Thư viện

Những cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của Bác Hồ (Phần 2)

Bác Hồ4. Trả lời một nhà báo nước ngoài (16-7-1947)

Nhiều câu ngài hỏi thì trước đây các báo ngoại quốc và mới rồi đây Hãng REUTER và một nhà báo ngoại quốc khác đã hỏi tôi và tôi đã trả lời. Nhưng ngài đã có lòng hỏi thì tôi cũng sẵn lòng đáp:

Tiếp tục đọc

Bác Hồ đến với nghề báo như thế nào?

Theo gương Bác Hồ làm báoAi cũng biết, Bác Hồ có một gia tài báo chí rất đồ sộ. Để trở thành một nhà báo, Bác đã phải tập viết lách rất cố gắng và kiên trì.

Từ những tin ngắn…

Năm 1911, Bác Hồ còn là một thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành đã xin làm bồi tàu để được đi ra thế giới mở rộng kiến thức. Năm 1919, Bác trở về Pháp sống với cụ Phan Châu Trinh và luật sư Phan Văn Trường. Chính trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành đã viết bản yêu sách gửi Hội nghị Versailles để yêu cầu tự do, bình đẳng cho dân An Nam.
Tiếp tục đọc

Học và làm theo Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng

Hội thảo nghiệp vụ Hội Nhà báo các tỉnh, thành khu vực Duyên hải Bắc Bộ với chủ đề “Học tập, rèn luyện, làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng,” tổ chức ngày 24/5, tại thành phố Nam Định.

Đây là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng của những người làm báo khu vực Duyên hải Bắc Bộ nhân dịp kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5) và 88 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6).

Tiếp tục đọc

4 lời khuyên của Bác Hồ với báo chí

Việt Nam - Hồ Chí MinhMột trong những lớp học báo chí đầu tiên của nước ta sau Cách mạng Tháng Tám là lớp học trong rừng Việt Bắc được Bác cho mở tại Trường Huỳnh Thúc Kháng. Khi chuẩn bị bước vào chiến dịch Biên giới – Thu Đông 1949-1950, dù bận trăm công ngàn việc cho cuộc kháng chiến, nhưng trong thư gửi các học viên của lớp báo chí đầu tiên này, Người đã khuyên các nhà báo:

Tiếp tục đọc

Nguyễn Ái Quốc – Họa sĩ bậc thầy trình bày báo.

Thế hệ làm báo cách mạng Việt Nam, gần một thế kỷ được thừa hưởng những bài học làm báo cách mạng, nghệ thuật sáng tạo tác phẩm báo chí xuất sắc, tiêu biểu, độc đáo của Nhà báo số một Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Nhiều thế hệ nhà báo Việt Nam không chỉ tiếp thu ở nhà báo Nguyễn Ái Quốc cách hòa nhập, nắm bắt hiện thực cuộc sống, chắt lọc sự kiện, khơi nguồn tình cảm và hình thức thể hiện nội dung thông tin sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục mà còn tiếp nhận từ Người phong cách trình bày mặt báo sao cho lôi cuốn bạn đọc.

Tiếp tục đọc

Bác Hồ sáng lập Báo Việt Nam Độc Lập

Sau ba tháng về nước, tại đầu nguồn Khuổi Nậm, Pắc Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) Bác đã triệu tập và chủ trì hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (họp từ ngày 10-19.5.1941). Tại hội nghị quan trọng này, Bác Hồ và Trung ương Đảng đã thảo luận, quyết định đường lối, sách lược Cách mạng Giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận “Việt Nam độc lập Đồng minh hội”, gọi tắt là “Mặt trận Việt Minh” nhằm tập hợp thống nhất lực lượng cách mạng các dân tộc ở Đông Dương vì mục đích đánh đuổi Nhật, Pháp, giành nền độc lập vĩnh viễn cho Tổ quốc.

Sau hội nghị trung ương 8, Bác chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ địa Cách mạng, chuẩn bị mở rộng khu giải phóng dọc biên giới, tạo hành lang thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản, nhân dân và quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, làm hậu thuận vững chắc cho cách mạng giải phóng dân tộc và kháng chiến chống Pháp sau này.

Một trong những họa bản của Báo Việt Nam độc lập ngày 25. 3.1945

Nhận thấy cần có công cụ và phương tiện tuyên truyền chủ trương, đường lối và sách lược cách mạng của Mặt trận Việt Minh trước mắt trong khu Cao-Bắc-Lạng mà lực lượng là nhân dân các dân tộc thiểu số, Bác Hồ đã sáng lập ra tờ báo Việt Nam Độc Lập với danh nghĩa ban đầu thuộc tổ chức Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Cách hội nghị trung ương lần thứ 8 không đầy 3 tháng, đúng ngày 1.8.1941, tờ báo Việt Nam Độc Lập được đánh số xuất bản 101 ra mắt bạn đọc. Sau này phong trào cách mạng phát triển, căn cứ địa mở rộng, Báo Việt Nam Độc Lập trở thành cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Liên tỉnh Việt Minh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn. Suốt từ khi thành lập tới lúc chuẩn bị nội dung tuyên truyền chủ trương, chính sách, tổ chức lực lượng chính trị, vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân năm 1945, Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập.

Giống như thời kỳ làm Báo Le Paria (Người Cùng Khổ) ở Paris năm 1922, làm Báo Thanh Niên năm 1925 ở Quảng Châu, Tạp chí Đỏ tại Hương Cảng năm 1930; để ra được Báo Việt Nam Độc Lập năm 1941, ở Pắc Bó, Bác Hồ lại tự mình viết tin, bài, tổ chức trình bày, tạo công cụ in ấn rồi phát hành, cổ động quần chúng đọc báo, làm theo báo và vận động bạn đọc quyên góp tài chính ủng hộ báo.

Vốn có nhiều kinh nghiệm làm báo bí mật ở nước ngoài, trước khi ra Báo Việt Nam Độc Lập, Bác Hồ đã tìm hiểu trình độ văn hóa, trình độ nhận thức của bạn đọc vùng dân tộc thiểu số nhiều năm bị chế độ thực dân Pháp, hệ thống quan lang kìm kẹp, áp bức, thực hiện chính sách ngu dân, chia rẽ dân tộc, lâu nay họ chưa được giác ngộ cách mạng. Nhận thấy mặt bằng dân trí còn thấp, các vùng đồng bào thiểu số có đoàn thể cứu quốc chưa nhiều, địa hình lại chia cắt nên Bác quyết định khổ báo 20cm x 30cm để dễ dàng in ấn, lưu hành, bảo quản, phổ biến. Mỗi số chỉ in hai trang, mỗi trang đăng từ hai đến ba tin bài, bài dài nhất không quá ba trăm chữ. Bài, tin phải gọn, thông tin những vấn đề cần thiết mà người dân quan tâm, cách viết giản dị, súc tích, gần gũi với ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Bác Hồ phải viết thế nào để cho người không được học nhiều và cả người không biết chữ khi được nghe cũng hiểu, hiểu rồi là dễ làm theo. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi tham gia viết bài cho Báo Việt Nam Độc Lập cũng đã có lần được Bác Hồ chỉ bảo cách viết một bài báo sao cho chính người cần vụ của mình đọc cũng hiểu.

Để có khuôn in Báo Việt Nam Độc Lập, Bác phải cùng các cán bộ địa phương lặn lội tìm kiếm trong rừng những phiến đá mềm, thớ đá mịn rồi đem về mài nhiều ngày đến lúc mặt đá phẳng lỳ, sờ tay vào cảm thấy mát lạnh thế là tạo được một khuôn in báo. Nếu in một lúc nhiều trang báo thì phải cần thêm số khuôn tương ứng số trang báo. Sau này, trong điều kiện kháng chiến chống Pháp khó khăn, nhiều địa phương, cơ quan in báo, in khẩu hiệu, truyền đơn, công văn đã học theo cách in Báo Việt Nam Độc lập, lâu dần người ta gọi là cách in ly tô. Khởi đầu cách in là họa sĩ trình bày ma két báo lên mặt đá. Bài, tin trang nào được trình bày gọn trang ấy, không chuyển tiếp trang sau. Họa sĩ thể hiện ma két theo nguyên tắc sao nguyên văn nội dung in, bài, tranh vẽ đã được duyệt vào từng cột, từng dòng. Tùy mức độ quan trọng khác nhau của tin, bài mà dùng ngòi bút sắt, mực keo viết chữ to, nhỏ, đậm, nhạt lên mặt đá. Lúc in báo hoặc tài liệu, giấy được đặt lên khuôn, người thợ dùng ru lô đã tẩm mực đẩy đi, đẩy lại nhiều lần sao cho chữ nổi lên đều trên mặt giấy là đạt yêu cầu. Vì phải in hai mặt nên trang một xong theo số bản quy định phải chờ mực khô mới in tiếp trang hai. Cách in thủ công này đòi hỏi tính kiên trì, nhẫn nại của người thợ, bởi mỗi lượt in, mặt chữ mòn dần, cạn nét, nếu muốn chữ rõ hơn, không còn cách nào khác là rửa khuôn liên tục, dùng bút sắt khơi sâu từng nét chữ trên mặt đá. Để ra được nội dung số báo sau, phiến đá khuôn in phải mài phẳng, xóa đi những dòng chữ đã khắc được viết tỉ mỉ, công phu từ số báo trước.

nguoi thap lua dau nguon cach mangBáo Việt Nam Độc Lập số ra ngày 1.1.1942

Trong hoàn cảnh “cháo bẹ, rau măng”, ăn ngủ làm việc trong hang đá thiếu thốn trăm bề lại phải thường xuyên di chuyển tránh sự theo dõi, truy tìm của bọn quan lang, tay sai, mật thám Pháp, Bác Hồ và những cán bộ giúp việc vẫn bảo đảm mỗi tháng ra ba kỳ báo, mỗi kỳ hai trang báo. Từ tháng 8.1941 đến khi Bác đi Trung Quốc (tháng 8.1942), Bác trực tiếp tổ chức xuất bản tại Khuổi Nậm, Pắc Bó được trên 30 kỳ Báo Việt Nam Độc Lập với 400 bản in từ khuôn đá. Tờ báo ra đời đầu nguồn Khuổi Nậm đã phản ánh rất phong phú, cụ thể phong trào cách mạng còn trứng nước ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, góp phần khơi dậy, thổi bùng ngọn lửa cách mạng vốn âm ỉ cháy suốt mấy chục năm ở Việt Bắc. Dưới sự chỉ đạo và trực tiếp viết bài, tổ chức phát hành của Bác Hồ, tờ báo đã thông tin thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Đội cứu quốc quân, nêu gương đồng bào các dân tộc Việt Bắc ủng hộ cách mạng, cách tổ chức đoàn thể Việt Minh, bài học tăng gia sản xuất, xóa mù chữ, cách xây dựng khu căn cứ, chiến khu, cách vận động binh lính người dân tộc mang súng trở về với nhân dân, với cách mạng. Những bài thơ và diễn ca nổi tiếng của Bác dưới chuyên mục Vườn văn, Hòn đá to, hòn đá nặng, Khuyên bạn thanh niên, Dân cày, Tặng cho đội tự vệ phụ nữ, Con cáo và tổ ong, Ca Việt Minh, Ca tự vệ đội, Ca người lính, Ca du kích, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đều được in trên Báo Việt Nam Độc Lập trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng giành chính quyền về tay nhân dân. Sau ngày Bác Hồ rời Cao Bằng đi Trung Quốc, Báo Việt Nam Độc Lập được giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách, tiếp tục xuất bản cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công với 141 kỳ. Sau ngày giành chính quyền thắng lợi, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Báo Việt Nam Độc Lập được chuyển giao cho Tổng bộ Việt Minh – Cao Bằng – Bắc Cạn – Lạng Sơn chỉ đạo nội dung xuất bản. Tờ báo do Bác Hồ sáng lập từ 1941 đã làm trọn vai trò, chức năng tuyên truyền “kháng chiến kiến quốc” trong suốt những năm cả nước dồn sức người, sức của đánh thắng thực dân Pháp.

VĂN HIỀN

Nguồn: dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Học Bác cách viết báo

Trong thư gửi trí thức Nam Bộ ngày 25.5.1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”.

Học tập theo gương Bác

Tháng 9.1962, tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”; “Làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung, cách viết”; “Viết để làm gì? Viết để cho ai xem? Viết như thế nào?”.

Trong nhiều dịp, Người còn khơi gợi về cách viết, thế nào là viết ngắn, viết dài, viết cho thiết thực để người khác có thể làm theo được.

Học tập cách viết của Bác, có lẽ phải học từ gốc, tức là xây dựng mình thành một “chiến sĩ”, phải hiểu vũ khí, chiến trường, đồng đội và kẻ thù của mình, mới có thể “phò chính, trừ tà”.

Lời – vũ khí của nhà báo

Vũ khí của nhà báo là cây bút, là ngôn ngữ, là Lời.

Cha ông ta nói: Bút sa gà chết, Nói phải củ cải cũng nghe, Lời nói đọi máu, Một lời nên nghĩa. Lại cũng nói: Nén bạc đâm toạc tờ giấy. Trong các thứ vạ, vạ miệng là một thứ ơ hờ nhất mà cũng nặng nề nhất. Trong lịch sử, có những nghi án văn chương dẫn đến tru di ba họ. Ngày xưa, thù nhau người ta vứt vào nhà vài dòng chữ hay một bài thơ có tính chất phạm thượng đối với vua, phỉ báng triều đình thì cũng giống và còn nguy hiểm hơn ngày nay vứt cả bọc ma túy vào nhà…

Bọn tham quan, gian thần thường ton hót để hại chết các trung thần, cất nhắc phường vô lại. Một lời có thể là thang mây, có thể là mồi lửa làm tan tành tất cả… Và thường, người ta chỉ nghe lời để phán xét, quyết định mà không mấy khi kiểm chứng.

Giá trị của lời hệ trọng đến như vậy, nên trước khi học cách viết hay, phải học cách thận trọng, thận trọng từ khai thác nguồn tin, đến thái độ phán quyết. Một lời trót đã nói ra/ Dẫu cho bốn ngựa khó mà đuổi theo. Viết một bài báo sai sự thật, ảnh hưởng sinh mệnh con người, dù sau này có cải chính, vẫn gây ra những hậu quả khôn lường. Nhiều bài báo “phanh phui” kèm bình luận ác ý, đã làm đối tượng hoặc người thân của họ tự vẫn…

Lại có một chiều hướng khác: Đó là sự khen lấy, khen để những người có chức quyền; bất chấp sự rối rắm ở lĩnh vực họ phụ trách, bất chấp bất bình chính đáng của nhân dân. Thực tế cho thấy, báo chí đồng loạt khen một số người như thánh, chỉ một thời gian ngắn đã thấy họ là những kẻ tầm thường. Những nhà báo, những tờ báo như vậy, có thể được xem xét về đạo đức, lương tâm, chí ít cũng là trình độ nghề nghiệp.

Trong một bài ca vận động binh lính ngụy về theo nhân dân của Bác Hồ có câu: Hai tay cầm khẩu súng dài, Ngắm đi ngắm lại bắn ai thế này?

Nhà báo thời nay cầm vũ khí sắc bén của mình, nên hướng vào đâu để thực hiện được sự phò chính trừ tà? Đương nhiên, phải biết cái chính, cái tà là gì.

Chữ Tâm hay là vị thế của nhà báo

Chính – tà trước hết soi từ mình.

Trước hết phải thấy mình là ai, mình ham muốn gì. Nhân nói về ham muốn, tôi nhớ tới cách dùng từ của Bác. Khi nói đến điều lớn lao nhất, Bác cũng dùng từ “ham muốn”, “cần” chứ không dùng từ “lý tưởng”. Dùng từ ham muốn, cần, nó gần gũi, dễ tin, thể hiện chi phối cuộc sống hàng ngày.

Bác Hồ khi còn thanh niên ở Paris, đã trả lời sự mua chuộc của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Năm 1946, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo, Bác khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào… Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Có lẽ học tập tư tưởng, đạo đức và cách trở thành người chiến sĩ trên mặt trận báo chí, gốc là ở đây. Phải có tấm lòng và ham muốn vì dân vì nước; chứ không vì một chức danh, một sự nổi tiếng, hay vì bổng lộc nào đó mà cầm bút xông xáo phò tà.

Cách đây nửa thế kỷ, nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn…

Hạnh phúc của người trí thức, của một nhà báo chân chính, không thể chỉ đựng trong một tà áo đẹp, một mái nhà bình lặng và sung túc của riêng mình!

Học và làm theo những điều Bác dạy về báo chí, không học cắt khúc, máy móc

Văn Bác Hồ rất phong phú, đạt đến trình độ cao của nghệ thuật, giản dị tột cùng và sâu sắc tột cùng. Rất nhiều tác phẩm giàu hình ảnh. Chẳng hạn một đoạn trong Lời than vãn của bà Trưng Trắc: “Đêm tối quằn quại dưới làn mưa nhỏ hạt dầm dề. Mảnh trăng vàng vọt cố bíu trên những mái lều tranh. Cây đẫm ướt đầm đìa nước mắt tuôn rơi… Gió thổi qua những cụm lá mệt mỏi, va nhau thành tiếng kinh rợn. Cành cây vặn vẹo như những cánh tay ma quái, và những đám nước bị từng cơn gió đột ngột quất, cứ nức nở. Cảnh vật nước Nam lồng trong cây cỏ um tùm, vốn tươi vui và thơ mộng thế dưới ánh trăng, nay buồn thảm lạ lùng. Cơn hấp hối đang chơi vơi khắp nơi. Tai ương lảng vảng đâu đây…”.

Bác thường khuyên chúng ta học tập tinh hoa, lời ăn tiếng nói của nhân dân. Ngày 17.8.1952, Bác khuyên: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều”. Thời đó, trình độ văn hóa của công-nông-binh còn hạn chế, nên lời khuyên ấy là thiết thực. Ngày nay, tiếp thu tinh thần của Bác, cần viết rõ ràng nhưng không phải là đơn giản, và phải viết đúng trình độ của người xem. Mà viết đúng trình độ người xem bây giờ là một đòi hỏi rất cao, vì trình độ người xem, đôi khi, lại còn cao hơn trình độ người làm báo.

Viết, nói cho gọn, rõ, có tính thuyết phục là phải sâu sắc.

Tôi nhớ hồi làm phóng viên thường trú ở Nghệ Tĩnh, có gặp một đồng chí lão thành cách mạng, người trực tiếp đi kêu oan với Bác Hồ về cải cách ruộng đất. Đoàn Nghệ An sùng sục lắm, chắc mẩm chuyến này phải làm cho ra nhẽ, phải đòi Bác “truất” cho được mấy anh quy kết, xử tù, xử bắn bừa bãi. Nộ khí xung thiên. Bác bắt chờ hai ngày ở nhà khách Nguyễn Du. Càng ức. Đến buổi sáng hẹn gặp, Bác chủ tâm đến trễ vài phút. Khi Bác xuất hiện, anh nào cũng nhấp nhổm muốn tố ngay. Bác từ tốn rót nước chè xanh xứ Nghệ mời các đồng chí đó uống. Làm như tình cờ, Bác khẽ chạm tay làm đổ một cốc nước chè xanh. Cái sự kiện đột ngột ấy khiến ai cũng tập trung chú ý, ai cũng lo nước đổ ướt quần áo của Bác, ai cũng nhớn nhác tìm khăn lau bàn. Bác xua tay nói: “Bác làm đổ thì Bác phải lau. Cốc nước đổ rồi không thể lấy lại, Bác rót cốc mới…”. Cứ thế, Bác chủ động vào chuyện. Từ chuyện cốc nước sang chuyện đời… Mọi ấm ức được giải tỏa nhẹ nhàng. Các đồng chí đó có thêm bài học sâu sắc, nhớ đời để ứng xử trong cuộc sống.

Để khẳng định dân là gốc, nhân dân là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng, sáng tạo ra mọi giá trị của lịch sử, Bác nói rất đơn giản:

Gốc có vững, dân mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân

Tư tưởng ấy xuất phát từ tư tưởng nhà nho mà Mạnh Tử đã viết: “Dân vi bản, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.

Gốc có vững, cây mới bền cũng là câu mở đầu trong tất cả các gia phả của dòng họ Việt Nam (Mộc hữu bản, thủy hữu nguyên…), bởi thế, nhân dân ta tiếp thu rất nhanh, nghe rất dễ, làm rất thoải mái tự nhiên.

Đặc biệt, có thể học Bác nhiều ở cách lập luận, ở cách nói khẳng định một cách rõ ràng, không mập mờ, ví như: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta nhất định thắng lợi hoàn toàn”; “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Có một ví dụ tiêu biểu về vấn đề này.

Đó là Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hộ họa năm 1951. Bác viết: “Chắc có người nghĩ Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị. Đúng lắm, văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Mềm mại mà không bỏ lập trường, không bỏ nguyên tắc, chính là con người và cách viết của Bác.

Ngày 9.5.1965, Bác viết bài Hai ngày kỷ niệm vẻ vang đăng trên Báo Nhân Dân, Bác vào thẳng vấn đề luôn: “Mồng 7 tháng 5, kỷ niệm đại thắng Điện Biên Phủ của nhân dân ta, mùng 9 tháng 5, kỷ niệm đại thắng của Liên Xô”. Thế mà cho đến nay nhiều báo vẫn viết: “Hòa trong không khí…” là rất sáo.

Bác còn bày cho ta một “mẹo” để làm báo cho hẳn hoi: “Báo chí cũng phải hợp lý hóa. Đừng bày biện ra nhiều thứ. Làm ít nhưng làm cho hẳn hoi. Không hợp lý hóa lại như thế, rút cuộc báo viết ra không ai muốn đọc mà lại tốn kém trăm thứ” (tháng 5.1950).

Học tập Bác, còn là học tập cách giữ gìn trong sáng tiếng Việt. Điều này nhiều người nói, nhưng chưa hẳn đã biết cách làm. Thí dụ, báo tiếng Việt nhưng lại dùng quá nhiều từ nước ngoài, hoặc có xu thế ngược lại là không dám dùng từ nước ngoài nào, cứ phiên âm tất tật thành tiếng Việt dẫn đến sai lệch và rất khó tra cứu nguồn gốc. Nhân dân ta dùng tiếng ta và từ Việt gốc Hán thoải mái như hàng nghìn, hàng vạn, hàng ngày, hàng tháng trong khi có báo tránh từ Hán – Việt, không dùng từ “vạn” mà dùng “mười nghìn” đến nỗi có anh thư ký tòa soạn nhất nhất phải sửa “Cần cẩu vạn năng” thành “Cần cẩu 10 nghìn năng” và cứ dùng “hằng ngày”, “hằng tháng” rất khó đọc, chẳng chính xác gì hơn “hàng ngày”, “hàng tháng”…

Đây lại là cả một “rừng” chuyện cần nói, chắc mỗi nhà báo chúng ta có thể đóng góp nhiều cho tạp chí nghề của Hội…

Nguyễn Hoàng Nhật

Nguồn: nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Phong cách làm báo Hồ Chí Minh: Chân thực, ngắn gọn, giản dị, dễ hiểu

Kể từ bài báo đầu tiên “Yêu sách của nhân dân An Nam” ký tên Nguyễn Ái Quốc, đăng trên Báo L’Humanite’ ngày 18.6.1919 đến bài báo cuối cùng “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng” với bút danh T.L đăng trên Báo Nhân Dân ngày 1.6.1969, Bác đã viết khoảng 2.000 bài báo với 56 bút danh trên 50 tờ báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình ở trong và ngoài nước.Trong các bài nói và viết của Bác, chúng ta rất dễ nhận ra những đặc trưng trong phong cách nói và viết của Người, đó là:

– Chân thực: Mỗi bài nói, bài viết của Bác đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những tài liệu đã được xem xét, kiểm tra, chọn lọc. Bao giờ Người cũng đem lại cho người đọc, người nghe những thông tin chính xác, chân thực. Bác thường nhắc nhở “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”, “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”.

phong cach lam bao Ho Chi Minh gian di de hieu
Chủ tịch Hồ Chí Minh

– Ngắn gọn: Các bài nói, bài viết của Bác đều ngắn gọn. Đối với Bác, ngắn gọn có nghĩa là gọn ghẽ, nói đủ những ý cần nói, nói rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn. Ngắn gọn ở Bác là cô đọng, hàm súc, ý nhiều, lời ít, không có lời thừa, chữ thừa. Người thường khuyên cán bộ nói, viết đều phải ngắn gọn, thiết thực, đi thẳng vào vấn đề, tránh nói dài, viết dài, sáo rỗng.

– Trong sáng, giản dị, dễ hiểu: Trong các bài nói, bài viết của mình, Bác Hồ đề cập đến nhiều vấn đề lớn của đất nước, của thời đại, nhưng trong cách nói cách viết, Bác luôn tìm cách diễn đạt các vấn đề này một cách giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Bác là người có tầm suy nghĩ sâu rộng, hiểu biết thấu đáo bản chất của sự vật và các mối quan hệ của chúng. Bác cũng là người hiểu biết nếp suy nghĩ và lời ăn tiếng nói của nhân dân… Chính những điều này gópp hần làm nên sự giản dị, trong sáng, dễ hiểu của văn phong Hồ Chí Minh. Thế giới có câu châm ngôn: “Giản dị là phẩm chất của thiên tài”.

Để viết giản dị, Bác khuyên các nhà báo đừng ham “nói chữ”, kể cả “nói chữ” nước ngoài. Bác khuyên người làm báo: “Khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem, viết để làm gì; viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc. Viết xong thì nhờ anh em – kể cả những người ít chữ – xem và sửa chữa giùm cho” với mục đích là làm cho bài báo của mình trong sáng, giản dị, ai cũng hiểu được và hiểu đúng.

Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19.12.1946, Bác nói dễ hiểu về lý do nhân dân ta phải kháng chiến: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.

Và để mọi người dân hiểu rõ mình phải làm gì để tham gia kháng chiến, Bác nói giản dị: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi người bằng những ngôn từ quen thuộc – dù đó là những vấn đề của cuộc sống chiến đấu, lao động hàng ngày hay những vấn đề lớn của đất nước, của thời đại. Chân thực, ngắn gọn, trong sáng giản dị, dễ hiểu là đặc trưng trong phong cách nói và viết của Bác.

Viết chân thực, giản dị, trong sáng, dễ hiểu là biểu hiện của đạo đức nghề báo. Tại sao lại nói viết chân thực, giản dị, trong sáng, dễ hiểu là biểu hiện của đạo đức nghề báo? Vì những lý do sau đây:

– Nhà báo có trách nhiệm đưa thông tin chính xác, chân thực về các sự kiện, vấn đề nhằm làm cho người đọc báo, người nghe đài hiểu rõ, hiểu đúng về sự việc và từ đó có hành động đúng. Nếu nhà báo đưa tin sai lệch, sẽ làm mọi người hiểu sai, hành động sai và dẫn tới các thiệt hại to lớn về vật chất, tinh thần cho xã hội. Hành nghề trung thực, khách quan, thông tin chính xác, chân thực, không bóp méo hay thổi phồng sự việc… là chuẩn mực về chuyên môn, nhưng đồng thời cũng là chuẩn mực đạo đức của nghề làm báo.

– Viết giản dị dễ hiểu là thể hiện tính khiêm tốn và thái độ tôn trọng người đọc báo, người nghe đài, tôn trọng nhân dân. Tôn trọng đối tượng mình phục vụ – đấy là biểu hiện của đạo đức nghề báo.

Để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhà báo chúng ta phải làm gì? Có những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nào?

– Phải tích cực đi thực tế, sâu sát cơ sở, sâu sát tình hình thực tiễn. Hiện nay, có hiện tượng phóng viên viết bài chỉ dựa vào báo cáo bằng văn bản hoặc lấy thông tin qua điện thoại, không tiếp xúc trực tiếp với hiện trường, với nguồn tin. Điều này đã dẫn đến nhiều sai sót, thông tin bị sai lệch, nói theo một chiều, bài viết không có tài liệu tại thực địa cho nên không sinh động, không hấp dẫn, người đọc người nghe cảm thấy không gần gũi đối với họ.

– Phải tích cực học tập nâng cao kiến thức về nhiều mặt và nâng cao khả năng viết báo. Nếu không đủ kiến thức, sẽ không thể hiểu rõ đề tài, nhà báo chắc chắn không thể suy nghĩ được thấu đáo về đề tài đó và không tìm ra ngôn từ để diễn đạt. Người càng có trình độ hiểu biết và khả năng suy nghĩ thì càng biết nói và viết lưu loát, trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Vì thế, để học theo chuẩn mực này trong phong cách làm báo của Hồ Chí Minh, chúng ta phải thường xuyên học hỏi nâng cao kiến thức về nhiều mặt – bao gồm kiến thức về chính trị, kiến thức văn hóa nói chung, tích lũy vốn sống và rèn luyện kỹ năng nghề báo.

Theo http://nguoilambao.vn

Huyền Trang (st)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thông tin tuyên truyền

Hoạt động trong lĩnh vực thông tin – truyền thông, chúng ta luôn luôn học tập và làm theo Bác về công tác tuyên truyền và thấm nhuần những chỉ dẫn của Người để từ điều kiện thực tế, lựa chọn cách thức tuyên truyền cho phù hợp, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền. Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”.  Trong công tác tuyên truyền phải mang tính đại chúng, tính nghệ thuật, diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, giản dị, dễ hiểu, sử dụng linh hoạt sáng tạo các thành ngữ, dân ca…trong hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phương châm kết hợp giữa lời nói và hành động, lý luận gắn liền với thực tiễn. Người chủ trương nói ít, làm nhiều; chỉ nói khi thật cần thiết, nói đúng để làm đúng.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện nhuần nhuyễn sự kết hợp giữa lời nói và hành động, làm chủ lý luận, thực tiễn hóa lý luận và lý luận hoá thực tiễn.

chu-tich-hcm-thong-tina
Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến công tác
thông tin – tuyên truyền

 Từ những hành động tuyên truyền của Người đã tạo sức cuốn hút, cảm hoá mọi người. Theo Hồ Chí Minh: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ai nghe. Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.” Người còn chỉ ra rằng: “Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải. Mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”. Nói đến lực lượng làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tất cả cán bộ, đảng viên, hễ những người tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói, nhất là học nói cho quần chúng hiểu”, hơn lúc nào hết người làm công tác tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”,

Đối với công tác tuyên truyền trên mặt trận báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của mình. Đó là cách viết. Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì? Viết cho ai? Viết cái gì? Cách viết thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ. Viết phải gọn gàng, vắn tắt, nhưng phải có đầu có đuôi, viết phải thiết thực, chớ ham dùng chữ”. Bác còn căn dặn “để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”. Bác xác định rõ mục đích của báo chí: “Báo chí phải phục vụ ai? Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội…Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”…

Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động, tạo sự đồng thuận và quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.

Đức Lâm
Theo http://daklak.gov.vn

Phương Thúy (st)

Những lần được gặp Bác trong nghề báo của tôi

Tôi nhớ ngày 8/3/1947, khi mới lên Việt Bắc, tôi tham gia làm tờ báo tay đầu tiên của cơ quan phụ nữ.

Sau khi làm tờ báo tay đầu tiên, chúng tôi gửi ngay sang để Bác Hồ xem. Bác khen báo đẹp, chúng tôi thấy tự tin hơn. Sau này, tôi vẫn nhớ lời nhận xét của Bác:

– Báo tay các cô đẹp đấy nhưng nó chỉ như bông hoa. Các cô phải làm sao cho thành bắp ngô, củ sắn.

Thực hiện lời Bác, các chị Ban Phụ vận mở chiến dịch trồng dâu nuôi tằm. Chúng tôi đến một xã nghiên cứu cách chặt hom dâu, cách trồng dâu rồi phổ biến trên tờ tin của Phụ nữ Trung ương.

Sau khi xem tờ báo tay của chúng tôi, Bác nói:

– Phụ nữ nên ra một tạp chí riêng.

Ý Bác rất hợp với nguyện vọng của chúng tôi.

Một buổi tối đầu thu năm 1947. Niềm vui bất ngờ. Dưới ánh đuốc, chúng tôi nhìn thấy Bác Hồ. Bác mặc bộ quần áo nâu, ống quần xắn gọn, đi chân đất bước lên cầu thang. Tất cả reo lên:

– Bác đến! Bác đến!

Trên đường đi họp, Bác ghé thăm cơ quan Hội Phụ nữ. Một điều bất ngờ nữa: Dưới ánh sáng của bếp lửa, Bác rút trong chiếc ủng ra mấy nắm rau xanh:

– Đây là giống cải xoong Bác trồng gần nhà. Các cô nên trồng thứ rau này. Rau dễ trồng, mọc nhanh mà lại bổ máu, rất tốt cho các cô đang nuôi cháu nhỏ.

Ngay ngày hôm sau, chúng tôi đã cấy nắm rau Bác Hồ cho trên đám đất có dòng suối nhỏ chảy qua. Rau lan ra rất nhanh. Lúc cơ quan dời đi, “đôi ủng rau” của Bác đã trở thành một vạt rau lớn để lại cho đồng bào.

Tuy cùng ở chiến khu Việt Bắc nhưng 4 năm sau tôi mới được gặp lại Bác trong Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất. Lúc ấy, tôi đang làm phóng viên báo Quân đội thuộc Cục Tuyên huấn quân đội. Bác đến thăm Đại hội. Bác vẫn gầy nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Trong danh sách Chiến sĩ thi đua có chị Nguyễn Thị Chiên. Chị Chiên rưng rưng nước mắt khi nhận cây súng ngắn Bác trao cho chị làm phần thưởng. Cả Đại hội xúc động nghe anh La Văn Cầu báo cáo đã chặt tay mình đang bị thương để tiếp tục chiến đấu…

Sau hòa bình, tôi chuyển về làm phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam. Ngày 8/3/1961, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 3, tôi lại may mắn được gặp Bác Hồ. Tôi được phân công vào Phủ Chủ tịch chụp ảnh, đưa tin, viết bài về cuộc gặp gỡ giữa Bác Hồ với các đại biểu trong và ngoài nước. Đại biểu tỉnh nào cũng muốn chụp ảnh chung với Bác. Bác ưu tiên cho những đại biểu miền núi và quốc tế. Tôi cuống quýt lấy danh sách đại biểu để trình Bác. Trong lúc vội vàng, tôi viết: “Các đại biểu dân tộc… Cao Bằng”. Bác gọi tôi, cười thân mật:

– Cô phóng viên Nguyệt Tú ra đây. Cháu viết dân tộc Cao Bằng thì Bác biết là dân tộc gì?

Bị Bác hỏi bất ngờ, tôi hoảng quá, mặt nóng ran, vội vàng nhận khuyết điểm. Tôi rất xúc động khi được chụp ảnh Bác đứng với đoàn đại biểu từng tỉnh. Hồi ấy, tôi mới học chụp ảnh. Tôi luống cuống, một tay vẫn cầm bó hoa đại hội tặng, còn một tay bấm máy ảnh lia lịa. Bác cười:

– Hẵng bỏ hoa xuống không thì che mất ống kính.

Nói xong, Bác gọi tất cả phóng viên nhiếp ảnh cùng một số đại biểu quây quần lại bên Bác chụp ảnh.

Riêng tôi vẫn mong được chụp ảnh chân dung Bác. Một mình tôi đứng tần ngần mãi giữa vườn cây. Tiễn đoàn đại biểu cuối cùng, Bác quay gót bước lên mấy bậc tam cấp trước Phủ Chủ tịch. Tôi vội giơ chiếc máy ảnh Pratica lên. Nhưng chưa kịp bấm, Bác đã bước nhanh lên thềm. Nhìn thấy tôi đang loay hoay với chiếc máy ảnh, Bác hiểu ý liền quay lại mỉm cười, kịp trong vài giây cho phóng viên bấm một kiểu ảnh. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác, cũng vừa đến, vui vẻ bảo tôi:

– Thế là Bác ủng hộ phóng viên nữ rồi đấy!

Buổi chiều, Bác Hồ tiếp đoàn phụ nữ Quốc tế. Có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng dự.

Chị Phan Thị An, Trưởng đoàn phụ nữ Việt Nam, giới thiệu:

– Thưa Bác, chị đại biểu phụ nữ Hungary xin tặng Bác một tượng đá phụ nữ Hungari.

Bác cầm tượng đá, nói vui:

– Tượng phụ nữ Hungary đẹp đấy nhưng phụ nữ Hungary đẹp hơn nhiều. Câu nói dí dỏm bất ngờ của Bác làm mọi người càng thấy Bác thật gần gũi, thân mật.

Năm 1962, Bác Hồ sang Mát-xcơ-va dự Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Liên Xô, anh Nguyễn Chí Thanh đi cùng với Bác. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất tôi được ăn cơm với Bác. Anh Nguyễn Chí Thanh, anh Vũ Kỳ và tôi quây quần quanh Bác bên bàn ăn. Bác vừa ăn vừa nói chuyện rất vui.

Trong chiến tranh chống Mỹ, khi đang làm phóng viên Báo Phụ nữ, tôi được tham gia cuộc họp của Bác tiễn Đoàn Văn công quân đội vào Nam. Tuy làm phóng viên nhiều năm và gặp Bác nhiều lần nhưng lần nào Bác cũng làm tôi bất ngờ. Bác cầm chiếc đĩa to đựng những bông hồng nhung đỏ tươi, hương thơm thoang thoảng. Bác tặng mỗi nữ diễn viên một bông hồng. Có cô nhanh nhảu muốn xin Bác hai bông. Bác cười vui:

– Bác chỉ cho mỗi cô một bông thôi.

Các cô diễn viên ai cũng rất bất ngờ, cảm động. Sau này, tôi rất xúc động khi nghe tin trong Đoàn Văn công đi B lần ấy, mấy cô đã hy sinh.

Nhà văn NGUYỆT TÚ
Theo phunuvietnam.com.vn
Phương Thúy (st)

Nhà báo Hồ Chí Minh và câu chuyện “Viết cho ai”

Sau này, khi đã có một sự nghiệp viết, trong đó có một sự nghiệp văn chương lớn; đã là nhà thơ lớn của dân tộc với Nhật ký trong tù; đã là tác giả Tuyên ngôn độc lập bất hủ, Bác vẫn chỉ nhận mình là người viết báo, là nhà báo cách mạng. Một sự nghiệp báo chí – đó quả là dấu ấn đậm nét nhất trong sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Những kinh nghiệm làm báo, viết báo, Bác đã nhiều lần nói với giới nghề nghiệp; và bài học làm báo, viết báo được Bác quan tâm trước hết, đó là bài học: Viết cho ai xem?

Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà báo Wilfred-Burchett

Bài nói đầu tiên của Hồ Chí Minh về câu chuyện này là bài Cách viết, tại Trường Chỉnh Đảng Trung ương, ngày 17.8.1952; rồi được trở lại, lần thứ 2, trong Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam, ngày 18.9.1962.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: mỗi khi viết một bài báo thì tự đặt câu hỏi:

– Viết cho ai xem?

– Viết để làm gì?

– Viết thế nào cho phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”

Điều cần lưu ý, tuy chỉ là bài nói với giới báo chí; nhưng rồi do sự cần thiết, chúng ta chủ trương vận dụng ý kiến của Hồ Chí Minh cho mọi dạng viết, mọi binh chủng chữ nghĩa, trong đó có cả văn chương – học thuật.

Và khi đặt lên vị trí số 1 câu chuyện Viết cho ai xem? chúng ta hiểu đấy là sự đánh dấu bước chuyển quan trọng nhất của nền báo chí cách mạng ở Việt Nam thế kỷ XX. Bởi, mối quan tâm đến công chúng, trước hết là công chúng cần lao, những người dân lam lũ, đói khổ, đó là minh chứng cho một bước ngoặt vĩ đại trên con đường dân chủ hóa đời sống con người. Đặt câu hỏi Viết cho ai xem? là nhằm giải quyết nhu cầu của quần chúng đông đảo; nhằm giác ngộ, tuyên truyền đưa quần chúng vào trường cách mạng, vào một cuộc sống đầy ắp các hoạt động biến cải. Và quần chúng, trong một giai đoạn lịch sử nào đó còn là thất học, hoặc còn đang thanh toán nạn mù chữ; họ liên tục là đội quân hùng hậu, đóng vai trò chủ lực trong các cuộc cách mạng và chiến tranh cách mạng.

Một sự nghiệp làm báo, viết báo, có thể nói là vĩ đại, đối với dân tộc Việt Nam ngay trong bóng đêm của chế độ thuộc địa, bắt đầu từ Le Paria (Người cùng khổ) trên địa bàn Paris, với số đầu, ra ngày 1.4.1923. Đó là chặng đường đầu tiên trên hành trình viết của Nguyễn Ái Quốc, nhằm cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông, trong đó nổi lên hai nhân vật trung tâm là những tên chủ thực dân và những người nô lệ trên khắp thế giới da màu. Cùng với việc làm tờ Le Paria, Nguyễn còn viết cho nhiều tờ báo khác ở Paris như Nhân đạo, Dân chúng, Đời sống thợ thuyền… và hoàn thành tác phẩm lớn, đầu tay, mang tên Bản án chế độ thực dân Pháp – năm 1925. Viết bằng tiếng Pháp, đối tượng đọc chủ yếu của Nguyễn là người của chính quốc và những nơi là thuộc địa của Pháp. Nhưng một đối tượng đọc khác mà Nguyễn không lúc nào không khao khát hướng tới – đó là những người Việt xa xứ trên đất Pháp – vào thời Nguyễn ở Paris, đã lên đến 10 vạn người; cùng với 25 triệu đồng bào quê hương còn đắm chìm trong tối tăm, đói khổ. Và đó là lý do, để, cùng với tờ Le Paria, hai năm sau, Nguyễn còn mong muốn cho ra mắt tờ Việt Nam hồn bằng tiếng Việt: “… Cũng vì nghĩ thế/ Tôi muốn làm ra/ Một báo tiếng ta/ Cho đồng bào đọc”.

Cũng như trước đó, từ năm 1919, sau khi gửi Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam, gồm 8 điểm, bằng tiếng Pháp, dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, đến năm 1922, Nguyễn còn soạn một bản Việt Nam yêu cầu ca bằng tiếng Việt, dài 56 câu, trong thể lục bát và song thất lục bát quen thuộc, để bí mật phân phát trong các giới công nhân và binh sỹ An Nam ở Marseille.

  Bằng nay gặp hội giao hòa
Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình

     …

            Một xin tha kẻ đồng bào
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam
Hai xin pháp luật sửa sang
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng
Ba xin rộng phép học hành
Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương

    (…)

Ý thức về người đọc, luôn luôn là một niềm canh cánh trong sự nghiệp viết của Nguyễn.

Hành trình tìm đường của Nguyễn Ái Quốc là từ Đông sang Tây, từ dân tộc mà ra nhân loại. Nhưng đích đến cuối cùng của Bác là trở về phương Đông, về với dân tộc. Trong sự nghiệp báo chí và văn chương của Bác, cần chú ý khu vực những bài Bác viết bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài. Nhưng cuối cùng, hoặc trên hết, là niềm mong muốn viết bằng tiếng Việt. Có thể nói đó là niềm khao khát lớn của Bác mà bất cứ lúc nào có dịp, có hoàn cảnh, Bác đều nghĩ đến và quyết tâm thực hiện.

Năm 1941, sau khi về nước, ông ké cách mạng – Già Thu, rồi sẽ lấy tên Hồ Chí Minh, đã sáng lập và chủ trì tờ báo Việt Nam độc lập ở căn cứ địa Cao – Bắc – Lạng. Đó là tờ báo có sứ mệnh giáo dục, tuyên truyền quần chúng hướng tới cao trào Tổng khởi nghĩa đang sắp tới gần. Một tờ báo nhằm vào công chúng, đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, thất học, đang khao khát đến với cách mạng – tất nhiên nội dung phải được chuyển tải dưới một hình thức giản dị, phổ cập, dễ hiểu. Và đó là lý do, chỉ trong một thời gian ngắn, Bác đã làm trên ba mươi bài thơ tiếng Việt – những bài với tên gọi rất giản dị như Ca công nhân, Ca dân cày, Ca binh lính, Ca phụ nữ, Ca sợi chỉ… đăng trên Việt Nam độc lập.Những bài như Hòn đá to để nói lên sức mạnh đoàn kết; như Nhóm lửa, để nói phương thức làm cách mạng… trong dạng thức cô đúc và dễ hiểu nhất. Thậm chí đến cả tên báo làViệt Nam độc lập, Bác còn chủ trương rút ngắn, chỉ còn là Việt Lập, để cho quần chúng dễ nhớ, dễ thuộc. Ngay cả tên Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh cũng được Bác cho gọi tắt là Việt Minh.

Điều cần lưu ý: Người viết những bài thơ giản dị như vậy chính là người đã viết các truyện và ký rất sắc sảo, theo phong cách hiện đại bằng tiếng Pháp ở Paris ngót 20 năm về trước; và chỉ vài năm sau, sẽ viết 135 bài thơ bằng chữ Hán với phong cách rất cổ điển và rất hiện đại trong Ngục trung nhật ký.

Như vậy, có thể nói câu chuyện Viết cho ai? là mối quan tâm hàng đầu của nhà cách mạng, nhà báo cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của mình. Và đó là lý do cơ bản tạo nên mối giao cảm lớn, sự đồng tâm nhất trí giữa dân tộc Việt Nam và lãnh tụ kính yêu của mình, trong suốt thế kỷ XX – thế kỷ đứng trước hai yêu cầu lớn: cách mạng hóa và hiện đại hóa mà Nguyễn Ái Quốc là người có vai trò khởi xướng và kết hợp một cách trọn vẹn nhất.

Cùng với câu hỏi Viết cho ai? còn là câu hỏi: Viết để làm gì? và Viết như thế nào? để làm nên một bộ ba quan trọng cho một sự nghiệp viết có độ dài 50 năm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tính từ bản Yêu sách… viết năm 1919 đến Di chúc năm 1969. Một sự nghiệp viết rất linh hoạt, đa dạng, gồm nhiều chủng loại, trong đó có một sự nghiệp báo chí vĩ đại, và một sự nghiệp văn chương với những giá trị vĩnh cửu, để tạo nên nền móng và tinh hoa cho nền văn hóa mới Việt Nam thế kỷ XX.

Gs Phong Lê

Theo daibieunhandan.vn
Vkyno (st)