng nóng, cái nắng Việt Nam đáng sợ thật, nhưng tôi lại có thêm được một thu hoạch bằng trực giác của mình. Nhìn dòng người Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi mới thật hiểu sự ngưỡng mộ của dân tộc ông đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh cao tới mức nào.

Tổng thống Cộng hoà Áo Thô-mát Kle-xtin vào Lăng viếng Bác, nhìn thấy nhân dân ta đủ các lứa tuổi trẻ già, gái trai đến viếng lãnh tụ vĩ đại của mình, ông rất xúc động. Tổng thống đã đề nghị đồng chí phụ trách Lăng được ra bắt tay những người dân Việt Nam tình cờ gặp gỡ bên Lăng Bác. Dòng lưu bút nào có thể ghi lại được tình cảm của vị nguyên thủ quốc gia này với Chủ tịch Hồ Chí Minh chính xác và đầy đủ hơn thế.

Những người khách từ hơn một trăm quốc gia đến viếng Bác không phải do sự hiếu kỳ hay cử chỉ xã giao. Những người khách phương xa đến đây trước đó đều ít nhiều đã biết đến Bác, đã hiểu tiểu sử và sự nghiệp của Người. Sự hiểu biết về Người có mức độ khác nhau, nhưng tất cả những người đã qua đây đều biểu lộ sự kính trọng sâu sắc đối với Bác bằng thái độ, cử chỉ, lời nói và những dòng cảm tưởng với nhiều cách diễn đạt khác nhau. Có lời nói, ý tứ của những người nước ngoài quốc tịch khác nhau, thời điểm vào Lăng viếng Bác của họ cách nhau đến 2 năm nhưng lại giống nhau. Đó là trường hợp một nhà báo Đức và một cán bộ phụ nữ của Ba Lan. Hai vị khách này không dùng từ viếng mà dùng từ thăm. Họ lập luận: viếng là đến với những người đã chết, thăm là đến với người còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân đáng xếp vào hàng bất tử của nhân loại. Đồng chí hướng dẫn viên của ta nói thêm: Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, ngày làm việc của Người rất căng thẳng. Khi tuổi đã cao, sức khoẻ giảm sút, giữa hai cuộc tiếp khách Người thường để nguyên quần áo nằm nghỉ mươi phút. Tư thế của Người, trang phục của Người hiện ở trong Lăng là phỏng theo những giây lát nghỉ ngơi của Người. Đối với chúng tôi, Người sống mãi, Người đang nằm nghỉ chốc lát. Nghe vậy, vị khách Đức và vị khách Ba Lan ở hai thời điểm khác nhau đều bật lên một câu nói giống nhau: “Các ông rất thông minh, rất xứng đáng là con cháu Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Để có được lời khen ngợi của nhân dân và bầu bạn quốc tế, kể từ khi Bác đi xa, từ ngày Lăng Bác mở cửa đón khách, cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Lăng, những người có hạnh phúc lớn suốt tháng năm luôn được gần gũi bên Người đã coi nhiệm vụ giữ gìn thi hài Bác, bảo vệ Lăng, đón tiếp đồng bào đến viếng Bác là một nhiệm vụ vinh quang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao cho. Họ đã đem hết sức mình với tinh thần tự nguyện cao nhất, tổ chức thực hiện nghiêm cách chuẩn xác, công phu tỉ mỉ công việc giữ gìn thi hài Bác. Coi đó là tài sản tinh thần dân tộc vô giá của hôm nay và của muôn đời con cháu.

Bút ký của Đại tá Nguyễn Việt Sơn – Báo Quân đội nhân dân

bqllang.gov.vn