Thư viện

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 14)

Vị Tổng thống 3 ngày và những quyết định khó hiểu

Vài chục phút trước khi hai viện Quốc hội Chính quyền Sài Gòn bỏ phiếu bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống thay Trần Văn Hương, Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon tự mình thực hiện nỗ lực cuối cùng mặc dù tuyệt vọng về một giải pháp thương lượng hòa bình.

Tướng Dương Văn Minh

Merillon đã bí mật tới Trại Davis ở trong phi trườngTân Sơn Nhất để trực tiếp tham khảo ý kiến các đại diện Cộng sản trong phái đoàn quân sự hỗn hợp.

Thật ngạc nhiên, các quan chức đại diện quân sự Bắc Việt và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chỉ nhắc lại lập trường cứng rắn mà Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát trước đó. Trong khi nói hòa bình chỉ trở lại khi có sự rút hoàn toàn quân đội Mỹ, các quan chức này không hề cam kết sẽ thương lượng với Dương Văn Minh. Thế là hy vọng cuối cùng của Đại sứ Merillon tan thành mây khói.

Trong khi đó, một nguồn tin Hungaria tại phái đoàn Uỷ ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát (ICCS) nói với chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar rằng đã hết thời hạn cho mọi khả năng thương lượng. Polgar thực sự bị sốc và không thể tin ở tai mình nữa.

Tại sao thời hạn lại hết đúng vào thời điểm Dương Văn Minh được bầu làm Tổng thống thay Trần Văn Hương? Phải chăng phía Chính quyền Sài Gòn chưa làm hết sức mình để phía cộng sản tin rằng mọi đòi hỏi của họ sẽ được đáp ứng? Liệu đây có phải là quan điểm thực sự của Hà Nội hay không?

Tại Washington, mặc dù các cơ quan tình báo Mỹ chưa nắm bắt được đầy đủ tình hình trên chiến trường Việt Nam nhưng Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger vẫn gửi cho Đại sứ Mỹ Martin một bức điện yêu cầu chuẩn bị cho việc di tản lớn.

Tối ngày 27/4/1975, Dương Văn Minh chủ động đề nghị và được ĐSQ Mỹ chấp thuận có cuộc gặp khẩn cấp với Đại sứ Graham Martin. Tham tán Chính trị ĐSQ Mỹ Joe Bennett dàn xếp cuộc gặp này tại nhà riêng của Dương Văn Minh. Khi Đại sứ Martin vừa tới nơi, Dương Văn Minh đã nói thẳng với Martin rằng vì mục đích lấy lòng cộng sản, Minh muốn toàn bộ nhân viên Mỹ làm việc trong Phòng Tuỳ viên Quân sự ĐSQ Mỹ (DAO) phải rời khỏi Sài Gòn vào thời điểm Dương Văn Minh nhậm chức ngày 28/4/1975.

Quyết định khó hiểu này của Minh khiến Martin kịch liệt phản đối. Khi đó Martin đã nói với Minh rằng chính bản thân Martin đã thông qua Đại tá Summers và phái bộ Mỹ tại ủy ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát thông báo với Hà Nội rằng DAO sẽ chính thức đóng cửa vào ngày 30/4/1975.

Theo cảm nhận của Martin thì phía Hà Nội cũng đồng ý điều này, Do vậy không cần thiết phải đóng cửa DAO sớm hơn. Nghe Đại sứ Martin nói vậy, Dương Văn Minh cuối cùng cũng đồng ý lùi thời hạn thêm 24 tiếng đồng hồ nữa để DAO bắt đầu rút các nhân viên Mỹ. Điều này phải được hoàn tất vào ngày 30/4.

Sau này, Dương Văn Minh thừa nhận là sự nhượng bộ để cho DAO lùi thời gian rút các nhân viên quân sự Mỹ là một sai lầm chính trị nghiêm trọng nhất trong cuộc đời ông. Vì nếu ngay sau đó, cộng sản quyết định kết thúc sớm chiến dịch và đòi toàn bộ cố vấn quân sự Mỹ phải lập tức rút khỏi Sài Gòn thì sự chậm trễ ra đi của DAO chỉ tổ chuốc lấy tai họa.

Trong khi Ngoại trưởng Kissinger và Dương Văn Minh còn chưa thống nhất được quan điểm với Đại sứ Martin về việc di tản, CIA đã quyết định thực hiện vận chuyển ra nước ngoài những nhân vật chủ chốt. Tại Washington, CIA còn liên hệ với Bộ Quốc phòng Mỹ để xin dành riêng một chiếc máy bay cho CIA Sài Gòn sử dụng.

Tối ngày 27/4/1975, chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar và các cộng sự của ông đã tổ chức một chuyến bay hoàn toàn bí mật sang Philippines. Trong số những người rời Sài Gòn trong chuyến bay này có cả một số nhân vật cộm cán trong Chính quyền Sài Gòn như cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, tướng Nguyễn Khắc Bình, em họ cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là Hoàng Đức Nhã…

Vào lúc đêm khuya cùng ngày, sĩ quan cao cấp CIA Frank Snepp nhận được điện thoại của sĩ quan trực ban yêu cầu đến ĐSQ Mỹ gấp để xử lý tin mới nhất về lập trường của Hà Nội công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam.

Nội dung bản tin này có thể đoán được là rất gay gắt, nói rằng sự cải tổ Chính quyền Sài Gòn bằng việc Tổng thống Trần Văn Hương bị phế truất, Dương Văn Minh lên thay thế là một âm mưu rất thâm độc. Việc thay thế đó chẳng qua là chỉ nhằm mục đích thay Thiệu và Hương bằng tay sai của chúng nhằm cứu vãn Chính quyền Sài Gòn.

Thế là đã rõ. Nếu chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar còn cần bằng chứng để chứng minh mọi cơ hội thương lượng đã hết và Dương Văn Minh cũng không được Hà Nội chấp nhận thì bản tin này chính là điều mà Polgar cần. Frank Snepp liền nhấc máy điện thoại cho Polgar về bản tin của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, từ đầu dây bên kia Polgar gầm lên rồi cúp máy.

Trong khi đó, tại tư dinh của mình ở số 100 đường Hồng Thập Tự, Dương Văn Minh vẫn đang “đánh vật” với việc lựa chọn các ứng cử viên vào nội các mới. Tình hình Sài Gòn khi đó căng như mặt trống. Các lực lượng cộng sản đang tiến vào thành phố từ nhiều hướng.

Phát ngôn viên báo chí của Dương Văn Minh thúc giục ông ta hãy dừng việc thành lập nội các rồi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Nhưng tướng Minh không đồng ý đầu hàng trong hoàn cảnh đó. Bản thân Minh vẫn còn cảm thấy quân đội chính quyền Sài Gòn còn có thể là thứ để mặc cả cho một giải pháp chính trị.

Minh ra lệnh cho Phó Tổng thống mới được bổ nhiệm Nguyễn Văn Huyền công bố kết quả cuộc gặp bí mật tối qua với Đại sứ Mỹ. Khoảng giữa trưa Huyền công bố rằng chính phủ mới của Dương Văn Minh sẽ “không phản đối” nếu các cố vấn quân sự Mỹ rút khỏi Việt Nam trong 24 giờ tới.

Suốt buổi sáng 28/4/1975, Dương Văn Minh vùi đầu vào việc nâng lên, đặt xuống các nhân vật thất sủng trên sân khấu chính trị Sài Gòn để tìm người vào nội các mới. Các ứng cử viên lũ lượt đến nhà riêng của Dương Văn Minh để xin một chân trong chính phủ. Minh chỉ bắt tay họ lạnh lùng, gật đầu mà không cam kết gì rồi mời họ vào vườn phong lan sau nhà chờ.

Đối với Minh, tất cả những ứng viên này đều không đạt yêu cầu. Người thì quá diều hâu, kẻ lại quá hèn nhát. Cuối cùng Dương Văn Minh lại đưa ra quyết định khó hiểu rằng ông sẽ tuyên thệ nhậm chức chỉ với một chính phủ 3 người gồm Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền. Liền đó, Minh tạm hoãn việc bổ nhiệm các bộ trưởng.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 13)

Trần Văn Hương xin làm Tổng thống thêm nửa ngày

Người Mỹ và các quan chức Chính quyền Sài Gòn di tản từ sân bay Tân Sơn Nhất

Ngày 26/4/1975, dòng người di tản từ Biên Hòa chạy về hướng Sài Gòn đã đông kín xa lộ 4 làn đường. Xa lộ này từng là niềm tự hào của các kỹ sư Mỹ nay trở thành một dòng chảy xe cộ nối đuôi nhau san sát.

Các lực lượng an ninh Chính quyền Sài Gòn cố gắng lập nhiều trạm kiểm soát cách nhau khoảng 3 km nhằm ngăn chặn các lực lượng đối phương trà trộn để thâm nhập vào Sài Gòn. Nhưng chẳng bao lâu toàn bộ những trạm kiểm soát đó bị dẹp hết sang lề đường. Cùng ngày, các tướng lĩnh trong đó có Cao Văn Viên và Trần Văn Đôn đã đến Dinh Tổng thống và dành trọn buổi sáng để thuyết phục Trần Văn Hương từ chức.

Cuối cùng khoảng đến gần trưa, Hương mới đồng ý sẽ từ chức một cách miễn cưỡng. Hương đặt điều kiện là sự từ chức phải theo qui định của Hiến pháp. Trần Văn Hương nói chẳng có cơ sở và điều kiện nào để ông ta chuyển giao quyền lực thẳng cho Dương Văn Minh. Theo Hương, Quốc hội Chính quyền Sài Gòn phải hợp pháp hóa điều đó bằng cách tổ chức một cuộc bỏ phiếu chính thức để bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống. Sau đó, Trần Văn Hương viết một lá thư gửi Quốc hội giải thích quan điểm của mình. Trong lá thư này, Hương viết: “Nếu các vị không thể quyết định thay tôi bằng tướng Minh, và nếu chúng ta không thể thương lượng thành công thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu và chúng ta sẽ vẫn còn phải đấu tranh vì danh dự quốc gia”.

Đại sứ Mỹ Graham Martin cũng tin rằng Hà Nội có thể chấp nhận một giải pháp hòa bình dễ dàng. Trong khi đó, thật trớ trêu, lời bình luận tiêu cực về tuyên bố mới nhất của Hà Nội tại Sài Gòn lại xuất phát từ Đại sứ Quán Pháp. Tham tán ĐSQ Pháp Pierre Brochand trong một cuộc nói chuyện với chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar chiều 26/4 nói rằng ông ta đã nhanh chóng mất niềm tin ở các triển vọng hòa bình và còn sợ rằng thậm chí cả cơ hội thương lượng đầu hàng cũng đã mất do sự chần chừ của các nhà chính trị Sài Gòn.

Trong khi các quan sát viên ở Sài Gòn và Washington tranh cãi nhau về ý định thực sự của Hà Nội thì quân đội Bắc Việt đã rầm rộ tiến quân trên con đường đầy bụi ở phía bắc quân khu 3. Rạng sáng ngày 26/4, quân đội Bắc Việt đã từ Lộc Ninh tiến về phía Nam chiếm trại biệt kích quân đội Sài Gòn ở Bến Cát, cách Sài Gòn khoảng 40 km về phía Bắc. Chính từ một căn lều mái lá ở đây, tướng Văn Tiến Dũng đã cùng với các cộng sự của ông chỉ huy phối hợp giai đoạn cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trận tổng tiến công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt đã bắt đầu rồi mà các nhà chính trị Sài Gòn vẫn còn bế tắc trong các cuộc tranh cãi. Đến cuối ngày 26/4 các phe phái trong Quốc hội Chính quyền Sài Gòn vẫn còn tranh cãi chưa ngã ngũ về vấn đề liệu có thể và bằng cách nào để cải tổ chính phủ cho phù hợp và có thể thương lượng được với Hà Nội. Các nghị sĩ thuộc phe Nguyễn Văn Thiệu thì cương quyết chống lại việc Dương Văn Minh ứng cử tổng thống vì sợ tướng Minh khi đã có quyền trong tay thì họ sẽ bị trả thù.

Các nghị sĩ thuộc cánh hữu thì muốn bầu Nguyễn Cao Kỳ làm Tổng thống thay cho Trần Văn Hương. Cuối cùng, sự bế tắc tuyệt vọng trong Quốc hội đã khiến cả Hạ và Thượng viện Sài Gòn nhất trí trả vấn đề này lại cho Tổng thống Trần Văn Hương. Quốc hội đã thông qua với 100% phiếu thuận một nghị quyết chung cho phép Hương tiến hành bất cứ hành động nào mà ông ta thấy cần thiết để đối phó với cuộc khủng hoảng. Nghị quyết này không nêu rõ việc thay đổi Tổng thống mà Trần Văn Hương đề nghị trước đây.

Trong lúc mọi việc đang rối bời, Trần Văn Hương lại gây chuyện. Hương thông báo cho Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm rằng trong khi Hương sẵn sàng bổ nhiệm Dương Văn Minh là người kế nhiệm, nhưng quyết định trình điều này ra phiên toàn thể của Quốc hội để thông qua. Như vậy nếu có sai sót gì thì không phải là một mình Hương chịu trách nhiệm. Ngay sau đó, Trần Văn Lắm triệu tập 134 nghị sĩ tới một phiên họp bất thường. Để đảm bảo chắc chắn rằng Quốc hội sẽ thông qua nghị quyết cho phép hành động nhanh, Lắm mời các tướng Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn, và Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo tới thông báo tình hình.

Tuy nhiên, lại một lần nữa, sự ghen ghét, đố kỵ chính trị trong các nghị sĩ đã không cho phép Thượng viện thông qua nghị quyết nào. Các cuộc tranh cãi không phân thắng bại kéo dài đến hết buổi chiều. Mỗi lần Thượng viện giải lao, Trần Văn Lắm lại sai người của mình đi gặp Dương Văn Minh để hỏi ý kiến. Minh và những người ủng hộ ông ta thống nhất quan điểm rằng nếu Quốc hội không nhanh chóng đạt được sự đồng thuận, Tổng thống Trần Văn Hương sẽ phải bị lật đổ bằng vũ lực.

Sau nhiều giờ tranh cãi, cuối cùng Quốc hội Chính quyền Sài Gòn cũng đi tới một quyết định. Với 1/ 3 số nghị sĩ vắng mặt, cả Thượng và Hạ viện đã bỏ phiếu hoàn toàn nhất trí thông qua nghị quyết trao toàn quyền cho Dương Văn Minh làm Tổng thống theo khuyến nghị của Trần Văn Hương. Lễ tuyên thệ nhậm chức của Dương Văn Minh sẽ được tổ chức ngay ngày hôm sau. Trần Văn Hương lên diễn đàn tha thiết xin Quốc hội cho phép không tổ chức lễ nhậm chức của Tổng thống mới Dương Văn Minh vào buổi sáng hôm sau mà rời sang buổi chiều. Hương giải thích rằng ông ta muốn kéo dài thêm nửa ngày làm Tổng thống để ông có thể nói với gia đình và bè bạn rằng Trần Văn Hương đã từng làm Tổng thống Chính quyền Sài Gòn được đúng một tuần.

Sau kỳ họp bất thường của Quốc hội Chính quyền Sài Gòn, Dương Văn Minh liền bắt tay vào việc phỏng vấn các ứng cử viên vào các ghế trong nội các mới. Đây là công việc đầy khó khăn vì hầu hết các nhà chính trị ở Sài Gòn lúc đó đều ít nhiều dính líu đến phe cánh Nguyễn Văn Thiệu. Chỉ có mỗi trường hợp ứng cử viên Vũ Văn Mẫu là Dương Văn Minh quyết định chọn ngay vào chức Thủ tướng. Biết mình không còn cơ hội nào để lên chức Tổng thống nữa, tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ liền chuyển sang ủng hộ hoàn toàn Dương Văn Minh. Ngoài ra, Kỳ còn ra lệnh cho những người dưới quyền ông ta làm theo như vậy.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 12)

Cuộc ra đi trong nước mắt của kẻ thất sủng Nguyễn Văn Thiệu

Nguyễn Văn Thiệu (phải) tại Mỹ năm 1997

Khoảng 5 giờ chiều ngày 25/4/1975, chỉ huy trưởng CIA tại Sài Gòn Thomas Polgar cho gọi các sĩ quan cao cấp CIA gồm Joe Kingsley, tướng Charles Timmes, Frank Snepp,… tới văn phòng của ông có việc đột xuất.

Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, Polgar hỏi một câu rất lạ: “Trong số các bạn ở đây có ai thuộc đường phố Sài Gòn để có thể lái xe ban đêm không?”.

Tất cả mọi người đều đáp lại bằng một cái gật đầu. Frank Snepp tuy cũng gật đầu nhưng thực ra là không mấy tự tin vì thành phố này có nhiều lối rẽ, đường cắt, đặc biệt là dễ nhầm tại các giao lộ xoay vòng tròn kiểu Pháp. Polgar nhìn khắp lượt rồi buông một câu cụt lủn: “Tốt”. Sau đó, Polgar giải thích là muốn nhờ một vài người giúp lái xe chở cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tối hôm đó ra phi trường để đi Đài Loan.

Chính Polgar cũng mới chỉ biết công việc đặc biệt này trước đó vài giờ. Kế hoạch đưa Thiệu di tản ra nước ngoài đã được vạch sẵn. Lúc đầu Đại sứ Graham Martin định gói việc này hoàn toàn bí mật trong lĩnh vực quân sự nên đã yêu cầu đặc biệt Phòng Tuỳ viên Quân sự Mỹ (DAO) thực hiện mọi dàn xếp cần thiết. Trong kế hoạch của DAO có cả việc thực hiện một chuyến bay của hãng hàng không Air American cất cánh bí mật từ phi trường Tân Sơn Nhất để chở Nguyễn Văn Thiệu đi.

Nhưng sau đó vì cảm tình với Polgar ở một việc khác nên tiện thể Martin giao việc này cho CIA thực hiện. Polgar đã chọn 4 người để lái xe đưa Thiệu và Khiêm ra phi trường gồm tướng Charles Timmes, Frank Snepp và hai người nữa. Khoảng 8:30 tối 25/4, bốn sĩ quan cao cấp CIA vào ga-ra chọn 3 chiếc xe hơi. Những người “lái xe cao cấp” này cho xe thẳng tiến tới tổng hành dinh quân đội Sài Gòn ở gần phi trường Tân Sơn Nhất.

Trong khu vực này có nhà riêng của cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Các “lái xe cao cấp” đều mang theo súng ngắn giấu dưới ghế. Họ nhắc nhau phải đề phòng cẩn thận khả năng có thể diễn lại kịch bản vụ ám sát từng xảy ra với Tổng thống Ngô Đình Diệm trước đó.

Khi ngồi trên xe, Frank Snepp và Joe tưởng tượng ra diễn biến của một vụ ám sát có thể đến với họ: các sĩ quan trẻ tuổi quân đội Sài Gòn bỗng chặn đoàn xe của CIA lại tại trạm kiểm soát, ra lệnh cho mọi người rời khỏi xe rồi xả súng bắn chết hết. Frank Snepp nghĩ nếu tình huống đó xảy ra, những người “lái xe cao cấp” thế nào cũng khiến vài đối thủ chết theo. Các sĩ quan CIA trên đường đi làm nhiệm vụ mà trong đầu cứ miên man tưởng tượng ra những tình huống đầy kịch tính…

Khoảng hơn 9 giờ tối, Polgar cũng tới nhà riêng Trần Thiện Khiêm bằng xe riêng có người lái. Trong khi Polgar và Timmes giải khát trong nhà, những “lái xe” đứng ngoài chờ. Đúng lúc đó, một chiếc xe Mercedes màu xám nhẹ nhàng lướt vào lối đi rồi dừng lại. Một người đàn ông tầm thước, mặc complet màu xám, mặt bóng nhẫy, tóc hoa râm chải vắt về phía sau từ trong xe bước ra.

Các “lái xe” nhận ra người đàn ông đó chính là Nguyễn Văn Thiệu. Trong ánh sáng lờ mờ, nhìn Thiệu giống như một người mẫu trang bìa trong phiên bản Viễn Đông của tạp chí “Gentleman’s Quarterly” (tạp chí ra hàng quí dành cho quí ông) hơn là một cựu tổng thống. Bước ra khỏi xe, Thiệu không hề quay cổ nhìn đám “lái xe”,bước vội tới cửa trước.

Một lúc sau, có mấy người lạ tới mang theo lỉnh kỉnh những đồ đạc và cả những chiếc va-li to tướng. Những người này bảo các “lái xe” mở cốp để họ tự xếp đồ vào. Ngay sau đó, Thiệu, Khiêm, Polgar, Timmes cùng vài người Việt Nam từ trong phòng bước ra rồi nhanh chóng tản về hướng các xe đang chờ sẵn rồi biến mất vào trong xe. Nguyễn Văn Thiệu ngồi xe do sĩ quan cao cấp CIA Frank Snepp lái.

Trong hàng ghế sau, Thiệu ngồi kẹp giữa tướng Timmes và một người nữa. Timmes bảo Thiệu ngồi thấp đầu xuống để bên ngoài không nhận ra. Không khí căng thẳng. Chặng đường đi chỉ mất khoảng 10 phút mà sao ai cũng cảm thấy dài như hàng giờ đồng hồ. Timmes chủ động nói chuyện để phá vỡ sự im lặng, chủ yếu đề cập đến quá khứ thành công của Thiệu.

Timmes giới thiệu Frank Snepp là một nhà phân tích tình báo xuất sắc của Đại sứ Quán Mỹ với Thiệu, nói rằng vì thế mà người đang cầm vô lăng là một “tay lái xe cao cấp”. Thiệu cười gượng gạo rồi nói tiếng Anh bằng một giọng lai âm tiếng Pháp rằng ở Sài Gòn người lái xe nào cũng cao cấp. Timmes chuyển đề tài, hỏi tình hình vợ con Thiệu, cựu Tổng thống Chính quyền Sài Gòn trả lời không thành thật: “Vợ con tôi đi London để mua đồ cổ”.

Qua gương chiếu hậu thấy mắt Thiệu đẫm lệ mỗi khi xe vượt qua đoạn đường có cột đèn chiếu sáng. Khi tới gần lối vào phi trường Tân Sơn Nhất, đèn pha chiếu nhanh vào bức tường ven đường có khẩu hiệu mang nội dung chính quyền Sài Gòn tri ơn lính Mỹ, Thiệu quay mặt đi rồi thở dài khiến ai trong xe cũng nghe thấy.

Tới trạm gác, Timmes bảo Thiệu ngồi thụt đầu xuống để tránh bị phát hiện. Thông thường cảnh sát bảo vệ của Chính quyền Sài Gòn thấy xe Mỹ mang biển số ngoại giao thì chỉ kiểm tra qua loa. Tuy nhiên, Timmes vẫn thận trọng vì lúc đó đã là 9 giờ rưỡi đêm, tức là sau giờ giới nghiêm một tiếng đồng hồ. Thật may mắn, xe chỉ bị kiểm tra mang tính chất chiếu lệ.

Chiếc xe chở Thiệu tiến vào phi trường, đến tận nơi đỗ máy bay. Thiệu và vài người đi cùng không làm thủ tục lên máy bay như những hành khách bình thường. Khi chiếc xe chở Thiệu vừa phanh gấp tránh một chiếc xe hơi khác trên đường băng, Polgar chạy lại mở cửa xe cho Thiệu. Trước khi bước xuống, Thiệu vươn người lên phía trước đập tay vào vai Frank Snepp nói bằng tiếng Anh: “Cám ơn”.

Giọng Thiệu nhòa đi rồi chìa một tay ra cho Frank Snepp bắt. Tay kia Thiệu đưa lên gạt hai hàng nước mắt cứ lã chã tuôn xuống hai gò má. Sau đó, Thiệu bước vội về phía chiếc máy bay bốn động cơ C – 118 của không quân Mỹ. Cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và mấy người Việt Nam đang lỉnh kỉnh đồ đeo trên vai cũng đang bước tới. Đại sứ Martin đang đứng chờ ở chân cầu thang máy bay.

Thiệu nói chuyện với Martin một lúc, cuộc nói chuyện cuối cùng giữa hai người diễn ra ngắn gọn nhưng tưởng như dài bất tận. Khi các động cơ rồ lên để máy bay chuẩn bị tiến vào vị trí cất cánh, Martin vẫn đứng đó mắt nhìn chằm chằm vào hư vô. Đại sứ Martin mang cặp kính gọng màu da, mắt hình ôvan trông ông giống như một giáo sư đại học mặc diện hơn là một người vừa tống tiễn vết tích cuối cùng của một chính sách tồi trong suốt 3 thập kỷ qua.

Nguyễn Văn Thiệu đã rời đất nước của mình trên một chiếc máy bay Mỹ mà không làm bất cứ thủ tục xuất cảnh nào theo qui định của cả phía Mỹ lẫn phía Việt Nam. Sau này nhớ lại, ông Graham Martin tỏ ra hối tiếc là đã bố trí cho Thiệu ra đi cửa sau trong hoàn cảnh bí mật, vội vàng như vậy. Thậm chí giấy tờ bảo lãnh danh dự cho Thiệu cũng không có. Martin cho biết khi đó chính ông đã chỉ thị cho chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar chuẩn bị giấy đảm bảo danh dự cho Thiệu nhưng Polgar không kịp làm chỉ vì không tìm đâu ra một chiếc máy đánh chữ.

(Còn nữa)
Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
vietbao.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 11)

Tổng thống Trần Văn Hương đón nhầm vận mệnh

Hàng đầu từ phải qua trái: Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên gặp các cố vấn Mỹ đầu tháng 4/1975

Trước thất bại liên tiếp ngoài chiến trường và chiến sự đã diễn ra ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, Chính quyền Trần Văn Hương đáng lẽ phải đoàn kết nhau lại để đương đầu với nguy cơ sụp đổ thì lại lún vào những sự ghen ghét đố kỵ và tranh giành quyền lực.

Nguyễn Cao Kỳ là kẻ cực hữu. Tại một bữa tiệc tổ chức hôm 23/4, Kỳ đã thúc giục quân đội chính quyền Sài Gòn tiếp tục chiến đấu để giúp cho một “nội các mới” có thể thương lượng được với Hà Nội. Trong khi đó, những nhân vật thực dụng hơn như các tướng Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn thì vì sợ Kỳ và phe cánh của ông ta làm đảo chính nên tạm thời đồng ý với Kỳ theo cách riêng của mình.

Tướng Dương Văn Minh thì cổ xúy cho một sự thay đổi lãnh đạo không cần theo pháp luật. Minh không bao giờ chấp nhận việc Hương bổ nhiệm nhân sự nội các. Dương Văn Minh nói với tướng Cao Văn Viên rằng chỉ khi nào có một chính phủ liên hiệp không chính thức của những người trung lập mời ra làm Tổng thống thì Minh mới nhận lời.

Trong khi đó, viên tướng già cổ lỗ sĩ Trần Văn Hương vẫn tỏ ra muốn bám giữ chức Tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Có lần Hương nói với Đại sứ Pháp Jean Marie Marillon rằng “Thiệu đã chạy trốn vận mệnh… Còn vận mệnh lại đến với tôi”.

Để chứng tỏ mình là người có thực quyền, Hương ra lệnh dỡ bỏ tất cả những khẩu hiệu, tranh áp phích có nội dung chống cộng sản trên toàn thành phố Sài Gòn. Đồng thời, Hương cử một trợ lý của mình ra phi trường Tân Sơn Nhất để mở “các cuộc thương lượng” với đoàn Bắc Việt Nam trong phái đoàn đại diện quân sự hỗn hợp.

Sáng 24/4, Hương thể hiện đạo đức giả, chỉ thị cho tướng Cao Văn Viên yêu cầu quân đội thực hiện rầm rộ việc “rút vào phòng ngự” cốt làm cho Hà Nội tin là Chính quyền Sài Gòn thực sự chân thành mong muốn hòa bình. Khi nhận được chỉ thị này, một số tướng lĩnh dưới trướng Cao Văn Viên đã công khai phản đối Hương.

Các tướng lĩnh này không ảo tưởng về sức mạnh của quân đội Chính quyền Sài Gòn nên chủ trương đánh mạnh trên chiến trường để có cái mặc cả trên bàn thương lượng theo cách có đi có lại. Tướng Nguyễn Văn Toàn gợi ý đề nghị Mỹ cho máy bay B52 ném bom lần cuối cùng.

Cao Văn Viên bác bỏ ngay đề xuất của Toàn vì trên thực tế làm gì còn B52. Tuy nhiên, Mỹ cũng hỗ trợ quân đội Sài Gòn bằng cách cho máy bay vận tải C-130 ném bom thảm sát CBU – 55 và bom Daisy Cutter xuống Xuân Lộc.

Phía quân đội Bắc Việt lập tức đáp trả bằng những đợt pháo kích dữ dội chưa từng có xuống sân bay Biên Hòa khiến không một đường băng nào còn nguyên vẹn. Dưới làn đạn pháo dữ dội của đối phương, các phi đội máy bay chiến đấu F – 5A phải chuyển về Sài Gòn trong khi các máy bay A – 37 phải lánh nạn dưới Cần Thơ.

Lúc này tại Sài Gòn, các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu di tản nhân viên của họ ra nước ngoài bằng các chuyến bay hợp đồng riêng….

Trong khi các đơn vị quân đội Bắc Việt đang chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng vào Sài Gòn thì Tổng thống “già” Trần Văn Hương cũng đang đưa ra những nỗ lực cuối cùng. Trong các cuộc trao đổi bí mật với đoàn Hà Nội tại phái đoàn đại diện quân sự hỗn hợp ở Tân Sơn Nhất, Hương đề xuất cho phép cử ra Hà Nội một người trung gian để thảo luận ngừng bắn.

Đề xuất này bị phía Hà Nội bác bỏ thẳng thừng. Trần Văn Hương lại đưa ra đề xuất khác rằng ông ta sẽ cho mở cửa các nhà tù để trả lại tự do cho tất cả những “tù nhân chính trị” trong đó có cả 18 nhà báo bị bắt giam hồi tháng 2/1975. Hương coi đây là cử chỉ thiện chí của mình.

Phía Bắc Việt không thèm để ý đề xuất thứ hai của Hương. Họ cũng chẳng thèm bận tâm đưa ra lời bình luận nào. Trong cơn tuyệt vọng, Hương bí mật tới gặp tướng Dương Văn Minh để thuyết phục Minh chấp nhận chức Thủ tướng trong Nội các của Hương. Nhưng Minh cũng lạnh nhạt với mọi đề xuất của Hương.

Trong khi đó, các nhân vật chính trị có máu mặt ở Sài Gòn đang tập hợp lực lượng để chống lại Trần Văn Hương. Một trong những người hăng hái nhất trong việc đòi lật đổ Hương là Trần Quốc Bửu – lãnh tụ công đoàn từng cộng tác bí mật nhiều năm với CIA.

Một nhà sư công khai đề nghị Hương từ chức để nhường ghế Tổng thống cho Dương Văn Minh. Còn tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ thì tổ chức một cuộc biểu tình ở ngoại ô Sài Gòn với sự tham gia của 5.000 tín đồ Thiên Chúa giáo, hô những khẩu hiệu chống Hương.

Kỳ cho rằng, sở dĩ quân đội Bắc Việt giành được thắng lợi là vì các tướng lĩnh và sĩ quan quân đội Sài Gòn chưa đánh đã bỏ chạy.

Đến nước này, Tổng thống Hương bắt đầu nhìn lại những thành bại của mình trong mấy ngày qua. Hương cho rằng mình không có lỗi. Sở dĩ có các cuộc biểu tình chống chính quyền là do hậu quả của Nguyễn Văn Thiệu để lại.

Hương cho rằng vì Thiệu mà Hà Nội cũng không thèm đối thoại với Hương. Nghĩ vậy nên Trần Văn Hương đi đến quyết định tìm cách tống cổ Thiệu ra khỏi Sài Gòn.

Kể từ khi từ chức, Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa muốn rời sân khấu chính trị. Ông ta vẫn nung nấu những ý đồ trả thù một số đối thủ chính trị và phục hồi danh dự.

Trong khi đó, vì quá sợ hãi, vợ Thiệu đã đáp chuyến máy bay thương mại ngày 25/4 đi Bangkok. Em ruột Thiệu khi đó đang làm Đại sứ ở Đài Loan thì bay về Sài Gòn để thuyết phục Thiệu đi di tản.

Thiệu bỏ ngoài tai mọi lời khuyên của vợ và em trai. Thiệu tin rằng mình vẫn có một vai trò ở Sài Gòn. Ông ta nói với người em họ Trần Đức Nhã: “Trường hợp bắt buộc phải chạy ra nước ngoài, tôi sẽ đi trong danh dự có một nhân viên của mình đi kèm”.

Trần Đức Nhã liền bảo Thiệu rằng chẳng còn thời gian để cho Thiệu thực hiện ý định trả thù và phục hồi danh dự nữa. Nhã thúc giục Thiệu phải rời Việt Nam ngay. Nghe nói vậy, Thiệu mới bừng tỉnh.

Hương muốn đẩy Thiệu ra nước ngoài nhưng không muốn tự mình làm việc đó vì sợ những kẻ thuộc hạ trung thành với Thiệu trả thù. Hương đến nhờ Đại sứ Mỹ Martin dàn xếp để Thiệu di tản. Martin không muốn mọi người hiểu là ĐSQ Mỹ đã tham gia phế truất Thiệu nên còn lưỡng lự.
Trong khi đó, đối thủ của Thiệu là Dương Văn Minh cho rằng tuy đã từ chức nhưng Thiệu luôn cản trở việc Minh lên làm tổng thống Chính quyền Sài Gòn. Minh cũng tới gặp tướng CIA Timmes để nhờ dàn xếp cho Thiệu đi cư trú ở nước ngoài.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 10)

Hy vọng trong tuyệt vọng

Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Trần Văn Hương

Sau khi nhận được tin Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger gửi ngay cho Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin một bức điện khẩn chỉ thị tiếp tục “tôn trọng” Thiệu.

Kissinger hứa sẽ giúp đỡ Thiệu rời khỏi Việt Nam, nhấn mạnh rằng Mỹ không tham gia bất cứ kế hoạch nào của Pháp trong việc lật đổ Thiệu.

Giới chính trị Sài Gòn phản ứng trước việc Thiệu từ chức rất khác nhau, mức độ tùy thuộc vào động cơ của mỗi người. Một số nhân vật chủ chốt trong Chính quyền Sài Gòn bày tỏ vui mừng vì Thiệu từ chức là một cú đánh vào Mỹ.

Một số người khác, phần lớn là những sĩ quan trẻ tuổi tỏ ra bối rối vì theo họ Thiệu nên phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của mình. Trong khi đó, hầu như chẳng có ai tỏ ra hài lòng trước việc Trần Văn Hương lên thay Thiệu làm tổng thống.

Dư luận chung về Hương là “già quá, hết đát”. Tuy nhiên, giới chính trị Sài Gòn lúc đó không thống nhất được quan điểm về những bước đi tiếp theo sau khi Thiệu từ chức là gì. Một số người vẫn còn một chút hy vọng ở một giải pháp thương lượng với Hà Nội.

Trong cuộc trò chuyện với các cộng sự hôm 22/4, Dương Văn Minh bày tỏ hy vọng có thể thương lượng được với phía bên kia. Tại Paris, người phát ngôn của Minh đã công khai kêu gọi ngừng bắn, nối lại cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, và cả việc thành lập một chính phủ “đại diện chân chính”.

Trong sự tuyệt vọng, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cũng nói với một người bạn CIA rằng ông ta muốn lập ra một nội các mới trong đó bản thân Khiêm và tướng Cao Văn Viên sẽ là những người vận động chính, Minh sẽ là Tổng thống. Mục đích là nhằm ngăn chặn cuộc tiến công của Bắc Việt, câu thêm giờ cốt để củng cố lại tinh thần cho quân đội Sài Gòn.

Vấn đề ở đây là có ai trong số những nhân vật chính trị nói trên thực sự tin tưởng ở tính thực tiễn của các lựa chọn nói trên hay không? Có trời biết. Thủ đoạn đã trở thành một yếu tố chính trong giới chính trị Sài Gòn.

Trong khi một số người vẫn muốn theo đuổi giải pháp thương lượng, nhiều người chưa yên tâm về Tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ có chịu “ngồi yên” hay không? Chỉ huy trưởng CIA tại Sài Gòn Polgar liền cử tướng Timmes tới gặp Kỳ để thăm dò.

Cuộc gặp này của Timmes khác nào đổ dầu vào lửa. Lúc đầu thấy Timmes tới thăm mình, Kỳ đã mừng thầm vì nghĩ rằng CIA đến để bàn về khả năng Kỳ sẽ lên làm Tổng thống thay Trần Văn Hương. Nhưng khi nghe Timmes hỏi liệu có khả năng nào về một cuộc đảo chính chống lại Dương Văn Minh hay không thì viên tư lệnh không quân hiểu ngay rằng người Mỹ đã chọn Minh thay Hương chứ không phải là Kỳ.

Ông ta liền phàn nàn một cách cay độc về những sự không phù hợp của Dương Văn Minh vào chức vụ đó, đồng thời đề nghị dành vị trí mới đó cho mình.

Trong khi đó người Pháp đang tranh thủ từng giây từng phút để can thiệp, vận động. Tham tán chính trị của ĐSQ Pháp tại Sài Gòn Pierre Brochand liên tục gặp gỡ Dương Văn Minh để chỉ đạo, khích lệ Minh đồng thời gạt bỏ mọi đối thủ của Minh. Sáng 22/4, được tin Trần Văn Đôn đã có một vài thiết kế lờ mờ về người sẽ làm tổng thống thay Hương, Pierre Brochand liền tìm Đôn để cảnh báo ông ta rằng chỉ có Dương Văn Minh mới là người mà Hà Nội có thể chấp nhận được.

Cuối buổi chiều hôm đó, Đôn tới ĐSQ Mỹ để báo cho Đại sứ Martin về ý định nói trên của người Pháp. Martin lúc đó vẫn còn đang bối rối tìm cách duy trì mọi thay đổi nhân sự của chính quyền Sài Gòn được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật.

Do vậy Marin muốn giữ Trần Văn Hương ở vị trí Tổng thống trong một thời gian nhất định. Nếu trong trường hợp không thể giữ được như vậy thì người thay Hương phải là Chủ tịch Thượng viện Trần Văn Lắm chứ không phải là ai khác. Vì theo luật thì Chủ tịch thượng viện là người chỉ đứng sau Tổng thống. Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon kiên quyết phản đối quan điểm này của Đại sứ Mỹ Martin, cho rằng việc cố giữ cho phù hợp luật pháp lúc này là sự tự sát.

Trong khi lập trường của Mỹ và Pháp còn đang lấp lửng thì phản ứng đầu tiên của Chính phủ Chính phủ Cách mạng Lâm thời (CMLT) Cộng hòa Miền Nam Việt Nam về việc Thiệu từ chức là rất rõ ràng. Phát ngôn viên của Chính phủ CMLT tại sân bay Tân Sơn Nhất đã khẳng định với các nhà báo rằng việc Thiệu ra đi chẳng cải thiện được tình hình.

Người phát ngôn này cũng bác bỏ lời kêu gọi của Trần Văn Hương về một cuộc ngừng bắn. Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ Hà Nội thì tố cáo Hương là “tên phản bội, phản cách mạng” đồng thời đòi Mỹ phải từ bỏ cả tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu chứ không phải chỉ mỗi cá nhân Thiệu cùng với việc chấm dứt mọi sự can thiệp vào Việt Nam, kể cả viện trợ quân sự.

Trước sự phản ứng rõ ràng và mạnh mẽ từ phía Hà Nội, Đại sứ Martin, chỉ huy trưởng CIA Polgar ở Sài Gòn và Ngoại trưởng Kissinger ở Washington vẫn tiếp tục tin là còn chỗ cho một giải pháp thương lượng. Trong khi đó, trên chiến trường phía quân đội Bắc Việt đã giành thêm được những thắng lợi ngoạn mục. Phan Thiết là thành phố cuối cùng của quân khu 2 bị thất thủ, nhóm tàn quân từ Phan Thiết chạy về Hàm Tân đang bị đối phương truy kích sát gót.

Lúc này, quân đội Sài Gòn đã hoàn toàn rút khỏi Xuân Lộc trong khi bộ đội Bắc Việt đang tiến quân như vũ bão về phía Biên Hòa và Vũng Tàu. Chính thành phố Biên Hòa cũng đang bị pháo kích dữ dội khiến chỉ vài giờ sau khi Thiệu từ chức, tướng Nguyễn Văn Toàn phải dời chỉ huy sở của mình từ Biên Hòa vào Sài Gòn.

Ngày 23/4, Ngoại trưởng Kissinger gửi cho Đại sứ Martin một bức điện khẩn nói rằng có hai sự lựa chọn. Một là cố giữ Chính phủ Trần Văn Hương như hiện tại hoặc là tìm cách gộp cả kế hoạch của Pháp vào để lập ra một chế độ mới sao cho Hà Nội có thể chấp nhận được. Martin chấp hành nghiêm chỉ thị của Kissinger và đề nghị các nhân viên dưới quyền ông ta phải tuân thủ điều đó.

Giữa lúc đó, chỉ huy trưởng CIA Polgar tới gặp Đại sứ Martin đề nghị cho phép dùng tiền để mua chuộc hoặc hối lộ các nghị sĩ trong Quốc hội Sài Gòn nhằm sớm đưa Dương Văn Minh lên thay Trần Văn Hương.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 9)

Cuộc từ chức đầy kịch tính của Tổng thống Thiệu

Sáng 20/4/1975, Đại sứ Mỹ Graham Martin lái xe hơi tới Dinh Tổng thống để gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Martin vừa đến nơi thì cũng là lúc Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon ở trong đó đi ra.

Dương Văn Minh – Tổng thống cuối cùng của chế độ ngụy quyền Sài Gòn

Té ra Merillon cũng tới gặp Thiệu với cùng nội dung, cùng mục đích như Đại sứ Mỹ. Martin nói với Tổng thống Thiệu rằng theo những thông tin mới nhất về cả tình hình quân sự trên chiến trường lẫn đánh giá của các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự thì việc Hà Nội sắp tiến vào Sài Gòn là điều không tránh khỏi. Trong tình hình đó, dù Sài Gòn có quyết tâm phòng thủ cao đến đâu và tài nghệ đến mức nào cũng khó mà trụ được quá ba tuần.

Theo quan điểm của Martin thì Hà Nội muốn tiếp quản một thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn chứ không phải là một đống đổ nát. Tất nhiên nếu không có động thái nào đi tới thương lượng thì không tránh khỏi cảnh đổ nát. Nghe nói vậy, Tổng thống Thiệu hỏi về khả năng Mỹ bổ sung viện trợ quân sự cho Sài Gòn? Martin trả lời với tư cách cá nhân một người đã từng nhiều năm nghiên cứu tình hình Việt Nam và Đông Nam á rằng điều đó là không thể được.

Sau khi gặp Tổng thống Thiệu trở về ĐSQ, Đại sứ Martin thảo ngay một bức điện gửi cho Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, nói rằng Thiệu có thể từ chức trong vài ba ngày tới.

Rạng sáng 21/4, trước sức tấn công mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt, phòng tuyến cuối cùng tại Xuân Lộc bị sụp đổ. Tiểu đoàn cuối cùng trong số 4 tiểu đoàn còn sót lại của sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn được máy bay trực thăng chở ra ngoài. Trong số các tướng lĩnh thoát chết có cả tướng Lê Minh Đảo được bới ra từ đống đổ nát.

Sau đó chừng một tiếng đồng hồ, Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn triệu tập một cuộc họp khẩn cấp với các lực lượng trung gian ở Sài Gòn nhằm tạo ra một liên minh không chính thức chống lại Tổng thống Thiệu. Nhân vật quan trọng nhất mà tướng Đôn mời được để tham gia liên minh này là tướng Cao Văn Viên.

Ông này tin rằng quân đội Sài Gòn không còn hy vọng giành thắng lợi nên đã buông súng. Đúng lúc tướng Viên đang bối rối thì Trần Văn Đôn tới đề nghị tìm một giải pháp cho hòa bình. Đôn nói cách duy nhất còn lại là phải loại bỏ Thiệu và thay vào vị trí đó là một người khác, nếu được Dương Văn Minh nhận lời là tốt nhất. Tướng Minh là người có thể thương lượng được với phía bên kia.

Nghe Đôn nói vậy, tướng Cao Văn Viên nhận lời ngay. Được Viên ủng hộ, Trần Văn Đôn dễ bề thu hút thêm các nhân vật quan trọng khác trong Nội các của Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn tham gia liên minh chống Tổng thống Thiệu. Trong số này có cả các nhân vật cộm cán như Thủ tướng Cẩn, Bộ trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hào. Liên minh này đã đủ sức mạnh để ngày hôm sau chính thức kêu gọi Thiệu từ chức. Nếu Thiệu từ chối, những kẻ trong liên minh sẽ lật đổ Tổng thống bằng vũ lực.

Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn và phe cánh của ông ta không thể ngờ rằng Thiệu đã đi vài nước cờ trước khi nhóm này hành động. Thiệu đã quyết định không để cho đối thủ chính trị có được niềm vui “thu nhặt thi thể” mình. Thiệu đã quyết định tự nguyện từ chức ngay cốt để cho bọn Đôn cắn xé nhau.

Gần trưa ngày 21/4/1975, Thiệu triệu tập cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương tới Dinh Tổng thống để thông báo ý định từ chức của mình. Tổng thống nói với hai người này rằng ông dự định sẽ công bố việc từ chức chính thức vào tối 21/4.

Sau khi kể lại chuyện cả Đại sứ Mỹ Martin và Đại sứ Pháp Merillon đến Dinh Tổng thống ngày hôm trước đó, Tổng thống Thiệu nhấn mạnh rằng cả hai nhà ngoại giao Pháp, Mỹ đều không khuyên ông từ chức. Thiệu cho biết sở dĩ ông quyết định từ chức là vì tình hình quân sự trở nên vô vọng. Nếu cứ tiếp tục giữ chiếc ghế tổng thống thì chẳng đạt được mục đích gì, thậm chí lại có thể cản trở một giải pháp thương lượng.

Cả Khiêm và Hương đều đồng ý với quyết định của Tổng thống. Thiệu liền đề đạt một nguyện vọng duy nhất của mình là việc chuyển giao quyền lực phải được thực hiện theo đúng pháp luật nhằm tránh gây ra một sự hỗn loạn. Ngoài Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Thiệu không cho biết ai là người có nhiều khả năng sẽ kế nhiệm mình. Không ai biết trong nước cờ của mình, Thiệu có chơi tay trên bổ nhiệm kẻ thù cũ của ông ta là Dương Văn Minh làm Tổng thống mới hay không?

Khi nói những điều tâm sự thầm kín với Khiêm và Hương, Thiệu hoàn toàn không ngờ rằng toàn bộ cuộc trao đổi này đã bị CIA đặt máy nghe trộm, ghi được rõ từng lời của Thiệu. Tại ĐSQ Mỹ, chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar thông báo ngày “tin sốt dẻo” nói trên cho các nhân viên liên quan. Polgar nói: Không cần phải lo cho tình huống quân sự nữa. Phải chuyển ngay sang tình huống chính trị liên hợp.

Sau đó, Polgar thông báo ngay cho các nhà ngoại giao Pháp và Hungary biết việc Thiệu đang chờ để từ chức. Khoảng giữa buổi chiều hôm đó, Polgar cử tướng tình báo Timmes đi gặp tướng Dương Văn Minh. Timmes nói với Minh rằng nếu ông nhận lời kế nhiệm Thiệu để đối thoại với Hà Nội thì Mỹ sẽ gạt Trần Văn Hương ra ngoài luôn.

Dương Văn Minh gật đầu nhận lời đề nghị của Timmes đồng thời bày tỏ tin tưởng ông ta có thể thương lượng được với phía Hà Nội. Minh nói ông ta muốn cử một đại diện đi Paris để mở các cuộc thảo luận ngay tức khắc. Nghe nói vậy, tướng Timmes liền mở cặp khoá số lấy ra một tập đô la Mỹ, đưa cho Minh 1.000 USD để chi phí đi lại. Sau này Minh không dùng đến số tiền nói trên nhưng cũng không trả lại cho Polgar.

Ngày 21/4, đúng 7 giờ 30 tối (giờ Sài Gòn), Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài phát biểu dài khoảng hai giờ đồng hồ với quốc dân và trước khoảng 200 quan chức Chính quyền Sài Gòn tại Dinh Tổng thống. Trong diễn văn này, Thiệu tự kể công trạng của mình và những khó khăn của Chính quyền Sài Gòn trước việc Mỹ từ chối cấp bổ sung viện trợ quân sự.

Cuối bài diễn văn, Thiệu bỗng nghẹn ngào, rơi lệ công bố quyết định từ chức của mình đồng thời trao Chính quyền Sài Gòn cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương điều hành. Thiệu nói: Giờ đây một nửa miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay Bắc Việt, “vì lợi ích của nhân dân” ông ta thuận lòng hy sinh thân mình.

Tổng thống Thiệu vừa kết thúc bài diễn văn, tướng Cao Văn Viên liền lên đài phát thanh tuyên bố ngắn gọn rằng quân đội của ông ta sẽ tiếp tục chiến đấu “để bảo vệ Tổ quốc chống lại giặc ngoại xâm”. Còn tại lễ nhậm chức Tổng thống mới, Trần Văn Hương – 71 tuổi, bị bệnh viêm gan và mắt gần như mù hoàn toàn – thề sẽ đứng vững cho tới khi người lính cuối cùng của ông ta ngã xuống hoặc “đất nước” bị mất.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 8)

Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia

Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu

Trước sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt, Tổng thống Pháp lúc đó là Valery Giscard d’Estaing tỏ ra quá sốt ruột đã trực tiếp điện thoại cho Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu để thúc giục “hòa hợp dân tộc”.

Tổng thống Valery Giscard d’Estaing không ngờ sự phản ứng của Thiệu lại hoàn toàn trái với sự chờ đợi và mong muốn của Pháp. Thiệu chẳng những không khuất phục trước sức ép từ phía Paris mà còn phản đối quyết liệt, ra lệnh ngừng mọi tiếp xúc của Chính quyền Sài Gòn với Pháp cho đến khi nào ông Valery Giscard d’Estaing rút lại lời nói của mình. Tình thế này hoàn toàn bất lợi cho Đại sứ Jean Marie Merillon vì không vào được Dinh Tổng thống thì làm sao mà thuyết phục được Thiệu từ chức để thành lập một chính quyền phi cộng sản ở Nam Việt Nam?

Để giành lại thế chủ động, Đại sứ Merillon áp dụng một chiến thuật mới nhưng ít hy vọng. Thông qua những người bạn Việt Nam và các mối quan hệ khác, Đại sứ Pháp loan truyền một tin thất thiệt rằng do sự chậm trễ của Thiệu, Hà Nội đã hết kiên nhẫn và quyết định tấn công thẳng vào Sài Gòn. Tin thất thiệt này nào ngờ lại gây nên sự hoảng loạn thực sự đối với Đại sứ quán Mỹ và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Sài Gòn. Sau đó, Đại sứ Merillon thừa nhận với các sĩ quan CIA rằng chính ông đã bịa ra rồi gieo rắc cái tin thất thiệt nói trên. Mặc dù vậy, trò dại dột này vẫn để lại một hậu quả vô cùng tai hại. Mỗi khi có tin báo cho ĐSQ Mỹ về kế hoạch tấn công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt, các chuyên gia xử lý tin lại lắc đầu nói rằng: “Chẳng qua lại chỉ là việc Pháp tung tin để dọa Thiệu ép ông ta từ chức thôi mà”.

Tình hình ở Campuchia xấu đi nhanh chóng. Đại sứ quán Mỹ nhận được điện từ Washington yêu cầu thực hiện một chương trình sơ tán đặc biệt dành cho một số người Mỹ và Việt Nam ra khỏi Sài Gòn cùng với các tài liệu quan trọng. Đại sứ Martin chỉ thị việc này phải giữ tuyệt đối bí mật để tránh gây ra tâm lý hoảng loạn. Những đối tượng được lựa chọn chở bằng máy bay ra nước ngoài trước hết gồm những người có quan hệ thân thiết với Mỹ, đặc biệt là những người trong số đó nhưng lại không có giấy xuất cảnh do Chính quyền Sài Gòn cấp hoặc nếu xuất cảnh công khai có thể gây tác động xấu đến tinh thần dân chúng.

Chuyến máy bay đầu tiên rời Sài Gòn đi Thái Lan theo chương trình này bí mật nói trên chở 143 hành khách đặc biệt hầu hết là phụ nữ và trẻ em cùng với các nhân viên kỹ thuật do CIA đào tạo làm việc trong Bộ Quốc phòng của Thiệu. Ngoài ra một chiếc máy bay vận tải quân sự C–141 chở đầy tài liệu đã bí mật bay ra nước ngoài. Tưởng chương trình sơ tán sớm của Mỹ được giữ kín tuyệt đối, nào ngờ trong một bữa tiệc do vợ chồng cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tổ chức ở nhà riêng tối 17/4, sau khi đã dùng đến món thứ 5 bà chủ nhà cổ đeo đầy đồ trang sức bỗng ôm mặt khóc nức nở. Tướng CIA Charles Timmes chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao thì bà Khiêm đã nói toáng lên rằng Mỹ đang bí mật di tản người của mình ra khỏi Sài Gòn. Bà xin phía Mỹ cho phép bản thân và gia đình bà cũng được di tản ngay. Trần Thiện Khiêm lúc đến bên Timmes nói rằng ít có khả năng Thiệu tự nguyện từ chức. Trong khi đó lại không có bằng chứng rõ ràng nào về việc Hà Nội thuận lòng thương lượng với tướng Dương Văn Minh. Còn tướng Kỳ thì lại đang dọa sẽ tổ chức một cuộc đảo chính lật đổ Thiệu. Vì thế, Khiêm hy vọng rằng khi tình huống xấu cần phải di tản xảy ra thì tướng Charles Timmes đừng quên “những người bạn” Việt Nam của mình.

Các tin thất bại từ chiến trường dồn dập báo về khiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã bắt đầu cảm nhận thấy sự sụp đổ của Chính quyền Sài Gòn là khó tránh khỏi. Rạng sáng 18/4, lực lượng đặc công quân đội Bắc Việt đã tấn công trạm radar Phú Lâm ở ngoại ô Sài Gòn. Điều này chứng tỏ chiến tranh đã lan đến tận cửa ngõ thành phố. Chừng một giờ sau, tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy quân khu 3 bay từ Biên Hòa vào để nói với Thiệu rằng trên thực tế quân đội Sài Gòn đã thua trận. Biên Hòa không thể giữ được quá 3 ngày nữa. Toàn cũng khẳng định rằng Phan Rang đã thất thủ và tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã bị quân giải phóng bắt. Một số binh lính quân đội Sài Gòn bại trận trong cơn tức giận và tuyệt vọng đã dùng xe ủi phá cả phần mộ tổ tiên Tổng thống Thiệu ở ngoại ô Phan Rang.

Cũng trong buổi sáng hôm đó, một nhóm người tự xưng là phe ôn hòa và đối lập liên hệ được với Tổng thống, cảnh báo rằng thời gian dành cho Thiệu đã hết. Những người này yêu cầu Thiệu từ chức trong vòng 6 ngày, nếu không sẽ phải trả giá đắt. Ngay sau đó, Thiệu ra lệnh bắt giam một số tướng lĩnh quân sự những người mà theo ông ta là phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại của quân đội Sài Gòn vài tuần qua. Tướng Phạm Văn Phú đang bị ốm trong tình trạng gần hôn mê tại trung tâm chữa lao ở ngoại ô Sài Gòn cũng bị bắt tống giam. Tướng Ngô Quang Trưởng tuy chưa bị bắt nhưng bị coi là kẻ đồng phạm với Phú dẫn đến thất bại thảm hại. Sau này khi tướng CIA Timmes tới gặp Trưởng tại một quân y viện, vị tư lệnh quân khu 1 ôm mặt khóc nức nở đổ lỗi cho Thiệu đã thay đổi kế hoạch hành quân luôn xoành xoạch dẫn đến việc mất quân khu 1.

Ngay từ đầu tháng 4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã linh cảm thấy điều chẳng lành sắp đến với mình. Sức ép từ nguy cơ bị đảo chính và sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt ngày càng tăng,Thiệu bắt đầu nghĩ tới việc tẩu tán tài sản của gia đình và biển thủ ngân khố quốc gia. Ngày 2 và 3/4, Thiệu chuyển phần lớn tiền, vàng, đồ dùng quí hiếm của gia đình sang Đài Loan và Canada. Nhưng còn 16 tấn vàng tương đương 220 triệu USD là phần lớn ngân khố quốc gia Chính quyền Sài Gòn thì vẫn chưa được “xuất cảnh”. Lúc đầu Thiệu định chuyển toàn bộ số vàng nói trên vào Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank of International Settlements) có trụ sở tại Basel (Thụy Sĩ) để sử dụng riêng. Tại ngân hàng này, Chính quyền Sài Gòn đã gửi số vàng lớn tương đương 5 triệu USD. Thiệu nói với cấp dưới của mình rằng đó là số vàng ký quĩ đối với các khoản vay để mua sắm thiết bị cho quân đội. Tuy nhiên, vài ngày trước khi việc giao (Tiếp theo trang 13)

dịch ngân hàng của vụ cướp ngân khố quốc gia này được hoàn tất, CIA trong ĐSQ Mỹ biết được ý đồ của Thiệu. Một nhân viên của Đại sứ Martin đã cố tình cung cấp thông tin về sự vụ ra cho báo chí. Khi dư luận rộ lên, Thiệu đành phải hủy kế hoạch ban đầu của mình đối với 16 tấn vàng. Các máy bay mà Thiệu đã đàm phán thuê chở số vàng nói trên ra nước ngoài đành phải hủy vì sợ dư luận. Đúng lúc đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin quyết định vào cuộc. Ông Martin tìm đến Thiệu và gợi ý rằng thay vì chuyển số vàng nói trên sang Thụy Sĩ thì Tổng thống Thiệu hãy chuyển sang New York để gửi vào nhà băng Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve Bank of New York). Trong lúc bối rối, Thiệu đồng ý ngay gợi ý của Martin. Ngày 16/4, ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn điện cho Washington đề nghị cho một chuyến bay quân sự đặc biệt sang Sài Gòn để chở 16 tấn vàng nói trên về New York.

Tổng thống Thiệu không phải là người duy nhất trong Chính quyền Sài Gòn tẩu tán sớm tài sản ra nước ngoài. Cùng trong ngày 16/4, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cũng đã chở gần như toàn bộ tài sản quí hiếm của gia đình ra nước ngoài. Còn Đại sứ của Chính quyền Sài Gòn tại Washington thì sau khi nghe tin Đà Nẵng thất thủ đã bảo vợ mình đi tìm mua nhà để cư trú lâu dài tại bang Maryland.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
vietbao.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối: Kỳ 7

Tiểu xảo “rọi đèn pha” và tham vọng của Pháp

Cựu Thủ tướng Chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm (phải) và Hoàng Đức Nhã (em họ Tổng thống Thiệu)

Vài ngày sau khi bí mật gặp Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon, tướng Dương Văn Minh mời cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tới biệt thự riêng của mình. Tại đây, Dương Văn Minh nói với Khiêm rằng Pháp đã coi Minh là người thay thế Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và là người có thể hòa giải được với Hà Nội.

Minh đề nghị Khiêm ủng hộ. Cuối cuộc nói chuyện, Trần Thiện Khiêm đã bày tỏ sự ủng hộ và hứa giúp đỡ Minh đến cùng. Cả Dương Văn Minh và Khiêm không hề biết rằng cuộc nói chuyện của họ bị CIA bí mật theo dõi.

Các điệp viên CIA đã báo cáo đầy đủ về Đại sứ quán Mỹ mọi diễn biến liên quan đến âm mưu phế truất Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Các thông tin mật liên quan đến các toan tính xung quanh Thiệu được báo về ĐSQ Mỹ ngày càng nhiều, củng cố thêm quan điểm của Đại sứ Graham Martin và chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar rằng thương lượng với Hà Nội là giải pháp tốt nhất.

Việc phế truất Thiệu không phải do Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm nghĩ ra mà đúng hơn là người Pháp đã khởi xướng và thúc đẩy cho điều đó trở thành hiện thực.

Kể từ khi Thủ tướng Jacques Chirac gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn tại Paris, người Pháp luôn là động lực đằng sau việc tìm kiếm một giải pháp chính trị vào phút chót. Paris hy vọng với tình hình Sài Gòn cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1975, nếu các nhà ngoại giao Pháp nhanh chân rất có thể chiến tranh Việt Nam được kết thúc theo hướng có lợi cho Pháp.

Mục tiêu mà người Pháp tự đặt ra là thúc đẩy tình hình để Việt Nam trở lại thời kỳ bị phân chia thành 3 miền Bắc, Trung và Nam Kỳ trước đây. Kể từ khi Đà Nẵng thất thủ, tại Hà Nội, Paris và Sài Gòn người Pháp ráo riết mở các cuộc gặp gỡ bí mật với các bên liên quan với tham vọng đạt được các mục tiêu “chiến lược 4 gọng kìm”.

Theo chiến lược này, “4 gọng kìm” là:1- Phải thuyết phục để Hà Nội chấp nhận kết thúc chiến tranh bằng thương lượng. 2- Đối với Nguyễn Văn Thiệu, phải khiến ông ta chấp nhận từ chức. 3- Với Mỹ, làm sao để họ hiểu rằng tình hình đã đến mức chỉ còn một giải pháp duy nhất là đồng ý để cho Pháp đứng ra làm trung gian. 4- Còn với Dương Văn Minh, cần thuyết phục để ông ta chấp nhận là người thay thế vào vị trí của Tổng thống Thiệu.

Đại sứ Pháp tại Sài Gòn Jean Marie Merillon chỉ có 2 điều đam mê, đó là vận động ngoại giao và săn bắn. Nhậm chức Đại sứ tại Sài Gòn mới được hơn một năm nhưng ông Merillon đã khiến mọi người phải khâm phục tiểu xảo “chiếu rọi đèn pha” sở trường của ông trong hai lĩnh vực nói trên.

Khi đi săn đêm, đầu tiên Merillon tìm cách làm lóa mắt con thú bằng cách chiếu rọi đèn pha thẳng vào mắt hoang thú. Bị chiếu đèn pha bất ngờ, con thú nào cũng chỉ còn biết đứng im nhìn chằm chằm vào nguồn sáng. Đó là lúc tốt nhất cho người đi săn nổ súng.

Trong hoạt động ngoại giao ở Sài Gòn những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, Đại sứ Merillon cũng áp dụng “tiểu xảo chiếu rọi đèn pha” một cách diệu nghệ.

Trong tuần đầu tiên của tháng 4/1975, Đại sứ Merillon tìm cách áp dụng chiến thuật tiểu xảo này đối với Hoàng Đức Nhã – em họ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi phân tích về tình hình cho phép thúc đẩy giải pháp chia cắt Việt Nam thành 3 vùng như đã từng một thời tồn tại trong lịch sử, Merillon thúc giục Nhã ủng hộ.

Bằng vẻ mặt không hề có biểu hiện nào của sự mỉa mai, Merillon dẫn ra ví dụ năm 1940 nhờ việc quân đội Pháp thương lượng với Đức phát xít mà nước Pháp tránh được sự tàn phá của Đức. Nghe điều này, Hoàng Đức Nhã vô cùng tức giận, buông ra những lời khiếm nhã đối với Đại sứ Merillon: “Ông điên rồi sao? Đó là một kế hoạch lố bịch”.

Nhưng Đại sứ Merillon không hề thất vọng. Vài ngày sau, ông ta lại dùng “tiểu xảo rọi đèn pha” vào “con mồi” xa hơn. “Con mồi” lần này chính là Đại sứ Mỹ Graham Martin.

Nhà riêng của Đại sứ Merillon tại Sài Gòn ở liền kề tòa nhà ĐSQ Mỹ. Điều này cho phép Merillon ghé thăm Đại sứ Martin bất cứ lúc nào trong ngày để cùng nhau chia sẻ các ý tưởng bên tách cà phê.

Mỗi lần như vậy, Merillon đều cố gắng làm cho Martin hiểu rằng chưa có sự đảm bảo chắc chắn nào rằng Bắc Việt Nam chấp nhận giải pháp kết thúc chiến tranh bằng thương lượng. Nhưng cứ thử cố làm xem, điều đó có hại gì đâu.

Phản ứng lúc đầu của Đại sứ Martin là không nhất trí với các phân tích và quan điểm của Merillon. Vì trước đó, Martin và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger đã từng thống nhất quan điểm với nhau rằng bất cứ một sự thay đổi nào đối với ban lãnh đạo ở Sài Gòn thì cũng phải được thực hiện một cách hợp pháp.

Làm như thế cốt để giữ được sự ổn định và tối đa hóa cơ hội thương lượng giữa người kế nhiệm Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và những người Cộng sản. Mặc dù vậy, Đại sứ Martin cũng không bác bỏ hoàn toàn ý tưởng của Pháp. Đại sứ Mỹ vẫn giữ cầu bằng cách để ngỏ mọi khả năng thảo luận tiếp với Merillon.

Nhằm tránh các cặp mắt tò mò soi mói, Đại sứ Martin bảo cấp dưới đục tường ĐSQ Mỹ để mở một lối thông sang nhà riêng Đại sứ Pháp Merillon. Ngoài ra, Martin còn cho nối một đường dây điện thoại bí mật với người đồng nghiệp Pháp để có thể trao đổi kín bất cứ lúc nào. B
ên phía nhà riêng của mình ông Merillon lắp một điện thoại trong nhà tắm dành riêng cho ông ở cách xa nơi làm việc cốt để tránh tai mắt của các nhân viên và thư ký người Việt phục vụ trong khuôn viên. Mỗi khi cần trao đổi riêng với người đồng nghiệp Mỹ, Đại sứ Merillon đều phải ra nhà tắm để trao đổi qua điện thoại.

Các cuộc trao đổi như vậy diễn ra nhiều lần trong một ngày khiến ông Merillon cứ phải liên tục ra nhà tắm. Mỗi lần ra nhà tắm ông Merillon đều nói dối là đi vệ sinh. Các nhân viên giúp việc và thư ký cho Đại sứ Merillon nghe vậy đều tin là ông bị đau bụng nên tỏ ra rất lo ngại cho sức khỏe của ngài Đại sứ của họ.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 6)

Những toan tính quanh “con bài” Nguyễn Văn Thiệu

Rạng sáng ngày 8/4, không khí chiến sự khu vực quanh Sài Gòn trở nên nóng bỏng. Quân đội Bắc Việt đã nã pháo vào thị trấn phía Nam Biên Hòa.

Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu (trái) và Tổng thống Mỹ L.Johnson

Lực lượng đặc công tấn công Học viện quân sự Thủ Đức chỉ cách Sài Gòn hơn 10 km. Trong 3 ngày liên tiếp, các đơn vị thuộc 3 sư đoàn quân đội Bắc Việt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long liên tục mở các đợt tấn công vào quốc lộ số 4.

Đầu giờ làm việc buổi sáng ngày 8/4 bỗng có tiếng máy bay phản lực gầm trên trời Sài Gòn một cách bất thường. Tiếp theo là những tiếng nổ đinh tai từ phía Dinh Tổng thống. Sau một hồi bối rối, các thông tin được báo về ĐSQ Mỹ nói rằng một chiếc máy bay A–37 lạ đã ném bom vào Dinh Tổng thống Thiệu rồi biến mất.

Một nguồn tin tình báo sau đó cho biết, chiều hôm trước một chỉ huy của phi đoàn 23 không quân chiến thuật tại Tân Sơn Nhất đã lôi kéo hai sĩ quan tham gia ném bom Dinh Tổng thống.

Người chỉ huy này tỏ cho thấy ông ta là người của tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ. ĐSQ Mỹ liền phái tướng Timmes đến nhà tướng Kỳ ở Tân Sơn Nhất để kiểm tra nguồn tin. Kỳ khẳng định ông ta không liên quan gì đến vụ ném bom vừa qua.

Mãi sau này khi “Đài phát thanh giải phóng” loan tin rằng sĩ quan không lực Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Thành Trung đã thực hiện cuộc ném bom nói trên mọi người mới vỡ lẽ.

Trong khi đó, các nguồn tin khác của CIA thì cho rằng Nguyễn Thành Trung chỉ là một phi công cố lấy lòng Kỳ mà hành động như vậy. Nhưng cho dù bất kỳ ai đứng đằng sau vụ ném bom với động cơ gì đi chăng nữa thì việc để xảy ra sự kiện đó cũng chứng tỏ việc phòng thủ của Sài Gòn yếu kém đến mức nào.

Sau sự kiện Nguyễn Thành Trung, trong ĐSQ Mỹ có cuộc tranh luận về tương lai của Sài Gòn. Hầu hết các nhân vật chủ chốt đều nhất trí với nhận định của Chỉ huy trưởng CIA Thomas Polgar rằng Chính quyền Sài Gòn đã thất bại.

Đại sứ Graham Martin và Thomas Polgar có cùng quan điểm cho rằng chỉ có giải pháp thương lượng chứ không phải là quân sự mới là chìa khóa cho tương lai của Sài Gòn. Martin và Polgar đều căn cứ vào tuyên bố hôm 2/4 của Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời (CMLT) Cộng hòa miền Nam Việt Nam nói rằng chính phủ của bà có thể chấp nhận đàm phán với Sài Gòn nếu Thiệu từ chức.

Sau đó, các phát ngôn viên của Chính phủ CMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Stockholm và các thủ đô châu Âu khác đều nhắc lại lập trường này. Khoảng trung tuần tháng 4/1975, các dấu hiệu thất bại của Chính quyền Sài Gòn đã rõ dần.

Điều này tác động mạnh lên ban lãnh đạo Chính quyền Sài Gòn tạo nên sức ép đòi Tổng thống Thiệu phải từ chức. Cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm là một trong những người đi đầu trong việc vận động loại bỏ Thiệu.

Ông Khiêm tìm gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn để thuyết phục rằng Thiệu phải từ bỏ chức Tổng thống vì tương lai của đất nước. Đôn là kẻ cơ hội nên việc gì cũng cần phải thuyết phục, đặc biệt là những điều chống lại Thiệu.

Thực ra Trần Thiện Khiêm không phải là người đầu tiên đến thuyết phục Đôn lật đổ Tổng thống Thiệu. Trước đó, ngày 1/ 4 trong một chuyến đi nghỉ ở nước ngoài rồi dừng chân tại Paris, đại diện Chính phủ Pháp đã chủ động gặp và mời Trần Văn Đôn vào Điện Elysee để gặp Thủ tướng Pháp lúc đó là Jacques Chirac.

Sau này, Trần Văn Đôn kể lại rằng ông Jacques Chirac khi ấy nói nói với Đôn Chính quyền Sài Gòn đã thất bại. Ba cường quốc lớn đã đi đến một thỏa thuận rằng Sài Gòn phải được trao cho Hà Nội.

Trước khi rời Paris, Đôn đã chủ động tiếp xúc riêng với phái đoàn của Chính phủ CMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở đó. Ông ta còn gặp với cựu hoàng Bảo Đại sống lưu vong tại Pháp. Thời điểm đó một số người “mơ mộng” vẫn tin rằng Bảo Đại có thể đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền Sài Gòn và những người cách mạng.

Vài ngày sau, khi đã trở về Sài Gòn, Trần Văn Đôn nhờ một người bạn cũ thiết lập kênh liên lạc bí mật giữa ông ta và những người cộng sản nằm vùng. Tiếp đó, Đôn đến gặp Thiệu để báo cáo lại những gì Thủ tướng Pháp J.Chirac đã nói với ông ta ở Paris. Tất nhiên Nguyễn Văn Thiệu không tin, thậm chí còn cả quyết rằng người Pháp nói dối.

Nhưng chiều ngày 5/4, Trần Văn Đôn nhận được cú điện thoại đường dài từ văn phòng Thủ tướng J.Chirac ở Paris nhắc rằng chỉ còn 3 ngày nữa là hết thời hạn mà Hà Nội đặt ra cho cuộc thương lượng. Biết không thể làm lay chuyển Thiệu, Trần Văn Đôn cho rằng một giải pháp hòa bình là rất khó.

Tuy nhiên, sau khi gặp cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Đôn cũng nhất trí rằng Tổng thống Thiệu cần phải ra đi.Nhân vật mà Khiêm và Đôn có chung quan điểm rằng có thể thay thế Tổng thống Thiệu không ai khác là tướng Dương Văn Minh. Năm 1963, cả Khiêm và Đôn đã từng ủng hộ Minh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giờ đây, những kẻ trong cái liên minh cũ này lại âm mưu lật đổ một kẻ độc tài khác mà họ cho là không còn tác dụng nữa.

Nhiều năm qua, với bản tính thiếu quyết đoán, Dương Văn Minh bị coi là nhân vật cổ hủ trong giới chính trị ở Sài Gòn. Sau khi giành thắng lợi trong cuộc đảo chính Diệm năm 1963, Minh bị cánh tướng lĩnh trẻ tuổi hơn lật đổ. Chính người Mỹ cũng quay lưng lại với Dương Văn Minh để đi tìm kiếm người khác có thể giúp Washington thực hiện được chiến lược của họ ở Việt Nam.

Riêng tướng Charles Timmes của CIA thi thoảng có gặp Minh trong các trận đấu tennis ở trung tâm thể thao. Giờ đây, trước việc các quân khu 1 và 2 thất thủ, Dương Văn Minh lại nổi lên như là một nhân vật thích hợp cho giải pháp thương lượng với Hà Nội. Bản thân Dương Văn Minh cũng tự cho mình là người phù hợp với vai trò mà nhiều người muốn ông ta đảm nhiệm.

Sau khi biết Trần Văn Đôn đã có các cuộc trao đổi với Thủ tướng Pháp Jacques Chirac, Minh tìm cách thu hút sự chú ý của Paris về phía mình. Ông ta liền đưa ra tuyên bố công khai rằng Pháp có một vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm một giải pháp cho tình hình miền Nam Việt Nam. Người Pháp lập tức bị hút theo “mồi” câu nhử của Minh.

Đúng vào ngày cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn gặp nhau để thống nhất quan điểm lật đổ Tổng thống Thiệu thì Đại sứ Pháp tại Sài Gòn Jean Marie Merillon đã có cuộc gặp bí mật với Dương Văn Minh.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 5)

Vì sao Mỹ không ủng hộ Nguyễn Cao Kỳ đảo chính?

Sau khi Đà Nẵng thất thủ, một tuần tiếp theo các lực lượng quân đội và chính quyền Sài Gòn tháo chạy khỏi Nha Trang. Đến thời điểm này, tương quan lực lượng đã thay đổi nhanh chóng có lợi cho quân đội Bắc Việt.

Những người cộng sản đã bước lên con đường dẫn đến “thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn nhất có thể”. Thắng lợi cuối cùng của họ đã nằm trong tầm với một cách dễ dàng.

Tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ (hàng đầu bên phải) và Trung tướng Ngô Quang Trưởng (trái) Tư lệnh Quân khu 1 trên tàu sân bay Midway của Mỹ

Như vậy, chỉ trong thời gian chưa đầy một tháng, 150.000 binh lính, dân binh của chính quyền Sài Gòn đã bị giải tán, bỏ rơi, hoặc bị tiêu diệt. Trong đó, 16.000 lính chính qui quân đội Sài Gòn tháo chạy khỏi quân khu 1.

Ngoài ra, trong số 2 sư đoàn ở quân khu 2, chỉ còn lại hai trung đoàn và một lữ đoàn không vận đóng quân ở phía Tây Nha Trang là còn đủ sức chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn 15 tỉnh của chính quyền Sài Gòn đã lọt vào tay quân giải phóng cùng với vũ khí, thiết bị quân sự trị giá 1 tỷ USD bị phá hủy hoặc từ bỏ.

Trong số vũ khí, thiết bị chiến tranh này có gần 200 chiếc máy bay các loại bao gồm cả 12 chiếc máy bay chiến đấu F–5 còn nguyên trong hộp xốp. Bộ máy tình báo của chính quyền Sài Gòn tại các Quân khu 1 và 2 hoàn toàn bị xóa sổ.

Phía bên kia chiến tuyến, Bắc Việt có hơn 300.000 quân đã hoặc sắp di chuyển vào miền Nam để chuẩn bị cho trận tấn công cuối cùng. Đến đầu tháng 4/1975 ít nhất 18 sư đoàn của quân đội Bắc Việt đã tham chiến, 5 sư đoàn khác đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh vào Nam tăng cường.

Chỉ riêng trong tháng 4/1975, quân đội Bắc Việt đã tung vào chiến dịch này tổng cộng khoảng 30.000 quân chính qui các loại. Báo cáo đánh giá tình hình của CIA tại Sài Gòn gửi về Washington cho rằng tương quan lực lượng bộ binh giữa quân đội Sài Gòn và lực lượng cộng sản lúc này là 1 chọi 4, lợi thế nghiêng về phía quân đội Bắc Việt.

Khi xây dựng chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi”, Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu hy vọng lập được phòng tuyến phòng vệ vòng ngoài mở rộng từ Tây Ninh ở phía tây đến Nha Trang vùng duyên hải. Nhưng giờ đây khi quân đội Bắc Việt đã phá vỡ phòng tuyến này, thâm nhập sâu được vào Quân khu 2 thì rõ ràng chiến lược nói trên của Thiệu cần phải điều chỉnh.

Tướng Mỹ Weyand được giao nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề này giúp Thiệu. Weyand gợi ý rằng cần phải xây dựng một phòng tuyến mới mở rộng từ Xuân Lộc đến Phan Rang để bảo vệ Sài Gòn. Tổng thống Thiệu đang bí, không có sự lựa chọn nào tốt hơn bèn đồng ý ngay với đề nghị của tướng Weyand.

Ngày 3/4/1975, tại một cuộc họp với Đại sứ G.Martin và một số tướng Mỹ trong đó có Weyand, Nguyễn Văn Thiệu đề nghị Mỹ cho máy bay B – 52 ném bom để chặn đường tiến quân của đối phương vào Sài Gòn. Cố vấn hậu cần Von Marbod trả lời ngay rằng điều này không thể được.

Sự phản ứng này của phía Mỹ khiến Thiệu rất ngạc nhiên như bị dội một gáo nước lạnh. Von Marbod cảm nhận được điều thất vọng này trên mặt Thiệu bèn nói thêm: Tuy nhiên, phía Mỹ có thể cung cấp cho quân đội Sài Gòn các loại vũ khí tối tân khác như bom phát quang “Daisy Cutter” và bom chùm CBU nhằm tăng cường sức mạnh cho không lực Việt Nam cộng hòa.

Triển khai kế hoạch này, Nguyễn Văn Thiệu giao cho tướng Nguyễn Văn Toàn – Tư lệnh Quân khu 3 chịu trách nhiệm bảo vệ Phan Rang. Tướng Toàn liền chỉ thị cho tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (bạn thân của Toàn, và là cựu Tư lệnh Quân khu 4 mới bị cách chức vì tham nhũng) xây dựng các căn cứ có sự tham gia của sư đoàn không vận.

Tướng Toàn cũng triển khai một lữ đoàn xe bọc thép cùng vài đơn vị biệt kích ở khu vực tây Quân khu 3 để tăng cường cho Sư đoàn 18 tại cửa ngõ then chốt Xuân Lộc…

Vào thời điểm này để cứu vãn tình hình Mỹ muốn thấy một cuộc cải tổ trong Nội các Nguyễn Văn Thiệu. Không phải nhằm loại bỏ Thiệu mà là mở rộng Nội các để đưa vào Chính phủ một số nhân vật ôn hòa, thậm chí có thể bao gồm một số nhân vật đối lập không cộng sản nhưng vô hại.

Mục đích là để trong trường hợp phải thương lượng với cộng sản thì đã có một lực lượng chính trị đứng sau chính phủ. Hai sĩ quan CIA Shackey và Caver được giao nhiệm vụ thăm dò quan điểm của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, người luôn tỏ ra ủng hộ Mỹ trong mọi trường hợp.

Lần này Khiêm cũng đồng ý hoàn toàn với các cố vấn Mỹ về việc cải tổ mở rộng nội các. Khiêm tới gặp Tổng thống Thiệu nói rằng trong khi lực lượng quân sự của chính quyền Sài Gòn còn tương đối mạnh đủ để mặc cả với đối phương thì nên chủ động đề nghị với phía Hà Nội một giải pháp hòa bình. Thiệu chưa hiểu đầu đuôi ra sao nên lưỡng lự thì Thủ tướng Khiêm dọa sẽ từ chức nếu Tổng thống không tán thành. Cuối cùng Thiệu cũng chấp nhận cải tổ mở rộng nội các.

Trong khi đó, phe đối lập tiếp tục gây sức ép lên chính quyền Thiệu. Một ngày sau khi Nha Trang thất thủ, Thượng viện thông qua với 100% phiếu thuận một nghị quyết kêu gọi thành lập một chính phủ mới. Nguyễn Cao Kỳ cho rằng nếu chỉ kêu gọi như vậy thôi thì vô dụng, ông ta bắt đầu vận động một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Thiệu.

Do phe cánh trong không lực của ông ta không đủ mạnh, Kỳ đi tìm sự ủng hộ thêm của các bạn bè cũ trong quân đội như tướng Lê Minh Đảo – Tư lệnh Sư đoàn 18 bảo vệ Xuân Lộc. Tướng Đảo từ chối tham gia nếu không có sự ủng hộ của Bộ Tổng tham mưu liên quân.

Đến nước này, Nguyễn Cao Kỳ đành phải vận động Tổng tham mưu trưởng liên quân, tướng Cao Văn Viên tham gia. Tướng Kỳ gặp tướng Viên vào giữa trưa, trình bày quan điểm và đề nghị Viên ủng hộ. Tướng Viên tỏ ra thận trọng hứa sẽ trả lời Kỳ trong một vài ngày tới.

Từ giã Kỳ, ngay chiều hôm đó Cao Văn Viên đến gặp Thủ tướng Khiêm thông báo với ông ta nội dung mà Kỳ đã trao đổi. Tổng tham mưu trưởng liên quân đề nghị Thủ tướng cho kiểm tra xem người Mỹ có đứng sau âm mưu đảo chính của Nguyễn Cao Kỳ hay không? Trần Thiện Khiêm liền hỏi Thomas Polgar – Chỉ huy trưởng CIA thì được trả lời một cách rõ ràng là Mỹ không ủng hộ một cuộc đảo chính do Nguyễn Cao Kỳ và cộng sự của ông ta tổ chức. Lý do là cả Nguyễn Cao Kỳ và những người cùng âm mưu làm đảo chính với ông ta chẳng ai có lập trường ôn hòa hoặc trung dung để có thể thương lượng với Hà Nội.

Trong khi đó, từ một nguồn tin ở Học viện quân sự Thủ Đức, em họ của Nguyễn Văn Thiệu là Hoàng Đức Nhã biết việc Kỳ đến vận động tướng Đảo làm đảo chính. Nhã báo điều này cho Tổng thống Thiệu. Ngay hôm sau, Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình quốc gia công bố một cuộc “làm sạch ngôi nhà chính phủ” mà không cần tham khảo Thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

Việc làm của Thiệu khiến Khiêm khó chịu liền xin từ chức. Không ngờ Thiệu chấp nhận ngay tức khắc sự từ chức của Khiêm. Trong cuộc cải tổ Nội các của Thiệu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Bá Cẩn được bổ nhiệm làm Thủ tướng của một chính phủ mới “chiến tranh và liên minh dân tộc”; Phó Thủ tướng Trần Văn Đôn kiêm thêm chức Bộ trưởng Quốc phòng.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 4)

Đại sứ Mỹ Graham Martin và kế hoạch di tản

Ngày 24/6/1973, gần 5 tháng sau khi Hiệp định Paris ký kết, ông Graham Martin tuyên thệ nhậm chức Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn.

Từ trái qua phải: Đại sứ Mỹ G.Martin, tướng Wayane, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, Tổng thống G.Ford

Với chức vụ này, Graham Martin chính thức thay cho ông Bunker quyền Trưởng phái bộ Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã về nước trước đó vài tuần.

Martin sinh ra trong một gia đình cha làm nghề thầy tu rửa tội tại các nhà thờ Cơ đốc giáo ở bang North Carolina, được nuôi dạy theo truyền thống nghiêm khắc của gia đình. Năm 1932, G.Martin tốt nghiệp trường cao đẳng Wake Forest, trở thành phóng viên viết cho một số tờ báo nhỏ địa phương. Năm1933, G.Martin bỏ nghề báo để làm trợ lý cho ông Averell Harriman,Phó Chủ tịch tổ chức bình phục quốc gia. Năm 1947, nhờ ông Harriman giới thiệu, G.Martin được tuyển vào ngành ngoại giao, được bổ nhiệm ngay chức tham tán hành chính trong Đại sứ Quán Mỹ ở Paris cho đến năm 1955. Thời kỳ làm việc tại Paris, G.Martin có điều kiện hiểu về tình hình nước Pháp và Việt Nam, đặc biệt là sau Hiệp định Geneva 1954. Sau nhiệm kỳ ở Pháp, G.Martin trở về Washington D.C, được cử đi học trường Cao đẳng Chiến tranh không quân (Air war College), sau đó làm cố vấn cho phái bộ Mỹ tại Liên Hợp Quốc.

Năm 1963, ông ta được bổ nhiệm làm Đại sứ Mỹ tại Thái Lan. Đây chính là thời kỳ Mỹ bắt đầu lún sâu vào cuộc khủng hoảng chiến tranh Việt Nam. Nhiệm kỳ đại sứ ở Bangkok, G.Martin gặp rất nhiều khó khăn vì phải đấu tranh gay gắt với một phái quân sự trong Đại sứ quán, những người muốn biến Thái Lan thành Việt Nam thứ 2. Nhóm quân sự này muốn Mỹ đưa nhiều quân nhân sang Thái Lan như đã từng làm ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo G.Martin đây là thời gian may mắn nhất trong cuộc đời của ông. Khi đó, ứng cử viên tổng thống Mỹ Richard Nixon trong chuyến công cán châu á ghé thăm Bangkok. Đại sứ G.Martin đã trải thảm đỏ đón Richard Nixon, đối xử với ông ta như một công dân đặc biệt khiến Nixon vô cùng ấn tượng và cảm kích. Nhờ chuyện này mà sau khi trở thành Tổng thống Mỹ, Richard Nixon đã “chơi đẹp” trả ơn G.Martin rất hậu hĩnh.

Năm 1966- năm thứ 3 trong nhiệm kỳ Đại sứ Mỹ ở Bangkok, G.Martin mất một người con trai nuôi tên Glen tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Glen là phi công trực thăng bị chết trong một cuộc hành quân ở phía Tây Tây Nguyên khi máy bay trực thăng của anh ta bị bắn hạ. G.Martin nhận tin dữ này khi đang cùng vợ dự bữa tiệc do nhà Vua Thái Lan tổ chức. Ông ta đã cố giữ kín tin buồn với vẻ mặt bình thường đến mức bà Dorothy Martin vợ ông không hay biết gì, vẫn vui vẻ dự tiệc chiêu đãi. Trước đó, người con trai ruột của G.Martin cũng bị chết trong một vụ tai nạn xe hơi ở Mỹ.

Năm 1967, sau một cuộc cãi nhau với Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Dean Rust, G.Martin bị cách chức Đại sứ tại Bangkok. Nhưng chỉ một năm sau, người bạn cũ Richard Nixon trúng cử Tổng thống Mỹ đã phục hồi chức vụ cho G.Martin, đồng thời bổ nhiệm ông làm Đại sứ Mỹ tại Rome. Với quan điểm chống cộng sản, Đại sứ G.Martin đã tổ chức thành công cuộc đảo chính nghị trường lật đổ chính quyền cánh tả Italy năm 1972. Khi đó, trong cuộc bầu cử quốc hội Italy, đại sứ quán Mỹ đã bí mật “bơm” tiền đến hàng ngàn USD cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo để giành chính quyền từ tay những người cộng sản Italy.

Sau nhiệm kỳ ở Rome, G.Martin dự định về nghỉ hưu đã mua một trang trại ở Tuscany. Nhưng giữa năm 1972, Henry Kissinger mời G.Martin làm Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Được tin này, vợ G.Martin không muốn chồng mình sang Việt Nam vì sợ đến nơi mà chính người con nuôi của họ đã thiệt mạng tại đó. Nhưng cuối cùng G.Martin đã đồng ý chức đại sứ Mỹ tại Sài Gòn vì chính H.Kissinger tiến cử và Tổng thống R.Nixon bổ nhiệm.

G.Martin coi cuộc chiến tranh Việt Nam không đơn thuần là cuộc chiến tranh về sự khác biệt ý thức hệ mà đặt cuộc chiến này trong cách nhìn thực dụng toàn cầu về sự cân bằng chiến lược giữa các siêu cường. G.Martin không đánh giá cao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chỉ gặp người đứng đầu Chính quyền Sài Gòn mỗi tháng tối đa là hai lần.

Đại sứ G.Martin giao nhiệm vụ cho Al Francis – một trong những người tin cậy nhất của ông – chuẩn bị một kế hoạch di tản cho tình huống xấu khẩn cấp. Al Francis, khi đó là Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng, đã chuẩn bị một tài liệu 30 trang về các khả năng lựa chọn di tản. Trong đó quan trọng nhất là di tản bằng đường không thực hiện tại sân bay dưới sự bảo vệ của các đơn vị lính thủy quân lục chiến Mỹ. Bản kế hoạch di tản đã bị sửa đi sửa lại nhiều lần. Vào tháng 1/1975, bay về Washington D.C để nghỉ phép Francis không ngờ rằng chỉ vài tháng sau bản kế hoạch di tản của ông ta phát huy tác dụng. Sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Al Francis cho biết, khi vạch kế hoạch ông ta không thể đoán trước hết được mọi điều. Ông ta hoàn toàn không ngờ rằng bản kế hoạch di tản chỉ để dự phòng của mình chẳng bao lâu sau lại được đưa ra áp dụng. Nhưng có điều khác cơ bản với nội dung bản kế hoạch di tản dự thảo là trực thăng Mỹ không chỉ chở người từ sân bay mà là từ nóc tòa nhà làm việc của Đại sứ G.Martin.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
(Lược dịch từ “Decent Interval”)
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối (Kỳ 3)

Huế, Đà Nẵng thất thủ không thể cưỡng nổi

Lính Sài Gòn tại quân Khu 1 mang theo gia đình chạy trốn

Sư đoàn 320 quân đội Bắc Việt chặn đánh đoàn xe của tướng Phạm Văn Phú rút lui từ Pleiku về Tuy Hòa, bắt sống được chuẩn tướng Phạm Duy Tất và chiếm được Cheo Reo.

Nhận tin này trung tướng Ngô Quang Trưởng tại quân khu 1 vô cùng bối rối vì chính ông ta cũng đang lún sâu vào khủng hoảng.

Theo lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ngày 17/3 tướng Trưởng buộc phải điều đơn vị đầu tiên của sư đoàn không vận từ căn cứ Phú Bài vào Sài Gòn. Trong vòng 2 tuần, tướng Trưởng phải điều chỉnh kế hoạch quân sự hai lần.

Ưu tiên bảo vệ của ông ta giờ đây đã chuyển từ Huế vào Đà Nẵng vì không còn đủ lực lượng để bảo vệ cả Huế. Theo đó, lữ đoàn thủy quân lục chiến trước đây bảo vệ phía Bắc thành phố Huế nay phải di chuyển về giữ đèo Hải Vân và án ngữ quốc lộ 1 cửa ngõ Đà Nẵng.

Trong khi quân đội Sài Gòn từ bỏ Kontum và Pleiku đồng thời bố trí lại kế hoạch quân sự ở các quân khu 1 và 2 theo hướng bất lợi, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn vẫn không được Chính quyền Thiệu thông báo. Đến chiều 17/3 nhờ một điệp viên CIA trong Nội các Nguyễn Văn Thiệu mới cung cấp cho phía Mỹ các thông tin mật đầu tiên về chiến lược “Nhẹ đầu nặng đuôi” của Thiệu.

Điệp viên này cho biết, chủ trương của Tổng thống Thiệu là tăng cường bảo vệ Sài Gòn bằng mọi giá. Do vậy, trong trường hợp đối phương tấn công mạnh, tướng Trưởng được phép rút khỏi Huế để giữ Đà Nẵng. Được tin này, tướng Homer Smith, tùy viên quân sự ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn lập tức đến gặp tướng Cao Văn Viên để nói rằng việc rút quân khỏi Pleiku và Kon Tum là một sai lầm lớn có thể dẫn đến thảm họa.

Tướng Smith trách tướng Viên vì sao không thông báo điều này cho phía Mỹ trong cuộc gặp giữa hai ông trước đó một ngày để ít nhất phía Mỹ có thể giúp được về hậu cần. Nghe nói vậy, Tướng Viên cúi gằm mặt xuống nhẫn nhục chịu đựng. Cuối cùng ông ta nói đó là do ý muốn của Tổng thống Thiệu.

Trong khi đó, quân đội Bắc Việt tấn công chiếm hết mục tiêu khác. Sáng 19/3, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cùng vài thành viên Nội các Chính quyền Sài Gòn bay ra các quân khu 1 và 2 thị sát tình hình. Tướng Ngô Quang Trưởng báo cáo các dấu hiệu cho thấy trong thời gian rất gần Huế và Đà Nẵng có thể bị quân đội Bắc Việt đồng loạt tấn công.

Tướng Trưởng cho biết 3 sư đoàn quân đội Bắc Việt đã án ngữ các khu vực gần Huế và Đà Nẵng, có thể một sư đoàn nữa sẽ vượt Quảng Trị để tăng thêm sức ép. Nửa đêm hôm đó, Thủ tướng Khiêm trở về Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu để báo cáo.

Thủ tướng Khiêm đề nghị Thiệu cho rút lui khỏi Huế để tập trung lực lượng về bảo vệ Đà Nẵng. Đồng thời ông Khiêm đề nghị tìm người thay tướng Phạm Văn Phú. Thiệu không chấp nhận đề nghị của Thủ tướng Khiêm về việc thay tướng Phú vì không tìm được người tương xứng, cũng không đồng ý rút quân khỏi Huế vì ông ta đã chỉ thị phải bảo vệ Huế bằng mọi giá.

Thủ tướng Khiêm bị sốc trước thái độ này của Thiệu. Vì trước đó vài ngày, chính Tổng thống đã nói với tướng Ngô Quang Trưởng rằng về mặt chiến lược Huế không quan trọng bằng Đà Nẵng và tư lệnh quân khu 1 đã làm theo lời ông ta điều chỉnh lại kế hoạch. Nay bất ngờ Tổng thống Thiệu thay đổi ngược lại khác nào quay ngược kim đồng hồ.

Khi đoàn xe tăng của quân đội Bắc Việt ào ạt vượt qua cầu Thạch Hãn ở Quảng Trị tiến về phía Huế, tướng Trưởng vội bay vào Sài Gòn gặp Tổng thống Thiệu báo cáo tình hình đang diễn biến ngày càng xấu. Thiệu lắng nghe một cách kiên nhẫn, cuối cùng thừa nhận đã đòi hỏi quá nhiều.

Việc bảo vệ Huế giờ đây không quan trọng bằng sự bảo toàn lực lượng sư đoàn 1. Thiệu cho phép tướng Trưởng giữ Huế được lâu chừng nào tốt chừng đó cốt để cho sư đoàn 1 đủ thời gian rút vào bảo vệ Đà Nẵng. Việc rút quân có thể bằng đường bộ hoặc đường biển. Tuỳ tướng Trưởng quyết định thời điểm nào thì chịu mất Huế.

Ngay đêm hôm gặp tướng Trưởng, Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình quốc gia đọc một bài diễn văn dài 4 phút, thừa nhận đã “mất” Ban Mê Thuột nhưng không đả động gì đến tình hình ở Huế và Đà Nẵng. Tổng thống Thiệu cho biết quân đội Bắc Việt mới điều thêm vào miền Nam 5 sư đoàn để bổ sung cho 13 sư đoàn của họ có sẵn.

Sáng hôm sau, Ngô Quang Trưởng từ Đà Nẵng điện thoại cho Thiệu đề nghị không cho truyền hình quốc gia phát vội băng video đã ghi sẵn lời tuyên bố của Trưởng thề thà chết để bảo vệ thành phố Huế. Tướng Trưởng đề nghị băng video đó chỉ được phát vào thời điểm mà ông ta điện về xác nhận là thích hợp.

Mặc dù đã đồng ý đề nghị này của Ngô Quang Trưởng 8 giờ tối hôm sau, Tổng thống thiệu vẫn cho phát băng video đó trên truyền hình quốc gia. Khán giả màn ảnh nhỏ thấy Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh quân khu 1 thề rằng bản thân và đơn vị của ông ta sẽ bảo vệ Huế đến người cuối cùng. Trong khi đó, các đơn vị quân đội Bắc Việt tấn công tổng lực dồn dập vào thành phố Huế.

Sáng 24/3 toàn bộ sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn vứt bỏ vũ khí, cùng gia đình ra bãi biển để lên tàu thuyền chạy vào Đà Nẵng. Sáng 25/3, Chính quyền Sài Gòn công bố Huế thất thủ. Vài giờ sau, Tổng thống Thiệu thay một loạt bộ trưởng, tướng lĩnh chỉ giữ lại những người tin cậy nhất của ông ta như Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Tướng Cao Văn Viên…

Làn sóng người di tản từ Huế chạy vào Đà Nẵng làm tình hình thêm rối trong lúc quân đội Bắc Việt ngày một tăng cường hỏa lực vào thành phố lớn nhất miền Trung này khiến cho Đà Nẵng không thể cưỡng nổi sự sụp đổ. Ngày Chủ nhật 30/3, Phó Thủ tướng Chính quyền Sài Gòn Phan Quang Dân chính thức thừa nhận tại cuộc họp báo buổi sáng rằng Đà Nẵng đã thất thủ.

(Còn nữa)

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn