Thư viện

Những năm Thìn của Bác Hồ

Năm Nhâm Thìn 1892, cậu Sinh Cung mới 2 tuổi, ở với mẹ là bà Hoàng Thị Loan tại quê ngoại – làng Hoàng Trù, xã Chung Cự ngày xưa.

Năm Giáp Thìn 1904, cậu Sinh Cung 14 tuổi, có tên Nguyễn Tất Thành do cha đặt khi làm lễ “vào làng” ở Kim Liên, quê nội. Sau khi cha đỗ Phó bảng, được làng cấp đất, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà. Đây là ngôi nhà và khoảnh vườn hiện nay đang được bảo tồn ở Kim Liên.

Trong năm này Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến học chữ Hán với một nhà nho thanh bạch và là một thầy đồ hay chữ – cụ Trần Thân ở làng Ngọc Đình cùng xã. Thầy thường khuyên học trò:

“Độc thi môn tâm tự vấn/Hào vô kim hắc chi tâm” (nghĩa là: Đọc thơ cần phải tự vấn lương tâm của mình/Đừng mảy may để cho vàng (tiền tài) làm dơ bẩn tấm lòng).

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoan, Nguyễn Tất Thành chỉ học với thầy Trần Thân ít lâu rồi theo cha đi nhiều nơi trong tỉnh và ra Thái Bình trong dịp cha đi tìm những người cùng chí hướng để bàn luận về thời cuộc. Những chuyến đi này đã giúp Tất Thành mở rộng tầm nhìn để nghĩ suy. Không riêng đất Nam Đàn, đất Nghệ An mà ở đâu người dân trong nước cũng lao động cần cù, cũng lam lũ khổ cực trong kiếp đời nô lệ, lầm than và âm ỉ những đốm lửa căm hờn chờ dịp là bùng lên thành ngọn lửa. Một câu hỏi: “Làm thế nào dân ta thoát khỏi khổ đau cùng cực” dường như dần nhen nhóm trong tâm trí của Người.

Năm Bính Thìn 1916, sau khi rời Sài Gòn đi làm phụ bếp trên một con tàu sang Pháp (năm 1911), Nguyễn Tất Thành sang nước Anh, làm thợ quét tuyết lấy tiền sinh sống và chú tâm vào việc học tiếng Anh. Những ngày tháng lao khổ đã giúp Nguyễn Tất Thành có vốn kiến thức vô cùng quý giá để sau này dấn thân vào con đường của nhà chính trị chuyên nghiệp tầm cỡ quốc tế. Đó là: 1) Hiểu biết về đời sống của thợ thuyền ở một nước tư bản sớm phát triển nhất Tây Âu để có cơ sở thực tiễn sau này đọc và hiểu sâu sắc tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh” của Ph.Ăng-ghen. Từ đó hình thành một lập luận khoa học, một khẩu hiệu cách mạng vĩ đại, tiếp nối tư tưởng của ba nhà cách mạng tiền bối C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lê-nin: “Lao động toàn thế giới đoàn kết lại!” trên báo “Người cùng khổ” (Le Paria) trong mấy năm sau đó, khi hoạt động ở Pháp. 2) Sử dụng thông thạo tiếng Anh mà chúng ta được biết tới trình độ của Người qua những bức thư giao dịch với người Mỹ và quân đồng minh đầu năm 1945.

Năm Mậu Thìn 1928, Nguyễn Tất Thành đã có tên là Nguyễn Ái Quốc. Cuối năm 1927 và đầu năm 1928 Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong Quốc tế Nông dân ở Béc-lin và tìm đường về nước để gây dựng phong trào cách mạng.

Đây là những năm rất khó khăn của Nguyễn Ái Quốc trong quan hệ với Quốc tế Cộng sản. Ngày 12-4-1928, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản trình bày hoàn cảnh hiện tại của mình. Thư có đoạn:

“Hiện nay tôi ở trong hoàn cảnh khó khăn không chịu nổi:

1- Chờ đợi vô thời hạn (tôi chờ chỉ thị đã 4 tháng)

2- Không có gì để sống

Vậy tôi yêu cầu các đồng chí cho tôi càng sớm, càng tốt những chỉ thị chính xác về những gì tôi phải làm và bao giờ thì tôi có thể lên đường?”(1). Ngày 28-4, Người nhận được thông báo Ban Phương Đông đã quyết định gửi cho Nguyễn Ái Quốc tiền đi đường và một phần trợ cấp cho 3 tháng đầu.

Vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm bởi sự theo dõi và kiểm tra của bọn mật thám quốc tế, Nguyễn Ái Quốc đã từ Béc-lin qua Thụy Sĩ, I-ta-li-a rồi đi tàu thủy Nhật Bản đến Xiêm (Thái Lan) để về gần Tổ quốc.

Tháng 7-1928, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện ở Bản Đông thuộc huyện Phi-chit, tỉnh Phít-xa-nu-lốc miền trung Thái Lan. Nơi đây là một làng Việt kiều chừng vài chục gia đình đã có những tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí, Hợp tác xã, Hội Việt kiều thân ái từ năm 1926. ít lâu sau, Người cùng một số cốt cán rời lên bản U-đon thuộc đông bắc Thái Lan để xây dựng cơ sở cách mạng. Trên đường đi bộ, vượt qua núi cao sông suối, chân phòng rộp rớm máu, Người vẫn động viên mọi người: “Thiên hạ vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên” (không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền). Đây là câu nói bất hủ mà sau này trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã dạy thanh niên, rồi trở thành khẩu hiệu hành động, ý chí, bản lĩnh của các thế hệ cách mạng Việt Nam, thành sức sống của cả một dân tộc để “Đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”. Thời gian ở U-đon, Nguyễn Ái Quốc đã đến Noọng Khai gặp một số cán bộ hoạt động ở Viêng Chăn sang để tìm hiểu tình hình phong trào ở Lào và đặt mối liên hệ nhằm đẩy mạnh cuộc vận động cách mạng trong nước.

Năm Canh Thìn 1940, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Côn Minh (Trung Quốc) và trực tiếp chỉ đạo xây dựng cơ sở, đào tạo cán bộ chuẩn bị cho các hoạt động ở trong nước trước tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển theo hướng có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 20-6-1940, sau khi nghe tin Pa-ri bị quân Đức chiếm, Người triệu tập cuộc họp, phân tích tình hình và nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(2). Ngày 22-9, Người nhận định cụ thể hơn: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(3). Đây chính là nhận định thể hiện nhãn quan chính trị và tầm nhìn chiến lược chỉ đạo sáng suốt, đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc giúp cho Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là đồng chí Trường Chinh, thảo luận ra các chỉ thị, nghị quyết về xây dựng tổ chức, xây dựng lực lượng, lãnh đạo chuẩn bị quần chúng tiến hành khởi nghĩa vũ trang khi thời cơ đến để phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trong đó có Chỉ thị nổi tiếng “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945).

Sống dưới hai tầng áp bức của Pháp và Nhật, nhân dân Việt Nam vô cùng cực khổ. Năm 1940, thực dân Pháp bắt lính người Việt Nam đi đánh nhau với quân Thái Lan. Phong trào chống chiến tranh, phản đối bắt lính đã lan rộng và sôi nổi trong binh lính người Việt và nhân dân Nam kỳ. Trước tình hình đó, tháng 7-1940, Xứ ủy Nam kỳ quyết định khởi nghĩa trước khi xin chỉ thị của Trung ương. Biết tin này Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Tình hình chung thế giới và Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay đã nổ ra rồi, thì cần tổ chức rút lui cho khéo để duy trì phong trào”(4). Những sự kiện trên cho phép chúng ta hiểu thêm nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nắm vững thời cơ, phát động quần chúng và chuẩn bị lực lượng chính trị-quân sự để khởi nghĩa giành chính quyền của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Năm Nhâm Thìn 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang có nhiều chuyển biến tích cực. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những bài nói, bài viết rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo trong thời gian đó mà ngày nay vẫn là những chỉ dẫn rất cơ bản và thiết thực. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

“Lê-nin dạy chúng ta đoàn kết toàn dân và đoàn kết giai cấp để chiến thắng kẻ thù…

Lê-nin dạy chúng ta đối với mọi việc phải xem xét kỹ lưỡng mọi mặt, không nóng nảy, hấp tấp. Song khi định kế hoạch hẳn hoi rồi thì phải quả quyết thực hiện cho kỳ được.

Lê-nin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực.

Lê-nin dạy chúng ta không sợ gian nan, cực khổ và tin chắc vào lực lượng quần chúng,..

Đối với tệ tham ô hủ hóa, Lê-nin rất nghiêm khắc. Có một lần, tòa án Mát-xcơ-va xử nhẹ một vụ ăn hối lộ, Lê-nin liền viết một bức thư: “Không xử bắn bọn ăn hối lộ mà xử nhẹ như thế, là một việc xấu hổ cho những người cộng sản, những người cách mạng…”.

Lê-nin dạy chúng ta yêu Tổ quốc và yêu nhân dân một cách thiết tha, không bờ bến, và ghét cay ghét đắng kẻ địch của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời gắn liền tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế.
Lê-nin dạy chúng ta phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ mãi.

Lê-nin dạy chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, vào tương lai của cách mạng và Tổ quốc, vào lực lượng vô cùng to lớn của nhân dân”(5).

Tết Nhâm Thìn 1952 cách đây tròn 60 năm, tình hình đất nước nay có nhiều đổi thay, nhiều nhiệm vụ cụ thể hiện nay đã khác nhưng tinh thần bài nói chuyện của Người nhân dịp tết Nhâm Thìn năm ấy về chống những trở ngại cố hữu trong quản lý kinh tế-tài chính thì vẫn còn nguyên tính thời sự. Đó là chống các bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí. “Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra. Vì vậy từ nay toàn thể đồng bào, toàn thể chiến sĩ, toàn thể cán bộ phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào. Người phạm tội đã đành, người thấy những tội ấy mà không nêu ra, cũng như có tội. Vì vậy bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên, toàn dân đều hăng hái tham gia, để giáo dục nhau, để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia, để dọn đường cho thắng lợi mới”(6). Vấn đề tự phê bình, phê bình, chỉnh đốn Đảng là vấn đề cốt tử trong công tác xây dựng đảng, là vấn đề suốt đời Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo để Đảng ta thật trong sạch, vững mạnh. Trong nhiều năm qua, Đảng ta thực hiện nhưng chuyển biến chậm. Nguyên nhân có nhiều nhưng chúng ta chưa chú ý đến cách làm, phương pháp mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: 1) Tự phê bình và phê bình phải có “trọng tâm”. 2) Phải “đánh thông tư tưởng” để “kiểm thảo công việc” nghiêm túc chứ không phải chung chung, qua loa chiếu lệ. 3) “Kiểm thảo phải khởi đầu từ cấp trên, dần dần đến cấp dưới. Cán bộ cấp trên làm gương mẫu thật thà tự phê bình, phải hoan nghênh và khuyến khích mọi người phê bình mình, tức là phải thực hiện dân chủ rộng rãi. Từ trên xuống và từ dưới lên”(7). Người đặc biệt lưu ý cán bộ cao cấp: “Cán bộ quyết định mọi việc. Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp, đều giữ những trách nhiệm quan trọng. Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”(8). Xuân mới đã về, nhớ Bác, nhân dân chân thành mong mỏi các đồng chí lãnh đạo cấp cao ghi tạc lời dạy trên của Người để làm tròn trọng trách xây dựng Đảng.

Lâu nay Đảng ta lấy tư tưởng của Bác để xác định mục tiêu xây dựng nước Việt Nam thành một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhân dịp đầu xuân chúng ta vui mừng phát hiện thêm được một tư tưởng lớn nữa của Người về mục tiêu xây dựng đất nước là: “Dân giàu nước sang”(9). Nước sang theo Bác là một nước nhân dân không chỉ giàu có mà còn sang trọng, lịch thiệp, từ trẻ đến già, từ cán bộ đến dân thường, ai ai cũng là người tử tế, có lòng tự trọng cao, biết tự hào, tự tôn dân tộc, biết xấu hổ, có đạo đức, văn hóa, thanh lịch và giàu lòng nhân ái.

Năm Giáp Thìn 1964, cuộc kháng chiến giành độc lập thống nhất đất nước của nhân dân ta đang bước sang giai đoạn gay go quyết liệt. Đầu năm mới Bác gửi thư chúc tết đồng bào chiến sĩ cả nước. Cuối thư Người có thơ chúc:

“Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”.

Trong năm này Người tập trung sức lực lãnh đạo Bộ Chính trị bàn sâu vào mấy nhiệm vụ:
1) Lãnh đạo tốt hơn cuộc vận động “Ba xây, ba chống” (nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu).

2) Chấn chỉnh việc chỉ đạo cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Người lưu ý ban chỉ đạo vấn đề xóa bỏ “nạn cường hào mới” ở một số hợp tác xã, có như vậy mới chống được bệnh quan liêu.

3) Bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nhắc nhở miền Bắc phải chuẩn bị để đối phó với tình hình xấu nhất vì âm mưu của Mỹ đánh phá miền Bắc là vấn đề chiến lược chứ không phải sách lược. Ngày 9-11-1964, Người cùng Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh đi thăm Đoàn không quân Sao Đỏ bảo vệ Thủ đô. Người nói: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi… Nghệ thuật đánh địch của Việt Nam rất độc đáo. Vũ khí trong tay người Việt Nam dù thô sơ cũng giành được hiệu suất cao. Phải phát huy cách đánh truyền thống của ta. Không ngại quân địch hiện đại. Hãy bắt chước chiến sĩ, đồng bào miền Nam, nắm thắt lưng địch mà đánh”(10). Tháng 9, Người cử Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn vào Nam. Trong bữa cơm tiễn đưa, Người nói: “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ càng khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào miền Nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: “Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào miền Nam”(11).

4) Người phát động phong trào thi đua yêu nước: “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”. Trong năm này, Quốc hội khóa III, phiên họp thứ nhất bầu Người tái giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm và hứa sẽ luôn cố gắng để làm tròn trách nhiệm.

Có ai ngờ được năm này lại là năm Thìn cuối cùng trong cuộc đời Bác. Nhưng cũng chính năm Thìn này, nhà chiến lược thiên tài Hồ Chí Minh đã chuẩn bị mọi vấn đề cần thiết để quân dân ta tiếp tục chiến đấu và chiến thắng, để Bắc – Nam thống nhất một nhà. Nhiều điều Người chỉ ra Đảng và nhân dân ta đã làm được xuất sắc. Nhưng cũng còn nhiều điều Người dặn năm xưa vẫn đang còn đó, đang nhắc nhở chúng ta phải học và nhất là phải làm sao cho xứng đáng là những hậu duệ kế thừa sự nghiệp cao cả của Người. Hãy phấn đấu trung thành và trung thực để hiện thực hóa mong mỏi cháy bỏng suốt cuộc đời Bác: “Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng”(12).
——
(1) Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, NXB CTQG, H.1993, tập 1, tr.296. (2) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 2, tr.98. (3) Sđd, tr.101. (4) Sđd, tr.107. (5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 6, tr.386-387. (6) Sđd, tập 6, tr.394-395. (7) Sđd, tr.412-413. (8) Sđd, tr.480. (9) Sđd, tr.439. (10) Sđd, tr.152-153. (11) Sđd, tr.134. (12) Sđd, tr.89.

xaydungdang.org.vn

Hai bài thơ chúc Tết năm Thìn của Hồ Chủ Tịch

Dù bận trăm công nghìn việc nhưng suốt 22 xuân truyền thống của dân tộc – kể từ năm 1947 đến năm 1969, mỗi dịp Tết đến xuân về, Bác Hồ thường có thơ chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đây vừa là lời kêu gọi, động viên, khích lệ tinh thần đồng bào cả nước cùng kiều bào ta ở nước ngoài cùng cố gắng, ra sức thi đua lao động sản xuất, chiến đấu, vừa là mừng xuân mới. Cứ đến thời khắc chuông đồng hồ điểm 12 tiếng đêm giao thừa, mỗi người dân đất Việt lại chăm chú nghe lời thông báo của phát thanh viên đài Tiếng nói Việt Nam: “Trân trọng mời đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ở nước ngoài lắng nghe thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Giọng nói của Bác Hồ ấm áp và gần gũi biết bao!

Xuân Nhâm Thìn (năm 1952):

Những vần thơ giản dị như đang truyền đến toàn dân sức sống, lòng tin và niềm vui của mùa xuân:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa sáu năm
Trường kỳ và gian khổ
Chiến thắng trăm phần trăm
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Xuân Nhâm Thìn 1952
Hồ Chí Minh (1)

Lúc này, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân cả nước đã trải qua được sáu năm gian khổ và đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Với hai chiến dịch Hòa Bình (mùa xuân), Tây Bắc (mùa đông), quân ta áp đảo quân Pháp, giữ vững và phát triển mạnh thế chủ động chiến lược. Bác Hồ với vai trò một vị tổng chỉ huy tối cao đã thấy trước cuộc chiến sẽ trăm phần trăm thắng lợi. Bác đã hô hào đồng bào và chiến sĩ hãy tích cực thi đua nhiều hơn nữa, mỗi người làm tròn nhiệm vụ của mình để góp phần vẻ vang trong cuộc đại thắng của dân tộc.

Năm 1952 là năm khởi đầu cho giai đoạn chuyển tiếp chiến lược, chuẩn bị cho công cuộc “tổng phản công” trên khắp các mặt trận. Toàn quân và toàn dân dốc sức tổng lực hướng về tiền tuyến, mở chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954 chấn động địa cầu, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ trên đất nước Việt Nam, mở ra phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên toàn thế giới.

Xuân Giáp Thìn (năm 1964):

Sau vòng quay tuần hoàn của 12 con giáp, Xuân Giáp Thìn là thời điểm năm thứ tư của thời kỳ miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Cách mạng nước ta có nhiệm vụ vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa phải chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam. Thư chúc Tết năm 1964 của Bác Hồ nhắn gởi nhân dân như sau:

“Bắc Nam như cội với cành
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng
Rồi đây thống nhất thành công
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà
Mấy lời thân ái nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”.

Xuân Giáp Thìn 1964
Hồ Chí Minh (2)

Vui Xuân, nhưng Bác Hồ luôn luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy đoàn kết một lòng để thực hiện thành công cuộc kháng chiến cứu nước, thống nhất nước nhà. Bắc Nam sum họp là ước nguyện của cả dân tộc. Ứơc nguyện của người cha già dân tộc, của cả đất nước sau 21 năm đã thành hiện thực. Ngày nay, cả dân tộc ta đang bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn phấn đấu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Chúng ta cùng tin tưởng rằng, với những phẩm chất quý báu, với truyền thống tốt đẹp của một dân tộc anh hùng, chúng ta sẽ làm tốt những gì mà sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn…

—————–
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 390.
(2) Sách đã dẫn, tập 11, tr.187.

Phan Quán
286 Phan Bội Châu, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

xaydungdang.org.vn

Kỷ niệm đi chợ Tết cùng Hồ Chủ tịch

“Để tìm hiểu đời sống người dân, 30 Tết năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh hóa trang thành công nhân đang cùng con cháu đi chợ Đồng Xuân sắm Tết. Đi chợ về, Bác rất vui”, ông Lê Minh Thưởng, người cận vệ năm xưa kể lại.

Ông Lê Minh Thưởng bên 5 cây thị già được vinh danhÔng Lê Minh Thưởng cũng là chủ nhân của 5 cây thị già được vinh danh “Cây di sản Việt Nam”.
Ảnh:Nguyên Khoa.

Tốt nghiệp trường Trung cấp Công an, năm 1960 chiến sĩ Lê Minh Thưởng được điều về Hà Nội bảo vệ Đại hội Đảng lần thứ ba. Sau đó, một số lính trẻ được lựa chọn ở lại làm cận vệ cho Hồ Chủ tịch, trong đó có Lê Minh Thưởng.

Nhiệm vụ đầu tiên của chiến sĩ Thưởng là túc trực 24/24h trên con đường dẫn vào nhà sàn nơi Hồ Chủ tịch ở, tuyệt đối không để xảy ra bất cứ sự cố nào. Đêm đến, ngồi dưới nhà sàn canh giấc ngủ cho Chủ tịch, để khi cần Người chỉ cần gọi “cúc cu” (cách gọi quen thuộc của Chủ tịch khi cần gọi cận vệ từ thời ở ATK) là sẵn sàng có mặt.

Ông Thưởng kể, hàng đêm Hồ Chủ tịch thường ngủ rất ít vì phải thức rất khuya để làm việc, nhưng sáng hôm sau lại dậy rất sớm để cổ vũ, nhắc nhở mọi người tập thể dục. Hằng ngày Chủ tịch sang Văn phòng Trung ương làm việc, tiếp đón khách và các đoàn đại biểu, tối về tiếp tục làm việc đến khuya. Thời gian rỗi Chủ tịch đọc sách, câu cá. Đội cảnh vệ 7 người liên tục túc trực bên cạnh.

Đã bước qua tuổi 70, nhưng người cận vệ năm xưa vẫn nhớ như in cảm xúc lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hôm đó, đúng vào ca trực của Lê Minh Thưởng, trời mưa gió sấm chớp, vừa nghe “cúc cu, cúc cu…”, ông liền đi như chạy đến chỗ Chủ tịch đang làm việc, trống ngực đập liên hồi. “Khi tôi bước vào chào, Bác quay lại nhìn. Tự nhiên mọi sự hồi hộp tan biến, thay vào đó là cảm giác gần gũi, tự tin như mình đang nói chuyện với người thân vậy”, ông Thưởng nhớ lại.

Ông Thưởng (áo trắng, ôm bé gái ngồi cạnh Bác Hồ) trong bức hình chụp chung với Bác và bộ chính trị. Ảnh: Nguyên Khoa chụp lại tư liệuÔng Thưởng (áo trắng, ôm bé gái ngồi cạnh Hồ Chủ tịch) trong bức hình chụp chung với
Chủ tịch và Bộ chính trị. Ảnh tư liệu.

Kỷ niệm đáng nhớ nhất của người công an xứ Nghệ với Hồ Chí Minh là lần được đi chợ Đồng Xuân vào dịp Tết. Để tìm hiểu đời sống của đồng bào và việc đảm bảo hàng hóa chuẩn bị phục vụ Tết của nhà nước, một tuần trước Tết Quý Mão (1963), Hồ Chủ tịch nhắc Văn phòng Chủ tịch nước báo cho Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn rằng Tết này Người muốn thăm chợ Đồng Xuân – khu thương mại sầm uất, nhộn nhịp nhất Hà Nội.

Lãnh đạo Bộ Công an đã giao Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ) lên các phương án bảo vệ tuyệt đối an toàn khi Hồ Chủ tịch đi chợ Tết Đồng Xuân. Sau khi nghiên cứu, Cục Cảnh vệ lựa chọn phương án hóa trang Chủ tịch thành người công nhân đi sắm Tết.

30 Tết năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vui và bảo cận vệ hóa trang cho mình. Người đeo kính trắng mắt tròn, mặc quần áo cũ đã sờn màu bạc, khoác chiếc áo mưa vải bạt có vài chỗ đã sờn, cổ quàng chiếc khăn len màu tối để che bớt chòm râu, đầu đội mũ trắng, chân mang tất màu cỏ úa, dép cao su đen như một người công nhân già đang cùng 2 người con, cháu xách làn đi chợ sắm đồ Tết.

Thong dong vào chợ, đến trước cửa hàng lương thực, thực phẩm có đề hai tấm biển “tem phiếu” và “tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại suy nghĩ một chút rồi bước tới tấm biển có đề chữ “tự do” và hỏi cô bán thịt “mánh thịt ni răng nấy?”. Người bán thịt ngạc nhiên không hiểu, anh em cận vệ vội vàng chen ngang không để người bán hàng kịp nhận ra tiếng Hồ Chí Minh.

Sau đó Hồ Chủ tịch và các cận vệ tiếp tục đi xem các quầy hàng phục vụ Tết. Đến khu vực bán hoa tươi cạnh mấy ông đồ già đang ngồi viết câu đối, Chủ tịch ngồi xuống hỏi giá một bó huệ trắng. Sau khi cô bán hàng đáp 5 hào, các cảnh vệ phải chạy đến trả giá 2 hào với mong muốn cô ấy sẽ không bán bó hoa huệ để Chủ tịch và mọi người đi khỏi chợ. Khi Chủ tịch đi rồi, ông Vũ Kỳ nói Lê Minh Thưởng lại mua bó hoa huệ trắng mang về.

Về đến nhà, vừa xuống xe Hồ Chủ tịch nở nụ cười rất tươi và nói: “Hôm nay bác cháu ta đi chợ Tết xem được nhiều, hiểu được dân tình ăn Tết sung túc, vui vẻ mà không bị lộ, nhưng lại không mua được gì…”. Ông Vũ Kỳ vội báo cáo mua được bó hoa huệ trắng. Lúc đó, ông Thưởng nhanh nhẹn mang bó hoa lại, nhìn thấy Chủ tịch cười vui và khen: “Các chú sáng tạo đấy, như thế là trọn vẹn!”.

Hồi tưởng lần đi chợ Tết Đồng Xuân, ông Thưởng tâm sự: “Nếu để Bác mua hàng thì nhiều người tinh ý sẽ nhận ra Bác Hồ với chất giọng Nghệ và đôi mắt sáng cùng chòm râu bạc. Khi đó người dân đi chợ sẽ chạy đến để được ngắm nhìn Bác, gây náo loạn”.

Ông Lê Minh Thưởng luôn nâng niu, trân trọng những kỉ vật thời kì làm cận vệ của Bác Hồ. Ảnh: Nguyên KhoaÔng Thưởng luôn nâng niu những kỷ vật thời kỳ làm cận vệ của Hồ Chủ tịch.
Ảnh: Nguyên Khoa.

Ông Thưởng còn nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cận vệ không được làm náo loạn bằng việc chạy môtô dẹp đường mà chỉ cần hóa trang cho thật tự nhiên và tốt nhất là đi bộ, nói chuyện. Với anh em cận vệ, Hồ Chủ tịch luôn xưng chú: “Các chú là công an, biết thì nói không biết thì hỏi, đừng làm thinh”. Và Người thẳng thắn phê bình, chỉ ra những gì được và chưa được để anh em rút kinh nghiệm.

Nhắc đến những kỷ niệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh, ánh mắt người công an năm xưa ánh lên vẻ tự hào rồi ngấn lệ: “Được làm cận vệ của Bác là niềm vinh hạnh lớn nhất đời tôi. Gần Bác, tôi cũng như các chiến sĩ học được rất nhiều điều về cuộc sống, đó là sự kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, chịu khổ, biết quan tâm đến mọi người. Bác mất, cả dân tộc, cả thế giới tiếc thương, còn với mỗi người cận vệ chúng tôi thì như mất đi một cái gì đó quá lớn”.

Sau khi Hồ Chủ tịch mất, vẫn với vị trí là chiến sĩ cảnh vệ, ông Lê Minh Thưởng và đồng đội đã cùng tôn tạo, mở rộng thêm ao cá Bác Hồ. Mặc dù sau đó được chuyển về làm ở nhiều địa phương, nhưng năm nào ông Thưởng cũng ra Hà Nội để được đến ngôi nhà sàn năm xưa.

Nguyên Khoa

vnexpress.net

Chuyện Tết của Bác Hồ

Báo tin tức – Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đi vào cõi vĩnh hằng cách đây đã hơn 40 năm. Nhớ đến Bác, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ đến những bài thơ chúc Tết của Người mang những tư tưởng lớn, hoài bão lớn và tình cảm sâu nặng đối với đồng bào, chiến sỹ trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Tuy nhiên, còn những chuyện vô cùng cảm động về đời sống của Bác trong những ngày Tết đoàn tụ của mọi gia đình Việt Nam thì rất ít người biết đến.

Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm và chúc Tết đồng bào tỉnh Hà Bắc (Xuân Đinh Mùi, 9/2/1967). Ảnh: Tư liệu

Xin hãy bắt đầu bằng Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên – Tết Đinh Hợi năm 1947. Năm 1946, mặc dù là một năm được mô tả như ngàn cân treo sợi tóc, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác, toàn dân ta đã vượt qua khó khăn, thử thách và vững bước đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ để rồi đi tới “9 năm làm một Điện Biên…” như lịch sử đã khẳng định. Theo quyết định của TW, Bác rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến và đêm 13/1/1947, Người đã tới thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Kể từ ngày rời Hà Nội, đây là điểm dừng chân thứ tư của Bác trên đường trường kỳ kháng chiến. Bác ở đây tổng cộng 21 ngày và cũng tại đây, cùng với việc viết thư, điện gửi những người đứng đầu nhà nước và Chính phủ Pháp vừa thuyết phục, vừa đấu tranh nhằm không để cuộc chiến tranh Pháp- Việt xảy ra, Người đã làm bài thơ chúc Tết lần đầu tiên đọc trên sóng phát thanh đêm giao thừa năm ấy.

Ở đây, trong điều kiện khó khăn và thiếu thốn không thể kể hết, hàng ngày Bác vẫn làm việc và sinh hoạt theo một nếp rất khoa học và chính xác về thời gian đối với từng việc, từng giờ mà Người đã định trước. Chiều 21/1 tức 30 Tết, từ Cần Kiệm, Bác đi Phủ Quốc Oai dự phiên họp tất niên của Chính phủ, sau đó đến Đài Tiếng nói Việt Nam hiện sơ tán ở Chùa Trầm (Chương Mỹ) để đọc thơ chúc Tết. Trời bắt đầu đổ mưa từ trước giờ Ngọ nên đường rất trơn, xe chở Bác chỉ đi được một đoạn thì bị tụt một bánh xuống ruộng. Mấy người phục vụ phải chia nhau vào xóm tìm người ra khênh xe giúp. Kéo được xe lên và đến được địa điểm họp dự họp xong, lúc 22 giờ rưỡi Bác đi đến Đài phát thanh. Lúc này trời càng mưa to, đường lầy và trơn hơn đoạn đến Phủ Quốc Oai. Nhưng xe vẫn lăn bánh trong màn mưa và gió lạnh hun hút thổi. Đọc thơ chúc Tết xong, Bác rời Đài ra về lúc 0 giờ 45 phút. Trời vẫn tiếp tục mưa và mưa ngày càng xối xả. Xe lại sa lầy, anh em phải xuống đẩy. Về cách nhà chừng 2 km, xe tụt cả hai bánh xuống ruộng. Không mượn được người khênh xe vì đang là giao thừa, Bác nói lái xe ngủ lại trông xe, còn mấy Bác cháu cùng xắn quần đội mưa cuốc bộ về nhà “xông đất”. Về đến nhà trời đã gần sáng rõ. Sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ đọc 2 bài báo của Butbiên, Bác mới đi nghỉ. Nhưng chưa đầy 7 giờ, Bác đã ngồi khai bút bằng việc sửa cuốn “Vấn đề du kích” Người đã soạn trước đó.

Việc ăn ở của Bác từ ngày sơ tán về đây rất khó khăn. Bác ở tại ngôi nhà của một nông dân nằm chơi vơi giữa sườn đồi. Nhà mới dựng cách đó chưa lâu, vách đất, mái lợp lá mía, gió mùa đông bắc hun hút thổi. Giữa cái lạnh đến ghê người, nhất là mỗi khi cơn gió lùa vào trong nhà, Bác vẫn thanh thản ngồi nghiên cứu và sửa tài liệu theo đúng kế hoạch Người tự đặt ra cho mình trong ngày mồng Một Tết. Bữa cơm của Bác trưa mồng Một Tết cũng giống như những ngày bình thường khác. Chưa đầy 2 bát cơm được đựng trong một âu nhỏ và được ủ nóng. Cơm độn với sắn khô được thái thành những lát nhỏ trộn với gạo và người nấu phải khéo lắm mới bảo đảm cả sắn, gạo cùng chín và dẻo. Thức ăn chỉ có 2 món, gồm mấy miếng thịt nạc rim và bát canh rau cải được mua ở chợ quê gần đấy. Đây là những món ăn rất quen thuộc đối với Bác khi còn ở Hà Nội. Với khẩu phần ăn quá đạm bạc ấy, anh em rất lo cho sức khỏe của Bác. Nhưng với Bác thì như Người nói: “Khó khăn, vất vả của Bác so với nhân dân và chiến sỹ là không đáng kể”.

Từ Tết kháng chiến chống Pháp đầu tiên, gần 20 năm sau Bác lại có một cái Tết chống Mỹ đầu tiên, tuy điều kiện có khác nhiều so với trước vì một nửa nước đã có hòa bình.

Đó là Tết Ất Tỵ năm 1965, Bác đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ và công nhân sản xuất than tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh chỉ trước đó mấy tháng, vào ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và đây là điểm máy bay Mỹ đã đánh phá. Không ngăn được ý định về cuộc đi thăm Tết này của Bác, nên tỉnh Quảng Ninh và các ngành có liên quan đã chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để đón Người. Hiểu điều đó, Bác đã nói với Bí thư Tỉnh ủy ngay lúc mới gặp: “Cố gắng kết thúc mít tinh sớm để mọi người về gia đình đón năm mới và tránh tình huống xấu có thể xảy ra”. Ở đây, Bác muốn nói đến khả năng máy bay Mỹ xâm nhập.

Chiều 1/2/1965, tức 30 Tết Ất Tỵ, Bác về tới Bãi Cháy và khách sạn mà tỉnh bố trí để Người nghỉ lại chỉ cách địa điểm máy bay Mỹ đã đánh phá ngày 5/8/1964 vài trăm mét. Buổi tối hôm đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh có ý định mời Bác dự bữa cơm tất niên với cán bộ chủ chốt của tỉnh và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhờ đồng chí Vũ Kỳ xin ý kiến Bác. Nghe xong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: “Chú cảm ơn tỉnh và nói Bác đã có cơm mang theo rồi. Bí thư và Chủ tịch muốn ăn cơm cùng Bác thì Bác mời”. Việc mang cơm theo mỗi khi đi làm việc với các địa phương từ lâu đã trở thành nếp quen vì Bác không muốn gây phiền hà và tốn kém cho địa phương. Tuy nhiên, bữa cơm chiều 30 Tết đó vì nể các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Bác vẫn ngồi dự, nhưng Người vẫn ăn cơm và thức ăn mang theo từ Hà Nội. Bác còn vui vẻ gắp thức ăn của mình mời Bí thư Tỉnh ủy cùng “thưởng thức hương vị Hà Nội”.

Hơn 11 giờ đêm sau khi dự đón giao thừa với cán bộ chủ chốt của tỉnh, Bác về phòng nghỉ và cùng đồng chí Vũ Kỳ rà lại chương trình hoạt động của ngày mai. Xong công việc, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ: “Hôm nay, các chú lại không mang cà dầm tương cho Bác”. Cà dầm tương mang đậm hương vị quê hương Nam Đàn là một trong bốn món ăn mặn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của Bác. Và đã có lần khi nhận được một lọ cà dầm tương từ quê gửi ra biếu, Bác đã dặn anh em phục vụ: “Các chú ăn thịt, ăn cá, còn cà thì để phần Bác”. Hương vị “cà dầm tương” đã theo Bác cả khi Người nằm trên giường bệnh. Đó là sáng sớm 2/2/1969, Bác yêu cầu: “Sáng nay, các chú cho Bác một bát con cơm và mấy quả cà”.

Nói chuyện xong với đồng chí Vũ Kỳ, Bác lại ngồi chữa bài nói chuyện ở buổi mít tinh sáng mùng Một Tết cho tới 1 giờ sáng, Người mới đi nằm. Sáng mùng Một Tết, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn sáng, Người từ chối và chỉ uống một tách cà phê. Kết thúc cuộc mít tinh, Bác về lại khách sạn, đồng chí Vũ Kỳ mời Bác ăn điểm tâm với lý do chương trình đi thăm của Bác còn dài, Bác phải ăn một chút mới có sức làm việc hết buổi sáng. Bác không những không ăn, mà còn giục đồng chí Vũ Kỳ đi cho kịp thời gian. Bác rời Hòn Gai và về Uông Bí thăm các chuyên gia Liên Xô đang giúp ta xây dựng Nhà máy điện Uông Bí, thăm Đoàn địa chất số 3 đang thăm dò than ở khu vực này, thăm một gia đình nông dân ở HTX Khe Cát, nói chuyện với công nhân mỏ than Vàng Danh và nhân dân thị xã Uông Bí.

Kết thúc buổi sáng mùng Một Tết với một chương trình làm việc dầy đặc cho tới quá trưa Bác mới rời Uông Bí. Biết Bác đói và mệt vì cả buổi sáng chưa ăn gì, trong khi cường độ làm việc rất cao nên lúc chuẩn bị lên xe rời Uông Bí, đồng chí Vũ Kỳ nói nhỏ với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng: “Chắc giờ này Bác đã đói và mệt. Đến chỗ nào thích hợp anh chủ động dừng và mời Bác ăn cơm”. Xe ra khỏi địa phận Quảng Ninh, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy xin phép Bác dừng lại ăn cơm và Người đồng ý. Bữa cơm trưa mùng Một Tết của mấy Bác cháu tại một trường học trên đường đi cũng vẫn là những món ăn mà Người thích được chuẩn bị từ khách sạn. Ngoài ra, còn có thêm hai món tôm, cá tươi do HTX nghề cá Hùng Thắng mới đánh được đêm qua gửi biếu Bác và được các đầu bếp ở khách sạn chế biến khá công phu. Người ăn rất ngon miệng và còn vui vẻ gắp thức ăn cho vợ và con đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi cùng.

***

Bác đã đi vào cõi vĩnh hằng. Đón xuân Nhâm Thìn nhắc lại câu chuyện về Tết trên đây của Bác giúp mỗi người chúng ta hiểu thêm tình thương bao la và sự hy sinh lớn lao của Người đối với đồng bào, chiến sỹ thiêng liêng và cao quý đến nhường nào. Bác vĩ đại chính là từ những việc làm như thế.

Nguyễn Tử Nên

———————-

Ghi chú: Theo tư liệu của đồng chí Vũ Kỳ, nguyên Thư ký của Bác và có tham khảo thêm tư liệu từ hai cuốn sách: “Chuyện kể về Bác Hồ-Những chặng đường trường kỳ kháng chiến” của Huyền Tím và Tử Nên-NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 và “Phong cách Bác Hồ” của Nguyễn Tử Nên – NXB Quân đội Nhân dân năm 2010.

bqllang.gov.vn

Bác Hồ với mùa xuân thứ 79 của mình

Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Hà Tây năm 1969

Từ năm 1948, trong cuốn Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, nhà cách mạng Phạm Văn Đồng đã viết: Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý, phong độ, ngôn ngữ, tính tình, của một người Việt Nam”.

Quả vậy, Bác Hồ là một trong số ít nhà lãnh tụ sống gần gũi với nhân dân, hoà mình trong quần chúng nhân dân, sống giản dị như mọi người dân bình dị khác. Nhớ lại đêm giao thừa của Tết độc lập đầu tiên, năm 1946, Bác đã cùng đồng bào Thủ đô đi hái lộc Đền Ngọc Sơn, bên Hồ Hoàn Kiếm trong cảnh chen chúc của đêm giao thừa ấm cúng. Và sau đó, hầu như năm nào Bác cũng đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sỹ.

Một ngày áp Tết Kỷ Dậu 1969, sau khi nghe đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác báo cáo chương trình tuần làm việc tới, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Tết năm ngoái Bác không đi thăm đồng bào và bộ đội được, năm nay các chú chuẩn bị cho Bác đi chúc Tết vài nơi. Nghe Bác nói vậy, các đồng chí phục vụ rất lo lắng. Sức khỏe của Bác bây giờ không còn được như trước nữa. Các bác sỹ chăm sóc sức khỏe cho Bác đã báo cáo Trung ương và đề nghị một số điều cần tránh đối với Bác là tránh những xúc động mạnh, tránh đi lại nhiều… Vì vậy, các đồng chí phục vụ có ý trì hoãn cuộc đi của Bác. Nhưng chỉ hai ngày sau, Bác đã hỏi lại việc này đồng chí Vũ Kỳ báo cáo:

– Thưa Bác, tôi đang liên hệ với các nơi.

Bác nói:

– Chú liên hệ như thế thì làm sao giữ được bí mật.

– Đồng chí Vũ Kỳ đáp:

– Dạ thưa, tôi cũng chỉ mới gọi điện thăm dò thôi ạ.

Bác nói luôn:

– Thôi chú không phải thăm dò gì cả. Chú có nhớ Bác mới phát động Tết trồng cây năm nay là năm thứ mấy rồi không?

– Thưa Bác, năm thứ 10 ạ – đồng chí Vũ Kỳ trả lời.

– Đúng, nhân dịp kỷ niệm 10 năm Tết trồng cây, chú bố trí cho Bác đi trồng cây ở một địa phương có thành tích.

Và Bác đã đề nghị các đồng chí phục vụ chuẩn bị cho Bác đi thăm và trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Bác còn lưu ý, sau khi thăm và trồng cây ở Vật Lại, Bác sẽ thăm một đơn vị bộ đội đóng quân ở Ba Vì, thăm trại chăn nuôi của Anh hùng Hồ Giáo và thăm một trường học cũng ở gần đấy. Bác còn dặn thêm đồng chí Vũ Kỳ:

– Chú nhớ đến đồi cây Vật Lại, chúng ta sẽ trồng thêm môt cây đa.
Thấy chương trình đi chúc Tết của Bác quá nhiều, các đồng chí phục vụ rất lo lắng, song không dám có ý kiến gì. Ngày Tết, Bác đi thăm đồng bào, thăm bộ đội, Bác về với nhân dân, song sức khỏe của Bác lúc này giảm sút rất nhiều, khiến ai cũng phân vân. Các đồng chí phục vụ đã báo cáo Trung ương, đề nghị Bác cho giảm bớt chương trình, nhưng Bác không đồng ý. Không thay đổi được ý định của Bác, bộ phận phục vụ đã đề nghị Bác đi thăm và chúc Tết quân chủng Phòng không – Không quân, vì đơn vị này đóng quân ngay tại Hà Nội. Bác đồng ý. Bổ sung đơn vị này, mọi người có ý định khi Bác ở thăm, sẽ kéo dài chương trình một chút để khi lên tới Vật Lại, Ba Vì trồng cây xong là hết buổi sáng, Bác sẽ không còn thời gian để đi các nơi khác nữa. Đúng 7 giờ sáng mồng một Tết Kỷ Dậu (16 tháng 2 năm 1969), các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng và anh em phục vụ đã đưa Bác đi thăm và chúc Tết quân chủng Phòng không – Không quân. Gặp bộ đội, Bác rất vui. Hôm ấy là ngày chủ nhật, nhưng theo kế hoạch đã được Văn phòng Chủ tịch nước báo trước, quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức hội nghị điển hình tiên tiến, vì vậy rất nhiều đại biểu là anh hùng, chiến sỹ thi đua được báo công với Bác. Nghe những báo cáo ấy, Bác phấn khởi hẳn lên.

Khi chia tay bộ đội để tiếp tục chương trình thì đã quá 9h30. Đồng chí Vũ Kỳ báo cáo với Bác là đã hẹn với lãnh đạo tỉnh Hà Tây 10h đón Bác tại thị xã Sơn Tây để đi trồng cây. Vì vậy, sẽ không còn thời gian rẽ vào Ba Vì để thăm đơn vị bộ đội nữa. Bác đồng ý.

Khoảng 11h trưa, Bác đến Vật Lại. Tại đây, Bác tham gia trồng cây với mọi người. Sau đó, Bác vui vẻ cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn. Bác thân mật hỏi chuyện từng người. Bác dặn: “Phải dân chủ với dân. Phải để cho dân phê bình cán bộ, đảng viên”. Thật là một hình ảnh đẹp. Một vị Chủ tịch nước, một lãnh tụ tối cao của dân tộc cùng ngồi đàm đạo với nhân dân về việc “trồng người”, ngay sau khi vừa làm xong việc trồng cây, giữa ngày xuân. Buổi sáng ngày mồng một Tết, ngày đầu tiên của mùa xuân thứ bảy mươi chín của Bác Hồ là như vậy.

Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu năm 1969 ấy là dịp cuối cùng Bác đi thăm chúc Tết đồng bào và bộ đội, là mùa xuân cuối cùng Bác tham gia trồng cây. Nhưng phong trào Tết trồng cây được Người khai sinh từ mùa xuân năm Canh Tý 1960 đến ngày nay vẫn được duy trì.

Đã ba mươi tám mùa xuân Bác đi xa, nhưng sự nghiệp của Bác, tư tưởng và tình cảm, đạo đức và tác phong của Bác vẫn mãi mãi song hành cùng dân tộc, cùng non sông đất nước ta.

LÂM BẰNG

Theo vtr.org.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và những ngày Tết đáng nhớ tại Hà Nội

Bác Hồ đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sỹ cảnh vệ Xuân Quý Mão 1963. (Ảnh tư liệu)

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu đã nhiều lần đón Xuân cùng nhân dân Hà Nội. Trong những ngày Tết cổ truyền, hòa trong dòng người đi hái lộc, du Xuân, Bác đến xông nhà, chúc phúc đầu Xuân, mang may mắn đến cho các gia đình, nhất là những gia đình nghèo còn gặp nhiều khó khăn.

Tết Bính Tuất năm 1946

Trong cái Tết độc lập đầu tiên, vào đêm giao thừa, Bác đến thăm một số gia đình lao động nghèo và một số nhân sỹ trí thức ở Hà Nội. Sau đó, Bác cải trang như người dân thường đến thăm Đền Ngọc Sơn, hòa trong niềm hân hoan của nhân dân đón khoảnh khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Tết Bính Thân năm 1956

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm anh em miền Nam tập kết xa nhà và thăm Trường Cán bộ dân tộc thiểu số. Sau đó, Bác đi chúc Tết đại biểu nhân dân của Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội.

Tết Đinh Dậu năm 1957

Sáng mồng 1 Tết, Bác về thăm và chúc Tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phù Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ, Hà Nội) như gia đình cụ Công Ngọc Phan, các gia đình ông Môn, bà Kinh, bà Phó Ái.

Nói chuyện với nhân dân trong thôn, Bác chúc đồng bào đoàn kết, đoàn kết quân và dân, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Sau đó Bác đến thăm và chúc Tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, căn dặn cán bộ, chiến sỹ phải thực hiện đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, luôn cảnh giác giữ gìn ý chí chiến đấu, tác phong và kỷ luật quân đội, tiết kiệm, giúp đỡ nhân dân, cố gắng học tập và rèn luyện.

Tết Mậu Tuất năm 1958

Những ngày đầu Xuân năm 1958, Bác đến thăm và chúc Tết một số cơ quan, đơn vị bộ đội tại Hà Nội. Tại Nhà máy Cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy Chế tạo công cụ số 1), sau khi đi thăm khu tập thể công nhân, Người yêu cầu các chi bộ Đảng, công đoàn và đoàn thanh niên cần phải quan tâm cải thiện nhiều hơn nữa đời sống người lao động, phối hợp chặt chẽ vận động công nhân thi đua thực hiện tốt kế hoạch nhà nước năm 1958.

Đến thăm Khu Việt Nam học xá (nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Bác nói với các sinh viên “Học để mà hành, học để phục vụ nhân dân, không phải để làm quan, mà phải trau dồi cả đức, cả tài, không có đức thì vô dụng, không có tài thì làm gì cũng khó.”

Tết Canh Tý năm 1960

Bác thăm công viên Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất) và trồng cây đa tại công viên mở đầu phong trào “Tết trồng cây” do Bác phát động.

Từ đó “Tết trồng cây” đã trở thành truyền thống tốt đẹp của nhân dân Hà Nội và cả nước trong những ngày đón Xuân.

Tết Tân Sửu năm 1961

Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết gia đình một công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống; gia đình một cán bộ công đoàn Nhà máy Cơ khí Hà Nội; gia đình một Việt kiều mới về nước; gia đình một xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp người Hoa; gia đình bác sỹ Hồ Đắc Di và gia đình giáo sư Tôn Thất Tùng.

Ngày mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc tết cán bộ chiến sỹ ở một đơn vị công an vũ trang và một đơn vị bảo vệ Thủ đô; cán bộ công nhân Nhà máy Dệt kim Đông Xuân, Nhà máy rượu Hà Nội, Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà…

Tết Nhâm Dần năm 1962

Tối 30 Tết, Bác cùng đồng chí Nguyễn Lam – Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Nguyễn Khai – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trần Duy Hưng- Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, đến thăm Câu lạc bộ thiếu nhi và vui Tết với các cháu.

Sau đó, Bác cùng đoàn đi chúc Tết gia đình công nhân Nguyễn Văn Mộc – Chiến sỹ thi đua 5 năm liền của Nhà máy Cao su Sao vàng; cụ Đỗ Văn Điện – Ủy viên Ban đại diện phụ lão khu phố Hai Bà Trưng; giáo sư, thạc sỹ Đặng Văn Chung – Phó Giám đốc Trường đại học y dược; gia đình ông Dương Kỳ Nghiệp – cán bộ miền Nam tập kết; ông Vương Tước Cường – công nhân Hoa kiều; nhà tư sản Nguyễn Chương Hồng – Giám đốc Xưởng cơ khí Công ty hợp doanh Đồng Tháp và một số gia đình lao động ở phố Lý Thái Tổ.

Tiếp đó, Bác đến thăm cán bộ, công nhân Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang chuẩn bị cho buổi phát thanh đặc biệt đón giao thừa.

Tết Quý Mão năm 1963

Sáng 29 Tết, Bác thăm chợ Tết Đồng Xuân. Bác đi theo đường Nguyễn Thiệp vào cổng sau của chợ. Người chăm chú quan sát cảnh mua bán tấp nập, dừng chân xem ông đồ viết câu đối Tết, có lúc hỏi giá hàng…

Khi đến thăm chợ hoa, Bác định mua một bó hoa huệ nhưng đồng chí cảnh vệ sợ lộ bí mật nên trả giá rất rẻ để rút lui. Bác nói vui: “Trả giá như chú, cả ngày đi chợ cũng chả mua được gì.”

Tối giao thừa, Bác đi thăm và chúc Tết một số gia đình, đơn vị bộ đội ở Hà Nội; thăm gia đình Anh hùng Lao động ngành công nghiệp Mai Đình Cường; gia đình cụ Võ Thị Xuân, 72 tuổi; ông Phạm Công – Việt kiều mới về nước; nhà tư sản dân tộc Nguyễn Văn Thức và gia đình ông Hồ Đắc Điềm – nhân sỹ trí thức.

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân Nhà máy ôtô Hòa Bình; bà con xã viên hợp tác xã Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp (huyện Thanh Trì), một đơn vị bảo vệ Thủ đô, một đơn vị Cảnh sát Nhân dân quận Hoàn Kiếm và Cục cảnh vệ – Bộ Công an.

Tết Giáp Thìn năm 1964

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội; gia đình công nhân Nhà máy nước Phan Huy Nhật; Trưởng ban bảo vệ khu phố Nguyễn Văn Tố; nhà khoa học Nguyễn Xiển; giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước; Việt kiều Phan Văn Chúc.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện ủy, Ủy ban Hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh.

Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi.”

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở Công an Hà Nội.

Tết Ất Tỵ năm 1965

Bác tham gia Tết trồng cây với nhân dân hợp tác xã Phú Diễn, xã Trần Phú, huyện Từ Liêm. Bác chúc Tết bà con xã viên, nghe đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã báo cáo tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương.

Bác nhắc nhở hợp tác xã cần phải đẩy mạnh sản xuất hơn nữa và chỉ dẫn tỷ mỉ cách đào giếng nước, xây dựng công trình vệ sinh cho bà con nông dân.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Đại đội 27, bộ đội Công binh Quân khu 3. Bác khen ngợi đơn vị năm qua đã đạt được nhiều thành tích trong phục vụ chiến đấu, xây dựng các công trình quốc phòng, bắn rơi máy bay Mỹ, góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân và toàn quân ta, và căn dặn bộ đội phải dũng cảm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn để giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đoàn kết tốt, giữ gìn vũ khí trang bị tốt, thực hành tiết kiệm.

Tết Đinh Mùi năm 1967

Sáng mồng 1 Tết, Bác đi thăm và chúc Tết một số đơn vị bộ đội phòng không và không quân bảo vệ Thủ đô. Sau khi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ, Bác đến thăm Trung đoàn Không quân tiêm kích 921 (Đoàn Sao đỏ). Bác khen ngợi thành tích của cán bộ chiến sỹ và căn dặn: “Các chú phải học tập rèn luyện hơn nữa. Càng học tập, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi.”

Bác tặng quà Tết cho cán bộ chiến sỹ và chúc Không quân nhân dân “Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi mới.”

Tết Kỷ Dậu năm 1969

Đây là cái Tết cuối cùng nhân dân Hà Nội được đón Tết với Bác Hồ kính yêu. Ngày 30 Tết, Bác gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, đơn vị ở Hà Nội như khối 30 khu phố Đống Đa, Phân đội 5 Đoàn Công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Sáng mồng 1 Tết, Bác đến sân bay Bạch Mai thăm Quân chủng Phòng không không quân. Buổi trưa, Bác đến xã Vật Lại (huyện Ba Vì) khai Xuân, trồng cây trên đồi của xã, để lại màu xanh tươi và mùa xuân xanh mãi bất diệt./.

Theo (TTXVN/Vietnam+)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đón xuân mới đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Mỗi độ Xuân về, trong khí thiêng của đất trời, sông núi, trong mỗi chúng ta lại nhớ tới những vần thơ Xuân chúc Tết của Bác Hồ. Kể từ năm 1941, trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước, Người từ Trung Quốc trở về Tổ quốc và cho đến trước lúc đi xa, Bác đã để lại cho chúng ta hàng chục bài thơ Xuân.

Tết Xuân năm 1942, bài thơ đầu tiên của Bác được đăng trên Báo Việt Nam độc lập số 114, ngày 01 tháng 01 năm 1942. Bác viết:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rất vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Những lời thơ Xuân tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều điều xúc tích, với những tiên đoán của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

Năm 1948, trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang dốc lòng dốc sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp, đón Xuân mới, Bác có thơ chúc Tết đồng bào:

Chủ tịch nước tự cuốc đất, trồng cây, tưới nước xung quanh nhà sàn

Năm Hợi đã đi qua,
Năm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công”.

Năm 1951, trải qua 5 năm, chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Báo Cứu quốc, số 1748, ngày 5 tháng 2 năm 1951, đăng thơ chúc Tết Tân Mão của Bác Hồ:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng,
Thi đua chuẩn bị tổng phản công kịp thời”.

Bài thơ Xuân hừng hực khí thế tiến công của Bác đã động viên toàn dân hăng hái thi đua quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi.

Năm 1960, mừng Đảng ta tròn 30 tuổi; mừng Nhà nước tròn 15 Xuân và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, thơ chúc Tết năm 1960 của Bác Hồ như sau:

Mừng Nhà nước ta 15 Xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Năm 1968, mùa xuân Mậu Thân, lời thơ Xuân của Bác đã trở thành mệnh lệnh Tổng tấn công và nổi dậy của khắp miền Nam thành đồng:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”.

Và năm 1969, trước lúc đi xa, Bác đã dành muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho các cháu thiếu nhi và nhi đồng. Bác đã để lại bài thơ chúc Tết cuối cùng, với những lời hịch vang vọng núi sông ngàn năm:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sỹ, đồng bào,
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”

Đọc thơ của Bác và suy ngẫm về những điều Bác nói, ta thấy như Bác đã chỉ rõ con đường của cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, vào mùa xuân năm 1973, với thắng lợi của Hiệp định Pari, chúng ta đã buộc đế quốc Mỹ phải cuốn cờ ra khỏi Tổ quốc Việt Nam. Và hai năm sau, khi Mỹ đã cút, Nguỵ đã nhào, Bắc – Nam sum họp, đất nước thống nhất, “Xuân nào vui hơn”?

Chúng ta cảm ơn đất trời đã cho tiết Xuân, Xuân nồng nàn tình cảm của mỗi con người. Đón Xuân mới, đọc thơ chúc Tết của Bác Hồ, lòng ta lại nhớ tới công lao to lớn của Người, cảm ơn Người đã để lại cho ta những vần thơ Xuân bất hủ…

Đặng Nam Điền

bqllang.gov.vn

Ngày xuân, nghĩ về Bác

Thi thoảng, trong đời sống công chức, chúng ta vẫn thường làm một việc không lấy gì làm mới mẻ: Kê khai tài sản. Nhìn bản Kê khai, ta lại mủi lòng: Sao mãi mình vẫn chưa giàu được nhỉ? Và rồi, ta lại được an ủi. Hóa ra ta vẫn chưa phải là người nghèo nhất. Ngay cả một người nông dân chân lấm, tay bùn, ở dưới đáy xã hội, nhưng vẫn có mảnh vườn, cái ao, hay chí ít cũng có con lợn, con gà. Nghĩa là vẫn có tài sản. Chỉ duy nhất một người dường như không có gì cả, một người nghèo nhất nước. Người đó là Bác Hồ, Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lục lọi trong tiểu sử Bác, đến cả nhà riêng của Người, ta thấy Người có gì? Một tấm áo ka ki, đôi dép cao su, chiếc quạt bằng lá cọ…Vật chất là thế đấy. Còn tinh thần ư? Bác cũng là người duy nhất không có bất kỳ các loại Huân, Huy chương gì, đến cả sơ đẳng nhất là Bằng khen, Giấy khen, Người cũng không có. Bác còn là người nghèo nhất cả trong cõi riêng tư. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại, có những đêm, khuya rồi, Bác đã tắt đèn, nhưng trong phòng vẫn có tiếng đài. Đồng chí Vũ Kỳ tưởng Bác đã ngủ, rón rén đến tắt. Bác ngăn lại: “Đừng… Cứ để thế cho căn phòng Bác nó ấm, vì có tiếng người, tiếng phụ nữ…”

Ôi! Đài Tiếng nói Việt Nam! Vinh quang biết bao! Hạnh phúc biết bao khi Đài đã trở thành người bạn đường, người sẻ chia, an ủi Bác, trong những khoảnh khắc Người cô đơn nhất!

Nghĩ đến Bác, ngay cả một người bất hạnh đến cùng cực, cũng thấy được an ủi, sẻ chia. Hóa ra mình cũng vẫn chưa phải là người bất hạnh nhất.

Một người nghèo nhất nước như Bác, nhưng lại để cho chúng ta một di sản đồ sộ. Đó là một đất nước độc lập, toàn vẹn, một sự nghiệp cách mạng chói ngời, một tấm gương trong sáng và lối sống cao đẹp đến tinh khiết. Ta hiểu vì sao Bác luôn quan tâm đến những người nghèo, người lao động. Bác luôn hướng đến người lao động. Bác đặt tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam. Nghĩa là Đảng của tất cả mọi người, vì ai mà chẳng là người lao động. Bác còn dành lương mua quà cho người nghèo. Vào những dịp Tết đến, xuân về, Bác thường chọn những gia đình nghèo nhất để đến thăm và chúc Tết. Chuyến thăm rất bí mật, không báo trước để địa phương nghênh đón, rồi tuyên truyền, đưa tin. Thường chỉ có Bác và đồng chí Vũ Kỳ. Một chị lao công, ở trong khu hẻm nhỏ, đêm 30 Tết còn đi gánh nước thuê. Bàn thờ trống hoang, không có cả nải chuối, tấm bánh. Tết đến với mọi nhà, nhưng Tết lại quên căn nhà chị. Bởi thế, chị bàng hoàng đến sửng sốt, buông rơi cả hai thùng nước, khi thấy Bác đột ngột xuất hiện trong căn nhà tồi tàn của mình: “Trời ơi, Bác…Gia đình cháu khổ lắm…Cháu không ngờ Bác lại đến với cháu..”. “Thế Bác không đến với cháu thì Bác còn đến với ai?…”. Chị bật khóc. Và Bác cũng khóc. Đó là một trong những cái Tết cuối cùng của Bác trong ký ức của đồng chí Vũ Kỳ.

Dân còn nghèo như thế, nên Bác sống rất đạm bạc tằn tiện. Bữa ăn của Người là bữa ăn của một nông dân nghèo. Tiếp khách quốc tế, Bác vẫn mang trang phục của một người nông dân nghèo. Bộ quần áo nâu và đôi dép cao su. Một đồng chí cán bộ tỉnh ái Ngại: “Thưa Bác, Bác thay mặt cho Đảng, cho dân, Bác vất vả thế này, có khi bạn bè quốc tế lại trách Đảng trách dân không chu toàn với Bác…”. Bác cười điềm đạm “Bác sống thế này mà ở dưới, có chú còn nhũng nhiễu làm khổ dân. Bác mà sống xa hoa thì ở dưới các chú đục khoét hết của dân à?”

Cuộc đời của Bác, nếp sống của Bác là một bài học lớn cho các cán bộ cấp dưới. Ta hiểu vì sao trong những năm chiến tranh, đất nước loạn lạc, mà xã hội lại rất thanh bình, lòng dân không ly tán. Ra đường không lo trấn lột. Về nhà không sợ trộm cắp. Cũng không có tham nhũng, đĩ điếm. Một đời sống lành mạnh giữa một bầu khí quyển trong veo.

Một người suốt đời sống vì dân, lo cho dân, ngay trong những giây phút cuối cùng giã từ cõi đời, phần nói về mình, VỀ VIỆC RIÊNG, Người cũng chỉ dành cho mình đúng 79 chữ. 79 chữ tổng kết cả một đời người 79 năm, trong một ít chữ phong phanh ấy, Người cũng lại chỉ canh cánh lo cho dân, không muốn tổ chức tang lễ điếu phúng linh đình để đỡ tốn thời giờ và tiền bạc của dân.

Chúng ta đang học tập tấm gương đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng thế nào là tư tưởng Hồ Chí Minh? Tôi cũng đã theo học và nghiên cứu. Có rất nhiều định nghĩa. Nhưng cũng không ít những quan niệm áp đặt và chủ quan. Nói về tư tưởng Hồ Chí Minh, có lẽ không có ai nói hay hơn và chuẩn xác hơn cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười. Mà ông cụ lại nói vo ở Hội Nhà văn, nói suốt 4 giờ liền về nhiều vấn đề mà giới văn chương rất tâm đắc. Khi bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ Đỗ Mười đưa ra một định nghĩa rất ngắn mà vô cùng chuẩn xác: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì? Là Việt Nam hóa tất cả những tư tưởng tiên tiến nhất, đặc sắc nhất của nhân loại và biến chúng thành hiện thực ở Việt Nam!”

Quả đúng như vậy. Ta có thể tìm thấy trong những câu nói bất hủ của Người, những kinh nghiệm được đúc kết của rất nhiều thời đại. Và một trong những bài học sâu sắc Người để lại cho chúng ta là sự chiêm cảm tinh vi đến chuẩn xác và nghệ thuật dùng người. Đây chính là một bí mật của Bác mà chúng ta cần nghiên cứu, khám phá. Bác có tầm nhìn rất xa và rất chuẩn xác. Năm 1941, Bác có bức tranh, vẽ cây kèn, con số 1945 cùng câu thơ “Việt Nam Độc lập thổi kèn loa”. Sau quả đúng như vậy. Và như thế, Bác đã “nhìn” thấy ngày Độc lập từ năm 1941. Sau này Người cũng đoán chuẩn xác năm giải phóng Sài gòn. Tối 30/4/1960, trong diễn văn chào mừng Quốc tế Lao động tại Nhà hát Lớn Hà Nội, có một dòng rất đặc biệt, lúc đó Người đã dấu đi bằng một nét gạch xóa, nhưng vẫn còn được lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh “…Cùng lắm cũng chỉ 15 năm nữa, nước nhà sẽ thống nhất, đồng bào Nam, Bắc sẽ xum họp một nhà…”. “15 năm nữa…” tính từ thời điểm năm 1960 thì đúng là năm 1975. Rất chuẩn xác. Bởi thế, có người coi Bác như một vị Thánh. Tài nhất là nghệ thuật dùng người. Đây chính là mấu chốt quyết định sự thắng lợi của cách mạng. Năm 1946, khi phải rời Tổ quốc, Người lại trao toàn quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và chỉ dặn một câu: “Ứng vạn biến, dĩ bất biến”. Với một nhà Nho uyên thâm như cụ Huỳnh, chỉ nói thế là đủ. Điều đáng ngạc nhiên, sao lúc ấy, tình thế rất phức tạp, thù trong, giặc ngoài, trong Chính phủ có bao nhiêu Đảng viên cốt cán, Bác không trao, mà lại trao quyền điều hành đất nước cho một nhân sĩ không phải Đảng viên là cụ Huỳnh Thúc Kháng? Đưa một người không phải đảng viên lên chức vụ lớn, lại trao cho cả vận mệnh đất nước là một quyết định táo bạo. Nhưng bằng lối ứng xử rất đẹp ấy, Bác đã quy tụ được tất cả những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Bởi thế, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, ở nhiều đảng phái khác nhau đều tìm đến với Người, có không ít người từ bỏ đời sống nhung lụa, trở về Tổ quốc, cùng đồng cam cộng khổ với Người. Những năm tháng cam go ấy, không có nhiều ban bệ, tư vấn, mà sao Bác dùng người chuẩn thế. Những cán bộ được Bác chọn, trao việc đều trở thành những nhân vật xuất sắc của lịch sử đất nước. Đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhiều lúc tôi cứ vân vi tự hỏi, bằng phép nhiệm màu nào mà Bác đã nhìn thấy khả năng thiên tài quân sự trong Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng qua bất kỳ một khóa học quân sự nào? Lúc ấy, ông Giáp chỉ đơn thuần là một ông giáo dạy sử ở Trường Tư thục Thăng Long. Một con người hoàn toàn xa lạ với quân binh, trận mạc, vậy mà Bác lại trao cho việc phụ trách quân sự, rồi phong thẳng lên Đại tướng và ủy nhiệm cho toàn quyền quyết định việc quân: “Chú là Tướng biên ải, Tướng ngoài mặt trận, có gì cần thiết, chú cứ quyết rồi báo cáo Bác sau!”. Sau này, ta mới biết việc chọn Tướng Giáp của Bác tài tình đến như thế nào. Võ Nguyên Giáp quả là một thiên tài quân sự. Tên tuổi ông có thể đặt bên cạnh những tên tuổi lừng danh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc: những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Quang Trung…Vậy bằng cách nào Bác phát hiện được khả năng tiềm ẩn một thiên tài quân sự trong dáng vẻ bạch diện thư sinh của một ông giáo dạy sử ở một trường phổ thông? Đó chính là một bí mật. Nhà báo nổi tiếng Mỹ Ladi Boston kể lại rằng, có lần, mấy nhà báo Pháp cũng rất ngỡ ngàng hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh một câu hỏi khá hắc búa: “Thưa ngài Chủ tịch, ngài phong ông Giáp lên thẳng chức Đại tướng, là phong theo tiêu chí nào?”. Bác bảo: “Nước tôi là nước du kích. Chúng tôi đánh giặc theo lối du kích, thì phong hàm cũng là phong theo kiểu du kích. Ông Giáp của chúng tôi đã đánh thắng tất cả các ông tướng tài giỏi của nước Pháp, vậy thì ông ấy phải là Đại tướng thôi”. Nói rồi, Bác cười rất sảng khoái. Mấy nhà báo quốc tế cũng cười. Câu hỏi móc mói nhuốm màu bùa chú đã bị hóa giải.

Bác của chúng ta là thế đấy!. Người rất tài biến những chuyện to tát, nghiêm trọng thành những điều hết sức giản dị, mộc mạc. Chỉ những người từng trải, uyên thâm và lịch lãm lắm mới có thể làm được như thế…

Theo Trần Đăng Khoa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ kính yêu và những năm Thìn đầy dấu ấn

(GD&TĐ) – Trong cuộc đời 79 mùa xuân của mình, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã có 7 lần đón Tết năm Thìn cổ truyền của dân tộc. Đó là những năm Thìn thật đáng nhớ, những năm Thìn đánh dấu những mốc quan trọng trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vì nước, vì dân của Người.

Bác Hồ chúc tết. Ảnh: Tuấn Anh

Bác Hồ chúc Tết. (Ảnh: Tuấn Anh, nguồn: Internet)

Còn nhớ, lúc vừa tròn hai tuổi, dưới tên gọi Nguyễn Sinh Cung, Người đã được đón cái Tết Nhâm Thìn (1892) đầu tiên trên quê nhà xứ Nghệ. Một cái Tết trong vòng tay của cha mẹ và ông bà ngoại tại làng Hoàng Trù, Nam Đàn, Nghệ An. 12 năm sau, Người tiếp tục được đón cái Tết năm Giáp Thìn (1904) cũng tại quê nhà. Năm này, Người 14 tuổi và đang theo học chữ Hán với những thầy đồ nổi tiếng hay chữ và giàu lòng yêu nước ở vùng đất Nghệ Tĩnh và bước đầu tiếp xúc với khẩu hiệu : Tự do-Bình đẳng-Bác ái.

Ngày 5-6-1911, với lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù bọn thực dân xâm lược sâu sắc, Người đã đi ra nước ngoài để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Không theo phái Đông du sang Nhật, Người hướng sang các nước phương Tây, nơi có phong trào đấu tranh cho tự do, dân quyền, dân chủ và có nền khoa học, kĩ thuật hiện đại. Và thế là với 30 năm bôn ba đi tìm hình của nước, Người đã có ba lần đón những cái Tết năm Thìn trên xứ người.

Năm Bính Thìn (1916), Người đón Tết ở xứ sở đảo quốc sương mù. Tại đây, Người đã ra sức hoạt động trong phong trào công nhân Anh và tiếp tục học tập lý luận cách mạng với tinh thần kiên trì cố gắng rất lớn. Trong thời gian này, tuy không tán thành chủ trương cải cách của cụ Phan Châu Trinh, nhưng Người vẫn thường trao đổi thư từ với Cụ để bàn bạc về con đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Đây cũng là thời gian mà phong trào cách mạng trong nước đang ngày càng dâng cao. 12 năm sau, vào mùa thu năm Mậu Thìn (1928), Người về Thái Lan, đến ở Bản-đông, Phi-chít (miền Trung Thái Lan) với biệt hiệu là Nam Sơn. Sau hai tuần, Người đến U-đon (miền Đông Bắc Thái Lan), rồi đi Xa-côn, Nông-khai, Mục-đa-hán, Băng-cố v.v…

Đi đến đâu, Người cũng mở lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ cách mạng; nói chuyện tình hình thế giới, trong nước, tuyên truyền giác ngộ kiều bào. Tại đây, Người chủ trương đổi tên báo Đồng Thanh (của Hội Thân Ái, phát hành năm 1927) thành báo Thân Ái và tiếp tục thông qua tờ báo này đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Nhận thấy kiều bào nơi đây rất hay đi lễ Đức Thánh Trần, Người liền soạn “Bài ca Trần Hưng Đạo” ca ngợi tinh thần yêu nước của Đức Thánh Trần và của tổ tiên ta, khích lệ ý chí quật cường, tinh thần đánh giặc, cứu nước của kiều bào : “Một người Việt hãy đương còn/ Thì non sông Việt vẫn non sông nhà”. “Bài ca Trần Hưng Đạo” được truyền bá nhanh chóng và có hiệu quả lớn. Nhiều “đệ tử Đức Thánh Trần” trước chuyên đi lễ, đã dần dần giác ngộ tham gia Hội Thân Ái và những hoạt động yêu nước khác.

Trong thời gian này, Người còn dịch cuốn “Nhân loại tiến hóa sử” và cuốn “Cộng sản ABC” để làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ. Đến đâu, Người cũng nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống lao động của kiều bào. Người ăn mặc như kiều bào và tham gia lao động từ nhẹ đến nặng cùng kiều bào. Chính vì thế, Người được kiều bào kính trọng, yêu mến gọi là Thầu Chín.

Có thể nói, trong những thắng lợi của cách mạng sau này, kiều bào ta ở Xiêm đã có sự đống góp xứng đáng. Hai năm sau, bằng bãn lĩnh và uy tín của mình, Người đã đứng ra hợp nhất các tổ chức Đảng, thành lập ra một chính Đảng duy nhất với tên gọi là Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930). Từ khi Đảng ra đời, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Người và của Đảng, cách mạng Việt Nam ngày càng trào dâng.

Đầu năm Canh Thìn (1940), từ Thái Lan, Người về Côn Minh (thủ phủ của tỉnh Vân Nam-Trung Quốc) và bắt liên lạc được với bộ phận ở ngoài nước của Đảng ta. Sau khi tìm hiểu tình hình tổ chức của ta ở đây, Người nêu ra một số ý kiến chỉ đạo cụ thể : Đối với tờ báo Đồng Thanh, Người đề nghị đặt tên là “Đ.T” để có thể ngầm hiểu là “Đồng thanh”, “Đồng Tâm”, “Đấu tranh”, “Đánh Tây” …

Đối với Hội nhân dân Việt Nam ủng hộ Trung Quốc chống giặc (một tổ chức của ta được thành lập ở Vân Nam từ trước và được chính quyền Quốc dân Đảng cho phép hoạt động), thì Người căn dặn phải củng cố và duy trì Hội để dễ dàng hoạt động và lấy giấy tờ hợp lệ đi lại. Bản thân Người dùng giấy tờ của Hội để đi kiểm tra các cơ sở của Đảng ta ở Vân Nam.

Tháng 6-1940, Đức tấn công nước Pháp, Chính phủ Pháp đầu hàng. Trước tình hình đó, Người quyết định : Các đồng chí cán bộ của ta đang hoạt động ở Trung Quốc khẩn trương chuẩn bị về nước và nắm lấy phong trào cách mạng. Bản thân Người cùng một số cán bộ chuyển về Quảng Tây, sát biên giới Việt – Trung để tìm đường về nước. Đầu tháng 12-1940, Người về đến Tĩnh Tây. Ở đây, Người đã họp với đồng chí Hoàng Văn Thụ (người thay mặt Trung ương Đảng ở trong nước).

Đầu năm 1941, sau 30 năm xa nước, Người đặt chân về với mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu. 4 năm sau ngày Người trở về, Cách mạng Việt Nam đã có bước ngoặt lớn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Nước Việt Nam mới còn trong trứng nước, thực dân Pháp đã âm mưu thôn tính nước ta lần nữa. Tháng 12-1946, Người lại phải ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến bước sang năm thứ 6 cũng là lúc cả dân tộc ta cùng Người đón cái Tết năm Nhâm Thìn (1952). Năm này, sau một năm Đảng ra công khai hoạt động với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, cả dân tộc ta đã tiếp tục phát huy được những thành quả của mình trên nhiều mặt- nhất là trên mặt trận quân sự.

Trong bài viết “Sau lũy tre xanh”, Người đã nêu rõ : “Sau lũy tre xanh/ Trước lũy tre xanh/ Ta đánh cho giặc Pháp tan tành tả tơi” (C.B- Báo Nhân dân số 40, ngày 10-1-1952). Quả thực, chúng ta sẽ là những người chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng ta được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng. Chính với niềm tin đó, bước vào năm 1952, nhân dịp Tết Nhâm Thìn, Người có lời Thơ chúc Tết đầy phấn khởi, tự hào; có tác dụng động viên, kêu gọi, thôi thúc lớn :“Xuân này, Xuân năm Thìn/ Kháng chiến vừa 6 năm/ Trường kỳ và gian khổ/ Chắc chắn trăm phần trăm/ Chiến sĩ thi giết giặc/ Đồng bào thi tăng gia/ Năm mới thi đua mới/ Thắng lợi ắt về ta/ Mấy câu thành thật nôm na/ Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” (Báo Nhân dân, số 42, ngày 24-1-1952). Lời thơ thật giản dị, ấm cúng mà tràn đầy sự tin tưởng, quyết tâm.

Những vần thơ Tết kháng chiến đó đã ăn sâu vào tình cảm nhân dân. Vì vậy, từ những năm ấy, trong dân gian đã truyền tụng những câu ca dao: “Cụ Hồ ở giữa lòng dân/ Tuy xa xa lắm, nhưng gần gần ghê/ Mỗi khi thư Cụ gửi về/ Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng/ Ai ngoài muôn dặm trùng dương/ Cũng thường nhận được tình thương Cụ Hồ”. Quả đúng như sự khẳng định của Người, hai năm sau, vào tháng 5-1954, Nghe theo lời Đảng, làm theo lời Bác, cả dân tộc ta đã đoàn kết một lòng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Sau chiến thắng này, thực dân Pháp đã phải cuốn gói cút khỏi nước ta.

Không rút kinh nghiệm từ những thất bại cay đặng của Thực dân Pháp, tên sen đầm đế quốc Mỹ nhảy vào xâm chiếm nước ta. Chúng gây nên những tội ác tày trời. Bác Hồ kính yêu cùng với Đảng ta lại tiếp tục lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta kháng chiến chống Mỹ.

Đặc biệt, bước vào năm Giáp Thìn (1964), đế quốc Mỹ đã có những hành vi leo thang ra ném bom đánh phá miền Bắc nước ta. Nhưng dân tộc ta vẫn nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Năm này, Bác của chúng ta cũng đã bước sang tuổi 74. Thế nhưng, với tinh thần thân dân, Tết năm đó, Bác đã có những chuyến vi hành đáng suy ngẫm.

Tối 30 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết cán bộ công nhân tại Khu tập thể Nhà máy cao su, Nhà máy xà phòng, Nhà máy thuốc lá; Khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình ở Hà Nội… Sáng mồng 1 Tết, Bác đến thăm và chúc Tết Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính huyện Đông Anh; thăm và chúc Tết cán bộ, công nhân trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, là đơn vị có nhiều thành tích trong phong trào sản xuất và tiết kiệm. Nói chuyện với bà con nông dân hợp tác xã Lỗ Khê, Bác căn dặn phải chú ý phát triển hoa màu, chăn nuôi, trồng nhiều cây và chăm sóc cây tốt, đẩy mạnh vệ sinh phòng bệnh. Bác khen câu khẩu hiện bằng thơ ở trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi”.

Sau đó, Bác thăm và chúc Tết cán bộ chiến sỹ Sở công an Hà Nội. Đặc biệt, vào lúc giao thừa, qua Đài Tiếng nói Việt Nam, Người đọc Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào nước ngoài, trong đó có lời thơ ấm áp : “Bắc Nam như cội với cành/ Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng/ Rồi đây thống nhất thành công/ Bắc Nam ta lại vui chung một nhà/ Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân”. Trong năm này, nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội (3-1964) với 325 đại biểu thay mặt cho các đảng phái, dân tộc, tôn giáo và nhân sĩ trí thức, biểu thị ý chí đoàn kết thực hiện mục tiêu xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”.

Tình cảm, ý chí đó của Người đã được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ra sức dốc lòng thực hiện. Cả ba miền Bắc-Trung-Nam dậy lên những chiến công vang dội dẫn đến sự phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Có thể nói, đây là thời gian mà Người luôn đau đáu nỗi niềm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Năm 1969, Người đi vào cõi vĩnh hằng. Năm 1975, nỗi niềm đau đáu của Người đã được thực hiện. Bắc-Nam liền một biển. Năm Bính Thìn (1976) đất nước trọn niềm vui khi nước nhà mang tên gọi mới : Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

…Ôi ! Vĩ đại thay, một con Người luôn nghĩ tới nhân dân, suốt đời cống hiến và hi sinh cho dân, cho nước ! Tự hào thay, một con người mà “một đời thanh bạch chẳng vàng son” và luôn biết “nâng niu tất cả, chỉ quên mình !”.

Nguyễn Thị Thọ

gdtd.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ - nhân viên Văn phòng Phủ chủ tịch - Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự.

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, đoàn về nhà khách Chính phủ chúc Tết Bác. Các đồng chí văn phòng bảo đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương – Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng 1 Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải xoong. Rau cải xoong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải xoong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều….Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hàng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa…Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Theo laodong.com.vn
Huyền Trang (st)

vov.vn

Cách ăn Tết của Bác Hồ

QĐND – Về thăm Pác Bó (Cao Bằng) vào những ngày giáp Tết Nguyên đán Tân Mão-2011, lại đúng dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tôi được nghe nhiều cụ lão thành cách mạng nhắc đến cách ăn Tết của Bác Hồ thời kỳ Người ở Pác Bó.

Ngày Bác về nước cũng là ngày Tết (mồng 2 Tết Tân Tỵ, tức ngày 28-1-1941). Trước đó, Bác mở lớp huấn luyện cho hơn 40 cán bộ trong nước học tập, đợi đúng đến ngày 30 Tết, Bác mới bế mạc lớp học và nói với các học viên nên nhân cơ hội bọn quan Tây, lính dõng đóng đồn dọc biên giới đang lơ là hưởng thụ, chúng ta trở về trong nước hoạt động. Còn Bác, khi trở về Pác Bó cũng lập tức bắt tay vào hàng trăm công việc nhằm củng cố căn cứ địa; biên soạn tài liệu huấn luyện cán bộ; soạn thảo đường lối cứu nước theo hướng chuyển sang đấu tranh vũ trang; xây dựng Điều lệ của Mặt trận Việt Minh… Các đồng chí cán bộ đi cùng Bác như: Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp, Lê Quảng Ba… ngỏ ý mời Bác nghỉ ngơi, vui Tết, đón Xuân cùng nhân dân, nhưng Người nói (đại ý): Người cách mạng thì phải “dĩ công vi thượng”, nay thời cơ cách mạng đang đến, đã là cán bộ thì không nên nghĩ đến Tết mà nên chuẩn bị lực lượng sẵn sàng để đón “mùa xuân hồi sinh” dân tộc.

Bác không cho phép mình nghỉ Tết nhưng lại yêu cầu đội ngũ cán bộ phải chăm lo cho đồng bào đón Tết thật vui vẻ, để đồng bào thấy được sự khác biệt giữa cái Tết khổ đau, buồn bã dưới hai tầng áp bức, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến với không khí Tết trong vùng Việt Minh. Đồng chí Vũ Anh kể rằng, đồng bào vùng căn cứ địa Cao Bằng biết Bác không nghỉ Tết nên cử đoàn đại biểu các tổ chức cứu quốc đến tặng quà. Bác tìm hiểu, biết đồng bào có phong tục tặng lì xì (tặng tiền) đầu năm mới, nên đã phát động phong trào mỗi người tặng nhau một xu. Một xu lúc đó chỉ mua được tờ báo Việt Nam Độc lập. Từ đó, phong trào đọc báo và tuyên truyền các nội dung của báo Việt Nam Độc lập phát triển rộng khắp căn cứ địa.

Ảnh: internet

Ngẫm lại mới thấy, Bác làm gì cũng chỉ nghĩ đến một điều, mà Người gọi là “ham muốn tột bậc”: Độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.

Sau này, khi đã là Chủ tịch nước, làm việc tại Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ vẫn giữ thói quen ăn Tết như hồi ở căn cứ địa. Ngày Tết, Bác không hề nghỉ ngơi mà thường cùng một vài cán bộ thân cận, khi thì đi thăm bộ đội, khi lại đến thăm những gia đình nghèo khó, cũng có khi Người đóng cửa để chuẩn bị các văn bản lãnh đạo quan trọng. Cách đi thăm bộ đội, nhân dân trong dịp Tết của Bác thường là bí mật, không báo trước nên bao giờ, Người cũng biết được thực chất tình hình, từ đó lại có những chỉ đạo sâu sát, giải quyết những khó khăn, vướng mắc do thực tiễn cách mạng đặt ra.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, từ ngày có Đảng đến nay, đã có hàng vạn, hàng triệu cán bộ, đảng viên đề cao tinh thần “dĩ công vi thượng”; quên mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1968, cả dân tộc lấy đêm Giao thừa làm thời gian hợp đồng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, buộc kẻ thù xâm lược phải ngồi vào bàn đàm phán, tạo nên sự chuyển biến chiến lược về thế và lực, từng bước hiện thực hóa mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Mùa xuân năm 2011, cái Tết Tân Mão đã cận kề nhưng trên địa bàn cả nước vẫn đang sôi nổi các hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. 1.377 đại biểu dự Đại hội XI đang là 1.377 báo cáo viên, nhanh chóng thông báo đến mọi đảng viên và nhân dân về tinh thần đổi mới toàn diện đất nước. Tất cả đang hối hả, hòa mình vào dòng chảy sôi động của sự nghiệp CNH, HĐH nước nhà. Tất cả đang hướng tới một mục tiêu duy nhất: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thiết nghĩ, Tết này, kỷ niệm 70 năm ngày Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 3,6 triệu đảng viên trên cả nước cũng nên có kế hoạch thực hiện một việc làm cụ thể nhằm thể hiện tinh thần “dĩ công vi thượng”. Đó là cách thể hiện tình yêu và lòng kính trọng sâu sắc đối với Bác Hồ kính yêu.

Hồng Hải

qdnd.vn

Xuân năm Thìn, Bác Hồ chúc Tết

Mùa Xuân Độc lập đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám 1945 – mùa Xuân Bính Tuất – là một mùa Xuân không thể nào quên được. Lần đầu tiên, cả nước được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ là vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam nước ta:

bacho1.jpgBác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc tết đồng bào và bộ đội – Tết Đinh Mùi – tháng 2/1967

Bao giờ kháng chiến thành công.
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

Từ đó cho đến lúc Bác đi xa, đều đặn năm nào, Bác cũng có Thơ chúc Tết đồng bào. Và đã thành một tập quán mới, mỗi năm Xuân đến, mọi nhà, mọi người náo nức đón Thơ Xuân của Người.

Năm 1952, với 4 câu đầu trong Thơ chúc Tết Nhâm Thìn Bác đã củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vào thắng lợi cuối cùng:

Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa 6 năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm.

Bài Thơ chúc Tết được kết thúc bằng những lời dung dị, gần gũi với cái chất dân gian, dân tộc đã làm cho những vần thơ Xuân của Bác dễ dàng đi vào lòng người một cách tự nhiên:

Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân.

Xuân Giáp Thìn (1964), trong Thơ chúc mừng năm mới, Người nhắc nhở, giao nhiệm vụ cho nhân dân miền Nam, miền Bắc đoàn kết chiến đấu:

Nam Bắc như cội với cành,
Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.

Tiếp đến, Người khẳng định:

Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà…

Không ai ngờ chỉ năm năm sau, vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2/1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài Thơ chúc Tết cuối cùng của Người truyền qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do.
Đánh cho mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào.
Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Năm ấy, Bác đã 79 tuổi, song lời thơ của Người vẫn thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Từ đó, hằng năm, đến giao thừa, ta không còn cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc Thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài Thơ Xuân của Người vẫn rung động lòng ta mãnh liệt.

Cảm xúc khi nghe Thơ chúc Tết, mừng Xuân của Bác, nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Giọng của Người không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước.
Con nghe Bác, tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau…”

Bác đã sống mãi cùng với Thơ Xuân của Người. Và cứ mỗi khi Xuân về, Tết đến, những vần Thơ Xuân của Bác như vẫn còn văng vẳng bên tai chúng ta và mỗi chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ Người và thầm đọc:

“Bác ơi! Tết đến giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần.
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân”.

(Tố Hữu – Theo chân Bác)

 

* Đảng ta cần, cần người liêm khiết, nghĩa nhân, sáng tạo, siêng năng, chung thủy vì Dân xây sự nghiệp

* Dân ta trọng, trọng bậc hiền tài, đức độ, chuyên cần, năng nổ, sắt son tin Đảng dựng tương lai.

LÊ VĂN THƠM

baophuyen.com.vn