Thư viện

Chuyện kể của những phóng viên ảnh có mặt tại Sài Gòn trong ngày 30/4

Ngày 30/4/1975 mãi mãi là thời khắc đáng nhớ trong lịch sử Cách mạng Việt Nam. Hồi ức về những ngày tháng không thể nào quên ấy luôn theo suốt cuộc đời nhiều người, trong đó có những phóng viên ảnh – những người đã trực tiếp cầm máy ghi lại khoảnh khắc lịch sử hào hùng của dân tộc…

** Phóng viên Đinh Quang Thành: 30/4/1975 là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời làm báo của tôi

Nhớ về những ngày tháng ấy, ông Đinh Quang Thành, nguyên phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam kể lại: “Sau hơn 1 tháng rong ruổi theo các đoàn quân giải phóng suốt từ Bắc vào Nam, rạng sáng ngày 30/4/1975, tôi cùng tổ phóng viên “mũi nhọn” theo một mũi tiến quân của Sư đoàn 304 hành tiến vào Sài Gòn. Xa lộ Biên Hòa – Sài Gòn đầy lửa đạn, tới đầu cầu Thị Nghè tôi nhảy xuống đường nhưng không sao chụp được ảnh vì bà con hai bên đường ùa ra tặng quà, đành chạy vội về xe tiếp tục tiến về Dinh Độc Lập.

Cùng với Lữ đoàn tăng 203 vào Dinh Độc Lập, với phản xạ nghề nghiệp tôi mải miết chụp tất cả những gì diễn ra trong thời khắc đó: các xe tăng số 390, 843 án ngữ trước thềm Dinh Độc Lập; các binh sĩ, sĩ quan quân đội Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện, các thành viên chính quyền Sài Gòn khai báo tại tầng hai Dinh Độc Lập…

Sau khi ở Dinh Độc Lập chứng kiến những giây phút cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, tôi đã hòa mình vào không khí sôi động của người dân Sài Gòn mừng ngày đất nước hoàn toàn thống nhất. Ngày 30/4/1975 là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời làm báo của tôi”…

Lữ đoàn 203 chiếm Dinh Độc lập (ảnh: Đinh Quang Thành)

Trong cuốn sách “Ảnh Việt Nam thế kỷ XX” của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, trong đó có bức ảnh Nhân dân thành phố Sài Gòn đón chào quân giải phóng in tràn hai trang 204 và 205. Đó là một bức ảnh rất hoành tráng chụp một đoàn xe chở quân giải phóng đi giữa rừng người. Những gương mặt trong ảnh đều rạng rỡ, tươi vui. Hàng ngàn cánh tay đang vẫy chào đoàn quân chiến thắng. Bức ảnh đó là của một phóng viên quân đội tăng cường cho Thông tấn xã Việt Nam, người đã từng với phóng viên Đinh Quang Thành rong ruổi trên những chặng đường dài và có mặt ở Sài Gòn vào thời khắc đặc biệt của ngày 30/4 – phóng viên Hứa Kiểm.

Nhớ về sự kiện lịch sử trọng đại này, phóng viên Hứa Kiểm kể trong xúc động: “Tôi chụp ảnh này buổi sáng 30/4/1975 trên đường từ cầu Sài Gòn đến cầu Thị Nghè. Trước đó, từ rừng cao su Xuân Lộc về căn cứ Nước Trong, chúng tôi nhập với bộ binh cơ giới của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 Quân đoàn 2.

Trận Nước Trong cực kỳ ác liệt, đó là một trường sĩ quan tăng thiết giáp, quân địch dùng xe tăng kết hợp với địa hình chống trả ác liệt. Sáng 29/4, quân ta chiếm được Nước Trong, thế là cứ băng băng về Sài Gòn thôi. Để chụp tấm ảnh này, tôi đứng trên thùng một xe tải chụp về phía sau, qua ống kính 35mm của chiếc máy Pentax, tôi thấy những người dân ôm chầm lấy bộ đội, tất cả đều tung hô, vẫy chào, ai cũng kiễng chân để sờ được vào tay các chú bộ đội trên xe. Ông Đinh Quang Thành (PV TTX Việt Nam) nhảy xuống đường chụp ảnh liền bị bà con bế bổng, tung hô ầm ầm. Nhưng không may cho tôi, đến cầu Thị Nghè, một chiếc xe tăng bị cháy làm tắc đường, nên tôi vào Dinh Độc Lập trễ mất ít phút…”.

Hiện giờ, tất cả những tác phẩm ảnh của ông Hứa Kiểm đều được lưu trữ trong tư liệu của TTXVN.

** PV Đậu Ngọc Đản: Điều may mắn lớn trong đời tôi

Cùng chung cảm xúc, nhà báo Đậu Ngọc Đản – nguyên phóng viên chiến trường của Tổng cục Chính trị đã thốt lên: “Đó là điều may mắn lớn của đời tôi” khi nhớ lại những ngày tháng bám cùng các đội quân vượt qua bao gian lao thử thách, lửa đạn để có mặt ở Sài Gòn vào đúng ngày 30/4 lịch sử. Ông tâm sự: “Hồi đó tôi mới 24 tuổi, là phóng viên mang quân hàm Thiếu uý của Tổng cục chính trị. Vào Sài Gòn khi đó có rất nhiều phóng viên báo chí trong và ngoài nước nhưng có người vào muộn, có người vào sau vì nhiều lý do khác nhau.

Sở dĩ tôi có mặt tại Dinh Độc Lập vào sáng ngày 30/4/1975 để chứng kiến cảnh Tổng thống Dương Văn Minh bị bắt là bởi tôi có 2 may mắn lớn đó là: Tôi là phóng viên của quân đội, lại được đi theo tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn xe tăng 203, là cánh tiến thẳng vào Sài Gòn. Trong đó, chiếc xe tăng thứ 4 mà tôi được đi cùng là chiếc tiến vào Dinh Độc Lập.

Khi quân giải phóng tiến vào Dinh, tôi cũng đã nhanh tay chụp được bức hình Trung uý Phạm Xuân Thệ đưa Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng. Khi chụp xong bức hình này, trong đầu tôi chỉ nghĩ đến việc làm thế nào đó để nhanh chóng đưa nó về Hà Nội để kịp thời đưa tin đến nhân dân cả nước. Vì thế mà tôi không đến Đài Phát thanh để chứng kiến những gì xảy ra ở đó nữa…

Nữ biệt động thành Trung Kiên (ảnh: Đậu Ngọc Đản)

Trên đường ra sân bay Tân Sơn Nhất để về Hà Nội, tôi lại gặp một may mắn nữa khi hình ảnh nữ biệt động thành Trung Kiên (tên thật là Cao Thị Nhíp) được giao nhiệm vụ dẫn đường cho xe tăng của quân đoàn 3 vào Sài Gòn. Đó là một bức ảnh đẹp của tôi và được nhiều người biết đến.

Khi vào Sài Gòn, cảm giác của tôi giống như một cậu học trò ở quê lần đầu ra tỉnh vậy. Đó là một thành phố phồn hoa đô hội nên chúng tôi không tránh khỏi sự ngỡ ngàng. Nhưng với tâm thế của người chiến thắng nên tự nhiên cũng thấy tự tin hơn. Đang tác nghiệp nhưng chính chúng tôi cũng muốn hoà mình vào không khí chiến thắng ấy vì thấy người dân miền Nam ai cũng niềm vui ngập tràn trên khuôn mặt, không khí rộn ràng vô cùng…”

Phóng viên Phạm Kỳ Nhân: Tôi tự hào góp phần nhỏ bé của mình

Vào thời khắc 13h30 ngày 30/4/1975, khi Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài Phát thành Sài Gòn, có một nhà báo Việt Nam và là người duy nhất chộp được bức hình lịch sử đó. Ông là nhà báo Phạm Kỳ Nhân (bút danh Kỳ Nhân), phóng viên của Hãng AP tại Sài Gòn khi đó. Ông nhớ lại:

“Tôi túc trực tại Dinh Độc Lập bắt đầu từ ngày 28/4 vì thấy lúc này tinh thần của chính quyền ngụy đã rệu rã lắm rồi. 10h sáng ngày 30/4, tôi vào Dinh Độc Lập để tiếp tục theo dõi những diễn biến trong nội các của Dương Văn Minh. Cùng có mặt trong Dinh lúc đó với tôi còn có nhà báo Tây Đức Borries Gallasch. Lúc đó, ngoài Dinh một vài lính Lôi Hổ đang tụ tập trong sân, vứt súng, quân phục xuống đất và có những hành động phản đối việc Tổng thống có ý định đầu hàng quân giải phóng. Ở trong Dinh, Tổng thống và ông Vũ Văn Mẫu lúc đó đều không có vẻ buồn của người thua trận. Trái lại, tôi thấy họ rất vui và tâm trạng thì rất bồn chồn chờ quân giải phóng vào để bàn giao chính quyền.

Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng ở Đài Phát thanh Sài Gòn (ảnh: Phạm Kỳ Nhân)

Khi quân giải phóng vào và đưa Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng, tôi đã dùng xe riêng của mình để chở các ông Cả và Lâm (họ đều không đeo quân hàm) đến Đài Phát thanh. Lúc đó các nhà báo chỉ có tôi và Borries Gallasch nhưng nhà báo này chỉ ghi âm thôi chứ không chụp hình. Thấy đó là thời khắc quan trọng nên tôi đã chụp rất nhanh bức hình đó và gửi về Hãng AP (…). Rời Đài Phát thanh, tôi hoà vào dòng người của quân giải phóng để tiếp tục tác nghiệp. Trong đời làm phóng viên của mình, bằng những tác phẩm báo chí viết về chiến thắng 30/4 năm đó, tôi vô cùng tự hào vì mình đã đóng góp được một phần nhỏ bé để ghi lại những thời khắc lịch sử quan trọng của đất nước”./.

Nguyễn Thị Thọ

VOV News

Gặp những chiến sĩ xe tăng đánh chiếm Dinh Độc lập

Xe tăng giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập - Ảnh: tư liệu

(VOV) – 35 năm trước, những người lính xe tăng ấy đã làm nên kỳ tích đánh chiếm Dinh Độc lập, cắm cờ Chiến thắng trên nóc dinh, đặt dấu mốc chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới và tay sai ở miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/4/1975, trong đội hình đại quân thần tốc tiến về giải phóng Sài Gòn, các chiến sĩ Lữ đoàn 203 của ta đã dũng mãnh lái xe tăng thọc sâu vào Dinh Độc Lập, cơ quan đầu não của Ngụy quyền Sài Gòn, cắm cờ Chiến thắng và bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới và tay sai ở miền Nam Việt Nam. 35 năm sau, các chiến sĩ xe tăng anh hùng năm xưa trở lại Sài Gòn, nay là TP HCM, thăm lại chiến trường xưa, trong vòng tay trìu mến của đồng bào, đồng chí.

Sân bay Tân Sơn Nhất, buổi chiều một ngày tháng Tư đầy nắng với không khí sôi động kỷ niệm 35 năm ngày Chiến thắng lịch sử 30/4. Đã có một cuộc đón tiếp thật giản dị và xúc động do Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Việt Nam kết hợp với Hội trường Thống Nhất dành cho các cựu chiến sĩ xe tăng 390 và 843 thuộc lữ đoàn 203. Họ từ miền Bắc vào thăm lại thành phố.

Nếu đủ mặt thì 2 kíp xe phải là 8 người, rất tiếc trong số 4 người của kíp xe 843 thì một người đã mất, một người bị tai nạn hy hữu không vào được. Vậy là chỉ có 6 cựu chiến sĩ đi cùng các phu nhân. Trong đó, kíp xe 390 gồm đủ 4 anh: Vũ Đăng Toàn – nguyên Trung úy, trưởng xe; Nguyễn Văn Tập – nguyên Trung sĩ lái xe; Ngô Sĩ Nguyên – nguyên Trung sĩ, pháo thủ số 1; Lê Văn Phượng – nguyên Đại đội phó kỹ thuật, pháo thủ số 2. Kíp xe 843 có hai anh là Bùi Quang Thận – nguyên Trung úy, trưởng xe; Nguyễn Văn Kỷ – nguyên Hạ sĩ, pháo thủ số 2.

Hồi 11h30 trưa ngày 30/4/1975, xe tăng 390 do Trung úy kíp trưởng Vũ Đăng Toàn chỉ huy đã húc đổ cổng Dinh Độc Lập, dẫn đầu đoàn chiến xa giải phóng tiến vào khuôn viên Dinh. Trung úy kíp trưởng xe tăng 843 Bùi Quang Thận đã xông lên nóc dinh cắm cờ chiến thắng, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn.

Đại úy Vũ Đăng Toàn, nguyên Trung úy, chỉ huy xe tăng 390, chính trị viên đại đội 4, tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 kể lại: “Trưa ngày 30/4, khi đến trước cổng Dinh, tôi ra lệnh cho đồng chí Tập tông thẳng vào cổng Dinh, tiến vào trong sân. Khi thấy Đại đội trưởng Thận từ xe 843 cầm cờ chạy ra tôi liền cầm súng chạy theo hỗ trợ, xông thẳng lên dinh để cắm cờ”.

Nhiều chi tiết của trận đánh cuối cùng của các anh cũng được hồi tưởng rất thú vị. Trả lời thắc mắc vì sao anh Lê Văn Phượng, lúc đó là Đại đội phó kỹ thuật mà lại phải kiêm pháo thủ số 2 cho xe 390, anh Toàn cho biết đó là ở trận đánh vào căn cứ Nước Trong trước đó, đồng chí pháo thủ số 2 bị thương, nên anh Phượng vào thay. Rồi khi thấy xe 843 bị vướng trước cổng phụ vào Dinh, anh Toàn đã quyết đoán ra lệnh cho lái xe Nguyễn Văn Tập tông thẳng vào cổng chính của Dinh, mở toang cánh cửa cuối cùng vào sào huyệt kẻ thù, tạo điều kiện cho đoàn xe tăng ta tràn vào sân Dinh, bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn.

Cứ thế, bên những con ngựa sắt 390 và 843 năm xưa, các anh bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm không bao giờ quên trong những ngày tháng Tư rực lửa 35 năm trước ấy. Đó là lý do dễ hiểu vì sao mà vừa ra khỏi sân bay, các anh đã nôn nóng bày tỏ nguyện vọng về ngay Dinh Độc Lập.

Lần trở lại này, các cựu binh xe tăng sẽ tham gia các hoạt động lớn của Hội trường Thống Nhất, như tham dự lễ khai mạc phòng trưng bày chuyên đề: Từ Hiệp định Paris đến chiến dịch Hồ Chí Minh; giao lưu với các em học sinh dự thi tìm hiểu chiến dịch Hồ Chí Minh và di tích Dinh Độc Lập; thăm Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Việt Nam …

Đại tá Bùi Quang Thận, nguyên Trung úy, trưởng xe tăng 843, Đại đội trưởng đại đội 4, tiểu đoàn 1, lữ tăng 203, quân đoàn 2 cho biết: “Mỗi lần vào thăm thành phố, lần gần nhất là Tết Nguyên đán Canh Dần vừa rồi, tôi thấy thành phố đổi mới và đi lên từng ngày, cả về kinh tế, văn hoá…”.

Đã qua rồi những năm chiến trận. Trong không khí thanh bình hôm nay ở Thành phố mang tên Bác, các cựu chiến binh và người thân sẽ có dịp chứng kiến sự đổi thay của thành phố, chia sẻ niềm vui và tự hào với đồng chí, đồng đội, những người đã đi suốt cuộc chiến tranh 35 năm đến ngày toàn thắng./.

Hồng Hải

VOV News

Địch quyết định bỏ Trị – Thiên – Huế về giữ Đà Nẵng

Ngày 19-3-1975, các lực lượng địa phương Quảng Trị nắm kịp thời cơ chuyển sang tiến công giải phóng thị xã và toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Địch co về phòng thủ tuyến Nam sông Mỹ Chánh.

Cùng ngày tại Sài Gòn, bộ sậu của Thiệu và Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu 1 tiếp tục bàn việc bỏ hay giữ Quân khu 1 (cuộc họp đã bị bỏ dở vào ngày hôm trước tại Đà Nẵng).

Phương án Trưởng đưa ra được Thiệu chấp thuận là tổ chức 3 điểm phòng thủ để cầm cự là Huế, Đà Nẵng và Chu Lai. Tuy nhiên, sau đó, địch nhận thấy không đủ sức giữ cả Huế và Đà Nẵng nên Thiệu chỉ đạo cho Trưởng đóng chốt tại tuyến Hải Vân.

Như vậy, địch đã quyết định bỏ Trị – Thiên – Huế về giữ Đà Nẵng. Nhân thời cơ này, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị Quân đoàn 2 của ta nhanh chóng cắt đường số 1, không cho địch kéo về co cụm tại Đà Nẵng. Quân khu Trị – Thiên và Quân đoàn 2 đánh chặn và tiêu diệt Sư đoàn 1 của ngụy.

Tiểu đoàn 5 hải quân rải mìn và đưa lực lượng xuống chặn cửa Thuận An. Các lực lượng bao vây thành phố Huế.

Trong thời điểm này tại Tây Nguyên ta tiếp tục truy kích địch và giải phóng các tỉnh Tây Nguyên.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Chúng tôi là Việt cộng (kỳ cuối)

Cảnh sát trưởng 24 giờ

TT – Vào những ngày cuối tháng 4-1975 có thêm một ông Việt cộng nữa lộ diện và hành động. Đó là luật sư Triệu Quốc Mạnh. Ông được bổ nhiệm làm “cảnh sát trưởng Sài Gòn – Gia Định”. Lúc đó không ai biết ông là một đảng viên cộng sản…

Ông Triệu Quốc Mạnh kể về 24 giờ làm cảnh sát trưởng của mình

Ba chọn một

Tôi trình diện ông Dương Văn Minh ngay ngày ông nhậm chức tổng thống. Tôi còn nhớ buổi trình diện vào ban đêm, tại dinh Hoa Lan. Phòng họp lúc đó khoảng 25 người. Khi tôi bước vô thì có tiếng nói “ông Mạnh tới kìa”, ông Minh quay lại, biểu tôi “đi tới đằng kia đi”, tôi nghĩ chắc là để ổng… coi tướng. Ông Minh nói “tướng như vầy mới trị tụi nó được”.

Ngay sau đó ông Dương Văn Minh kêu tôi qua ngồi gần. Ông Minh có đặc điểm luôn luôn để một cái ghế trống bên tay trái mỗi khi ổng ngồi trước một cái bàn dài. Khi tôi ngồi kế bên rồi, ông Minh nói với mọi người: “Thôi anh em làm việc tiếp đi”, rồi che bàn tay trước mặt, lấy mảnh giấy viết mấy dòng: bộ tư lệnh cảnh sát, cảnh sát Sài Gòn – Gia Định, đô trưởng.

Tôi nhanh trí hiểu ra và khoanh ngay dòng chữ “cảnh sát Sài Gòn – Gia Định”. Ông Minh nói “hay nhứt, hay hơn hết”, rồi lấy viết gạch nhẹ dòng chữ “bộ tư lệnh cảnh sát”. Tôi không hiểu, mãi sau này tôi mới biết là trong suy nghĩ của ông Minh lúc này thì vị trí bộ tư lệnh cảnh sát không cần nữa. Sau đó ông xé nát mảnh giấy.

Tôi biết rằng đưa tôi lên làm cảnh sát trưởng là điều không dễ, bởi nếu đưa một người trong giới cảnh sát lên làm chỉ huy thì được, đưa quân đội qua làm cũng được, nhưng đưa một luật sư lên làm cảnh sát thì hơi khó, nói chưa chắc họ nghe.

Trước khi ông Minh nhậm chức nửa tháng, ông đã có chủ ý phải tìm một người nắm cảnh sát chứ không phải đơn thuần là thay Trang Sĩ Tấn. Điều kiện của ông Minh là tìm được một người trong sạch, không tai tiếng, nắm vững luật và cho ông Minh đích thân… coi tướng trước. Chắc ông Minh là người hay coi tướng rồi mới bổ nhiệm.

Tôi được ông Trần Ngọc Liễng giới thiệu với ông Dương Văn Minh hai tuần trước khi ông Minh làm tổng thống. Lúc này anh em dân biểu đối lập tán thành, tín nhiệm tôi. Tôi còn nhớ khi đang ngồi ở tòa Gia Định, giáo sư An Cư – dạy Văn khoa Cần Thơ – đến nói với tôi rằng “chắc chắn tình hình này sẽ thay tổng thống (ông Hương), ông Minh muốn mời anh Mạnh giữ vị trí chỉ huy cảnh sát…”.

Tôi nói ngay: “Không, không đâu bác Cư, không bao giờ tôi nhận”. Nhưng sau đó tôi chạy ra nhà ông Liễng, nói với ổng là “tui không tin ai hết, ngoài ông ra, những người khác tôi ngại lắm, cho nên ông làm ơn nói với đại tướng là tôi nhận”.

Đến sáng 29-4 tôi mới chính thức nhận chức, nhưng thật ra nhiệm vụ thì tôi nhận trước đó từ mấy ngày rồi. Đại tá Lâm Chánh Nghĩa đi tìm cho tôi bộ sắc phục để chỉ huy ngay, nhưng loay hoay thế nào vẫn không tìm ra. Tôi chỉ có chiếc áo trắng nhưng không có cặp lon tướng. Ông Dương Văn Minh nói với tôi đeo cà vạt vô là được. Đại tá Nghĩa lật chiếc phù hiệu sao vàng trên chiếc xe tướng lên, như vậy là đi chỉ huy được rồi.

Tôi vào Đảng năm 1966, kết nạp tại mật khu Gò Đen, tỉnh Long An. Lúc đó việc vô khu để kết nạp Đảng mới là cái khó của tôi.

Thời đó làm sao vô khu được, một thẩm phán của chính quyền Sài Gòn đâu thể tự do đi về vùng cách mạng, huống hồ là vô khu.

Tôi nghĩ phải làm công tác chuyên môn cho thật tốt, rồi xin nghỉ phép mới có thể đi được vài ngày. Tôi làm bản đóng góp ý kiến về tòa án lưu động trong kế hoạch bình định.

Bản góp ý đó được đánh giá cao và tôi được nghỉ phép. Thế là tôi vô khu. Người giới thiệu tôi vô Đảng là ông Năm Hà, tức là Phạm Văn Diêu.

Người thứ hai giới thiệu tôi là Châu Long – bí thư chi bộ của mật khu Gò Đen. Châu Long bệnh chết tại trại số 7 – Côn Đảo trước giải phóng.

Sau khi kết nạp tôi, anh Tám Võ dẫn tôi về chiến khu Phong Thạnh ở Bến Tre, anh nói: “Mạnh ơi, tôi được lệnh điều ông lên gặp mấy ông ở trên”, lúc đó tôi mới gặp ông Dương Quang Trung.

Như vậy là tôi từ cánh thanh niên vũ trang thuộc Khu đoàn Sài Gòn – Gia Định được bắt liên lạc với cánh trí vận của ông Dương Quang Trung.

Không nổ súng và án binh bất động

Tôi bắt đầu nhận nhiệm vụ chỉ huy trưởng cảnh sát quốc gia Sài Gòn – Gia Định. Khi bổ nhiệm tôi thì đài BBC có loan tin nhiều lần. Việc đầu tiên của tôi là trấn an mấy “hung thần” cảnh sát.

Tôi nói: “Tôi được lệnh của tổng thống, đến đây chỉ huy mấy anh và báo cho mấy anh biết là khả năng thương thuyết tại trại David là 60%, cho nên bây giờ nhất cử nhất động là mấy anh phải nghe tôi, đây là thời chiến”.

Sau khi triệu tập các chỉ huy cảnh sát lên phổ biến như vậy, tôi ra lệnh giải tán các lực lượng F – lực lượng cảnh sát đặc biệt. Và tôi ra một lệnh nữa: “Kể từ giờ phút này, nếu bắt được bất kỳ một cán binh Việt cộng nào thì đều giao cho tôi giải quyết, vì lý do: nhu cầu thương lượng”. Tôi nói điều này với khoảng 10 chỉ huy trưởng cảnh sát của các quận.

Tới đây thì tôi bắt đầu thấy căng thẳng. Có điều mọi người tin và chấp hành lệnh. Tôi kêu đại tá Lâm Chánh Nghĩa đi lập danh sách tất cả tù chính trị hiện đang biệt giam, với lệnh là “không được thiếu một người”.

Trong khi kêu Nghĩa đi lập danh sách tù, tôi giành lấy quyền điều khiển đài tác chiến. Bên cạnh tôi lúc bấy giờ còn một đại úy ghi tin điện các quận đưa lên, lúc này tin đưa lên liên tục.

Ngồi vào vị trí chỉ huy tác chiến qua đài, tôi lên tiếng: “Giờ này, các anh phải nghe lệnh tôi, phải bảo toàn lực lượng tối đa”. Như vậy là hơi khác lúc nãy, khi mà đại tá Nghĩa cứ “bắn, bắn đi” liên tục.

Từ khi giành đài điều khiển, tôi cứ lệnh phải bảo toàn lực lượng, không được nổ súng trước, cứ lệnh như vậy hoài. (Mãi đến sau này tôi gặp được một bác tên Nguyễn Hữu Thiện nhà ở đường Nguyễn Thiện Thuật nói lại rằng: “Mạnh ơi, ở trong nhà “moa” nghe tụi cảnh sát ngoài đường chửi: Đ.M, chỉ huy cái gì kỳ vậy”).

Bởi vì các đơn vị cảnh sát lúc đó liên hệ với nhau đòi chi viện, nhưng tôi lệnh “án binh bất động, bảo toàn lực lượng tối đa, đây là giờ thương thuyết, không được nổ súng”. Thỉnh thoảng có đơn vị đòi điều binh thì tôi vẫn lệnh án binh bất động, không được nổ súng trước. Đài chỉ huy lúc đó chỉ huy hết toàn bộ lực lượng cảnh sát của Sài Gòn – Gia Định, tổng cộng khoảng 17.000 quân. Sau này tôi không ngờ con số quân lớn như vậy.

Khi đại tá Nghĩa đưa lên danh sách tù chính trị, tôi liếc qua chứ không có thì giờ đếm, chỉ hỏi: “Đủ chưa?”. Nghĩa nói: “Dạ, còn một số người ở dưới an ninh quân đoàn 4 mượn, một số thì an ninh quân đội ở đây mượn”. Tôi lệnh: “Chuẩn bị thả hết những người này”. Tôi đọc cho đại tá Nghĩa viết lệnh. Lúc đó đại tá Nghĩa quì một chân viết trên một cái bàn thấp vì trong phòng chỉ huy chật quá. Tổng số khoảng 300 người. Tôi trực tiếp xuống kiểm tra lúc thả tù.

Lúc đó, Nguyễn Khắc Bình bên bộ tư lệnh cảnh sát đã chạy mất rồi. Khi thả tù xong rồi thì Lâm Chánh Nghĩa dao động, xin phép tôi về thăm gia đình một chút. Trong bụng tôi mừng quá vì loại được cha này. Biết là Nghĩa sẽ chuồn luôn nhưng tôi vẫn dặn: “Đại tá về, nhớ trở lại nghen”.

Sau khi thả hết tù chính trị, tôi lên chiếc xe Jeep đặc biệt và chỉ huy qua đài tác chiến trên xe. Lúc đó, kỹ sư Nguyễn Ngọc Hồ, là cơ sở cách mạng, đến gặp tôi, nói “mấy ổng sợ anh bị tụi nó giết rồi không ai cho mấy ổng hay”. Tôi kêu ông Ngọc Hồ lên xe Jeep chỉ huy lưu động luôn. Tôi hét: “Không nổ súng! Án binh bất động…” một hồi thì mệt quá, kêu ông Hồ hét chỉ huy phụ. Thật ra là cũng chỉ ra lệnh án binh bất động, bảo toàn lực lượng, không được nổ súng trước. Vậy thôi.

Tới xế chiều, tôi sực nhớ, vội ra lệnh cho cận vệ: “Mấy anh xuống bịt cái sao tướng của chiếc xe lại, chớ lúc này bị bắn một quả thì chết tui”. Sau đó tôi quay về gặp ông Dương Văn Minh để báo cáo: “Bác Hai à, cháu mới thả anh em tù rồi”. Ông chỉ nói: “Thả hết rồi hả?”.

Tới chiều, nghe lệnh xin thưa thớt, tôi quay lại nói với ông Hồ: “Vậy là tiêu rồi đó!”. Sau đó, tới xế chiều thì thấy quần áo cảnh sát, quần áo quân đội lột bỏ gốc cây cũng hơi nhiều. Đến tối thì lệnh chỉ còn xin lẻ tẻ. Tôi cho anh em lính cận vệ về với gia đình, nhưng yêu cầu để súng lại, để cả chiếc xe Jeep chuẩn tướng của tôi lại đằng sau dinh Hoa Lan.

Đêm 29-4 thật căng thẳng. Đó cũng là đêm cuối cùng của chiến tranh. Tôi không dám về nhà, vì sợ cảnh sát bực bội có khả năng “thịt” mình, hơn nữa bên cách mạng không nhận ra cũng có thể “thịt” cảnh sát trưởng luôn. Tôi phải qua tá túc ở một ngôi nhà trên đường Kỳ Đồng.

TRIỆU QUỐC MẠNH
B.T. – LAM ĐIỀN ghi
tuoitre.vn

————–

Tin, bài liên quan:
– Kỳ 3: Đường đến với “phía bên kia”
– Kỳ 2: Thời khắc lịch sử
– Kỳ 1: Trở lại Sài Gòn

Tuổi trẻ Online

Chúng tôi là Việt cộng (kỳ 3)

Đường đến với “phía bên kia”

TT – Thời thơ ấu có một quãng dài tôi sống với ông nội. Ông là một nhà nho đã học tới Tứ thư, Ngũ kinh và thường nhắc đi nhắc lại với con cháu rằng “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

Quyết định tặng thưởng huân chương Thành đồng cho ông Nguyễn Hữu Hạnh

Ông “thận trọng”

Có lẽ tôi chịu ảnh hưởng của ông mà trong suốt thời gian trong quân ngũ, tôi bao giờ cũng tìm mọi cách để giảm tối đa những chết chóc xảy ra cho người dân.

Tôi còn nhớ khi Nguyễn Văn Minh (tức Minh “nhỏ”, để phân biệt với ông Dương Văn Minh là Minh “lớn”) giữ chức tư lệnh sư đoàn 21, đã kêu tôi từ Trường võ bị Đà Lạt trở về để làm tư lệnh phó. Lúc này tôi đang dạy các môn quân sự, nhưng vì tôi có bệnh viêm cổ họng, không chịu được thời tiết trên Đà Lạt nên đồng ý về làm phó cho Minh “nhỏ”.

Tuy nhiên, tôi hết sức bất bình vì những lệnh hành quân của tay tư lệnh sư đoàn này. Cứ trước mỗi đợt hành quân, Minh “nhỏ” làm “lệnh hành quân” bằng cách vẽ những chỗ ngã ba ngã tư cho máy bay Mỹ đi bỏ bom trước. Mà tôi là tư lệnh phó, có khi tôi phải đi chỉ huy. Tôi thường hỏi các binh sĩ là “anh em tới gặp ai chết?”, anh em trả lời: “Chỉ là ông già, trẻ con…”. Toàn bỏ bom trúng dân.

Sau đó ngồi nói chuyện với Minh “nhỏ”, tôi nói thẳng: “Chắc có lẽ tôi khó ở đây lâu với ông vì tôi thấy chết chóc nhiều quá, tôi không thích, tôi chịu không nổi”. Minh “nhỏ” nói với tôi câu này: “Tôi nghĩ đại tá không phải là Việt cộng đâu, nhưng có lẽ vì đạo đức mà đại tá nói với tôi như vậy”. Tôi cũng không biết Minh “nhỏ” có nghi tôi là Việt cộng hay không.

Sau khi rời sư đoàn 21, tôi về làm tư lệnh mật khu 44, cai quản các tỉnh miền Tây dọc biên giới VN – Campuchia. Lúc này tôi trực tiếp làm việc với các cố vấn Mỹ trong những cuộc hành quân. Chủ trương của tôi đưa ra là phải thận trọng tối đa khi nổ súng. Khi Mỹ hỏi tôi chủ trương dùng trực thăng võ trang như thế nào, tôi trả lời: “Không phải đụng đâu bắn đó mà phải hết sức thận trọng”. Vì thế nên tụi Mỹ kêu tôi là ông “thận trọng”.

Thời gian tôi làm tư lệnh biệt khu 44, cố vấn Mỹ có lần đề nghị tôi cho phép bỏ bom B52 vô mật khu của Việt cộng ở Cao Lãnh, nằm trên đường vô Mỹ An. Tôi không đồng ý. Lúc đó có qui định là muốn B52 bỏ bom chỗ nào thì phải có ý kiến đồng ý của tư lệnh. Tôi nói với các cố vấn Mỹ: “Tôi đã bay trên đó, thấy nhà cửa dân chúng ở nhiều quá, không thể giết người ta được, bởi vì họ là thường dân”. Tôi nghĩ vấn đề là ở chỗ lương tâm con người, tôi không là gì cả nhưng lương tâm tôi không cho phép tôi làm vậy.

Năm 1970, Trung ương Cục miền Nam có quyết định thành lập “đội vận động sĩ quan” và tôi được cử làm đội trưởng.

Đội này có hai nhiệm vụ: cài người của ta vào trong lòng địch và vận động sĩ quan của quân đội Sài Gòn về với ta. Lúc này bên binh vận đề xuất xin anh Sáu Rép về với đội, vì biết anh Sáu Rép có bà con với Nguyễn Hữu Hạnh.

Nhưng Sáu Rép nói chỉ có thể nhờ ông Tám “vô tư” thôi. Và sau đó Sáu Rép nhờ mẹ của mình đi móc nối với Tám “vô tư”, lúc này ở đường Tôn Đản, quận 4.

Lúc đầu chúng tôi có đề nghị ông Hạnh gặp tôi, nhưng ông từ chối, chỉ đồng ý gặp Tám “vô tư” thôi. Và chúng tôi đã hoạt động hiệu quả từ đầu những năm 1970 cho đến ngày giải phóng.

Đội vận động sĩ quan lúc bấy giờ hoạt động rất có hiệu quả, chính chúng tôi đã bắt liên lạc với phi công Nguyễn Thành Trung.

Trường hợp Nguyễn Hữu Hạnh là một trong những thành công của công tác nội tuyến của Trung ương Cục miền Nam thời kỳ chống Mỹ.

LÊ QUỐC LƯƠNG (Bảy Lương)

Người có bí số 705

Bây giờ nghĩ lại tôi mới nhận thấy cuộc đời tôi sau này gắn liền với người bác họ tên Nguyễn Tấn Thành, thường gọi là Tám “vô tư” (ông Nguyễn Tấn Thành là cha của ông Nguyễn Tấn Phát, thứ trưởng Bộ GD-ĐT, giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM).

Năm 21 tuổi, lúc này Cách mạng Tháng Tám thành công, bác Tám “vô tư” lo về quân sự phụ trách mặt trận Kinh Xáng, và tôi lúc đó làm thư ký cho thôn bộ Việt Minh tại xã Phú Phong quê tôi. Tuy nhiên, sau đó tôi lưu lạc lên Sài Gòn tìm việc làm. Trong thời gian chưa tìm được việc, tôi gia nhập quân đội Pháp và cuộc đời đã chuyển sang một hướng khác.

Năm 1956, khi tôi đang trên đường tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu ở miền Tây thì được tin bác Tám “vô tư” bị bắt, giam ở bót Catinat. Người thông báo cho tôi vụ ông Tám “vô tư” bị bắt là ông Lung – đại tá, trưởng phòng phản gián quân khu 1. Đây là một chuyện lạ.

Ông Lung biết tôi quen với Trần Bá Thành – giám đốc Công an Nam Việt – thì có thể xin cho ông Tám ra được. Tôi viết thư cho ông giám đốc Công an Nam Việt “mượn” ông Tám “vô tư” với lý do “để khai thác thêm”, vì ông Tám là người Mỹ Tho – thuộc địa bàn chiến dịch. Tôi “mượn” ông Tám nhưng ông giám đốc này “cho” tôi luôn. Tức là tôi toàn quyền quyết định về ông Tám.

Tôi tự tay ký lệnh thả ông. Tôi đợi hết chiến dịch rồi mới thả vì lúc này Diệm đem máy chém đi khắp nơi, không an toàn. Cũng do tôi giữ lại đến hết chiến dịch mà ông Tám “vô tư” bị mất Đảng. Ông mất Đảng vì bị nghi là quan hệ với tôi. Tôi biết ông khổ lắm (sau giải phóng, ông Tám “vô tư” được phục hồi công trạng và được kết nạp Đảng lại).

Năm 1958, lúc tôi đi học ở Mỹ thì ông Tám bị bắt một lần nữa, đưa giam tại trại Phú Lợi. Lúc tôi về, cũng ông Lung cho tôi hay. Lúc này tôi không thể nói với ông trưởng trại để thả ông Tám ra được. Tôi bèn nói với ông đại tá Nguyễn Văn Y, tổng giám đốc các trại cải huấn, cũng là bạn của tôi, rằng “khi nào được” thì thả ông Tám ra.

Từ sau khi được thả lần này, ông Tám “vô tư” thường lui tới chỗ tôi với nghĩa bác cháu. Mà cách mạng cũng khéo, đưa một người nặng tình nghĩa tới, nếu tôi không chịu thì tôi cũng không bắt ông. Đầu tiên ông chỉ ra cho tôi thấy những chỗ sai của bọn Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cứ dần dần như thế, rồi tôi cũng từ từ nhận ra.

Rồi đến khi đã chín muồi, ông Tám nói có ý định móc nối tôi theo cách mạng. Có lần ông Tám còn đề nghị tôi vô khu nữa. Nhưng tôi nói gia đình tôi đông lắm, tôi không đi được. Mà tôi ở đây có khi còn tốt hơn. Tính từ năm 1959 đến 1975 thì thời gian đi lại của ông Tám với tôi rất lâu dài. Có lẽ cũng vì ông bị mất Đảng mà việc đi lại với tôi có dễ dàng hơn, tôi nghĩ vậy. Hoạt động của tôi phần nhiều là cung cấp thông tin về những vấn đề chiến lược.

Tuy nhiên, tôi chỉ đồng ý gặp một mình ông Tám thôi, ngoài ra không gặp bất kỳ ai là người của cách mạng cả. Ở trong khu có đặt cho tôi một bí số mà mãi sau ngày giải phóng khi nhận huân chương Thành đồng tôi mới biết, vậy thôi (ông Nguyễn Hữu Hạnh có bí số 705).

Sau giải phóng, khi tôi giới thiệu ông Tám “vô tư”, ông Dương Văn Minh nói “đến bây giờ mới biết là người của cách mạng”. Và cũng mãi đến lúc này tôi mới biết phía binh vận của Trung ương Cục miền Nam làm việc với ông Tám là đồng chí Bảy Lương.

Chức vụ chỉ huy trưởng cảnh sát quốc gia Sài Gòn – Gia Định ngày 29-4-1975 đã nằm trong tay một đảng viên cộng sản – LS Triệu Quốc Mạnh. Và ông đã làm gì?

NGUYỄN HỮU HẠNH
B.T. – LAM ĐIỀN ghi

Viên phi công nào đây?

Đó là Nguyễn Thành Trung, sĩ quan không quân quân đội Sài Gòn. Đây là bức ảnh được chụp vào tháng 4-1975, sau khi anh cùng phi đội Quyết Thắng ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.
“Tổ chức đã làm mọi cách để đưa tôi vào lực lượng không quân của quân đội Sài Gòn với chỉ thị phải trở thành phi công giỏi và chờ đến ngày hành động.

Và thời cơ đến vào ngày 8-4, khi chúng tôi có lệnh đi ném bom ở Phan Rang. Tôi đã làm động tác lừa viên chỉ huy phi đội và cả đài chỉ huy trong khoảng 10 giây ngắn ngủi trước lúc xuất phát để quay về ném bom xuống dinh Độc Lập.

Sau khi ném bom làm rúng động Sài Gòn, tôi bay ra Phước Long, sau đó được bí mật đưa ra Đà Nẵng để tập huấn cùng các phi công quân đội nhân dân VN trong một phi đội máy bay A37. Và đến ngày 28-4-1975, chúng tôi lại cất cánh từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) vào ném bom khu vực để máy bay và bom đạn của sân bay Tân Sơn Nhất. Phi đội Quyết Thắng đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vu, trở về an toàn.

Ông Thiệu kết tôi tội phản bội, nhưng phản bội ai? Vì tôi đã là một đảng viên Đảng Cộng sản VN”.

NGUYỄN THÀNH TRUNG
tuoitre.vn

————

* Kỳ tới: Cảnh sát trưởng 24 giờ

————–

Tin, bài liên quan:

– Kỳ 2: Thời khắc lịch sử
– Kỳ 1: Trở lại Sài Gòn

Tuổi trẻ Online

Chúng tôi là Việt cộng (Kỳ 2)

Thời khắc lịch sử

TT – 6g sáng 30-4-1975, trung tướng Nguyễn Hữu Có và tôi đến dinh Hoa Lan để trình tình hình quân sự với tổng thống Minh. Những thông tin khiến tướng Lộc tái mặt bỏ trốn thì với ông Dương Văn Minh chỉ làm ông trầm ngâm hơn trên nét mặt vốn trầm tư.

Từ trái sang phải: Tướng Trần Văn Trà, ông Dương Văn Minh và ông Nguyễn Văn Huyền (phó tổng thống) tại dinh Độc Lập ngày 2-5-1975. Tướng Trà nói một câu đầy ý nghĩa: “Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng mà chỉ có dân tộc VN thắng Mỹ” – Ảnh tư liệu TTXVN

Tuyên bố bàn giao

Tôi nói:

– Tình hình rất nguy ngập, xin đại tướng quyết định gấp, chúng ta không thể trì hoãn, rất có hại.

Ông Minh hỏi ngay:

– Bây giờ “toa” muốn gì?

Tôi cho rằng lúc đó đầu hàng sớm là tốt nhất, nhưng tôi chưa nói ra, chỉ thúc ông Minh bằng một câu:

– Chuyện chính trị đại tướng giải quyết thế nào là quyền của mình, nhưng về quân sự thì phải giải quyết gấp, tình hình nguy ngập không cho phép chúng ta chần chừ nữa.

Ông Minh suy nghĩ trong chốc lát rồi nói:

– Thôi để tôi bàn thêm với ông Huyền và ông Mẫu. Các “toa” ngồi đây đợi.

Nhưng tôi đề nghị được đi theo và ông Minh đồng ý.

Cùng với tướng Nguyễn Hữu Có, ba chúng tôi đến phủ thủ tướng ở số 7 đường Thống Nhất (bây giờ là đường Lê Duẩn). Đến phủ thủ tướng thì ông Mẫu đã về nhà. Ông Dương Văn Minh yêu cầu cho xe đi rước ông Huyền và ông Mẫu. Chiếc xe riêng của tổng thống đến rước ông Nguyễn Đình Đầu để cùng đi rước ông Nguyễn Văn Huyền. Ông Đầu thuật lại: trên đường đi đến số 7 Thống Nhất, ông Huyền có nói một câu bằng tiếng Pháp: “Phải đầu hàng”.

Ông Minh làm việc với hai ông Huyền và Mẫu. Họ đã quyết định đơn phương tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN). Ông Mẫu soạn lời tuyên bố mất khoảng một tiếng đồng hồ. Đến 9 giờ ông Minh đọc vào máy ghi âm.

Trong lúc ông Minh đang thu băng thì tôi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam và yêu cầu tướng Nam cố gắng thi hành lệnh của tổng thống trên đài phát thanh. Cùng lúc đó tướng Có gọi cho Vĩnh Lộc và Đỗ Ngọc Nhận nhưng không ai trả lời. Ông Có lại điện thoại về cho gia đình và mặt ông tái đi khi không có người trả lời. Lúc đó, ông Có quay lại kêu tôi đi cùng ông về nhà để thay đồ dân sự, nhưng tôi nói:

– Anh về một mình để tôi ở lại đây với đại tướng.

Thu băng xong lúc 9g30, nhân viên đài phát thanh cho phát đi tại đài phát thanh ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong băng, ông Dương Văn Minh nói:

“Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người VN để khỏi thiệt hại xương máu của người VN. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ VN cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ CMLTCHMNVN ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ CMLTCHMNVN để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”.

Ông Minh cũng cho tôi tuyên bố ngưng bắn tránh đổ máu. Tôi đọc trên đài thế này:

“Thưa quý vị tư lệnh quân đoàn, quân binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ, tôi – chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá tổng tham mưu trưởng, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng vắng mặt, yêu cầu tất cả tướng lĩnh và quân nhân các cấp phải triệt để thi hành lệnh của tổng thống VN Cộng hòa về ngưng bắn. Các cấp chỉ huy quân lực VN Cộng hòa phải sẵn sàng liên lạc với các cấp chỉ huy quân đội của Chính phủ CMLTCHMNVN để thực hiện cuộc ngưng bắn một cách không đổ máu”.

Khi biết đài chỉ phát đi có một lần, tôi đã yêu cầu cho phát thanh lại, và đài phát thanh đã sử dụng loại băng tự động để tiếng nói được phát đi liên tục.

Phải đầu hàng!

Lúc này, tại phủ thủ tướng đã có nhiều nhân vật trong chính phủ cũ và mới lần lượt đến để chuẩn bị vào dinh Độc Lập dự lễ ra mắt nội các Vũ Văn Mẫu mà trước đó đã dự kiến sẽ tổ chức lúc 10g ngày 30-4-1975. Nhưng khi nghe có lệnh bàn giao chính quyền cho Chính phủ CMLTCHMNVN thì họ cũng đến dinh Độc Lập để chờ đợi.

Như vậy, sau khi tuyên bố của ông Dương Văn Minh và chỉ thị buông súng của tôi được truyền đi trên đài phát thanh lúc 9g30, tôi trở về phủ thủ tướng. Nơi đây vắng im không còn gặp được ai. Tôi chạy đến nhà riêng ông Minh thì được biết ông Minh và gia đình đã vào dinh Độc Lập. Lúc bấy giờ ngoài đường im phăng phắc không một bóng người.

Tôi vào dinh Độc Lập bằng cổng chính, lúc đó cửa mở hết, không có lính gác. Đến thềm dinh tôi thấy có một xe jeep và một xe GMC chở đầy lính vũ trang. Gặp một trung úy, tôi mới biết là thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lôi Hổ đang gặp ông Minh ở tầng 1 dinh Độc Lập. Tôi gặp ông Minh, xin cho xe đưa tôi về Bộ tổng tham mưu nhưng ông Minh không cho và giữ tôi ở lại dinh Độc Lập.

Lúc này, bỗng điện thoại tại phòng làm việc của chánh văn phòng phủ tổng thống kêu reng, thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lôi Hổ phụ trách phòng thủ Bộ tổng tham mưu xin gặp tôi. Anh ta hỏi: “Chuẩn tướng bảo chúng tôi buông súng làm sao? Tôi không đầu hàng đâu, tôi đã bắn cháy ba xe tăng”. Tôi giải thích và khuyên: “Thiếu tá không nên để cho máu đổ ở giờ thứ 25”.

Anh ta yêu cầu cho nói chuyện với tổng thống. Tôi mời ông Minh đến nói chuyện, nhưng câu chuyện chưa xong thì xe tăng đã vào đến dinh Độc Lập. Ông Minh nói: “Quân giải phóng đã vào tới dinh rồi, thôi cúp”.

Lúc đó xe tăng tiến vào dinh Độc Lập đã ủi sập cổng chính. Tôi không biết ai đã đóng cổng dinh lại. Đến sau giải phóng, ông Nguyễn Văn Binh cho tôi biết là ông đã đóng cổng dinh Độc Lập vì sợ lực lượng Lôi Hổ vào làm bậy vào giờ chót. Ông Binh là dân biểu đối lập và cũng nằm chung với chúng tôi trong dinh Độc Lập trong thời điểm lịch sử đó.

Vào sân dinh, đoàn xe tăng của quân giải phóng đã bắn chỉ thiên liên tục. Anh Nguyễn Văn Diệp dẫn những người cầm cờ lên lầu gặp tôi tại cầu thang (lúc bấy giờ tôi vẫn còn mặc quân phục). Tôi không nhớ lúc đó có bao nhiêu người. Tôi nói với anh bộ đội: “Các anh có nghe tôi tuyên bố trên đài phát thanh không?”. Anh bộ đội trả lời “có”.

Tôi yêu cầu anh nói lại với anh em không nên bắn nhiều như vậy vì lúc đó tiểu đoàn Lôi Hổ vừa ra không lâu, tôi sợ nếu họ có phản ứng sẽ nguy hiểm. Anh bộ đội trả lời: “Chúng tôi bắn để mừng, không sao đâu”. Tôi yêu cầu đại tá Chiêm, chánh văn phòng phủ tổng thống, người đã ở lâu trong dinh Độc Lập, hướng dẫn đi thay cờ trên nóc dinh.

Lúc này, ông Minh cùng nội các Vũ Văn Mẫu và tất cả anh em có mặt tập trung tại phòng khánh tiết, có các anh bộ đội và một số anh em mặc thường phục mà tôi đoán là sinh viên học sinh hoặc cán bộ hoạt động nội thành. Một anh yêu cầu ông Minh và ông Mẫu đi tới đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ông Minh nói: “Tôi đã tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Chính phủ CMLTCHMNVN”. Một anh bộ đội nói: “Các ông không còn gì để bàn giao”.

Ông Minh yêu cầu cho ghi âm. Các anh em định đến đài phát thanh tìm máy ghi âm. Tôi nói không có ai làm việc tại đài phát thanh. Lúc đó anh Lý Quý Chung (bộ trưởng thông tin) cùng một số anh em mặc thường phục chạy đi kiếm nhưng vẫn không tìm được máy ghi âm. Tôi sợ anh em hiểu lầm ông Minh, vội nói: “Sở dĩ cần máy ghi âm vì sợ đi dọc đường không an ninh”. Cấp chỉ huy đơn vị bộ đội xe tăng nói:“Chúng tôi cùng đi theo để bảo đảm an ninh”.

Ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu cùng anh em cán bộ, bộ đội giải phóng đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa 30-4-1975. Ông Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và chính ủy đơn vị xe tăng tuyên bố chấp nhận đầu hàng. Tôi nhận thấy tuyên bố đầu hàng rất cần thiết vì đây là một văn kiện pháp lý đối với quốc tế. Đã không có lễ bàn giao thì phải có tuyên bố đầu hàng.

Chiều 30-4-1975, nghe đại tá Sáu Trí (là tình báo của cách mạng) vào nói chuyện, anh em an tâm. Chúng tôi còn ở lại dinh Độc Lập ba ngày. Tối 2-5-1975, chúng tôi làm việc với ông Cao Đăng Chiếm, và sau đó các ông Minh, Huyền, Mẫu và ông Hảo – phó thủ tướng cũ (không phải phó thủ tướng của chính phủ ông Minh) được tướng Trần Văn Trà tiếp.

Ông Minh thuật lại rằng tướng Trà có nói một câu hết sức thắm tình dân tộc: “Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà chỉ có dân tộc VN chúng ta thắng đế quốc Mỹ”.

Lúc đó, tôi cảm thấy thanh thản và nhẹ lòng khi đã làm xong nhiệm vụ mà Ban binh vận Trung ương cục đã giao. Tôi đã góp phần nhỏ bé của mình cho một Sài Gòn còn nguyên vẹn, cho một nước VN thống nhất, hòa bình.

Tôi bỗng nhớ đến những ngày hôm qua của đời mình: từ một sĩ quan chống cộng trở thành cơ sở của cách mạng.

NGUYỄN HỮU HẠNH
B.T. – LAM ĐIỀN ghi
tuoitre.vn

————

* Kỳ sau: Đường đến với “phía bên kia”

————–

Tin, bài liên quan:
– Kỳ 1: Tuổi trẻ Online

Chúng tôi là Việt cộng (Kỳ 1)

Trở lại Sài Gòn

TT – Chúng tôi gặp tướng Nguyễn Hữu Hạnh của quân đội Sài Gòn ngày nào trong ngôi nhà riêng ở quận Tân Phú, TP.HCM. Câu chuyện về những ngày tháng 4-1975 lại sống dậy trong ông. 30 năm, vào tuổi 82, ông vẫn thận trọng khi nói về mình…

Ông Nguyễn Hữu Hạnh tháng 4-2005

“Sao chuẩn tướng, quân phục đại úy, giày dân sự…!”
Cuộc đời binh nghiệp của tôi có “duyên” với ông Dương Văn Minh từ khi còn trong quân đội Liên hiệp Pháp.

Đầu năm 1955 với cấp bậc thiếu tá và sau đó là trung tá tôi đã làm tham mưu trưởng cho ông Minh gần ba năm (ông Dương Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Hạnh đều có quê gốc là Mỹ Tho – BT). Sau này, khi nhận được chỉ thị của ban binh vận Trung ương Cục miền Nam là phải theo sát tướng Dương Văn Minh để hướng về cách mạng thì tôi càng gắn bó với ông Minh hơn.

Cho nên, cuối tháng 4-1975, khi nghe tin ông Minh sẽ trở lại nắm chính quyền, tôi nghĩ thế nào ông cũng điều tôi về Sài Gòn. Và quả vậy, chuyến từ giã Cần Thơ để trở lại Sài Gòn của tôi lần này không ngờ lại đúng vào thời khắc quan trọng của lịch sử nước nhà.

Từ Cần Thơ tôi đến Sài Gòn lúc tối 28-4-1975. Tin đầu tiên tôi nghe được lúc đó là sư đoàn 25 tại Củ Chi bị thất thủ. Nhìn lên bầu trời sân bay Tân Sơn Nhất, thấy chiến đấu cơ lên xuống tấp nập, ngoài đường dân chúng đi lại náo loạn, lệnh giới nghiêm không còn hiệu lực. Lạ quá, lần đầu tiên ở Sài Gòn có hiện tượng người dân không tuân lệnh giới nghiêm. Tôi nhìn quang cảnh Sài Gòn mà trong lòng xúc động lạ kỳ.

Sáng 29-4-1975, tôi đến gặp tổng thống Minh tại nhà riêng (dinh Hoa Lan ở số 3 Trần Quý Cáp – nay là Võ Văn Tần), kế đến thì có ông Nguyễn Văn Huyền đến, sau lại có ông đại sứ Pháp J.M.Mérillon đến. Ông đại sứ Pháp thông báo phía ngoại giao Pháp có liên hệ với Hà Nội về vấn đề thương thuyết nhưng Hà Nội nói đã quá trễ rồi.

Như vậy hẳn là tình hình đang rất khẩn trương. Ông Dương Văn Minh vốn là người điềm tĩnh mà lúc này nét mặt lộ vẻ lo âu. Tôi hỏi:

– Thưa đại tướng, về tình hình quân sự ra sao?

– Toa là quân sự, không đi xem mà hỏi cái gì?

Tôi biết mặc dù ông Minh nguyên là tư lệnh quân đội nhưng lúc này ông cũng không nắm được tình hình mà phó thác cho trung tướng Đồng Văn Khuyên phụ trách mọi việc ở Bộ tổng tham mưu. Tôi biết mình phải nắm lấy quân đội lúc này nên nói với ông Minh: “Tôi về hưu rồi đi coi sao được. Đại tướng có cho quyền tôi mới dám đi”. Ngay lúc đó, ông Minh phái tôi tới Bộ tổng tham mưu xem xét tình hình quân sự.

Không được điều động quân!

Ông Nguyễn Hữu Hạnh (trái) tại cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc TP.HCM năm 1976

Ông Dương Văn Minh chỉ định tướng Vĩnh Lộc làm tham mưu trưởng, tôi làm phụ tá tham mưu trưởng đặc trách hành quân từ 12 giờ trưa 29-4-1975. Ông Minh cho tôi toàn quyền thay ông để quyết định về hành quân và ông cũng dặn tôi không được điều động quân.

Có lẽ chưa có trang lịch sử quân sự nước nào trên thế giới ghi được kiểu bổ nhiệm kỳ cục như vậy: phụ tá tham mưu trưởng đặc trách hành quân mà không được điều động quân. Điểm này là rất quan trọng.

Tình hình gấp rút. Khi tướng Lộc trao cho tôi bộ đồng phục của một đại úy và một cặp sao cấp bậc chuẩn tướng thì chân tôi vẫn còn đi giày dân sự và không có cả mũ để đội (bởi khi từ Cần Thơ lên Sài Gòn tôi vẫn mặc đồ dân sự).

Tướng Vĩnh Lộc gọi mọi người ở Bộ tổng tham mưu tới trình diện và bổ nhiệm một cách vội vã. Chuẩn tướng Nguyễn Văn Chức nguyên lúc trước là cục trưởng Cục Công binh thì nay được chỉ định làm tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận. Tôi hỏi Chức:

– Tình hình nhiên liệu còn đến đâu?

Chức trả lời:

– Tôi không nắm chắc lắm nhưng có lẽ cũng chỉ được một tuần lễ nữa.

Bên cạnh tướng Chức, trung tướng Trần Văn Trung vẫn phụ trách chiến tranh chính trị; đại tá Đỗ Ngọc Nhận giữ quyền tham mưu trưởng liên quân; trung tướng Nguyễn Hữu Có đến Bộ tổng tham mưu vào tối 29-4 chưa có nhiệm vụ chính thức.

Trong khi đó thì phía Biên Hòa, từ chiều 28-4, lúc 18g10 xe tăng quân giải phóng đã đánh chiếm chi khu Long Thành, đến 18g50 thì mất tiếp tỉnh lỵ Bà Rịa, 19g30 kho Long Bình bị pháo kích và đường 15 bị cắt. Biên Hòa bị bao vây ba mặt, quân đoàn 3 của tướng Toàn bị tan rã.

Sáng 29-4, tướng Lê Minh Đảo xin rút qua bên này sông Đồng Nai để cố thủ và xin phép phá cầu. Tôi cho rút quân nhưng không cho phép phá cầu. Và từ đó, tôi ra lệnh chung là các đơn vị muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ tổng tham mưu.

Phía miền Tây, sư đoàn 22 ở Tân An đang khốn đốn vì tướng Phan Đình Niệm chỉ huy đã bỏ trốn, tham mưu trưởng sư đoàn báo cáo: “Chúng tôi bị áp đảo mạnh hướng chính diện, đường 4 bị cắt đứt hoàn toàn”.

Hướng miền Đông, sư đoàn 5 trấn giữ Thủ Dầu Một đã bị quân giải phóng chọc thủng từ đêm 29-4, liên lạc bị cắt đứt và từ đó Bộ tổng tham mưu không còn liên lạc được với sư đoàn này nữa.

Đến sáng 30-4, từ vùng 4 chiến thuật, tướng Nguyễn Khoa Nam – tư lệnh quân đoàn 4 – báo cáo bằng điện thoại hiện đang bị tấn công ở ba nơi: Vĩnh Bình, Bạc Liêu và cách sân bay Trà Nóc 3km.

Riêng biệt khu thủ đô, ngoài lực lượng phòng thủ, lực lượng xung kích gồm các lữ đoàn dù, sư đoàn biệt động quân và 20 xe tăng mà trung tướng Vĩnh Lộc vừa chỉ thị cho bộ chỉ huy thiết giáp đưa vào tăng cường, tuy chưa chạm trán với quân giải phóng nhưng tinh thần binh lính đã rất hoang mang. Chiều 29-4-1975, thiếu tướng Lâm Văn Phát – tư lệnh biệt khu thủ đô – xin lệnh để phản công. Tôi nói tổng thống không cho di chuyển quân, nhưng rồi sợ các binh sĩ làm loạn, tôi tung quân cảnh ra để giữ gìn trật tự.

Ngày 29-4-1975, Sài Gòn chứng kiến sự rút chạy của người Mỹ. Trực thăng lên xuống ở sân bay Tân Sơn Nhất ầm ầm, pháo của quân giải phóng bắn vào sân bay làm cho nhiều đám cháy bừng lên đỏ trời. Tin tức còn cho biết trong đêm 29-4-1975, nhiều đoàn xe của quân giải phóng từ phía Hóc Môn đã tiến về hướng Sài Gòn.

Sáng 29-4-1975, khi tôi còn ở tại dinh Hoa Lan (nhà riêng ông Minh) thì ông Minh và ông Mẫu đã quyết định thả tù chính trị (trong đó có anh Huỳnh Tấn Mẫm – chủ tịch Tổng hội SV Sài Gòn) và yêu cầu tổ chức DAO của Mỹ rời khỏi VN trong vòng 24 giờ.

Sáng 29-4-1975, sau một hồi bàn bạc gay go, ông Minh và ông Mẫu đã gửi một phái đoàn do ông Nguyễn Văn Diệp dẫn đầu đến trại David (sân bay Tân Sơn Nhất) nhưng không được tiếp xúc chính thức với phái đoàn quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN.

Khi về, ông Nguyễn Văn Diệp và ông Nguyễn Đình Đầu đã họp tại nhà riêng của ông Diệp để soạn thảo bài tuyên bố để ông Nguyễn Văn Huyền – phó tổng thống đặc trách hòa đàm – đọc lúc 17g ngày 29-4-1975 chấp nhận bản tuyên bố ngày 16-4-1975 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN.

Lúc này, mặt trận phía Thủ Dầu Một hoàn toàn bị bỏ ngỏ, tôi báo cáo với tướng Vĩnh Lộc và Nguyễn Hữu Có rằng “một đoàn chiến xa của Việt cộng đang tiến về Sài Gòn qua ngả Thủ Dầu Một, hiện đang qua khu chợ Búng. Mặt trận này ta không có quân xung kích mà chỉ có quân phòng thủ”.

Tướng Lộc nghe tôi báo cáo tình hình quân sự các hướng thì biến sắc mặt, vội cầm lấy điện thoại báo cáo với ông Dương Văn Minh. Sau đó, Vĩnh Lộc bắt tay tôi khi tôi đi gặp ông Minh. Đó là cái bắt tay cuối cùng, bởi vì đến 8g sáng 30-4, viên tướng dòng dõi hoàng tộc này đã đưa gia đình ra nước ngoài bằng đường thủy.

NGUYỄN HỮU HẠNH
B.T. – LAM ĐIỀN ghi

—————

* Kỳ sau: Thời khắc lịch sử
tuoitre.vn

Tuổi trẻ Online

Ngày cuối cùng của đại sứ Mỹ ở Sài Gòn

Xe tăng quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập – Ảnh internet

Khi chiếc trực thăng CH-46 đáp xuống chiến hạm USS Blueridge, nhiệm vụ bảo vệ xem như hoàn tất. Tôi vứt khẩu tiểu liên Magnum, tháo luôn khẩu colt 45 và 4 quả lựu đạn lỉnh kỉnh ném lên boong. Tôi và Jim Daisy đã trải qua 48 giờ không ngủ, không ăn uống và cả không hút thuốc. Hai đứa tìm thấy khoảng trống dọc hành lang, đặt lưng xuống và đánh một giấc thật đẫy. Câu chuyện Việt Nam của tôi chấm dứt kể từ hôm nay, 30/4/1975.

Ngày 29/4/1975, Sài Gòn bị tấn công. Tôi nghe có đến 16 sư đoàn quân giải phóng đang bao vây Sài Gòn, mở những đợt tấn kích dữ dội vào phi trường Tân Sơn Nhất và Bộ tư lệnh hành quân. Trung sĩ Jim Daisy và tôi – Trung sĩ Colin Broussard, được lệnh của PPSU – Lực lượng An ninh bảo vệ yếu nhân, phải bảo vệ Đại sứ Graham Martin cho đến khi hoàn tất chiến dịch di tản. Jim giữ nhiệm vụ lái xe, còn tôi hộ tống.

Vòng vây của quân giải phóng càng lúc càng siết chặt. Nỗi sợ hãi ở Sài Gòn lên đến tột độ. Nhiệm vụ Jim hôm đó là lái xe cho đại sứ và hợp tác với các nhân viên PPSU còn lại về tất cả những gì liên quan đến việc di tản. Tôi giữ nhiệm vụ hộ tống, bảo vệ đại sứ. 4 đội PPSU khác lúc này đang tỏa ra khắp thành phố, đón gia đình các sĩ quan cảnh sát đặc biệt của chính quyền Sài Gòn đi di tản.

Người dân Sài Gòn hoảng loạn tìm cách leo vào toà đại sứ Mỹ – Ảnh internet

Sáng nay, thi thoảng đạn rốc-két của quân giải phóng rơi xuống Sài Gòn, như rốc-két của người Đức bắn sang Anh vậy. Họ đang “quây” phi trường Tân Sơn Nhất bằng các loạt pháo 122 li. Bên ngoài tòa đại sứ, khoảng 5.000 người vây kín các bức tường bên ngoài, tìm cách leo vào trong. Lính thủy đánh bộ trấn thủ trên bờ tường, xô đám đông trở lại dưới sự hỗ trợ của các họng súng máy được bố trí ở các góc tầng thượng. Tổng quân số lính thủy chúng tôi còn lại đến ngày cuối cùng là 65 người. Tất cả đều cố sức cản dòng biển người đang cố gắng vượt rào. Những người làm việc cho chế độ Sài Gòn lúc ấy hiểu người Mỹ đang bỏ đi. Và họ bắt đầu hoảng hốt. Ngày hôm ấy, những chuyện không tưởng liên tục diễn ra cạnh bức tường tòa đại sứ, kể cả chuyện một bà mẹ trẻ đã ném cả đứa con qua bức tường cao 2,4 mét với hy vọng ai đó sẽ nhặt đứa bé và đưa sang Mỹ.

Ông Graham Martin là một đại sứ chuyên nghiệp, không phải là một chính trị gia được bổ nhiệm. Ông nguyên là nghị sĩ, mất một con trai trên chiến trường Việt Nam. Lúc ấy, ông không muốn ai nghĩ đến chuyện sắp phải di tản. Tôi nhận chuyển một công điện mật cho đại sứ, đoán là của Tổng thống Ford hoặc Ngoại trưởng Henry Kissinger. 25 năm sau, tôi mới biết là mình đoán đúng. Đó là thư của Tổng thống Ford, ra lệnh mở chiến dịch di tản.

Trước ngày Sài Gòn sụp đổ 2 tháng, Tổng lãnh sự Albert Francis ở Đà Nẵng yêu cầu Martin cấp cho vài vệ sĩ hộ tống mình trong chuyến thăm Huế. Jim và tôi được lệnh lên đường. Chúng tôi đáp chuyên cơ từ Sài Gòn đi Đà Nẵng, sau đó lên trực thăng ra Huế, đáp xuống phía đối diện sông Hương. Albert Francis bàn việc với tay tỉnh trưởng trong lúc tiếng súng giao tranh vang lên rất rõ, chỉ cách đó khoảng 10 cây số. Đến chiều, chúng tôi lên trực thăng rời Huế. Hôm sau, Huế thất thủ. Chúng tôi thả Albert xuống Đà Nẵng và bay trở lại Sài Gòn. Hai tháng sau, Đà Nẵng thất thủ, kế đến là Sài Gòn.

Lúc này, quân giải phóng đang tấn kích vào phi trường Tân Sơn Nhất. Tiếng pháo nổ rung chuyển khắp nơi. Tôi không rõ quân đội Sài Gòn có đủ sức bảo vệ thủ đô hay không ? Từ nóc tòa đại sứ, tôi thấy một chiếc C-130 đang cố gắng cất cánh, nhưng cánh bị trúng đạn và đổ nhào xuống đường băng. Đại sứ Martin muốn biết rõ tình hình của phi trường, xem chuyên cơ có lên xuống được hay không nên ông quyết định đích thân đi thị sát. Ông lệnh cho tôi chuẩn bị. Tôi cố giải thích rằng rất nguy hiểm nếu như ông ấy muốn đi. Tuy nhiên, ông vẫn lệnh phải chuẩn bị sẵn sàng nên tôi không hỏi nữa. Lúc rời phòng đại sứ, tôi nghe viên chỉ huy phó phản ứng quyết định ra phi trường của đại sứ. Tôi gọi Jim qua bộ đàm, yêu cầu cả toán PPSU chuẩn bị. Sau đó, tôi nói chuyện với thiếu tá Kean – sĩ quan chỉ huy lực lượng lính thủy, báo cáo chuyện đại sứ muốn thị sát phi trường. Kean lệnh cho hai trung sĩ Segura và McDonald lên chiếc Jeep Advanced đến phi trường. Đây là loại “Jeep thông minh”, có thể cho chúng tôi biết nên đi đường nào thì tốt nhất. Lúc này, tôi nghe nói “Việt Cộng” đã có mặt trên đường phố Sài Gòn, trong đó có nhiều biệt đội ám sát. Cả bọn chúng tôi leo lên xe, đóng cửa kín mít và lên đạn. Daisy lái xe, trung sĩ Paul Gozgit ngồi cạnh đại sứ, tôi và trung sĩ Maloney đi chiếc xe thứ hai cùng 2 sĩ quan cảnh sát đặc biệt. Tôi biết đây là chuyến đi rất mạo hiểm. Dọc dường, người dân đứng dài hai bên chờ đón quân giải phóng, không biết có lẫn biệt đội ám sát nào trong đám đông ấy hay không ? Tôi tập trung, lên đạn, tay thò vào cò súng sẵn sàng chờ đợi biến cố. Tôi có cảm giác như khả năng bị tấn công có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được phi trường. Những cột khói đen nghi ngút bốc lên từ những chiếc máy bay trúng đạn. Quân giải phóng vừa ném bom phi trường, nếu chiếc máy bay nào còn nguyên vẹn cũng không thể cất cánh. Cả phi trường lỗ chỗ toàn hố bom.

Đến cổng phi trường, đoàn xe bị chặn lại. Chúng tôi bước ra, triển khai đội hình vây quanh cửa xe đại sứ trong khi McDonald thuyết phục binh sĩ gác cổng cho chúng tôi vào trong. Cả bọn lại lên xe, tiến vào. Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chặn. Ngước nhìn những cột khói, những đám cháy lớn khắp nơi ở phi trường, đại sứ hiểu – không còn hy vọng tiến hành di tản bằng chuyên cơ. Ông lệnh chúng tôi quay trở lại tòa đại sứ, phát lệnh di tản bằng trực thăng. Đây là điểm khởi đầu của chiến dịch “Operation Frequent Winds”. Bản White Christmas cất lên trên hệ thống radio – ám hiệu báo cho người Mỹ biết cuộc di tản đã bắt đầu. 11 giờ trưa hôm ấy, đại sứ yêu cầu tôi đưa ông ấy về nhà. Nhân viên cả tòa đại sứ hoảng hồn, năn nỉ ông suy nghĩ lại và đừng đi vì đạn pháo, rốc-két đã nổ lác đác trong thành phố. Nhưng ông vẫn phất tay, vì thế, tôi lại tiếp tục chuẩn bị.

Nỗi sợ lớn nhất của chúng tôi khi ấy là “Việt Cộng” mới chính là người đang thực sự điều hành thành phố. Trước đó vài ngày, quân giải phóng đã lấy vài chiếc chiến đấu cơ từ Đà Nẵng và ném bom Dinh Độc Lập – cách tòa đại sứ không xa. Tôi cố gắng lái chiếc Chevy 454 chống đạn vượt qua cổng chính. Nhưng vừa mở ra, đám đông tràn vào khiến thiếu tá Kean và binh sĩ phải vất vả lắm mới đóng cổng lại được. Đành bỏ xe, đại sứ yêu cầu tôi và Jim tháp tùng ông ấy về nhà bằng cách… đi bộ, cách tòa đại sứ khoảng 2 dãy nhà. Hai chúng tôi nhìn nhau và nghĩ – có lẽ đây là ngày tận số. Chúng tôi xách tiểu liên, lựu đạn và vượt lối đi bí mật thông qua Tòa đại sứ Pháp (kế bên) để ra ngoài phố. Vừa vào đến nhà, ngay bên kia đường xảy ra một cuộc đọ súng. Chúng tôi vào nhà, đốt sạch tài liệu. Jim dùng lựu đạn tiêu hủy toàn bộ hệ thống radio. Tôi điện cho chỉ huy, xin được đón luôn 2 lính thủy đang gác nhà đại sứ. Cuối cùng, sau 5 phút, tôi đề máy được chiếc Pontiac và gọi Jim đưa đại sứ ra ngoài. Đi thôi ! Jim ấn đại sứ ngồi vào băng sau và ngồi chắn bên cạnh. Hai lính thủy cầm M16 chĩa ra 2 bên cửa. Tôi đề máy chiếc xe chống đạn, tông thẳng vào chiếc cổng cao 2,5 mét lao ra ngoài và tăng tốc đến Tòa đại sứ Pháp. Cả bọn lại luồn về tòa đại sứ. Martin bảo rằng ông nợ chúng tôi một chai rượu mạnh. Tôi thông báo với sĩ quan chỉ huy là nhiệm vụ đã hoàn tất. Đám lính thủy bắt đầu hạ cây cối trong tòa nhà, cắt điện thoại liên lạc, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc di tản bằng trực thăng.

Chiếc trực thăng CH-53 (chở được 50 người) đầu tiên hạ cánh xuống tầng thượng. Thiếu tá Kean và thượng sĩ Valdez điều động việc đưa người lên trực thăng, sau đó trực chỉ ra hạm đội 7. Cuộc di tản diễn ra đến 4 giờ sáng 30/4 thì kết thúc, trong đó có Đại sứ Martin, tôi và Jim. Toán lính thủy còn lại gồm 11 người được bốc đi lúc 5 giờ, đúng lúc tiếng xích xe tăng quân giải phóng bắt đầu lăn vào nội đô Sài Gòn. Trên tàu, những sĩ quan Việt Nam Cộng hòa lỉnh kỉnh những túi xách, vali. Tất cả đều phải qua kiểm tra của lực lượng an ninh chiến hạm. Họ xổ túi xách, vali, vàng thỏi, kim cương và những bó tiền lớn – toàn là 100 USD, vương vãi khắp sàn tàu. Chiến hạm USS Blueridge đến vịnh Subic (Philippines) vào ngày 4/5, mỗi đứa chúng tôi được phát 100 USD. Lúc ấy, tôi mới bắt đầu nghĩ đến chuyện mua vài bộ quần áo mới, tắm rửa, cạo râu và thư giãn…

Colin Broussard
(đại sứ Graham Martin)
(Ngọc Thịnh – dịch từ Fall of Saigon)

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)
vietbao.vn

Những người ở bên kia chiến tuyến

Ký ức 30/4 từ các chứng nhân lịch sử – Kỳ II

Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn – “Thất bại của tình báo Mỹ” trong chiến tranh VN

Khi còn sống luôn ẩn mình, kín đáo, dù những gì ông làm trong cuộc đời là những chiến tích không thể nói hết ý nghĩa đối với sự nghiệp độc lập, hoà bình, thống nhất đất nước. Chỉ đến khi ông mất, mọi người thông qua các bài báo, tác phẩm văn học, lời kể của những đồng đội và cả đối phương mới thấy được sự cống hiến to lớn của ông đối với Tổ quốc, với lý tưởng đã chọn. Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn (được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang), một nhà tình báo được ngay cả đối thủ là CIA Mỹ thán phục và công nhận: “Ông chính là thất bại lớn nhất của tình báo Mỹ trong chiến tranh Việt Nam”. Suốt mấy mươi năm ẩn thân trong vỏ bọc phóng viên thường trú Times ở Sài Gòn cho tới năm1976, khi văn phòng này tạm ngưng hoạt động ở Việt Nam.

Không những hoàn thành vai trò nhà báo xuất sắc được đồng nghiệp thế giới nể trọng, mà ông còn hoàn thành nhiệm vụ của nhà tình báo chiến lược một cách hoàn hảo. Ông đã góp phần để các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến có những quyết sách chính xác trong chiến lược, chiến thuật đưa đến sự thành công: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, thống nhất toàn vẹn đất nước.

Tôi đã có một cuộc nói chuyện với ông trong chuyến viếng thăm gia đình, những tưởng chỉ là dạo đầu để chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn chính thức cho ngày 30/4 năm nay… Không ngờ, đó là cuộc nói chuyện cuối cùng với ông về ngày đó. Một nén nhang gửi hương hồn ông – Và xin được ghi ra đây đôi dòng suy nghĩ của ông về cái khoảnh khắc đáng nhớ đó của chiến tranh.

Ông Phạm Xuân Ẩn và tấm thẻ nhà báo. (Ảnh: Internet)

“Với tôi, khi xác định được mục tiêu, lý tưởng và nhiệm vụ của mình thì điều đầu tiên nghĩ đến phải là hoàn thành và bằng mọi cách hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có việc bảo toàn cá nhân mình. Tôi đã được biết trước những gì sắp đến – nhưng không rõ sẽ vào lúc nào một cách chính xác, nên khi nó tới, khi lá cờ Quân Giải phóng bay phấp phới trên Dinh Độc Lập, tôi vui – niềm vui vì mình đã hoàn thành nhiệm vụ, song không bất ngờ.

Nhưng vào cái giờ phút đó, tôi lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra. Liệu có một cuộc nổ súng trên đường phố? Bạn bè tôi, số phận sẽ thế nào? Vâng! Đây là bạn bè báo chí phương Tây, bạn bè trong chính quyền Sài Gòn, là người dân Sài Gòn. Lúc đó, tôi đang giữ một vai trò ở Times. Tôi phải tự mình chạy khắp nơi trong thành phố lấy tin, làm tin đưa về tòa báo sao cho thông tin trung thực, và để cho thế giới biết chiến thắng của ta, hòa bình thật sự, không có tàn sát, cướp bóc, hỗn loạn…

Điều tôi xúc động lại chính là hình ảnh những người lính chính quyền Sài Gòn, áo trận xốc xếch, súng ống quăng khắp nơi, bơ phờ, thất thần, tuyệt vọng; hoàn toàn trái ngược với những người lính Giải phóng quân – áo quần bê bết bùn đất, mặt mũi sạm đen thuốc súng, song ánh mắt lấp lánh, ngời ngời niềm vui tỏa ra.

Niềm vui thật sự của tôi đêm ấy, 30/4/1975, Sài Gòn không còn tiếng súng đạn, điện nước vẫn bình thường, dân tình bình yên… Kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài mấy mươi năm mà như thế… chỉ có Việt Nam.

Có một tin đồn “Việt Cộng lột móng tay mấy cô Sở Mỹ” nhưng đêm đó tôi tới Hạ Nghị Viện (Nhà hát TP.HCM bây giờ) thấy các cô “Sở Mỹ” đang may cờ quân Giải phóng và cờ đỏ sao vàng kịp ngày hôm sau làm mít-tinh mừng chiến thắng. Móng tay các cô sơn đỏ chót, chỉ khác là mặc áo bà ba. Các cô cười bẽn lẽn: “Mấy anh Giải phóng khen con gái Sài Gòn đẹp, không ai ghét bỏ gì”.

Tôi cũng sợ chứ, vì lúc đó trên danh nghĩa tôi vẫn là một nhà báo của phía bên kia, có thể hứng một viên đạn. Nhưng chỉ một thoáng qua, khi quân Giải phóng vào thành phố, tôi thấy cuộc đời thật đẹp.

Tôi đã sống, đi qua hai cuộc kháng chiến chống (hết Pháp lại đến Mỹ), đã hoàn thành nhiệm vụ và sống được đến ngày chiến thắng. Có chết cũng vui và thanh thản. Cho đến hôm nay tôi hoàn toàn bình yên vì nhiệm vụ đã xong”.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu HạnhHoàn thành chữ “tín” với cách mạng

Nguyên là Chuẩn tướng, phụ tá Tổng thống (TT) Dương Văn Minh , Trợ lý Tổng Tham mưu trưởng Chính quyền Sài Gòn nhưng ông lại là nhân vật rất đặc biệt, “nội ứng” của quân cách mạng được xây dựng qua đường binh vận. Sau này, ông là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết “Viên phụ tá Tổng thống” của Hà Bình Nhưỡng và bộ phim tài liệu “Khoảnh khắc đời người” của Đài truyền hình TP.HCM.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh. (Theo TS)

Rất hào hứng nhưng cũng rất khiêm nhường, ông kể lại khoảnh khắc Chiến tranh và Hòa bình… Khoảnh khắc ông hồi hộp đợi chờ với bao cảm xúc. Ông cười rất chân thành: Tôi kể với cô ở vị trí người phía “bên kia“.

“Đêm 29/4/1975, tôi từ Bộ Tổng Tham mưu đi cùng với Tướng Nguyễn Hữu Có đến nhà TT Dương Văn Minh họp bàn kế hoạch hòa hoãn với quân Giải phóng. Song chẳng bàn được gì vì mọi việc diễn ra quá thần tốc. Lúc đó, duy nhất tôi nghĩ, hãy đừng để tình hình quá xấu cho đỡ sự hy sinh mất mát cả hai phía đây cũng là cơ hội cuối cùng cho tôi hoàn thành ý nguyện cách mạng giao cho.

Trước đó, tôi từ Cần Thơ lên, Tướng Chức cho một chiếc xe Jeep, nhưng sáng sau thì cả xe lẫn người biến mất. Tôi lên chiếc xe lạ, chẳng biết của ai, lái xe cũng lạ, đến Đài phát thanh, thay mặt Tổng thống, Tổng Tham mưu trưởng trấn an tinh thần binh lính, kêu gọi quân đội buông súng giao lại cho quân giải phóng. Cuộn băng này, khi tiếp quản thành phố không hiểu sao mất – chỉ còn phần tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh. Rất may ông Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó là Mười Kỷ đã thu được qua đài phát thanh gửi lại cho tôi. Tôi vẫn giữ đến giờ.

(Lời kêu gọi binh sĩ hạ vũ khí trong hòa bình của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, bấm vào đây )

Khi quay trở về Dinh Độc Lập, tôi mới chợt giật mình. Sợ chứ! Lúc đó lộn xộn, tôi mặc quân phục đầy đủ lon sao, không ai hộ tống ngoài người lái xe lạ hoắc. Một viên đạn lạc, một viên đạn chủ ý…

Tôi đã hít thở sâu, cố trấn tĩnh mình khi chuẩn bị đón tiếp quân Giải phóng. Tiếng gầm rú của xe tăng và vị chỉ huy Quân Giải phóng xuất hiện, lấm lem bụi đỏ thuốc súng, mắt sáng, rất nghiêm và cũng rất đĩnh đạc (sau này tôi biết đó là Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó chỉ huy xe tăng) cuối cùng đã đến. Tôi đã hướng dẫn vị chỉ huy vào phòng khánh tiết. Tất cả nội các chính quyền Sài Gòn đã ở đó. Việc gì sau đấy mọi người đã biết. Tổng thống đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện”.

Sau đó, ông Nguyễn Hữu Có nói tôi về nhà ông, nhưng tôi ở lại. Tôi không thể nói rõ cho họ biết vì tôi “đợi” người của “bên mình”. Nếu lúc đó trường hợp xấu xảy ra – có thể, vì người bảo đảm cho tôi không biết đang ở đâu, tôi vẫn vui vì đã hoàn thành chữ “tín” với cách mạng, góp một chút sức lực nhỏ nhoi vào sự nghiệp chung, như hành động “lập công chuộc tội”.

Quan sát những người lính giải phóng – Họ là đội quân có kỷ luật, nhưng họ không gắt gao, lịch sự đúng mức. Tôi khâm phục cách ứng xử, hành xử của họ vào thời điểm mà bất cứ điều bất trắc nào cũng có thể xảy ra. Nó còn được chứng minh rõ ràng. Thành phố ngày đầu hòa bình không cướp bóc, xáo trộn, người dân vui vẻ đổ ra đường đón chào quân giải phóng, điện nước và cả Đài phát thanh truyền hình vẫn có, nhưng thay đổi “chủ nhân”.

Vâng, 32 năm đã qua… là kỷ niệm, dấu ấn cuộc đời. Tôi rất mãn nguyện. Tôi được sống trong tình cảm bạn bè, người thân, cả những người đã tạo điều kiện cho tôi được sống như một người dân Việt chân chính.

Ông Nguyễn Hữu Có: “Tôi tin vào những điều tốt lành”

Nguyên Trung tướng, Tổng tham mưu trưởng, Phó Thủ tướng thời TT Nguyễn Văn Thiệu, cố vấn Tổng tham mưu trưởng thời TT Dương Văn Minh, hiện là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, 83 tuổi.

Rất vui vẻ, nhiệt tình, giọng nói khỏe không một câu vấp, từng chi tiết nhỏ vẫn được nhớ đến cả chuyện từ hồi ở trong đội Pháp ở miền Bắc, trong Điện Biên Phủ…

“Ngày 30/4/1975, “kết thúc cuộc đời binh nghiệp của tôi” – Ông nói vui – Vâng. Đó là một ngày dài.

Cờ hoa rực rỡ trong ngày vui chiến thắng. (Ảnh: theo baotanghcm)

Bất ngờ thì không! Trước đó những thông tin Buôn Mê Thuột, Bình Long, Phước Long, Đồng Xoài thất thủ, tôi đã đoán điều gì sẽ xảy ra. Lo lắng cho nó đến Sài Gòn. Chỉ kì lạ là thái độ của các vị trong nội các TT Dương Văn Minh, mỗi lần gặp, họ vỗ tay hoan hô tôi… không có gì là Sài Gòn sắp mất, là chiến sự căng thẳng. Hóa ra là ông Đại sứ Pháp hứa liên lạc với Trung Quốc, để giúp ảnh hưởng quân cách mạng hai bên ngồi đàm phán kết thúc chiến tranh. Tôi hồi đó là “người của Pháp”.

Ngày 30/4/1975, tôi thật sự lo lắng, gọi cho Tướng Lê Minh Đảo ở Biên Hòa, tướng Đảo buồn rầu – lính đào ngũ hết, không giữ nổi, xe tăng quân giải phóng đã xuất hiện. Gọi cho Trung tâm huấn luyện Quang Trung, để giữ đài phát xạ bảo đảm liên lạc, Trưởng trung tâm hốt hoảng – “Tôi đã thấy đặc đường quân giải phóng, lo mạng chưa xong”.

Gọi xuống Cần Thơ, Tướng Tư lệnh Quân đoàn 4 miền Tây cho biết, quân số đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu. Vâng, nhưng mọi việc quá thần tốc, chớp mắt tôi thấy lá cờ Quân Giải phóng bay trên nóc Dinh, đường phố rợp cờ đỏ. Lúc đó tôi buồn bã và lo cho số phận của tôi và các bạn bè đồng ngũ trong chính quyền Sài Gòn – Không biết ngày mai ra sao.

Tôi cũng đã chuẩn bị cho gia đình di tản, nhưng cuối cùng, ngày 29/4, gia đình tôi “di tản” vào Chợ Lớn, vì nhà tôi ngay trên con đường vào thành phố của quân giải phóng. Sau đó tôi đi học tập ngoài Bắc, khi về, các con tôi và tôi cùng ở lại làm công dân thành phố Hồ Chí Minh, 12 người con cả trai cả gái, một bà vợ với hơn 55 năm “đầu gối tay ấp chia ngọt sẻ bùi”.

Sau lúc ông Minh đọc lời tuyên bố, không chỉ tôi và nhiều người khác như trút được gánh nặng. Thời điểm đó, cũng có nhiều ý kiến – Đưa ông Minh về miền Tây, rồi tổ chức đánh tiếp – Quân dưới đó còn nguyên. Nhưng, như thế lại tiếp tục đổ máu, chết chóc và rồi được cái gì? Cũng người Việt đánh người Việt – Ông Minh nói, Sài Gòn ít quân, nhưng dân nhiều, đánh nữa thì tan nát cả thành phố. Chúng ta phải thuyết phục, trong hòa bình… Ban đầu ông không chịu chữ “đầu hàng”.

Nhưng rồi… Cảm giác buồn lúc đó cũng thật khó diễn tả – Tôi là tướng trận, nhìn binh lính Sài Gòn thất thần, hoảng loạn, vũ khí quăng bừa bãi, nhếch nhác sợ sệt, yếu đuối trong khi quân Giải phóng mang vẻ lạc quan, tự tin dù rất trẻ, có người chừng 18-20 tuổi. Đêm đó, nỗi lo trong tôi gần như không còn. Đêm hòa bình thật sự, cả thành phố sáng đèn, không tiếng súng, lại còn nghe “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn phát trên sóng phát thanh. Tôi tin vào những điều tốt đẹp”.

Ông kết thúc câu chuyện: “Ngày hôm nay, tôi hạnh phúc. Tôi được hàng xóm gọi “Bác Ba, Ông Ba”, tôi ra ngoài Bắc được cả những tướng lĩnh “đối thủ” ngày xưa đón tiếp nồng hậu, giữa chúng tôi là bạn bè, lâu lâu gặp lại kể chuyện ngày xưa “mi” – “ta” từng đánh nhau…”. Rồi cười thật vui sảng khoái: “32 năm, xa quá rồi, nghĩ đến hôm nay và tương lai thôi”.

&&&

32 năm! Chiến tranh đã lùi xa… 18 đời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh. Máu và nước mắt để cho một Việt Nam đời đời trường tồn vững mạnh trong hòa bình ấm no hạnh phúc.

“Ngày đi như trong đêm mơ, tuổi lớn rồi mà như ngây thơ. Ôi ta đang đi, đi giữa rừng hoa hay đi giữa chốn rừng cờ”.…

(Nghe bài “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” của nhạc sĩ Xuân Hồng, tại đây).

Hoài Hương (thực hiện)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Những người đầu tiên vào dinh Độc Lập

– Hơn 30 năm, Tổ quốc thống nhất, đất nước hoà bình, cả dân tộc Việt Nam đang đi về phía trước, nhưng cảm xúc về những khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh vẫn tràn chảy trong ký ức những chứng nhân lịch sử. Họ gửi đến Thư Hà Nội niềm tự hào được ở trong số ít người có mặt ở dinh Độc lập trong thời điểm lịch sử, trưa 30/4/1975, cùng niềm vui đang được sống trong “vòng tay lớn” của gia đình, bạn bè, những người người thân thương trên quê hương yêu dấu.

Cảm xúc vỡ òa của một niềm vui trông đợi không phải của 30 năm, 100 năm, 1.000 năm mà là của cả dân tộc 4.000 năm dồn lại. Không còn chiến tranh, không còn chia cắt. Non sông liền một dải. Bắc – Nam sum họp. Hòa Bình – hai chữ thiêng liêng của mơ ước ngàn đời đã thành sự thật.

Nhiều người được chứng kiến giờ phút lịch sử ấy đang sống, họ vẫn còn nhớ những gì đã xảy ra 32 năm về trước, bồi hồi kể lại trong bức thư này….

(Nghe bài hát “Nối vòng tay lớn” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại đây )

Ký ức 30/4 từ các chứng nhân lịch sử – Kỳ I

Đại tá Bùi Quang Thận: Người cắm cờ chiến thắng

Ngày đó, ông là Trung úy, Đại đội trưởng, ngồi trên xe tăng số 843, thuộc Lữ 203, Quân đoàn 2, xông thẳng vào Dinh Độc Lập. Ôm lá cờ Quân giải phóng chạy lên nóc Dinh, hạ lá cờ ba sọc – biểu tượng của Chính quyền Sài Gòn, kéo cờ Cách mạng lên; báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đánh dấu khoảnh khắc cuối cùng của chiến tranh. Lúc đó là 10h30 giờ Sài Gòn – 11h30 giờ Hà Nội ngày 30/4/1975.

Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập. (Theo vi.wikipedia.org)

Một ngày tháng Tư, trong hơi lạnh của đợt gió mùa Đông Bắc cuối mùa trên quê lúa Thái Bình, chúng tôi gặp lại ông. Giọng hơi khàn, ông nói bị ốm do thời tiết nóng – lạnh thất thường, ”nhưng không quật ngã được người lính này đâu cô ạ”. Vì thế, dù khàn giọng, nhưng vẫn cảm được niềm vui qua từng câu chữ, ông chậm rãi kể:

Vào chiến dịch, ai cũng hiểu đây là trận quyết chiến cuối cùng, nhưng không ai nghĩ mình là người cắm cờ chiến thắng. Cho đến khi chiếc xe tăng của tôi vượt lên một chiếc khác đang bị kẹt ở cánh cửa Dinh, nhìn lên nóc tòa nhà thấy lá cờ ba sọc bay, tôi chỉ nghĩ làm sao hạ lá cờ này càng nhanh càng tốt.

Không nghĩ đến những nguy hiểm đang rình rập nơi hang ổ này, cũng không nghĩ tới việc mình chẳng biết đường lên. May mà vừa leo tới chân cầu thang, có một người đàn ông (có lẽ là cơ sở nội đô) dắt tôi đi.

Khi kéo lá cờ lên, ngước nhìn ngọn cờ chiến thắng nửa xanh nửa đỏ tung bay trong nắng gió, nhìn xuống dưới thấy 3 phía xe tăng ta và các đơn vị bộ binh đang áp sát về phía Dinh, chợt trào nước mắt vì niềm hạnh phúc quá lớn.

Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một người lính chiến đấu vì Tổ quốc, trên hết tôi được thay mặt tất cả những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống, đang cùng tôi chiến đấu, cắm lá cờ chiến thắng báo hiệu giờ phút lịch sử – Hòa bình trên Tổ quốc Việt Nam.

Giờ phút hòa bình đầu tiên, tôi và tất cả những người lính lúc đó duy nhất một ý nghĩ – được về nhà gặp bố, mẹ, vợ, con… Đơn giản lắm, nhưng là máu thịt của bao người đổ xuống, nên nó là ước mơ, nguyện vọng vô giá đối với người lính khi được hưởng giây phút đầu tiên của Hòa bình.

Nói thêm một chút, ước mơ đó phải tới cuối năm 1976 ông mới thực hiện được. Nhưng bù lại, khi đơn vị chuyển quân vào Phú Bài – Huế, vợ ông đã lặn lội đường xa vượt sông, vượt đèo vào thăm chồng và cô con gái đầu lòng ra đời mang tên Huế là niềm hạnh phúc của ông – người lính cụ Hồ.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ và cuộc đối thoại cuối cùng của chiến tranh
Tư lệnh Quân khu I, 32 năm trước, ông là Trung đoàn phó, E66, F304, Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Ông là một trong những người đầu tiên vào phòng họp trong Dinh Độc Lập, bắt gọn toàn bộ nội các Chính quyền Sài Gòn – 42 người. Sau đó đưa Tổng thống (TT) Dương Văn Minh đến Đài phát thanh.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ. (Ảnh: theo Sài Gòn giải phóng)

Trong phòng khách sang trọng nhưng ấm cúng và đầy chất lính của Quân khu, trong một chiều đẹp như thơ miền trung du của “Thủ đô gió ngàn Việt Bắc”, 58 tuổi, vị tướng trận vẫn giữ nguyên vẻ nhanh nhẹn, tinh anh, hào khí dũng tướng như thời trai trẻ chinh chiến khắp các chiến trường. Vẫn không kìm chế được sự xúc động, ông kể lại kỷ niệm sâu sắc nhất vào ngày giờ ấy – “Cuộc đối thoại cuối cùng của chiến tranh”, tôi đặt tên cho câu chuyện của ông như vậy.

Khi xe chúng tôi do chiến sĩ Đào Ngọc Vân lái lách đến chân cầu thang, tôi gặp một người đàn ông, áo quần lễ phục chỉn chu, rất trịnh trọng nhưng gương mặt hơi căng thẳng lo lắng: ”Báo cáo Chỉ huy Quân giải phóng. Tôi – Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh – Phụ tá TT Dương Văn Minh. Toàn bộ chúng tôi đợi các ông ở phòng khánh tiết!”…

Tôi đến cửa, toàn bộ nội các của họ đứng dậy chào. Vẻ mặt ai cũng bồn chồn lo lắng, có người lúng túng sợ sệt. TT Dương Văn Minh chậm rãi: “Biết Quân giải phóng đã vào thành phố, nội các chúng tôi đang chờ các ông để bàn giao”.

Tôi nói dõng dạc: “Các ông phải đầu hàng vô điều kiện. Yêu cầu tất cả xếp hàng đôi ra khỏi ngôi nhà này”.

TT Dương Văn Minh khẩn khoản: “Chúng tôi xin được ở đây. Ra ngoài bây giờ không an toàn”. Tôi trả lời: “Các ông phải ra Đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện…”.

Sau đó, chúng tôi đưa ông ra Đài phát thanh….

13h20 – giờ Hà Nội, TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Bản tin này được tất cả các đài, các hãng thông tấn báo chí thế giới chính thức đưa tin.

30/4/1975 là một niềm hạnh phúc kì diệu trong cuộc đời binh nghiệp của tôi – Tôi không ngờ mình lại là người ở trong sự kiện lịch sử đó. Ước nguyện cháy bỏng lúc đó – như tất cả người lính, được về gặp bố, mẹ, vợ và có một đứa con… Nhưng phải tới 8 tháng sau tôi mới được về nhà – vì còn phải tiếp tục đi đánh tàn quân Fulro ở Tây Nguyên.

Nhà báo, TS Đậu Ngọc Đản: Hết chiến tranh, khoảng cách thật gần

32 năm qua, nhưng cảm xúc và những hình ảnh của giờ khắc ấy vẫn đậm dấu trong anh. Ngày đó anh là một nhà báo trẻ, phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam.

Một giọng Nghệ An rất nhẹ, ấm, ánh mắt long lanh vui, 32 năm trước như đang ẩn hiện: “Tối 29/4/1975 theo chân đoàn xe tăng 203, F304, E66 vào đến cửa ngõ Sài Gòn, gặp hai xe tăng của C2, E273 Binh đoàn Tây Nguyên, còn lúng túng chưa biết phải tiến lui như thế nào, thì thật diệu kì – một cô gái Sài Gòn xuất hiện giữa mịt mù khói đạn, ra dấu và hét lớn: “Em là Trung Kiên, biệt động Sài Gòn, được cử dẫn đường…” (sau này hãng phim truyện Việt Nam hay Hãng phim Giải phóng đã dựng phim “Cô Nhíp” để nói về nữ biệt động thành này).

Chiến sĩ biệt động nguyễn Thị Trung Kiên, người dẫn đường cho xe tăng quân giải phóng tiến vào Tân Sơn Nhất. (Ảnh: theo hanoi.vnn.vn)

Mũi xe của Trung Kiên hướng dẫn lao thẳng về sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi đã bấm được bức ảnh rất đẹp về cô. Và ngay lúc đó cảm thấy yêu mến tất cả những người dân Sài Gòn. Cảm xúc đó càng tăng thêm khi tiến sâu vào Ngã tư Hàng Xanh, thấy người dân đứng đầy hai bên đường cầm cờ vẫy chào. Không một chút nghi ngờ hay sợ hãi, tôi và các chiến sĩ nhao lên nóc tăng vẫy chào lại, cảm giác chiến tranh, bom đạn sắp kết thúc, đồng bào Sài Gòn thân thuộc quá, không hề nghĩ họ là “bên kia”…

Khoảnh khắc chiến tranh ác liệt, gian khó đẫm máu, nước mắt chấm dứt. Thật lạ! Lần đầu tiên bước chân vào Sài Gòn nhưng tôi thấy thân thuộc. Có lẽ Sài Gòn là nơi mà trong cả giấc mơ chúng tôi luôn đăm đắm, là quê hương đang chờ những người lính giải phóng quân về. Cũng vì thế, khi nhìn thấy cảnh các người lính Sài Gòn và nội các của họ bại trận, chỉ thấy cảm thương, không thù hận, thậm chí trong tôi xóa rất nhanh hình ảnh đối phương là kẻ thù – là giặc. Tôi không ngần ngại nhờ một người lính Sài Gòn dẫn đường cho tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất để chuyển tin ra Hà Nội đêm 30/4/1975 kịp bản tin sớm hôm sau.

Trước đó, nghĩ về phóng viên phương Tây là sự nghi ngại bất hợp tác, thế mà chiều 30/4/1975 giữa tôi và họ ở sân Dinh Độc Lập là tình đồng nghiệp chia sẻ tin tức. Kết thúc chiến tranh – xóa được bao khoảng cách – Thật tuyệt vời”.

(Còn nữa)
Hoài Hương (thực hiện)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Ông Nguyễn Hữu Có: Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn cũ là tất yếu

Từ trái sang: Các ông Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Hữu Có và nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trong buổi họp báo sáng 25/3 – Ảnh: Tuổi trẻ.

Nguyễn Hữu Có là chỉ huy quân sự danh tiếng, được cả Pháp và Mỹ trọng dụng. Ông được Ngô Đình Diệm phong quân hàm cấp Tướng, đảm giữ những chức vụ chủ chốt: Tổng Trưởng Quốc phòng (1966) kiêm Phó Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn cũ.

Ông cũng là một trong số những người vào thời khắc lịch sử của mùa xuân 1975 đã có mặt ở Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn, chứng kiến những ngày cuối cùng tồn tại của Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Hiện nay ông là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông.

Ông có thể cho biết sơ qua về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Ông Nguyễn Hữu Có: Tôi khởi đầu cuộc đời binh nghiệp khá sớm, từ khi 18 tuổi, lúc đó Pháp còn ở Việt Nam. Có thể nói, con đường binh nghiệp của tôi gặp nhiều thuận lợi, được đào tạo bài bản và thăng tiến khá nhanh. Tôi đã từng vào, ra Trung, Nam, Bắc, phục vụ trong quân đội Pháp. Sau Hiệp định Geneva, được giao nhiệm vụ chỉ huy điều quân vào các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi tiếp thu những vùng đất mà quân cách mạng đã rút ra miền Bắc.

Khi chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên được thiết lập, tôi là một trong 10 sĩ quan giỏi (trong đó có Nguyễn Văn Thiệu) được lựa chọn qua Mỹ đào tạo sĩ quan chỉ huy và tham mưu.

Sau khi tham gia vào cuộc đảo chính Diệm (1963) thành công, tôi được phong Thiếu tướng, từ thời điểm này, cuộc đời binh nghiệp và uy tín quân sự lên rất nhanh. Tôi đã nắm giữ các chức vụ quan trọng – Tổng Tham mưu trưởng Quốc phòng và hơn thế nữa, còn được Hội đồng tướng lĩnh bầu làm Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Phó Thủ tướng, được phong hàm Trung tướng. Nhưng, chính sự thăng tiến nhanh và uy tín cao trong hàng ngũ quân đội ấy của tôi đã không nhận được sự cổ vũ, thậm chí còn gây lo ngại cho chính quyền ông Thiệu. Cũng chính vì lẽ đó mà đời binh nghiệp của tôi đã phải rẽ ngang, “ba chìm, bảy nổi” ở nước ngoài, rồi buộc phải chuyển hướng, sang làm cho Tín nghĩa ngân hàng.

Ông còn nhớ gì về những ngày lịch sử của năm 1975, thời điểm khi quân cách mạng tiến vào giải phóng Sài Gòn?

Ông Nguyễn Hữu Có: Sao không nhớ, những sự kiện diễn ra ngày ấy thì ở Sài Gòn đến người dân bình thường còn quan tâm, huống chi một nhà binh lâu năm như tôi. Ngày 28/4, Thiệu từ chức, trao quyền cho Trần Văn Hương, rồi mấy ngày sau ông Hương lại chuyển quyền sang cho Tướng Dương Văn Minh.

Chiều 29/4, ông Minh cho người tới gọi tôi lên Bộ Tổng tham mưu, đề nghị tôi làm cố vấn, giúp cho Trung tướng Vĩnh Lộc (được chỉ định làm Tổng Tham mưu trưởng lâm thời) chỉ huy quân đội. Lúc này, Thiệu, Kỳ và Tướng Cao Văn Viên Tổng tham mưu trưởng đã “cao chạy, xa bay”. Tình hình Quân đội Việt Nam Cộng hòa hết sức hoang mang, náo loạn và rệu rã. Tôi nhận được điện thoại báo về là xe tăng quân cách mạng đã đến tới tận Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.

Suốt đêm đó, chúng tôi không chợp mắt. Gần sáng ngày 30, Bộ Tổng tham mưu bị Quân giải phóng nã pháo. Điện thoại báo về là Sư đoàn Đồng Dù của Tướng Lý Tòng Bá đã bỏ chạy, Lý Tòng Bá đã bị bắt. Điện từ hướng Biên Hòa cũng toàn hung tin, lính đào ngũ bỏ trốn rất đông, tình hình Biên Hòa căng thẳng, nhưng Tướng Lê Minh Đảo vẫn hứa cố giữ Biên Hòa để bảo vệ cho Sài Gòn. Cần Thơ và các tỉnh miền Tây báo lên là tình hình có khá hơn, chưa thấy lực lượng cách mạng và quân đội vẫn trong tình thế sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 30/4, khi Tướng Dương Văn Minh lên Đài phát thanh kêu gọi đầu hàng, đề nghị tất cả các binh lính hạ súng, toàn bộ quân đội cộng hòa, cả lực lượng ở miền Tây cũng sa sút tinh thần, tôi không nhớ chính xác tên hai tướng ở miền Tây sau khi nghe tin thất bại đã tự tử. Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn cũ là tất yếu. Chiến thắng 30/4/1975 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam.

Cuộc sống của ông và gia đình sau giải phóng ra sao? Có bị ai ngăn trở, hay gây khó dễ không?

Ông Nguyễn Hữu Có: Sau giải phóng, tôi đi học tập cải tạo 12 năm và hiện sống với gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh. Không có ai cản trở gì đến cuộc sống của chúng tôi. Chúng tôi có tới 12 người con, hiện các con tôi đã lập gia đình, có con cháu và các cháu cùng sống với chúng tôi. Các con tôi tuy làm những công việc khác nhau, nhưng đủ sống, có cháu còn khá giả.

Các con và cháu tôi đều được đi học, gia đình tôi sống hòa thuận, vui vẻ, quan hệ tốt với khu phố, được tặng không ít bằng khen, giấy khen vì những thành tích khác nhau. Tôi và vợ vẫn qua lại bên Hoa Kỳ chơi, không hề bị cấm đoán. Sắp tới, chúng tôi lại sang Hoa Kỳ thăm người nhà. Năm 2004, tôi được mời tham gia công tác Mặt trận, là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Tôi vẫn thường xuyên được mời tới tham dự các cuộc gặp mặt với các vị lãnh đạo cao cấp của Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể và luôn nhận được sự thăm hỏi, động viên của các cấp chính quyền.

Là tín hữu của đạo Tin lành, ông có được tự do hoạt động tôn giáo không?

Ông Nguyễn Hữu Có: Gia đình tôi theo đạo Tin lành, chúng tôi được tự do đi lễ nhà thờ, không bị ai bắt bớ, cấm đoán, cấm giảng đạo. Theo tôi không có hiện tượng vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, nếu cấm thì làm sao giờ ở miền Nam có tới 270 nhà thờ của Hội thánh Tin lành. Chỉ có những hình thức hoạt động truyền đạo thế nào, nhất là ở nơi công cộng thì chính quyền các cấp phải có quy định rõ hơn và phải có giải thích cho dân.

Ông có ý kiến gì về Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về người Việt Nam ở nước ngoài?

Ông Nguyễn Hữu Có: Theo tôi, Nghị quyết đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo bà con kiều bào ở nước ngoài, nếu thực hiện đúng thì nhiều người sẽ trở về, đóng góp cho đất nước. Trường hợp của ông Nguyễn Cao Kỳ là minh chứng khá rõ. Chỉ có một số ít bà con ở nước ngoài còn chưa hiểu rõ, nhưng nếu được tuyên truyền và hiểu đúng thì họ cũng sẽ trở về. Nhân chuyến thăm của tôi sắp tới sang Hoa Kỳ, qua đó, chúng tôi sẽ cố gắng giải thích thêm cho bà con ở bên đó để không còn sự hiểu lầm và cho họ biết rằng, đất nước ta đã phát triển về mọi mặt kinh tế – xã hội, rất cần có sự đóng góp của kiều bào ở nước ngoài thuộc đủ mọi ngành nghề, sẽ rất có lợi cho Tổ quốc.

Rất cảm ơn ông, chúc ông và gia đình sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt và chuyến đi may mắn.

(Theo VOV)
tienphong.vn

Chính quyền Sài Gòn những ngày hấp hối Kỳ (Kỳ cuối)

Di tản hoảng loạn và sụp đổ

Di tản hoảng loạn và sụp đổ

Ngày 28/4/1975, tướng Pháp Francois Vanuxem ghé thăm Dương Văn Minh tại nhà riêng để hối thúc Minh tạo dựng chính quyền mới.

Tướng CIA Charles Timmes buổi chiều cùng ngày cũng đã tới nhà Dương Văn Minh 3 lần. Timmes hỏi Minh về thành viên nội các mới, đề nghị thiết lập đường dây nóng nối văn phòng của Minh với ĐSQ Mỹ. Timmes hỏi quan điểm của Minh về tương lai thế nào? Dương Văn Minh mỉm cười, sau đó hạ giọng nói rằng vẫn còn một cơ hội cho đàm phán với Hà Nội vì Sài Gòn, Tây Ninh, và đồng bằng sông Cửu Long chưa hoàn toàn rơi vào tay đối phương.

Timmes hỏi tiếp đại ý: Nếu những vùng này rơi nốt vào tay Bắc Việt thì điều gì sẽ xảy ra? Tổng thống Minh sẽ làm gì? ĐSQ Mỹ sẵn sàng chấp nhận Minh cư trú chính trị? Nghe hỏi câu này, Dương Văn Minh lại mỉm cười và lắc đầu nói: “Người Việt Nam là nhân dân tôi mà. Tôi không đi đâu cả”. Sau đó, Minh đề nghị Charles Timmes giúp dàn xếp cho con gái của mình (kết hôn với một đại tá quân đội Sài Gòn) cùng các cháu ngoại của Minh đi di tản.

Chiều 28/4, trời Sài Gòn bỗng nổi cơn giông sấm chớp ầm ầm. Khoảng 16 giờ hơn 200 nghị sĩ, tướng lĩnh về hưu, và các quan chức cao cấp khác tập trung tại phòng khánh tiết Dinh Tổng thống để chúc mừng tân Tổng thống. Trong bài phát biểu của mình, Dương Văn Minh là Tổng thống Chính quyền Sài Gòn đầu tiên chính thức thừa nhận sự tồn tại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLT).

Minh kêu gọi ngừng bắn ngay tức khắc để thương lượng trong khuôn khổ “Hiệp định Paris” đồng thời cam kết thành lập một chính phủ rộng rãi bao gồm mọi cá nhân theo tinh thần hòa giải. Minh cam kết sẽ trả lại tự do cho những tù nhân chính trị nhằm đáp ứng đòi hỏi trước đây của Chính phủ CMLT về việc xóa bỏ hoàn toàn bộ máy đàn áp của Chính quyền Sài Gòn.

Đại sứ Graham Martin theo dõi tường thuật trực tiếp bài diễn văn của Dương Văn Minh qua phiên dịch. Khi Minh kết thúc bài phát biểu, khoảng 18 giờ thì một phi đội gồm 5 chiếc máy bay A–37 được trang bị pháo MK 81 bắn phá phi trường Tân Sơn Nhất.

Khu vực đỗ máy bay của không lực Chính quyền Sài Gòn đã bị trúng 6 quả bom làm ít nhất 3 chiếc AC – 119 và một số chiếc C–47 bị phá hủy hoàn toàn. Hai quả bom khác rơi đúng điểm giữa tòa nhà Phòng tác chiến và tháp chỉ huy. Sau này được biết viên phi công chỉ huy tốp máy bay ném bom này là Nguyễn Thành Trung – một cựu sĩ quan không lực của Chính quyền Sài Gòn. Trước đó 3 tuần, cũng chính phi công này đã cùng đồng đội lái 3 máy bay A–37 ném bom xuống Dinh Tổng thống.

Trong khi đó, sau loạt bom đầu tiên, ĐSQ Mỹ tin rằng kẻ đứng đầu vụ ném bom Tân Sơn Nhất không ai khác là viên tướng hay nhiễu sự Nguyễn Cao Kỳ. Nhưng sau đó, thông qua người bạn thân của Kỳ là nhà báo Robert Shaplen viết cho tờ The New Yorker (Người New York) CIA mới biết Kỳ không liên quan.

Các máy bay A – 37 nói trên đã cất cánh từ sân bay Phan Rang mà quân đội Bắc Việt mới chiếm được. Đến thời điểm này, nội đô Sài Gòn đâu đâu cũng thấy các quan chức chính quyền và binh lính bỏ nhiệm sở đi di tản. Cảnh sát chính quyền Sài Gòn phải áp dụng giới nghiêm 24 giờ/ngày để ngăn cản mọi sự tụ tập ra đi.

Sau vụ phi công Nguyễn Thành Trung ném bom phi trường Tân Sơn Nhất, chỉ huy phụ trách hậu cần Erich Von Marbod tới gặp Nguyễn Cao Kỳ nhờ cho lính lái toàn bộ số máy bay dự trữ đi cất giấu tại sân bay Takli (Thái Lan). Kỳ nhận lời nhưng không thực hiện. Kết quả là không một chiếc máy bay nào được đưa sang sân bay Takli cất giấu trước khi quân giải phóng dội tên lửa xuống phi trường Tân Sơn Nhất sáng 29/4/1975.

Tối 28/4 những người di tản đã làm náo động cả thành phố với những đoàn xe hơi, xe thùng bất chấp lệnh giới nghiêm cứ ùn ùn kéo về tòa ĐSQ Mỹ, phi trường Tân Sơn Nhất và các trung tâm di tản khác. Vào lúc này, phía quân đội Bắc Việt đã xác định xong các mục tiêu cuối cùng của họ. Sáng 29/4, các đơn vị quân đội Bắc Việt từ các hướng được lệnh tiến thẳng vào Sài Gòn. Lữ đoàn xe tăng thiết giáp 203 quân đội Bắc Việt đã vượt qua Biên Hòa đang ào ạt tiến về Sài Gòn từ phía Đông theo đường quốc lộ số 1.

Suốt đêm 28 và cả ngày 29/4, Sài Gòn rơi vào tình trạng di tản hoảng loạn. Các máy bay vận tải quân sự C–130 và các máy bay trực thăng bay kín bầu trời hối hả chở người Mỹ và các quan chức, binh lính Chính quyền Sài Gòn cùng gia đình họ ra tàu sân bay Mỹ ngoài khơi.

Đường phố Lê Quí Đôn, nơi có trụ sở Phòng Thông tin Hoa Kỳ chật cứng những người chạy di tản. Trưa 29/4 (giờ Sài Gòn) tại Washington lúc đó là nửa đêm, Tổng thống Mỹ Gerald Ford căng thẳng và mệt mỏi. Dưới tầng lầu, Ngoại trưởng Henry Kissinger đọc lướt các bức điện từ Sài Gòn dồn dập truyền về. Bức điện mới nhất từ tướng Homer Smith, Trưởng Phòng Tùy viên quân sự Mỹ (DAO) tại Sài Gòn, khẳng định quân đội chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ và Bộ chỉ huy của nó không còn tồn tại nữa.

Vào lúc này, tại tổng hành dinh Bộ tổng tham mưu liên quân quân đội Chính quyền Sài Gòn, tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ đi bộ lững thững một mình trong những căn phòng trống rỗng. Trước đó, vào buổi sáng cùng ngày, Kỳ đã bố trí xong xuôi cho vợ con đi di tản. Kỳ điện thoại lên sở chỉ huy không quân, ai đó nhắc ống nghe nói rằng mọi người đã bỏ nhiệm sở chạy hết lên Phòng Tùy viên quân sự Mỹ chờ đi di tản.

Kỳ vừa đặt ống nghe xuống thì tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên tư lệnh quân khu 1 bước vào dáng vẻ tiều tụy và cay đắng. Kỳ bước tới vỗ vai Trưởng nói: “Đi theo tôi”. Sau đó Kỳ và Trưởng lên chiếc trực thăng riêng của Kỳ bay thẳng ra tàu sân bay Mỹ USS Midway đỗ ngoài khơi.

Tại khuôn viên Phòng Tuỳ viên quân sự Mỹ, tướng Phú cựu tư lệnh quân khu 2 trong bộ quân phục là phẳng phiu tới gặp Tuỳ viên quân sự Homer Smith xin cho vợ con ông ta đi di tản. Phú không xin bất cứ điều gì cho mình. Sau khi vợ con Phú đã lên máy bay, Phú quay ra, rút súng tự dí vào đầu mình bóp cò tự sát. Tại Dinh Tổng thống, tư lệnh hải quân Diệp Quang Thủy tới mời Tổng thống Dương Văn Minh lên tàu thủy đi di tản. Minh buồn bã lắc đầu từ chối, nói rằng ông sẽ phải ở lại cho đến cùng.

Cuộc di tản trong hoảng loạn diễn ra hối hả đến tận sáng 30/4/1975. Sĩ quan cao cấp CIA Frank Snepp dìu Đại sứ Martin lên chiếc trực thăng đậu trên nóc tòa nhà ĐSQ Mỹ. Martin run lẩy bẩy bước lên máy bay, dường như lúc này ông ta đã trở nên quá yếu đuối. Chiếc trực thăng chở Đại sứ Mỹ Martin rời Sài Gòn lúc 5 giờ sáng ngày 30/4. Khoảng 5 giờ 30, lữ đoàn xe tăng 203 quân đội Bắc Việt vượt cầu Tân Cảng tiến vào thành phố.

Chiếc trực thăng cuối cùng chở người di tản từ nóc nhà ĐSQ Mỹ cất cánh lúc 7 giờ 53 phút, trễ hơn nhiều so với hạn chót mà Washington đặt ra là 3 giờ 45 phút. Đến trưa cùng ngày, Chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Từ tàu sân bay USS Denver, Frank Snepp nghe đài BBC đưa tin: “Quân đội Bắc Việt đã tiến vào Sài Gòn. Họ đã đổi tên nơi đây là thành phố Hồ Chí Minh”.

Nguyễn Đại Phượng
Lược dịch từ “Decent Interval”
tienphong.vn