Thư viện

Xuân Nhâm Ngọ và tác phẩm ‘Lịch sử nước ta’ của Bác Hồ

TS. CHU ĐỨC TÍNH (Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Những trang vàng của lịch sử dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 được tiếp nối một cách sinh động hơn, đặc biệt hơn bởi được lưu giữ về cuộc đời, sự nghiệp của người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Nhưng đứng ở góc độ sử học, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ làm rạng danh những trang vàng đó, mà Người còn là một sử gia lớn. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã lấy các đề tài lịch sử để sáng tác các tác phẩm lớn, như: Kịch Con rồng tre, Lời than vãn của bà Trưng Trắc… để tuyên truyền thức tỉnh đồng bào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Bác Hồ làm việc trong hang đá ở Việt Bắc năm 1951. Ảnh tư liệu

Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người đã về sống và làm việc tại hang Pác Bó – Cao Bằng. Ý thức sâu sắc mục đích của việc học tập, nghiên cứu lịch sử để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, từng bước đưa họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cuối năm 1941, Người đã viết cuốn Lịch sử nước ta. Ðây là tập diễn ca lịch sử gồm 208 câu lục bát, phần kết có 30 mốc lịch sử dân tộc quan trọng.

Tác phẩm Lịch sử nước ta do Việt Minh tuyên truyền Bộ ấn hành ra mắt lần đầu tiên giữa ngàn trùng Pác Bó tháng 2-1942, vào đúng dịp Tết Nguyên đán Nhâm Ngọ. Và Xuân Nhâm Thìn năm nay (2012), vừa tròn 70 năm ra đời tác phẩm.

Chỉ với 208 câu thơ lục bát, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc, xác định giới thiệu những nhân vật, những sự kiện chân thực khách quan đủ để khôi phục chính xác bức tranh hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc với những nét cơ bản về truyền thống yêu nước, đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Mở đầu tác phẩm, Bác đánh giá cao vấn đề nghiên cứu lịch sử nguồn gốc dân tộc và tự hào về truyền thống tốt đẹp của tổ tiên:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”.

Ðọc tác phẩm, chúng ta nhận thấy lịch sử dân tộc không còn là lịch sử của các triều đại với vai trò tuyệt đối của các vua chúa, mà là lịch sử của quần chúng nhân dân ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi thành phần:

“Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.

Quan trọng nhất là Lịch sử nước ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm duy vật mác-xít khi bình luận, giải thích sự kiện, nhân vật, phá tan các quan điểm duy tâm, thần bí, các tư tưởng “thiên mệnh”, “ngụy”, “chính thống”… trong các sách sử thực dân, phong kiến…

Ôn lại lịch sử dân tộc, Lịch sử nước ta đã giúp người đọc nắm được bài học kinh nghiệm cốt tử, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định ở hai câu thơ kết thúc phần diễn ca của tác phẩm:

“Dân ta xin nhớ chữ đồng
Ðồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Tin tưởng vào truyền thống của dân tộc và sức mạnh đoàn kết của toàn dân sẽ đưa cuộc đấu tranh đến bến bờ thắng lợi, nên kết thúc tác phẩm Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán một dấu mốc lịch sử quan trọng: “1945, Việt Nam độc lập”.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh viết cuốn Lịch sử nước ta, trước hết, làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu, đồng thời, với mục đích phổ biến rộng rãi trong nhân dân, để giáo dục và ôn lại truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc. Người khẳng định từ nam phụ lão ấu, người bình dân hay tầng lớp phú hào, quý tộc đều có lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng chống ngoại xâm, để giành lấy độc lập cho nước nhà. Qua đó, Người động viên, khích lệ nhân dân ta phát huy truyền thống yêu nước, nâng cao lòng tự hào dân tộc và tinh thần đoàn kết đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập tự do.

Cũng như chùm các bài ca viết cùng thời gian nhằm tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, khi viết cuốn Lịch sử nước ta theo diễn ca lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặc biệt chú ý đến đặc điểm của một số tác phẩm diễn ca lịch sử dân tộc viết bằng chữ Nôm từ thế kỷ 17. Các tác giả của những tác phẩm đó dù mang quan điểm sử học phong kiến nhưng cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống yêu nước của dân tộc. Quan trọng nhất là tác phẩm của họ đạt thành công lớn trong việc chuyển tải tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có sức sống rộng rãi trong quần chúng bằng hình thức dân gian truyền miệng, lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chọn thơ ca làm phương tiện thể hiện và chuyển tải những kiến thức lịch sử cơ bản cho người dân vì thực tế đất nước ta khi đó, có hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ và còn trong đói nghèo. Ðồng thời, Người cũng hiểu sâu sắc rằng, thơ ca rất gần gũi, quen thuộc với người dân nước Việt, nhờ đặc tính có vần, có điệu nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi sâu vào lòng người.

Nghiên cứu và hiểu rõ hoàn cảnh lịch sử Việt Nam lúc đó, càng nhận thức hết giá trị thực tiễn lớn lao của tác phẩm Lịch sử nước ta. Tác phẩm đã khéo kết hợp được hai yêu cầu khoa học và nghệ thuật dưới hình thức thơ lục bát rất quen thuộc với nhân dân ta. Lời thơ ngắn gọn, dung dị, dễ hiểu, nhưng rất súc tích, giúp người đọc ôn lại lịch sử vẻ vang của dân tộc và nhận thức đúng đắn lịch sử của đất nước. Về phương pháp viết sử, Nguyễn Ái Quốc đã chọn lọc sự kiện, tài liệu chứ không sa đà vào các chi tiết lịch sử. Quan trọng nhất là Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng nhận định, đánh giá khái quát các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu.

Ðể giới thiệu tác phẩm Lịch sử nước ta tới đồng bào, đồng chí, trong bài viết “Nên học sử ta”, đăng trên báo Việt Nam độc lập (số 117, ngày 1-2-1942) lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh mục đích nên học lịch sử dân tộc và khẳng định lịch sử  nước ta dạy cho ta bài học: “lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do”. Cuối bài này có ghi thêm “Vừa mới xuất bản quyển “Sử nước ta” bằng thơ. Hay lắm, giá mỗi quyển 1 hào ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương”.

Sau đó, tác phẩm trên được tái bản nhiều lần. Hiện nay, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam còn lưu được một số bản in cuốn Lịch sử nước ta xuất bản năm 1942, 1947 và 1949. Năm 1977, tác phẩm này đã được in trong cuốn Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc của Vũ Châu Quán – Triều Ân – Hoàng Quyết (Nxb Văn hóa dân tộc). Ðến năm 1983, Lịch sử nước ta mới được chính thức in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, có nội dung đúng như văn bản do Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942.

Sau tác phẩm Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền các tầng lớp nhân dân thêm yêu mến các bậc tiền nhân, trân trọng các di sản và truyền thống dân tộc. Ðặc biệt hơn cả là vào các dịp đầu xuân, Người gửi tới đồng bào, chiến sĩ cả nước những bài thơ chúc Tết độc đáo. Nhưng Lịch sử nước ta mãi mãi là một tác phẩm giá trị cả ở góc độ sử học và văn học, có vị trí quan trọng trong kho tàng lịch sử và văn học mà Người đã để lại. Lịch sử nước ta đã in sâu vào tâm trí của nhiều đồng bào, đồng chí. 70 năm đã trôi qua kể từ lần đầu tiên tác phẩm Lịch sử nước ta được xuất bản, đến nay có những người thuộc thế hệ những năm tháng đó vẫn còn thuộc lòng toàn văn hoặc từng đoạn của tập diễn ca này. Ðây chính là bài học kinh nghiệm quý giá đối với những người làm công tác biên soạn sách giáo khoa lịch sử các cấp phổ thông hiện nay.

Xuân Nhâm Thìn này, trong bối cảnh toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta đang tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, không gì thiết thực hơn đối với những người làm công tác giáo dục, giảng dạy, nhất là ở bộ môn Lịch sử, chính là học tập và làm theo phương pháp viết và dạy lịch sử của Bác Hồ. Ðó là điều hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học sử đối với thế hệ trẻ ngày nay.

tutuonghochiminh.vn

Tết trồng cây nhớ Bác Hồ

Ngày Tết ở nước ta có nhiều phong tục đẹp, nhưng có lẽ đẹp nhất là một phong tục mới ra đời cách đây hơn 50 năm, phong tục Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng.

Đi thăm quốc gia nào, dù châu Á như Ấn Độ, châu Âu như Nga, Bác đều trồng cây lưu niệm. Nguyên thủ quốc gia nào đến thăm Việt Nam, Bác đều mời trồng cây. Nhớ miền Nam, Bác trồng dừa, vú sữa quanh nơi ở. Riêng với Hà Nội, Bác trồng nhiều cây nhất. Cây đa Bác trồng ở Đông Anh, ở xã Vật Lại (Ba Vì), ở công viên Thống Nhất giờ đã tỏa bóng mát xùm xòa. Cây đa ở công viên Thống Nhất, sau mấy chục năm đã tỏa bóng che mát một vùng bán đảo, tương lai không xa sẽ trở thành một cây đa đẹp vào loại nhất của Hà Nội.

Ngày 16/2/1969 (mồng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác Hồ trồng cây ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). (Ảnh tư liệu).

Không chỉ trồng cây và vận động những người quanh mình trồng cây, ngay vào giữa thế kỷ XX, khi thế giới còn chưa thật chú ý tới lợi ích của cây xanh với bảo vệ môi trường và đời sống con người, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân. Trong bài báo đăng trên báo Nhân Dân ngày 28-11-1959, chuẩn bị cho Tết trồng cây đầu tiên – Tết Nguyên đán năm 1960, Bác tính, miền Bắc (lúc đó) có 14 triệu người, trừ trẻ em dưới 8 tuổi, mỗi người ít nhất trồng một cây, sau năm năm có 90 triệu cây, nếu trồng cây nào tốt cây ấy, 5 năm sau là có cây ăn quả, cây có hoa, cây làm nhà. Với cách tính toán vừa thực tế vừa nhìn xa trông rộng đó, Bác đã tạo một phong tục mới, phong tục trồng cây ngày Tết mà chỉ Việt Nam mới có trong số hơn 200 quốc gia trên trái đất này.

Thực hiện lời Bác, cả miền Bắc và sau đó là cả nước năm nào cũng tổ chức Tết trồng cây. Đầu tiên chỉ là trồng cây lấy gỗ theo phương thức phân tán nhưng càng ngày, phong trào trồng cây càng đi vào chiều sâu. Trồng tập trung thành rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây bóng mát giao thông, cây đô thị. Liên tục nửa thế kỷ, phong trào trồng cây nhân dân được khởi đầu vào mỗi dịp Tết mỗi năm đã trồng được hàng trăm triệu cây phân tán, hàng chục nghìn héc ta rừng, hình thành nên những vùng cây ăn quả như mận tam hoa ở Lào Cai, Sơn La; vải đường ở Hải Dương, Hưng Yên; cà phê ở Tây Nguyên; rừng ngập mặn ở miền tây Nam Bộ. Trong phong trào đó, năm nào Hà Nội cũng phát động Tết trồng cây làm theo lời Bác, nâng diện tích cây xanh trên đầu người tăng lên, chất lượng cây trồng tốt hơn, chủng loại cây cũng khoa học, hợp lý hơn. Cho đến nay, trừ những khu phố cổ, khu phố cũ cây trồng đã lâu năm, bắt dầu giai đoạn lão hóa nhanh, hầu hết các khu mới mở rộng đều có diện tích cho cây xanh tập trung, cây hè phố. Những đảo cây xanh và hồ nước quí giá như công viên Thống Nhất, công viên Thanh Nhàn, công viên Thủ Lệ, công viên Hòa Bình, công viên Mễ Trì ngày một nhiều. Thành phố cũng kiên quyết dành diện tích đáng kể cho cây xanh trong qui hoạch dài hạn. Nhiều khu nghỉ cuối tuần, khu sinh thái có cây xanh, hồ nước ở Ba Vì, Sóc Sơn cũng đang được xây dựng.

Nhưng do dân số tăng quá nhanh, công tác quản lý cây xanh còn thiếu người, thiếu thiết bị, thiếu vốn… nên áp lực về cây xanh của thành phố không ngừng tăng. Năm nay, chỉ riêng thành phố Hà Nội đã có kế hoạch trồng 1,2 triệu cây xanh, phấn đấu mỗi huyện, thị trồng từ 5 vạn đến 6 vạn cây, chủ yếu là cây bóng mát, cây ăn quả và 300 héc ta rừng, chăm sóc 9.000 héc ta rừng. Với số lượng cây xanh đô thị và cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây cảnh đó, sau một vài thập kỷ, Hà Nội sẽ là một thủ đô xanh mát, sạch đẹp. Để có điều đó, Tết năm nay, mỗi người dân thủ đô, nhất là những người dân xa trung tâm hãy trồng ít nhất một cây và bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó” như lời khuyên của Bác Hồ.

Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bác đến thăm Văn Miếu

Tôi nhớ mãi chiều tết nguyên đán năm Nhâm Dậu (ngày 5 tháng 2 năm 1962) một ngày nắng ấm đẹp nhất của những ngày tết ở thủ đô ta.

Khoảng 11 giờ trưa, tôi vừa xuất hành sang Văn Miếu về được mấy phút thì có tiếng gõ cửa.

Tôi ra đón: người đầu tiên đến xông nhà tôi năm ấy lại là một đồng chí công an chưa hề quen biết. Sau những  lời chúc mừng theo phong tục của chủ và khách, câu chuyện đầu xuân bên chén trà thơm trở nên thân mật, xoay quanh nội dung chương trình văn nghệ tại Văn Miếu sẽ khai mạc vào mười bốn giờ. Đồng chí công an nói nhỏ, báo trước một tin vui là trung ương sẽ đến dự, rồi bắt tay tôi ra về.

Tôi thầm nghĩ miên man. Biết đâu đấy, Bác sẽ đến cũng nên. Tôi đoán rằng Bác thấy báo đăng tại Văn Miếu có ngâm thơ và hát ca trù mừng Đảng mừng xuân mà Bác thì chắc chắn chưa được nghe hát ca trù thì khi thiếu thời Bác ở Huế và Sài Gòn là những nơi không có ả đào, nay Bác sẽ đến Văn Miếu để chúc tế đồng bào và thưởng thức di sản tinh thần dân tộc độc đáo này đây. Và tôi cứ khấp khởi mừng thầm điều mình vừa dự đoán.

Mới hơn 13 giờ một chút, các nghệ nhân, diễn viên và nhạc công đã có mặt đông đủ tại phòng khách đặt trong hai gian của dãy Hữu vụ. Sau lời chúc tết, tôi báo tin vui đột xuất và yêu càu mọi người sẽ biểu diễn hết sức mình cho

thật kết quả trước Trung ương Đảng. Ai nấy đều phấn khởi, nét mặt rạng rỡ thêm. Như linh tính báo, tôi ra Khuê Văn Các đón.

Một lát sau, có tiếng còi ô tô. Tôi ngoảnh nhìn, chạy vội ra thì thấy Bác, đúng Bác rồi. Chao ôi sung sướng! Bác đương ung dung bước qua cổng lớn, bước chân thoăn thoắt đi giữa hai hàng hoa tươi vào cửa Đại Trung.

– Bác, Bác ạ! – Tôi xúc động chào Bác không rõ lời và đi theo sau chân Bác, bên cạnh đồng chí bảo vệ. Đằng sau có mấy cháu nhỏ lon ton chạy theo vui vẻ lạ thường. Qua gác Khuê Văn, vòng một bên giếng Thiên Quang, Bác hỏi có bao nhiêu bia, dựng từ bao giờ?

– Thưa Bác, bia dựng từ năm Hồng Đức thứ 15 (1984) còn 82 tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ trở lên. Đáng lẽ ra phải có 116 bia, vì mỗi khoa thì dựng một bia. Các bia này có khắc tên nhiều danh nhân lịch sử như Ngô Sĩ Liên, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Thậm…

Bác dừng lại nhìn bao quát cả hai dãy bia một lượt rồi bước qua cửa Đại Thành vào khu chính tẩm có nhà Đại Bái và Hậu Cung.

Khi Bác bước xuống sân Văn Miếu, các cụ phụ lão và nhân dân đương ngồi các dãy ghế sát thềm Bái Dương mới biết Bác đến; tất cả mọi người đứng dạy ùa ra đón Bác, tíu tít vây quanh  Bác, mừng vui khôn xiết.

Bác vẫy tay mời các cụ phụ lão và đồng bào cùng ngồi.

Bác nhìn khắp lượt, ra hiệu cho các cháu thiếu nhi cũng ngồi xuống.

Tôi kính cẩn đưa Bác bản chương trình các tiết mục ngâm thơ và hát ca trù mừng Bác, mừng Đảng, mừng xuân mới, có ghi rõ nghệ nhân Nguyễn Thị Phúc gần 60 tuổi, Quách Thị Hồ ngoài 50 và giới thiệu với Bác hai bà đang ngồi gần

micrô, Bác gật gù tán thưởng. Tôi liếc nhìn hai bà thật xúc động được vinh dự đặc biệt, lần đầu tiên trong đời hát trực tiếp cho Bác nghe.

Ông Vũ Đình Khoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội điều khiển chương trình biểu diễn.

Các nghệ nhân hào hứng vô cùng, diễn xuất đạt hơn hẳn mọi lần trước.

Đến tiết mục thứ 6, hay thứ 7 gì đó, sau khi ông Khoa vừa dứt lời giới thiệu “Bà Hồ hát ca trù” thì Bác giơ tay đính chính một cách rất vui và dí dỏm “Phải nói rõ thế này cho đúng: “Bà Quách Thị Hồ hát ca trù” kẻo các cụ phụ lão cười cho. Bác Hồ đã không có vợ thì lấy đâu ra Bác gái”.

Mọi người cười sảng khoái, phục tài Bác ứng xử, rất mau lẹ, sắc sảo, và thoải mái hồn nhiên. Hôm ấy Bác rất vui, ngồi xem từ đầu đến cuối. Trước khi đứng lên, Bác còn ứng khẩu hiệu độc hai câu thơ tặng các cụ phụ lão Thủ đô:

“Tuổi già nhưng chí không già

Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”

Sau đó Bác còn đi xem mấy di vật quý giá trong Bái Đường như bức hoành phi “Cổ kim nhật nguyệt” và quả chuông Bí chung có khắc tên Nguyễn Nghiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) và cái trắc tải bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi, mặt trước có năm chữ Hán xếp chéo nhau, đọc thành “chiêm tại tiền, hốt tại hậu” (nhìn thấy đằng trước, thoắt ra đằng sau), mặt sau cũng có năm chữ Hán xếp chéo nhau “ngưỡng di cao, toản di kiên” (ngửa trông càng cao, càng mài càng rắn).

Rồi Bác ung dung sang cổng bên, phía phố Văn Miếu, lên xe về Phủ Chủ tịch, như minh họa ý nghĩa mười chữ Hán khắc nổi công phu trong trắc tải mà Bác vừa ngắm nghía rất tâm đắc.

(Trích từ sách Bác Hồ với thủ đô Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, H.2005)

P.S.: Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết này.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

15 cái Tết của Bác Hồ (1954 – 1969)

Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác Hồ đã trải qua 9 mùa xuân tại chiến khu Việt Bác. Năm Ất Mùi 1955 là Tết Nguyên đán đầu tiên ở thủ đô Hà Nội sau chín năm trường kỳ kháng chiến thắng lợi. Ngày 30 tết, báo Nhân dân đăng bài Chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Năm mới, với tinh thần và cố gắng mới, chúng ta quyết làm tròn nhiệm vụ để tranh lấy thắng lợi mới trong công cuộc hoà bình. Vậy có câu đối tết nôm na:

Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ- Tam dương khai thái
Đoàn kết, thi đua, tăng gia, tiết kiệm- Ngũ phúc lâm môn”

Ngày 1 tết, Bác đi thăm công trường xây dựng đập nước Bắc Thái và công trường xây dựng tuyến đường sắt Mục Nam quan, một đơn vị quân đội và mấy gia đình nông dân ở xã. Người ở lại ăn tết với anh em công nhân và tặng công trường một số huy hiệu để làm giải thưởng thi đua.

Bác Hồ chúc Tết 1966

Tết Nguyên đán Bính Thân 1956, báo Nhân dân đăng bài Mừng xuân mới, nhớ xuân cũ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Với những người cách mạng độ 30 xuân trở lên, nhớ Xuân cũ có nhiều màu, nhiều vẻ: có người mừng Xuân trong trại giam, nhà tù, có người mừng Xuân ở góc rừng, hang đá, còn những người hoạt động ở nước ngoài thì trông về cố quốc đón Xuân… Vì nghĩa cũ tình xưa, mừng Xuân trong hoà bình, nhiều cán bộ, chiến sỹ ta càng thấm thía nhớ đến đồng bào Việt Bắc”. Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc tết, tặng quà anh em trường thương binh hỏng mắt Hà Nội. Sáng mùng 1 tết, Bác đến chúc tết đại biểu nhân dân Hà Nội. anh chị em miền Nam tập kết, học sinh trường cán bộ dân tộc thiểu số, bà con Hoa kiều đang họp mặt mừng năm mới tại Ủy ban hành chính thành phố. 13h, Bác đến chúc tết công nhân Việt Nam, Trung Quốc, Âu Phi tại công trường xây dựng cầu Việt Trì. 15h, Bác thăm và chúc tết bà con nông dân xóm Yên Định, xã Tiền Phong, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. 18h, Người đến thăm và chúc tết cán bộ, học viên Trường bổ túc văn hoá cán bộ miền Nam.

Tết Nguyên đán Đinh Dậu 1957, buổi sáng 30 tết, Bác tiếp Đoàn nghệ thuật kinh kịch Cáp Nhĩ Tân Trung Quốc tại Phủ Chủ tịch. Buổi chiều Bác tiếp các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến chúc tết Người. Buổi tối, Bác đi thăm 5 gia đình công nhân ở khu lao động nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy điện Bờ Hồ ở An Dương, sau đó Bác đến thăm và chúc tết các gia đình: cụ Nguyễn Thị Khánh, quê ở Thừa Thiên, có 6 con đi bộ đội trong đó có liệt sĩ Nguyễn Khắc Vĩ hy sinh ở Điện Biên pbủ; anh Phan Đăng Kỳ, cán bộ miền Nam tập kết; bà Thóc, một goá phụ nghèo một mình nuôi 4 con nhỏ ăn học. Sáng 1 tết, Bác về thăm và chúc tết một số gia đình cơ sở cách mạng cũ ở thôn Phú Gia, Phú Thượng, Từ Liêm, sau đó Người đi thăm và chúc tết một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô. Sau đó Bác đến thăm trại trẻ mồ côi Kim Đồng ở Thanh Oai, Hà Tây; thăm công trường xây dựng số 4 và thăm cảnh nhân dân Thủ đô vui đón tết

Tết Mậu Tuất 1958, cuối buổi chiều 30, Bác đi thăm Miến Điện về đến Hà Nội nên sáng 1, Bác mới đi chúc tết một số cơ quan đơn vị trên địa bàn Thủ đô như: nhà máy cơ khí Hà Nội, Khu Việt Nam học xá, nhân dân xã Việt Hưng huyện Gia Lâm, gặp gỡ với cán bộ miền Nam tập kết tại câu lạc bộ Thống Nhất, thăm Hội quán Hoa kiều ở phố Hàng Buồm. Người cũng đi thăm một đơn vị quân đội và gửi quà tới anh chị em Trường thương binh hỏng mắt.

Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 1959, Bác đang thăm Liên Xô nên Người đến dự bữa cơm tất niên 30 tết do cán bộ Việt Nam đang công tác ở Liên Xô tổ chức và dự liên hoan đón giao thừa với các cháu lưu học sinh tại Matxcơva

Tết Nguyên đán Canh Tý 1960, báo Nhân dân đăng bài Mừng tết nguyên đán như thế nào của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu lên những việc đáng chê, đáng khen trong việc ăn tết, bài báo kết luận:

” Trăm năm trong cõi người ta
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan
Mừng Xuân, Xuân cả thế gian
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”

Đêm giao thừa, Bác đi thăm và chúc tết 5 gia đình ở Hà Nội: Trần Công Tốt, công nhân nhà máy đèn; Trương Từ Thức, công an chữa cháy; Bùi Xuân Bồng, gia đình công giáo; bác sỹ Đinh Văn Thắng, giáo sư trường Đại học y dược; nhà công thương Bùi Hưng Gia. Sáng 1 tết, Bác tiếp đoàn đại biểu Việt kiều ở Thái Lan mới về nước đến thăm và chúc tết Người.

Tết Nguyên đán Tân Sửu 1961, ngày 30 tết, Bác dự cuộc gặp mặt của Hội đồng Chính phủ nhân dịp cuối năm. Người nói chuyện về tầm quan trọng của việc quản lý kinh tế, tài chính và sự cần thiết tổ chức kiểm tra ở các Bộ, về ý thức kỷ luật chấp hành nghiêm chỉnh mọi nghị quyết của Hội đồng Chính phủ. Buổi tối, Bác đi thăm và chúc tết: một công nhân nhà máy gỗ Cầu Đuống; một cán bộ công đoàn nhà máy cơ khí Hà Nội; một Việt kiều mới về nước; một xã viên HTX thủ công nghiệp người Hoa; gia đình bác sỹ Hồ Đắc Di và gia đình giáo sư Tôn Thất Tùng. Đúng giao thừa, qua đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời chúc tết đồng bào cả nước: “Năm nay là năm Sửu, các cụ ta quen gọi là Tết con trân. Trâu thì cày giỏi mà chọi cũng hăng. Toàn dân ta đoàn kết đấu tranh thì chúng ta nhất định xây dựng thành công một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Ngày mùng 1 tết, Bác đi thăm và chúc tết cán bộ, chiến sĩ một đơn vị công an nhân dân vũ trang, một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô; cán bộ , công nhân nhà máy dệt kim Đông xuân, nhà máy rượu Hà Nội; nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo và nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà. Người còn đi thăm và chúc tết nhân dân thôn Khuyến Lương (Thanh Trì).

Tết Nguyên đán Nhâm Dần 1962, chiều 30 tết, Bác dự liên hoan tất niên với con em cán bộ văn phòng Trung ương Đảng. Buổi tối, Bác cùng với ông Nguyễn Lam (Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội), Trần Duy Hưng (Chủ tịch Uỷ ban hành chính Hà Nội), Nguyễn Khai (Uỷ viên dự khuyết TƯ Đảng) đến Câu lạc bộ thiếu nhi vui tết với các cháu. Sau đó Người đi thăm và chúc tết các gia đình: công nhân Nguyễn Văn Mộc, chiến sỹ thi đua 5 năm liền của nhà máy cao su Sao Vàng; cụ Đỗ Văn Diệu, uỷ viên ban đại diện phụ lão khu phố Hai Bà Trưng; giáo sư thạc sỹ Đặng Văn Chung, phó Giám đốc trường Đại học Y dược; ông Dương Kỳ Hiệp, cán bộ miền Nam tập kết; ông Vương Tước Cường, công nhân Hoa kiều; nhà tư sản Nguyễn Chương Hồng, Giám đốc xưởng cơ khí công ty hợp doanh Đồng Tháp và một số gia đình lao động nghèo ở phố Lý Thái Tổ. Tiếp đó, Người đến thăm cán bộ, công nhân Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đang chuẩn bị cho chương trình phát thanh đặc biệt đêm giao thừa. Ngày 1 tết, Bác đến chúc tết tại công trường nhà máy bê tông đúc sẵn Chèm, HTX nông nghiệp Đại Thắng, Từ Liêm và một số đơn vị bộ đội ở Hà Nội như Đại đoàn 109, Trung đoàn phòng không 220. Buổi chiều, Người đến thăm phòng trưng bày văn học và dự cuộc ngâm thơ mừng xuân của các cụ phụ lão, Người mừng tuổi các cụ hai câu thơ: Tuổi già nhưng chí không già; Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh…. Sáng 2 tết, Bác xuống Hải Phòng thăm và chúc tết các cháu trường học sinh miền Nam.

Giáp tết Nguyên đán Quý Mão 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đón đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Tiệp Khắc sang thăm Việt Nam tại sân bay Gia Lâm. Nhân ngày tết cổ truyền của nhân dân ta, Người bày tỏ niềm vui mừng qua hai câu thơ:

” Xuân này, Xuân lại thêm Xuân
Nước non xa, anh em gần, vui thật là vui”.

Sáng 30 tết, Bác mặc bộ đồ gụ nâu, khoác áo mưa vải bạt, đeo kính trắng, cổ quàng khăn, chân đi dép cao su cùng hai cán bộ cảnh vệ thăm chợ Đồng Xuân và hỏi thăm giá các mặt hàng. Chiều, Bác hội đàm với đoàn đại biểu Tiệp Khắc. Tối, Bác mời cơm Chủ tịch BCH TƯ Đảng cộng sản Tiệp Khắc, phu nhân và đoàn đại biểu Tiệp Khắc đang ở thăm nước ta. Sau đó, Người đi thăm và chúc tết một số gia đình ở Hà Nội: anh hùng lao động công nghiệp Mai Đình Cường; cụ Võ Thị Xuân 72 tuổi; ông Phạm Công, Việt kiều mới về nước; nhà tư sản dân tộc Nguyễn Văn Thức; ông Hồ Đắc Điềm, nhân sỹ trí thức. Sáng 1 tết, Bác cùng đoàn đại biểu Tiệp Khắc tiếp đại diện TƯ Đảng, Chính phủ, Quốc hội đến Phủ Chủ tịch chúc tết. Sau đó Bác đi chúc tết cán bộ, công nhân nhà máy ô tô Hoà Bình, bà con HTX Huỳnh Cung (Thanh Trì), một đơn vị bộ đội bảo vệ Thủ đô, đơn vị cảnh sát nhân dân quận Hoàn Kiếm và một đơn vị cảnh vệ thuộc Bộ Công an.

Tết Nguyên đán Giáp Thìn 1964, ngày 30 tết, Bác tiếp đoàn đại biểu thanh niên Đức và sau đó đi chúc tết cán bộ, chiến sỹ Sở Công an Hà Nội. Buổi tối, Người đến thăm toà soạn báo Tân Việt Hoa và chúc tết các chuyên gia Trung Quốc đang họp mặt mừng xuân. Sau đó, Người đến thăm và chúc tết cán bộ công nhân tại khu tập thể Cao-Xà-Lá, khu tập thể cán bộ miền Nam tập kết ở phố Phan Đình Phùng và một số gia đình: Phan Huy Nhật, công nhân nhà máy nước; Nguyễn Văn Tá, trưởng ban bảo vệ khu phố; Nguyễn Xiển, tổng thư ký đảng Xã hội; giáo sư bác sỹ Trần Hữu Tước; Việt kiều Phan Văn Chúc. Sáng 1 tết, Bác đến chúc tết cơ quan huyện uỷ Đông Anh, cán bộ công nhân trạm biến thế điện Lỗ Khê và HTX Lỗ Khê có thành tích trong sản xuất và tiết kiệm. Sau đó, Người đến thăm cán bộ chiến sĩ trung đoàn phòng không 260 bảo vệ Thủ đô; cán bộ, chiến sĩ sở công an Hà Nội.

Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 1965, sáng ngày 29 tết, Bác di thăm và tham gia trồng cây với đồng bào Cổ Loa (Đông Anh). Sau đó Người tham gia trồng cây với bà con nông dân Phú Diễn (Từ Liêm). Buổi tối, Người đọc thơ chúc tết để Đài phát thanh ghi âm phát đêm giao thừa. Sớm mùng 1 tết, Bác về thăm tỉnh Quảng Ninh. Sau khi nói chuyện với hơn hai vạn đại biểu các dân tộc trong tỉnh tại sân vận động Hòn Gai, Người đến thăm cán bộ công nhân Uông Bí và mỏ than Vàng Danh. Trên đường đi, Người ghé thăm, chúc tết Đoàn địa chất số 3 và gia đình ông Trần Mộc Sinh, xã viên HTX Khe Cát (Yên Hưng).

Ngày 30 tết Bính Ngọ 1966, Bác tới thăm và chúc tết các chuyên gia Trung Quốc đang làm việc tại Hà Nội. Báo Nhân dân đăng lời chúc đầu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nhân dân Mỹ:” Nhân dân Việt Nam rất tha thiết với hoà bình, nhưng hoà bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thật sự. Vì đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cho nên nhân dân Việt Nam phải chống lại để bảo vệ độc lập và gìn giữ hoà bình”. Sáng sớm 1 tết nguyên đán, Bác đi thăm và chúc tết cán bộ, chiến sỹ Đại đội 27, bộ đội quân khu III, sau đó Bác về thăm một đơn vị bộ đội phòng không bảo vệ đê Mai Lĩnh. Người cũng đến thăm trường Kim Đồng và HTX nông nghiệp Văn Phú, Hoài Đức, Hà Tây. Cùng ngày Người chụp ảnh kỷ niệm với các anh hùng, chiến sỹ thi đua quân giải phóng miền Nam đang thăm miền Bắc.

Tết Nguyên đán Đinh Mùi 1967, buổi chiều 30 tết, Bác đến thăm và chúc tết cán bộ nhân viên trong phái đoàn thường trực Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hà Nội, Người chia quà tết cho các cháu nhỏ và anh chị em trong phái đoàn. Sáng 1 tết, Bác đi thăm và chúc tết các đơn vị bộ đội phòng không và không quân bảo vệ Thủ đô. Cùng ngày Người đến thăm và chúc tết cán bộ, nhân dân xã Tam Sơn, Tiên Sơn, Hà Bắc. Sáng 2 tết, Bác về thăm HTX Tảo Dương, Thanh Oai, Hà Tây

Trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, Bác không ở trong nước vì từ ngày 31.12. 1967, Bác đã sang Trung Quốc để chữa bệnh ở một địa điểm gần Bắc Kinh nên Người đón tết bên nước bạn. Đúng giao thừa, Người và đồng chí thư ký mở đài phát thanh nghe thơ chúc tết và đợi tin của cuộc tổng tấn công, nổi dậy của quân và dân miền Nam

Ngày 30 tết Nguyên đán Kỷ Dậu 1969, Bác gửi tặng lẵng hoa cho một số cơ quan, khu phố ở Hà Nội và một số đơn vị vũ trang bảo vệ Thủ đô. 6h30 sáng 1 tết, Bác đi thăm binh chủng PK-KQ ở Bạch Mai và sau đó trồng cây ở Vật Lại (Ba Vì, Hà Tây). Buổi chiều, Người và Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cơm nữ anh hùng quân giải phóng miền Nam Tạ Thị Kiều.

Chú thích ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh về chúc tết nhân dân, xã viên HTX Văn Phúc, Văn Khê, Hoài Đức, Hà Tây nhân dịp Tết nguyên đán Bính Ngọ 1966

P.S.:Cám ơn chị Kim Yến đã cung cấp bài viết và hình ảnh về Bác Hồ

Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bác Hồ – Người khởi xướng Tết trồng cây

Từ năm 1959 đến đầu năm 1969, Bác Hồ đã viết 7 bài viết về Tết trồng cây. Chỉ cần con số vậy thôi, chúng ta đã biết Bác quan tâm đến việc trồng cây gây rừng đến mức nào: Tất cả những bài ấy khi thì Bác viết từ góc độ một bài báo, lời kêu gọi. Trong từng mỗi bài, Bác đưa ra những dẫn chứng, ích lợi của việc trồng cây: vừa có tính kinh tế, an ninh, quốc phòng, vừa mang tầm chiến lược lâu dài. Bài nào của Bác cũng có những dẫn chứng cụ thể, nên có tính thuyết phục cao. Chính vì vậy, tuy thời gian này nước nhà chưa thống nhất, nhưng trên miền Bắc mọi người từ già đến trẻ, mọi thành phần đều nhất nhất hưởng ứng. Những năm đầu của thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước, Bác trực tiếp về trồng cây ở xã Vật Lại (Hà Tây). Sau này đi thăm nơi nào đó Bác đều trồng cây lưu niệm, kể cả khi đi thăm hoặc công tác ở nước ngoài. Học tập Bác, sau khi Bác mất nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều trồng cây khi đến thăm hoặc chúc tết nơi nào đó.

Bài báo đầu tiên năm 1959 nhân Tết cổ truyền (Tết Nguyên Đán), Bác viết: “Chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”. Bác phân tích: “Đó là cuộc thi đua dài hạn, nhưng nhẹ nhàng, mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng có thể tham gia.”(1).

Quả nhiên, lời kêu gọi Tết trồng cây năm ấy của Bác đã được toàn dân từ già đến trẻ tham gia nhiệt liệt. Từ thực tế nghe báo cáo kết quả của năm trước, năm sau-1960 Bác có bài:”Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu”, Bác nhắc nhở: “Phải nắm đúng nguyên tắc xem trọng chất lượng, nghĩa là trồng cây nào chắc cây ấy, không nên tham trồng quá nhiều mà không ra sức bảo vệ và trông nom cây”(2).

Khi đã phát, thì Bác theo dõi diết phong trào này, không chỉ có nghe báo cáo, Bác còn xuống tận cơ sở, thấy bộc lộ một số thiếu sót như thiếu hướng dẫn, việc trông nom cây đã trồng còn lỏng lẻo, còn nhiều cây trồng hỏng, bị héo chết. Thấy vậy, Bác viết tiếp bài: “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây”. Bác nhắc nhở một cách cụ thể, chi tiết hơn: “Chúng ta phải rút kinh nghiệm của đợt một, phải sửa chữa những khuyết điểm, phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống phải làm đúng khẩu hiệu: “Trồng cây nào, tốt cây ấy”(3).

Mùa xuân năm 1963 vào dịp kỷ niệm lần thứ 33 Ngày thành lập Đảng Bác viết: “Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn”(4). Viết bằng văn xuôi chưa đủ tết năm 1964 Bác còn viết thơ – bằng thể lục bát để dễ thuộc, dễ vào dân hơn. Đầu đề bài, Bác viết bằng hai câu thơ: “Mùa xuân là tết trồng cây/Nơi nơi phấn khởi, người người thi đua” (5).

Nội dung dưới bài, Bác biểu dương nhiều đơn vị, cá nhân trồng cây tốt. Tỉnh Hưng Yên , năm đó có cụ Vũ Văn Lân, 104 tuổi, thôn Khoá Nhu, xã Yên Hoà, huyện Văn Lâm là người đầu tiên được Bác thưởng huy hiệu người đã đạt thành tích xuất sắc về trồng cây và bảo vệ cây.

Năm 1965, Bác viết bài: “Năm mới nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”, mở đầu bài viết là hai câu thơ: ” Mùa xuân là tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Phần cuối của bài viết, Bác nhận xét tổng quát, đánh giá phong trào: “Nơi nào mà các cấp Đảng bộ từ tỉnh đến chi bộ trực tiếp lãnh đạo, có kế hoạch đầy đủ, có biện pháp rõ ràng, hạt giống, vườn ươm… có kiểm tra cẩn thận, khéo động viên quần chúng, khéo dựa vào lực lượng các cụ phụ lão và thanh niên, nhi đồng thì nơi đó phong trào Tết trồng cây phát triển tốt”(6).

Mùa xuân 1969, trước lúc mất, Bác lại có bài viết về Tết trồng cây. Trong bài này, Bác có ý tổng kết những kết quả của 8 năm tết trồng cây, Bác chỉ ra những ưu, khuyết điểm, đồng thời cũng biểu dương nhiều đơn vị, cá nhân xuất sắc trong phong trào trồng cây. Song Bác cũng không vui vì bên cạnh những gương tốt đó còn những địa phương trồng nhiều mà cây sống ít, diện tích đồi trọc còn nhiều. Nguyên nhân là do nghành lâm nghiệp chưa quan tâm đúng mức, nhưng chủ yếu là do cấp uỷ và uỷ ban hành chính địa phương chưa lãnh đạo tốt phong trào trồng cây”(7). Đó là bài báo cuối cùng của Bác về Tết trồng cây.

Thực hiện lời Bác, không chỉ lúc Bác còn sống mà từ khi Bác mất cho đến nay và mãi mãi về sau nhân dân ta cứ mỗi độ tết đến, xuân về nhà nhà trồng cây, người người trồng cây. Trong hàng chục cái tết trong năm như: Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu… nhân dân ta có Tết Nguyên đán còn có thêm Tết trồng cây. Học tập Bác, noi gương Bác, từ bấy đến nay không chỉ vào dịp tết mà trong các chuyến đi công tác các đồng chí lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước ta lại đi cơ sở hoặc đến thăm các di tích đều trồng cây lưu niệm và đấy cũng là góp một phần công ích của mình cho di tích đó thêm xanh, sạch, đẹp, bảo vệ môi trường, ngăn chặn lũ lụt. Và không chỉ có thế: “Những làng xa cây sẽ nối nên gần/Trái tim hồng con trẻ đến tìm ăn..”. (Tết trồng cây – thơ Chế Lan Viên). Mấy năm gần đây tình trạng phá rừng nhiều, cộng thêm với thiên nhiên khắc nghiệt, lũ lụt xảy ra nhiều ở miền Trung và miền Nam nước ta và trên thế giới gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, thì việc bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng làm theo lời Bác dạy, các bài báo Bác viết về trồng cây càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết: Trồng thêm cây, bảo vệ cây, gây thêm rừng, xây dựng mái nhà xanh khổng lồ, trong lành.

LÊ HỒNG THIỆN

Theo baohaiduong.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ mãi lời thơ chúc Tết Nhâm Thìn của Bác

(VOV) – Những người ngày ấy công tác ở Đài Tiếng nói miền Nam mãi không quên mùa xuân Nhâm Thìn 1952, với lời thơ “vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân” của Bác Hồ muôn vàn kính yêu

Cách đây 60 năm, sáng mùng Một Tết Nhâm Thìn 1952, qua làn sóng điện Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi, những người công tác tại Đài Tiếng nói miền Nam (Liên khu V) thu được lời thơ chúc Tết của Bác Hồ.

Đài chúng tôi lúc ấy đóng tại một vùng quê nghèo, hẻo lánh trên bờ sông Lại Giang thuộc xóm Vạn Tín, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Lời thơ chúc Tết của Bác như sau:

Xuân này, xuân Nhâm Thìn,
Kháng chiến đà sáu năm
Trường kỳ và gian khổ,
Chiến thắng trăm phần trăm.
Chiến sĩ thì giết giặc,
Đồng bào thì tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi,
vừa là mừng xuân.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi vội báo cáo lên Liên khu ủy, tập hợp anh chị em bàn kế hoạch phổ biến rộng rãi thơ chúc Tết của Bác qua làn sóng Tiếng nói miền Nam.

Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm, chúc Tết đồng bào Hà Tĩnh (Xuân Đinh Mùi – 1967)
Anh Võ Bài, nhạc sĩ của Đài nhanh chóng phổ nhạc lời chúc Tết của Bác theo làn điệu dân ca Liên khu V và gọi chúng tôi lại tập hát.

Và ngay trong buổi phát thanh lúc 19h ngày mùng Một Tết chúng tôi đã lên chương trình đặc biệt. Sau lời mở đầu của phát thanh viên Minh Lý, toàn ban nam nữ của Đài, hơn mười người, chen nhau trong “chòi phát thanh” (studio) làm bằng tranh tre, hát lời chúc Tết của Bác trong không khí trang nghiêm, xúc động và khí thế không bút nào tả xiết.

Các ngày tiếp theo, trong các buổi phát thanh mùng hai, mùng ba Tết, chúng tôi lại cùng nhau hát thơ chúc Tết của Bác vì lúc ấy Đài chúng tôi chưa có máy ghi âm.

Dàn nhạc đệm có Võ Bài đệm băng-gi-ô, Liêng đàn măng-đô-lin, Phú đàn ắc-coóc-đê-ông. Cây đàn ắc- coóc này là chiến lợi phẩm bộ đội ta thu được trong trận diệt đồn Túy Loan và do ban chỉ huy mặt trận Quảng Đà gửi tặng Đài chúng tôi, ca sĩ chính là chị Bích Hường.

Sau Tết, Liên khu ủy điện lên khen các chương trình mừng Xuân của Đài, đặc biệt sáng kiến phổ nhạc lời thơ của Bác. Anh Trần Lâm, từ chiến khu Việt Bắc cũng có điện khen. Báo Cứu quốc Liên khu V cũng xin bản nhạc để đăng báo, còn tại Vạn Tín thì đồng bào đã viết bài thơ chúc Tết của Bác lên giấy hồng đào, treo trên bàn thờ, vài em bé nhà gần chòi phát thanh đã nghêu ngao hát “Xuân này, xuân Nhâm Thìn… Thắng lợi ắt về ta…”.

Đài Tiếng nói miền Nam có tiền thân là “Tiếng nói Nam bộ, tiếng nói căm hờn, tiếng nói chiến đấu”, chỉ là một đài kháng chiến nhỏ, thiết bị không đồng bộ do ta tự lắp lên, phát trên làn sóng 24m26 (24.26), đài hiệu là: “Đây là Tiếng nói miền Nam, tiếng nói của người Việt miền Nam”. Đài tuy nhỏ bé nhưng diện phủ sóng tương đối rộng, có thể bắt được ở nhiều đô thị, chiến khu Việt Bắc và một số nước Đông Nam Á.

Sáu mươi năm đã qua, những người ngày ấy công tác ở Đài Tiếng nói miền Nam mãi không quên mùa xuân năm Nhâm Thìn 1952, với lời thơ “vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân” của Bác Hồ muôn vàn kính yêu./.

Lý Văn Sáu
Nguyên Phó Giám đốc Đài Tiếng nói miền Nam

vov.vn

Hồ Chí Minh, mùa xuân và cuộc đời

Phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu là hoài bão, là mong mỏi thiết tha của Người, là lời non nước, là tiếng gọi của ngàn xưa và của hôm nay, là tiếng gọi của mùa xuân, là tiếng kèn giục ta tiến bước!

Chúng ta đang đón một mùa xuân – đất trời Việt Nam lộng lẫy sắc hương và thắm đậm tình người. Bão tố, mưa giông, nắng hạn, lũ lụt… đã phải đầu hàng trước sự gắng gỏi vượt lên của đồng bào miền Trung kiên cường cùng với sức mạnh kết đoàn, sẻ chia của đồng bào cả nước. Một sức xuân đang trỗi dậy trong sự quần tụ, sinh thành của dân tộc luôn biết vượt qua những ngày đông giá lạnh và mây mù.

Vượt qua sương gió đông tàn, để ta có cảnh huy hoàng mùa xuân – mùa xuân kỷ niệm lần thứ 81 Ngày thành lập Đảng, mùa xuân chào mừng Đại hội XI của Đảng. Thời gian chắt lọc, giữ lại những hạt vàng, hạt ngọc của cuộc sống gian lao, ươm trồng, ấp ủ cho mùa xuân mới tái tạo sinh thành. Thời gian kết thành lộc biếc, chồi xanh, hoa thơm, quả ngọt cho đời.

Xuân mới đã về trên toàn cõi Việt Nam. Hoa đào miền Bắc, hoa mai miền Nam cùng khoe sắc thắm, cùng điểm tô cho mùa xuân Việt rực rỡ sắc màu. Trong mọi gia đình Việt Nam đều thắp nén nhang thơm trên bàn thờ tiên tổ khi mà thời khắc linh thiêng giao hòa giữa Trời – Đất – Con người, lòng nặng ân tình nhớ tới Người – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – vị cứu tinh của dân tộc, Người đã khai sinh thể chế dân chủ cộng hoà của nước nhà, Người đã để lại một di sản văn hoá tinh thần bất diệt cho giống nòi. Người là linh hồn của mùa xuân muôn đời cho đất Việt bởi những tư tưởng của Người sống mãi với thời gian trong sự sinh thành và phát triển của đồng bào dân nước.

Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đó là lẽ sống của muôn đời!

Đấu tranh chống sự lạm quyền về chính trị, độc đoán về hành chính, bóc lột về kinh tế của mọi thế lực áp bức để làm tròn sứ mệnh giải phóng con người là tuyên ngôn chính trị từ thuở thanh xuân khi Người mới bước vào con đường tranh đấu. Cả cuộc đời Người trước sau cũng chỉ có một ham muốn: Ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Ham muốn của Người cũng chính là ước mơ, là lời chúc tân xuân cho mọi kiếp người, cho muôn đời dân nước.

Muốn đạt mục tiêu giản dị và vô cùng cao đẹp đó thì phải sửa sang thế đạo, kinh dinh nhân quyền. Đó là công việc khởi đầu hàng năm của mọi chế độ chính trị và của mọi nhân cách. Làm việc đó thường xuyên, liên tục thì mùa xuân dân tộc mới xanh tươi và thế giới con người mới được vui vẻ với “bánh mì và hoa hồng”.

Sức sống mãnh liệt của mùa xuân sẽ giúp con người vượt cao hơn chính mình để dựng xây, kiến tạo. Vô luận việc gì đều do người làm ra. Nhưng trước hết người cán bộ, đảng viên phải biết tự chỉ trích và đổi mới, bởi Hồ Chí Minh từng khẳng định Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên là do mỗi chúng ta lớn lên. Người nhiều lần chỉ rõ Đảng và Nhà nước phải không ngừng nâng cao dân chúng cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính vì vậy, ngay sau khi mới giành được chính quyền (8-1945) Người đã đề ra diệt giặc dốt và giáo dục lại dân ta song hành cùng với diệt giặc đói và giặc ngoại xâm. Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Trồng cây và trồng người là việc làm cho đất nước ngày càng xuân, là cách duy nhất để làm cho mùa xuân của Tổ quốc ta sẽ là mùa xuân vĩnh hằng.

Trước lúc “lên đường theo tổ tiên”, Người căn dặn ngay sau khi kháng chiến thắng lợi, Đảng và Nhà nước, trong công tác thì phải: Đầu tiên là công việc đối với con người. Do vậy Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để chăm lo đời sống của nhân dân. Và trước tiên phải chỉnh đốn lại Đảng.

Phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, văn minh, sánh vai các cường quốc năm châu là hoài bão, là mong mỏi thiết tha của Người, là lời non nước, là tiếng gọi của ngàn xưa và của hôm nay, là tiếng gọi của mùa xuân, là tiếng kèn giục ta tiến bước!

Xuân mới đã về! Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh!

Trần Đức Trung

xaydungdang.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: Vị Thánh nhân của dân tộc

(PL&XH) – Mỗi độ xuân về, người dân Việt Nam nhớ Bác Hồ – qua những vần thơ chúc Tết của Người. Trong thế kỷ 20, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tên Người không chỉ vĩ đại đối với dân tộc Việt Nam mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển.

Hàng năm, mọi đình, đền, miếu mạo thờ Đức Thánh Tản Viên đều tổ chức lễ hội, nhưng được tổ chức với quy mô lớn vào các năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu (âm lịch), các tên gọi này cũng là tên gọi các tháng giữa bốn mùa. Tháng Tý là giữa mùa Đông thì tháng Ngọ là giữa mùa Hè; tháng Mão là giữa mùa Xuân và tháng Dậu là giữa mùa Thu. Đó là quy luật của trời đất, tâm linh của vạn vật theo Ngũ hành tương sinh (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ), linh khí của đất trời tạo hóa.

Bác Hồ với đồng bào, cán bộ, bộ đội tại Thuận Châu ngày 7-5-1959

Điểm lại những mốc son lịch sử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam ở thế kỷ 20, trùng hợp với điều này: Năm 1930 (năm Canh Ngọ) – Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời. Năm 1945 (năm Ất Dậu) – Cách mạng tháng Tám thành công. Năm 1954 (năm Giáp Ngọ) – Việt Nam làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Chấn động địa cầu” lập lại hòa bình ở Việt Nam. Năm 1960 (năm Canh Tý – Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam ra đời, tạo bước ngoặt thế và lực cho cách mạng bước sang giai đoạn mới. Năm 1972 (năm Nhâm Tý) với chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” quật ngã “Pháo đài bay B52” trên bầu trời Hà Nội, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris. Kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt hơn 30 năm là cuộc Tổng tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975 (năm Ất Mão). Đó là những mốc thời gian kỳ diệu của cách mạng Việt Nam, đều rơi vào những năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu! Đôi điều quy luật trong thời đại Hồ Chí Minh đã minh chứng cho dân đất Việt thờ Thánh Tản Viên trong tứ niên: Tý – Ngọ – Mão – Dậu quả là điều kỳ diệu.

Tại những thời khắc quyết liệt đầy cam go của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán trước mọi tình thế của cách mạng. Nhớ lại xuân Nhâm Ngọ (năm 1942) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trường ca “Lịch sử nước ta” với 236 câu lục bát, cuối tác phẩm có mục ghi những mốc lớn trong lịch sử dân tộc, trong đó có dòng chữ tiên đoán: “Năm 1945 (năm Ất Dậu) – Việt Nam độc lập”.

Trong cuốn sách “Nam Đàn xưa và nay” đã phân tích về một sự kiện kỳ lạ: “Tại cuốn Nghệ An ký của Hoàng Giáp Bùi Đương Lịch, viết vào cuối thế kỷ 18 có nhắc đến câu sấm truyền… “Độn sơn phân giới… Nam Đàn sinh thánh”. Học trò của cụ Phan Bội Châu lúc đó đã hỏi: “Nam Đàn sinh thánh” có phải ứng vào thầy không? Cụ Phan đã giải thích: “Câu sấm truyền ấy có ứng thì là Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này)”. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đó là Phó Chủ tịch nước, có thời gian ngắn làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khâm phục trí tuệ siêu phàm, tâm linh thấu thiên cơ của Người: “Tầm con mắt trong cao tột bậc, nhận rõ đại cuộc, xét thấu thiên cơ”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã nhận định, đánh giá tầm nhìn đi trước thời gian của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Người thường kể với chúng tôi, dự đoán tương lai. Người nói, chừng 4 hay 5 năm nữa, cách mạng Việt Nam sẽ thành công…”. Ngay đánh giá “Thế và Thời” trong khởi nghĩa giải phóng dân tộc, theo quan điểm Hồ Chí Minh đó là “vận nước”. Bởi “Đại sự muốn thành công phải nhờ “vận nước”! Ngay cả thời điểm trước lúc ra đi, Người đã để lại cho toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta những lời tiên tri trong những vần thơ chúc Tết năm 1969 (năm Kỷ Dậu), để 6 năm sau, đúng năm 1975 (năm Ất Mão) đã trở thành hiện thực:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!”.

Người dự đoán thật chính xác: Đánh cho Mỹ cút năm 1973 thì Ngụy ắt phải nhào, phải sụp đổ tan tành năm 1975.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong tâm linh của Người khi Cách mạng tháng Tám mới thành công, nhận rõ vai trò quan trọng của các di tích, danh lam thắng cảnh và các vùng đất linh thiêng của Tổ quốc, ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 về “Bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật, thành, quách, lăng, mộ, chiếu sắc, văn bằng… có ích cho lịch sử”. Và, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự thảo, được Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta (năm 1946) – Văn bản quan trọng nhất, thể chế hóa đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Suốt cả cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng Người vẫn đến thăm những di tích thiêng liêng của đất Việt như đền Hùng, chùa Hương Tích, chùa Côn Sơn, chùa Quán Sứ, chùa Thầy, di tích Cổ Loa thành, chùa Trầm… Người luôn luôn trân trọng giá trị tâm linh. Ngày hòa bình mới được lập lại, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành kính lễ Phật Bà Quan Thế Âm khi về chùa Hương Tích hay khi cùng vua Lào (sang thăm Việt Nam năm 1963) đến lễ Phật tại chùa Quán Sứ.

Lê Hữu

Đó là sự kế tục dòng chảy văn hóa tâm linh đất Việt. Các đời vua, các danh nhân, anh hùng dân tộc như: Lý Công Uẩn, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông… qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn… đều sớm tìm đến vùng đất thiêng nhằm khởi phát để nối mạch thông linh: Thiên – Địa – Nhân, tạo thế trường tồn cho đất nước, cho muôn đời con cháu mai sau.

Khi đất nước còn chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý tới khu linh thiêng K9- Đá Chông, Ba Vì. Theo quan điểm của triết học phương Đông, bình địa rộng lớn của K9 là nơi tổng hòa các yếu tố linh thiêng quy tụ. Bởi, trước mặt là sự giao thoa của 3 dòng: Sông Đà, sông Thao và sông Hồng; sau lưng dựa núi Tản Viên, hai bên tả, hữu triền núi thoai thoải, nước sông Đà “trường lưu thủy” chảy từ tả sang hữu (trái sang phải) hội hợp về biển lớn đúng với cái thế “Tiền cận Giang – Hậu tựa sơn” (trước là sông, lưng tựa núi). Thế đất của K9 là “thế tay ngai”, hội tụ phát tích linh khí, nằm trong năm vùng địa linh tuyệt diệu của đất Việt. Vì vậy, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, chiến sĩ bảo vệ K9 không được chặt cây, phá đá, phải giữ nguyên các quần thể, từng khối đá trụ nơi đây.

Người đã đi xa 43 năm, để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào, đồng chí cả nước. Tại nhiều đình, đền, miếu, chùa và nhiều gia đình đã lập bàn thờ tỏ lòng thành kính với Người. Đất nước vào xuân, đôi điều tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh như một giá trị vô giá trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Trí Hải

phapluatxahoi.vn

Ngày xuân thấm thía lời Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”! Đó là mục tiêu, là lẽ sống của dân tộc ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết từ chính thực tiễn Việt Nam. Điều đó đã trở thành chân lý.

Năm 1966, khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” Lời của Bác đã trở thành quyết tâm sắt đá của mỗi người dân đất Việt.

Trải qua những năm dài chìm trong đêm trường nô lệ, người dân nào cũng thấu hiểu nỗi nhục mất nước. Nước mất độc lập thì dân đâu còn có tự do? Đất nước bị mất tên trên bản đồ thế giới, mọi quyền hành rơi vào tay kẻ cai trị bạo tàn, nhân dân sống đời nô lệ, tăm tối, bị áp bức, bóc lột đến tận xương tuỷ, đói khổ lầm than! Từ thực tế ấy không chỉ riêng Bác Hồ mà là cả dân tộc Việt Nam đều nhận thấy “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một chân lý vĩnh hằng. Độc lập, tự do trong Tư tưởng Hồ Chí Minh phải là độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn chứ không phải là thứ độc lập giả hiệu, độc lập nửa vời. Độc lập đó phải gắn với quyền tự quyết dân tộc, gắn liền với thống nhất đất nước, đảm bảo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại mọi sự chia cắt. Độc lập đó cũng phải gắn với tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, gắn với chủ nghĩa xã hội. Độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân là tiền đề để đi đến CNXH; còn CNXH sẽ là cơ sở, là điều kiện để giữ vững sự độc lập, tự do ấy. Nếu nước được độc lập mà dân không được ăn no mặc ấm, không được hạnh phúc thì cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành chân lý, mục tiêu, lý tưởng của cả dân tộc Việt Nam và chính Hồ Chí Minh – người khái quát nên chân lý ấy, hơn ai hết đã hy sinh cả cuộc đời mình cho lý tưởng cao đẹp này.

Suốt ba mươi năm bôn ba tìm đường giải phóng cho dân tộc, mang lại hạnh phúc ấm no cho nhân dân, biết bao hiểm nguy, gian khó, Người vẫn luôn khẳng định mà không hề nao núng rằng “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”. Người luôn tâm niệm một điều duy nhất là “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Rồi đến khi về nước, lúc thì phải ẩn mình nơi hang đá, lúc phải đối mặt với những nguy cơ thách thức khốc liệt, Người luôn luôn chỉ nghĩ đến đất nước, đến nhân dân mà quên chính bản thân mình.

Khi Tổ quốc chưa được giải phóng hoàn toàn, Bác không lo cho hạnh phúc của riêng mình. Cả đến giấc ngủ cũng trằn trọc không yên vì “thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, trải lá cây làm chiếu, manh áo phủ làm chăn, trời thì mưa lâm thâm, làm sao cho khỏi ướt”. Lòng Bác cứ nặng trĩu vì nhân dân, vì Tổ quốc mà quên nghĩ đến bản thân. Cuộc đời của Người là một tấm gương hy sinh quên mình vì lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ngay cả lúc ốm thập tử nhất sinh Người vẫn dặn dò: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”! Một tấm gương, một con người mà cả thế giới nghiêng mình cảm phục!

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Câu nói tuy ngắn gọn nhưng ý nghĩa thật bao trùm, trong mọi trường hợp đều có thể tóm được “mẫu số chung” trong câu nói nổi tiếng ấy. Với một cá nhân, một đơn vị, một ngành, một địa phương hay trong phạm vi một quốc gia nào cũng đều đúng cả. Trong cuộc sống, trong công tác và nhất là trong các mối quan hệ, một khi ai đó phải lệ thuộc vào người khác về tình cảm, về vật chất hay về ơn huệ, nói chung ít nhiều đều tự mình làm mất đi một phần độc lập, tự do của mình. Một người nhận hối lộ, tất không thể độc lập, tự do giải quyết vấn đề một cách vô tư…

Với câu nói của Bác, độc lập, tự do mang ý nghĩa thật lớn lao và đó là sinh mệnh của cả đất nước, dân tộc. Để có được độc lập, tự do, điều tất yếu là phải hiến dâng xương máu cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do; phải chiến đấu và chiến thắng để bảo vệ nền độc lập, tự do ấy. Trên bước đường tranh đấu với lý tưởng độc lập, tự do, thời gian và công việc là liều thuốc thử để nhận rõ phẩm chất, ý chí và lòng trung thành của mỗi người dân cũng như với cả dân tộc. Lịch sử từng hơn một lần chứng minh rằng, cái giá mà dân tộc ta phải trả để giành được độc lập, tự do là không hề nhỏ. Chính vì thế mà chúng ta càng phải nâng niu, quý trọng và đồng tâm dốc sức vì nền độc lập, tự do vẹn toàn và mãi mãi của đất nước; triệu người như một, quyết không khuất phục trước bất kỳ một thế lực phản động nào. Trong suốt cuộc đời cao đẹp của mình, dù ở hoàn cảnh nào Bác Hồ cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự do. Chính lý tưởng đó đó tạo nên nghị lực phi thường, niềm tin sắt đá của Bác trên con đường bôn ba tìm đường cứu nước. Sau này, với cương vị Chủ tịch nước, một lần nữa Bác tiếp tục khẳng định giá trị của độc lập, tự do bằng câu nói bất hủ: Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do…

Ngày nay, đất nước đã im tiếng súng song chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục được phát huy. Độc lập, tự do hiện nay là phải làm sao để đất nước vừa mở rộng hợp tác quốc tế nhưng vừa giữ vững được quyền tự chủ về kinh tế, về chính trị, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia và tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mỗi người dân. Để phát huy tinh thần này chúng ta cần phải ra sức hành động, xây dựng đất nước giàu mạnh. Phải đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nền kinh tế đất nước phát triển nhanh, tiến kịp với các nước trên thế giới. Phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, đồng thời phải thường xuyên chăm lo củng cố quốc phòng an ninh, sẵn sàng đánh bại mọi hoạt động, âm mưu bạo loạn, lật đổ, xâm lược; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân ta. Cần phải phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người để nhân dân có thể tự ý thức được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nguyễn Thị Hương
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

xaydungdang.org.vn

Thơ chúc Tết của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, Người còn là một nhà thơ lớn. Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rất nhiều thơ. Bên cạnh tập Nhật ký trong tù và nhiều bài thơ khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người còn để lại cho chúng ta những bài thơ chúc Tết với biết bao tình cảm ấm áp thương yêu.

Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc giao thừa để lắng nghe thơ chúc tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc tết. Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Bác ơi!
Tết đến. Giao thừa đó
Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần
Ríu rít đàn em vui pháo nổ
Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân …

(Tố Hữu)

Thơ chúc Tết của Bác Hồ gửi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài thường khen ngợi thành tích của một nǎm công tác và đề ra nhiệm vụ, phương hướng cho nǎm mới, động viên mọi người phấn khởi hǎng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ mới.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập hợp 22 bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1942 – 1969 trong tập Hồ Chí Minh “Thơ chúc Tết” do Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM NGỌ – 1942

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt-minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH TUẤT – 1946

Hỡi các chiến sĩ yêu quí,
Bao giờ kháng chiến thành công,
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
Tết này ta tạm xa nhau,
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Chúc đồng bào:

Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn nǎm!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH HỢI – 1947

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU TÝ – 1948

Nǎm Hợi đã đi qua,
Nǎm Tý vừa bước tới.
Gửi lời chúc đồng bào,
Kháng chiến được thắng lợi;
Toàn dân đại đoàn kết,
Cả nước dốc một lòng,
Thống nhất chắc chắn được,
Độc lập quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ SỬU – 1949

Kháng chiến lại thêm một nǎm mới,
Thi đua ái quốc thêm tiến tới.
Động viên lực lượng và tinh thần,
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi.

Người người thi đua.
Ngành ngành thi đua.
Ngày ngày thi đua.
Ta nhất định thắng.
Địch nhất định thua

THƠ CHÚC TẾT XUÂN CANH DẦN – 1950

Kính chúc đồng bào nǎm mới,
Mọi người càng thêm phấn khởi,
Toàn dân xung phong thi đua,
Đẩy mạnh cuộc chuẩn bị tới,
Chuyển mau sang tổng phản công,
Kháng chiến nhất định thắng lợi.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN MÃO – 1951

Xuân này kháng chiến đã nǎm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn hǎng hái một lòng
Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM THÌN – 1952

Xuân này, xuân nǎm Thìn
Kháng chiến vừa sáu nǎm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trǎm phần trǎm.

Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tǎng gia
Nǎm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.

Mấy câu thành thật nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ TỴ – 1953

Mừng nǎm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng nǎm mới, nhiệm vụ mới,
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP NGỌ – 1954

Nǎm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:
– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do
– Cải cách ruộng đất là công việc rất to
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.
Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,
Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.
Hoà bình dân chủ thế giới khắp Nam, Bắc, Tây, Đông.
Nǎm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH THÂN – 1956

Thân ái mấy lời chúc Tết:
Toàn dân đoàn kết một lòng,
Miền Bắc thi đua xây dựng,
Miền Nam giữ vững thành đồng,
Quyết chí, bền gan phấn đấu,
Hoà bình, thống nhất thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ HỢI – 1959

Chúc mừng đồng bào nǎm mới,
Đoàn kết thi đua tiến tới,
Hoàn thành kế hoạch ba nǎm,
Thống nhất nước nhà thắng lợi.

THƠ CHÚCTẾT XUÂN CANH TÝ – 1960

Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh!
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ!
Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Chúc đồng báo ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng, hǎng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà, Bắc Nam vui vẻ!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN TÂN SỬU – 1961

Mừng nǎm mới, mừng xuân mới,
Mừng Việt Nam, mừng thế giới!
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh,
Kế hoạch 5 nǎm thêm phấn khởi.
Chúc miền Bắc hǎng hái thi đua;
Chúc miền Nam đoàn kết tiến tới!
Chúc hoà bình thống nhất thành công!
Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM DẦN – 1962

Nǎm Dần, mừng Xuân thế giới,
Cả nǎm châu phấp phới cờ hồng.
Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi,
Bốn mùa hoa Duyên-hải, Đại-phong.
Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới,
Sức triệu người hơn sóng biển Đông.
Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi,
Hoà bình thống nhất quyết thành công.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN QUÝ MÃO – 1963

Mừng nǎm mới,
Cố gắng mới,
Tiến bộ mới,

Chúc Quý Mão là nǎm nhiều thắng lợi!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN GIÁP THÌN – 1964

Bắc Nam như cội với cành,
Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng.
Rồi đây thống nhất thành công,
Bắc Nam ta lại vui chung một nhà.
Mấy lời thân ái nôm na,
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ẤT TỴ – 1965

Chào mừng Ất Tỵ xuân nǎm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội ngày càng thắng lợi!
Hoà bình thống nhất ắt hẳn thành công!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN BÍNH NGỌ – 1966

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plei Me, Đà Nẵng.
Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,
Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,
Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.
Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong,
Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN ĐINH MÙI – 1967

Xuân về xin có một bài ca,
Gửi chúc đồng bào cả nước ta:
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi,
Tin mừng thắng trận nở như hoa!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU THÂN – 1968

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

THƠ CHÚC TẾT XUÂN KỶ DẬU – 1969

Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,
Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn!

Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh

Những cái Tết sống xa Tổ quốc của Bác Hồ

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ. Ảnh - k14.vcmedia.vn

Đất nước bị xâm lăng, Bác phải xa Tổ quốc 30 năm ròng tìm đường cứu nước. Ba mươi năm ấy Bác đón Tết ở nơi đất khách, quê người.

Mùa hè năm 1911, Bác rời bến Nhà Rồng, bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm. Mùa xuân năm Nhâm Tý (1912), Người đón cái Tết đầu tiên ở New York (Mỹ), Người tới thăm khu Hác-lem của người da đen, tìm hiểu cuộc sống của người lao động xã hội Mỹ. Năm 1914, Người đón Tết “con hổ” ở London – Thủ đô nước Anh, trong vai người phục vụ khách sạn.

Từ mùa xuân năm 1918 đến mùa xuân năm 1923, tại Paris, Thủ đô nước Pháp, Người sống những cái tết nhớ nước, thương dân và nhiều hoạt động cách mạng sôi nổi. Sau Hội nghị Véc-xai với bản yêu sách đòi quyền cho dân Đông Dương, năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.

Xuân Tân Dậu (1921), Người có cuộc đối thoại với Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp An-be Xa-rô. Mùa xuân năm 1922, ngày 1/4, tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) do Người làm chủ nhiệm và kiêm chủ bút ra số đầu tiên tại Paris.

Tháng 6/1922, Người cho công diễn vở kịch “Con Rồng tre” đả kích vua bù nhìn Khải Định khi ông vua này sang thăm “mẫu quốc”.

Năm Quý Hợi – 1923, sau cuộc họp Hội liên hiệp thuộc địa tại trụ sở báo Người cùng khổ ở số 3 phố Mác-sê Đê-pa-tri-ác-sơ, Người đã bàn với ông Nguyễn Văn Ái và Trần Tiến Nam tổ chức Tết Nguyên đán cho những người Việt Nam tại Pa-ri. Người đề nghị hai ông chuẩn bị thật cụ thể, chu đáo, vui vẻ nhưng tiết kiệm. Tối mùng 2 Tết năm ấy, tại hiệu ăn U-ni-vec-xta phố Pie Quy-ri, buổi tiệc trà vui Tết của Bác Hồ và những người Việt Nam sống tại Pa-ri diễn ra vui vẻ, ấm cúng. Bác tuyên bố sự hoạt động trở lại của Hội ái hữu.

20/6/1923, Bác bí mật rời Paris đến Thủ đô Mát-xcơ-va dự Hội nghị Quốc tế Nông dân. Xuân Giáp Tý (1924), Người đón Tết ở khách sạn Lux, số 10 phố Tvec-skai-a. Những ngày ấy giá buốt hơn mọi năm, trong tuyết lạnh Bác lặng lẽ tiễn biệt V.I.Lênin – người thầy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Mùa xuân Ất Sửu – 1925, Người tới Quảng Châu (Trung Quốc) với tên mới là Lý Thụy. Thời gian này, Người có nhiều hoạt động để chuẩn bị cho phong trào cách mạng trong nước. Người sáng lập báo Thanh Niên, thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, tổ chức các lớp học chính trị, đào tạo cán bộ.

Mùng 1 Tết năm 1926, Người khai bút viết thư gửi đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, đề nghị gửi tài liệu phục vụ tập san “Nông dân”. Ngày mùng 2 Tết, trên diễn đàn Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Quốc dân đảng Trung Quốc, dưới cái tên Vương Đạt Nhân, Người tố cáo thực dân Pháp đàn áp nhân dân Việt Nam, phá hoại cách mạng Trung Quốc và kêu gọi: “Cùng nhau liên hiệp lại … Tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung …”.

Mùa xuân năm 1927, Người chủ trương ra tờ báo “Lính Kách mệnh” nhằm mục đích tuyên truyền, giác ngộ binh lính Việt Nam, xuất bản tại Quảng Châu. Sau đó tháng 4/1927, Người rời Quảng Châu, qua Liên Xô, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Italia, Pháp… và sang hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan.

Năm 1928, Người ăn Tết với những bát cháo và bánh mì rẻ tiền tại một cửa hàng ăn của công nhân Béc-lin. Mùa xuân năm 1929, Người đón Tết cùng đồng bào Thái với cái tên mới là Thầu Chín.

Với những hoạt động cách mạng rất tích cực của Người, thực dân Pháp lùng bắt Người và các đồng chí khác. Việc truy bắt Người không có kết quả, nhưng thực dân Pháp vẫn quyết định mở phiên tòa đại hình vào đầu tháng 10/1929 tại Thành phố Vinh, quê hương Người. Tại đây, Tòa án Nam Triều đã kết án tử hình vắng mặt lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Trần Phú, Hồ Tùng Mậu. Mặc cho kẻ thù lồng lộn, chống phá, truy bắt, uy hiếp, tinh thần các chiến sĩ cộng sản không những không lùi bước mà họ càng tích cực hoạt động trong các phong trào đấu tranh của các tầng lớp công-nông-binh.

Vào dịp xuân Canh Ngọ -1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, với vai trò là Ủy viên Quốc tế cộng sản, phụ trách Cục phương Đông, Người về Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1931, Người đón xuân và tham gia các hoạt động cách mạng ở Hong Kong (Trung Quốc). Tháng 6/1931, dưới cái tên Tống Văn Sơ, Người bị bắt và bị giam trong nhà tù của thực dân Anh ở Hong Kong.

Năm 1932, được sự giúp đỡ của luật sư Lô-dơ-bai, Người được trả tự do. Năm 1933, Người đón Tết ở Hạ Môn (Trung Quốc). Mùa xuân năm 1934, trong bộ quần áo dài Trung Quốc, Người lên một chiếc tàu hàng Xô-viết ở Thượng Hải đi Liên Xô. Năm 1939, Người trở lại Trung Quốc chuẩn bị trở về nước lãnh đạo cách mạng.

Năm Tân Tỵ – 1941, vào ngày 8/2/1941, tức là ngày mùng 3 Tết, Người cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Sâm vượt cột mốc biên giới số 108 tại Cao Bằng về với đất Mẹ thân yêu. Sự kiện quan trọng này đã in dấu trong thơ Tố Hữu:

Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… im lặng con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ. 

Mùa xuân này, lịch sử tiếp tục sang trang, cả nước ta đang trên đường CNH, HĐH, cả dân tộc chớp lấy thời cơ, vượt qua thử thách, vững bước hội nhập và phát triển… Con đường Xuân mà chúng ta đang đi, chính là con đường mà Bác đã lựa chọn qua ba mươi mùa xuân xa Tổ quốc.

(Tạp chí Xây dựng Đảng)

Khúc hát trồng cây…

Đã từ lâu, mỗi dịp xuân về, nhân dân ta trên khắp mọi miền cả nước không chỉ náo nức đón Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc mà còn hưởng ứng Tết trồng cây. Tết trồng cây được Bác Hồ khởi xướng từ đầu năm 1960, đến nay đã qua nửa thế kỷ vẫn được nhân dân ta gìn giữ, phát huy và trở thành một nếp phong tục rất đẹp, rất riêng.

Ý nghĩa sâu xa, lòng thiết tha của Bác khi khởi xướng Tết trồng cây hằng năm đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho nhiều nhà thơ:

Vượt trùng dương chát mặn bốn phương trời,
Bác thương nhớ từng bụi sim cằn cỗi
Mỗi nhành là quê mình xanh tiếng gọi
Lúc trở về đất mẹ Bác trồng cây.

(Trúc Cương)

Hình ảnh Bác Hồ – người trồng cây vĩ đại là một hình tượng đẹp, gần gũi và sống động trong mỗi người dân Việt Nam. Từ hình ảnh ấy, nhiều nhà thơ đã viết nên những dòng chữ mộc mạc, thành kính và chan chứa yêu thương:

…Bác để lại đây Di chúc màu xanh,
Mà rễ đã ăn sâu vào lòng đất.
Bao thế hệ sẽ đi trong bóng mát,
Cho lẽ sống của Người thấm mãi hồn ta…

(Ngô Quân Miện – Di chúc màu xanh)

Trong công cuộc gieo trồng vĩ đại
Bác để lại cho chúng ta
Bao thế hệ người, bao thế hệ cây
Thịnh ngàn xuân tô điểm nước non này.

(Trinh Đường – Về Đào Xá)

Trồng cây nhớ Bác quá chừng,
Ngẩn ngơ sắc biếc chín tầng mây xanh…
…Bác ươm thế hệ con người
Cây xuân thắng giặc, cây đời dựng xây

(Phạm Đình Ân – Khúc hát trồng cây)

Côn Sơn từ sau lần đón Bác
Yêu kính Người đất dệt áo xanh
Màu xanh Côn Sơn – màu của Ức Trai xưa
Màu xanh Côn Sơn – thương nhớ Bác Hồ…

(Khúc Hà Linh – Màu xanh Côn Sơn)

Từ tầm nhìn kết đọng của nhân dân
Trên đỉnh cao hàng ngàn năm lịch sử
Bác trồng ở Niu-đê-li Ấn Độ
Cây đại của tình thương
Trồng ở Liên Xô, Xê-vat Xtôpôn
Vượt bão tuyết, cây sồi cao khỏe mãi…

(Phạm Xuân Hạt – Màu xanh của một Di chúc)

Bác trồng một nhánh đa con
Nay trăm cành lớn tán tròn xum xuê
Trưa hè bóng mát chùm che
Chăm con người giữa bốn bề tươi xanh…

(Hồng Nguyệt Cầm – Cây đa Bác Hồ)

Bác chẳng làm bóng cả trên cao
Đi dưới cây vẫn thắm lòng ơn Bác
Người dạy chúng con biết tự làm bóng mát
Để chở che cho trưa nắng đời mình…

(Vũ Đình Minh – Đi trong bóng mát của Người)

Những đoạn thơ trích dẫn trên không chỉ là cảm xúc riêng của các nhà thơ mà còn là sự đồng cảm của các thi sĩ với tấm lòng của nhân dân ta đối với sự nghiệp “trồng cây, trồng người” do Bác Hồ khởi xướng. Lời dạy của Bác về lợi ích trồng cây và ý nghĩa của Tết trồng cây đến nay vẫn vẹn nguyên ý nghĩa, đã có hàng ngàn những cây đa xanh và nhiều loài cây khác toả bóng theo lời kêu gọi trồng cây của Người.

Càng thấm thía lời dạy của Bác, chúng ta càng ý thức việc trồng cây, gây rừng phải trở thành một chiến lược của đất nước. Thiên nhiên là người mẹ, là cái nôi xanh của sự sống, con người cần giữ gìn và sống hoà hợp cùng thiên nhiên, yêu nước cũng chính là yêu những hàng cây, những cánh rừng xanh của Tổ quốc chúng ta.

Nếu ai đã từng đi qua vùng đất xám bạc màu ở miền Đông Nam bộ, đi dọc bãi cát duyên hải miền Trung, rồi lên vùng cao nguyên đất đỏ ba dan của Tây Nguyên hùng vĩ, lại trở ra vùng mỏ Đông Bắc, ngược lên vùng giấy, sợi Hàm Yên… chúng ta đều có chung cảm tưởng:

Nhà lá Bác đến muôn nơi,
Ở đâu cũng để cho đời màu xanh…

Mai Trang

xaydungdang.org.vn