Thư viện

Mùa xuân và Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng

Cách đây 53 năm ngày 6-1-1960 Bác Hồ kêu gọi toàn dân hưởng ứng tháng trồng cây, gọi là: “Tết trồng cây” và Tết xuân Canh Tý năm ấy, Bác Hồ trồng cây đa đầu tiên tại công viên hồ Bảy Mẫu thủ đô Hà Nội (nay là Công viên Thống Nhất).

Mùa xuân và Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng

Trong ngày xuân nắng đẹp lúc nhân dân Hà Nội đang cuốc, xẻng đào, xúc hố trồng cây thì Bác Hồ đến. Người nhanh nhẹn cầm xẻng xúc đất vun cho cây đa nhỏ, xinh, vừa đặt xuống hố. Trồng cây xong, Bác lại vui vẻ nói chuyện về lợi ích của việc trồng cây với nhân dân Hà Nội. Bác nói: “Ta lao động ở đây là làm cho con cháu ta. Mấy trăm năm trước nơi này còn là bãi rác, trồng cây nay mai lên xanh, ngày nghỉ các cô các chú dẫn con cái ra hóng mát, xem hoa vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô các chú. Chúng ta phải trông nom, bảo vệ cây cho tốt. Bác sẽ gửi phần thưởng cho đơn vị nào thi đua khá nhất”.

Hơn năm mươi năm kể từ Tết trồng cây năm ấy, những cây đa được Bác trồng vào mỗi độ xuân về, Tết đến đã vươn lá cành sum suê, bóng mát che cho đời, công viên hồ Bảy Mẫu bây giờ được đổi tên là công viên Thống Nhất, nơi này có tượng đài Bác Hồ, Bác Tôn. Những năm qua, lời dạy của Người đã thấm sâu, Tết trồng cây trở thành một mỹ tục của cả nước. Trong lời kêu gọi Tết trồng cây Bác đã viết: “Chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây, việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Đó là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các cháu nhi đồng đều có thể tham gia. Qua một năm cả nước thực hiện Tết trồng cây, đồng bào đã tích cực hưởng ứng. Bác lại viết: “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu”. Bác lại viết, Bác nêu nguyên tắc: “Phải nắm đúng nguyên tắc, xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây. 52 năm qua, thực hiện Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng, hàng triệu triệu cây xanh đã được trồng lên xanh tốt, hàng triệu héc ta đất trống đã dược phủ xanh:

“Từ bản xa đến làng gần
Đâu đâu cũng mọc bạt ngàn rừng xanh”

Tết Tân Sửu năm 1961, Bác Hồ về thăm lại Pắc Bó. Bên bờ suối Bác đã trồng một khóm trúc làm kỷ niệm. Bác đã dự mít tinh của nhân dân Hà Quảng tổ chức bên bờ suối và xúc động đọc bài thơ:

“Hai mươi năm trước ở nơi này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ta chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Các Tết trồng cây Quý Thân (1963), Tết trồng cây Giáp Dậu (1964) Bác Hồ lại có những bài viết đăng trên báo Nhân Dân về nhận xét hiệu quả, lợi ích của phong trào Tết trồng cây. Mùa xuân cuối cùng của cuộc dời (xuân Kỷ Dậu) năm 1969, Bác đã về trồng cây tại đồi Vật Lại Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Buổi trưa nắng xuân vàng lấp lánh, dưới bóng cây đồi Yên Bồ Vật Lại bữa cơm sáng mồng một Tết của Bác Hồ đã diễn ra. Tham dự bữa cơm đầm ấm Tết có đồng chí Nguyễn Lương Bằng và ba đồng chí của tỉnh. Bữa cơm thật gọn nhẹ, tinh tế nhưng rất đủ hương vị Tết. Cũng có bánh chưng xanh, giò lụa, thịt đông, dưa hành, súp nóng đựng trong phích nóng. Sau đó, Bác thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương. Bác nói: Các cụ thì biết chuyện cũ, chuyện mới nhưng các cháu ngày nay chỉ biết chế độ dân chủ cộng hoà. Đất nước bây giờ là của ta nên cần phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi.

Đã 52 mùa xuân trôi qua, kể từ ngày Bác Hồ khởi xướng “Tết trồng cây” và trồng cây đa đầu tiên, những cây do Bác Hồ trồng đã cao to, cành lá sum suê bóng mát cho đời. Trông cây lại nhớ đến Người, những cây đa, khóm trúc Bác trồng còn trường tồn mãi với non sông đất nước: nhắc nhở chúng ta bảo vệ môi trường sinh thái. Đón xuân Nhâm Thìn 2012, chúng ta ghi nhớ lời dạy ân cần của Bác Hồ:

“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

BÙI VŨ LIÊM

Theo Báo Hải Dương
kienthuc.net

Nhớ Bác những mùa xuân

Ảnh tư liệu

Ảnh tư liệu

Năm 1911, từ bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lên đường “tìm hình của nước” (thơ Chế Lan Viên). Như một sự tình cờ của thời gian và cũng là tất yếu của lịch sử: Mùa xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Từ đó, Đảng và Bác lãnh đạo dân ta giành lại mùa xuân cho đất nước.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác đón không dưới ba mươi mùa xuân nơi đất khách quê người, trong đó có cả những mùa xuân phải sống trong cảnh lao tù. Bôn ba khắp bốn biển, năm châu, một ngày xuân 1941, Người đặt chân lên Pắc Bó (Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam:

Bác đã về đây, Tổ quốc ơi !
Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi.
     (Tố Hữu)

Cũng từ đó, mỗi khi mùa xuân về, Bác thường có thơ chúc Tết đồng bào chiến sĩ. Thơ chúc Tết của Người đều là những vần thơ giản dị, mà súc tích; thể hiện nhãn quan của một lãnh tụ thiên tài. Thơ xuân của Người còn là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân ta. Một tư liệu cho biết trong cuộc đời hoạt động Bác đã viết 19 bài thơ chúc Tết. Về nước năm 1941, năm 1942 Bác đã có thơ xuân:

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ngày càng tiến tới!

Năm 1947, Bác đọc thơ chúc Tết trong tiếng súng kháng chiến chống thực dân Pháp đã rền vang từ ngày 19-12-1946. Lời thơ như lời hịch âm vang sông núi:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
(…)

Bác đọc thơ chúc Tết trong phòng ghi âm của Đài Tiếng nói Việt Nam, lúc này sơ tán tại chùa Trầm (Hà Tây). Trong dịp đặc biệt này, nhà sư trụ trì đã phấn khởi xin Người “cho chữ” đầu xuân. Bác đã viết tám chữ Hán lớn:

“Kháng Chiến Tất Thắng
Kiến Quốc Tất Thành”

Trong những ngày xuân, Bác về thăm những bản làng, cơ quan, hợp tác xã, công nông trường xí nghiệp…; dành tình cảm bao la đối với các cháu thiếu niên nhi đồng, người dân lao động… Tết năm 1946, Tết Độc lập đầu tiên, Bác đi thăm một gia đình nghèo ở nội thành Hà Nội. Bác vào nhà không báo trước. Ngày Tết mà gia đình chẳng có gì là mừng xuân. Tối 30 vợ chồng chủ nhà còn đi gánh nước thuê. Chị vợ quá xúc động, đứng sững, làm rơi đôi thùng nước đang gánh trên vai. Chắc nghĩ thân phận mình đâu có được niềm vinh hạnh lớn lao, chị nghẹn ngào thật thà nói trong tiếng nấc: “Không ngờ Bác đến thăm gia đình cháu”. Vị Chủ tịch nước ôm lấy đôi vợ chồng giọng cũng nghẹn lại: “Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”.

Bác còn dành những ngày xuân ý nghĩa để cảm ơn những người đã cưu mang mình. Năm 1931, Bác bị bắt ở Hồng Kông. Luật sư người Anh Lô- dơ- bai cảm mến trước hoạt động yêu nước của Nguyễn Ái Quốc ra sức bào chữa cho Bác thoát khỏi nhà tù đế quốc. Tết Canh Tý 1960, Bác đã mời gia đình luật sư sang thăm để cảm ơn. Bác ra tận sân bay Gia Lâm đón ân nhân của mình. Hai người ôm hôn nhau thắm thiết, bồi hồi sau 30 năm mới gặp lại. Bác mời gia đình luật sư đi thăm nhiều nơi . Khi đến nơi ở và làm việc của Người, các vị khách rất ngạc nhiên vì sao vị Chủ tịch của một nước lại sống và làm việc ở một nơi bình dị như thế! Khi được người phiên dịch trả lời câu hỏi về gia đình riêng của Bác, bà vợ luật sư đã rưng rưng nước mắt: “Hồ Chủ tịch là con người hiếm có, Người đã hy sinh tất cả cho dân, cho nước”. Còn ông Lô – dơ – bai thì nói: “Tôi tin Việt Nam sẽ có một vị trí đặc biệt trên thế giới với nhà lãnh tụ tài ba Hồ Chí Minh”.

Có lẽ cũng ít người biết đến việc chính Bác Hồ đã cho cử nông dân miền Bắc sang Quảng Đông (Trung Quốc) học làm vụ lúa xuân. Hồi đó, miền Bắc chỉ có 2 vụ lúa “chiêm khê, mùa thối”, nhưng không phải nơi nào cũng làm được 2 vụ. Tháng 7 năm 1962, Bác thăm hợp tác xã Đại Xuân, huyện Ninh Giang (Hải Dương). Năm sau, theo yêu cầu của Bác, 27 nông dân sang Trung Quốc học cách làm ăn; trong đó có 4 nông dân hợp tác xã Đại Xuân, do ông Nguyễn Bít, Chủ nhiệm hợp tác xã Đại Xuân làm nhóm trưởng học sản xuất vụ lúa xuân. Sau 7 tháng “vừa học vừa làm”, nhóm ông Bít về nước và trồng thí nghiệm thành công lúa xuân. Nghe tin, Bác cho mời ông Nguyễn Bít về Hà Nội hỏi thêm tình hình. Bác hỏi:

– Nước ta cấy được lúa xuân không? Cấy lúa xuân cần những điều kiện gì?

Ông Bít tin tưởng:

– Thưa Bác, nước ta hoàn toàn có thể cấy được lúa xuân. Nơi nào chủ động được nước và phân thì cấy được lúa xuân.

Bác đã chỉ đạo nhân rộng sản xuất lúa vụ xuân. Năm 1967 Đại Xuân đạt năng suất 7,6 tấn/ha. Tháng 2-1968, trong lúc bà con xã viên Đại Xuân đang vui đón xuân thì càng vui hơn khi được Bác Hồ gửi thư khen. Nhớ lại chuyện xưa, ông Bít bồi hồi nói: “Bây giờ ở Đại Xuân, bà con vẫn gọi vụ lúa xuân là vụ lúa Bác Hồ”.

Sinh thời, Bác có viết tác phẩm “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” Người chỉ rõ: “Chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”. Bác còn căn dặn bằng thơ:

Mừng Xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân.

Chúng ta hiểu lòng Bác, mùa xuân gắn với những điều tươi đẹp, lớn lao; niềm vui mỗi người phải được hòa vào, nhân lên cùng mọi người; “Mừng cả thế gian”, với cỏ cây sông núi. Ngày 28-11-1959 Bác đã phát động Tết trồng cây; một việc làm đi trước thời đại, có ý nghĩa toàn cầu sâu sắc. Đối với Bác, ngày xuân, mỗi người trồng một cây là một việc làm tự nhiên mà có ý nghĩa:

Mùa Xuân là Tết trồng cây
Để cho đất nước càng ngày  càng Xuân!

Từ năm 1960, Tết trồng cây trở thành nét đẹp đầu xuân của dân tộc ta.

Thật cảm động biết bao, xuân năm 1969, sức khỏe đã giảm sút nhiều, trước lúc đi xa, ngày mồng 1 Tết, Bác vẫn trồng cây ở xã Vật Lại, Ba Vì (Hà Nội), vẫn có thơ chúc Tết:

Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Đọc lại bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người chúng ta như thấy mình có lỗi vì không thể giải phóng miền Nam sớm hơn để có Bác trong mùa xuân đại thắng.

79 mùa xuân đi qua đời Bác. Bác đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc để non sông mãi mãi có MÙA XUÂN.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Hồ Chủ tịch nói về “ngày Tết và tiết kiệm”

Đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịchĐón xuân mới, mừng Tết đến là dịp để mỗi chúng ta thắp nén hương nhớ về cội nguồn tổ tiên, ông cha; cầu mong cho ”Quốc thái dân an”. Cũng là dịp thảnh thơi đi lại với nhau để cầu chúc năm mới, mọi người ai cũng dồi dào sức khỏe, đem hết trí lực góp phần xây dựng quê hương. Có lẽ từ cơ quan, gia đình đến cá nhân ai cũng hồ hởi, phấn khởi. Thế nhưng đâu đó cũng có sự lạm dụng đón xuân về để tổ chức vui chơi linh đình, tốn kém, thậm chí còn có nội dung trái với truyền thống, lối sống văn hóa của dân tộc ta.

Sinh thời, Bác Hồ của chúng ta có viết tác phẩm: ”Mừng Tết Nguyên Đán như thế nào?”. Người căn dặn: ”Suốt năm chúng ta thi đua lao động, sản xuất, những ngày Tết Nguyên Đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào xuân. Việc đó cũng đúng thôi. Nên chúng ta mừng xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không xuân”. Với lòng nhân ái bao la, vào những dịp Tết, Bác thường đi chúc Tết không những ở các cơ quan xí nghiệp mà còn đến thăm các gia đình lao động, lam lũ làm ăn. Qua những câu chuyện ghi lại, chúng ta còn nhớ: Bác đến thăm một gia đình mà trong nhà ngày Tết chẳng có gì, đêm giao thừa còn phải đi gánh nước thuê kiếm tiền. Bác đã nói trong xúc động: ”Bác không đến thăm cô chú thì thăm ai?”. Ngày mùng 1 Tết năm 1965, sau khi thăm các cơ quan (đoàn thể ở Hà Nội, Bác đến thăm công trường Việt Trì và phát biểu trước cán bộ, công nhân, chuyên gia các nước bạn đang giúp ta với những lời đầy tình cảm: ”Cán bộ phải chú ý chăm lo sinh hoạt của anh em trong ngày Tết. Đối với các đồng chí công nhân, cán bộ bạn bè giúp ta mà các đồng chí ấy xa nhà trong dịp Tết Nguyên Đán này, ta càng chú ý săn sóc. Các anh em công nhân người Âu, Phi lâu nay sống đã quen với phong vị Tết Việt Nam, nên làm sao cái Tết của xây dựng vui vẻ hơn kháng chiến, song phải tránh những lãng phí không cần thiết”. Chúng ta không khỏi xúc động về những tình cảm ấy mà Người không chỉ dành riêng cho nhân dân mình mà còn cho khắp bè bạn năm châu. Đâu chỉ dừng ở đó, Người còn lo xa, căn dặn chúng ta phải tiết kiệm, chống lãng phí. Việc cần kiệm để xây dựng nước nhà, mà không ai được phép quên nhiệm vụ ấy. Người cũng chỉ ra những việc đáng chê trách khi phát hiện có những nơi làm không đúng. Trong tác phẩm ”Mừng Tết Nguyên Đán như thế nào?” Bác còn viết: “Vừa rồi, vì được mùa to 20 xã ở huyện Yên Thành (Nghệ An) đã liên hoan hết 123 con lợn, 8 con bò, 3 con bê; đó là chưa kể số tiền chi tiêu vào, muối, gạo, rượu, chè. Cũng chưa kể những ngày lao động của bà con 20 xã đã mất toi! Lãng phí tiền của và công sức là như vậy, là lỗi tại ai? Lỗi tại cán bộ huyện, cán bộ xã, lỗi tại đảng viên và chi bộ”.

Từ câu chuyện trên, liên hệ với cuộc sống hôm nay, chúng ta thấy hiện tượng đó vẫn còn xảy ra. Qua các phương tiện thông tin đại chúng được biết: Cứ mỗi lần Tết đến, đâu đó có cơ quan đơn vị với mọi hình thức, từ việc tổ chức liên hoan đến quà biếu, phong bì nhiều khi quyết toán lên đến hàng chục triệu đồng, trong lúc người lao động ở đó còn vất vả lo cho con bộ quần áo mới loại rẻ tiền. Còn có gia đình mang tính khoe khoang, hình thức: Sắm sửa đồ Tết, trang hoàng nhà cửa, phòng ốc toàn những thứ đắt tiền, có loại cây cảnh lên đến hàng chục triệu đồng. Trong khi đó nhà công nhân bên cạnh chưa gọi gì là có Tết, cuộc sống còn rất tạm bợ, phải lo từng bữa ăn. Đành rằng kinh tế xã hội của chúng ta trong những năm đổi mới có phát triển, đời sống cộng đồng dân tộc ta được nâng lên một bước, nhưng không vì thế mà chúng ta xa hoa, phung phí, làm những điều mà mặt bằng xã hội, dân sinh của chúng ta chưa cho phép.

Với việc mừng Tết Nguyên Đán, đã có lần Bác căn dặn:

”Mừng xuân mừng cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”

Tấm lòng của Bác mới bao dung và nhân hậu làm sao, Người nghĩ đến tất cả thế gian khi mùa xuân về. Bác nghĩ mùa xuân là biểu tượng hòa bình, sinh sôi, nảy nở bao điều tốt đẹp và nó phải đến với tất cả mọi người thì điều đó mới thực sự hạnh phúc. Mùa xuân chẳng phải của riêng ai, và ai cũng có quyền hưởng. Trong bài ”Mừng xuân vĩ đại” Bác viết: ”Xưa kia người ta chỉ mừng xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình với những câu chúc tụng nhau ”Ngũ phúc lâm môn, tam dương khai thái”. Ngày nay chúng ta mừng xuân rộn rã, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới”. Là con cháu của Bác Hồ, chúng ta sẽ cảm thấy xấu hổ và buồn thay cho những ai còn tư tưởng chi lo vun vén cái tết của riêng mình!

Một lần nữa, đất nước ta đón xuân về, Tết Nguyên Đán đến, dân tộc ta lại nhớ đến Bác Hồ và những lời căn dặn của Bác. Những điều đó còn vang vọng mãi.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Đảng – Bác Hồ với mùa xuân dân tộc

Cờ ĐảngDân tộc Việt Nam trong  những bước ngoặt lịch sử thường gắn liền với mùa xuân. Như có sự hẹn hò giữa thời gian và sự kiện, ngày 3-2-1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Từ mùa xuân lịch sử đó đến nay Đảng ta vừa tròn 81 tuổi. Mỗi mùa xuân qua, kể từ ngày có Đảng, dân tộc Việt Nam vững tin trên con đường đấu tranh cách mạng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc nhân dân.

Từ ngàn đời nay, trong đời sống tinh thần của mỗi người dân Việt , mùa xuân tượng trưng cho sức mạnh, sự trẻ trung và những gì tốt đẹp nhất. “Một năm bắt đầu từ mùa xuân”, đúng như vậy, từ mùa xuân năm 1930 cách mạng Việt Nam có cương lĩnh đúng đắn do Bác Hồ khởi thảo, được Đảng  không ngừng hoàn thiện, đời sống chính trị, tinh thần, khí thế đấu tranh cách mạng của toàn dân ta đã chuyển qua một giai đoạn mới. Nhớ lại những ngày chưa có Đảng, tình hình cách mạng Việt Nam đen tối như không có đường ra. Chỉ đến lúc Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và khi Người trở về Quảng Châu, Trung Quốc mở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, tổ chức Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản (Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn) thành một đảng thống nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam thì con thuyền cách mạng Việt Nam mới có người cầm lái, chỉ lối đưa đường vượt qua giông bão đi tới bến vinh quang.

Mùa xuân năm 1941, sau gần ba mươi năm  bôn ba  tìm đường cứu nước ở nước ngoài, Bác Hồ đã trở về Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc với bản nghị quyết lịch sử của Hội nghị Trung ương 8. Những công việc đầu tiên của Người là chỉ đạo Đảng ta thành lập Mặt trận Việt minh, tập hợp lực lượng toàn dân đứng lên để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Bắt đầu từ căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn, Võ Nhai, chỉ sau một thời gian ngắn đã phát triển thành cả một vùng rộng lớn bao gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang. Trong tác phẩm Từ nhân dân mà ra, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Đêm hôm ấy, chúng tôi nằm nghe Bác nói chuyện rất khuya… Bác và chúng tôi mỗi người gối đầu trên một khúc gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động, vấn đề cung cấp lương thực, súng đạn… Bác dặn đi dặn lại nhiều lần: phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Nguồn cung cấp sẽ dựa vào dân…”. Theo lời Bác dặn, sau cái đêm lịch sử đó không lâu, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay – ra đời, tạo ra một cục diện mới trên mặt trận đấu tranh vũ trang cách mạng, giành thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng 8-1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng Việt Nam: kỷ nguyên giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước sang  một giai đoạn mới. Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa xuân năm 1954. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài và vô cùng gian khổ, dân tộc ta đã có biết bao chiến công hiển hách được ghi dấu ấn lịch sử  từ những mùa xuân. Mở đầu cho những chiến công to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đó là cuộc Đồng khởi của quân và dân Bến Tre mùa xuân năm 1960, tạo một bước phát triển mới quan trọng của cách mạng miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 tạo tiếng vang lớn làm đau đầu cả Lầu Năm Góc, báo hiệu sự sụp đổ không thể nào tránh khỏi của quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc tiến công chiến lược mùa xuân năm 1972, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm đó đã làm sụp đổ hoàn toàn uy lực của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri rút quân về nước. Và cuối cùng là cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong mùa xuân năm 1975 như một điểm hẹn lịch sử, là sự kết tinh của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đảng, Bác Hồ kính yêu là mùa xuân của dân tộc ta. Chủ nghĩa xã hội là mùa xuân của nhân loại, dù có phải trải qua những bước thăng trầm của lịch sử song chân lý đó vẫn mãi giữ nguyên giá trị. Đường lối đổi mới do Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra thực sự như một sức xuân mới làm thay đổi một bước cơ bản nền kinh tế đất nước. Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X của Đảng tiếp  tục khẳng định con đường đi lên CNXH ở nước ta là sự lựa chọn duy nhất đúng, đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu thực hiện cho kỳ được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Nhờ có sự nghiệp đổi mới mà đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tốc độ phát triển kinh tế bình quân hàng năm tăng từ 6-7%, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, giữ vững sự ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng được tăng cường và củng cố, uy tín của nước Việt Nam ngày càng được đề cao trên trường quốc tế. Những thành tựu thu được hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ của Đảng đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn  về con đường đi lên CNXH ở nước ta.

Mừng Đảng, mừng xuân, với niềm tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân của dân tộc Việt Nam anh hùng nguyện sống, lao động, học tập, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Người.

thanhnienduongsat.vn

Những bài báo xuân của Bác

Bác Hồ chúc TếtBài báo Tết đầu tiên của Bác rất ngắn, ký tên Hồ Chí Minh đăng trang nhất Báo Cứu quốc ra ngày 21/01/1946 với nội dung như sau: Tết; Dân tộc Việt Nam là dân tộc rất giàu lòng đồng tình bác ái. Trong lúc này, toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào chia sẻ cuộc vui xuân mừng Tết với:

Những chiến sĩ oanh liệt trước mặt trận
Những gia quyến các chiến sĩ
Những đồng bào nghèo nàn

Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết, xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời với mục tiêu: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Nhân dịp Tết – Xuân độc lập đầu tiên, Bác đã làm câu đối đăng Báo Cứu quốc để chúc đồng bào và chiến sĩ như sau:

Rượu cộng hoà, hoa hoà bình mừng xuân độc lập
Bánh tự do, giò bác ái, ăn Tết dân quyền.

Tết năm ấy, nhiều gia đình, cơ quan đoàn thể đã treo câu đối này bằng chữ Nôm, chữ Hán hoặc chữ Quốc ngữ để trang trí nơi trang trọng nhất. Chỉ 20 chữ nhưng lúc ấy tác dụng tuyên truyền của câu đối về chính quyền non trẻ thật mạnh mẽ.

Mùa xuân 1942, xuất hiện thơ chúc Tết – mừng Xuân của Bác:

Mừng xuân 1942
Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi
Năm cũ qua rồi chúc năm mới
Chúc phe xâm lược chóng diệt vong
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau
Chúc Việt Minh ta cùng tiến tới!…

Bài thơ ra đời trong bối cảnh Việt Nam đang trên cao trào, thắng lợi của cách mạng đòi hỏi mọi người phải làm chủ tình thế, phải “mau tiến tới” chớp thời cơ. Thơ Bác mang tính thời sự chính trị với tầm nhìn bao quát, sáng suốt, nhất quán khoa học. Mỗi lời chúc đều khẩn trương mạnh mẽ và gắn với nhiệm vụ cụ thể. Tư tưởng bài thơ nhất quán, quán triệt đường lối cách mạng – đoàn kết chiến đấu dưới lá cờ đỏ sao vàng, lần đầu tiên xuất hiện ở cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ rồi được Mặt trận Việt Minh phất cao và đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng của hồn nước, trong những dịp Tết đến xuân về.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
bqllang.gov.vn

Bác Hồ chọn mẫu hoa chúc Tết

Bác HồVào một ngày cuối năm 1966, Văn phòng Chủ tịch báo cho Nhà xuất bản Mỹ thuật (nay là Nhà xuất bản Mỹ thuật – Âm nhạc), Bác Hồ cần một mẫu hoa đẹp để in thiếp chúc Tết. Đúng lúc đó Nhà xuất bản cũng vừa tuyển chọn được 14 ảnh mẫu hoa đẹp các loại cho kế hoạch in thiếp chúc mừng năm mới để phục vụ nhân dân nhân dịp Tết Nguyên Đán năm Đinh Mùi 1967. Ban lãnh đạo Nhà xuất bản liền đưa  các ảnh mẫu hoa đó tới văn phòng của Bác. Trên cơ sở 14 ảnh mẫu hoa, các đồng chí ở văn phòng đã lựa chọn ra 4 ảnh hoa, trong đó có một ảnh mẫu hoa sen, một ảnh mẫu hoa cúc và hai ảnh mẫu hoa hồng quế đưa lên Bác. Người cầm tấm ảnh mẫu chụp hoa sen đưa cho mọi người xem và cười vui nói:

– Các chú nịnh Bác, chứ Tết ai lại dùng hoa sen.

Bác lại cầm tấm ảnh mẫu hoa cúc lên giải thích:

– Hoa cúc là hoa của Trung Quốc.

Nghe Bác nói thế mọi người đều ớ ra là mình thiếu kiến thức về loài hoa. Tiếp đó Bác cầm hai tấm ảnh có hình mẫu hoa hồng quế lên xem và gật đầu ưng ý:

– Tấm ảnh mẫu hoa này được! Mọi người phấn khởi chờ chỉ thị của Bác. Bác cầm hai tấm ảnh mẫu đưa cho một số đồng chí Trung ương lên họp xem và nói:

– Bác đang chọn mẫu hoa để in làm thiếp chúc Tết. Các chú xem hai mẫu hoa này. Chú nào thích mẫu nào thì ký vào mặt sau cho Bác.

Hoá ra Bác còn muốn lấy thêm ý kiến của nhiều người khác. Kết quả: Một tấm ảnh mẫu hoa 9 chữ ký ở mặt sau và một tấm có 7 chữ ký. Bác xem kỹ lại hai tấm ảnh mẫu hoa và Bác chọn mẫu hoa có 7 chữ ký để in thiếp chúc Tết năm 1967. Tấm ảnh mẫu hoa này chụp có hai bông hồng: bông to nở rực rỡ, bông nhỏ mới nở chúm chím hai cánh trông rất đẹp.

Bác nói:

– Tấm ảnh mẫu hoa này rất hợp với cuộc cách mạng ở nước ta. Bông hồng to tượng trưng cho miền Bắc xây dựng XHCN. Bông hồng nhỏ tượng trưng cho miền Nam, đồng bào đang đánh đế quốc xâm lược.

Nhưng khi chuẩn bị thiếp chúc Tết năm 1968, Bác lại chọn tấm ảnh hoa hồng quế thứ hai – tấm có 9 chữ ký để in. Tấm ảnh mẫu hoa hồng này cũng có hai bông: một bông bên đã nở được ba cánh và chỉ nhỏ hơn bông kia một chút. Trông tấm ảnh mẫu hoa hồng này cũng rất đẹp. Không hiểu có phải dụng ý của Bác là miền Nam sắp đến thời cơ mới cho nên bông hồng bên nở thêm cánh? Vì trùng hợp với đồng bào miền Nam đều đồng loạt ra quân mạnh mẽ giành thắng lợi lớn ở khắp nơi.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
bqllang.gov.vn

Bác Hồ, người sáng tạo phong tục mới trong Tết cổ truyền

Người là niềm tin tất thắngBác Hồ kính yêu, nhà văn hóa lớn, bôn ba năm châu bốn biển, hiểu biết nhiều nền văn minh nhân loại. Bác càng yêu mến truyền thống văn hóa dân tộc hơn. Nghĩ tới Bác, chúng ta vẫn nuôi dưỡng hình ảnh một ông già văn hóa Việt Nam chất phác và thông thái.

Với Tết Nguyên Đán, không những Bác tôn trọng truyền thống mà còn sáng tạo phong tục và truyền thống mới, làm cho hương sắc ngày xuân Việt Nam thêm tươi sáng và tràn đầy sinh lực hơn.

Vào giờ phút thiêng liêng nhất của Tết: Giao thừa, Bác đã chúc Tết đồng bào, đồng thời đọc thơ chào mừng năm mới. Lời thơ của Bác cùng với tình cảm Bác gửi trong thơ luôn luôn làm cho mọi người Việt Nam yên tâm, phấn khởi bước vào năm mới với tinh thần lao động và chiến đấu mới.

“Ông cụ trồng cây”, đó là danh hiệu đầy lòng kính mến, nhà thơ Xuân Diệu gọi Bác Hồ, khi Bác khởi xướng tục trồng cây ngày Tết bắt đầu năm 1959. Mỹ tục này là một sáng tạo tưởng như bình thường, nhưng hiệu quả rất to lớn do tính chất thực tiễn của hành động và do từ lãnh tụ được nhân dân kính mến đề ra. Hành động này rất phù hợp với truyền thống gieo trồng ngày xuân của nhân dân ta nên rất nhanh chóng được hưởng ứng rộng rãi và ngày nay thực sự đã trở thành một phong trào, một nếp sống mới mỗi lần xuân tới.

Cuối năm 1959 nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng trồng cây do Người phát động từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 6 tháng 2 năm 1960. Đợt trồng cây này gọi là “Tết trồng cây”, mỗi người trồng ít nhất một cây và chăm bón cho tốt. Hồ Chủ tịch khuyên nhân dân ta nên duy trì bền bỉ Tết trồng cây vào đầu xuân hàng năm. Người lại ân cần nhắc nhở động viên nhân dân ta thực hiện tốt Tết trồng cây. Người đã xuống các địa phương tham gia nhiều Tết trồng cây để cổ vũ nhân dân ta. Người dạy rằng:

Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.

Hưởng ứng chủ trương sáng suốt của Bác Hồ, Tết trồng cây từ đó đến nay trở thành một tập quán tốt đẹp của nhân dân ta, mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế và quốc phòng, góp phần làm giàu đẹp cho Tổ quốc.

CTTGTĐT – Sưu tầm
bqllang.gov.vn

Vui Tết giữa rừng Việt Bắc

Ngày 5-2-1951, tức là ngày 29 Tết. Ngày mai, là ngày mồng một Tết Tân Mão, Hội đồng Chính phủ vẫn họp phiên họp đầu năm.

Ngày 29 Tết, Bác Hồ đã đến địa điểm họp gặp gỡ của các đại biểu trong Hội đồng Chính phủ. Tối hôm ấy, Bác chủ tọa buổi gặp cuối năm với các đồng chí trong Hội đồng Chính phủ. Một bữa tiệc nhỏ có cả những thức ăn của ngày Tết và có cả rượu chiến lợi phẩm của quân đội từ mặt trận gửi về. Không khí ngày Tết giữa rừng Việt Bắc hôm ấy tuy còn khó khăn, thiếu thốn, nhưng thật vui vẻ.

Bữa cơm của Bác Hồ và các chiến sỹ ở Tân Trào
trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp

Sau bữa ăn, Bác Hồ cùng các thành viên Hội đồng Chính phủ quây quần quanh đống lửa ấm áp, kể chuyện vui ngày Tết.

Sáng hôm sau, ngày mồng một Tết Tân Mão, Bác Hồ dậy sớm và đi đến tận các phòng nghỉ của các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng để bắt tay và chúc Tết từng người. Mọi người hết sức vui mừng, phấn khởi khi thấy Bác đến và được bắt tay Bác trong buổi sáng sớm đầu năm. Một vài đồng chí ngủ dậy muộn khi Bác đến chỉ kịp nhảy xuống giường giơ tay ra nắm lấy tay Bác cười vui vẻ, không kịp nói gì.

Ăn sáng xong, Bác cùng các đồng chí trong Hội đồng Chính phủ đi họp.

Mở đầu một đại biểu Quốc hội thay mặt Chính phủ chúc mừng Bác và Quốc hội nhân dịp năm mới. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân đội đọc lời chúc mừng và hứa nỗ lực hơn nữa để năm mới giành nhiều thắng lợi mới to lớn trên chiến trường.

Sau đó, Bác Hồ đứng đậy, cảm ơn và chúc Tết mọi người. Bác gửi tặng mỗi đại biểu một quả cam và dặn mang về làm quà cho gia đình. Bác còn đưa một số vải lụa gửi tặng các đại biểu có con nhỏ dưới 5 tuổi để về làm quà cho các cháu.

Buổi tối ngày mồng một Tết năm ấy, Bác Hồ và các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng trong Hội đồng Chính phủ cũng vui lửa trại. Trong đêm vui lửa trại đầu năm, có nhiều bài thơ, câu đối của các đại biểu tự sáng tác và đọc lên để chúc mừng Bác.

Bác Hồ bảo mỗi người phải tự nghĩ ra một trò chơi hoặc một bài thơ, một câu chuyện, một bài hát hay điệu múa cho cuộc vui. Thế là lần lượt bắt đầu từ Bác đến các đồng chí trong Hội đồng Chính phủ đều đứng lên đóng góp tiết mục của mình cho đêm lửa trại đầu năm.

Cổng TT-GTĐT sưu tầm
bqllang.gov.vn

Năm mới đọc thơ Bác Hồ năm 1946

Bác Hồ chúc Tết71 năm trước, năm Bính Tuất – 1946 toàn dân tộc ta hồ hởi, phấn khởi, vui mừng đón Tết độc lập đầu tiên sau bao nhiêu năm đất nước chìm đắm trong đêm trường nô lệ.

Tết Bính Tuất – 1946 là một Tết đặc biệt và có một sự kiện rất đặc biệt là, Bác Hồ người đứng đầu đất nước có đến ba bài thơ chúc Tết mừng xuân đồng bào và chiến sĩ. Chúc Tết Bính Tuất – 1946Mừng báo Quốc giaGửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất cùng bốn bức thư: Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp đầu năm mớithư chúc Tết Việt kiều ở Lào, XiêmThư gửi thanh niên và nhi đồng nhân dịp Tết Bính Tuất và một bài báo có tên là Tết.

Chưa có năm nào, kể cả sau này, Bác có thơ và thư chúc Tết nhiều như Tết độc lập Bính Tuất -1946. Đồng bào và chiến sĩ cả nước xúc động đón nhận và lắng nghe thư và thơ chúc Tết của Bác. Lời chúc đầu năm mới của Bác là lời chúc Tết tốt đẹp nhất, muôn sự tốt lành, muôn việc đều tiến tới. Song, Bác nhấn mạnh đến hai nhiệm vụ chiến lược cấp bách trước mắt và lâu dài của dân tộc là: Kiến quốc và kháng chiến. Đất nước được độc lập, tự do về với nhân dân còn có niềm vui nào hơn.

Niềm vui ấy lại được nhân đôi khi lần đầu tiên toàn dân được đón Tết độc lập, tự do. Trong một bài thơ chúc mừng một tờ báo đăng trong số Tết, Bác khẳng định:

Tết này mới thực Tết dân ta,
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia.
Độc lập đầy vơi ba chén rượu,
Tự do vàng đỏ một rừng hoa,
Mọi nhà vui đón Xuân dân chủ,
Cả nước hoan nghênh phúc Cộng hoà.

(Mừng báo Quốc Gia)

Thực Tết dân ta là gì? Bác gói gọn trong mấy chữ chào mừng – mấy từ giản dị, chân lý: Độc lập, Tự do, Dân chủ, Cộng hoà. Mấy từ này trước đây gần một thế kỷ và chỉ cách đây mấy tháng thôi còn là mơ ước, là mong muốn vậy mà giờ đã nắm chắc trong tay; trước đây quằn quại trong câu chữ của thơ văn yêu nước, nhất là thơ văn Đông Kinh Nghĩa Thục thì giờ đây thoái mái, mạnh mẽ và vững chắc trong thơ Bác. Mấy chữ chào mừng của Bác thực sự là nội dung Tết độc lập đầu tiên. Thực Tết dân ta là nội dung đời sống chính trị – xã hội của đất nước ta. Vì vậy mà lời chào mừng, lời chúc Tết của Bác chứa đựng sự hồ hởi, niềm hân hoan, sung sướng của cả dân tộc và của Bác mà thành thơ. Thơ chân thật, nôm na, vừa ý vị, vừa mạnh mẽ. Thơ của chân lý. Mọi nhà vui, cả nước hoan nghênh là vậy. Mọi người dân yêu nước vâng theo lời Bác, hơn lúc nào hết bắt tay ngay vào việc kiến quốc. Nhưng xây dựng lại đất nước bắt đầu từ đâu và như thế nào thì phải dựa trên cơ sở bối cảnh thực tại, Bác đã chỉ ra và nói rõ việc làm tất yếu đầu tiên phải xây dựng một đời sống mới làm nền tảng.

Năm mới Bính Tuất
Phụ nữ, đồng bào
Phải gắng làm sao…
Gây “Đời sống mới”
                        (Gửi chị em phụ nữ xuân Bính Tuất)

Muốn xây dựng đời sống mới phải có con người mới, phải phấn đấu trở nên những công dân mới mà theo Bác phẩm chất đạo đức đầu tiên của con người mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Trong thơ và thư, Bác giải thích rõ ràng, cụ thể, cặn kẽ và dễ hiểu nhất thế nào là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bác yêu cầu mọi người tu dưỡng rèn luyện để có những phẩm chất tốt đẹp này.

Cần, Kiệm, Liệm, Chính
Canh giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống “Đời sống mới”

Thơ Bác chúc Tết phụ nữ nhưng cũng là cho mọi người, cho đồng bào, đồng chí. Phụ nữ, đồng bào cả nước đã phấn đấu làm theo lời Bác chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và kiến thiết đất nước, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Khẩu hiệu vừa sản xuất vừa chiến đấu mà bác và Đảng đề ra được quán triệt và trở thành hành động, là việc làm hàng ngày trong suốt cả quá trình kháng chiến và xây dựng đất nước. Ngay từ năm Bính Tuất 1946 đồng bào và chiến sĩ ta vui mừng đón Tết nhưng không quên những chiến sĩ đang chiến đấu ở ngoài mặt trận. Thấu hiểu nỗi lòng chiến sĩ và đồng bào, trong thư chúc Tết, Bác kêu gọi, chia sẻ, động viên: Hỡi các chiến sĩ yêu quý, Trong khi đồng bào đốt hương trầm để thờ phụng tiền nhân thì các bạn đốt thuốc súng để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào đốt pháo mừng xuân thì các bạn nổ súng chống địch. Các bạn hăng hái chống địch để cho đồng bào được an toàn mừng xuân. Vậy nên đồng bào quyết không bao giờ quên công lao các bạn. Trong ba ngày Tết, đồng bào ai cũng đoàn tụ sum vầy chung quanh những bình hoa, mâm bánh. Còn các bạn thì chịu ăn gió nằm mưa lạnh lùng chốn sa trường. Song hình dung các bạn thì ấm áp trong lòng thân ái của mỗi một quốc dân. Tôi thay mặt Chính phủ và toàn quốc đồng bào chúc các bạn năm mới mạnh khoẻ và thắng lợi. Bác còn có thơ, những lời thơ tha thiết, tràn đầy tình cảm.

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Ở bài thơ mừng báo Quốc gia, Bác chúc:

Ta chúc ta rồi ta nhớ chúc
Những người chiến sĩ ở phương xa

Những bài thơ chúc Tết mừng xuân Bính Tuất – 1946 của Bác mãi mãi còn nguyên ý nghĩa thời sự, còn nguyên giá trị.

CTT – GTĐT Sưu tầm
vinhphuc.gov.vn

Xuân Nhâm Ngọ và tác phẩm ‘Lịch sử nước ta’ của Bác Hồ

Những trang vàng của lịch sử dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 được tiếp nối một cách sinh động hơn, đặc biệt hơn bởi được lưu giữ về cuộc đời, sự nghiệp của người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Nhưng đứng ở góc độ sử học, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rạng danh những trang vàng đó, mà Người còn là một sử gia lớn. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã lấy các đề tài lịch sử để sáng tác các tác phẩm lớn, như: Kịch Con rồng tre, Lời than vãn của bà Trưng Trắc… để tuyên truyền thức tỉnh đồng bào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bác Hồ làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951. Ảnh tư liệu

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người đã về sống và làm việc tại hang Pác Bó – Cao Bằng. Ý thức sâu sắc mục đích của việc học tập, nghiên cứu lịch sử để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, từng bước đưa họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cuối năm 1941, Người đã viết cuốn Lịch sử nước ta. Ðây là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử dân tộc quan trọng.

Tác phẩm Lịch sử nước ta do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành ra mắt lần đầu tiên giữa ngàn trùng Pác Bó tháng 2-1942, vào đúng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ. Và Xuân Nhâm Thìn năm nay (2012), vừa tròn 70 năm ra đời tác phẩm.

Chỉ với 208 câu thơ lục bát, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc, xác định giới thiệu những nhân vật, những sự kiện chân thực khách quan đủ để khôi phục chính xác bức tranh hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc với những nét cơ bản về truyền thống yêu nước, đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Mở đầu tác phẩm, Bác đánh giá cao vấn đề nghiên cứu lịch sử nguồn gốc dân tộc và tự hào về truyền thống tốt đẹp của tổ tiên:

“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”.

Ðọc tác phẩm, chúng ta nhận thấy lịch sử dân tộc không còn là lịch sử của các triều đại với vai trò tuyệt đối của các vua chúa, mà là lịch sử của quần chúng nhân dân ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi thành phần:

“Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.

Quan trọng nhất là Lịch sử nước ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm duy vật mác-xít khi bình luận, giải thích sự kiện, nhân vật, phá tan các quan điểm duy tâm, thần bí, các tư tưởng “thiên mệnh”, “ngụy”, “chính thống”… trong các sách sử thực dân, phong kiến…

Ôn lại lịch sử dân tộc, Lịch sử nước ta đã giúp người đọc nắm được bài học kinh nghiệm cốt tử, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định ở hai câu thơ kết thúc phần diễn ca của tác phẩm:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Tin tưởng vào truyền thống của dân tộc và sức mạnh đoàn kết của toàn dân sẽ đưa cuộc đấu tranh đến bến bờ thắng lợi, nên kết thúc tác phẩm Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán một dấu mốc lịch sử quan trọng: “1945, Việt Nam độc lập”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết cuốn Lịch sử nước ta, trước hết, làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu, đồng thời, với mục đích phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục và ôn lại truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc. Người khẳng định từ nam phụ lão ấu, người bình dân hay tầng lớp phú hào, quý tộc đều có lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng chống ngoại xâm, để giành lấy độc lập cho nước nhà. Qua đó, Người động viên, khích lệ nhân dân ta phát huy truyền thống yêu nước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập tự do.

Cũng như chùm các bài ca viết cùng thời gian nhằm tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, khi viết cuốn Lịch sử nước ta theo diễn ca lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt chú ý đến đặc điểm của một số tác phẩm diễn ca lịch sử dân tộc viết bằng chữ Nôm từ thế kỷ 17. Các tác giả của những tác phẩm đó dù mang quan điểm sử học phong kiến nhưng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống yêu nước của dân tộc. Quan trọng nhất là tác phẩm của họ đạt thành công lớn trong việc chuyển tải tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có sức sống rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức dân gian truyền miệng, lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân vì thực tế đất nước ta khi đó, có hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ và còn trong đói nghèo. Ðồng thời, Người cũng hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Nghiên cứu và hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc đó, càng nhận thức hết giá trị thực tiễn lớn lao của tác phẩm Lịch sử nước ta. Tác phẩm đã khéo kết hợp được hai yêu cầu khoa học và nghệ thuật dưới hình thức thơ lục bát rất quen thuộc với nhân dân ta. Lời thơ ngắn gọn, dung dị, dễ hiểu, nhưng rất súc tích, giúp người đọc ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và nhận thức đúng đắn lịch sử của đất nước. Về phương pháp viết sử, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc sự kiện, tài liệu chứ không sa đà vào các chi tiết lịch sử. Quan trọng nhất là Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng nhận định, đánh giá khái quát các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu.

Ðể giới thiệu tác phẩm Lịch sử nước ta tới đồng bào, đồng chí, trong bài viết “Nên học sử ta”, đăng trên báo Việt Nam độc lập (số 117, ngày 1-2-1942) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh mục đích nên học lịch sử dân tộc và khẳng định lịch sử  nước ta dạy cho ta bài học: “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Cuối bài này có ghi thêm “Vừa mới xuất bản quyển “Sử nước ta” bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương”.

Sau đó, tác phẩm trên được tái bản nhiều lần. Hiện nay, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn lưu được một số bản in cuốn Lịch sử nước ta xuất bản năm 1942, 1947 và 1949. Năm 1977, tác phẩm này đã được in trong cuốn Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc của Vũ Châu Quán – Triều Ân – Hoàng Quyết (Nxb Văn hóa dân tộc). Ðến năm 1983, Lịch sử nước ta mới được chính thức in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, có nội dung đúng như văn bản do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942.

Sau tác phẩm Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thêm yêu mến các bậc tiền nhân, trân trọng các di sản và truyền thống dân tộc. Ðặc biệt hơn cả là vào các dịp đầu xuân, Người gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước những bài thơ chúc Tết độc đáo. Nhưng Lịch sử nước ta mãi mãi là một tác phẩm giá trị cả ở góc độ sử học và văn học, có vị trí quan trọng trong kho tàng lịch sử và văn học mà Người đã để lại. Lịch sử nước ta đã in sâu vào tâm trí của nhiều đồng bào, đồng chí. 70 năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tác phẩm Lịch sử nước ta được xuất bản, đến nay có những người thuộc thế hệ những năm tháng đó vẫn còn thuộc lòng toàn văn hoặc từng đoạn của tập diễn ca này. Ðây chính là bài học kinh nghiệm quý giá đối với những người làm công tác biên soạn sách giáo khoa lịch sử các cấp phổ thông hiện nay.

Xuân Nhâm Thìn này, trong bối cảnh toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta đang tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, không gì thiết thực hơn đối với những người làm công tác giáo dục, giảng dạy, nhất là ở bộ môn Lịch sử, chính là học tập và làm theo phương pháp viết và dạy lịch sử của Bác Hồ. Ðó là điều hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học sử đối với thế hệ trẻ ngày nay.

TS CHU ĐỨC TÍNH (Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)
tutuonghochiminh.vn

Những mùa xuân của Bác Hồ

Đối với Bác Hồ, trên đời này không gì đẹp bằng tình yêu thương con người, trước hết là tình thương yêu với tuyệt đại đa số nhân dân lao động. Yêu thương con người, theo Bác, là phải đoàn kết phấn đấu đạt cho được mục tiêu “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc. Ai cũng được học hành”.

Trong 79 mùa xuân của Bác có 30 mùa xuân tha hương, cộng thêm hai mùa xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trừ những năm thơ ấu, những năm tha hương và chịu đọa đày trong tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ hưởng được 30 cái Tết ở trong nước. Dù phải trải qua biết bao gian khổ, canh cánh trong lòng ước mong giành độc lập tự do ấm no cho dân tộc, với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng, Người đã có những mùa xuân tươi đẹp nhất.

Đó là mùa xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cách những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa xuân năm 1924, Người đến Matxcơva, quê hương của Lê – nin vĩ đại, quê hương của mùa xuân mới. Mùa xuân 1930 là một mùa xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt – Trung, theo nội dung sách sau này được in với tên Con đường giải phóng. Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương Người trở về Tổ quốc.Những mùa xuân phấn khởi như vậy rất ít đối với Người, vì rằng Người đã “nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”.

Mùa xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mùa xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa xuân của chúng ta không phải là 3 tháng mà là dài hơn, gia đình họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa xuân cho mọi người, xuân cho mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, Người lại thấyXuân này, xuân lại thêm xuân, Nước non xa, anh em gần, vui thật là vui!

Khi Tết đến xuân về, dù không tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim con người. Chị công nhân vệ sinh bất ngờ vì không bao giờ nghĩ là Bác đến tận nhà thăm hỏi trong thời khắc giao thừa thiêng liêng. Ân cần như một người thân trong gia đình, Người nói: “Bác không đến thăm những người như gia đình cháu thì còn thăm ai?”. Mùa xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn của chị công nhân vệ sinh thật là “một mùa xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”.

Nếu như “Chủ nghĩa Cộng sản là mùa xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này có thể đã có một mùa xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa xuân năm 1923.

Suốt cuộc đời Bác mong muốn mùa xuân dài hơn với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái tâm, cái thiện cho mỗi con người.

Họp mặt kỉ niệm 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Minh Thảo – Bản tin Thủ Đức (theo Nhớ lời Bác dạy)
thuduc.gov.vn

Bác Hồ với mùa xuân thành lập Đảng

Trong cuộc đời hoạt động của mình, với 30 năm đi khắp thế giới tìm con đường cứu nước, Bác Hồ của chúng ta đã có biết bao những mùa xuân đáng ghi nhớ. Bác đã từng đón rất nhiều cái Tết Nguyên đán Việt Nam ở xứ người. Những cái tết đạm bạc nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước quê hương da diết cùng với bao những dự định lớn lao. Nhưng mùa xuân năm 1930 có thể nói là mùa xuân lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mùa xuân lịch sử của cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế cộng sản, Bác Hồ của chúng ta từ một vùng quê ở Thái-lan, đáp xe lửa đi Băng-Cốc, rồi đi tàu thuỷ đến Xanh-ga-po. Tại đây, Người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng-Kông. Ngồi trên tàu, qua cánh cửa, Bác được nhìn thấy bờ biển Tổ quốc thấp thoáng nơi chân trời. Nỗi nhớ nước, thương nhà làm tim Người thắt lại! Nỗi đau riêng của gia đình (cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Người đã qua đời) hoà trong nỗi đau chung của cả một dân tộc. Bác nghĩ đến những đêm dài nô lệ, biết bao sĩ phu yêu nước đã tập hợp nhân dân, giương cao ngọn cờ chống giặc ngoại xâm. Nhưng những cuộc nổi dậy ấy đều bị dìm trong biển máu. Và trách nhiệm lịch sử nặng nề ấy đã đặt lên vai những người cộng sản. Ba tổ chức cộng sản ở Bắc, Trung, Nam được thành lập. Song yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một Đảng thống nhất trong nước. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã bí mật ra tận cảng biển để đón Bác.

Sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, liên lạc với các đồng chí quen biết cũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bác quyết định tổ chức hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Việt Nam và Trung Quốc, Tết Nguyên đán là ngày hội cổ truyền, thường kéo dài hàng tuần, người đi lại rất đông. Chính trong dịp này, những đại biểu tham dự hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long (Trung Quốc) thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế là kể từ ngày rời bến Nhà Rồng năm 1911, ước mơ thiêng liêng của Người nay đã thành sự thật. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn. Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lênin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này, và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”. Thế là mơ ước thiêng liêng và mục tiêu cao cả, mà gần hai mươi năm qua, kể từ khi Người ra đi từ bến Nhà Rồng để tìm đường cứu nước, nay đã trở thành sự thật. Cách mạng Việt Nam từ nay đã có một đội quân tiên phong đoàn kết chiến đấu.

Trong suốt những năm tháng lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để đánh giặc giữ nước và xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”.

(Theo canbotre.danang.vn)
tinhdoanbinhthuan.vn