Thư viện

Chiến dịch Quảng Ngãi

Ngày 13-3-1975 theo lệnh của Bộ chỉ huy tiền phương quân khu, chiến dịch tổng hợp Xuân Hè năm 1975 trên chiến trường Quảng Ngãi đã nổ súng. Ngày 17-3, ta đã cài được thế chiến dịch ở thị xã Quảng Ngãi, cô lập địch ở phía Tây, cắt đứt quân địch ứng viện bằng đường bộ giữa phía Bắc và phía Nam thị xã.

Xe tăng tiến vào giải phóng thị xã Quảng Ngãi.

Trước sự uy hiếp ngày càng tăng của ta, bọn địch ở Quảng Ngãi kêu cứu. Bộ Tổng tham mưu quân nguỵ Sài Gòn tức tốc điều Tiểu đoàn 70 biệt động đang huấn luyện ở Dục Đức (Khánh Hòa) chi viện cho Quảng Ngãi. Ngày 20-3, huyện Trà Bồng sạch bóng quân thù.

Ngày 23-3, Trung đoàn 94 và Đại đội 31 huyện Bình Sơn đánh cắt đoạn đường số 1 từ cầu Ô Sông đến Thế Long dài 7km. Cùng ngày, miền Tây Quảng Ngãi được hoàn toàn giải phóng.

1 giờ ngày 24-3-1975, lệnh tấn công thị xã Quảng Ngãi được phát ra. Pháo binh ta dồn dập trút đạn vào các mục tiêu. Xe tăng từ Hòn Bà tiến thẳng xuống Tây thị xã.

Tiểu đoàn 403 đánh chiếm các điểm Mũi Né, đèo Bình Trung. Địch ở Đồng Thanh, Núi Ép rút chạy… 12 giờ trưa ngày 24, chuẩn tướng Trần Văn Nhật và bọn chỉ huy ở tiểu khu Quảng Ngãi tháo chạy bằng trực thăng.

Cùng thời gian đó, bộ đội ta từ các hướng tiến vào thị xã, lần lượt chiếm các vị trí quân sự, cơ quan chính quyền tỉnh. Quần chúng bên trong thị xã nổi dậy phối hợp trong khí thế cách mạng sôi sục…

Sau hơn 30 ngày đêm chiến đấu, ngày 24-3-1975, tỉnh Quảng Ngãi – quê hương của khởi nghĩa Ba Tơ được hoàn toàn giải phóng.

HÀ MINH
(Tổng hợp)

SGGP Online

Mở đầu chiến dịch Huế – Đà Nẵng

Ngày 21-3-1975, từ 3 hướng Bắc, Tây và Nam, các lực lượng quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 của ta đồng loạt tiến công các tuyến phòng thủ của địch, hình thành nhiều mũi tấn công vào thành phố Huế mở đầu chiến dịch Huế – Đà Nẵng.

Quân giải phóng tiến vào cầu Tràng Tiền. Ảnh: TTXVN.

Các lực lượng chủ lực và địa phương đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 1 ngụy, cắt đứt đường số 1 giữa Huế và Đà Nẵng. Hàng trăm xe đang trên đường rút chạy về Đà Nẵng bị ùn lại. Quân địch không còn con đường nào khác là rút chạy ra biển theo hướng cửa Thuận An và cửa Tây Hiền.

Tại chiến trường Khu 5, Lữ đoàn 52 và Trung đoàn 36 (Sư đoàn 2) bộ binh tiến công vào các cứ điểm chợ Cây Xanh, điểm cao 132, Dương Huê… tiếp đó đập tan đợt phản kích của địch, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 5 và một tiểu đoàn của Liên đoàn 2 biệt động quân, phá vỡ một mảng trên tuyến phòng thủ của địch ở phía Tây thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam).

Ở Quảng Ngãi, Trung đoàn 94 tiêu diệt cụm chốt địch ở Tây Bắc quận lỵ Bình Sơn. Nhân dân Bình Sơn nổi dậy giải phóng 6 xã ở hai bên đường số 1. Ta tiếp tục truy kích địch, giải phóng hoàn toàn vùng nông thôn thuộc 2 huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh.

Bộ đội chủ lực và lực lượng địa phương tiến công xuống đồng bằng cắt đứt một số đoạn trên đường số 1. Địch buộc phải rút quân và dàn mỏng trên một tuyến dài từ Tây Đà Nẵng đến Quảng Ngãi để đối phó với ta.

Lúc này ở Tây Nguyên, ta tiếp tục truy kích tàn quân của Quân đoàn 2 ngụy. Phần lớn cuộc di tản chiến lược của địch lại trở thành cuộc rút chạy trong hoảng loạn. Lực lượng ta tiến dần về phía Đông, phát triển xuống ven biển phối hợp với Khu 5 chiếm đường 19 và 21 cắt rời hệ thống phòng thủ phía Nam của địch và cô lập Quân khu 1.

N.T.H.H tổng hợp

SGGP Online

Siết gọng kềm, bao vây Huế

Ngày 20-3-1975, ở mặt trận Tây Nguyên, Trung đoàn 271 đánh chiếm Kiến Đức, tiếp tục giải phóng Gia Nghĩa; Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 và Trung đoàn 95 A giải phóng quận lỵ An Khê.

Quân giải phóng tiến vào Cố đô Huế.

Vào ngày này, Sở Chỉ huy chiến dịch Tây Nguyên nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ đạo: Địch đang có ý đồ thực hiện co cụm chiến lược quy mô lớn nhằm tập trung lực lượng ở vùng Sài Gòn và một phần ĐBSCL, có thể ở Đà Nẵng và Cam Ranh nữa, hòng tạo một thế tương đối vững để đi đến một giải pháp chính trị liên hiệp hoặc chia cắt miền Nam. Vì vậy ta cần phải tranh thủ thời gian cao độ, hành động khẩn trương, hết sức bất ngờ về thời gian, phương hướng, lực lượng và táo bạo đồng thời đảm bảo chắc thắng.

Ở mặt trận Huế-Đà Nẵng, ta phát động chiến tranh nhân dân ở đồng bằng phối hợp nhiều lực lượng chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích… tiến công địch; tích cực chuẩn bị mọi mặt để giải phóng Huế. Đối với Quân khu 5, mục tiêu trước mắt là tiêu diệt Sư đoàn 2 ngụy, tiến về Đà Nẵng để phối hợp kế hoạch chung. Quân đoàn 2 chuẩn bị hỏa lực đánh Đà Nẵng.

Trong ngày này, Đài Phát thanh Huế đưa tin: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh phòng chống thành phố Huế bằng mọi giá”; Tư lệnh Quân khu 1 Ngô Quang Trưởng cũng lên đài thề thốt “tử thủ Huế”. Tuy nhiên, cũng trong thời điểm này, ngoài miệng hô hào tử thủ Huế nhưng Ngô Quang Trưởng đã vội bay vào Đà Nẵng và Quân đoàn 1 ngụy được lệnh rút lực lượng về phòng thủ Đà Nẵng; Lữ đoàn Không quân số 1 đã được lệnh chuyển vào Sài Gòn.

Không khí chuẩn bị giải phóng thành phố Huế sôi sục. Pháo tầm xa của ta đã rót đạn vào sân bay Phú Bài và cửa Thuận An. Ở Quân khu 5, Sư đoàn 2 cùng lực lượng địa phương tiêu diệt địch tại các quận lỵ Tiên Phước, Trà My…

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online

Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975

Ngày 18-3-1975, trên đường số 7 ta tiếp tục đánh địch. Liên đoàn 7 ngụy thiệt hại nặng. Chỉ có một số rất ít vượt qua điểm chốt chặn của ta. Ta tiến vào chiếm Phú Bổn. Địch tại Phú Bổn bỏ hết vũ khí nặng, xe cộ…đi bộ vòng qua rừng không dám đi đường đèo đã bị ta chốt chặn.

Nhiều loại xe quân dụng và các thiết bị của địch bỏ lại trên đường rút chạy.

Thiết đoàn 3 ngụy cũng bỏ hết xe, chạy tán loạn vào rừng sau khi bị ta đánh nhiều lần. Quãng đường từ đèo Tu Na đến quận Sơn Hòa, quân lính kéo theo gia đình tháo chạy nên không giấu được mục tiêu. Quân ta truy kích sát, khiến địch một số thiệt mạng, một số ra hàng.

Cùng ngày 18-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp. Mọi người đều vui mừng khi thấy cuộc tiến công nhanh hơn dự kiến. Trước những chiến thắng dồn dập trên, ta đang mạnh mẽ, địch suy sụp nhanh và ta đang đứng trước một thời cơ chưa từng có.

Bộ Chính trị hạ quyết tâm chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược, hoàn thành kế hoạch hai năm 1975-1976 ngay trong năm 1975.

Phương hướng tiến công chiến lược chủ yếu được xác định là Sài Gòn. Trước mắt, nhanh chóng tiến công tiêu diệt bằng được toàn bộ lực lượng địch trong vùng 1 chiến thuật, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, giải phóng Huế- Đà Nẵng.

Cùng ngày này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng các cố vấn thân cận ra Đà Nẵng họp cấp tốc. Cuộc họp diễn ra với lý do bàn giải quyết vấn đề người tỵ nạn, nhưng thực chất cuộc họp bàn về vấn đề nên bỏ hay giữ Quân khu 1. Nghe Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân khu 1 báo cáo cuộc tiến công của ta vào Huế và Đà Nẵng sắp nổ ra. Cả Thiệu và êkíp vội vàng chạy ngay vào Sài Gòn với lý do bàn bạc cho an toàn.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Truy kích địch theo đường số 7

Ngày 16-3, dưới sự yểm trợ của hàng chục máy bay ném bom và bắn phá dọn đường, quân địch ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum bắt đầu rút chạy. Nhận được thông tin địch rút chạy theo đường số 7, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tham gia truy kích địch gồm Sư đoàn 320A được tăng cường Trung đoàn 95B bộ binh, một tiểu đoàn thiết giáp, một cụm pháo binh chiến dịch và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên.

Vũ Thế Quang (trái) Đại tá Sư phó Sư đoàn 23 ngụy và Nguyễn Trọng Luật (phải) Tiểu khu trưởng Đắc Lắc bị quân giải phóng bắt sống. Ảnh: TTXVN

Khi nhận được lệnh truy kích, các đơn vị của Sư đoàn 320A đang ở nhiều nơi như Trung đoàn 64 quét địch tại Phước An, Buôn Hồ; Trung đoàn 48 làm đường ở đông Thuần Mẫn đi Cheo Reo, Trung đoàn 9 truy quét địch trên đường số 17, Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) là đơn vị hiện đóng gần đường số 7 nhanh chóng về Cheo Reo để chặn địch, các đơn vị khác khẩn trương thu quân đổ về đường số 7 truy kích địch.

Bộ đội tỉnh Phú Yên lên chốt đường số 7, không cho địch thoát về Tuy Hòa. Sư đoàn 968 tiến nhanh vào Pleiku, bám sát đội hình rút lui của địch, từ sau đánh tới.

Tại mặt trận Trị – Thiên, quân ta phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch tại đường 14, diệt và bắt gần 1.000 tên địch, thu hút và giam chân địch tại Tây-Nam Thừa Thiên, diệt cứ điểm Chúc Mao, uy hiếp Tây-Bắc Huế.

Ở Đông Nam Bộ ta mở các đợt tiến công trên đường 13, đường 20 và một đoạn trên quốc lộ 1 (Long Khánh- Rừng Lá). Ta chiếm Dầu Tiếng, suối Ông Hùng, Cầu Khởi (Tây-Bắc Sài Gòn), Định Quán (Đông-Bắc Sài Gòn). Tại Tây Nam bộ, ta mở rộng một số vùng giải phóng, lấn sâu vào các khu vực trọng yếu.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Địch bỏ chạy khỏi Pleiku

Sáng 15-3, địch điều Liên đoàn 3 Biệt động quân, Thiết đoàn 19 về giữ Cheo Reo. Liên đoàn 6 Biệt động quân có công binh đi trước mở đường, bắc cầu từ Đông Cheo Reo về Củng Sơn, Tuy Hòa.

Địch tháo chạy khỏi Pleiku.

Cùng buổi sáng này, Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 ngụy và ban tham mưu đã rút chạy về Nha Trang với lý do thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy tác chiến lấy lại Buôn Ma Thuột (?!). Như vậy là Phú không tử thủ ở Pleiku như đã hứa trước đó. Mặc dù kế hoạch rút chạy được thực hiện hoàn toàn bí mật nhưng binh sĩ và người dân vẫn nhận ra ý định bỏ Pleiku của ngụy.

Họ ùn ùn kéo vào sân bay, tranh nhau lên máy bay di tản. Những ai không đi được bằng đường không thì dùng đủ loại xe chạy về Phú Bổn. Đường sá tắt nghẽn, quân lính tranh nhau đường đi, đánh nhau ầm ĩ trên đường. Cảnh đã rối loạn càng rối loạn hơn. Liên đoàn Biệt động quân 22 cũng rút chạy khỏi Kon Tum. Giao thông trong thị xã Phú Bổn ùn tắc, trong khi đó lượng người đổ về ngày càng đông.

Đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trong một phạm vi chiến dịch, một quân đoàn địch phải rút chạy bỏ một địa bàn chiến lược quan trọng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên là một sai lầm lớn về mặt chiến lược, đã tạo thời cơ cho ta tiêu diệt nhiều quân địch và giải phóng Tây Nguyên.

Đêm 15-3, Cục Quân báo phát hiện một hoạt động đáng chú ý của địch ở Trị – Thiên: Liên đoàn Biệt động quân 14 chuyển ra Quảng Trị thay thế cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ chuyển vào Đà Nẵng. Qua cuộc đọ sức lớn tại Buôn Ma Thuột và các diễn biến tiếp theo, có thể thấy rõ địch yếu hơn so với sự đánh giá của ta trước khi chiến dịch mở ra.

Địch không hy vọng giữ được Trị – Thiên, nên tập trung về giữ Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều vị trí chiến lược xung yếu. Điều này càng khẳng định kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm của ta có thể được hoàn thành sớm hơn. Trước mắt, đã có thể mở cuộc tiến công giải phóng thành phố Huế và toàn bộ hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Địch chuẩn bị tháo chạy khỏi Tây Nguyên

Đại tướng Văn Tiến Dũng (thứ hai từ trái sang) tại Sở chỉ huy Mặt trận Giải phóng Tây Nguyên.

Ngày 14-3-1975, Sở chỉ huy mặt trận Tây Nguyên gửi điện báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về kết quả những ngày đầu của chiến dịch.

Sở chỉ huy hứa sẽ thực hiện tốt yêu cầu của trên là rút ngắn thời gian giành thắng lợi vượt mức kế hoạch đề ra. Việc giải phóng Tây Nguyên dự kiến trong năm 1976 nay chỉ còn trong vòng vài ba tháng của năm 1975.

Vào thời điểm này, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu cùng bộ sậu là Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang đã đến Cam Ranh bàn luận với Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 về số phận của Tây Nguyên.

Trước sự tấn công bất ngờ và quá mạnh của ta, bộ phận đầu não của địch quyết định bỏ Tây Nguyên rút quân thật nhanh và bất ngờ theo đường số 7 về giữ miền duyên hải Trung Bộ để bảo toàn lực lượng. Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, điều này đã đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cách đó vài ngày.

Kế hoạch rút lui được địch triển khai bí mật cả với các lực lượng địa phương, không thông báo cho các tỉnh trưởng để họ “tử thủ” tiếp tục chống giữ. Một kế hoạch rút lui đã được Quân đoàn 2 chuẩn bị khá kỹ càng và gấp rút. Kế hoạch này bắt đầu từ ngày 15-3-1975.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Đánh địch phản kích

Ngày 12-3, UBND tỉnh Đắc Lắc do đại tá Y Blốc làm chủ tịch được thành lập. Chính quyền mới thành lập đã tích cực tổ chức cuộc sống cho nhân dân. Các hộ dân khó khăn đã được cấp phát lương thực, nhu yếu phẩm. Các hộ dân được tổ chức đào hầm ngầm hoặc sơ tán tránh ảnh hưởng các trận đánh. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tổ chức đánh địch phản kích.

Xe tăng của bộ đội ta tiến vào giải phóng Buôn Ma Thuột.

Trong ngày, Trung đoàn 198 đặc công và Trung đoàn 148 bộ binh đã truy quét, diệt các vị trí địch còn lại trong thị xã Buôn Ma Thuột. Các Trung đoàn 25, 95B, 174, 149, 66 có xe tăng phối hợp tiêu diệt và bức hàng nhiều cứ điểm địch tại ngoại vi như Buôn Hồ, Chư Pao, Đạt Lý, Châu Nga, Châu Sơn. Tiểu đoàn 219 (Đoàn 559) đánh chiếm Bản Đôn.

Bị tấn công bất ngờ mất Buôn Ma Thuột, địch vội vã điều động quân để phản công, hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột. Sau khi cho hơn 100 lượt máy bay ném bom dọn bãi, địch dùng trực thăng đổ quân xuống Đông Bắc Buôn Ma Thuột. Nhận rõ đây là thời cơ đánh địch ngoài công sự, bộ đội ta chuyển sang đánh quân địch phản kích. Pháo cao xạ bắn rơi một số trực thăng ngụy. Pháo mặt đất bắn vào nơi địch đổ quân.

Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10) được xe tăng và pháo binh hỗ trợ đã liên tục bám đánh và tiêu diệt địch. Kết quả, Trung đoàn 24 đã đánh bại hai tiểu đoàn 1 và 2 (Trung đoàn 45 ngụy) và một tiểu đoàn bảo an, chiếm điểm cao 581, giải phóng một đoạn đường số 21 dài 12km. Trận chiến đánh địch phản kích đến hết ngày 12-3 vẫn chưa chấm dứt.

Vào thời điểm này, đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi điện từ Hà Nội vào truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: Dự kiến lực lượng địch còn lại ở Tây Nguyên sẽ co cụm lại ở Pleiku và có thể rút lui bỏ Tây Nguyên. Do đó cần bao vây ngay Pleiku, triệt cả đường bộ lẫn đường không, chuẩn bị tiêu diệt địch. Như vậy, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã sớm dự kiến một cuộc rút lui của địch ở Tây Nguyên.

Q.A. tổng hợp

SGGP Online

Giải phóng Buôn Ma Thuột

6 giờ sáng 11-3, được hỏa lực pháo binh chi viện, quân ta từ 3 hướng mở đợt tấn công vào sở chỉ huy sư đoàn 23 ngụy.

Trong cơn tuyệt vọng, địch chống chọi quyết liệt. Máy bay địch ném bom xuống đường phố. Xe tăng địch xông ra bịt các ngả đường.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Tuy nhiên, sự phòng vệ của địch đã bị đập tan. đến 11 giờ 11-3, quân ta làm chủ sở chỉ huy địch, bắt sống Vũ Thế Quang, đại tá sư đoàn phó sư đoàn 23 và Nguyễn Trọng Luật, tiểu khu trưởng Đắc Lắc; giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Chiến thắng Buôn Ma Thuột được đánh giá là trận thắng then chốt quyết định của chiến dịch Tây Nguyên.

Sáng 11-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp tại Sở chỉ huy. Đây là cuộc họp đầu tiên của Bộ chỉ huy tối cao từ khi mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Hội nghị cho thấy cục diện chiến trường đang chuyển biến nhanh, cần nắm bắt cho kịp thời cơ. Bộ Chính trị chỉ thị Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị nhanh kế hoạch giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và dự kiến những thời cơ lớn hơn.

Chiều 11-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gửi điện khen quân và dân Tây Nguyên đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng và sáng tạo giành thắng lợi to lớn trong những ngày đầu chiến dịch. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị: Nhanh chóng nắm lấy thời cơ thuận lợi, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa.

Ở Buôn Ma Thuột, cần nhanh chóng tiêu diệt tàn quân địch trong thị xã, tiêu diệt các cứ điểm ở ngoại vi. Quân ủy Trung ương chỉ thị cho mặt trận Tây Nguyên phải kiên quyết đánh bại địch phản công, bao vây và tiến tới đánh chiếm Pleiku, chặt đứt đường 19, cô lập Kon Tum.

Q.A tổng hợp

Địch phản kích thất bại

Binh lính ngụy bị bắt và giao nộp vũ khí

Ngày 13-3, hai trung đoàn 66 và 28 (Sư đoàn 10) từ Đức Lập hành quân đến Đông-Bắc thị xã Buôn Ma Thuột hỗ trợ các đơn vị bạn đánh địch phản kích. Trong ngày này, lực lượng ta đã đánh quân phản kích chạy tán loạn, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Cuộc phản kích của địch đã bị thất bại hoàn toàn.

Trong khi đó, ở phía Bắc Tây Nguyên và trên chiến trường Trị-Thiên, Khu 5, bộ đội ta đẩy mạnh tác chiến phối hợp với mặt trận Buôn Ma Thuột, tạo thế chia cắt buộc Quân đoàn 2 ngụy phải phân tán lực lượng đối phó.

Sư đoàn 968 bộ binh đánh chiếm hai chốt địch ở Tây-Nam Pleiku, áp sát quận lỵ Thanh Bình, pháo kích sân bay Cù Hanh, Kon Tum. Bộ đội địa phương Gia Lai và Kon Tum hoạt động mạnh ở Đông-Nam thị xã Pleiku. Sư đoàn 3 và trung đoàn 95 A chốt giữ các vị trí đã chiếm được Đường số 19, phát triển tiến công ra hướng đèo Măng Giang và hướng Vườn Xoài.

Trung đoàn 25 bộ binh diệt một bộ phận quân địch từ Khánh Dương lên và tiếp tục chia cắt đường 21. Trung đoàn 271 và Tiểu đoàn 14 đặc công đánh chiếm một số ấp vùng ven, áp sát sân bay Nhơn Cơ (Quảng Đức).

Ở Trị-Thiên, lực lượng vũ trang gia tăng hoạt động tại vùng giáp ranh uy hiếp thành phố Huế từ phía Tây và Tây Bắc. Ở khu 5, Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 52 đã diệt chi khu quân sự Tiên Phước, chia cắt đường số 1, uy hiếp thị xã Quảng Ngãi và thị xã Tam Kỳ.
Thắng lợi lớn của ta ở Buôn Ma Thuột và hoạt động phối hợp ở các chiến trường khác đã làm địch lúng túng.

Q.A tổng hợp

SGGP Online

Đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột

Đánh chiếm sân bay Hòa Bình.

2 giờ sáng 10-3-1975, trung đoàn 198 đặc công được tăng cường các phân đội hỏa lực B72, DKZ nổ súng đánh sân bay thị xã, sân bay Hòa Bình, khu kho Mai Hắc Đế, mở màn cuộc tiến công Buôn Ma Thuột. Cùng lúc pháo chiến dịch bắn vào các mục tiêu sư đoàn bộ sư đoàn 23, tiểu khu Đắc Lắc, trại pháo binh, thiết giáp… 6 giờ sáng bộ đội ta từ các hướng xung phong vào các cứ điểm.

Sau những phút hoảng loạn, địch củng cố lực lượng cố giữ một cách quyết liệt. Cuộc chiến diễn ra ác liệt ở nhiều khu vực. Địch cho cả máy bay ném bom và phản kích nhiều đợt. Ta và địch có nơi giành nhau từng khu vực. Đến 17 giờ 30 ngày 10-3, bộ đội ta đã chiếm hầu hết các mục tiêu trong thị xã. Do không nắm chắc được sở chỉ huy của sư đoàn 23 ngụy, nên lúc đó ta chưa chiếm được mục tiêu quan trọng này.

Đến chiều 10-3, đầu não của địch mới biết rõ ý định đánh Buôn Ma Thuột của ta thì đã quá muộn. Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu và tư lệnh quân đoàn 2 ngụy Phạm Văn Phú lệnh cho quân lính còn lại trong thị xã tử thủ chờ viện binh. Tuy nhiên, các đường số 14, 19, 21 đã bị quân ta cắt đứt. Lực lượng địch ở Bắc Tây nguyên và các tỉnh Trung bộ còn đông nhưng không có đường lên ứng cứu.

Q.A tổng hợp

SGGP Online

Tấn công Đà Nẵng

Ngày 28-3-1975, trên tất cả các hướng, bộ đội ta mở trận công kích vào Đà Nẵng. Pháo ta bắn dữ dội vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, cảng Sơn Trà, sân bay Nước Mặn và các mục tiêu quân sự trọng yếu khác.

Xe tăng của ta tiến vào Đà Nẵng.

Đòn tập kích hỏa lực bằng pháo binh đã làm địch hoang mang càng thêm hoảng loạn. Chúng không hiểu bằng cách nào bộ đội ta tiến đánh nhanh như vậy. Sân bay Đà Nẵng tuy chưa thiệt hại nhiều nhưng buộc phải đóng cửa. Cũng tương tự như ở Huế, địch chỉ còn một lối thoát là chạy ra biển.

Từ hướng Bắc, Sư đoàn 325 Quân đoàn 2 tiến đánh địch theo đường số 1, đánh tan địch đang chốt chặn tại Lăng Cô. Hướng Tây-Bắc, Sư đoàn 304 Quân đoàn 2 theo trục đường 14 phá vỡ tuyến ngăn chặn của Sư đoàn 3 ngụy. Hướng Nam và Đông-Nam, Sư đoàn Quân khu 5, Trung đoàn 96 bộ đội Quảng Đà chiếm các vị trí bàn đạp ở phía Nam sông Thu Bồn. 14 giờ cùng ngày, máy bay địch đánh sập cầu Câu Lâu và cầu Bà Rén nhằm ngăn cản bước tiến của ta.

Trong lúc đó, tại phía Nam, tướng Uây-en, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, người đã cuốn lá cờ Mỹ để cùng đơn vị Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam năm 1973, đã đến Sài Gòn trực tiếp vạch kế hoạch phòng thủ cho quân ngụy. Lúc này Quân đoàn 1 và 2 của ngụy đã bị tan rã, Uây –en vội vã đốc thúc quân ngụy xây dựng một phòng tuyến mạnh ngăn chặn quân ta từ Phan Rang và Mỹ đã thành lập một cầu không vận từ Bangkok (Thái Lan) vận chuyển một số vũ khí cho quân ngụy Sài Gòn, nhưng chúng cũng không thể cứu vãn tình thế lúc đó.

N.T.H.H. tổng hợp

SGGP Online